Sunday, July 16, 2017

Nước mắt phu biển

Họ gọi em là thủy thủ. Nghe rất oai và có phần tự hào. Nhưng thực ra em là phu biển.
Mặc dù đã vào bờ được gần một tuần nhưng trông Bảy Em vẫn bơ phờ, hốc hác. Màu da trắng hồng của đứa con trai miệt vườn bị nhuộm đặc nắng gió biển cả. Bảy Em già hơn tuổi 19 rất nhiều. Ký ức hơn 10 ngày lênh đênh biển cả vẫn là điều gì đó thật khủng khiếp ám ảnh người thanh niên này…
1. Nhà nghèo khó, cố lắm Nguyễn Lê Bảy Em (Tiền Giang) mới học xong lớp 9. Rồi cậu theo bạn đi làm vườn thuê khắp nơi của miệt sông Tiền. Bảy Em đã từng vài lần lên TP HCM thử sức làm bưng bê trong quán cơm, nhưng người ta đối xử tệ bạc quá, cậu tủi thân quay trở về.
Ở quê, kiếm bữa cơm sống qua ngày không khó, nhưng cậu muốn có một khoản tiền đi học nghề sửa xe, sau này ra vỉa hè ngồi cũng là một cái nghề. Đứa bạn thân của Bảy Em có ông chú là thủy thủ đi biển lâu năm, đang cần người đi cùng phụ nhặt cá.
Sau một buổi gặp gỡ, Bảy Em và thằng bạn thân Tuấn Anh quyết định ra khơi một chuyến. Đội phu biển tập kết tại cảng cá Phước Tỉnh (huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu).
Dợn lòng nước mắt phu biển - Ảnh 1.
Những thúng cá chờ xuất bến.
Những ngày chờ đợi trên cảng cá, nhìn con tàu hối hả cập bờ, người người xôn xao bán mua, những thúng cá tươi giòn lấp lánh ánh mắt ông chủ tàu, Bảy Em nôn nao lắm, lòng thầm nghĩ đến một khoản tiền thù lao thật xứng đáng cho chuyến ra khơi đầu đời.
Rồi ngày mở biển cũng đến. Tàu vừa rẽ sóng khoảng một tiếng, những cơn say liên tục ập vào người hai chàng thủy thủ mặt búng ra sữa. Bảy Em nằm bẹp dí trên sàn tàu, không còn sức để nôn ói. Tuấn Anh thì lả như cá mắc cạn, không thể ngồi dậy làm việc.
Đây là chuyến đi biển và thân phận của hai chàng trai là người làm thuê, nên có say, có mệt cũng chẳng ai để tâm. Đã mang thân phận phu biển thì chỉ có làm và làm thôi. Bảy Em cố lết thân xác rũ rượi đứng dậy bắt đầu công việc của mẻ lưới đầu tiên.
Người ta bảo đi biển chỉ việc nhặt cá thôi, nhưng khi đã lênh đênh ngoài khơi thì công việc gì cũng phải làm. Nặng nhất là khâu kéo lưới. Thủy thủ phải gồng hết sức bình sinh, bậm môi, nghiến răng kéo lê từng centimet lưới mà không có máy tời hỗ trợ. Kéo xong mẻ lưới, mệt thở hắt ra tai, không nuốt nổi cơm.
Bảy Em cho biết, cái mùi cá tôm đặc trưng của biển cả khiến những thủy thủ mới toanh cảm giác ớn lạnh, ngai ngái trong cổ họng. Cơm ngoài biển chỉ có cá thôi, bữa nào cũng phải chan nước mắm với ớt thật cay cho át đi mùi tanh thì mới nuốt được.
Ngày nghỉ, đêm lao động, đi biển là thế. Con người phải thích nghi với quy luật hoạt động của đàn cá. Ban ngày là khoảng thời gian thảnh thơi nhất để ngủ, nhưng khi nắng lên, hơi nước nóng bủa vây lấy mạn tàu cộng với gió khô hanh tràn về len lỏi vào tận manh chiếu, thật khó để có một giấc ngủ êm ái, trọn vẹn. Bảy Em lại thức.
