Saturday, July 8, 2017

phụ nữ trong chiến tranh đông dương

Chiến tranh Đông Dương đã kết thúc sau Hiệp Định Genève 60 năm trước. Có rất nhiều bài viết về đủ các khía cạnh nhân dịp kỷ niệm này. Tìm trên internet, một khía cạnh không thấy ai nhắc đến, đó là vai trò, hay thân phận phụ nữ trong cuộc chiến Đông Dương.
Đây là một thiếu sót lớn, vì thật ra, phụ nữ trong chiến tranh, nếu không hệ trọng hàng đầu, cũng quan trọng hơn nhiều lãnh vực khác, như lãnh thổ, thị trường v.v… Bằng chứng là, 70 năm sau Đệ Nhị Thế Chiến, các nước Nhật Bản, Trung Hoa, Triều Tiên đã có thể hợp tác với nhau trong nhiều lãnh vực, nhưng mỗi khi đụng tới vụ “Gái giải buồn” (Comfort Girls) là có chuyện chống đối ồn ào.

위안부 평화비 소녀상<YONHAP NO-2173>
Tượng ghi nhớ nỗi khổ nhục của "Gái giải buồn" được dựng trước cổng sứ quán Nhật Bản ở Seoul, Hàn Quốc
Để lấp vào chỗ trống đó, trước hết, người viết xin ghi lại sau đây những gì đã được viết bởi một quân nhân, trước khi trở thành một nhà báo, nhà văn, và học giả nổi tiếng về chiến tranh Đông Dương là Bernard B. Fall, qua tác phẩm chiến tranh Street Without Joy. Sau đó, đề cập tới vài ghi nhận từ phía Việt Nam.
street-without-joy antique cover
Bernard Fall là người Do Thái gốc Áo, mang quốc tịch Pháp, có vợ Mỹ, từng được cả hai miền Việt Nam ưu đãi: Được chính quyền Sài Gòn trả chi phí cho một chuyến đi nghiên cứu tại chỗ về phát triển kinh tế Nam VN, và Hà Nội cho phỏng vấn Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng, và đồng thời cũng từng bị cả hai chính quyền cấm nhập cảnh. Ngoài việc được tham khảo những tài liệu mật của Pháp về chiến tranh Đông Dương, Bernard Fall đã từng đi hành quân với quân Pháp tại nhiều nơi, kể cả khu vực rất nguy hiểm dọc theo quốc lộ 1 chạy đài từ Huế tới Quảng Trị, nơi nhiều chiến binh Pháp bị thương vong, đã đặt tên cho dải đất này là “la rue sans joie”. Bernard Fallđã chuyển cái tên này sang tiếng Anh để đặt tên cho tác phẩm của mình là “Street Without Joy”, và vào năm 1967, khi đi hành quân với Thuỷ Quân Lục Chiến Mỹ tại vùng này, ông đã thiệt mạng vì đạp phải mìn. Các phóng viên chiến trường VNCH sau này cũng gọi dải đất này là “Dẫy phố (hay Đại Lộ) buồn thiu”.
Bernard Fall đã dùng cả chương 6 trong Street Without Joy để nói về phụ nữ trong chiến tranh Đông Dương, vì theo ông, sẽ không thể coi là chiến tranh Pháp, nếu phụ nữ không đóng một vai trò quan trọng trong đó (This would have been a rather un-French war if women had not played an important rôle in it).
Như mọi người đã biết, trong Thế Chiến thứ nhì, quân đội Thiên Hoàng đã cưỡng bách phụ nữ Triều Tiên, Trung Hoa, và Phi Luật Tân để “giải buồn” (comfort) cho quân nhân Nhật. Theo Bernard Fall, quân Pháp đã có một đội ngũ riêng để làm việc này, gọi tắt là B.M.C. Khởi thuỷ, BMC là chữ viết tắt tiểu đoàn quân y của chiến dịch (Bataillon Médical de Campagne), nhưng sau đã được dùng để chỉ “Nhà thổ lưu động” (Bordel Mobile de Campagne).
