Sunday, July 30, 2017

TT Ngô Đình Diệm: Quốc sách cư dân

Mục lục
Dẫn nhập
Phần 1. Cư dân dưới triều đình nhà Nguyễn
1. Dưới triều nhà Nguyễn
Giai đoạn lịch sử mở mang bờ cõi
Mốc di dân đầu tiên
Hướng bành trướng di dân
Doanh điền có tính cách tư nhân
Đồn điền
Khó khăn của khẩn hoang
2. Kênh đào
Kênh đào thời nhà Nguyễn
Kênh đào thời Pháp
Phần 2. Quốc sách cư dân và doanh điền dưới thời TT Ngô Đình Diệm
3. Chính sách định cư 887 917 dân tỵ nạn
A. Khu định cư Cái Sắn
B. Khu định cư Xóm Mới
4. Quốc sách dinh điền
A. Dinh điền Cái Sắn 1
B. Dinh điền Tư Hiền
5. Khu trù mật
A. Khu trù mật Vị Thanh
B. Vùng trù mật Ba Thê
C. Ấp trù mật
D. Ấp chiến lược
6. Thiên nhiên và quốc sách
Nhà và nông địa
Phù sa cổ miền Đông
Vùng trũng đất phèn
Vùng đất hữu cơ
Vùng nước ngọt (Miệt vườn)
Phù sa nước lỡ và mặn
Kết luận


Dẫn nhập
Dưới thời vua Minh Mạng, quan Thoại Ngọc Hầu cho đào kênh Vĩnh Tế nối Châu Đốc với Hà Tiên. Để tri ân, dân dựng bia Vĩnh Tế Sơn ở núi Sam, ghi lại lời quan Thoại Ngọc Hầu:«…vỗ về dân sự, mở mang thôn lạc, khai khẩn ruộng vườn; ngắm dòng nước biếc bên bờ cao, ruộng vườn bao quanh chân núi, hơi lam tuôn cuốn lẫn với khói cơm, chùa chiền trên chót hương tỏa mây lồng, thật không kém gì phong cảnh trung châu vậy[1]». Cũng trên vùng đất trũng phèn chua, nước mặn này, TT Ngô Đình Diệm đã cho thực thi quốc sách cư dân nối tiếp công trình mở mang bờ cõi của tiền nhân. Ngày xưa thì nhân dân đúc bia đá nhớ ơn, nhân dân ngày nay như chúng tôi thì viết lại trên giấy một trang sử quốc sách cư dân để tưởng nhớ đến TT Ngô Đình Diệm. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, chính vị nguyên thủ quốc gia trực tiếp chỉ thị, theo dõi và điều khiển quốc sách cư dân, mở mang kinh tế tiếp nối dòng lịch sử nam tiến xuống đồng bằng Cửu Long.
Cuốn sách gồm hai phần.
Phần 1 đề cập đến công trình mở mang bờ cõi bằng chính trị, quân sự và kinh tế dưới triều nhà Nguyễn. Trong phần này, chúng tôi đặc biệt nhấn mạnh đến :
- đường lối cư dân, mở mang nông địa bằng khuyến khích quyền tư hữu đất đai cuả tư nhân nghèo, vô sản,
-chính sách đồn điền bán quân sự giúp người có tiền bạc chiếm hữu nông địa để trở thành điền chủ.
Dưới thời Pháp, làn sóng di dân chạy theo kênh đào dẫn nước ngọt, ồ ạt kéo xuống vùng đất thấp nước mặn, phèn chua bỏ hoang dưới thời nhà Nguyễn. 
Trọng tâm của phần 2 chú trọng đến công trình mở mang nông địa của nhà Nguyễn được tiếp nối bởi chính sách cư dân có hoạch định dưới thời TT Diệm. Đó là chính sách định cư dân tỵ nạn miền Bắc, quốc sách dinh điền và khu trù mật của Đệ Nhất Cộng Hòa. Mục tiêu chính của quốc sách là tiếp tục cư dân, khẩn hoang các vùng đất thấp phèn chua nước mặn mà nhà Nguyễn chưa hoàn tất vì diện tích lãnh thổ tăng quá nhanh so với dân số.
Cuối phần 2, chúng tôi trình bày sơ lược những điều kiện thiên nhiên khắt khe như vùng trũng đất phèn, đất hữu cơ, nước mặn miền duyên hải mà thôn dân chiếm hữu như thế nào. Nêu nên vài thí dụ khắc phục đất đai của thôn dân ngày xưa nhằm giúp chúng ta hiểu những khó khăn của sự định cư khẩn hoang dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Sau năm 1963, cư dân tạm bợ dưới hình thức làng tỵ nạn, làng Việt Kiều hồi hương từ Miên quốc, làng Chiêu Hồi định cư các cán binh cộng sản hồi chánh, làng Thương Phế Binh dành cho chiến sĩ quốc gia ghi lại nỗi đau khổ của cuộc nội chiến tương tàn giữa người Việt.
 Về tài liệu nghiên cứu, chúng tôi dùng hai nguồn tài liệu chính sau.
1) Tài liệu chính thức của các cơ quan chính quyền: Phủ Tổng Ủy Di Cư Tỵ Nạn, bộ Nội Vụ, bộ Canh Nông Cải Cách Điền Địa, cơ sở hành chánh địa phương…
2) Tài liệu được chính chúng tôi sưu tầm trong thời gian 1968-1975 và do nghiên cứu trực tiếp tại chỗ cùng với một số bạn bè và sinh viên trường đại học Văn Khoa Sài Gòn.


Phần I
Cư dân dưới
 triều đình
 nhà Nguyễn


1
Dưới triều nhà Nguyễn
Nhà Nguyễn đã dựng cơ đồ bằng sức mạnh quân sự, thành lũy kiên cố bảo vệ di dân, mở mang nông địa và hoàn tất định ranh giới hiện nay của đồng bằng Cửu Long.
Sau khi dân Việt xuống đến đồng bằng Cửu Long đất hoang rừng rậm, sình lày, nước đọng mênh mông, triều đình áp dụng hai biện pháp chính  là :
- khuyến khích chế độ tư điền vì cấy được lúa, dựng được nhà là điều kiện căn bản bảo tồn định cư theo truyền thống «ruộng là da, nhà là xương». Lưu dân tới đâu là tìm đất khẩn canh, dựng nhà, lập thôn xã tới đó. Xã ấp nương theo các dinh, đạo, bảo có quân lính đóng giữ là mốc bảo vệ bành trướng cư dân. 
- áp dụng chính sách đồn điền bán quân sự hóa để cư dân lập ấp, mở mang nông nghiệp làm nền tảng kinh tế xã hội.
Giai đoạn lịch sử mở mang bờ cõi
Nhà Nguyễn đã áp dụng biện pháp ngoại giao, chính trị lẫn quân sự để mở mang bờ cõi vào miền nam.
Năm 1620, chúa Nguyễn gả một công nữ cho vua Chân Lạp Chetta II và được phép cho người Việt đến lập nghiệp ở Prey Kôr (Sài Gòn).
Năm 1698, chúa sai thống xuất Nguyễn Hữu Kinh vào kinh lược, chia đất Đông Phố, lấy xứ Đồng Nai đặt huyện Phước Long lập dinh Trấn Biên (nay là Biên Hòa), lấy Sài Gòn làm huyện Tân Bình lập dinh Phiên Trấn (Gia Định).
Năm 1679, chúa Thái Tôn sai Xá Sai Vân Trình cầu vua Chân Lạp cấp đất đai cho các bại tướng nhà Minh. Tướng sĩ Long Môn của Dương Ngạn Dịch đến định cư ở Mỹ Tho, binh sĩ của Trần Thượng Xuyên vào cửa Cần Giờ đến định cư tại Bàn Lân (Biên Hòa).
Mỗi lần gởi quân sang giúp vua Chân Lạp đánh quân Xiêm xâm lăng hoặc can thiệp vào nội chính xung đột dành ngôi trong triều đình cao miên, chúa Nguyễn đều đòi trả công bằng sát nhập thêm đất đai Cửu Long.
Từ năm mậu ngọ (1738) đến năm đinh sửu, vua Chân Lạp đền ơn bằng dâng đất. Vua Nặc Nguyên dâng Tầm Đôn (Tân An) và Xuy Lạp (Gò Công). Vua Nặc Nhuận hiến Trà Vang (Trà Vinh, Bến Tre) và Ba Thắc (Sóc Trăng, Bạc Liêu) để xin được phong vương. Vua Nặc Tôn được Võ Vương đưa về nước đã dâng vùng Tầm Phong Long. Để tạ ơn, vua Nặc Tôn dâng Tầm Phong Long (Châu Đốc, Sa Đéc), Hương Úc, Cần Vọt, Chân Sum, Sài Mạt, Linh Quỳnh (Kiên Giang, Long Xuyên).
Trong vòng một thế kỷ (1658-1759) cả vùng Thủy Chân Lạp từ Biên Hòa đến Cà Mau đã thuộc về lãnh thổ Việt Nam. Theo kế «tàm thực», dân chúng từ Bố Chính trở vô được khuyến khích di dân vào Gia Định khai khẩn ruộng đất, xây dựng xã thôn, phường ấp để lập nên lục tỉnh.
Mốc di dân đầu tiên
Biên Hòa, Mỹ Tho, Hà Tiên và Bạc Liêu là những điểm mốc định cư đầu tiên rất quan trọng cho cuộc di dân việt.
Năm kỷ mùi (1673), 3000 binh sĩ với 50 chiến thuyền của các bại tướng nhà Minh được chúa Nguyễn cho vào định cư ở vùng Tiền Giang chưa được kinh lý.
Binh sĩ của Trần Thượng Xuyên vào cửa biển Cần Giờ, lên đồn trú ở Bàn Lăng xứ Đồng Nai, khai phá đất hoang, lập chợ phố thương mại, giao thương với người Tàu, Nhật, Tây Dương, Đồ Bà… thuyền buôn tụ đông đảo, phong hóa từ đấy lan ra khắp vùng Giản Phố[2].
Binh sĩ Long Môn của Dương Ngạn Địch vào cửa Tiểu, cửa Đại nương theo thủy triều lớn, vượt qua địa thế sình lày, nước mặn, nước lợ rồi đến vùng nước ngọt ở Mỹ Tho và định cư ở vùng Ba Giồng[3] rất thuận lợi làm canh nông. Tiếp theo, tướng Văn Trinh dẫn binh sĩ của Long Môn đến đóng dinh trại ở địa phương Mỹ Tho rồi dựng nhà cửa, tụ tập người kinh, người thượng kết thành chòm xóm[4]. Tại sao chọn Mỹ Tho làm nơi định cư? Với người Hoa, phong thủy (long mạch, tứ linh, minh đường thủy tụ…) là lý do chính yếu lựa chọn nơi định cư. Địa thế Mỹ Tho nhìn ra Tiền Giang được Trịnh Hoài Đức mô tả như sau :« Cù lao Qui Sơn khuất khúc uốn lưng như hình con rồng…đứng giữa cảnh phong ba, rộng lớn mà cây cối tươi tốt, đất phì nhiêu… cù lao Long Ẩn thì quanh co u ảo, có vực sâu, ở giữa có một cồn, hình dạng có gáy có đuôi, ở giữa sông lớn, chẳng khác con giao long giỡn nước, dấu kín đầu sừng. Hơn nữa là cồn hẹp cây thấp, lại giống con giao long ẩn»[5]. Ngoảnh lại phía sau gặp từng thế đất cao dài của vùng Ba Giồng trông như long mạch thích hợp cho định cư.
Cũng trong thời kỳ này, người Hoa đến quy tụ tại Hà tiên với Mạc Cửu để giao thương với ghe thuyền qua lại trong vịnh Thái Lan. Một số nông dân và thương gia Hoa Kiều quy tụ ở Bạc Liêu, Sóc trăng làm nghề rãy và thương mại.
Hướng bành trướng di dân
Từ năm 1698, mỗi lần sát nhập thêm một vùng đất mới, triều đình cho xây thành đắp lũy, cử quan binh vào cai trị, chia cắt đất đai thành phủ huyện, chiêu dụ dân chúng từ miền Trung vào cư dân lập nghiệp. Vì lưu dân việt lấy nghề trồng lúa làm chánh, nên vùng phù sa nước ngọt tưới bón, thoát thủy dễ dàng của trung tâm đồng bằng đã định hướng tự nhiên cho làn sóng di dân lập ấp, trồng lúa. Công cuộc di dân việt nối liền dần các mốc định cư hoa kiều đầu tiên, men theo phù sa nước ngọt sông Cửu, tựa vào các cứ điểm quân sự như:
- thành trì lớn như thành Sài Gòn, thành Vĩnh Long, thành Châu Đốc án ngữ vị trí chiến lược và giao thông
- thành trì nhỏ của các đạo trấn giữ hai bên sông Cửu như Tân Châu (cù lao Giêng), Đông Khẩu (Sa Đéc),
-đồn binh nhỏ trấn giữ các vàm rạch lớn với binh thuyền kiểm soát giao thông, giữ gìn an ninh.
Doanh điền có tính cách tư nhân
Dưới thời quân chủ, trên lý thuyết, tất cả ruộng đất là thuộc quyền sở hữu của vua. Trong thực tế hành sử quyền hành đó nhằm giảm bớt diện tích đất tư hữu và tăng diện tích đất công (công điền, công thổ). Cuối thế kỷ XIV, luật pháp nhà Hồ cấm mỗi người dân sở hữu trên 10 mẫu ruộng (trừ hoàng tử, công chúa)[6] và luật Hồng Đức cấm lập trang trại.
Trước cảnh đồng bằng Cửu Long bát ngát, đầy rừng rậm hoang vu, sình lày nước đọng, triều đình nhà Nguyễn đã khuyến khích doanh điền của tư nhân bằng những biện pháp thích hợp sau[7] :
-         nếu đất khẩn hoang rộng trên 15 mẫu, thôn dân được tha thuế, miễn dịch, ban chánh cửu phẩm, bá hộ…tùy theo mỗi địa phương.
-         Tiền thuế tư điền nhẹ hơn công điền;
-         được mộ tá điền, nông nô từ các thành phần nghèo đói…
Đến năm 1836, quan kinh lược Trương Minh Giảng cho đo được 630 075 mẫu ở lục tỉnh.
Trước khi người Pháp đến, các lưu dân hướng về miền nước ngọt sông Cửu. Các vùng trũng đất phèn (Đồng Tháp), đất nước mặn gần duyên hải, rừng sát đất hữu cơ miền Cà Mau coi như bỏ hoang.
Từ thế kỷ XVI, áp lực nhân khẩu, loạn lạc đã thúc đẩy một số nông dân hoa kiều nhất là nông dân Tiều[8] đến định cư tại Bạc Liêu, Ba Xuyên, Cà Mau. Địa điểm cư dân tiều là:
-giồng đất cao làm rãy (rau cải xanh, dưa, củ cải làm sái pấu…), trồng cây trái nhất là nhãn;
-đầu vàm sông rạch làm chài lưới (đẩy sịp, đặt đăng nò, dăng lưới)[9];
-ven rừng chồi, làm ruộng muối[10].
Trước nhất nhà Nguyễn bỏ lệ cũ (giảm tư điền, cấm lập trang trại lớn) và đặt lệ mới cho tư nhân phát triển quyền tư hữu đất đai với nhiều tự do và dễ dãi.
Mỗi người dân được tùy nghi chọn đất cao hay ẩm thấp để ở hay cày cấy và chỉ việc đến quan địa phương khai báo là trở thành sở hữu chủ chính thức của mảnh đất đó. Ngay cả việc đóng thuế cũng dễ dãi, người dân được chọn hộc lớn hay hộc nhỏ…
Theo lệ, muốn lập ấp, xin khai khẩn đất hoang, phải có đủ 10 người dân cam kết nạp thuế, hưởng nhiều tự do, ít bị câu thúc. Trịnh Hoài Đức viết : « Pháp chế còn khoan dung, giản dị. Có đất ở hạt Phiên Trấn mà Kiến Trung (sở thuế) làm đất ở hạt Trấn Biên… cũng tùy theo dân nguyện không có ràng buộc chi cả, cốt yếu khiến dân mở đất khẩn hoang cho thành điền, lập làm thôn xã mà thôi…đến như rào mẫu khoảnh sở tùy theo miệng khai rồi biên vào bộ chứ không hạ thước đo khám»[11].
Triều đình còn khuyến khích các người giàu có, quan chức bỏ tiền ra mộ dân khẩn hoang, lập điền ở miền Nam. Giới này được hưởng nhiều ân huệ như được quyền tuyển nông dân, tá điền trong đám dân lậu thuế, tù binh, dân thiểu số[12]. Ngoài ra các chủ điền này còn được miễn thuế, ban thưởng quan chức, thí dụ ai mộ dân lập ấp được 30 người thì miễn xâu thuế trọn đời, 100 người thì được ban chánh bát phẩm. Khi chết các bá hộ trở thành tiền hiền thờ trong đình làng[13].
Đồn Điền
Chính sách đồn điền cư dân lập ấp khẩn hoang bắt đầu từ thời nhà Lê, nhưng thực sự bành trướng trên đồng bằng Cửu Long dưới triều nhà Nguyễn trực tiếp điều hành và kiểm soát.
Mục đích
- bình định đất mới hoang vu. Đồn điền là pháo đài tiền phong của nông dân vừa làm ruộng vừa tập luyện vũ khí,
- giải tỏa áp lực nhân khẩu « đa đinh, điền thiểu» ở miền Trung. Chính quyền khuyến khích nông dân nghèo đói, vô sản gia nhập đồn điền,
- kinh tế. Khẩn đất hoang làm ruộng và đóng thuế lúa. Nguyễn Tri Phương tâu : « Đất Nam Kỳ liền với giặc miên, dân xiêu tán nhiều. Nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về đốc việc khai khẩn để nuôi ăn, thật là một cách quan yếu…»[14].
Định chế
Năm 1830, thành Sài Gòn được chọn làm nơi luyện tập thí nghiệm đồn điền. Binh lính làm đồn điền chia thành 4 đội, mỗi đội 50 người dưới quyền một đội trưởng được hưởng đất vua ban. Hàng năm, đồn điền đóng địa tô là 2 nén bạc, 10 giạ lúa và hàng năm phải về thành Gia Định ôn luyện lại võ nghệ, binh khí[15].
Định chế đồn điền được ấn định trong dụ ngày 1 tháng 1 năm Tự Đức thứ 6 (1853)[16]. Đồn điền được tổ chức thành đội và cơ.
- Đội. Mỗi đội 50 người, nộp địa tô sau 7 năm khẩn hoang, phải dựng chợ buôn bán, xây đồn lũy gần sông rạch kiểm soát lưu thông, tập trung vũ khí, canh gác mỗi đêm. Theo lệ, người mộ đươc một đội được phong làm suất đội và đương nhiên làm ấp trưởng sau này.
-Cơ. Mỗi cơ tập trung 10 đội. Ai mộ được một cơ được phong làm chánh đội và sau này lãnh chức tổng trưởng theo qui chế dân sự.
Hình ảnh đồn điền. Pallu mô tả « …giống như làng binh lính Kì Hòa. Nhà của đội trưởng ở giữa với cái cồng, một cái trống để tập họp khi có báo động. Tất cả đồn điền được bao quanh bởi những vị trí chiến đấu tạm»[17].
Trợ cấp của triều đình
Vua cấp 300 quan cho mỗi 300 người để mua điền khí và 200 quan mua trâu cày[18] và đồng thời phong chức sắc cho những người có phương tiện tài chánh (bá hộ) đi mộ dân làm đồn điền.  Các đồn điền được miễn thuế 7 năm đầu và chỉ phải đi lính khi việc binh khẩn yếu.
Thành quả
Khởi đầu các đồn điền gồm 6 cơ (3000 người) rồi tăng lên 24 cơ (10 000 người) rải rác trong 5 tỉnh : Gia Định (7 cơ), Mỹ Tho (6 cơ), Vĩnh Long (5 cơ), Biên Hòa (4 cơ), An Giang (2 cơ). Chỉ mới phát triển điều hòa trong vòng 12 năm thôi, chánh sách đồn điền đã thành lập được 500 làng, khẩn hoang ít nhất 100 000 Ha đất ở khắp miền Nam[19].
Năm 1842, thí điểm đồn điền đã thành công tại xã Thanh Sơn, tổng Lợi Trinh (Mỹ Tho), đồn điền được phát triển mạnh bởi Nguyễn Công Trứ. Nguyên trong vùng Cần Thơ thôi, đồn điền đã dựng được các chợ thương mại như chợ Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn, Trà Ôn… Hiện nay ở Châu Đốc, một số thôn dân chàm và mã lai (chà và) sống ở xã Châu Giang là di tích chính sách đồn điền thời nhà Nguyễn. Với kế hoạch «tận dân vi binh», triều đình Huế cho phép thâu dụng người Chàm và Mã Lai lập đồn điền, chia thành 9 đội dưới quyền một quan hiệp quản ở Châu Giang để phòng giữ biên giới, sống tập trung trong 7 làng với khoảng 5000 dân[20]. Năm 1973, theo ty phát triển sắc tộc ở Châu Đốc, có 8348 dân chàm sống trong 9 ấp từ đầu cù lao Ka Tầm Bong đến rạch Bình Gĩ.
Trên đường bành trướng đồn điền từ Sài Gòn đến Vĩnh Long, qua hành lang Long An xuống vùng Miệt Vườn sông sâu nước chảy (Mỹ Tho, Sa Đéc, Phong Dinh…), lưu dân bị ngăn chặn ở phía bắc bởi vùng trũng đất phèn Đồng Tháp. Binh sĩ  đồn điền đồn trú  tại xã Thanh Sơn (Mỹ Tho) đã khởi công khẩn hoang Đồng Tháp Mười lập nên chợ Vàm Ngựa và Cai Lạy[21]. Ra đến duyên hải, lưu dân bị cản trở bởi nước mặn; tại đây chính quyền đã lập đồn điền ở Tân Lý Tây (Gò Công) và đồn điền Cầu Ngạn (Vĩnh Bình).
Trong trận Kì Hòa vì đồn điền cung cấp lính đánh Pháp nên De La Grandière đã ký nghị định 20/9/1867 hủy bỏ và sát nhập vào làng địa phương.
Khó khăn của khẩn hoang
Ngoài những khó khăn thiên nhiên như đất ngập lụt sình lày, nhiều phèn, quá mặn, luồng di dân ngừng lại bởi cản trở kỹ thuật canh tác thô sơ, dân số quá thưa thớt trước diện tích bao la của đồng bằng.
Khó khăn kỹ thuật
Kỹ thuật canh tác cổ truyền trông cậy vào loại cày mun, cày vơi, dùng nhiều sức người và trâu bò. Khi sa mưa, dẫn trâu ra cày lật đất, nhổ mạ, cấy lúa cho đến khi gặt bông lúa chín vàng, nông dân thường xuyên chăm sóc khó nhọc lúa mạ chống lại côn trùng, chuột bọ. Tài chánh eo hẹp lại thiếu kỹ thuật thoát thủy đào thải khoáng chất độc hại cho cây lúa nên diện tích chiếm hữu hẹp thường không quá 5Ha. Lý do đó đã khiến cho việc mở mang ruộng đất ngừng lại những trước những điều kiện địa lý khắt khe sau : gặp lung bào lớn sình lày, ngập nước úng thủy quanh năm, độ phèn quá cao (pH dưới 3), nước mặn vùng duyên hải.
Khó khăn dân số
Dưới thời nhà Nguyễn, dân số lục tỉnh quá thưa thớt so với diện tích của đồng bằng, vì vậy, đất hoang dã còn rộng lớn cho phép giải tỏa áp lực nhân khẩu ở miền Trung và định cư dân tỵ nạn miền Bắc dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa. Các tài liệu xưa chỉ cho biết số dân đinh (người có đóng thuế thân) nên nay phải cộng thêm 5 lần nữa để có tổng số vì theo quan niệm thời đó « suy theo cái số cố giả, một người cày ruộng phải nuôi năm người».
Dựa vào Đại Nam Nhất Thống Chí, số dân đinh tại Nam kỳ lục tỉnh biến chuyển như sau[22].
Triều Gia Long
1836
Triều Tự Đức
Biên Hòa
Gia Định
Định Tường
Vĩnh Long
An Giang
 Hà Tiên
10 600
28 200
19 800
37 000
 7 500
10 242
34 124
20 167
27 457
75 136
 1 481
16 949
51 788
26 799
41 336
22 998
 5 724
Dưới thời Tự Đức, tổng số dân đinh là 165 598 và cộng thêm 5 lần, số dân là 993 588 người. Số dân đã tăng lên 1 960 032 (1894)[23], 4 483 000 (1936)[24] và vẫn tiếp tục tăng dần.


