Monday, July 17, 2017

Phát triển nghề cá trên lòng hồ thủy điện

Với hệ thống sông Lô, sông Gâm và diện tích mặt nước lòng hồ thủy điện Tuyên Quang, thủy điện Chiêm Hóa đã tạo cho tỉnh Tuyên Quang có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển nuôi trồng thủy sản. Những năm qua, cấp ủy, chính quyền tỉnh đã có nhiều chủ trương, chính sách tạo điều kiện thuận lợi để người dân phát triển nghề cá, đặc biệt là nuôi cá lồng trên sông, hồ thủy lợi, thủy điện. Nghề nuôi trồng thủy sản của địa phương phát triển khá nhanh về diện tích, tăng sản lượng, thu được giá trị cao, đồng thời tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động. Đến nay, diện tích nuôi trồng thủy sản bao gồm ao hồ nhỏ 2.016,3 ha; hồ thủy lợi 729,9 ha; hồ thủy điện Tuyên Quang 8.446,5 ha; nuôi cá ruộng 6 ha; 663 lồng nuôi cá trên sông, hồ; sản lượng cá nuôi năm 2015 đạt 3.414,3 tấn, tăng 14,9% so cùng kỳ năm 2014. Nhiều giống cá đặc sản có giá trị kinh tế cao, được người tiêu dùng ưa chuộng như: cá dầm xanh, anh vũ, cá chiên, lăng, diêu hồng, cá tầm, cá bỗng...
Khuyen khich nghe ca o long ho thuy dien Tuyen Quang - Anh 1
Ngay sau khi hồ thủy điện Tuyên Quang tích nước, để giúp tỉnh Tuyên Quang phát huy thế mạnh về diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản, ngày 31-12-2009, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành Quyết định 3732/QĐ-BNN-NTTS phê duyệt dự án đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phát triển nuôi trồng thủy sản hồ thủy điện Tuyên Quang. Quyết định này nhằm tạo cơ sở cho việc phát triển thủy sản hồ chứa nói chung, phát triển mạnh nghề nuôi cá hồ chứa nói riêng với việc bổ sung tái tạo nguồn lợi để khai thác, nuôi cá eo, ngách, nuôi cá lồng bè tập trung để tạo khối lượng hàng hóa. Góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn, sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên đất, nước, tăng nguồn thực phẩm, cải thiện đời sống nhân dân và ổn định an ninh xã hội vùng Na Hang. Phát triển nuôi trồng thủy sản trên hồ và xây dựng hạ tầng nghề cá ven hồ sẽ tạo thêm cảnh quan và địa chỉ hấp dẫn cho du lịch sinh thái, góp phần thúc đẩy ngành du lịch của tỉnh phát triển. Quyết định này cũng nêu rõ quy mô đầu tư và các hạng mục công trình, gồm: cơ sở sản xuất giống; khu bến cá và hậu cần dịch vụ. Trong đó, trọng tâm là ương cá giống cung cấp cho các hộ gia đình và xây dựng một cảng cá trở thành trung tâm, đầu mối cung cấp, phân luồng sản phẩm cá thịt thương phẩm, từ đó nâng cao giá trị tạo thương hiệu cá hồ thủy điện Tuyên Quang. Dự án khi hoàn thành và đi vào hoạt động sẽ đạt mục tiêu xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng thủy sản hồ thủy điện, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao thu nhập, ổn định đời sống của nhân dân vùng lòng hồ nói riêng và của nhân dân trong vùng nói chung.