Từ lâu, đã có hai ý kiến trái ngược về việc duy trì tổ chúc BMC trong quân đội Pháp. Một phía chống, cho rằng đó là hợp pháp hoá nghề bán dâm, một nghề hạ phẩm giá phụ nữ, vô luân về căn bản, và cũng không làm giảm bệnh hoa liễu. Phía bênh cho rằng BMC có lợi ở chỗ giúp cho quân nhân có chỗ xả hơi an toàn, nhờ đó, giảm được đào ngũ, hiếp dâm thường dân, và tránh bệnh hoa liễu, vì cả phía quân nhân và chị em ta cùng được khám bệnh định kỳ.
Còn về vấn đề đạo đức, không có chuyện cưỡng bách đối với các chị em ta trong BMC, mà hoàn toàn do tình nguyện. Vẫn theo Bernard Fall, các chị em thường là những cô gái xinh đẹp khoẻ mạnh, thuộc bộ lạc Oulad-Nail, tỉnh Constantine, Algeria. Theo truyền thống hàng thế kỷ ở đây là các chị em khởi nghiệp bằng cách đi bán dâm tại khắp các nơi ở Bắc Phi châu, cho đến khi tích luỹ được một số vốn đủ làm của hồi môn. Khi đó sẽ trở về quê, lập gia đình với trai làng, đóng vai vợ ngoan mẹ hiền đến mãn đời.
Bernard Fall kể rằng, khi ông phục vụ trong một sư đoàn Maroc ở Phi Châu vào cuối Thế chiến thứ nhì, cũng có cả BMC, khiến quân đội đồng minh Hoa Kỳ rất thèm thuồng, đến nỗi, danh tướng Patton của Mỹ, người rất hiểu nhu cầu của binh sĩ, đã định cho thử kinh nghiệm của quân đội Pháp, nhưng cuối cùng đã phải bỏ ý định, vì sợ sự phản đối của các bà vợ và bà mẹ Hoa Kỳ. Một khi phải đương đầu với các bà, nhất là qua họng của các nhà lập pháp tại Quốc Hội, không còn tâm địa đâu để đánh giặc.
bmc in Maroc
Ảnh chụp nhà thổ lưu động (B.M.C) ở Trại Arblou l’Arbi, Meknes, Maroc 
Hai phụ nữ da sậm chụp với các binh sĩ Pháp trước những túp lều “rước khách.”
Các BMC đã hoạt động rất êm thấm tại Đông Dương. Theo Bernard Fall, giữa cảnh chiến tranh căng thẳng và buồn tẻ, bỗng nhiên thấy trong đoàn quân xa dài thoòng, có một chiếc chở đầy các cô gái Oulad-Nail ăn mặc y phục Algeria sặc sỡ vui cười đùa dỡn với binh sĩ, thật là cảnh tượng đầy hứng khởi. Các BMC được theo đơn vị tới mặt trận, và trong chiến tranh Đông Dương, chỗ nào cũng là mặt trận, nên các chị em được đi khắp nơi để “vui vẻ” với binh sĩ, và đôi khi, đã đóng vai các nữ trợ tá trong tình trạng khẩn cấp, và oanh liệt hy sinh dưới làn đạn. Các chị em thuộc BMC bị thành phần nữ quân nhân coi như kẻ thù, và Bộ Tư Lệnh quân Pháp tại Đông Dương cũng không muốn họ lộ liễu trước các quan chức và báo giới Mỹ, vì không muốn dư luận Mỹ la ầm lên rằng dân Mỹ đã đóng thuế để tài trợ cho Pháp duy trì nhà thổ trong quân đội. Tuy vậy, theo một đại tá Pháp, quân đội Pháp không hề tốn tiền cho các chị em, vì khách hàng phải trả tiền cho người cung cấp dịch vụ, tất nhiên theo giá nhất định.
Vẫn theo Bernard Fall, có một trường hợp, hai cô BMC đã được đề nghị anh dũng bội tinh (croix de guerre) nhờ đã phục vụ quá sự đòi hỏi của nhiệm vụ. Chuyện sẩy ra tại Lai Châu, một đầu cầu không vận của Pháp nằm sâu khoảng hơn ba trăm cây số đằng sau làn ranh Cộng sản, nơi có hai tiểu đoàn Pháp trấn thủ, giữa vòng vây của Việt Minh trong hơn một năm. Về phía Bắc căn cứ Lai Châu này, có một đồn ngoại vi cấp trung đội trấn giữ ở Tsinh-Ho, bảo vệ an ninh cho một trong những con đường tới Lai Châu.
