Thursday, July 13, 2017

Phật giáo: Đại Thừa (Bắc Tông) và Tiểu Thừa (Nam Tông)

Phật giáo đi qua nhiều thời kỳ khác nhau và cũng từ đó sinh ra nhiều nhánh với tên gọi tùy vào điều kiện địa lý và cách diễn giải kinh Phật.

Hình minh họa
Hình minh họa

Từ Ấn Độ, Phật Giáo lan truyền dần sang các nước lân cận, rồi toàn cõi Á Đông, và cuối cùng toàn cả thế giới. Sự truyền bá này đi theo 2 hướng: 1 về hướng Bắc, 1 về phương Nam.
Về phương Bắc, thì gọi là Phật Giáo Bắc Tông (mang tư tưởng Đại Thừa) gồm các vùng: Tây Tạng, Trung Hoa, Mông cổ, Mãn Châu, Bắc - Nam Hàn, Nhật Bản, Bắc Việt Nam...
Về phương Nam, thì gọi là Nam Tông (mang tư tưởng Tiểu Thừa) gồm các vùng: Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào, Kampuchia, Indonesia, Nam Việt Nam ...
Tư tưởng Đại Thừa (cỗ xe lớn) có thể chở nhiều người cùng 1 lúc, và Tiểu thừa (cỗ xe nhỏ) chỉ chở 1 hoặc vài người mà thôi.
Theo quan điểm của Đại Thừa:
Đại thừa (大乘, sa. mahāyāna), dịch âm Hán Việt là Ma-ha-diễn-na (摩訶衍那) hay Ma-ha-diễn (摩訶衍), tức là "cỗ xe lớn" hay còn gọi là Đại Thặng tức là "bánh xe lớn" là một trong hai trường phái lớn của đạo Phật . Xuất hiện trong thế kỉ thứ nhất trước công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ. Cả hai Tiểu thừa và Đại thừa đều bắt nguồn từ vị Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp và tư tưởng.(sa. sarvasattva). Hình tượng tiêu biểu của Đại thừa là Bồ Tát (sa. bodhisattva) với đặc tính vượt trội là lòng từ bi (sa., pi. karuṇā). Bộ kinh được xem là kinh văn Đại thừa đầu tiên là Bát-nhã bát thiên tụng (般若八千頌, sa. aṣṭasāhasrikā prajñāpāramitā).
Theo quan điểm của Tiểu Thừa:
Tiểu thừa (小乘, sa. hīnayāna, bo. theg dman) hay Tiểu Thặng, nghĩa là "cỗ xe nhỏ" hay "bánh xe nhỏ" (sa. hīnayāna). Tiểu thừa được một số đại biểu phái Đại thừa (sa. mahāyāna) thường dùng chỉ những người theo "Phật giáo nguyên thuỷ", "Phật giáo Nam Tông". Ngày nay ý nghĩa chê bai của danh từ này đã mất đi và nó chỉ còn có tính chất miêu tả. Trước năm 1950. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ này nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của nhiều Phật tử. Một từ chỉ những vị theo Phật giáo nguyên thuỷ thường gặp trong kinh là Thanh văn (zh. 聲聞, sa. śrāvaka).
 Sau thế kỷ thứ XIV, Phật giáo Việt Nam in đậm vết son của giáo lý Đại Thừa Trung Quốc (Phật giáo Bắc tông), từ hình thức tu tập, trang phục, kinh điển và kiến trúc chùa tháp. Đây cũng là giai đoạn đầy biến thiên của thời cuộc, kéo dài của nội chiến và thương vong.  Đó là một nửa Đất nước phía trên, còn một nửa Đất mới phía dưới thì sao?
            Tại vùng đất Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) từ sau Công nguyên thứ nhất đã có một vương quốc hình thành đó là Phù Nam (Thế kỷ I đến thế kỷ VI, di sản để lại là văn hóa Óc eo). Vương quốc này khá mạnh về quân đội và tổ chức, chịu ảnh hưởng trực tiếp của Bà la môn giáo (Tôn giáo cổ xưa của Ấn Độ, tôn giáo này một thời làm Đức Phật phân vân vì sự phân chia giai cấp). Sau khi bị lật đổ bởi Chân Lạp (Campuchia lúc bây giờ), vùng đất này trở nên hoang phế hơn xưa, ít ỏi trên các giồng đất có những người Khmer sinh sống,và đa số họ theo Phật giáo Nam tông, với nét văn hóa gần như tương đồng với Campuchia bên Biển Hồ, hay Thái Lan v.v…Vậy giữa Phật giáo Nam tông và Phật giáo Bắc tông có điểm gì khác nhau? Và trong sự khác nhau đó có nảy sinh những mâu thuẫn nào không? Những cấm kỵ cơ bản nào cần phải tránh khi giới thiệu về 2 nhóm Phật giáo này?