Thực hiện quyết định của Bộ NN&PTNT, tỉnh Tuyên Quang đã chỉ đạo các cơ quan chức năng triển khai thực hiện dự án theo đúng các quy định của pháp luật. Đến nay, khu bến cá và hậu cần dịch vụ đã cơ bản được hoàn thành góp phần tích cực cho việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên hồ.
Hồ thủy điện Tuyên Quang được bao bọc bởi những dãy núi cao, với hệ động, thực vật phong phú, đa dạng. Vào mùa mưa, một lượng lớn các chất hữu cơ từ các khu rừng chung quanh theo nước mưa chảy xuống, mang lại nguồn dinh dưỡng dồi dào cho các loài thủy sản sinh sống trong lòng hồ. Với những ưu thế về địa lý, đặc điểm khí hậu, điều kiện môi trường, hồ thủy điện Tuyên Quang là địa điểm lý tưởng để nuôi trồng thủy sản. Phát huy thế mạnh này, thời gian qua Trung tâm Thủy sản tỉnh đã phối hợp với phòng NN&PTNT các huyện Na Hang, Lâm Bình và các xã vùng lòng hồ thủy điện triển khai mô hình nuôi cá lồng và cá eo, ngách. Các giống cá được nuôi gồm: cá tầm, cá anh vũ, cá lăng, cá chiên, cá nheo, cá quất, cá bỗng… Đây là những giống cá có năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thời tiết, môi trường của vùng lòng hồ thủy điện. Với trữ lượng lớn cá nuôi và cá đánh bắt tự nhiên, hồ thủy điện Tuyên Quang là nguồn cung cấp sản phẩm thủy sản lớn cho thị trường trong và ngoài tỉnh. Đến nay, các huyện Na Hang và Lâm Bình đã thu hút được bốn doanh nghiệp lớn cùng nhiều hợp tác xã, hộ nông dân tham gia nuôi cá lồng với hơn 500 lồng cá. Các hộ dân và doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này đều được hỗ trợ một phần về vốn, giống và kinh nghiệm trong chăm sóc và thu hoạch sản phẩm. Huyện Na Hang hiện có 391 lồng cá. Các lồng cá được liên kết với nhau bằng những khung thép chắc chắn trên những chiếc phao và được neo cố định nên việc đi lại rất dễ dàng, có nhà lạnh để chứa thức ăn dự trữ cho cá. Với hình thức chăn nuôi tập trung, sản xuất lớn theo quy mô công nghệ hiện đại và sử dụng các loại thức ăn tại chỗ (các loại cá tạp giá trị kinh tế thấp) cộng với chất lượng môi trường nước sạch, cho nên sản phẩm mà công ty cung cấp cho người tiêu dùng đều là thực phẩm an toàn, được ưa chuộng. Tại huyện Lâm Bình, Công ty cổ phần Trứng cá tầm Việt Nam đã đưa 140.000 trứng cá tầm giống Si-bê-ri-a lên nuôi ươm tại chân thác Nặm Me, xã Khuôn Hà. Đây là loài cá nước lạnh quý hiếm được nhập khẩu tại Liên bang Nga và Si-bê-ri-a, có giá trị kinh tế cao, phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu.