2
Kênh đào
Một phần lớn diện tích đồng bằng Cửu Long được bao phủ bởi đất phèn, đất hữu cơ và đất duyên hải ngậm muối. Nông địa và cư trú sẽ ngừng lại trước nồng độ cao của các khoáng chất rất độc hại cho cây lúa. Trong vùng đất này, giải pháp hữu hiệu và duy nhất để mở rộng nông địa là đào kênh xẻ rạch dẫn nước ngọt sông Cửu vào rửa phèn, muối và thoát thủy. Ý thức được điều đó nên nhà Nguyễn đã cho đào kênh nhưng nặng giao thông chiến lược nhằm kiểm soát đất đai mới chiếm hữu. Phải đợi đến kỹ thuật tân tiến của Pháp thì công tác đào kênh thủy nông mới phát triển mạnh.
Kênh đào thời nhà Nguyễn
Vào thế kỷ XIX, triều đình nhà Nguyễn đã cho đào hai kênh lớn và nhiều kênh nhỏ nhằm phát triển thủy lộ chiến lược từ Gia Định xuống Hậu Giang.
Kênh Đông Xuyên (1816), dài 30 cs, nối rạch Thu Thảo đến Rạch Giá ngang qua núi Sập
Kênh Vĩnh Tế do Thoại Ngọc Hầu cho đào từ năm 1819 đến 1820 dưới thời vua Minh Mạng. Kênh dài 71 cs, lấy nước từ rạch Châu Đốc đổ vào sông Giang Thành ra vịnh Thái Lan qua Đông Hồ (Hà Tiên).Trịnh Hoài Đức viết về kênh Vĩnh Tế: «Từ đấy về sau, những kế hoạch trong nước và viêc biên trú cho đến việc dân buôn bán được tiện lợi vô cùng»[25], Các kênh nhỏ ngắn nối với sông rạch cho tiện giao thông: Kênh Vĩnh An đào từ năm 1843 đến 1845, từ bắc xóm chàm Châu Giang sang quận lỵ Tân Châu và kênh Vĩnh An Hà (1843) nối liền Hậu Giang với Tiền Giang.
Kênh đào thời Pháp
Trong thời kỳ đầu pháp thuộc, dân số và xã ấp «Miệt Dưới» còn thưa thớt trên một diện tích bao la như nhận xét của Baurac: « Cái gì thiếu ở Cà Mau, đó là những cánh tay. Số dân đinh tổng cộng có 6 379 tức khoảng 31 900 dân trên một diện tích 580 000 Ha…làng xóm sống thưa thớt với nhiều phần đất bỏ hoang…các xóm thường ở trong ngọn rạch đôi khi cách xa các xóm gần nhất cả ngày thuyền »[26]. Từ năm 1910 nông địa miền Hậu Giang phát triển mạnh nhờ kỹ thuật đào vét kênh của người Pháp.
Chương trình đào kênh của Pháp nặng tính cách thủy nông và giao thông bắt đầu từ năm 1900. Hệ thống kênh đào dẫn nước ngọt đã mở rộng nông địa thu hút cư dân đổ xuống miền Hậu Giang, chuyên sống về ruộng lúa và đã tạo nên nếp sống «văn minh kênh sáng» của «Miệt Dưới».
Vùng trũng đất phèn, đất hữu cơ úng thủy được tưới bón bởi một hệ thống kênh đào suôi, ngang dẫn nước ngọt sông Cửu vào rửa phèn vùng đất hoang vu xưa. Đường nước ngọt chảy tới đâu là kéo theo dân tới đó mở mang xã ấp nông địa.
« Xáng đổ đất lên hai bờ chưa ráo là hàng trăm gia đình nông dân đã đi xuồng tới mang theo dao búa, nồi chén, gà vịt…đổ bộ lên cất nhà, dành địa thế làm ăn thuận tiện, tuy phía bên trong vẫn là rừng rậm»[27].Trong thời gian 1864-1910, thể thức khai khẩn đất mới dọc theo kênh đào rất dễ dãi. Theo các nghị định, muốn khẩn thì làm đơn ghi diện tích, ranh giới rồi đóng thuế. Vì vậy, dân miệt vườn đông đúc ồ ạt đến chiếm hữu đất dọc theo kênh đào, dân đến đóng cọc, chiếm nền nhà dù bùn chưa ráo để một thời gian sau lo hợp thức hóa bằng khai báo, đóng thuế cho làng xã như Sơn Nam mô tả.
Từ sau 1910, các nghị định đã hạn chế dễ dãi trưng khẩn. Tư nhân trưng khẩn đất công phải mua với giá thuận mãi, hoặc qua điều kiện đấu giá công khai, hoặc đặc nhượng để làm «điền »… Các điều kiện này làm giảm bớt số thôn dân xuống Bạc Liêu và Cà Mau và thúc đẩy sự thành hình các đại điền chủ nhất là ở Bạc Liêu, Sóc Trang. Vùng Hậu Giang sình lày hoang dã xưa kia nay là những cánh đồng thẳng cánh cò bay, chó chạy cong đuôi, trở thành vựa lúa miền Nam như câu hát mô tả:
Cái Răng, Ba láng, Vàm Xáng, Phong Điền,
Anh thương em thì cho bạc cho tiền;
Đừng cho lúa gạo, xóm giềng cười chê.
Sau thời kỳ phát triển thủy nông ở Hậu Giang, sự bành trướng cư dân việt đã làm thay đổi tỷ lệ người Miên so với 100 người Việt như sau[28].
Tỉnh
Năm 1886
Năm 1930
Rạch Giá
Sóc Trăng
Trà Vinh
114
80
84
38
47
48
Hệ thống kênh đào đã làm tăng diện tích ruộng và dân số từ 522 000 ha, 1 679 000 dân (1870) lên 2 200 000Ha, 4 484 000 dân (1943)[29].
Và câu hát
«Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No,
Anh thương em sắm một chiếc đò.»
nói nên vai trò giao thông của kênh đào.
Tại sao nước ngọt kênh đào biến đất phèn thành ruộng lúa phì nhiêu, thu hút cư dân? Chất vôi và phù sa trung tính (pH 7) trong nước ngọt của sông Cửu Long lắng trong đất phèn, tạo kết tủa hóa học các muối khoáng chất độc hại cho cây lúa. Nhờ ảnh hưởng thủy triều bán nhật, vào mùa khô chất phèn và muối được mao dẫn lên mặt đất rồi được nước ngọt kênh đào cuốn ra sông[30].