Khi một BMC được không vận tới Lai Châu, Trung Uý Laurent, một chàng bảnh trai, cao, da sạm từ Martinique, có nhiệm vụ phối hợp hoạt động pháo binh, và cũng là “sĩ quan tinh thần” của đầu cầu không vận, cảm thấy các chiến hữu ở Tsinh-Ho cũng xứng đáng được chia sẻ niềm vui vật chất. Nhưng muốn tới đồn ngoại vi này, phải trải qua gần 50 cây số đường rừng chẳng những hiểm trở, còn có thể bị Việt Minh phục kích. Laurent tập họp các chị em lại, trình bầy hoàn cảnh và tỏ ý muốn có hai người tình nguyện, đi cùng toán biệt kích hộ tống tới đồn binh hẻo lánh này. Không do dự, nhiều chị em đã tình nguyện, và hai người được chọn. Họ lên đường với toán biệt kích, đi giầy ống băng rừng, mặc quần áo dã chiến, nhưng vẫn mang theo y phục thướt tha gợi cảm trong túi xách, lận lội 48 cây số trong 48 giờ.
Vẫn theo lời Bernard Fall, “có lẽ Việt Minh cũng muốn chia phần” (perhaps the Viet-Minh wanted its share, too), chị em đã lọt ở phục kích trên đường về, nhưng họ đã rất bình thản dưới làn đạn chẳng kém gì các binh sĩ chuyên nghiệp, và trở về Lai Châu an toàn, trước sự đón tiếp nồng nhiệt của căn cứ. Laurent đã thảo hai bản đề nghị tuyên dương cho các chị em, gửi về Bộ Tư Lệnh miền Bắc tại Hà Nội. Nhưng Hà Nội từ chối với lý do bâng quơ rằng tặng huy chương cho hai nàng trong lúc này là không thích hợp.
Một đơn vị BMC cũng có mặt tại cứ địa Điện Biên Phủ. Theo Bernard Fall, một lần nữa, các chị em đã anh dũng hoạt động với tư cách trợ tá, nhưng không hề được chú ý và ghi công như người nữ y tá Pháp danh tiếng Genevière de Gallard-Tarraubes. Nhưng với nhiều binh sĩ bị thương ở đây, họ không bao giờ quên được những bàn tay săn sóc của các cô gái Oulad-Nail tại nơi địa ngục trần gian này.
Bernard Fall phân vân, không hiểu cái yếu tố “tội lỗi” được thêm vào chiến tranh có nặng hơn yếu tố nữ giới, ngay cả nhân đạo, mà họ đã đóng góp. Chính sử không ưa những anh hùng tì vết, và nữ anh hùng tì vết thì càng không được ưa, nhưng Bernard Fall hy vọng rằng vào cái ngày sau cuộc chiến cuối cùng và lịch sử về tất cả các cuộc chiến đã được viết, ít nhất một chú thích hàn lâm nhỏ nhoi sẽ được dành cho các chị em của BMC.
Ngoài các BMC dành cho binh sĩ giải khuây, còn một thành phần khác dành cho giai cấp thượng lưu. Vẫn theo Bernard Fall, một nhóm 73 cô điếm người Pháp có “nhiệm sở” tại Đông Dương, đa số ở Sài Gòn, dành riêng cho giới thương gia, sĩ quan cao cấp, phi công hàng không (và những ai có nhiều đô la hay vàng Hong Kong). Nhóm này, được trả lương bởi cơ quan tình báo Pháp, không phải thành phần phục vụ quân đội, khiến giới chỉ huy quân sự Pháp rất khó chịu. Cuối cùng, Đại Tướng de Lattre đã thẳng tay dẹp bỏ, bắt các cô điếm đầm về Pháp, thay bằng các “tài năng” địa phương.