Nuôi cá eo, ngách cũng là mô hình được phát triển mạnh trên vùng lòng hồ thủy điện. Đây cũng là một cách làm sáng tạo phù hợp với điều kiện tự nhiên ở vùng lòng hồ này. Khi hồ thủy điện dâng nước, ngoài phần lòng hồ chính thì những khu vực suối, rạch đã trở thành những lòng hồ nhỏ, phù hợp với điều kiện sinh trưởng và phát triển của nhiều loài thủy sản. Không khí tự nhiên trong lành, mát mẻ không bị ảnh hưởng của khói bụi công nghiệp cộng với môi trường nước sạch, chung quanh đã tạo ra nguồn dinh dưỡng rất cao cho cá sinh trưởng. Để giúp người dân phát triển nuôi cá lồng và cá eo, ngách, từ năm 2009, tỉnh Tuyên Quang cũng đã ban hành chính sách hỗ trợ người dân về giống, kỹ thuật, chăm sóc và phòng trừ dịch bệnh. Trong đó, đối với nuôi cá lồng, hỗ trợ một lần về giống 600 nghìn đồng/lồng, riêng nuôi cá đặc sản được hỗ trợ 1,6 triệu đồng/lồng; đối với nuôi cá eo, ngách được hỗ trợ một lần về giống theo diện tích mặt thoáng (với những diện tích nuôi từ ba ha trở lên) mức tối đa là 7 triệu đồng/ha và tối đa là 70 triệu đồng/eo, ngách có diện tích lớn. Chính vì vậy, nhiều hộ gia đình dân tộc nơi đây đã có điều kiện tận dụng và phát huy hiệu quả diện tích eo, ngách cho việc chăn nuôi cá. Anh Phùng Xuân Sơn, thôn Nà Lạ, xã Sơn Phú, huyện Na Hang là một thí dụ. Tận dụng eo, ngách ngay sau khu vực gia đình sinh sống, năm 2010, anh Sơn và bốn hộ gia đình trong thôn đã đầu tư hệ thống lưới ngăn tạo thành một hồ nuôi cá với diện tích hơn 10 ha. Được hỗ trợ 70 triệu đồng tiền mua giống. Anh cho biết, do nước hồ sạch, phù du nhiều, sẵn cỏ nên nuôi cá eo, ngách không tốn nhiều thức ăn và công lao động, mỗi năm cũng cho thu nhập 70-80 triệu đồng. Tương tự như gia đình anh Sơn, khi đoạn đường vào bến cá ở lòng hồ được xây dựng xong đã tạo nên một diện tích eo, ngách khoảng 5 ha, gia đình anh Chẩu Văn Bình, trú tại tổ 2, thị trấn Na Hang đã lập dự án trình các cấp có thẩm quyền phê duyệt để xin tận dụng diện tích này nuôi trồng thủy sản. Năm 2014, dự án được duyệt, anh Bình được hỗ trợ 35 triệu đồng tiền mua cá giống các loại chép, bỗng và rô phi. Đến nay cá phát triển tốt.
Đồng chí Chẩu Trung Kiên, Phó Trưởng phòng NN&PTNT huyện Na Hang cho biết, qua tổng kết, việc phát triển nuôi trồng thủy sản trên lòng hồ thủy điện, tập trung phát triển nuôi cá eo, ngách, cá lồng, bước đầu đã mang lại thu nhập cho người dân trên địa bàn lòng hồ. Trung bình mỗi một lồng cá đem lại thu nhập 15 triệu đồng trên một mô hình. Đối với nuôi cá eo, ngách, người dân có thể tận dụng được diện tích mặt nước, nguồn thức ăn tự nhiên và bảo đảm được vệ sinh an toàn thực phẩm, không sử dụng các chất cấm trong thức ăn chăn nuôi. Huyện tiếp tục tuyên truyền đến người dân thực hiện tốt việc chăn nuôi, hạn chế sử dụng các nông cụ, ngư cụ đánh bắt cá hủy diệt; không sử dụng các loại thức ăn chăn nuôi thủy sản không rõ nguồn gốc gây ảnh hưởng đến việc phát triển nguồn lợi thủy sản.