Phần II.
Quốc sách cư dân và doanh điền dưới thời
TT Ngô Đình Diệm



Trong vấn đề cư dân lập ấp phát triển nông nghiệp, di dân và đất khả canh là hai điều kiện căn bản để thực hiện chính sách cư dân ở Việt Nam xưa và nay.
Điều kiện dân số
Dưới triều nhà Nguyễn, khi dân Việt bành trướng xuống đồng bằng Cửu Long bát ngát đất đai mầu mỡ nhưng thiếu nông dân đến canh tác nên triều đình phải áp dụng nhiều biện pháp khuyến khích di dân như đã trình bày trong phần 1. Trái lại, dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa, khó khăn không phải là thiếu nông dân mà là đất khả canh để hữu sản hóa thôn dân.
Trong khoảng gần một triệu người bắc tỵ nạn cộng sản, có khoảng gần 200 000 nông dân và một số binh sĩ giải ngũ cần được tái định cư. Ngoài ra một số lớn nông dân nghèo, vô sản trên các đồng bằng miền Trung đa đinh điền thiểu sẵn sàng di dân vào Nam. Vì vậy, khó khăn chính yếu của quốc sách cư dân là vấn đề đất khả canh.
Điều kiện đất canh tác
Ở Miền Đông đồng bằng, vùng đất xám có rất nhiều diện tích chưa chiếm hữu còn bỏ hoang, bao phủ bởi rừng thưa. Cho nên, phân phát đất cho di dân không đụng chạm đến quyền sở hữu tư nhân, chỉ cần có xe phá rừng ủi đất là thôn dân có đất canh tác lúa rãy, trồng cây kỹ nghệ, cây ăn trái, xẻ gỗ rừng bán làm nhà hoặc hầm than.
Trái lại, ở Miền Tây đồng bằng Cửu Long, chính phủ gặp nhiều khó khăn sau :
Đất canh tác bỏ hoang nhưng thuộc quyền sở hữu của một số điền chủ;
Đất hoang như ở Đồng Tháp Mười, Cà Mau thì gặp nạn phèn chua, nước mặn phải có cơ giới và tài chánh để đào kênh rửa phèn.
Nhằm giải quyết các khó khăn làm cản trở áp dụng quốc sách cư dân, chính phủ đã áp dụng các biện pháp giải quyết đất canh tác, cơ giới, tài chánh.
Giải pháp áp dụng
Sau hiệp định Genève, để có đất khả canh phân phát cho nông dân, TT Diệm ban hành 2 Dụ (số 2 và số 7) đánh dấu bước đầu của cải cách điền địa, thiết lập qui chế tá canh thiết yếu liên quan đến địa tô. Theo hai dụ trên, địa tô được ấn định 15% vụ lúa thu hoạch (ruộng cấy một mùa), từ 15%  đến 25% vụ lúa chánh nếu ruộng cấy 2 mùa.
Sau đó tổng thống ban hành dụ số 57 ngày 22 tháng 10 năm 1956, thiết lập chính sách cải cách điền địa với các điểm chính sau:
-Mỗi chủ điền được quyền giữ lại tối đa 100 Ha, trực canh 30Ha, 70 Ha cho tá điền thuê theo quy chế tá canh. Điền chủ bị truất hữu được bồi thường thỏa đáng: 10% trị giá ruộng bị truất hữu được trả bằng tiền mặt, 90% được trả bằng trái phiếu trong thời hạn 12 năm;
-Ruộng bị truất hữu sẽ bán lại cho tá điền, trả trong 12 năm,(mỗi gia đình được quyền mua tối đa 5 Ha).
Để hỗ trợ quốc sách cư dân mở mang nông địa, Tổng Thống Diệm cho thiết lập :
-Phủ Tổng Ủy Dinh Điền điều hành trực tiếp quốc sách cư dân lập ấp phát triển nông nghiệp,
- Quốc Gia Nông Cụ Cơ Giới Cuộc với sự trợ giúp kỹ thuật và tài chánh của Hoa Kỳ và Pháp. Cơ quan này được trang bị xáng đào kênh dẫn nước ngọt rửa phèn, muối vùng trũng Đồng Tháp, Cà Mau, đem máy cày bừa sửa soạn đất sẵn sàng cho vụ mùa đầu; ở Miền Đông đất xám thì dùng máy ủi phá rừng, san đất, chia lô trước khi di dân đến.
- ban hành nghị định số 65 DTCC tháng 4 năm 1957 lập Quốc Gia Nông Tín Cuộc, cơ quan quốc doanh tự trị, yểm trợ chính sách cải cách điền địa, ngư nghiệp, lâm nghiệp, thủ công nghiệp, cho vay không đòi hỏi vật thể thế chấp hoặc người bảo lãnh, cho vay tiền lãi xuất thấp để giúp nông dân canh tác, mua trâu bò, heo nái giống ngoại quốc cho năng xuất cao (Landrace, Duroc Berkshire). Lãi xuất được áp dụng là:1% /tháng (vay dưới 18 tháng), 8% /năm (vay từ 18 tháng đến 5 năm), 6% /năm (vay từ 5 đến 15 năm). 
Với những biện pháp thực tiễn trên, TT. Diệm cho phát động quốc sách cư dân sau: tái định cư di dân tỵ nạn cộng sản, dinh điền và khu trù mật.
 Bản đồ hành chánh thời Đệ Nhất Cộng Hòa
3
Chính sách định cư 887 917 dân tỵ nạn
Sau hiệp định Geneve 1954, sự chia đôi nước Việt thành hai quốc gia đã tạo nên luồng sóng di dân ồ ạt vào miền Nam tự do. Sự chuyên chở người tỵ nạn hầu hết do hải quân Hoa Kỳ và Pháp phụ trách. Với trợ giúp tài chánh của Hoa Kỳ, chính phủ Ngô Đình Diệm thành lập tại Hà Nội Ủy Ban Di Cư gồm ba người đảm nhiệm[31]và tại Sài Gòn Phủ Tổng Ủy Di Cư tỵ Nạn để hoạch định chương trình định cư dân tỵ nạn đặc biệt là các nông dân trên đồng bằng Cửu Long.
Từ 20 tháng 7 đến tháng 8 năm 1955, làn sóng di cư vào miền Nam tự do đã lên tới 887 917 người[32]. Từ 1954 đến 1955, hầu hết các tàu chở dân tỵ nạn đều cập bến Sài Gòn. Chính phủ tổ chức ủy ban đón tiếp và hướng dẫn dân tỵ nạn đến tạm cư tại các trạm cư trú rải rác tại Sài Gòn và Gia định. Các thành phần tư sản, trí thức, công tư chức và thương gia tự túc định cư tại các thành phố. Riêng các nông dân và ngư dân thì phải trông cậy vào kế hoạch định cư và trợ giúp tài chánh của chính phủ. Do đó, Phủ Tổng Ủy Di Cư Tỵ Nạn đã hoạch định một chính sách thành lập các khu định cư thường trực, lo chuyên chở nông dân và ngư dân đến định cư, giúp đỡ tiền bạc, thực phẩm và vật liệu xây cất trong thời gian đầu chưa ổn định.
Kế hoạch định cư
Kế hoạch định cư được thực hiện theo ba giai đoạn.
Giai đoạn 1 : từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1954
Phủ Tổng Ủy Di Cư cố gắng giải quyết các vấn đề cấp bách trong các trại tạm cư như :
- cung cấp lều tạm trú, thực phẩm (gạo, mắm muối, cá khô…),
- tìm kiếm đất cho các khu định cư.
Trong thời gian này, đời sống của dân tỵ nạn rất là khó khăn : sống chui rúc dưới lều vải, chia nhau từng giọt nước uống cung cấp bởi các «camion citerne», làm bếp dưới nắng cháy da, muỗi, ruồi, bệnh tật quấy nhiễu ngày đêm. Thêm vào khổ ải đó là nhàn rỗi, nhớ thôn xóm xưa, lo lắng đến một tương lai bất định…Vì vậy một số di dân sanh ra bất mãn, phiền trách sự chậm chạp tìm đất định cư cho họ.
Giai đoạn 2 : Định cư từ tháng 1 đến tháng 6 năm 1955
Đây là thời kỳ thành lập các trung tâm định cư. Với sự giúp đỡ của chính quyền địa phương, Phủ Tổng Ủy Di Cư quyết định chọn lựa các khu định cư, hoạch định đồ án xây cất (làm đất, chia lô…), ước tính kinh phí của chính phủ… rồi phổ biến tin tức đó trong các trại tạm cư. Sau đó một đại diện dân chính hoặc cha xứ của khu định cư tương lai sẽ đi quan sát khu định cư để lấy quyết định thay cho di dân. Tiếp theo, chính phủ sẽ lo việc chuyên chở, giúp đỡ tài chánh, thực phẩm, đồ gia dụng thiết yếu như mùng mền, đũa chén…
Giai đoạn 3 : Kiện toàn định cư từ tháng 6 năm 1956
Sau khi di dân đã sống trong các khu định cư rồi, Phủ Tổng Ủy Di Cư làm nhiệm vụ cuối cùng là kiểm điểm và hoàn thiện một cách khoa học và hợp lý như tìm địa điểm, tài nguyên thích hợp cho từng nghề nghiệp cho từng loại dân di cư. Thí dụ, trước số di dân quá đông đảo, lại thiếu nhân viên phụ trách, Phủ Tổng Ủy Di Cư phạm một số sai lầm trong việc lựa chọn địa điểm định cư và phân chia di dân theo nghề nghiệp.
Năm 1955, chính phủ thành lập một Ủy Ban Cao Cấp gồm các chuyên viên nha định cư, nha kỹ thuật và phái đoàn viện trợ mỹ. Ủy ban này duyệt xét lại các trung tâm định cư về mặt kỹ thuật và phối trí di dân theo ba nghề (nông, ngư,  thủ công) cho phù hợp với mỗi trung tâm.
Theo tài liệu năm 1955 củaTổng Ủy Di Cư, số dân tỵ nạn do chính phủ trợ giúp được phân phối theo nghề nghiệp như sau : nông dân chiếm 80% trên tổng số, còn công nghiệp 10% và ngư nghiệp 10% được phân phối trong các trung tâm sau :
Tỉnh
Trung tâm định cư tỵ nạn công nghệ
Sài Gòn
Gia Định
Biên Hòa
Thủ Trí, Phú Bình
Xóm Mới, Đông Hòa Xa, Giồng Ông Tố, Suối Lồ Ồ
Hố Nai, Tân mai, Hòa Bình, Thanh Bình
Tỉnh duyên hải
Trung tâm định cư ngư dân tỵ nạn
Bên Tre (Kiến Hòa)
Phước Tuy
Vũng Tàu (Phước Tuy)
Cồn Hựu, Khâu Băng
Phước Tĩnh, Tân Phước, Cù My
Thạnh Thới, Rạch Dừa A, Rạch Dừa B
Thành quả
Cuối năm 1955, Phủ Tổng Ủy Di Cư đã định cư trên đồng bằng Cửu Long 393 354 di dân trên tổng số 508 949 thôn dân di cư[33].
Số di dân đã định cư được phân phối như sau.


Tỉnh
Số dân tỵ nạn đã định cư
Số trung tâm định cư
A. Miền Tây phù sa mới
Ba Xuyên
Phong Dinh
Kiên Giang, An Giang
Vĩnh Long
Kiến Hòa
Định tường
Long An
B. Miền Đông đất xám
Phước Tuy
Sài Gòn
Gia Định
Biên Hòa
Bình Dương
Tây Ninh
Tổng cộng
      780
  10 638
  42 145
     2803
  12 268
  26 241
   24 925
110 339
 107 947
  16 353
  13 726
……….
393 354
 1
 3
15
  6
11
20
12
37
56
12
14
…..
206
Theo bảng phân phối trên, hai phần ba dân tỵ nạn sống tiếp cận Sài Gòn-Gia Định để hành nghề thủ công, dịch vụ…Riêng tỉnh Biên Hòa có 56 trung tâm định cư với 107 947 dân tỵ nạn sống nghề khai thác gỗ rừng và canh tác trên các mảng phù sa cổ. Từ 1955, các trung tâm định cư ở Gia Định và Biên Hòa giữ vai trò điều hòa dân số tỵ nạn như vừa cung cấp di dân cho các khu dinh điền và khu trù mật, vừa là nơi rút lui của những di dân gặp khó khăn về kinh tế cũng như an ninh do cộng sản gây ra.
A. Khu định cư Cái Sắn 1
Năm 1955, nhằm đi tìm đất định cư dân tỵ nạn, chính phủ thành lập một phái đoàn gồm các chuyên viên hoa kỳ, tây đức và đại diện bộ canh nông và cải cách điền địa. Phái đoàn trình lên chính phủ dự án Cái Sắn tổn phí 228 607 252VN$ (1/4 ngân khoản mỹ viện trợ cho 129 dự án định cư). Dự án Cái Sắn 1(số 15), gồm bốn dự án định cư khoảng 100 000 dân tỵ nạn trên 77 000 ha đất bỏ hoang. Dự án chính là đào kênh và ba dự án phụ là cất nhà, mua nông cụ, thực phẩm và tiền trợ cấp cho di dân trong năm đầu. 
Thực hiện
TT Diệm ký sự vụ văn thư 133 TTP/KH ngày 17 tháng 1 năm 1956 bổ nhiệm bảy công chức cao cấp trách nhiệm thực hiện dự án Cái Sắn :
- Tổng Ủy trưởng Di Cư Tỵ Nạn và đại biểu chính phủ tại Nam Phần theo dõi thi hành huấn lệnh của Tổng Thống;
- Tổng giám đốc kế hoạch lo phối trí  kế hoạch và thanh toán viên ngân sách;
- Đổng lý văn phòng bộ Cải Cách Điền Địa lo việc cày đất và bảo trì nông cụ;
- Giám đốc định cư thuộc Tổng Ủy trông nom việc chuyên chở di dân;
- Tổng thư ký bộ công chánh phụ trách đào vét kênh ;
- Giám đốc nha canh nông phát lúa giống, cày cuốc…
Từ tháng 3 năm 1956, bộ Công Chánh đã vét hai kênh đào cũ nối với kênh Rạch Sỏi-Bắc Sắc và kênh Rạch Giá-Long Xuyên và đào 17 kênh mới song song với nhau, cách nhau từ 2 đến 2,5 cây số và thẳng góc với hai kênh trên. Mỗi kênh mới dài 12 cây số, rộng 8m, sâu 1,5 m. Công việc đào kênh kết thúc vào tháng 5 năm 1956.
Ngày 14 tháng 1 năm 1956, báo chí loan tin dự án Cái Sắn. Một tuần lễ sau, Tổng Ủy Di Cư nhận được 42 850 đơn xin định cư. Trung tâm Cái Sắn 1 được chính thức thành lập ngày 27 tháng 1 năm 1956 tại xã Thạnh Qưới trên một diện tích 27 153 Ha (16 337 Ha nằm trong địa phận tỉnh An Giang và 10 816 Ha thuộc tỉnh Kiên Giang). Trên lý thuyết, trung tâm Cái Sắn dự liệu định cư 9000 gia đình gồm khoảng 45 000 người trong giai đoạn đầu tiên.
Việc thu mua ruộng đất để cấp phát cho di dân thì dưạ vào dụ số 7 và 57 của luật cải cách điền địa :
- Dụ số 7 (ngày 5 tháng 2 năm1955) qui định dân tái canh ruộng hoang với tư cách tá điền. Chủ điền khai báo ruộng bỏ hoang và ruộng xin giữ lại, phần còn lại bán cho chính phủ cấp lại cho dân tỵ nạn nhưng việc thi hành dụ số 7 gặp rất nhiều khó khăn. Tổng kết ruộng Cái Sắn cấp phát cho dân qua dụ số 7 là 15 387 Ha.
-Dụ số 57 (ngày 22 tháng 10 năm 1956). Chủ điền chỉ giữ laị 100Ha và bán số Ha còn lại cho chính phủ. Tổng cộng 4 845 Ha (qua thỏa ước Việt Pháp) và 6 252 Ha công điền, công thổ đã được cấp phát theo dụ số 57.
Đón tiếp di dân
Khi tới Cái Sắn, dân di cư tỵ nạn sống tạm dưới lều nhà binh hoặc trong những lán lợp lá dừa nước cất tạm bên lộ đường. Mỗi lán dài 20m và rộng 9m, mỗi gia đình ở một căn (9m2) trong lán. Chính phủ trù liệu ngân khoản 45 360 000$ để giúp đỡ di dân trong những ngày khó khăn đầu tiên trên vùng đất bỏ hoang từ 10 năm nay.
Mỗi người di dân trên 18 tuổi nhận được trợ cấp như sau :
-244 VN$ để đầu tư lúc đầu vào việc định cư,
-lãnh 4 VN$ mỗi ngày trong 9 tháng kể từ ngày định cư,
15 giạ (300 lít) hạt giống lúa, một bao lớn đựng túi hạt giống bắp, đậu, cà chua.
Về thực phẩm hàng ngày, di dân được cung cấp gạo, bột bắp, nước mắm, muối, cá khô và thỉnh thoảng có bơ, sữa bột của chương trình viện trợ hoa kỳ dưới nhãn hiệu «Food for freedom».
Chính phủ cung cấp cho mỗi gia đình
- một chiếc ghe tam bản « dài 2,5 m trên 0,5 m) để di chuyển,
- cưa, liềm gặt lúa, dao phát cỏ, cuốc và hai thùng phuy đựng nước uống rất hiếm trong vùng này.
Trong chương trình y tế, chính phủ cho xây trường học và bệnh xá, mua 6730 chiếc mùng đơn trị giá 750 000 VN$ và 6 730 mùng đôi phí tổn 740 000 VN$.
Thiết kế và quản trị
Trung tâm định cư được chia thành lô rộng 30m, dài 1000m, chạy dài theo kênh đào tạo nên hình ảnh cư trú đươc hoạch định gồm những hàng nhà song song dọc theo hai bên bờ kênh và đâu mặt với nhau. Mỗi kênh dài 12Km, ngang 8M, sâu 1,5M gồm hai xứ đạo, mỗi xứ có một giáo đường xây dựng trên 3 hoặc 6 lô đất, ở cây số thứ 3 và 8 để cho tiện giáo dân di chuyển.
Sau khi bốc thăm chọn lô đất, mỗi chủ gia đình được phát 800 VN$ để làm nền nhà và một số vật liệu kiến trúc để dân tự cất, mướn, đổi công đắp nền. Ngoài ra chủ gia đình phải tham dự đắp đường làng trải dài theo bờ kênh và vui lòng đóng góp công sức vào việc xây cất giáo đường của xứ.
Về việc điều hành hành chánh, các nhà dọc theo kênh tập hợp thành nhiều trại. Mỗi trại có một ban  quản trị  gồm ba người (chủ tịch do Tổng Ủy bổ, thư ký và ủy viên tài chánh do dân của trại bầu). Tất cả các ủy ban quản trị đặt dưới sự điều hành của ủy ban định cư do tỉnh trưởng làm chủ tịch quản trị nội bộ, thi hành dự án. Về an ninh, 100 nhà cử 20 người vào ban tự vệ do quận trưởng điều động. Trên thực tế, các cha xứ là người nắm giữ nhiều quyền hành, nhất là về ổn định đời sống tinh thần và vật chất của di dân.
Khó khăn
Việc định cư gặp rất nhiều khó khăn trong những năm đầu.
Khó khăn thứ nhất là sự bất mãn của 636 điền chủ bị truất hữu hoặc không hưởng được tiền bồi thường vì không cung cấp được cho chính quyền giấy tờ chứng minh sở hữu và thừa kế.
Khó khăn tiếp là vấn đề kỹ thuật và tổ chức. Để sửa soạn cho mùa lúa 1956-1957, bộ Canh Nông gởi 200 máy cày, máy ủi và trâu đến cày 12 000 ha. Vì thiếu kinh nghiệm kỹ thuật (ráp nhầm, máy hư, thiếu người lái…) nên chỉ có 63 máy cày hoạt động được. Công việc cày rất là gian khổ vì đất bỏ hoang từ 10 năm nay, đất lún, nhiều mô đất cao, cỏ dại khó ủi mọc lại ngay sau một tháng. Đến tháng 7 chỉ cày được 9126 Ha cho mùa 1956. Đầu tháng 7 năm 1957, chính phủ gởi đến 466 con trâu mua của Thái Lan (dự trù 2400 con mới đủ một con cho bốn gia đình) nhưng trâu này nghịch phá, không thuần như trâu việt. Tiếp theo, chính phủ cung cấp thêm 650 cày tay mua của Đài Loan nhưng cày tay loại này quá yếu ớt nên gãy dễ dàng khi gặp đất thịt cứng.
Trong mùa lúa đầu, chính phủ cung cấp cho mỗi gia đình : 15 giạ thóc giống[34], 1 bao hạt giống (bắp, đậu, bí, cà chua…), cào cỏ, liềm, xẻng, cuốc bản, bình xịt thuốc. Ban quản trị và cha xứ hết sức đôn thúc dân làm tập thể vụ mùa 1956 nhưng vì nạn chuột và cỏ dại nên chỉ thu hoạch được 7 882 tấn lúa.
Tiến đến thành công
Trước khi chính thức thành lập khu định cư Cái Sắn, nhờ thông tin của chính phủ cùng với phóng sự báo chí rất là lạc quan về tương lai của miền đất hứa nên rất nhiều đơn xin đi định cư. Sau vài tháng thu hoạch thất bại vụ mùa 1956, dân tỵ nạn mất tin tưởng và ảnh hưởng đến tinh thần định cư tại Cái Sắn.
Các ban quản trị và các cha xứ cố gắng đốc súc dân cải thiện điều  kiện canh tác cho mùa lúa 1957 như xử dụng máy cày, vét kênh rút nước, san bằng đất gồ ghề, chăm phạt cỏ giết chuột. Kết quả sự thâu hoạch vụ mùa 1957 tăng lên 13 400 tấn lúa. Tương đối tổng số thâu hoạch chưa đủ thỏa mãn nhu cầu thực phẩm của dân chúng nhưng cũng đủ để dân chúng an tâm cho thu hoạch vụ mùa tới nếu chịu cải thiện điều kiện canh tác. Cuối năm 1957, Cái Sắn được địa phương hóa.
Tháng 2 năm 1958, Tổng Ủy Dinh Điền loan báo Cái Sắn phải tự túc cho những vụ mùa tới và thu lại đoàn máy cày của Quốc Gia Nông Cụ Cơ Giới Cuộc. Sợ dân bỏ đất hoang vì tiền thuê máy cày và trả công rất cao (550$/Ha), cha xứ kênh D[35]được Quốc Gia Nông Tín Cuộc cho vay 1 090 000 VN$ mua 4 máy cày Fiat, 350 000 VN$ mua hạt giống, 510 000 VN$ bảo trì máy cày. Nhờ vậy mà dân hăng hái ra đồng làm việc và dân đã bỏ đi thì trở lại. Tới tháng 6, dân đã cày đủ 21 000Ha ruộng. Theo gương đó, kênh G (230 gia đình) cũng góp mua được 2 máy cày. Các kênh khác cũng được Quốc Gia Nông Tín cho vay để mướn cày máy cho kịp vụ mùa. Các biện pháp tự túc trên làm cho khu định cư nhộn nhịp trở lại với đầy tin tưởng vào tương lai.
Vụ mùa 1958 đã nâng số sản xuất lên 21 500 tấn lúa, tăng thêm đất canh tác, trồng thêm nhiều loại hoa màu mới (thuốc lá, bắp, rau cải…) và số lượng sản xuất nông phẩm tăng đều mỗi năm.
Khu định cư tỵ nạn Cái Sắn (hình năm 1957)
                       
