Tuesday, July 25, 2017

Sống Chưa Chưa Sống

Với một loạt truyện tự sự đặc biệt về đề tài đồng tính và sức mạnh gia đình, Lê Thị đã nhận giải Chung Kết Viết Về Nước Mỹ 2012. Tác giả, 35 tuổi, cho biết đã đến Mỹ khi còn là một cậu bé “tiếng Việt chưa đủ vốn, tiếng Anh dăm ba chữ chập choẹ,” hiện hoạt động trong ngành thiết kế thời trang tại New York và Chicago. Sau đây là bài viết mới nhất của ông.

Tiễn Minh ra cửa xong, Howard bước vào cái thang máy dành riêng cho khu penhouse sang trọng gã vừa mua. Ngay khi người gác thang máy vừa bấm nút tầng lầu cuối cùng, gã thấy người lảo đảo, chóng mặt. Cơn đau đột ngột như đốt cháy ruột gan. Một tay ôm ngực, một tay vịn tường thang máy giữ thăng bằng, gả cố giữ thẳng người, nhưng cơn đau càng lúc càng dồn dập, hơi thở ngày một đứt quãng. Howard chỉ còn đủ sức lôi cái cell ra bấm 911 trước khi quị ngã.

Khi tỉnh dậy, Howard thấy giây dợ và kim cắm đầy người. Các bác sĩ và y tá vây quanh nhìn chằm chặp vào gã. Mọi người xúm lại khi thấy gả mở mắt tỉnh dậy. Cô y tá cầm tay bắt mạch và nhẹ nhàng hỏi:

- Anh tỉnh rồi?

Vẫn chưa biết ất giáp gì, Howard cố gượng hết sức mình hỏi thăm bác sĩ:

- Chuyện gì đã xảy ra? Tôi đã vào bệnh viện hồi nào?

- Anh hãy nghỉ ngơi tỉnh dưỡng. Anh đã bất tỉnh hơn hai ngày rồi. Bác sĩ đã thử máu và đang chờ kết quả khám nghiệm.

Đây là lần đầu tiên Howard nằm bệnh viện. Gã cảm thấy ngột ngạt, tù túng, muốn bung giây thoát khỏi cái giường bệnh chật chội trong căn phòng trắng toát, lạnh ngắt này, nhưng không còn đủ hơi sức. Toàn thân mềm nhũn không còn chút sinh khí, gã nằm bất động nhìn trần nhà.

Vài giờ đồng hồ trôi qua, vẫn cô y tá dáng mảnh mai, nhẹ nhàng bước vào phòng, cô ân cần hỏi có muốn cô báo tin cho thân nhân hay không. Câu hỏi bình thường nhưng làm gã cau mày, chạnh lòng. 

Người thân yêu? Gã cố đếm trên đầu ngón tay. Hình ảnh Người Mẹ hiện lên nhạt nhẽo trong đầu, hẳn là bà đã nhiều lần tái giá, bà ở đâu, làm gì, đã từ nhiều năm, gã hoàn toàn không có liên hệ. Hình ảnh tiếp theo là thằng em trai duy nhất, đứa con rượu của mẹ, cái thằng trời đãi luôn nhìn gã bằng cặp mắt chế riễu, quái dị.

Sinh trưởng tại Florida trong một gia đình Do Thái Giáo, cha Howard qua đời trong tù vì tội rửa tiền. Ông đã làm việc tại nhà báo Hustler với Larry Flynt, đến khi bị IRS điều tra về vấn đề chuyển tiền trái phép, ông nhận hết tội, và bị kết án 5 năm tù. Chỉ hơn một năm sau, ông mắc bệnh ung thư và qua đời đột ngột trong nhà tù, để lại bà vợ vô công rồi nghề và hai đứa con trai bé xíu, Howard và Neils. 