Tỉnh Tuyên Quang đang xây dựng quy hoạch phát triển thủy sản giai đoạn 2016-2025, định hướng đến năm 2035, đây là một trong những nội dung của việc tái cơ cấu ngành nông nghiệp nói chung, thủy sản nói riêng. Trong đó đặt mục tiêu tăng trưởng giai đoạn đến năm 2020 là 4,74%/năm với tổng sản lượng thủy sản hơn 8 nghìn tấn, trong đó gần 800 tấn cá đặc sản và đến năm 2025 đạt gần 10.000 tấn, trong đó cá đặc sản là gần 1.500 tấn. Để đạt được mục tiêu này, tỉnh tập trung nâng cao chất lượng con giống bảo đảm sạch bệnh, chất lượng tốt, có xuất xứ nguồn gốc rõ ràng. Khuyến khích các tổ chức cá nhân trong và ngoài tỉnh đầu tư sản xuất, kinh doanh thức ăn thủy sản đạt chất lượng, trong đó khuyến khích các hộ nuôi thủy sản, sử dụng máy chế biến thức ăn nhằm tận dụng nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Tập trung xây dựng thương hiệu cho các loài cá đặc sản; tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại ở các thị trường trọng điểm.
Cá được nuôi bằng rau trộn ngô, khoai sắn do bà con địa phương tự trồng kết hợp với nguồn tép có sẵn trên sông. Với 6ha nước mặt nuôi thả tại huyện Thuận Châu, Sơn La, mô hình cung cấp gần 200 tấn cá mỗi năm cho thị trường.Cùng với khai thác nguồn lợi thủy sản tự nhiên, những năm qua, nghề nuôi cá lồng trên sông Đà, nhất là ở hồ Hòa Bình đã phát triển mạnh mẽ với số lượng lồng nuôi tăng theo từng năm.
No ro nghe nuoi ca long tren song Da, lai 12 - 14 trieu dong/long - Anh 1
Nghề nuôi cá lồng trên lòng hồ sông Đà góp phần cải thiện và nâng cao thu nhập cho người dân Hòa Bình
Nếu như năm 2015, toàn tỉnh Hòa Bình có 2.317 lồng bè nuôi cá thì đến cuối năm 2016 đã phát triển lên 4.200 lồng với sản lượng đạt khoảng 3.700 tấn cá/năm, tạo việc làm và thu nhập chohàng nghìnlao động.
Lãi 12 - 14 triệu đồng/lồng
Ưu điểm nổi bật của nuôi cá lồng là tiết kiệm được diện tích mặt nước, ngoài ra, do lưu lượng nước thay đổi liên tục nên môi trường nuôi cá trên lòng hồ sạch hơn, vì thế cá ít bị nhiễm bệnh, năng suất cao. Những năm gần đây, lồng nuôi cá được chuyển từ lồng tre sang lồng sắt, nhờ đó số lượng cá nuôi được nhiều hơn, lồng thoáng, dễ vệ sinh nên tỉ lệ dịch bệnh thấp.
Từ những thành công bước đầu của một số mô hình nuôi cá lồng trên sông, đã mở ra hướng phát triển kinh tế mới cho người dân nơi đây. “Nếu như trước đây nuôi bằng lồng bương, tre chỉ được khoảng 20m3/lồng, việc chuyển sang nuôi lồng sắt, thấp nhất cũng hơn 70m3/lồng, sản lượng cao hơn, thoáng hơn, ít dịch bệnh hơn”, bà Nguyễn Thị Bình, cán bộ khuyến nông xã Thái Thịnh (TP. Hòa Bình) cho biết.
Với diện tích mặt nước lớn hơn 900ha, nghề nuôi, đánh bắt thủy sản trở thành thế mạnh của xã Hiền Lương (huyện Đà Bắc). Theo ông Xa Văn Đạm, Chủ tịch UBND xã Hiền Lương: Hiện toàn xã có 194 lồng cá, từ việc tận dụng được nguồn thức ăn gồm các loại cá nhỏ đánh bắt trên hồ và phụ phẩm nông nghiệp nên cá nuôi luôn đạt chất lượng thịt ngon, sạch.
No ro nghe nuoi ca long tren song Da, lai 12 - 14 trieu dong/long - Anh 2
Đến mùa thu hoạch, cá được các tiểu thương thu mua và vận chuyển bằng thuyền chuyên dụng