Không biết làm gì, chỉ nhìn biển mênh mông, nỗi buồn tê dại ập về. Cậu mong cho trời tối thật nhanh, cho đêm đen giấu sự mênh mông đáng sợ của biển cả để lao vào công việc lao động vất vả, khổ cực nhưng sẽ khiến cậu quên đi nỗi buồn. Chỉ có quăng quật sức lực vào manh lưới, rồi mệt lả đi, thì giấc ngủ tự nhiên sẽ tràn về. "Triết lý sinh tồn" của Bảy Em là vậy.
Một tuần dầm dãi ngoài khơi, những cơn say sóng giảm dần. Cái đầu đã biết chấp nhận với thực tế, miệng cũng bớt nôn ói hơn. Lấy lại chút sức khỏe, Bảy Em bắt đầu nhớ đến đất liền. Lúc nào cậu cũng thầm nghĩ trong bụng, phải cố gắng hoàn thành nhiệm vụ, lần này về sẽ không bao giờ ra khơi nữa.
Nhấp ngụm cà phê thật đặc, cậu trầm ngâm: "Họ gọi chúng em là thủy thủ. Nghe rất oai và có phần tự hào. Nhưng thực ra chúng em là phu biển. Cái tên ấy đúng và đầy đủ cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen".
Hỏi Bảy Em, sau chuyến ra khơi để đời có kiếm được đủ vốn đi học nghề không? Bảy Em gãi đầu, cười ngượng: "Đem về cho ba mẹ trang trải nợ nần là vừa hết, không có dư đồng nào cả. Nghỉ mệt vài bữa nữa, em sẽ đi làm vườn".
2.Tuấn Anh sau lần đầu tiên "thừa sống thiếu chết" ngoài biển, tự nhiên lại muốn đi tiếp. Cậu cho biết, ông chú huấn luyện cách thích nghi với biển cũng như truyền dạy "tuyệt chiêu" tránh say sóng rất hiệu quả. Chỉ mất ba ngày say lả lướt, Tuấn Anh đã đứng vững trên khoang tàu, trở thành thủy thủ đắc lực.
Vốn có khả năng bơi lặn tốt, Tuấn Anh được giao nhiệm vụ nhảy xuống biển gỡ lưới khi bị mắc. Công việc này khiến cậu thích thú, vì khi tung mình giữa biển mênh mông, cảm giác thật tuyệt vời. Ngày đầu tiên nhảy xuống biển, do sóng đánh mạnh quá khiến cậu bị chảy máu tai, nhưng biết cách chế ngự thì những lần tiếp theo không bị nữa.
Ba mẹ Tuấn Anh rất lo lắng cho con, bởi nghề lặn biển vô cùng nguy hiểm. Đã có nhiều người không thể ngoi lên hoặc trở về nhà với cơ thể bại liệt. Tuấn Anh hứa chỉ đi vài chuyến, kiếm một khoản tiền sau này về buôn bán.
Và thế là cậu lại ra khơi. Ngoài kia, biển động, sóng to, không biết con tàu nhỏ bé mang theo thủy thủ Tuấn Anh có thuận buồm xuôi gió.
Bảy Em thương bạn lắm và cũng khâm phục bạn thật nhiều. Bảy Em cho rằng, có lẽ trong các nghề lao động chân tay thì phu biển là nghề vất vả và hiểm nguy nhất. Chỉ có những người yêu biển thật sự mới dấn thân theo nghề.
Những ngày mưa gió mù khơi, chúng tôi có mặt tại cảng cá Phước Tỉnh và được nghe nhiều câu chuyện đau thương đến tột cùng của những phu biển không bao giờ trở về đất liền. Bên mạn tàu, hai người đàn ông lấm lem mùi cá đang ngồi nhâm nhi li rượu trắng cùng một đĩa mực luộc vội.