                                      Bản đồ khu định cư Cái Sắn
                      
Khu định cư di dân tỵ nạn miền Bắc tại xã Đại Hải tỉnh Ba Xuyên vẫn giữ
cách xây cất cổ truyền miền Bắc mái tranh, vách đất (hình năm 1970)
B. Khu định cư Xóm Mới
Khu định cư Xóm Mới nằm trong địa phận xã An Nhơn, cách Sài Gòn 4 cây số. Xã An Nhơn lập năm 1868 trên một diện tích 5,8 cây số vuông gồm những mảng phù sa cổ cao ráo để dân dựng nhà cửa trồng rẫy và dưới thấp phủ bởi phù sa mới ẩm ướt làm ruộng cấy lúa. Năm 1954, chính phủ cho một số dân tỵ nạn tạm trú trên những mảng phù sa cổ đất cát nghèo nàn bỏ hoang.
Đầu năm 1954, dân tỵ nạn gốc Thái Bình, Bắc Ninh và Hà Nội đến tạm trú hai bên hương lộ 12 rồi chiếm dần hai bên tỉnh lộ 16 và hương lộ 11 (ấp 9 và 4). Vào cuối năm 1954, dân tỵ nạn gốc Cao Bằng, Lạng Sơn đến tạm trú phía cuối hương lộ 16 (ấp 10). Tất cả khu này mang tên Xóm Mới gồm 15 trại định cư tổ chức thành những xứ đạo. Năm 1955, dân số tỵ nạn ước lượng 20 000, cư ngụ trên cả ruộng đất hai bên tỉnh lộ 16, hương lộ 11 và 12 lập thành một khu tam giác chia thành 7 ấp.Tại đây dân tỵ nạn sống về công nghiệp như sản xuất pháo tết (Pháo Từ Châu, Việt Quang…), nấu rượu, thương mại như dệt, nhuộm, chăn nuôi heo, gà và đủ thứ dịch vụ cung cấp cho Sài Gòn-Gia Định. Nhờ làm ăn phát đạt, khu định cư Xóm Mới thành thị hóa dần dần, nhà lầu gạch, xi măng thay thế cho nhà tôn vách ván trông như một thị trấn nối liền với thủ đô.
Hình thức cư trú Xóm Mới gồm hai khu vực khá rõ rệt :
- Khu phố thương mại dọc theo tỉnh lộ 16 và hương lộ 11 và 12 thuộc về thương gia, cơ xưởng công nghiệp, công chức thợ thuyền. Từ năm 1957, Xóm Mới có 15 thánh đường, hai tu viện, trường công lập (2 trung học, 6 tiểu học) và tư thục (4 trung học, 11 tiểu học), 3 hợp tác xã dệt được hưởng tiền bồi thường của Nhật…
- Khu ngõ hẻm. Đằng sau các cửa tiệm sầm uất là những hẻm bùn lày, nhà cửa chen chúc sống chui rúc thợ thuyền, lính tráng, dân chăn nuôi heo gà và những người trở về từ những trại định cư gặp khó khăn.
Giống như khu định cư Hố Nai (Biên Hòa), Bùi Chu (gia Định), Xóm Mới giữ vai trò quan trọng trong việc điều hòa dân số tỵ nạn bất ổn. Chính các khu định cư này cung cấp dân số cho các trung tâm định cư mới thành lập và đồng thời là nơi trú ẩn khi rút lui khỏi những trung tâm định cư bất ổn. Thí dụ năm 1956-57, khoảng 5000 dân tỵ nạn rời bỏ trại định cư tỵ nạn về trú ẩn ở Xóm Mới để tìm việc ở tỉnh thành. Nhất là sau 1963, tình trạng an ninh nông thôn và cộng sản tấn công nhiều trại tỵ nạn đã làm dân số Xóm Mới tăng lên 55 600 dân.
Kết luận
Năm 1957 đánh dấu kết thúc chính sánh định cư dân tỵ nạn di cư vào Nam. Từ đó vì thiếu tài liệu (phúc trình, thống kê chính thức) nên sự nghiên cứu và đánh giá kết quả chính xác của dự án này rất là khó khăn. Tuy nhiên, sau 1970, việc quan sát một số khu định cư tỵ nạn đã cho những nhận xét sau.
Mặc dầu những xáo trộn chính trị xã hội sau hiệp định Genève, thiếu nhân viên kinh nghiệm và tài chánh, chính phủ đã định cư tốt đẹp hơn 300 000 dân tỵ nạn. Kết quả này là nhờ thời kỳ an ninh trên quê hương và các ban quản trị nhất là các vị linh mục ở các xứ đạo.
Sau nữa chúng tôi nhận xét thấy những khu định cư phát triển, tồn tại là phần nhiều nhờ vào yếu tố chính sau :
- dân tỵ nạn cùng gốc ở một tỉnh hoặc một xứ đạo miền Bắc,
- người dân mộ đạo nên rất có kỷ luật nghe lời cha xứ.
- đa số dân sống tựa vào khu thành thị thí dụ như Xóm Mới, Hố Nai, Hòa Bình, Bùi Chu…
Sau cùng, các khu định cư quá nhỏ bé khiến cho dân bỏ đi vì :
-thiếu đất canh tác thí dụ như khu định cư ấp Sơn Lộc (xã Tân Phú Trung, tỉnh Hậu Nghĩa) mỗi gia đình hưởng một lô đất canh tác là 0,3Ha trên đất cát nghèo nàn;
-không thích ứng được với dân địa phương vì khác biệt nếp sống, tôn giáo thí dụ như khu định cư ở ấp Sơn Hải (xã Đại Hải, tỉnh Ba Xuyên) thuộc giáo xứ Phụng Hiệp.


4
Quốc sách dinh điền
Năm 1957, sau khi đi thị sát miền rừng núi cao nguyên và vùng sình lày bỏ hoang trên đồng bằng Cửu Long, Tổng Thống Diệm quyết định hoạch định chính sách dinh điền để tiếp tục công cuộc doanh điền (mở rộng thêm ruộng) và tiếp tục chính sách đồn điền của triều Nguyễn.
Sắc lệnh số 103 TTP ngày 23 tháng 4 năm 1957 và nghị định số 1502 và 1503 TTP ngày 25 tháng 9 năm 1957 thiết lập bốn vùng dinh điền cao nguyên trung phần, Đồng Tháp Mười, Ba Xuyên và Cái Sắn. Chính sách dinh điền đươc nâng lên hàng quốc sách được điều hành bởi Phủ Tổng Ủy Dinh Điền, tiếp nối chính sách cư dân tỵ nạn sau hiệp định Genève.
Mục đích
Ngày quốc khánh song thất (7-7-1958), trong thông điệp gởi đồng bào, TT Diệm nói rõ mục đích chính sách dinh điền : « Võ trang vật chất cho dân theo đúng chính sách thăng tiến cần lao, đồng tiến xã hội. Chính phủ chủ trương hữu sản hóa dân vô sản, trái với chủ trương của cộng sản là vô sản hóa nhân dân. Chính phủ chủ trương mỗi người dân được làm chủ một tư sản cơ bản cụ thể cho đời sống tự do cho mình và gia đình đồng thời là cái vốn để tiến tới một đời sống mới ngày thêm sung túc». Ngoài ra, chính sách dinh điền còn theo đuổi các mục đích sau:
- Mở rộng đất canh tác trên những cánh đồng bỏ hoang vì chiến tranh, khẩn hoang vùng đất phèn sình lày, miền Đồng Tháp, khai phá lau lác, rừng sát miền Hậu Giang, phá rừng làm rẫy và trồng cây kỹ nghệ miền Đông và cao nguyên…
- Định cư các đồng bào vô sản địa phương, binh sĩ giải ngũ, đồng bào nghèo miền Trung đi tìm một tương lai sáng lạn hơn;
- Gia tăng sản xuất lúa gạo để xuất cảng;
-Quy dân thành những xã lớn cho tiện thiết lập các cơ sở cộng đồng (trường học, bệnh xá…) cải tiến dân sinh [36].
Thực hiện
Tại mỗi vùng dinh điền, các địa điểm dinh điền được tuần tự thành lập theo cách «vết dầu loang» đã được nhà Nguyễn áp dụng trước đây. Sự hình thành địa điểm dinh điền trải qua nhiều giai đoạn. Khởi đầu, Phủ Tổng Ủy Dinh Điền lo các công việc chính sau với sự hỗ trợ kỹ thuật, tài chánh của chính phủ :
- điều nghiên địa thế của khu cư trú đối với hệ thống giao thông, dẫn thủy, đặc tính thổ nhưỡng khả canh;
-trù liệu đồ án : phân lô đất canh tác và đất dựng nhà vườn, phác họa đường xá, vị trí các cơ sở cộng đồng (trường học, bệnh xá, chợ, trụ sở ban quản trị, chùa hoặc thánh đường, ước tính phí tổn ngân sách…
-kế hoạch cư dân : trợ cấp cất nhà, ngưu canh điền khí, gạo đủ ăn từ 5 đến 9 tháng;
- vận động di dân và lập danh sách các gia đình xin định cư; theo nguyên tắc, mỗi gia đình phải gồm có một đàn ông và hai người trưởng thành khỏe mạnh để có thể canh tác đất cấp phát (3 đến 5 Ha) và thu ngắn thời gian lệ thuộc chính phủ;
- chuyên chở di dân đến địa điểm dinh điền;
- định cư : chia lô đất (cất nhà, làm ruộng hay rãy), tổ chức cất nhà, cơ sở cộng đồng, tôn giáo, cấp bằng khoán, hướng dẫn canh tác, đào kênh, xẻ mương, đào đìa cá…
Trợ cấp của chính phủ
Mỗi địa điểm dinh điền gồm độ 200 gia đình (khoảng 1000 người), chính phủ dự trù hai loại trợ cấp : trợ cấp trực tiếp cho mỗi cá nhân và trợ cấp xây dựng địa điểm.
Trợ cấp trực tiếp cho mỗi cá nhân thành niên.
Tính theo
 đồng VN$
Chuyên chở
Phí tổn cất nhà
Tiền mặt cho 3 tháng đầu
Tiền mặt cho 3 tháng sau
Số lượng gạo cho 9 tháng
Mùng, mền, chiếu
Nông cụ
Gia súc
Hạt giống
Thuốc men
Khai hoang
Tổng cộng
 300
 300
 540
 360
 945
  60
  70
 100
  70
   60
2000
4805
Tiền trợ cấp xây dựng cơ sở cộng đồng dự chi cho một địa điểm dinh điền 200 gia đình gồm khoảng 2000 người.
Tính theo
đồng VN$
Cơ sở hành chánh, giếng nước
Lương bổng hàng năm cho nhân viên
Quản trị
Tổ chức từ thiện
Văn phòng phẩm
Xăng nhớt
Bảo trì, sửa chữa máy móc
Tổng cộng
213 912
223 200
  73 000
  34 000
101 160
  36 000
681 272
Trước khi dân đến định cư, Quốc Gia nông cụ cơ giới cuộc đến khai hoang và cày bừa. Cơ quan này được trang bị 234 máy kéo, 168 máy ủi, 393 máy cày bừa. Trong trường hợp một địa điểm dinh điền gặp khó khăn như mất mùa, cây khó mọc vì đất xấu… chính phủ viện trợ thêm cho ngân sách và gia tăng thêm thời hạn trợ cấp cho tới 12 hay 18 tháng với mục đích giúp dân tự túc và hội nhập mau chóng vào môi sinh mới.
Quản trị hành chánh
Mỗi địa điểm dinh điền dặt dưới sự điều khiển của một ban quản trị gồm 5 người: chủ tịch địa điểm, thư ký, y tá, bà mụ, ủy viên canh nông. Năm địa điểm dinh điền nằm gần nhau sẽ trở thành một tiểu khu dinh điền đặt dưới quyền một sĩ quan quân đội với hai phụ tá lo về kỹ thuật máy móc nông cụ. Một khi đã tự túc được, địa điễm sẽ mất quy chế dinh điền và trở thành một ấp hay xã.
Thành quả
Năm 1963, theo tài liệu của phủ Tổng Ủy Dinh Điền, các địa điểm dinh điền đã canh tác 119 788 Ha ruộng, trồng 28 678 Ha cây cao su, 1 208 Ha cây cacao, kenaf và cây sơn. Chính phủ đã làm được 1313 cây số đường lộ nối với hệ thống giao thông cũ, đào 66 giếng nước đào tay và 970 giếng đào máy, xẻ 37 cây số kênh đào, bắc 1678m cầu, dựng 25 990 căn nhà, 14 kho chứa đồ, 26 trạm y tế và hộ sanh, 37 trường học.
Từ năm 1957 đến năm chấm dứt chính sách dinh điền (1963), tổng cộng chính phủ đã thành lập 192 địa điểm dinh điền, định cư 50 931 gia đình (khoảng 289 790 người).