Xác định nghề nuôi thủy sản là điểm nhấn trong phát triển kinh tế trên con đường xây dựng nông thôn mới, xã đã vận động nhân dân mở rộng mô hình nuôi cá sạch gắn với bảo vệ môi trường nước, đảm bảo nghề nuôi cá lồng phát triển bền vững giúp người dân có thu nhập ổn định. Cá lồng được nuôi tập trung ở các xóm Doi, Mơ, Dưng, Ké với các loài trắm, chiên, lăng vàng, bỗng... Bình quân sản lượng mỗi lồng nuôi cá thu hoạch 3,5- 4 tạ cá/lồng, sau khi trừ chi phí đầu tư, thu lãi khoảng 12- 14 triệu đồng/lồng.
Gắn bó với nghề nuôi cá lồng trên sông Đà hơn một năm nay, anh Phan Trung Hiếu (xóm Vôi, xã Thái Thịnh, TP. Hòa Bình) chia sẻ, anh có 24 lồng cá, trung bình 500 con/lồng, chủ yếu là cá trắm, chiên, ngạnh,... căn cứ theo kích cỡ lồng và giống cá mà thả mật độ phù hợp.
Theo anh Hiểu, thị trường ngày càng ưa chuộng các loại cá cỡ lớn (trên 10kg/con) nên năm vừa rồi, anh chưa thu hoạch mà gối vụ, kéo dài vụ nuôi. Tùy thuộc vào loại cá sẽ nuôi 1 năm/1 lứa hoặc 1 năm/2 lứa nhưng theo anh nguồn lợi từ việc nuôi cá ở lòng sông là rất lớn.
Còn nhiều bất cập
Theo ông Nguyễn Trần Quý, Phó trưởng phòng Kinh tế TP. Hòa Bình, trăn trở lớn nhất trong việc nuôi cá ở lòng sông hiện nay là nguồn vốn và đầu ra cho sản phẩm. Để nuôi và phát triển nghề cá, đặc biệt là cá đặc sản đòi hỏi chi phí đầu tư lớn, nguồn vốn để mua con giống, mua thức ăn, chăm sóc phòng chống dịch bệnh… Trong khi đó, đầu ra lại chưa đảm bảo. Do quy mô SX nhỏ lẻ, phân tán, mang nặng tính tự phát, chưa tập trung thành những vùng có quy mô lớn cho nên năng lực sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gặp nhiều hạn chế.
No ro nghe nuoi ca long tren song Da, lai 12 - 14 trieu dong/long - Anh 3
Tùy thuộc vào kích cỡ và giống cá mà thả mật độ phù hợp. Việc nuôi cá trong lồng phải thường xuyên kiểm tra, vệ sinh phòng bệnh, đảm bảo cho cá phát triển trong môi trường an toàn
Bà Nguyễn Thị Bình, cán bộ khuyến nông xã Thái Thịnh, TP. Hòa Bình cho biết, hiệu quả từ việc nuôi cá ở lòng sông Đà là rất lớn, số lượng lồng cá trên địa bàn tăng theo các năm, tuy nhiên lại chưa ổn định. Nguyên nhân do vào mùa nước đục, lượng mùn bã hữu cơ nhiều, cá dễ bị nhiễm bệnh, dẫn đến việc số lượng lồng nuôi và sản lượng bị giảm, năm nào tránh được dịch bệnh thì giá thành lại thấp. Thêm vào đó, trình độ nuôi thủy sản của địa phương còn thấp, phần lớn mới đạt mức quảng canh, manh mún. Việc chuyển giao khoa học kỹ thuật gặp nhiều khó khăn.
“Nguồn nước lòng hồ sạch, rất thuận lợi cho việc nuôi cá. Tuy nhiên, nước sông lên xuống theo mùa. Mùa hè nước cạn xuống sâu, bùn nhiều và nước bị nóng, dịch bệnh dễ phát triển, phòng bệnh không tốt cá sẽ bị chết”, anh Đỗ Văn Dương, xóm Tháu, xã Thái Thịnh (TP. Hòa Bình) chia sẻ.
Ông Hoàng Văn Son, Chi cục trưởng Chi cục Thủy sản Hòa Bình cho biết, đến nay, tỉnh Hòa Bình có 4.200 lồng cá với tổng sản lượng thu về là 3.700 tấn/năm. Nghề nuôi cá lồng trên sông đang có xu hướng phát triển, công nghệ nuôi lồng lưới được phổ biến rộng rãi đến người dân, giúp nâng cao thu nhập, giảm chi phí đầu tư. Tỉnh cũng định hướng xây dựng thương hiệu đặc sản cá sông Đà trong thời gian tới.