Mẹ gã không bao lâu tái giá, và không hứng thú gì với hai anh em gã nữa. Tuy nhiên, đối với bà, đứa con trai thứ hai nhanh mồm nhanh miệng, tướng tá bảnh bao, thường nhắc đến hình ảnh người chồng quá cố của Bà. Còn Howard tính tình kỳ dị, cô lập, ít nói, không giống bà mà cũng chả giống ông, là đúc kết mọi cái xấu của hai người. Nhìn đứa con trai đầu, thừa hưởng từ bố nó cặp lông mày rậm như hai con sâu đốm bò ra khỏi khuôn mặt ngang phè, vắt ngang qua cặp mắt đen dữ tợn thừa hưởng từ chính bà, cái mũi quặp, đầu tóc mì tô rối bù, đen khè làm lộ rõ làn da trắng bệch yếu ớt, nhắc bà nhớ đến những thứ bà ghét cay ghét đắng từ ông chồng quá cố và từ bản thân.

Howard lớn lên cô độc, gã biết rõ mẹ không có cảm tình với mình, yêu thương Neils và ghét bỏ gã. Từ nhỏ, trong phòng của Neils có đầy đủ mọi món đồ chơi, quần áo mới, có tivi màn ảnh lớn, hắn và mẹ thường xem phim với nhau mà không bao giờ cho gã bén mảng vào xem cùng. Gã đi làm thêm sau giờ học để tự mua sắm cho mình những món đồ mà thằng em luôn luôn được mẹ sắm sửa cho. Howard cố gắng từ nhỏ, sống và làm việc nghiêm túc, chỉnh tề, cố gắng chứng tỏ giá trị của mình, cố gắng “mua” tình yêu của me nhưng thất bại. 

Càng lớn, gã càng cô độc, không có bạn bè, không tin vào tình cảm của bất cứ ai. Người duy nhất có ký lô với gã là Mẹ, bà lại luôn nhìn gã như nhìn cái gai chỉ muốn nhổ bỏ. Ở trường, gã hoàn toàn cô lập. Thỉnh thoảng có vài thằng bạn châu Á cũng bị mọi người rẻ rúng, tìm đến làm bạn, nhưng gã cũng chả buồn thân thiết. Mỗi khi về nhà, gã tự nhốt mình vào căn phòng riêng, ngồi dính chặt vào cái computer. Thế giới của gã chỉ là chiếc computer và các trò video games do gã tự mua. Thằng em được Mẹ mua đồ chơi đủ thứ, nhưng luôn vào phòng gã phá phách. Và lúc nào Mẹ cũng bênh nó, mắng gã ích kỷ, xấu xa, xui xẻo. 

Gã thấy mình là người nhỏ bé, vô dụng, xấu xí, dù có cố gắng thế nào đi nữa, trong thế giới của Mẹ, hoàn toàn không có chỗ cho gã. Howard chỉ có cách tập trung vào thế giới cô lập của mình, chờ mọc đủ lông cánh bay ra khỏi cái tổ ấm phải gió buộc chân buộc cẳng gã từ ngày Cha gả lìa bỏ gia đình.

Năm học chót, Howard đếm từng ngày cuối cùng của tuổi học trò đầy trắc trở dưới mái trường trung học ngột ngạt, gò bó, nơi gã bị mọi người chê bai, cô lập. Chỉ ít ngày nữa thôi, gả sẽ hoàn toàn xóa sổ phần đời thơ ấu. Gã quyết tâm xây dựng lại cho mình cuộc sống mới. Gả sẽ thành công. Gả sẽ có tất cả những gì gã đã từng thiếu thốn. Gả sẽ tạo dựng cho mình danh giá, tên tuổi, sự nghiệp, của cải, những thứ sẽ đem lại cho gã sự tôn trọng, tình yêu thương, thứ mà gã đã rượt đuổi vô vọng suốt phần đời thơ ấu. 

Ngày ra trường trung học, cũng là ngày gã dọn ra khỏi nhà và đi thật xa. Với quyết tâm sắt đá và tính nhẫn nại, chịu khó, Howard được học bổng tại MIT, tốt nghiệp 4 năm, và tiếp tục lấy bằng thạc sĩ ở Princeton. Sau đó gã dọn sang Palo Alto cùng với vài người bạn “computer geek” lập nghiệp. Cả bọn khởi xướng công ty Google. Google phát triển nhanh chóng, mở văn phòng ở Tokyo. Gã được cử sang Tokyo coi quản và phát triển công ty ở Nhật Bản.