            Thứ nhất, điều cần bàn đó chính là tên gọi. Xuất phát từ tên gọi có thể thấy điểm giống và khác nhau, đều là Phật giáo-có nghĩa là chấp nhận giáo lý và giáo huấn của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Điểm khác nhau đó là phương hướng truyền đạo, Phật giáo Bắc tông chủ yếu truyền ra phía bắc sang các quốc gia Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam; Phật giáo Nam tông di chuyển chủ yếu về phía nam qua các quốc gia như Tích Lan (Sri-lan-ka), Miến Điện (Mianma), Thái Lan, Lào, Campuchia. Nên ta có thể nhìn thấy rõ cách gọi này chịu ảnh hưởng của vùng địa lý là chính. Tuy nhiên, cách gọi này cũng chỉ là 1 trong nhiều cách gọi khác, và cũng kém tính chính xác, nhưng ưu điểm là ít gây ra mâu thuẫn. Ngoài ra, Phật giáo Bắc tông còn có một số tên gọi khác là Đại thừa Phật giáo, Phật giáo phát triển, hay Đại chúng bộ Phật giáo,v.v…Phật giáo Nam tông với các tên gọi là Phật giáo Tiểu thừa (tên này bên Nam tông ghét lắm), Phật giáo nguyên thủy, Phật giáo nguyên chất, Phật giáo Thượng tọa bộ,v.v…
            Thứ hai, Về cách nhận biết dễ dàng nhất hai dòng Phât giáo này. Phật Nam tông tại Việt Nam thường xây dựng chùa với kiến trúc Ang-kor, xung quanh gồm nhiều tháp chứa tro cốt của tín đồ và chư tăng; Chư vị tu sỹ khoác y màu sáng (đỏ, vàng, nâu đen) y được đắp theo kiểu thời Đức Phật là một mảnh vải dài và đắp vào thân thể (Chúng ta dễ dàng nhận diện vì các đặc trưng này giống với Tích Lan, Thái Lan, Campuchia, Lào,v.v….). Phật giáo Bắc tông thường xây chùa theo kiến trúc truyền thống người Việt, có pha kiến trúc Trung Quốc; chư tăng-ni mặc y màu vàng hay nâu đen may theo kiểu y phục Trung Quốc, thường ngày vận y theo kiểu áo dài truyền thống với hai vạt dài. Chú ý: cả hai y áo của chư tăng Nam tông và Bắc tông đều gọi là áo cà sa, hay “y bá nạp, y phấn thổ” (hai tên sau là tên cổ).
            Thứ ba, Hình tượng thờ và giáo lý căn bổn. Phật giáo Nam tông chỉ thờ duy nhất Phật Thích Ca trong các tư thế khác nhau, kinh sách được dịch từ kinh tạng Pali (đây là tiếng nói thời Đức Phật, không có chữ viết như tiếng Phạn, dùng trong tầng lớp bình dân), tôn chỉ khuyến cáo mọi người tu tập để tự giải thoát. Về Phật giáo Bắc tông chuyên thờ các tôn tượng bồ tát, Phật, la hán, có khi thờ các tôn tượng của những vị ngoại đạo khác (ảnh hưởng của văn hóa địa phương, Phật giáo gọi là khế hợp); kinh điển được dịch từ hán tạng-chữ Trung Quốc là chủ yếu; khuyến cáo người tu tự giải thoát và giúp người xung quanh giải thoát (Đại thừa chia làm ba tông chính là Thiền tông, Tịnh Độ tông và Mật tông; ba tông này hiện có mặt tại Việt Nam).
            Trên đây là ba cách phân biệt căn bản nhất giữa Nam-Bắc tông Phật giáo, càng đi sâu các hành giả (người chuyên tu) càng thấy giống nhau rất nhiều chỉ khác nhau về hình thức. Càng đi sâu các học giả càng thấy khác nhau rất nhiều, do chỉ biết nghiên cứu từ sách vở mà không biết suy tư. (Quan điểm cá nhân).        
Trước đây ta thường cho rằng giáo lý Nguyên thủy là giáo lý Tiểu thừa không đưa đến quả vị tối hậu thành Phật, chỉ có giáo lý Ðại thừa mới là giáo lý chân chính của Phật. Ngược lại, các nhà sư Nguyên thủy thì cho rằng giáo lý Nguyên thủy mới chính truyền là của Phật, còn giáo lý Ðại thừa là ngoại đạo. Sự bất đồng quan điểm ấy đã làm băng giá mối quan hệ của hai truyền thống cả ngàn năm. Ngày nay với những phương tiện tiến bộ, mọi mặt trong xã hội đều thay đổi, những quan điểm Tiểu thừa và Ðại thừa không còn thích hợp. 