No ro nghe nuoi ca long tren song Da, lai 12 - 14 trieu dong/long - Anh 4
Một con cá lăng trưởng thành có cân nặng khoảng 9 - 10kg
Để góp phần giải quyết những hạn chế này, đồng thời khai thác tiềm năng mặt hồ, hỗ trợ người dân SX, UBND tỉnh Hòa Bình đã ban hành Quyết định số 10/2015/QĐ-UBND về việc Quy định một số chính sách hỗ trợ khuyến khích phát triển nuôi cá lồng vùng hồ thủy điện Hòa Bình giai đoạn 2015 - 2020. Theo đó, hỗ trợ trong vùng quy hoạch nuôi thủy sản tập trung được UBND tỉnh phê duyệt cho các cơ sở nuôi cá bằng lồng bè quy mô 50m3 trở lên 50% kinh phí đầu tư cho một lồng nuôi, mức 25 triệu đồng, tối đa không quá 80 triệu đồng/hộ/năm.
Nuôi cá lồng bè (NCLB) trên lòng hồ thủy điện, thủy lợi góp phần tạo thu nhập, nâng cao đời sống của một bộ phận người dân. Song, với sự phát triển ồ ạt như thời gian gần đây, nếu không được quản lý tốt sẽ kéo theo nhiều hệ lụy về môi trường và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông đường thủy.
Cảnh sát đường thủy tuyên truyền cho hộ dân nuôi cá lồng bè
Phát triển ồ ạt
Năm 2014, sau khi Nhà máy thủy điện Bình Điền vận hành, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNN) tổ chức nuôi thí điểm cá lồng trên lòng hồ thủy điện này. Đánh giá bước đầu, cá nuôi trong lòng hồ lớn nhanh, chất lượng thịt thơm ngon, dễ chăm sóc, thu hoạch và cho hiệu quả kinh tế cao. Từ mô hình thí điểm này, Sở NN&PTNN đã có đề án trình UBND tỉnh về phát triển nuôi cá ở các hồ chứa thủy lợi, thủy điện.  
Trong khi UBND tỉnh chưa có quy hoạch, định hướng về nuôi cá lồng trên lòng hồ thủy điện Bình Điền thì người dân đã ồ ạt nuôi tự phát. Theo ông Nguyễn Trung Nhân, Phó Chủ tịch UBND xã Bình Thành, trước đây chỉ có vài hộ tổ chức nuôi cá lồng trên lòng hồ với quy mô nhỏ lẻ, đến tháng 4/2017, toàn xã có 30 hộ dân (chủ yếu ở thôn Bình Tân) nuôi với gần 300 lồng; ngoài ra, ở Bình Điền có khoảng chục hộ nuôi.
Ông Nguyễn Trung Nhân cho biết, một bộ phận người dân nuôi cá lồng góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tạo thu nhập. Tuy nhiên, việc nuôi cá của người dân chỉ mới ở hình thức tự phát, chưa có quy hoạch. Lãnh đạo Công ty CP Thủy điện Bình Điền nhiều lần có ý kiến về việc nuôi cá tự phát ở lòng hồ.
Theo quy định, nuôi cá lồng phải tuân thủ nhiều quy định nghiêm ngặt
Ông Phạm Ngọc Thành, Phó Giám đốc Công ty CP Thủy điện Bình Điền thông tin, UBND tỉnh đã cấp giấy chứng nhận sở hữu mặt nước toàn bộ lòng hồ thủy điện cho công ty. Người dân muốn nuôi cá ở lòng hồ phải được sự đồng ý của công ty. “Việc người dân nuôi cá trong lòng hồ được khuyến khích, nhưng cần phải thông qua chúng tôi để quản lý và hướng dẫn người dân sử dụng thức ăn hợp lý, không gây ô nhiễm và có kỹ thuật gia cố lồng bè trong mùa mưa, tránh sự cố đáng tiếc”- ông Thành nhấn mạnh. 