Khi mới dọn sang Toykyo, tuy ngôn ngữ mới lạ, nhưng gã cảm thấy mình đã được phần nào “chấp nhận”. Người Châu Á hay người Nhật Bản luôn coi trọng và đối xử với gã lễ độ. Dần dần, gã cảm thấy lòng mình “mở mang” hơn, ít nghi kỵ, dễ tiếp nhận hơn. Rồi gả có cơ hội quen biết với Michael, một người Nga gốc Do Thái lớn lên ở New York mới dọn qua Tokyo làm việc. Hai người có một sự tương đồng là cả hai đều là Do Thái, cùng làm công việc IT, cùng nói tiếng Anh và cùng thích đi ngắm những cô gái Nhật Bản nhỏ nhắn.

Vận mạng đã mỉm cười với gã, Google vào thị trường chứng khoán, rồi chỉ trong một đêm, gã trở thành triệu phú, sở hữu một gia sản kếch sù trị giá trên hai trăm triệu đô la. Cuộc đời sẽ ra sao? Gả sẽ trở thành nhân vật nào? Gả sẽ làm gì? Cái nhãn hiệu triệu phú có lột da, đổi xác cho gả từ một kẻ đầu bù tóc rối, ngố đăm ngố điếc thành một người đàn ông thành công, lịch lãm? Cái nhãn hiệu triệu phú liệu có đền bù cho gả, mua được thứ tình cảm mà cả thời thơ ấu Mẹ đã từ chối không ban cho gã?

Trong cơn hứng khởi, gã gọi rủ Michael, người bạn duy nhất đi uống cà phê. Bước vào quán, Howard thấy Michael đi cùng với một thanh niên trẻ, tướng đi ngông nghênh, mặt mũi vênh váo tiến về phía gã. Michael giới thiệu Minh, người bạn thân nhất của anh hiện đang sống tại New York, làm nghề thiết kế thời trang. Howard đưa tay bắt tay Minh, bàn tay cứng ngắc, nhưng trên môi hắn là nụ cười thật to, để lộ cả một hàm răng trắng toát. 

Ngồi vào bàn, giữa ban ngày ban mặt, Minh kêu ngay một chai rượu đắt tiền. Howard nhăn mặt, còn phải về văn phòng làm việc. Nhưng rồi như có một sự thu hút vô hình nào đó, gã nấn ná ngồi lại uống rượu, lần đầu trong đời gã thấy lòng phơi phới, không e dè, không chấp nhứt, không mặc cảm, cũng không sợ bị lợi dụng. Gã ba hoa cười nói thân thiện, chả cần phải dấu diếm cái tin vừa được trở thành triệu phú.

Ăn uống thỏa thuê, đến giờ phải về văn phòng, gã gọi tính tiền. Khi anh bồi đem ra hóa đơn, gã tính nhẩm phần mình, rồi rút túi lấy ra một phần ba số tiền bỏ xuống bàn. Gã thoáng bắt gặp ánh mắt cười cười của Minh, hắn ta cầm lấy hóa đơn, nhét nắm tiền vào lại vào túi gã, rồi nheo mắt, “Để đó đi, tôi đãi anh triệu phú!” 

Đó là lần đầu tiên Howard gặp Minh. 

Mấy tháng sau, Howard bàn giai công việc tại Tokyo, đáp máy bay về New York. Nhờ Michael thu xếp trước, Minh mời gã đến nhà ở tạm trong thời gian tìm mua nhà. Minh tận tình giúp gã hòa nhập vào đời sống mới. New York nhộn nhịp, vội vàng, nhanh đến chóng mặt, thêm lối sống ào ào của Minh, tất cả là một sự thay đổi rất sốc đối với gã. Minh tính tình thẳng thắn, ăn to nói lớn, không e dè, xung quanh anh lúc nào cũng đông đúc bạn bè, và vì anh là nhà thiết kế thời trang ở New York, nên quen biết rộng, Minh đi đâu cũng có hàng hàng lớp lớp các cô gái đẹp đi theo. 