Nhấp ngụm rượu cạn đáy, thủy thủ Nguyễn Văn Năm man mác nhìn ra cửa biển đang vần vũ cơn giông. Anh buông lời: "Nếu ngày mai có bão thì tối nay được về với vợ con".
Phu biển Năm vừa được nghỉ một tuần sau chuyến biển dài, hôm nay anh được gọi ra bến để chuẩn bị hành trang ngày mai vươn khơi. Anh Năm có thâm niên đi biển trên 10 năm. Sóng gió, muối mặn của đại dương đã ngấm trọn vào người, chỉ cần nhìn thoáng là nhận ra người của biển cả.
Thủy thủ Năm được giao nhiệm vụ nhặt và phân loại cá sau mỗi mẻ lưới kéo lên. Công việc không mất sức, nhưng cần sự tỉ mỉ, dẻo dai. Phải ngồi nhiều nên lưng của anh gù hẳn xuống, đầu chúi về phía trước. Mỗi đêm phải nhặt hàng tấn cá, có khi "bội thực" mùi cá không thể ăn nổi cơm. Bàn tay của người phu biển chằng chéo vết sẹo do vây cá đâm vào. Những ngón tay thô ráp, to bè và trắng bệch vì ngâm nước quá nhiều.
Trông cái dáng kham khổ ấy, ít nhiều đoán được cuộc đời lầm lũi, gian khó của người phu biển này. Ngày ngủ, đêm nhặt cá, đó là guồng quay quen thuộc trong những chuyến biển dài của Nguyễn Văn Năm.
Bóng chiều hoang hoải, vần vũ với những đám mây đen kịt và cơn mưa kéo đến thật nhanh. Trên bờ, những người phu biển vẫn dầm mình bốc cá, cân cá, vận chuyển cá như không có chuyện gì xảy ra. Ngoài khơi thì chỉ có phu nam thôi, nhưng trên bờ có rất nhiều phu nữ. Họ bịt kín mặt mũi, chân tay và cứ thế quần quật với cá, tôm, ghẹ, mực. Những thúng cá nặng trịch, nhưng cũng chỉ một đà là nằm gọn trên vai, thoăn thoắt lên ôtô.
Phu cá Nguyễn Thị Lệ cho biết, trời càng mưa thì làm càng thích, vì nước mưa sẽ gội rửa bớt mùi tanh nồng của cá và trăm thứ nước bẩn váng vất khắp nơi. Không khí sẽ thoáng sạch hơn và các chị có thể mở chiếc khăn trùm đầu ra mà thở cho thật thoải mái.
Cảng cá chiều nay dù nhộn nhịp nhưng vẫn phảng phất nỗi u sầu, buồn thương cho những người phu biển vừa mới tử nạn.
Từng tham gia tìm kiếm nhiều vụ mất tích trên biển, anh Nam không thể quên cảm giác lạnh giá thăm thẳm của biển đêm đang "nuốt" những người phu hiền hòa, chất phác.
Anh kể, mới vài hôm trước thôi, con tàu chỉ còn 15 phút nữa là vào đất liền. Các phu biển lật mở khoang chứa cá để chuẩn bị cho công đoạn bốc dỡ lên bờ. Vừa mở ra, chỉ vài phút sau, ba thủy thủ nằm bất động tại chỗ. Mọi người trên tàu hoảng loạn, chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra. Thuyền trưởng cho tàu chạy hết tốc lực vào bờ, nhưng không thể cứu vãn nổi, hai thủy thủ đã chết, một người nguy kịch được đưa đi cấp cứu.
Các chị em ra đón người thân đã khóc hết nước mắt, nỗi đau không thể nói bằng lời. Khi vụ tai nạn thương tâm còn chưa nguôi ngoai thì lại xảy ra vụ nổ bình ga khiến một người bay xuống biển, mất tích, một người bị bỏng nặng phải vào bờ điều trị.