Bộc lộ nhiều vướng mắc
Theo Quyết định số 60 ngày 30/8/2016 của UBND tỉnh về nuôi cá lồng bè trên địa bàn tỉnh, cơ sở nuôi phải nằm trong vùng quy hoạch nuôi trồng thủy sản, nằm trong phân vùng mặt nước được cơ quan có thẩm quyền cho phép. Các tổ chức, cá nhân nuôi phải có quyền sử dụng mặt nước theo quy định hiện hành. Có 1 trong 3 loại giấy tờ: quyết định giao, cho thuê mặt nước nuôi trồng thủy sản  của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; hợp đồng thuê quyền sử dụng mặt nước cho nuôi trồng thủy sản có chứng thực của UBND cấp xã nơi có mặt nước và có hiệu lực ít nhất 2 năm; có văn bản cho phép nuôi cá lồng của cơ quan có thẩm quyền của địa phương. Tuân thủ các quy định hiện hành và cam kết bảo vệ môi trường.
Thống kê của Sở NN&PTNN, toàn tỉnh có gần 100 hồ chứa thủy lợi, thủy điện và tự nhiên với dung tích 1.189 triệu m3, diện tích 530ha, lưu vực rộng lớn rất thích hợp cho việc nuôi cá lồng, cho giá trị kinh tế cao nhưng chưa có quy hoạch. Ngoài hồ thủy điện Bình Điền, một số nơi đã tổ chức nuôi cá lồng như: thủy điện A Lưới, Khe Lời, hồ Nam Lăng (Hương Thủy), Khe Ngang (Hương Trà), hồ Hòa Mỹ (Phong Điền)…Việc tận dụng mặt nước các hồ chứa như thế nào cho phù hợp, hiệu quả trong nuôi trồng thủy sản chưa được đặt ra.
Trung tá Lê Viết Sơn, Phó Trưởng phòng Cảnh sát đường thủy Công an tỉnh cho biết, toàn bộ hàng trăm lồng cá trên lòng hồ thủy điện Bình Điền chưa được tổ chức, quy hoạch phù hợp; các thủ tục, giấy tờ chưa đảm bảo. Việc phát triển nuôi cá trên lòng hồ bước đầu bộc lộ những vướng mắc cần tháo gỡ về an ninh trật tự, an toàn hồ đập, vệ sinh môi trường. Theo quy định, các lồng bè nuôi cá có xây dựng nhà ở, kho chứa thức ăn bên trên phải có đăng kiểm kỹ thuật nhưng hầu hết các hộ dân này vẫn chưa đăng kiểm. Để giúp người dân, đơn vị đã tiến hành tuyên truyền về điều kiện, vị trí, khoảng cách giữa các lồng bè; cảnh báo các nguy cơ về tai nạn đuối nước, nguy cơ giật điện và bảo vệ môi trường… 
Lãnh đạo Sở NN&PTNT nhận định, với các công trình hồ chứa phong phú trên địa bàn tỉnh, mức độ đầu tư hiện nay chưa tương xứng để tận dụng được tiềm năng mặt nước. Tạo điều kiện về các cơ chế, chính sách và có kế hoạch, lộ trình phát triển thủy sản trên các hồ đập là cần thiết. Khi người nuôi có sự đồng thuận trong tổ chức sản xuất, áp dụng các biện pháp khoa học để quản lý môi trường nuôi, thực hiện các công nghệ nuôi sạch, an toàn về môi trường và dịch bệnh sẽ góp phần hạn chế ô nhiễm môi trường, tạo sản phẩm sạch có giá trị cao.Bài, ảnh: Thái Bình.Thủy điện Sơn La đã biến vùng thượng nguồn sông Đà thuộc ba tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu thành vùng lòng hồ rộng lớn. Nhờ đó cư sinh sống ven lòng hồ đã phát triển nghề mới là đó là nghề nuôi trồng, đánh bắt thủy sản tự nhiên và mô hình nuôi cá tầm làm kinh tế lần đầu tiên được triển khai tại Tây Bắc.