Còn Howard, từ ngày thành triệu phú, đời sống gã cũng chẳng mấy thay đổi. Gã quen cần cù, tiết kiệm, vẫn mặc cùng một bộ đồ thô thiển, vẫn thiếu tự tin, thừa tự ti. Gã luôn luôn nghi ngờ, dè dặt với mọi người. Với đàn bà con gái, gã nhìn ai cũng so sánh với Bà Mẹ của gã. Sợ bị tổn thương. Sợ bị lợi dụng. Sợ họ biết gã có tiền sẽ dụ dỗ gã. Bây giờ, thấy Minh sống hết lòng với tất cả bạn bè, không nghi ngờ, không đố kỵ, không sợ ăn thua, gã cảm thấy vừa lạ vừa tò mò. Gã bắt đầu gia nhập vào những bữa ăn trưa nhộn nhip kéo dài nhiều tiếng đồng hồ với hết nhóm bạn này đến nhóm bạn khác của Minh. Gã nếm từng chai rượu đỏ, nhâm nhi từng ly rượu trắng, thỉnh thoảng gã còn nhận thấy mình cất tiếng cười sảng khoái hoà với những tràng cười vui nhộn của các bạn của Minh. 

Dần dà, gã cảm thấy lòng vui hơn, gã cố gắng hòa nhập vào nhóm bạn mới này. Ngoài giờ làm việc, họ tụ tập, ăn trưa, ăn tối, không bữa nào không có những cô bạn gái xinh đẹp của Minh bên cạnh. Họ gặp nhau khắp mọi điểm hẹn trong thành phố, từ các quán ăn vỉa hè, đến những nhà hàng danh tiếng, sang trọng nhất New York. Họ nói chuyện công việc, họ giúp nhau tìm đầu mối làm ăn, họ mai mối, họ ăn mừng… Lần đầu tiên trong đời, gã đã không phải lủi thủi ăn uống một mình. Tuy bị cuốn hút bởi bạn bè và lối sống của Minh, nhưng tính nào tật đó, gã vẫn dè dặt, canh cánh sợ bị lợi dụng. Khi tham gia các buổi tụ tập, gã giữ mồm giữ miệng, giữ hồn giữ xác, luôn luôn sẵn sàng mở đường để rút lui, khép kín.

Sau một thời gian, gã nhận thấy bạn bè của Minh, và cả Minh, dần dần không còn thân thiện và còn có ý tránh xa gã. Lại bị tổn thương, gã hỏi:

- Minh, có chuyện gì vậy?

- Không có chuyện gì hết.

- Không? Thế sao lúc này ít rủ anh đi chơi cùng. Anh cảm thấy Minh đang tránh anh. Những lần cuối đi ăn với nhau, anh có cảm giác mấy cô bạn gái của em đều nhìn anh không có thiện cảm.

- Anh muốn nghe lời thật hay dối?

- Dĩ nhiên là thật.

- Okay, Howard, bạn bè em cho là anh thiếu ga lăng, không lịch sự, keo như kẹo kéo. Khi đi chơi chung, anh không biết trò chuyện, lại lúc nào cũng chỉ trả tiền cho phần của chính mình. Không biết để ý đến ai khác. Khi có việc, công việc của anh là trên hết. Khi người ta hỏi đến anh, anh giống như con rùa thụt đầu vào mai thủ thế, làm như phòng kẻ cướp.

Bất ngờ nghe Minh nói thẳng thừng, gã khựng lại. Minh nói rất đúng, gã quen sống như thế, cư xử như thế, không làm sao khác được. Nhưng để tự bào chữa, gã trả lời:

- Họ hiểu lầm anh rồi. Khi anh đi ăn, anh không biết nên trả hay không trả. Anh chưa quen thân họ nên không dám bao họ, sợ họ nghĩ anh lấy tiền làm le. Còn công việc, anh sống chỉ biết làm việc, đó là cuộc đời của anh.

- Thế thì mỗi khi đi “date” với bạn gái, sao anh không ga lăng trả tiền cho họ trước.

- Okay, anh sẽ để ý và sẽ gắng thay đổi.

Thừa cơ hội, Minh tiếp tục:

- À, Howard này, anh nên đi cắt tóc, nhổ bộ lông mày cho gọn ghẽ. Bỏ tiền ra sắm vài bộ quần áo đẹp mặc cho chỉnh tề. Quần áo của anh lôi thôi, chật và cũ lắm rồi.

Gã cười bẽn lẽn:

- Nếu em chịu giúp anh thì anh sẽ giao hết cho em.