Nói về những phu biển không thể trở về, ai cũng ngậm ngùi, xót xa, nhưng rồi không ai bảo ai, những chiếc tàu đánh cá cứ đạp sóng vươn khơi. Nghề nào chẳng có nước mắt và nỗi đau. Hôm nay và ngày mai, vẫn có hàng trăm phu biển hăm hở xuống tàu...
Theo Ngọc Thiện (CSTC)Sáng 4/12, chúng tôi trở lại xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi nhưng vẫn chưa có tin tức gì về 14 ngư dân mất tích trên chiếc tàu QNg 90789 TS của ông Trần Tiến Dũng. Con đường dẫn vào các thôn Châu Thuận Nông, Phú Quý và Châu Thuận Biển phủ màu khăn tang.
Lập bàn thờ đợi người thân
Nằm sâu trong một xóm nghèo là căn nhà vắng lặng của ông Dũng. Bên một góc nhà, bàn thờ với 3 di ảnh được xếp liền nhau, khói hương nghi ngút. Cạnh đó, bà Lê Thị Mai (vợ ông Dũng) nằm như chết lặng, cứ nhìn đăm đăm ra cửa. Ngồi sát bên mẹ, em Trần Văn Tần (11 tuổi) nghẹn giọng: “Từ khi ba và 2 anh mất tích, ngày nào mẹ cũng khóc. Sợ mẹ không còn sức để nuôi anh em cháu nữa”. Tần cho biết từ khi tai nạn xảy đến với gia đình, người anh kế của em là Trần Văn Trung (18 tuổi) phải vào Lâm Đồng hái cà phê kiếm tiền.
Mặn đắng nước mắt phụ nữ làng biển - 1
Gần 2 tháng qua, bà Nguyễn Thị Chiêm chờ tin con trong tuyệt vọng. Ảnh: Tử Trực
Cố gượng dậy, bà Mai đưa tay lau nước mắt kể: “Vì gia cảnh nghèo, hằng ngày ông Dũng đi đánh bắt gần bờ, lam lũ suốt như vậy hơn 30 năm qua. Đến tháng 4 vừa rồi, thấy các con đã lớn, hai vợ chồng quyết định vay ngân hàng, bà con cộng với tiền tích góp bao lâu để đóng chiếc tàu 655CV trị giá 2,5 tỉ đồng. Hơn 4 tháng sau, tàu đóng xong, cả nhà ai cũng mừng và hy vọng cuộc sống từ đây sẽ đỡ vất vả”.
Ngày 5/9, 3 cha con ông Dũng cùng 11 ngư dân khác nhổ neo hướng ra Trường Sa. Sau hơn 1 tháng, sáng 13/10, ông Dũng gọi điện báo tàu cá đã đầy, đang trên đường chạy về tránh bão số 11. Nhưng cuộc điện thoại bỗng ngắt nửa chừng... Kể từ lần đó, mọi tin tức về con tàu mất hút… Tuyệt vọng, ngày 19/11 vừa qua, bà Mai không biết làm gì hơn là lập bàn thờ cho 3 cha con. Cố gượng dậy đốt nén hương, bà Mai lẩm bẩm: “Về với mẹ, biển lạnh lắm con ơi!”.
Mặn đắng nước mắt phụ nữ làng biển - 2
Chiều nào, bà Phạm Thị Trúc cũng ra bãi biển ngóng chồng con. Ảnh: Hồng Ánh
Nghe bước chân, tưởng con về
Cách nhà ông Dũng không xa là nhà của anh Võ Văn Sơn, một trong số 14 ngư dân mất tích trong chuyến biển định mệnh. Lúc chúng tôi đến, trong nhà chỉ có bà Nguyễn Thị Chiêm (85 tuổi, mẹ anh Sơn) đang nằm trên giường. Nghe tiếng động, bà Chiêm vội cầm gậy chống dậy. Biết có khách, bà như chực khuỵu xuống: “Nghe bước chân của mấy cháu, tưởng thằng Sơn về”.