Bốn hợp tác xã đánh bắt, nuôi trồng thủy sản nước ngọt đã hình thành ở huyện Quỳnh Nhai, gồm các xã Mường Giàng, Chiềng Ơn…

Chị Vũ Thị Hạnh Lợi, chủ nhiệm hợp tác xã nuôi cá tầm Hạnh Lợi (xã Chiềng Ơn, huyện Quỳnh Nha) cho biết: hợp tác xã nuôi cá tầm của chị được thành lập từ tháng 11/2011, với 15 xã viên người địa phương cùng hợp tác góp vốn nuôi cá tầm.
 

Tháng 11/2011, hợp tác xã thả thí điểm đợt một 2.200 cá tầm giống được mua từ Công ty Thủy sản 1 (Sa Pa, Lào Cai) với giá 55.000 đồng/con giống. Các đợt tiếp theo được thả với số lượng từ 1.000 con giống trở lên. Tổng số đàn cá hiện đang được HTX nuôi thả lên đến cả vạn con.

Thời điểm ban đầu nuôi thí điểm, HTX được mượn 400m2 mặt hồ thuộc xã Chiềng Ơn, đoạn chân cầu Pá Uôn để thả lồng nuôi. Lồng nuôi cá được thả chìm, sử dụng lưới đặc chủng với hệ thống thùng phuy rỗng để làm phao nổi. Khu nhà canh cá đồng thời cũng là nhà kho được dựng ngay trên bè nổi, liền kề với dãy chuồng…
 

Hiện tại, đàn cá tầm sau gần một năm phát triển đã đạt trọng lượng từ 3-4kg/con. Giá cá tầm ngoài thị trường được bán dao động ở mức 250 – 300.000đồng/kg. “Tổng thể đầu tư ban đầu của HTX trên dưới 2 tỷ đồng. Khi cá đến tuổi thu hoạch sẽ cho lợi nhuận hàng tỷ đồng, điều này khiến các xã viên rất phấn khởi” – chị Hạnh cho hay.

Chị Hạnh kể, thời gian đầu, vì chưa có kinh nghiệm nên HTX bị thất thoát một lượng lớn cá từ các lồng nuôi ra bên ngoài tự nhiên. Nguyên nhân: do lưới làm lồng không đủ chất lượng, bị các cành củi mục vướng vào làm rách lưới. Qua chỗ lưới rách đó, một lượng lớn cá tầm nuôi đã thất thoát ra bên ngoài. Nhiều thuyền đi đánh bắt tự nhiên bắt được, ban đầu còn không biết đó là cá gì.

“Bây giờ, sau những lần “trả học phí” như thế, chúng tôi đã có nhiều kinh nghiệm. Lưới làm lồng phải là lưới đặc chủng, tuổi thọ từ 5-6 năm. Xã viên cũng thường xuyên nhấc lồng lên để kiểm tra lưới để tránh việc lưới bị rách vì giắt phải cành cây, vật thể lạ trôi nổi”.

Diện tích mặt hồ tích nước thủy điện Sơn La rất rộng nên tiềm năng để phát triển, nuôi trồng thủy sản nước ngọt rất lớn. HTX cá tầm Hạnh Lợi đang làm các thủ tục để thuê thêm diện tích mặt hồ, mở rộng quy mô chuồng nuôi.

“Chúng tôi đang nhập thêm 5.000 con giống cá tầm và xây dựng thêm 20 lồng nuôi thả nổi trên mặt nước. Hiện tại, mô hình này đang ở giai đoạn đầu tư ban đầu chưa cho khai thác, nhưng tới đây, đàn cá nuôi hơn một năm được khai thác sẽ cho thu nhập để trả lương công nhân, chia lợi nhuận cho các xã viên” – chủ nhiệm HTX cá tầm Hạnh Lợi lạc quan.
Lồng nuôi cá tầm trong lòng hồ thủy điện Sơn La.

  Hiện tại, Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã lên dự án  nuôi thủy sản tại lòng hồ thủy điện Sơn La.

Mục tiêu của dự án đến năm 2020 sẽ đạt được sản lượng ít nhất 500 tấn cá thương phẩm, trong đó có cả cá đặc sản địa phương và cá tầm với kỳ vọng sẽ biến lòng hồ thủy điện Sơn La là điểm nuôi cá tầm quy mô lớn nhất miền Bắc.

Kiên Trung

No comments:

Post a Comment