foto du parc a buffles
B.M.C ở Chiến tranh Đông Dương còn có một tên lóng là “le parc à buffles” (“cánh đồng thả trâu”) (Ảnh chụp một “cánh đồng” cạnh trại binh Pháp ở đường Galliéni (sau là đường Trần Hưng Đạo) chạy dài 5 km từ Sàigòn vào Chợ Lớn, vào khoảng cuối thập niên 1940-đầu 1950)
***
Đó là một tập thể phụ nữ nước ngoài đã có mặt trong cuộc chiến Đông Dương, với một nghiệp vụ chuyên biệt. Tất nhiên, đời sống của đông đảo phụ nữ Việt đã gắn liền với cuộc chiến này. Đó là những người vợ không chính thức của thành viên đoàn quân viễn chinh, và những người vợ của quân nhân người Việt chiến đấu bên cạnh quân Pháp. Những người này và gia đình họ luôn sống trong tình trạng lo sợ, vì trong tầm ngắm của Việt Minh họ là những “Việt gian”, những kẻ thù hợp tác với Pháp, cần phải loại trừ, để “làm gương” cho người khác sợ hãi. Khi những “Trại gia binh” (Camps des mariés) được thiết lập trong phạm vi hay gần căn cứ đóng quân, đời sống của họ có phần được bảo đảm hơn. Nhưng mỗi khi căn cứ bị tấn công hay pháo kích, họ chính là những mục tiêu mà trong tay không có gì để tự vệ.
Mỗi khi đơn vị thay đổi căn cứ, vợ con chiến binh lại bồng bế đi theo. Bernard Fall ghi rằng, có rất nhiều trường hợp, nữ cán binh Việt Minh đã đóng vai vợ nhỏ của các chiến binh, trà trộn vào sống trong trại gia binh, làm công tác do thám hay phá hoại ngầm, thậm chí trong một số trường hợp, mở cửa trại cho đối phương đột nhập. “Không dưới một phần ba đồn binh bị Việt Minh phá huỷ, đã là nạn nhân của hành động phản bội hay phá hoại”.
Nếu có những phụ nữ làm nội gián cho Việt Minh, cững có hàng ngàn phụ nữ đã rất trung thành, hy sinh tính mạng để bảo vệ chồng. Bernard Fall kể ra hai trường hợp: Bà Crey người Bahnar, vợ của trưởng toán biệt kích René Riessen, đã nhào ra hứng trọn một băng đạn, chết thay chồng, và một công chúa thuộc bộ lạc Thái, vợ một nhà nhân chủng học người Pháp, bạn của Bernard Fall, đã bị Việt Minh thẩy lựu đạn nổ tan xác, vì nhất định không chịu chỉ nơi người chồng ẩn náu.
Nếu có những phụ nữ khốn khổ vì chiến tranh, cũng có người giầu sang nhờ nó. Bernard Fall kể ra một phụ nữ Việt tên Dung, gốc Thanh Hoá, đã trở thành một thứ “Bà Hoàng” như thời Phục Hưng ở châu Âu, hay trong triều đại Trung Hoa. Sau nhiều mối tình với các nhân vật cao cấp, bà đã nghiễm nhiên thành một “Bà Lớn” của một trong các vị tư lệnh, và trong tay bà có đầy quyền lực. Bà có tiếng nói quyết định trong các vụ bổ nhiệm hay thăng thưởng. Tự lái chiếc Peugeot mui trần, ở trong ngôi biệt thự sang trọng, bà còn mang thẻ biệt đãi tại quan thuế phi trường, thông qua mau chóng những vụ trao đổi tiền và vàng với Hong Kong.
Khi ông “Tướng hộ mạng” của bà hết nhiệm kỳ, ông muốn mang bà về Pháp. Mặc dầu đã sinh cho ông một người con gái, bà từ chối. Sau Hiệp Định Genève, bà chuyển hết tài sản vào miền Nam, cặp bồ với một ông đại tá Mỹ của MAAG (Military Assistance Advisory Group). Biệt thự của bà ở Sài Gòn còn sang trọng hơn cái ở Hà Nội.