năm
Chi phí của chính phủ
(đồng VN$)
Số địa điểm
Số dân định cư
1957
1958
1959
1960
1961
1962
1963
240 080 000
145 780 000
388 400 000
495 000 000
401 770 000
430 000 000
267 900 000
17
29
35
40
21
29
21
40 582
43 479
57 880
51 840
33 182
33 537
29 270
Bảng phân phối số địa điểm dinh điền theo vùng và tỉnh năm 1963
Tỉnh
Số địa điểm
(năm 1963)
Miền Tây Nam Phần
Kiến Phong
Kiến Tường
Kiên Giang
An Xuyên
Ba Xuyên
8
11
4
7
1
Miền Đông Nam Phần
Phước Long
Bình Tuy
Tây Ninh
Bình Long
Phước Thành
Bình Dương
Long Khánh
Phước Tuy
Bình Thuận
25
10
3
11
7
6
7
3
2
Cao nguyên
Quảng Đức
Darlac
Pleiku
Kontum
Phú Bổn
9
14
20
4
7


Bảng phân tích quê quán, tuổi, tín ngưỡng và nghề nghiệp của 289 720 dân định cư tại dinh điền.
Quê quán
Dân di cư miền Bắc
Quảng Ngãi
Bình Định
Quảng Nam
Quảng Ngãi
Thừa Thiên
Đồng bào Thượng
Cựu binh sĩ
Trung Hoa
Số khác
Tỷ lệ % theo
Tổng số
26
14
11
22
10
4
5
4
2
2
Tuổi
Dưới 16
Từ 16 đến 59
Trên 60
  48,6
45
     6,4
Tôn giáo
Phật giáo
Công giáo
Tôn giáo khác
  48,3
45
     6,4
Nghề nghiệp
Nông nghiệp
Ngư nghiệp
Công nghệ
Thương mại
Nghề khác
93,2
2
2
   0,1
   2,7
Các bảng thống kê trên cho chúng ta những nhận xét sau.
- Từ 1961, số di dân và địa điểm dinh điền giảm dần vì chính phủ ưu tiên cho chính sách ấp chiến lược,
-Trên tổng số dân dinh điền, gốc ở miền trung chiếm 61% tổng số, làm nghề nông 93,2% .
Để có một cái nhìn chi tiết về chính sách dinh điền, chúng tôi mô tả sự định cư ở hai địa điểm dinh điền Cái Sắn và Tư Hiền mà chúng tôi có dịp tìm hiểu tại chỗ.
A. Dinh điền Cái Sắn
Tháng 3 năm 1958, Phủ Tổng Ủy Dinh Điền nhận đơn xin định cư ở dinh điền Cái Sắn 2 nằm trong tỉnh Kiên Giang. Địa điểm dinh điền rộng khoảng 4000 Ha gồm 1515 Ha ruộng truất hữu do luật cải cách điền địa số 57, diện tích còn lại là ruộng của chính phủ mua lại của điền chủ pháp theo thỏa ước Việt-Pháp ký năm 1956.
Rút được kinh nghiệm và thành công của khu định cư tỵ nạn Cái Sắn 1, dinh điền Cái Sắn 2 dập theo đồ án chia lô của Cái Sắn 1. Đất dinh điền được chia thành 1304 lô, mỗi lô rộng 3Ha, phân chia như sau:
-276 lô nằm đầu kênh cạnh tỉnh lộ dành cho các chủ điền bị truất hữu
-28 lô dùng để xây cơ sở cộng đồng: công sở, trường học, nhà hộ sanh, giáo đường…
-1000 lô còn lại phát cho 1000 gia đình (đa số là người tỵ nạn gốc Bùi Chu, Nam Định).
Cái Sắn 2 chia thành hai xứ đạo, thánh đường do tín đồ góp công xây cất.
Hình thức cư trú giống như Cái Sắn 1. Nhà nhìn ra kênh, ruộng sau nhà, lô này nằm sát lô kia chạy dài hai bên bờ hai kênh mới đào xong. Kênh số 7 dài 11,2 cây số, rộng 9m, sâu 2m, tập trung 441 gia đình. Kênh số 8 dài 10,7 cây số tụ tập 559 gia đình. Hai kênh này nối với hai kênh chính Cái Sắn, Chương Bàu, nằm cách nhau 2000m.
Trước khi di dân đến, Quốc Gia Nông Giới Cuộc đã cho cày bừa đất sẵn sàng chờ vụ mùa tới.
Sau khi đã chọn lô đất, mỗi gia đình nhận được một sườn nhà, một tam bản, mùng mền chiếu, hạt giống, gạo đủ ăn trong 3 tháng…
Nhờ kinh nghiệm của Cái Sắn 1, sự ổn định định cư chỉ kéo dài 6 tháng. Cuối năm 1958, dinh điền Cái Sắn 2 được sát nhập vào xã Thạnh Đông tỉnh Kiên Giang.
Địa Điểm dinh điền Cái Sắn 3. Sau thành công của Cái Sắn 2, Tổng Ủy Dinh Điền cho thành lập dinh điền Cái Sắn 3 nằm kế bên Cái Sắn 2 với dự tính:
- định cư 1500 gia đình khoảng 75 000 người,
- gia cư và ruộng vườn chạy dài dọc theo 3 kênh đào (số 6, 9, 10) trên một diện tích 12 000Ha.
Xây dựng địa điểm dinh điền này bỏ dở coi như bị thất bại vì không giải quyết được vấn đề bồi thường cho các điền chủ cũ.
Sau khi địa phương hóa, các khu định cư Cái Sắn được sát nhập vào 3 xã địa phương:
- Xã Thạnh An, quận Thốt Nốt, tỉnh An Giang,
- Xã Thạnh Đông, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang,
- Xã Tân Hiệp, quận Kiên Tân, tỉnh Kiên Giang.
B. Dinh điền Tư Hiền
Năm 1956, TT Diệm quyết định cho thành lập tỉnh Phước Long để thu hút di dân khai thác cây kỹ nghệ giữa miền rừng hoang vu ở miền đông Nam Phần. Việc cư dân mở rộng đất canh tác dựa vào chính sách dinh điền.
Năm 1957, Tổng Ủy Dinh Điền cho thành lập thí điểm dinh điền tiền phong: địa điểm Phước Quả nằm gần tỉnh lỵ và địa điểm Vĩnh Thiện cạnh quốc lộ 14. Tiếp theo các địa điểm khác được thiết lập tuần tự dựa vào kinh nghiệm của hai thí điểm trên. Đến năm 1963, tỉnh Phước Long xây dựng được 25 địa điểm dinh điền chia ra làm hai khu vực.
Khu vực dinh điền 1 gồm các địa điểm sau : Phước Quả, Phước Tín,, Bà Rạt, Đức Bổn, Hiếu Phong, Lễ An,, Thuần Kiệm, An Lương, Phong Thuần, Thuần Kiên 4, Vi Thiện, Vĩnh Thiện, Văn Đức, Trạch Thiện, Thuận Đáo, Rạch Cát.
Khu vực dinh điền 2 : Nhơn Lý, Phú Văn, Đức Hạnh, Tư Hiền, Khiêm Chưng, Tùng Thiện, Khắc Khoang, Hòa Kỉnh, Phú Nghĩa.
Để có một ý niệm về các địa điểm dinh điền ở Phước Long, chúng tôi chọn địa điểm dinh điền Tư Hiền làm thí dụ.
Tháng 4 năm 1962, trong dịp đi kinh lý tỉnh Phước Long, TT Diệm đặt lại tên địa điểm Trúc Sơn là Tư Hiền vì đa số dân quê quán xã Tư Hiền, tỉnh Thừa Thiên. Địa điểm dinh điền được thành lập năm 1961, cách tỉnh lỵ 2 cây số.  Đợt di dân đàu tiên đến Tư Hiền gồm 50 gia đình, 305 người. Đợt thứ hai gồm 40 gia đình, 262 người. Ngay khi đến, 65 gia đình nhận được 65 căn nhà đã dựng sẵn, mỗi gia đình còn lại nhận được 1300 VN$ để dựng nhà. Cũng như các địa điểm khác, đất khả canh đã đươc khai hoang, phân thành lô. Mỗi gia đình chiếm một lô 30m/50m và có thể mở rộng sâu vào trong tùy theo khả năng tài chánh và nhân công của mỗi gia đình. Trong 6 tháng đầu định cư, mỗi người lãnh trợ cấp hàng tháng là 360 VN$, 15 kí lô gạo (trẻ em dưới 15 tuổi lãnh 180 VN$, 9 kí lô gạo). Số trợ cấp sẽ giảm đi một nửa trong 5 tháng tiếp theo.
Sau khi định cư rồi, các di dân lo trồng cây ăn trái quanh nhà, soạn đất trồng đậu phọng, khoai lang, khoai mì, lúa mọi… Vì là đất rẫy trên phù sa cổ, nghèo nàn, thiếu nước tưới nên năng xuất thấp, nhất là cấy lúa mọi.
Từ năm 1973, các địa điểm dinh điền ở Phước Long tan rã trước sức tấn công của cộng sản. Dân dinh điền phải di tản về Bình Dương.


5
Khu trù mật
Ngày quốc khánh Song Thất 1959, trong bài diễn văn gởi toàn dân, TT Diệm tuyên bố : « Năm nay, tôi đề ra công tác lập khu trù mật tại thôn quê, ở những nơi giao thông thuận lợi, hợp vệ sinh, có những tiện nghi tối thiểu, để tập hợp những người nông dân sống lẻ tẻ thiếu thốn…». Bắt đầu năm 1960, quốc sách khu trù mật được thực hiện một cách long trọng nhằm qui tụ dân địa phương thành những vùng cư trú mang sắc thái thành thị để trở thành quận lỵ hay tỉnh lỵ. Tính cách quan trọng của quốc sách được đánh dấu bởi chính TT Diệm cũng tham dự vào lựa chọn địa điểm khu trù mật. Nhân ngày khánh thành long trọng khu trù mật Vị Thanh- Hỏa Lựu (12-3-1960), TT Diệm tuyên bố nhấn mạnh đến lợi ích của quốc sách khu trù mật như sau: « Ý nghiã khu trù mật là xây dựng một xã hội mới để thực hiện công bằng, bác ái, đồng tiến xã hội với phương tiện của một nước kém mở mang, thiếu tiền, cán bộ…».
Lý do thiết lập khu trù mật
Rất nhiều tài liệu chính phủ điều nghiên nhân sinh, kinh tế, chính trị, an ninh đã thúc đẩy sự hình thành quốc sách khu trù mật[37] với những mục tiêu sau :
1) Các nông dân sống lẻ loi, thấp kém ở sâu trong vùng hoang vắng cần được tập hợp lại để chính phủ có thể cải thiện đời sống tăm tối của họ,
2) Giải tỏa các khu cư trú ổ chuột, lụp sụp, thiếu vệ sinh bên bờ sông, kênh rạch để đưa họ đến sống trong khu trù mật với các tiện nghi bảo đảm cho đời sống,
3) Biến khu trù mật thành động cơ giúp các vùng nông thôn lân cận cải tiến dân sinh và phát triển kinh tế;
4) Tạo một đời sống mới trong mỗi khu trù mật về phương diện :
- xã hội với nhà hộ sanh, trường học, ký nhi viện…
- kinh tế bằng mở đường giao thông thương mại với quận, tỉnh lỵ, xây chợ, phát triển công nghệ, điện khí hóa,
- an ninh như tránh nạn cường hào ác bá.
Theo đuổi những mục đích trên, các khu trù mật đều đươc thiết lập ở địa điểm thích nghi về phương diện an ninh, kinh tế, giao thông.
Giai đoạn thực hiện
Với kinh nghiệm rút tỉa từ những khu định cư dân tỵ nạn và dinh điền, chính phủ có sáng kiến kêu gọi người dân đích thân tham dự vào công tác xây dựng khu trù mật mà họ sẽ sống để tránh sai lầm của chính sách dinh điền. Sai lầm này là vì chính phủ trợ cấp tất cả chi phí định cư cho nên người dân lợi dụng kéo dài trợ cấp cá nhân, ù lì, ăn bám trợ cấp… Với chính sách khu trù mật, chính phủ chỉ cung cấp phương tiện vật chất như chuyên chở, chi phí dựng nhà, dự trữ lương thực trong một thời gian ngắn. Công việc của chính phủ là lo xây dựng hạ tầng cơ sở, dịch vụ cộng đồng và cho khu trù mật vay dài hạn để cất chợ, trường học, nhà hộ sanh, cơ xưởng công nghệ… Trợ cấp của chính phủ cho mỗi khu trù mật là 1 000 000 VN$ và việc thiết lập chia ra từng giai đoạn.
Giai đoạn 1. Chọn địa điểm.
Với sự cộng tác của chính quyền địa phương, một ủy ban chuyên viên đi tìm kiếm địa điểm phù hợp với điều kiện thành lập khu trù mật, rồi đề nghị lên chính phủ. Mục đích chính của chính sách là thành thị hóa khu trù mật nên sự lựa chọn địa điểm dựa trên các dữ kiện sau:
- điều kiện giao thông có thể nối khu trù mật với tỉnh lỵ gần bên,
- có khả năng phát triển thương mại, công nghiệp và nông nghiệp,
- được bảo vệ an ninh bởi quân đội.
Giai đoạn 2. Phác họa dự án.
Ban giám đốc xây cất chịu trách nhiệm vẽ đồ án khu trù mật dựa trên tài liệu phúc trình của ủy ban chuyên viên. Sau khi dự án được chấp thuận, chính phủ cho xây cất hạ từng cơ sở (đường xá, cầu cống…) và bổ nhiệm một ban quản trị.
Giai đoạn 3. Định cư và dựng nhà.
Công việc này được thực hiện dưới hình thức tương trợ và làm việc tập thể với nguyên tắc là tất cả dân đều tham dự vào xây dựng khu trù mật. Mọi người dân đều cùng chung góp sức vào việc dựng nhà, đắp nền, dọn đất vườn…và tham dự vào công việc chung xây dựng khu trù mật.
Hình thức cư trú
Khác với địa điểm dinh điền, hình ảnh cư trú khu trù mật có đặc điểm thành thị và nông thôn cổ truyền. Cư trú có hoạch định, tập trung, phân lô, đường lộ kẻ thẳng góc. Đồ án khu trù mật gồm ba khu hoạt động rõ rệt:
- khu hành chánh (văn phòng ban quản trị, chùa, thánh đường, trường học, nhà hộ sanh, trạm y tế),
- khu công thương (tiệm buôn, tiệm tạp hóa) quanh chợ, sát lộ , sông, kênh đào,
- khu cư trú và canh tác  cũng được chia thành lô vuông vắn làm nhà, trồng rau cây trái, chăn nuôi, đào ao nuôi cá, cấy ruộng sau nhà; trong khi đó, mỗi nông dân vẫn tiếp tục canh tác ruộng cũ;
- số dân cư đông khoảng 10 000 người (theo lý thuyết);
- quê quán là người dân địa phương lân cận hành nghề thương mại, công nghệ, nông nghiệp…
Thành quả
Tính từ ngày 7 tháng 7 năm 1959 đến ngày 30 tháng 6 năm 1963, chính phủ đã thành lập 26 khu trù mật và 10 ấp trù mật, định cư 9127 gia đình, khai thác 6 706 Ha đất. Dưới đây là bảng phân phối khu và ấp trù mật trong các tỉnh trên đồng bằng Cửu Long.
Tỉnh
Khu trù mật
Ấp trù mật
An Xuyên
Ba Xuyên
Chương Thiện
Kiên Giang
An Giang
Vĩnh Bình
Vĩnh Long
Kiến Hòa
Định Tường
Kiến Tường
Long An
Biên Hòa
Kiến Phong
Khai Quang, Khánh Bình
Hòa Tú, Cái Trầu
Vị Thanh, Hỏa Lựu, Phước Long, Ngọc Hà
Thanh Hòa
An Long, Hạc Phong, Thạch Lâu
An Trường, Long Vĩnh
Cái Sơn, Tân Lược
Thành Thới, Thới Thuận, Hàm Long, An Hiệp
Hậu Mỹ, Mỹ Phước Tây
Bình Thành Thôn, Thụy Đông
Đức Huệ
Hang Nai                                    
Mỹ Phú, Sơn Hà
Ngã Ba
Phú Mỹ
An Long, Phú Thạnh,Bè Ngàn, Gõ Mười Tài, Vườn Tãi, Vườn Tràm