Ông Trần Văn Mẫn, hàng xóm, cho biết từ khi hay tin anh Sơn mất tích, ngày nào bà Chiêm cũng chống gậy ra trước cửa đợi con. Chúng tôi đang nói chuyện thì chị Bùi Thị Vĩnh (37 tuổi, vợ anh Sơn) quảy gánh củ mì vừa nhổ ngoài đồng mang về. Chị kể từ trước tới giờ, anh Sơn chỉ đi đánh bắt ven bờ. Sau đó, ông Dũng qua nhờ đi bạn, vì cần tiền trả nợ nên anh Sơn đồng ý. “Không ngờ đó cũng là lần cuối…” - chị Vĩnh khóc nghẹn.
Vợ chồng anh Sơn có 3 con, đứa lớn nhất 17 tuổi, phải đi làm phụ mẹ. “Tội nghiệp con bé út, mới học lớp 5, hằng đêm cứ hỏi cha khi nào về” - bà Chiêm kể. Chúng tôi hỏi vì sao chưa lập bàn thờ cho anh Sơn, chị Vĩnh thẫn thờ: “Chồng tôi không có hình, chắc phải lấy từ chứng minh nhân dân phóng ra mới lập được bàn thờ”.
Trắng đêm trông ngóng
Chiều nào bà Phạm Thị Trúc (45 tuổi, ngụ xã An Ninh Đông, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên) cũng ngồi ở bãi An Vũ trông ra biển. Bà trông 2 đứa con trai đang mành tôm, câu mực ngoài khơi và cả người chồng đi biền biệt 9 tháng qua, dù ở nhà đã lập bàn thờ.
Chồng bà, ông Nguyễn Hoài Châu (49 tuổi), mất tích khi làm thuyền viên trên tàu câu cá ngừ đại dương ở TP Tuy Hòa vào đầu tháng 3. Mất trụ cột gia đình, 2 đứa con bà Trúc đều bỏ học và lại nối nghiệp cha. “Để 2 con đi biển, tôi chẳng muốn chút nào nhưng không làm thì lấy gì sống. Đêm nào tôi cũng gọi điện thoại cho con, không liên lạc được thì coi như thức trắng” - bà Trúc tâm sự.
Cũng tại làng An Vũ, 3 tháng trước, người dân ai cũng xót lòng khi thấy chị Nguyễn Thị Thanh Phấn (38 tuổi) như người mất hồn, cứ chạy dọc bãi biển tìm chồng. Trong khi đó, đứa con duy nhất của hai vợ chồng mắc chứng não nước, một mình chị giờ phải lo toan. Chồng chị, anh Nguyễn Xuân, cũng mất tích khi làm thuyền viên cho tàu câu cá ngừ đại dương.Theo Tử Trực - Hồng Ánh (Người Lao Động
Hiểm nguy chực chờ
Theo thống kê, trung bình mỗi năm tỉnh Phú Yên có gần 10 người bị nạn trên biển, phần lớn là mất tích. Ông Phan Thuẫn, Chủ tịch Nghiệp đoàn Nghề cá phường 6, TP Tuy Hòa, cho biết các vụ mất tích xảy ra khi ngư dân xuống thúng câu mực để làm mồi câu cá ngừ đại dương. Hằng đêm, mỗi tàu khai thác cá ngừ thả khoảng 5 thúng chai xuống biển, mỗi thúng có 1 thuyền viên, cách xa nhau hàng trăm mét để câu mực. Có rất nhiều lý do xảy ra tai nạn: Sóng lớn đánh úp thúng, bị tàu bè đâm phải, cá lớn thấy đèn bay lên đớp, cá ăn câu giật rơi xuống biển... “Phần lớn là không tìm thấy thi thể vì bị chìm, sóng biển cuốn đi xa” - ông Thuẫn nói.
H.Ánh

No comments:

Post a Comment