***
Hiệp Định Genève 60 năm trước, theo tên gọi của nó, nhằm mục đích chấm dứt chiến tranh, vãn hồi hoà bình. Sau một thập niên đánh nhau, khi hoà bình trở lại, đáng lẽ là lúc vợ chồng xum họp, gia đình chung tay tái tạo một cuộc sống mới, nhưng để thực hiện chủ trương của Đảng cho một mục tiêu trong tương lai, nhiều gia đình lại bắt đầu một cuộc chia ly mới.
Đại đa số trong nhóm trên tám trăm ngàn người di cư từ Bắc vào Nam, đi cả gia đình, đầy đủ vợ chồng con cái; chỉ một số rất nhỏ bị ly tán trong cảnh kẻ ở người đi. Ngược lại, đại đa số trong nhóm hơn một trăm ngàn người tập kết từ Nam ra Bắc chỉ đi một mình, để vợ con ở lại. Đợi chờ, lo lắng cho chồng con trong chín năm, đến khi tưởng là chiến tranh chấm dứt, lại li tán thêm hai chục năm nữa. Tất nhiên là nhiều cuộc phân ly đã không bao giờ tái hợp, hoặc gặp lại trong tình huống đắng cay. Ngay các nhà lãnh đạo chóp bu cũng không tránh được cảnh này, huống chi là cán bộ cấp dưới. Nếu Hiệp Định Genève được thi hành nghiêm chỉnh, bà Võ Văn Kiệt đâu phải hy sinh mạng sống của mình. Nếu ông Lê Duẩn không lộn lại miền Nam, chuẩn bị chiến tranh khi Hiệp Định chưa ráo mục, làm gì có cảnh gia đình chia rẽ, bà Bắc bà Nam chống nhau khi Đảng hô hào đoàn kết.
Ấy là chưa kể tới số phận của hàng ngàn thiếu nữ tại các địa điểm tập kết chót ở Bình Định và Cà Mau. Đảng đã lợi dụng lòng yêu nước để tuyên truyền, thúc đẩy họ trao thân gửi phận vào phút chót cho các thanh niên tập kết. Đó là những đám cưới tập thể, hối hả, sống với nhau một tuần hay vài ngày, trước khi chàng lên tầu ra đi, hẹn hai năm tái ngộ. Kết quả là có những đứa trẻ ra đời bị coi như con hoang, và những thiếu nữ trong tình trạng không biết phải tự xếp mình vào thành phần có chồng hay chưa?
***
Nếu so sánh các BMC của Pháp với Comfort Girls của Nhật, tuy hàng thế kỷ qua, Nhật được coi là dân tộc văn minh nhất Á châu, nhưng họ chỉ đối xử văn minh với dân tộc họ, còn với các dân tộc khác, ngay dưới chiêu bài Đại Đông Á, họ cũng đối xử như nô lệ. Nhật chỉ thực sự đóng vai chánh ở Việt Nam khoảng nửa năm trước khi đầu hàng, có lẽ nhờ đó mà phụ nữ Việt tránh được nạn bị bắt làm comfort girls.
Nhưng dù quân Pháp có BMC, cũng không tránh được tình trạng nhiều phụ nữ Việt đã bị hiếp. Ngay sau chiến tranh, và cho đến khi kỷ niệm 60 năm sau cuộc chiến, người ta đã đưa ra nhiều thống kê, chính thức và bán chính thức, từ nhiều phía, nêu ra những con số, và ức đoán, về những người chết, bị thương, tài sản bị thiệt hại, nhưng chẳng ai nghiêm chỉnh đề cập tới những nạn nhân bị hiếp.
Bernard Fall ghi rằng, trong những tài liệu ông thu thập được về chiến tranh Đông Dương, có một tờ truyền đơn của Việt Minh, “tố cáo 60 lính Pháp đã hiếp 700 phụ nữ trong một buổi chiều”. Ông đã làm một con tính, thấy rằng, đổ đồng, mỗi lính Tây hiếp 11 phụ nữ trong một thời gian ngắn, cho rằng đó là lời khen ngợi của kẻ thù dành cho sự cường tráng của Pháp! (Such a compliment paid to French virility by the enemy!). Quân Pháp tại Đông Dương có lúc lên tới hơn một trăm ngàn người, và cuộc chiến không chỉ trong một buổi chiều, mà kéo dài chín năm. Có bao nhiêu phụ nữ đã bị hiếp? “Đảng lãnh đạo quang minh” đã dựng tượng cho người này, tổ chức kỷ niệm sinh nhật cho người kia, phong danh hiệu anh hùng cho người khác, nhưng đã làm gì cho những nạn nhân bị hiếp này? Đại Hàn không làm tượng Bác Lý Thừa Vãn, hay Tướng Phác Chính Hy, mà dựng tượng Comfort Girls. Phải chăng đó là lý do họ bỏ xa Việt Nam?