Sáng hôm sau Minh hẹn gã đến một tiệm cắt tóc quen biết, Minh bảo anh thợ cắt ngắn đi mái tóc quăn lù xù rậm rạp của gã. Minh lấy cái nhíp ra tự tay làm gọn bụi lông mày sâu đóm của gã. Chỉ vài phút sau, gã nhìn vào gương và suýt không nhận ra chính mình. Sau đó gã theo Minh vào phố Soho mua quần áo mới. Tuy có trong tay hàng trăm triệu đô-la, gã chưa bao giờ bước vào các tiệm quần áo sang trọng. Hôm nay, Minh đưa gã vào các tiệm quần áo mà cả đời gã chưa bao giờ dám bước vào. Mặc những bộ vét tông này vào người, Howard đã hoàn toàn không nhận ra chính gã. Cả đời gã, quần áo chỉ là mảnh vải che thân. Bây giờ, đi đôi giày êm ái, mặc quần áo đẹp, Howard cảm thấy con người gã đã được lột xác, ngay cả chính gã cũng thay đổi cách nhìn với chính bản thân gã. Lần đầu tiên gã thấy mình không xấu xí, còn có vẻ đẹp trai. Gã ngắm nhìn con người mới của mình trong gương, tự bằng lòng với bộ dạng của chính mình, gã ngẩng cao đầu, hất mái tóc ngắn, ưỡn người thẳng lưng bước theo Minh ra khỏi tiệm.

Không bao lâu sau, Minh giới thiệu với gã một cô bạn mới về từ Nam Hàn. Theo Minh, nàng không chỉ xinh đẹp, mà tính tình rất vui vẻ, duyên dáng. Minh đặt bàn tại Le Laberdine để gã hẹn gặp Jenifer. Lòng gã không khỏi hồi hộp, và quả tim gã đã đập loạn xạ khi thấy cô gái người cao ráo, thanh tao, với nụ cười tươi như hoa lung linh hai lúm đồng tiền trên má bước vào. Howard đứng dậy đón Jennifer mà thấy lòng nao núng, rạo rực. Thời gian, không gian dừng lại. Mọi người xung quanh đều biến mất. Gã chìm đắm rơi vào giấc mơ của cảm giác. 

Suốt buổi ăn tối, gã không rời mắt khỏi người đẹp. Jennifer như nụ hoa đang nở gieo phấn hương vào linh hồn khô cằn của gã, khiến gã ngất ngây, say đắm. Và rồi lần đầu tiên trong đời khi gã thức dậy, có nàng tiên xinh đẹp nằm ngủ ngon bên cạnh gã. Gã lắng nghe quả tim đang hòa nhịp với những giai điệu thôi thúc trong lòng. Rồi gã hốt hoảng nhận ra mình đã biết yêu.

Ngày hôm sau, trong tinh thần phấn chấn, Howard mời Jenifer đi dạo Central Park. Gã nắm tay nàng rảo bộ cả giờ đồng hồ thao thao bất tuyệt. Sau đó, gã gọi nàng hoài mãi, nhưng Jennifer dường như mất tích. Gọi mãi không được, gã đành cầu cứu Minh. Minh gọi cho Jennifer, nghe cô bạn kể chuyện: “Sau buổi sáng thức dậy, em có hẹn gặp với bà chị tại Boat House ở Central Park, rủ hắn đi cùng. Từ downtown, em dự định nhảy lên taxi đi cho nhanh, nhưng hắn nhất định đòi đi bộ. Em phải lết đôi giày cao gót đến 70 block đường, đau chân muốn nổi quạu. Sau khi gặp bà chị, hắn lại tiếc tiền đi taxi đòi cuốc bộ xuống hầm đi xe điện ngầm. Em tức mình lấy taxi đi về và good bye hắn, không bao giờ muốn lại gặp hắn nữa.”

Thế là gã chưa kịp hưởng mật ngọt tình yêu đã uống phải thuốc đắng thất tình. Khi nghe Minh kể chuyện, gã gãi đầu gãi tai không hiểu vì sao lại bị giận.

Sau đó, Minh cũng đã giới thiệu cho gã nhiều cô bạn gái xinh đẹp. Lần nào, gã cũng hứng khởi đi “date”, nhưng gã không thể nào hiểu nổi, vì sao lần nào các cô gái cũng chạy dài. Gã tự kết luật, đàn bà con gái, hệt như bà mẹ vô tình của gã, thật không đáng để tâm đến. Và gã đâm đầu trở lại với công việc, không dám mơ tưởng đến tình yêu nữa.