Một số khu trù trở thành quận lỵ như khu Thanh Hòa (kiên Giang), khu Thụy Đông (nay là quận lỵ Tuyên Nhơn, Kiến Tường), thành tỉnh lỵ như khu Vị Thanh (Chương Thiện).
Tuy địa điểm các khu dinh điền được lựa chọn ở vị trí tiện giao thông, thương mại, canh tác để cải tiến dân sinh, nhưng vì nhu cầu chiến lược cấp bách nên đa số chiếm vị trí tiền đồn đối diện với vùng hoang vắng và xâm nhập cộng sản. Đơn cử vài thí dụ sau.
Khu trù mật núi Ba Thê, núi Trọi (An Giang) án ngữ hành lang xâm nhập cộng sản từ mật khu Thất Sơn về vựa lúa An Giang, Kiên Giang.
Khu trù mật Cái Sơn (Vĩnh Long) chặn đường xâm nhập cộng sản từ mật khu Vĩnh Bình vào Vĩnh Long.
Khu trù mật Vị Thanh-Hỏa Lựu kiểm soát thủy lộ chánh từ Cà Mau đi Cần Thơ và đối diện với cả khu rừng tràm, rừng sát của U Minh.
Khu trù mật Thụy Đông (Kiến Tường) tập hợp dân các ấp Nước Trong, Ngã Cây, Xóm Mới, Bến Kè nhằm kiểm soát giao thông thượng lưu sông Vàm Cỏ Tây, đầu kênh Lagrange và Trà Cú Thượng.
Khu trù mật Mỹ Phước Tây (xã Mỹ Phước Tây, quận Khiêm Ích, Định Tường) nằm giữa kênh Tổng Đốc Lộc và kênh Cái Chuối, bảo vệ lộ trình từ Đồng Tháp về quận lỵ Khiêm Ích, Cai Lạy và quốc lộ 4.
Vì vậy, sau 1963, có khu trù mật như khu trù mật Đức Huệ (Long An), nhất là các ấp trù mật bị chiếm đóng và phá hủy bởi cộng sản, thí dụ như ấp trù mật Phú Mỹ (định Tường), được thiết lập để cô lập hóa cộng sản vùng ven biên Đồng Tháp bằng cách qui tụ vào ấp các nông dân sống hẻo lánh dọc theo rạch Láng Cò, Láng Cát. 
A. Khu trù mật Vị Thanh
Chính TT Diệm tham dự lựa chọn địa điểm và có sáng kiến xây dựng khu trù mật Vị Thanh để biểu lộ quyết tâm thành thị hóa nông thôn của tổng thống. Ngày 12 tháng 3 Năm 1960, tổng thống đích thân đến khánh thành khu trù mật.
Tại sao chọn địa điểm Vị Thanh?
Xã Vị Thanh là giao điểm của một hệ thống giao thông quan trọng nối các tỉnh miền Hậu Giang. Vị Thanh nằm trên :
- tỉnh lộ 31 chạy ngang qua tỉnh Kiên Giang, Phong Dinh, Ba Xuyên.
- kênh lớn thương mại Xà No nối Cà Mau, Phong Dinh và Chợ Lớn. Nhờ có kênh Xà No, Cái Nhum, Ông Cai, người dân ở Vị Thanh có thể lui tới được các vùng bán đảo Cà Mau và đặc biệt với vùng sình lày U Minh.
Vì vị trí giao thông, thương mại và chiến lược ngăn chận xâm lăng cộng sản mà địa điểm Vị Thanh được chọn để sẽ trở thành một tỉnh lỵ kiểm soát kinh tế, chính trị trên bán đảo Cà Mau.
Thành lập
Sau khi quyết định chọn Vị Thanh, đầu năm 1960, chính phủ phái đến Vị Thanh mấy trăm công chức và thanh niên tự nguyện làm công việc lên đất nền nhà, đào mương rãnh dẫn nước, khai hoang cỏ dại, vét sình lày, chia lô đất… Đồng thời chính phủ trợ cấp 1 100 000VN$ để hoàn tất dự án sau:
-100 000VN$ : thiết kế đồ án khu trù mật;
-100 000 VN$: mua thuốc men và tổ chức công tác cộng đồng;
- 600 000 VN$: xây trường học, một bệnh xá, nhà hộ sanh;
-300 000 VN$: máy phát điện, đào giếng bằng khoan máy.
Ngoài ra chính phủ cho vay dài hạn số tiền 400 000VN$ để xây cơ sở hành chánh và chợ.
 Sau khi xây dựng xong hạ tầng cơ sở, chia lô… chính phủ khuyến khích các nông dân sống rải rác ở sâu trong vùng sình lày nước đọng miền rừng sát đến định cư tại khu trù mật.
Quyết tâm của TT Diệm
Ngày 12 tháng 3 năm 1960, TT Diệm đích thân đến khai mạc khu trù mật. Từ ngày đó, cộng sản gây áp lực bằng pháo kích, khiến một số dân bỏ đi. Để tỏ quyết tâm thực hiện quốc sách trù mật, ngày 24 tháng 12 năm 1961, tổng thống ký sắc lệnh số 244 NV thành lập tỉnh Chương Thiện, tỉnh lỵ là khu trù mật Vị Thanh. Tiếp theo, tổng thống chỉ thị bộ chỉ huy sư đoàn bộ binh đồn trú thường trực tại đó. Hai biện pháp trên khiến an ninh trở lại, dân chúng an tâm ở lại làm ăn và thúc đẩy phát triển kinh tế, thương mại một cách nhanh chóng. Theo thống kê của tỉnh , năm 1972 dân số đã tăng lên 24 391 so với 18 824 người năm 1961, hoạt động kỹ nghệ có 15 nhà máy xay lúa, 2 máy in, 4 máy sản xuất nước đá, 1 lò gạch…
Khó khăn chính yếu của khu trù mật là hệ thống thoát thủy (kênh, rạch, cống rãnh nghẹt vì bùn) nên gây ra bệnh sốt rét. Năm 1969, chính quyền xây cất bệnh viện Lê Hữu Sanh trang bị một phòng thí nghiệm nghiên cứu ngừa bệnh sốt rét và tiêu diệt muỗi anophèles.

B. Vùng trù mật Ba Thê
Năm 1959, xã Vọng Thê (quận Huệ Đức, tỉnh An Giang) được chọn làm địa điểm vùng trù mật Ba Thê gồm 3 khu trù mật : khu trù mật An long bao dưới chân núi Ba Thê, khu trù mật Hạc Phong bao quanh núi Tượng và khu trù mật Thạch Lâu bọc núi Chóc.
Địa thế thiên nhiên và cơ cấu điền địa
Xã Vọng Thê nằm trong vùng trũng thấp, đất phèn, cấy lúa nổi. Mùa nước lớn, mực nước dâng cao đến 3m có thể làm thiệt hại vụ mùa lúa nổi. Mùa nắng khô ráo, nước giựt, cỏ vàng khô cháy, lác đác trâu tìm bóng mát bên gốc cây gáo sơ rơ, đất sét nứt nẻ và mao dẫn chất phèn lên mặt đất làm hại vụ mùa.
Bốn ngọn núi nhỏ : núi Ba thê, núi Tượng, núi Trọi và núi Chóc trấn giữ vùng trù mật Ba Thê. Núi Ba Thê gồm Ba Thê lớn cao 210m, dưới chân có chợ của An Long và Ba Thê nhỏ nơi đồn trú văn phòng quận Huệ Đức (1959).
Xã Ba Thê rộng 21 347 Ha gồm :
- đất truất hữu theo dụ số 57 : 2 292Ha,
- đất thuộc điền chủ pháp Noblet : 446Ha,
- công điền : 2 286 Ha
- công thổ : 14 093 Ha,
- thổ cư : 122 Ha.
- diện tích còn lại là rừng tràm.
Để cung cấp đất ruộng cho vùng trù mật, chính phủ trưng dụng:
- 270 Ha công thổ và đất tư nhân cải bộ thành công sản quốc gia,
- 250 Ha của 90 chủ điền miên và việt.
Kênh đào
Dưới triều nhà Nguyễn, năm 1818, quan Thoại Ngọc Hầu cho đào kênh Thoại Hà (từ núi Sập đến Rạch Giá) và kênh Mướp Văn. Thời Pháp cho đào kênh Ba Thê  chạy qua Ba Thê (12 cây số) và nối với kênh Thoại Hà và kênh Mướp Văn ở chợ An Long . Công trình dẫn nước rửa phèn, mở rộng thủy lộ đã thu hút nông dân và các điền chủ trồng cấy lúa nổi.
Chung quanh núi Ba Thê, một kênh đào tay để rút nước vào mùa mưa nhưng khô cạn vào mùa nắng khô.
Kênh núi Chóc nối với kênh Ba Thê tới Ba Dầu trước đào tay rồi được nha Thủy Nông soáy vét.
Kênh núi Tượng (6 cây số) đào năm 1959 gồm kênh vòng đai từ kênh Ba Thê bọc quanh núi Tượng rồi đâm trổ ra chợ Ba Thê.
Kênh núi Trọi do điền chủ đào xưa kia để thoát thủy và chuyên chở lúa.
Khi bắt đầu lập khu trù mật, chính phủ cho đào tay rồi xáng vét lại các kênh nhỏ trong lòng khu trù mật dài 1500m.
Lý do chọn Xã Vọng Thê
 Lý do kinh tế và quân sự đã đưa đến quyết định chọn địa điểm vùng trù mật Ba Thê.
Trong thời kỳ chiến tranh (1945-1954), các đại điền và nhiều đất ruộng bỏ hoang, không thoát thủy vì phù sa bít kênh rạch nên một lớp phèn dày phủ trên mặt đất. Chính phủ muốn tập trung dân để tái canh, khẩn hoang rừng tràm và biến nơi hẻo lánh này thành một thị tứ giống như khu trù mật Vị Thanh.
Mục đích quân sự là chiếm cứ các ngọn núi nhỏ làm pháo đài kiểm soát cả một vùng sình lày rộng lớn và nơi trú ẩn cộng sản trong khu rừng tràm.
Thành lập
Tháng 10 năm 1959, sau khi đã mở rộng đường giao thông thủy bộ, dự án vùng trù mật Ba Thê đươc thực hiện gồm ba khu trù mật : An Long, Hạc Phong và Thạch Lâu.
Khu trù mật An Long. Đây là khu trù mật lớn nhất trong vùng tập trung:
- 508 lô đất làm nhà (mỗi lô rộng 40/60m), bọc tựa vào chân núi Ba Thê,
- công sở, trường học, công trường, hồ nước, 10 giếng đào, ký nhi viện, vườn ương cây, máy phát điện…
Khu trù mật Hạc Phong có 192 lô nhà bọc quanh núi Tượng và 101 lô nằm dưới chân núi Trọi. Mỗi lô rộng 40/75m.
Khu trù mật Thạch Lâu, nằm trong ấp Vọng Đông, có 106 lô đất (mỗi lô rộng 25/60m) bọc quanh núi Chóc.
Năm 1969, vùng trù mật Ba Thê sát nhập với xã Vọng Thê và trở lại quyền kiểm soát quân đội quốc gia nên chúng tôi có thống kê năm 1973 của xã Vọng Thê như sau :
- dân số: ấp Vân Hiệp A chỗ chợ An Long có 553 nhà, 3665 dân; ấp Trung Sơn: 168 nhà, 976 dân; ấp Tân Tây: 458 nhà, 2622 dân.
-giáo dục : một trường trung học, ấp Tân Hiệp A (1 sơ cấp), ấp Tân Tây (1 tiểu học, 2 sơ cấp), ấp Trung Sơn (2 sơ cấp), Vọng Đông (4 sơ cấp), Hạc Phong (2 sơ cấp), Hai Trân (1 sơ cấp).
-y tế : 1 tiểu bệnh xá, 2 trạm hộ sanh, 2 trạm dự trữ thuốc tây.
-kinh tế. dân chuyên sống về nông nghiệp sạ lúa nổi vào mùa mưa, đào mương lên líp cao 2m làm vườn trồng rau cây trái, mùa khô vào rừng tràm khai thác gỗ, đi làm công, cày gặt, lòi lúa vì diện tích đất khả canh do chính phủ phát quá nhỏ.
Khó khăn
Khác với khu trù mật Vị Thanh, vùng trù mật Ba thê gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế, khác biệt sắc dân, tôn giáo…
Diện tích khu gia cư và canh tác quá nhỏ (0,24Ha ở Ba Thê, 0,3Ha ở núi Tượng), đất thấp không phát triển được vườn rau, cây trái, mỗi năm chỉ làm một mùa lúa nổi, năng xuất thất thường, không có thủ công nghệ, mùa khô thất nghiệp thì vào rừng tràm lấy gỗ, đào đìa bắt cá lại bị cộng sản ngăn cản.
Về tín ngưỡng, thành phần dân số nhiều dị biệt chính trị và va chạm tôn giáo. Năm 1973, xã Vọng Thê có: 4 chùa việt dưới chân núi Ba Thê (2894 tín đồ), một chùa miên tên Kalbobrưk, một trụ sở phật giáo Hòa Hảo (7995 tín đồ), một thánh thất Cao Đài (584 tín hữu), một giáo đường (865 tín đồ), đạo ông bà (470 người).
Chính phủ không tôn trọng được nguyên tắc thành lập khu trù mật. Trước khi thành lập vùng trù mật, năm 1959, 5700 dân sống ở xã Vọng Thê. Chính phủ muốn tăng dân số lên 30 000 người để đáp ứng việc thành thị hóa. Vì đa số dân chúng địa phương sống nghèo nàn hẻo lánh không chịu về định cư tại khu trù mật, từ năm 1959 đến năm 1961, chính phủ phải bỏ nguyên tắc căn bản của quốc sách khu trù mật bằng cách đưa 8500 di dân quê quán miền Trung, 2900 dân di cư miền Bắc đến định cư ở khu trù mật và áp dụng trợ cấp như trong chính sách dinh điền (mỗi gia đình nhận một lô đất đã đắp nền sẵn, 5000 VN$ làm nhà, dự trữ gạo, muối mắm cho 6 tháng).
Vì mục đích tối hậu là thành thị hóa vùng trù mật nên đồ án hoạch định đường xá, kênh đào, nhà cửa theo đường thẳng. Vì vậy, đồ án đã lấn chiếm ruộng đất tư nhân của dân địa phương và gây nhiều bất mãn dù được bồi thường.
Năm 1959, quận lỵ Huệ Đức đặt dưới chân núi Ba thê nhưng phải rút lui từ năm 1963 đến 1969 vì vấn đề giao thông tiếp viện và địa bàn cô lập giữa vùng sình lày rừng tràm, dân thưa thớt. Một số dân chúng đã rời bỏ vì vấn đề an ninh.