Qua nghiên cứu, cho thấy:
1. Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy cho đến thời kỳ Bộ phái (sau Ðức Phật 400 năm) chưa có danh từ Ðại thừa hay Tiểu thừa. Danh từ Ðại thừa và Tiểu thừa xuất hiện đồng thời với kinh điển Ðại thừa khoảng thế kỷ thứ 1 trước hoặc sau Công nguyên.
2. Danh từ Tiểu thừa không nên hiểu là Thượng tọa bộ, mà là chỉ cho giai đoạn Bộ phái, sự tranh chấp về đường lối hành đạo mà lúc bấy giờ các Bộ phái quá chú trọng về lý luận và hình thức.
3. Ngày nay không có hệ Tiểu thừa nào có mặt trên thế giới. Năm 1950, Hội Phật Tử Thân Hữu Thế Giới (World Fellowship of Buddhists, WFB) họp tại Colombo (Sri Lanka) đã nhất trí quyết nghị loại bỏ danh từ Tiểu thừa và Đại Thừa khi nói về hai truyền thống lớn nhất của Phật giáo. Mà thay vào đó là danh từ Phật giáo Bắc Tông và Phật giáo Nam Tông.
4. Giáo lý được phân làm hai truyền thống: Truyền thống Nguyên thủy và truyền thống Phát triển. Về mặt địa lý, truyền thừa thì gọi là Phật giáo Bắc tông và Phật giáo Nam tông. Sử dụng từ ngữ Nguyên thủy và Phát triển nói lên tính xuyên suốt của cây đại thụ, giáo lý đạo Phật, mà phần gốc, rễ là Nguyên thủy; phần thân ngọn cành lá là Phát triển. Không một cây nào có thể gọi là cây khi không có gốc hay ngọn. Sự nhất quán trong hệ thống giáo lý phải được thiết lập và không ra ngoài hai hệ thống Nguyên thủy và Phát triển - cả hai bổ sung cho nhau. Những tư tưởng Phật giáo Phát triển đều phải mang tính kế thừa giáo lý Nguyên thủy, nếu không thì giáo lý Phát triển sẽ mất đi giá trị của nó.
5. Mặc dù truyền thống Nguyên thủy và Phát triển có những khác biệt, tuy nhiên, những khác biệt ấy không cơ bản. Trái lại, những điểm tương đồng lại rất cơ bản như sau:
a/. Cả hai đều nhìn nhận Ðức Phật là bậc Ðạo sư.
b/. Cả hai đều chấp nhận và hành trì giáo lý Tứ thánh đế, Bát chính đạo, Duyên khởi...; đều chấp nhận Tam pháp ấn Khổ, Không, Vô ngã; đều chấp nhận con đường tu tập: Giới - Ðịnh - Tuệ.
c/. Cả hai đều từ chối về một đấng tối cao sáng tạo và ngự trị thế giới.
Tóm lại, Kinh tạng Nguyên thủy là kinh tạng ghi chép lại những lời Phật và Thánh chúng một cách đầy đủ nhất. Kinh tạng này mang tính thiết thực gần gũi với tâm lý con người và sự sinh hoạt của xã hội. Ðây là cơ sở giáo lý mà chúng ta lấy làm nền tảng cho mọi nghiên cứu, thực tập và nhất là hiểu một cách đúng đắn tư tưởng đạo Phật phát triển.
Tuy nhiên, trải qua hơn 400 năm khẩu truyền và hơn 2000 năm truyền bá, kinh giáo không tránh khỏi sự thiếu sót hoặc thêm thắt của người thọ trì, nghĩa là vẫn không mang tính Nguyên thủy thuần túy.
Nghiên cứu kinh điển Phát  triển mà không nắm vững hệ thống Nguyên thủy thì độ chuẩn xác không cao. Nếu coi Kinh tạng Nguyên thủy là thấp kém thì rất là sai lầm và nguy hiểm. Cây đại thụ giáo pháp phải là một cây hoàn hảo từ gốc rễ cho đến ngọn ngành.
 Như vậy, bài viết đã phần nào giúp các bạn mong muốn tìm hiểu về Phật giáo có những kiến thức nền căn bản nhất, để tránh những băn khoăn không đáng có. Những kiến thức này có thể sử dụng rộng rãi cho ngành du lịch, văn hóa, và các tao nhân mặc khách lăn lộn giữa chốn thương trường đầy bụi bặm quay về với nếp sống thanh tao. Hai câu hỏi còn lại sẽ trả lời vào hai bài kế tiếp. Rất mong nhận được sự phản hồi từ các bạn, để bài viết phong phú.

No comments:

Post a Comment