Thỉnh thoảng, trong những phút giây cô độc, gã đã nhớ đến thằng em duy nhất của gã.Trong chuyến đi làm ngắn hạn ở New York, thằng em tìm đến thăm, kể chuyện gia đình, chuyện đời sống vợ con hắn. Neils mời gã về chơi với gia đình hắn vào mùa Noel sắp tới. Nhìn mặt thằng em, một phần thời niên thiếu bất công tràn về, một phần, lại sợ bị thằng em lợi dụng, thế là bao ý tưởng hàn gắn tan biến, gã lạnh lùng mở cửa mời thằng em đi về.

Một lần khác, Minh rủ gã và cô bạn thân của Michael sang Tokyo mừng sinh nhật “surprise” Michael. Trong cơn hứng, gã đồng ý cùng với Minh trả tiền vé máy bay cho cô nàng. Đến khi Minh đưa vé máy bay first class, gã co đầu rụt cổ, lỉnh mất không chịu trả. Minh sau này không dằn được mắng thẳng mặt gã: “Thế anh giàu có để làm gì mà không giữ được lời hứa? Anh có tiền bạc mà không biết cách xài. Anh là tên nhà giàu “nghèo” nhất nước Mỹ.”

Tuy bực bội bị xài xể, nhưng trong thâm tâm gã hiểu rằng Minh đã đụng đúng tim đen của gã. Thật vậy, có tiền, có của, có danh triệu phú không thay đổi cuộc đời của gã. Quá khứ xa xưa vẫn bám sát gã, càng ngày, gã càng rút nhỏ lại trong cái vỏ cô độc. Minh và các bạn của Minh từ từ rời xa gã. Các cô nàng trong sở có chút thiện cảm nào với gã cũng tự động dang ra. New York là xứ sở của văn hoá thị trường. Gã không khỏi thắc mắc vì sao mình cao giá thị trường thế này mà cứ chèo queo đơn độc. Đã đến lúc gã cần phải chứng tỏ cho cả thế giới biết về sự thành công của gã.

Vậy là Howard trở thành chủ nhân một penthouse, căn lầu thượng, trong một khu cao ốc sang trọng của New York. Cầm chiếc chìa khóa trong tay, gã nghĩ ngay đến việc mời Minh đến xem nhà mới. 

Mở chai champaign mời Minh, gã dùng remote mở màn khoe khung cảnh cả phía nam thành phố Manhattan trước mắt, với cây cầu Brooklyn Bridge bắt ngang rõ mồn một. Nhìn về hướng tay phải, cả phía Tây thành phố soi bóng dưới mặt nước phẳng lặng của dòng sông Hudson River. Gã đưa Minh đi một vòng xem cái penthouse nhiều phòng, phòng khách, phòng ngủ, thư viện, phòng làm việc, phòng khách, phòng bar, phòng uống trà… mỗi phòng hướng về mỗi cảnh khác biệt của New York. Bước lên lầu, căn greenhouse rộng lớn với cửa kính cao rộng bao quanh tứ phía, mở ra ngoài là sân thượng thênh thang theo đúng diện tích ngang rộng của tòa nhà chọc trời này. 

Mãn nguyện khi thấy Minh rất là “impressed” với cơ ngơi mới mẻ này, Howard chỉ tay về phía khoảng sân thượng: 

“Anh sẽ đặt một cái hồ bơi ngay chỗ này.” 

“Làm sao có thể mang được cái hồ bơi lên đây?” Minh thắc mắc. 

Bắt chước kiểu nheo mắt của Minh, gã dõng dạc trả lời: “Có tiền thì mua tiên cũng được.”

Nghe câu nói có vẻ khoe khang của Howard, Minh không hề khó chịu mà lại thấy thú vị vì nghĩ rằng cuối cùng anh bạn triệu phú cũng đã thay đổi và bắt đầu dám sống. 