C. Ấp trù mật
Thành lập ấp trù mật trong trường hợp dân số tập trung không đủ cho một khu trù mật. Trên thực tế, ấp trù mật nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của tình hình chiến sự và hoàn toàn không theo tiêu chuẩn quốc sách khu trù mật. Ấp trù mật nằm ở những vị trí chiến lược, tập trung dân rải rác sống ở những vùng hẻo lánh về sống trong một vòng đai của ấp dưới sự bảo vệ của quân đội quốc gia để cô lập hóa cộng sản tập trung trong vùng sình lày, lau sậy. Chúng tôi lấy ấp trù mật Phú Mỹ làm thí dụ.
Xã Phú Mỹ thuộc quận Bến Tranh, tỉnh Định Tường nằm giữa con đường huyết mạch của đồng bằng Cửu Long (quốc lộ 4) và cánh đồng lau sậy bát ngát, nơi đây là mật khu  cộng sản huấn luyện cán bộ, dự trữ binh khí lương thực trong thời kỳ 1945-1954. Sau hiệp định Genève 1954, sự lựa chọn xã Phú Mỹ làm nơi tập kết cán binh cộng sản lui về Bắc Việt đủ nói nên tầm quan trọng vị trí chiến lược của xã Phú Mỹ và lập ấp trù mật Phú Mỹ dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa.
Năm 1959, ấp trù mật Phú Mỹ được thực hiện trong ấp Phú Xuân (xã Phú Mỹ) ở hạ lưu rạch Láng Cát. Ấp tập trung 285 người sống rải rác dọc theo rạch Láng Cát, Láng Cò và ven cánh đồng lau sậy sình lầy.
Mỗi gia đình nhận một lô đất (10/20m), một số tiền 8000VN$ để làm nhà, một số thuốc men cần thiết và lương thực gạo mắm. Chính phủ cất văn phòng quản trị và một trường sơ cấp (3 lớp học). Dân chúng được quyền ban ngày trở về nhà cũ để bắt cá, gặt mùa, nhưng đến chiều tối phải trở về nghỉ trong ấp trù mật được phòng thủ bởi một vòng đai đất cắm chông, gài mìn và dây kẽm gai. Sau 1963, cộng sản phá ấp trù mật, giải tán dân.
Tiếp theo ấp trù mật là quốc sách ấp chiến lược nặng tính cách quân sự nên chỉ được đề cập sơ qua.
D. Ấp chiến lược
Trước nguy cơ xâm lăng của cộng sản miền Bắc và để đối phó với tình hình chiến sự, TT Diệm tuyên bố tổ quốc lâm nguy (1961) và ký sắc lệnh số 11 TTP ngày 3 tháng 3 năm 1962 phát động quốc sách ấp chiến lược[38]. Bốn bộ (nội vụ, quốc phòng, giáo dục và cải tiến nông thôn) được phối hợp chặt chẽ nhăm xây dựng quốc sách ấp chiến lược dưới chỉ thị của tổng thống.
Mục đích
 Ấp chiến lược theo đuổi mục đích quân sự, kinh tế và cải tiến dân sinh nông thôn. Tuy nhiên, áp lực xâm lăng cộng sản ngày một tăng khiến mục đích chính của ấp chiến lược là quân sự nhằm tạo nên một trường thành ấp chiến lược võ trang chống lại cộng sản.
Mục đích quân sự
Áp dụng đường lối «tát nước bắt cá», chống bao vây thành thị, dành thế chủ động, bắt dân chọn chiến tuyến;
-dành thế chủ động bằng thúc đẩy đến chiến tranh có giới tuyến[39],
-phá thế nhân dân của cộng sản, và dồn họ vào thế thụ động tập trung bị bao vây bởi phòng tuyến ấp chiến lược rồi bị tiêu bởi quân đội chính qui, biệt kích quốc gia;
-ép dân chọn phòng tuyến chống cộng và tránh tiếp súc tuyên truyền giả dối.
Mục đích chính trị
Hướng dẫn dân làm quen với thể chế dân chủ bằng cách để dân tự bầu ban trị sự ấp, lập hương ước dựa vào tập tục, lệ làng mà dân muốn[40].
Mục đích xã hội
-         thực hiện bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật không phân biệt giai cấp xã hội,
-         tạo điều kiện thuận lợi cho ấp chiến lược cải thiện và thăng tiến xã hội,
-         trên bình diện xã hội, tôn trọng và ưu tiên tinh thần cộng đồng và định chế xã ấp xưa.
Mục đích kinh tế
Giúp cho ấp chiến lược tiến đến tự phòng, tự quản, tự túc tạo thành một sợi dây xích vững chắc, tạo điều kiện thuận lợi cho quân đội quốc gia rảnh tay chống xâm lăng.
Sau khi các mục tiêu đươc ấn định, quân, dân, chính học tập chính trị, đường lối của ấp chiến lược để phổ biến và giải thích cho công chúng nhất là cho nông dân. Đồng thời chính phủ tổ chức các nhóm dân tình nguyện đi thực hiện các ấp chiến lược ở nông thôn và kêu gọi dân thành thị cũng như nông thôn hợp tác với chính sách.
Thực hiện
Chính sách ấp chiến lược được tiến hành nhanh chóng là vì cơ cấu của ấp:
-         dân của ấp là dân sống tại chỗ,
-         địa bàn của ấp có thể là một ấp cũ, nhiều ấp tụ lại, nguyên một xã cũ nếu có thể qui tụ lại trong một hàng rào phòng thủ.
Công việc thực hiện trải qua 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1. Tổ chức hệ thống phòng thủ chiến đấu từ 21 đến 45 ngày. Thực hiện các công tác sau:
- đắp một bờ lũy bằng đất, bên ngoài là đào hào cắm tre nhọn, giăng dây kẽm gai và hầm chông,
- mở một cổng ra vào dưới sự kiểm soát của dân tự vệ võ trang,
- đặt hệ thống báo động trang bị bằng còi tu huýt, thùng hộp sắt trống phát tiếng báo động,
- kiểm tra và thanh lọc dân theo tuổi, tín ngưỡng, khuynh hướng chính trị,
- đoàn ngũ hóa và tập quân sự dân từ 18 đến 45 tuổi để bảo vệ ấp,
- bầu ban trị sự ấp và lập hương ước trong vòng 45 ngày.
Giai đoạn 2. Võ trang tinh thần nhằm kiện toàn dân sự. Huấn luyện chủ nghĩa nhân vị tóm tắt trong ba khẩu hiệu sau:
- tam túc. Hướng dẫn dân ý thức tự túc quản trị hành chánh, tự túc tổ chức kỹ thuật, tự túc tư tưởng về đời sống;
-tam giác. Mỗi người dân tự cảnh giác về sức khỏe, đạo đức và óc sáng kiến;
- tam nhân. Phát triển con người toàn diện về bề sâu (thân tâm), bề rộng (nghĩa vụ và quyền lợi đối với cộng đồng) và bề cao (tâm linh hướng thượng).
Giai đoạn 3. Kiện toàn áp dụng chính  sách ấp chiến lược từ trung ương xuống đến địa phương.
Thành quả
Theo tài liệu của bộ nội vụ, đến tháng 10 năm 1963, chính phủ đã thực hiện được :
- 11 847 ấp chiến lược[41] trong số đó 8679 ấp đã bầu ban quản trị và 8200 ấp đã lập hương ước,
-8 972 524 dân trong 8 371 ấp sẵn sàng chiến đấu chống xâm lăng.
 Tiếc rằng chính sách ấp chiến lược hoàn toàn bị hủy bỏ sau năm 1963.

6
Thiên nhiên và quốc sách
Đồng bằng Cửu Long bao gồm các vùng đất phù sa cổ và phù sa mới do hệ thống sông Cửu Long-Đồng Nai bồi đắp. Chính quyền cũng như dân chúng thường chia đồng bằng làm hai miền: miền đông (từ tiền giang về các tỉnh miền đông), miền tây từ tiền giang đến vịnh thái lan). Đồng bằng gồm năm vùng đất lớn ảnh hưởng sâu đậm đến công trình cư dân khẩn hoang lập ấp dưới thời nhà Nguyễn và Đệ Nhất Cộng Hòa.
Vùng đất cao miền đông Cửu long thuộc các thềm phù sa cổ rộng và cao ráo nằm trong tỉnh Gia Định, Biên Hòa, Bình Dương, Hậu Nghĩa, Tây Ninh.
Các vùng trũng đất phèn (Đồng Tháp, Cà Mau),
Vùng trũng đất hữu cơ (U Minh, Cà Mau).
Miền phù sa nước ngọt dọc hai bên sông Tiền, Hậu.
Vùng đất giồng duyên hải từ tỉnh Gò Công qua Kiến Hòa, Trà Vinh, Ba Xuyên và chấm dứt ở Bạc Liêu cách sông Gành Hào 3Km, chịu ảnh hưởng nước mặn. Giồng là giải duyên hải xưa cũ nằm gần song song với bờ biển[42].
Bảng tóm tắt địa điểm các trung tâm định cư trên các vùng đất trên cho ta một ý niệm về lý do chọn lựa các khu định cư của quốc sách thời Đệ Nhất Cộng Hòa.

Số khu tỵ
nạn miền Bắc
Số khu
dinh Điền
Số khu
trù mật
Phù sa cổ miền Đông
Sài Gòn
Gia Định
Biên Hòa
Bình Dương
Tây Ninh
Phước Tuy
20
12
37
56
14
20
1
Vùng đất phèn
Kiến Tường
Kiến Phong
Châu Đốc
An Giang
Chương Thiện
15
11
8
2
3
4
Vùng đất hữu cơ
An Giang
Kiên Giang
7
4
2
1
Phù sa nước ngọt
Định Tường
Sa Đéc
Phong Dinh
Vĩnh Long
10
3
6
2
2
Phù sa nước lỡ, mặn
Long An
Kiến Hòa
Vĩnh Bình
Ba Xuyên
Bạc Liêu
9
11
1
1
1
4
2
2
Nhà và nông địa
Ngày xưa, với quan niệm « nông dã thiên hạ chi đại bản» [43] cho nên mỗi năm vào đầu mùa xuân, vua cày ba luống (tam thôi) ruộng « tịch điền » mở đầu mùa lúa cho dân. Và mỗi người dân đều ước mơ sở hữu một vuông vườn, một manh ruộng để có lúa đóng thuế cho vua, có tiền dư dã thờ cúng tổ tiên, có đất chia cho con cháu phụng dưỡng mình sau này. Ruộng lúa mang nặng sắc thái tinh thần cũng như vật chất như vậy nên ưu tư của thôn dân và chính quyền là mở mang nông địa ruộng lúa.
Nhà và nông địa (vườn và ruộng) tượng trưng cho thôn dân tự túc, tự cường, biểu hiệu cho phát triển khẩn hoang lập ấp và định ranh giới cho quốc gia.
Đối với nông dân, «ruộng là da, nhà là xương» nên sự lựa chọn cảnh trí cho nhà và nông địa rất quan trọng cho định cư trường tồn.
Tổng quát, khi đến định cư ở bất cứ vùng đất nào, nông dân cũng chọn thế đất cao dựng nhà, lên vườn, có nước ngọt tưới bón rau cải, cây trái. Khởi đầu, cư trú xã ấp đều uốn lượn theo những thế đất cao như các giồng ở miền duyên hải, các mảng phù sa cổ cao ráo ở miền Đông, từ bờ sông vàm rạch đổ vào sâu trong đất bưng và ngọn rạch (từ xóm vàm vào đến xóm ngọn)…
Nông địa bao gồm tất cả các vùng đất đai được sử dụng nhằm phục vụ đời sống vật chất của thôn dân. Nông địa gồm hai loại: nông địa nhân tạo (ruộng, vườn), nông địa thiên nhiên (rừng tràm, rừng sát, lung đìa…).
Nông địa nhân tạo gồm:
 -vườn cây trái, vườn rãy trồng rau, cải trên đất cao tự nhiên có sa cấu cát dễ cày bừa, thoát thủy hay vun mô, lên líp. Còn ở vùng phù sa thấp ngập nước, lên vườn trồng cây trái đòi hỏi nhiều công phu hơn; phải đào mương lấy đất lên líp, đánh vồng nhằm hạ thủy cấp, xa chân nước phèn hay mặn để tránh úng thủy và mao dẫn các khoáng chất độc hại. Cặp theo sông, rạch và kênh đào nước ngọt, thôn dân phải đào cái xẻo hay mương nhỏ dẫn nước sông rạch thông thương với mương vườn, mương cá qua hệ thống « bọng » điều hòa mực nước. Trái lại, xuống vùng nước lỡ, mặn, lên vườn phải vào sâu trong rạch, xa sông lớn để giảm ảnh hưởng của độ mặn.
- ruộng. Loại ruộng phân biệt theo địa thế và cao độ.Thí dụ ở miền Đông, ruộng gò, ruộng rãy nằm trên mảng phù sa cổ cao ráo, ruộng triền uốn theo triền mảng phù sa, ruộng sâu hay ruộng bưng trải trên đất phù sa nhiều sét, ngập nước chỉ cấy lúa vào mùa mưa vì vấn đề thoát thủy, rửa phèn, muối.  Từ nông địa căn bản đó, nông dân mở rộng nông địa phụ (trồng khoai, sắn, bắp…) lên vùng đất cao sa cấu cát nghèo nàn của mảng phù sa cổ hoặc tiến xuống vùng trũng khai mương rạch đắp bờ cho thoát thủy, hạ độ phèn, muối để nới rộng diện tích ruộng lúa. Bành trướng nông địa trồng lúa thường bị ngăn chặn bởi đất ngậm nước có nồng độ phèn pH dưới 3 và độ mặn trên 4g/lít nước.
Nông địa thiên nhiên là sông, rạch cung cấp cá tôm, rừng tràm (gỗ, củi, nung than, gác cây lấy mật, sáp ong, hái lá làm dầu tram), «động» dừa nước cho lá lợp nhà. 
Phù sa cổ miền đông,
Vào thế kỷ XVII, triều đình đã lập trấn Gia Định, các cựu thần nhà Minh đã đến cư trú ở Mỹ Tho, gần tỉnh lỵ Long An. Khi các lưu dân đầu tiên đến miền đông thì một phần lớn đất đai ở đây còn hoang dã và rất ít người Miên sống thưa thớt và bỏ đi về miền dưới như Trịnh Hoài Đức  viết « người Cao Miên khâm phục oai đức của triều đình đem nhượng hết đất rồi tránh ở chỗ khác, không dám tranh trở chuyện gì»[44]. Cỏ um tùm dưới thấp ngập nước, rừng cây dã thú hùng cứ trên cao mảng phù sa cổ. Cho đến năm 1904, số dã thú bị giết là 38 con cọp, 19 con báo, 6 con voi[45] .
Miền đông, dân Việt đến Biên Hòa-Gia Định,  hướng dần theo các triền của từng mảnh phù sa cổ đất xám hướng lên phía Thủ Dầu Một và Tây Ninh. Khi di dân đến đây, việc đầu tiên là định cư trên mảng phù sa cổ cao ráo dễ thoát nước, phá rừng lấy gỗ làm nhà, cành làm củi, lấy đất làm vườn, đào giếng lấy nước ngọt. Tiếp theo dựng nhà, lên vườn là khai thác nông địa trồng lúa trên các loại ruộng gò, triền, bưng theo truyền thống: Thượng gia, hạ điền.
Ruộng gò (ruộng rãy) trên phù sa cổ, sa cấu cát không giữ nước lâu lại chóng bốc hơi nên dễ mất mùa, đất xấu nhưng đa dụng. Mùa mưa, cấy lúa sớm, bắt mạ cho ruộng bưng, mùa khô làm rẫy trồng hoa màu phụ như đậu phọng, khoai, sắn, bầu bí, thuốc lá.  
Ruộng triền nằm suôi theo triền mảng phù sa cổ, có sa cấu sét pha cát, được bao quanh bởi bờ mẫu cao giữ nước, cấy lúa (mùa mưa) trồng hoa màu phụ (đậu phọng, khoai sắn, thuốc lá…) mùa nắng. Nhiều mảnh ruộng triền có thể canh tác suốt năm thí dụ như trồng đậu phọng có thể tỉa mỗi năm ba lần : hai mùa thuận và một mùa nghịch (bắt đầu mùa khô).
Ruộng bưng hay ruộng sâu[46] dưới triền phù sa cổ, trên phù sa mới pha nhiều đất sét ngập nước, chứa nhiều chất hữu cơ, thường ẩm ướt chứa phèn hay muối do mao dẫn, thôn dân canh tác ruộng bưng (ruộng sâu) vào mùa mưa như lời dạy :
Ra đi cha mẹ dặn dò,
Ruộng sâu thì cấy, ruộng gò thì gieo.
Ngoài ra, thôn dân còn có thể khai thác rừng sau ấp, bắt cá dưới rạch sâu trong trảng.
Sau khi nhà đã dựng, lúa đã mọc, lưu dân mở rộng nông địa bằng :
-gia tăng đất trồng lúa. Nông dân xuống bưng, bàu, trảng phạt cỏ, xẻ mương, đắp bờ khẩn thêm ruộng trên dải phù sa mới dưới thấp trũng nước làm vụ lúa mùa mưa, hoặc phá rừng thưa trên đất podzolic xám nghèo nàn để làm rãy,
- khai thác nông địa thiên nhiên bằng nghề làm rừng kiếm củi, chặt gỗ làm than…
Từ thế kỷ XVIII, sau khi đã tận dụng nông địa trồng lúa, nông dân miền Đông di dân xuống miệt vườn, sông sâu nước chảy. Sự kiện đó cho thấy rằng:
-các trung tâm tỵ nạn quan trọng ở miền đông đều bám vào các thành thị;
- tại sao vắng bóng khu trù mật;
-chỉ có những khu dinh điền nhỏ thưa dân nằm trên những mảng đất xám nghèo nàn, thiếu đất ruộng canh tác, thôn dân phải trồng rãy, vào rừng xẻ gỗ bán hoặc làm than, kiếm củi…Thí dụ định cư tại dinh điền Văn Hữu để giải thích điều đó. 214 gia đình tỵ nạn gốc Thanh Hóa Nghệ Tĩnh đến định cư ở Bình Giã (Q. Đức Thanh, Phước Tuy), được chuyển đến dinh điền Văn Hữu (Q, Châu Thành, Bình Long)[47]. Năm 1960, chính phủ cho ủi rừng cây để giúp dân có nông địa sau:
-trồng bắp, khoai, lúa rãy đầu mùa mưa (du canh kiểu người Thượng) bằng đào lỗ cách nhau khoảng 30cm rồi bỏ năm, bảy hột vào mổi lỗ,
-mỗi gia đình trồng được 100 cây cao su tháp giống mã lai.
Còn nông địa thiên nhiên, thôn dân cưa cây lớn bán cho xe be còn cây nhỏ hầm than bán về Sài Gòn.
Vùng trũng đất phèn
Phân tích bảng phân phối các trung tâm định cư của quốc sách cư dân cho ta nhận xét sau: hầu hết các trung tâm quan trọng (về dân số và kinh tế) của định cư dân tỵ nạn miền Bắc, dinh điền, khu trù mật đều nằm trong vùng đất phèn. Lý do chính là đất có nồng độ phèn cao, thiếu phương tiện thủy nông rửa phèn giúp cây lúa mọc đã ngăn chận bành trướng nông địa theo phương tiện cổ truyền. Vì vậy, diện tích đất phèn hoang dã mênh mông vẫn nằm chờ đợi quốc sách của Đệ Nhất Cộng Hòa.
Trên đồng bằng Cửu Long, đất phèn bao phủ khoảng một triệu Ha trong các vùng trũng ngập nước nguyên là biển hay đầm cô lập xưa như Đồng Tháp. Dưới thời nhà Nguyễn, đất phèn là cản trở lớn cho mở rộng nông địa và di dân. Phải đợi đến khi người Pháp đào kênh qui mô rửa phèn, nông địa trồng lúa mới mở rộng được dọc theo các kênh dẫn nước ngọt từ sông Cửu đổ vào. Tuy nhiên, đất phèn vẫn còn hoang dã trên nhiều vùng rộng lớn và chờ đợi quốc sách dinh điền, khu trù mật và định cư dân tỵ nạn đến khẩn hoang khai thác. Chính vùng đất phèn hoang dã này đã đánh dấu thành công quốc sách dinh điền của Đệ Nhất Cộng Hòa vì đa số các khu tỵ nạn miền Bắc, khu dinh điền lớn và khu trù mật đều nằm trong vùng đất phèn có nồng độ pH dưới 3 ở Đồng Tháp, U Minh, Kiên Giang. Nhằm giúp người đọc hiểu rõ hơn những khó khăn thành lập địa điểm dinh điền và của người dân sống trong đó. Chúng tôi mô tả lại cư trú và nông địa của người dân sống tự túc trên đất phèn để cho thấy nếu không có sự trợ giúp qui mô về tài chánh, kỹ thuật của chính quyền thì quốc sách định cư khẩn hoang không thực hiện được.
Đặc điểm đất phèn
Loại đất quá phèn (nồng độ pH dưới 3) có sa cấu sét, bùn lày không thấm nước, bị úng thủy ngập nước mùa mưa, khô ráo nứt nẻ mùa nắng khiến chất pyrite bị oxyt hóa cho SO4H2   nên pH dưới 3. Nước phèn độc hại cho nước uống và cây lúa vì chứa sulfate d’alumine Al2(SO4)3 và sulfate sắt Fe2(SO4)3. Vì vậy, cư trú xưa kia không tiến sâu vào Đồng Tháp và bị giới hạn bởi nồng độ phèn cao làm hại cây lúa.
Cư trú
Giữa vùng đất phèn, nổi lên những gò sót cao sa cấu thịt pha cát sỏi, những đồi thấp (núi Ba Thê, núi Trọi, núi Tượng…) là những nơi cư trú hoặc len trâu vào mùa nước lớn trong vùng trũng đất phèn. Riêng Đồng Tháp có nhiều gò đất cao giữa đầm lày. Gò nhỏ thì thu hút cư trú thành thôn ấp (gò Ba Cảnh, gò Truông Óp, xã Tân Thạnh, Kiến Phong). Gò lớn nhất là gò Bắc Chiên làm tỉnh lỵ Mộc Hóa. Trên đất phèn ngập nước này, quốc sách khu trù mật đã chọn núi Ba Thê làm địa điểm trung tâm của vùng trù mật Ba Thê, cho đào kênh thoát nước và dẫn nước ngọt vào rửa phèn, nước uống trông cậy vào nước mưa trữ trong lu, hũ, khạp nên cư trú của di dân có thể thích ứng được với địa thế ngập đọng nước phèn. Quan Trịnh Hoài Đức thời nhà Nguyễn tả Ba Thê như sau: «Cao 3 trượng, nơi đây 3 ngọn núi trùng điệp, xanh tốt có nhiều cổ thụ rườm rà…dân cao miên ở theo triền núi và đường rừng, rạch, đã sinh nghiệp về sự săn bắn, lại theo việc bủa lưới thả câu ở trong ao đầm thâu hoạch được hai mối lợi…»[48].