Về mặt không chính thức, ký sự của nhà văn Nguyễn Quang Lập có ghi trường hợp hai phụ nữ bị Tây hiếp. Một là Mụ Cà, thuộc đội dân quân du kích, do Cu Miễn làm đội trưởng:
Cuối năm 1953 Pháp từ Ba Đồn càn lên làng Đông, dân làng bỏ chạy cả, chỉ còn đội dân quân vẫn ở lại giữ làng. Mụ Cà mải bắn địch một hướng, không biết Pháp vào làng theo hướng khác, anh em du kích bỏ chạy cả mụ vẫn không biết, bị một thằng Pháp xông đến đè cổ mụ trên cát, hiếp.
Mụ Cà chống cự quyết liệt, liên tục hô đả đảo đế quốc Pháp, đả đảo đế quốc pháp. Thằng Pháp khoẻ hơn, đè riết không cho mụ động cựa. Mụ vẫn không sợ, miệng vẫn hô vang đả đảo đế quốc Pháp.
Lúc đầu mụ còn hô to, đầy đủ cả câu đả đảo đế quốc Pháp, sau nhỏ dần hụt hơi dần, đã đảo đế quốc… rồi đả đảo đế… rồi đả đảo…Cuối cùng chỉ còn mỗi đả ả ả ả…Xong om.
Nhà văn Nguyễn Quang Lập kể tiếp:
Mọi người cười, vỗ tay ầm ầm, nói ua chầu chầu hay hè hay hè.
Cu Miễn tức, đập bàn chỉ tay mụ Cà quát phản động, bắt mụ ni trói lại cho tui.
Mọi người ngơ ngác không hiểu sao.
Cu Miễn nói, mụ ni hợp tác hủ hoá với giặc Pháp, rứa mà các đồng chí không hiểu, còn vỗ tay hoan hô. Mất lập trường rồi các đồng chí ơi!
Mụ Cà nói đồng chí Cu Miễn nói rứa oan tui. Cu Miễn nói mụ Cà kia, tui không đồng chí với mụ.
Mọi người nói ua chầu chầu đồng chí cu Miễn nóng quá.
Cu Miễn hô cả trung đội đứng dậy, nghiêm! Tôi quyết định đuổi mụ Cà ra khỏi trung đội dân quân. Từ nay không được ai kêu mụ Cà là đồng chí, rõ chưa. Cả trung đội đập chân ưỡn ngực hô rõ.
Trường hợp thứ nhì, Tây ập vào một nhà, anh chồng trốn trên trần, chị vợ bị Tây hiếp. Tây đi, anh chồng xuống đánh vợ. Chị vợ khóc, hỏi đã bị hiếp sao còn bị đánh? Chồng trả lời không đánh tội bị hiếp, đánh vì từ trên trần nhà nhìn xuống, anh thấy chị nhón mông hợp tác.
Hai chuyện này nếu có thật, chứng tỏ tâm địa đàn ông Việt Nam quá tệ. Đã bỏ rơi, hay không bảo vệ được phụ nữ trong con nguy khốn, còn lên án, hay đánh nạn nhân. Thật thấm thía câu “giặc đến nhà đàn bà phải đánh”.
Nếu không có thật, tình trạng càng tệ hơn. Sự đau khổ và nhục nhã tận cùng của phụ nữ đã không được thấu hiểu và giúp đỡ, còn bị nhà cầm quyền không ngại  thổi phồng để tuyên truyền, và nhà văn thêm thắt chi tiết kể như câu truyện vui hoặc gợi dục.

No comments:

Post a Comment