Minh và Howard uống rượu mừng căn nhà mới tới quá nửa đêm. Có lúc cả hai cùng cao hứng, Minh cụng ly bảo hắn: Mừng anh bắt đầu biết làm chủ đồng tiền, khi biết là chúng có thể khiêng cái bể bơi lên tầng thượng này. Bể bơi, nhà cửa dĩ nhiên là tuyệt diệu, nhưng cái chính là sống sao cho đẹp không chỉ với mình mà còn với người khác. Hãy nghĩ tới người này, người kia, việc này việc nọ, những mơ ước tốt đẹp nhất mà anh từng ấp ủ và hãy thực hiện chúng. Nào, nâng ly... 

Howard tiễn Minh xuống tận lobby và vẫy tay chào đưa Minh ra tận Taxi. Trở vào thang máy, lòng gã khoan khoái. Gã thật sự đã đạt đỉnh thành công, đã có trong tay tiền tài, danh vọng, có cả một người bạn tận tình đến chia xẻ, chung vui với gã. Gã tự nhủ, có lẽ Minh nói đúng phần nào, bắt đầu từ ngày mai, gã sẽ một lần nữa, cố gắng thay đổi, cố gắng sống cho vui hơn, đẹp hơn, sẽ nghĩ tới bà mẹ vất vả, nghĩ tới thằng em quái dị, nghĩ cả tới việc mang niềm vui tới cho nơi này, nơi kia...

Và rồi gã quỵ trong thang máy.

Howard nằm bệnh viện một mình đã hơn hai tuần, không một người thăm viếng, không một cú điện thoại, dù gã đã trao cho cô y tá số điện thoại của bà mẹ và thằng em.

Nằm nhìn bốn bức tường ngột ngạt, gã không khỏi nghĩ ngợi về cuộc sống “nghèo nàn” của gã. Dù mang danh triệu phú, gã chưa từng đươc nếm cái mùi thành công mà theo định nghĩa đơn giản của gã cũng chỉ là cái nhà cao chọc trời, cái rạp chiếu phim ngay trong nhà, cái hồ bơi rộng đúng tiêu chuẩn “Olympic” trên sân thượng… Đơn giản chỉ có thế.

Gã tự nhủ, lần này, khi ra khỏi bệnh viện, gã sẽ không để cho quá khứ chi phối cuộc đời gã. Trong những cơn mê sảng, gã mơ mình đang bơi trong cái hồ bơi to rộng mới xây trên sân thượng căn nhà chọc trời, với lên đến bờ, nàng Jennifer xinh đẹp có cặp vai gầy cúi đưa khăn tắm cho gã với nụ cười tươi đẹp. Bỗng khuôn mặt nàng biến thành khuôn mặt bà mẹ già hằn học của gã, rồi không gian tối sầm lại. Gã nhấn chuông gọi y tá. Hình bóng cô y tá và bác sĩ mờ dần...

Trên monitor, tiếng beep nhanh dần, rồi cắt quảng, đứt hẳn...

Đám tang của Howard tại Google office, chỉ lưa thưa vài bóng người. Bà Mẹ và thằng em trai trong hai bộ đồ đen để tang. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, bà mẹ tán thành lối sống tằn tiện của người con lớn vì họ thừa hưởng toàn bộ cái gia tài kếch xù không hề sụt giảm nhờ đức tính keo kiệt của gã.

Trong cái lạnh cắt da của New York, chỉ có Michael và Minh là hai người bạn tiễn gã đến phần mộ cuối cùng.

Khi quan tài hạ huyệt, Michael nhìn Minh chép miệng “Dù gì trong những tháng cuối cùng, Howard đã sống vui vẻ hơn, dù trễ cũng còn hơn không bao giờ.”

Minh bỗng dưng nổi quạu với bạn: “Vớ vẩn. Quá trễ rồi, để đến chết mới tập sống thì còn được cái gì”. Michael cười quàng vai bạn, cả hai rảo bước ra khỏi khuôn viên nghĩa trang. Minh nhớ đến một câu anh tình cờ đọc được trên máy bay khi bay về dự đám tang Howard, “Anh ta đã hy sinh sức khỏe của mình để lo kiếm sống. Rồi anh ta quá lo lắng cho tương lai nên không vui sống với hiện tại; kết quả là anh ta đã không sống với hiện tại hay tương lai; anh ta sống như thể anh ta sẽ không bao giờ chết, và rồi anh ta chết đi trong khi chưa bao giờ biết sống...” (Trích lời Datlai Latma.)

Lê Thị

No comments:

Post a Comment