Nông địa
Để nói nên những nỗi khó khăn và vất vả muôn chiều của di dân đến vùng này dù với hỗ trợ vật chất của quốc sách, chúng tôi nêu vài thí dụ cụ thể của nông dân bành trướng nông địa theo phương thức cổ truyền với nỗi lo sợ quanh năm: mùa mưa sợ nước dâng mau, mùa nắng sợ « phèn dậy » quá nhiều.
Ruộng lúa sạ được chia thành « cơi » hay « thiên » (thiên một, thiên hai…). Mỗi thiên dài 1000m. Từ bờ sông đổ vào sâu bên trong, thiên một tính từ ranh vườn vào sâu 1000m, tiếp đến là thiên hai…Ranh giới ruộng là những trụ đá, gốc cây bên đường, bờ rạch, tầm mắt quen thuộc… vì quanh năm đất ruộng lúa sạ là một tấm thảm liên tục mút tầm con mắt. Trên những mảnh đất phèn không cư trú, các người dân sống ở những vàm rạch gần đó chờ mưa vào tháng lụt lội dưới nước sông Cửu làm giảm phèn mới đến cấy lúa nổi được. Năm hạn hán hoặc tiểu hạn kéo dài, chất phèn ít loãng, mùa thất bát. Dễ mất mùa vì nạn chuột và «chim lá rụng» cả đàn sa xuống vụt lên là hết lúa.
Tuy nhiên, vùng đất phèn rộng lớn đó không có cùng một độ acid nghĩa là mỗi cuộc đất lớn có nhiều độ pH khác nhau nằm xen kẽ nên có chỗ trồng được lúa, chỗ bỏ hoang cho cỏ lát, cỏ ống  mọc như ở khu Tư dọc kênh Đồng Tiến ở Đồng Tháp. Năm 1970, xã Nhơn Ninh (quận Kiến Bình, Kiến Tường) rộng 7520 Ha, chỉ trồng lúa trên 980 Ha còn lại bỏ hoang vì độ phèn cao, sâu rầy, chim chuột đầy đồng cỏ.
Muốn chiếm canh một nông địa trồng lúa trên một « vạc » đất độ phèn thấp, nông dân phải tốn rất nhiều sức lao động. Thí dụ ở xã Thạnh Trung (quận Chợ Mới, An Giang), thôn dân đào mương rửa phèn, vớt lục bình bón vào đất trũng, trồng cây điên điển đầy rễ giữ phù sa làm cứng đất và giảm phèn. Sau vài năm đất thuần rồi mới được cấy lúa mà không sợ thất.
Theo kinh nghiệm, thôn dân khẩn những «vạc đất» mọc nhiều cỏ bông, lau sậy dấu hiệu đất đã cứng, cao ráo có thể cấy lúa được ngay. Từ đầu tháng giêng đến tháng ba, vào đốt đồng cỏ, chờ sa mưa dẫn trâu vào cày và dùng bừa chĩa bừa cho tróc gốc cỏ rồi sạ lúa. Thôn dân nghèo thì dùng dùi «tỉa lỗ» gieo lúa rồi lấy chà tre gai lấp các lỗ vừa gieo hạt để tránh chim, chuột phá hoại, trồng cây điên điển sau nhà để rễ hạ phèn, cành làm củi.
Trong thời gian cày bừa gặt hái, thôn dân cất căn chòi nhỏ (trại ruộng) tạm trú lúc làm việc đồng áng, hoặc cầm trâu lại nuôi, chăn một đàn vịt, bẫy chim cò cuốc, le le, dí chuột, đào đìa, dăng câu, thả ấu sen trong lung, láng… Sau mùa lúa chín, cảm thấy vững bụng sống được, thôn dân bắt đầu xẻ mương lên líp lập vườn, đắp nền dựng nhà cư trú thường xuyên chăm sóc ruộng đất, lung, đìa.
Nông địa thiên nhiên
Sống trong vùng trũng đồng chua nước mặn ở Đồng Tháp, Cà Mau, rừng tràm, đìa cá thường mang lại lợi tức quan trọng cho nông dân.
Từ xưa, ngoài việc trồng lúa nổi, dân địa phương sống cạnh vùng trù mật Ba thê còn sống về khai thác rừng tràm gần đó. Ở quận Kiến Bình (Kiến Tường), các khoảnh đất có độ phèn cao dành để trồng cây tràm (bán cây làm nhà, lá làm dầu tràm, gác sào nuôi ong lấy mật). Bóng cây tràm thu hút cá lóc, rô, trê…cho chài lưới, tát đìa.
Ngoài rừng tràm, nông địa thiên nhiên đìa cá là mối lợi lớn của nông dân. Đìa là những nơi trũng, kín đáo mà cá hay tới lui trú ẩn, tìm mồi. Đến mùa nước đổ (từ tháng bảy âm lịch), nước từ Kampuchia đổ xuống tràn đồng cuốn theo cá trôi dạt lên đồng ruộng sanh sống cho tới mùa «nước dựt» (15  tháng 8 âm lịch đến 15 tháng 11) là tháng cá xuống, lội ngược về xứ chùa Tháp. Một số cá tìm vào đìa sanh sống. Đến mùa khô, nông dân tát đìa bắt cá bằng gầu hoặc chụp đìa bằng lưới cho cá ngộp thở, nổi lên rồi túm lưới lại bắt cá.
Có hai loại đìa chính :
-đìa bưng là những vũng nước sâu tự nhiên được dân đắp bờ, xẻ họng đìa đón cá.
-đìa đào có đìa lung nằm cạnh lung[49], đìa đồng đào ở một góc ruộng bao quanh bởi bờ mẫu cao giữ nước cho cá. Lòng đìa được cắm chà tre gai, me keo, châm bầu, lá dừa nước và thả rong, lục bình, cỏ ngựa cho cá được mát. Đìa đào có kích thước trung bình 6m/12m sâu 2,5m và một họng đìa quay ra mương ruộng  hay phía trũng của đường cá vô đìa.
Dân ở xã Tân Lập (kiến Tường) ngoài nghề tát đìa, giăng câu, đặt mọp ở bệ cỏ, còn sống nghề cắt cỏ bàng mọc đầy đồng nước phèn. Cỏ bàng được neo thành bó đem về giã cho thẳng sợi rồi đương thành từng đôi đệm 2m/2m. Những lúc rảnh hơn, bơi xuồng đi vào giữa đám lúa trời[50], cầm hai thanh tre đập ngọn lúa vào be xuồng cho lúa rụng vào khoang, móc củ sen, bẫy chích, bắt rùa, dí chuột dùng đinh ba nhỏ đâm cá…
 Vùng đất hữu cơ[51]
Tại U Minh Cà Mau, đất hữu cơ bao phủ khoảng 150 000 Ha, tạo nên «cảnh tối tối, sáng sáng», nổi tiếng với «muỗi kêu như sáo thổi, đỉa lềnh bềnh như bánh canh». Loại đất này có thể dày tới 4m, được cấu tạo bởi sự tích tụ cây cỏ của rừng sát xưa, thường nằm trên lớp đất phèn hay hải vật sò hến. Các khu đất có tỷ lệ hữu cơ cao (than bùn) đều bỏ hoang. Đất xốp chuồi, năm 1957, chính phủ cho hai xáng nhỏ đào sâu thêm hai kênh Ranh Hạt nhưng phải bỏ dở vì đào đằng trước thì đàng sau đất xốp chuồi lấp cạn ngay.  Vì lý do đó mà thiếu bóng khu dinh điền cũng như khu trù mật trên đất hữu cơ dù diện tích hoang dã rộng lớn.
Cư trú và nông địa.
Sau rừng tràm, là khu hậu rừng sát của cây choai, ràng dai tiếp theo là vùng cỏ sậy, cỏ năng, thủy cấp gần mặt đất, phải đào mương thóat thủy mới cư trú canh tác được. Nói chung, các thôn dân chọn vùng đất đã cứng cát có lớp mùn mỏng và cây ráng mọc; đầu mùa nắng cắt cây ráng để khô héo trong nửa tháng, nổi lửa nương gió mạnh để tiêu diệt cây ráng lấy đấy làm ruộng đầu mùa mưa. Lửa sẽ làm cháy lớp mùn xốp tỉch trữ nước mưa nhưng cho tro tốt cấy lúa. 
Lấy một thí dụ mở nông địa theo lối cổ truyền tại làng Đông Thái, Rạch Giá. Một nhóm người từ long Xuyên xuống men theo bờ biển vào rạch, băng qua rừng cây mấm, vùng cỏ thấp mọc trên đất phù sa mặn đắng, rồi dến khu rừng tràm trầm thủy nằm gần U Minh. Đến rừng tràm, thôn dân đốn cây dựng nhà và lấy đất trồng lúa, đào mương dẫn nước, lấy đất đắp nền nhà. Mùa mưa, nước đổ từ U Minh ra biển nên đủ nước ngọt để dùng, nhưng đến mùa hạn phải đắp đập chận nước mặn[52]
Rừng tràm là nguồn tài nguyên phong phú cung cấp sáp và mật ong, cây gỗ (cao từ 15 đến 20m) để làm nhà hoặc chở đi bán, cành làm củi, lá đem lọc làm dầu tràm (gomenol), nước ngọt mang màu đỏ, nhiều mùi vị nhưng uống được. Các địa điểm này đã mang lại cho dân một đời sống thoải mái như M. Gérard mô tả : « Tại Cà Mau, đời sống thoải mái, dễ dàng, rừng ngay bên cạnh, những cây dừa nước cao lớn mọc hai bên bờ sông rạch; đào ao nuôi cá thật quá dễ. Nhiều rừng thưa rộng lớn, đất lại dễ cầy cấy. Lúc rảnh đồng áng, vào rừng săn ong lấy mật, sáp hay chặt cây lấy củi làm than đem bán, hoặc đến mùa thì chèo mướn…»[53].
Một thí dụ khác đi tìm nông địa như thôn dân làng Long Trị (Rạch Giá) lập xã ấp đầu tiên. Sơn Nam mô tả như sau « Một đoàn người từ vùng cao dùng 4, 5 chiếc ghe xuống đem theo dao, búa, cưa, nồi, chó, lúa… đến sông Cái Lớn là đất cao, không ngập nước nên rừng gừa mọc dày bịt cùng với cây bàng, mù u, vẹt, bần… Họ vào vàm rạch nhỏ, đi quá 6 hay 700m cây rừng thưa dần; vào sâu gần ngọn rạch là đến vùng sậy đế, đất thấp hơn ngoài ven sông cái… vùng trong ngọn thuận tiện định cư canh tác nhờ đất thấp nên mùa mưa đủ nước làm ruộng, và mùa nắng đắp đập giữ nước ngọt lại, sậy đế dễ dọn, cứ đốt trước rồi chặt gốc còn lại… vào rừng đốn củi kiếm mật, sáp ong đem đổi lấy đồ gia dụng».
Những thí dụ trên đủ nói nên khó khăn áp dụng quốc sách dinh điền tại đây. Dưới thời TT Diệm, các khu dinh điền như U Minh, Khánh Lâm thiết lập trên đồng cỏ bao quanh đất hữu cơ Cà Mau là nhờ chọn địa điểm cư trú trên các dải đất đã cứng cát, dễ khai phá, ít ảnh hưởng nước mặn, gần rừng để có thêm lợi tức, cạnh rạch để dễ thông thương và nhất là có thể lên vườn trồng cây ăn trái.
Vùng nước ngọt (miệt vườn)
Trong vùng nước ngọt «sông sâu, nước chảy» (Phong Dinh, Sa Đéc, Vĩnh Long, Định Tường), dân cư đông đúc, đất đai gần như tận khai nên không còn mảnh đất phù hợp cho dinh điền. Chỉ tiến gần đến nước mặn, đất cù lao hoang vắng ẩm thấp, nhiều bùn non, dừa nước, bần, lác mọc um tùm. Muốn khai phá, nông dân phải tốn rất nhiều công sức. Theo lệ thì trong tường hợp cù lao «mọc» cách bờ không quá 10 sải bơi thì thuộc quyền sở hữu của các nhà đối diện bên bờ rồi mới đến người khác; nếu quá 10 sải, mọi người đều có quyền đến cắm cây phân ranh.
Thí dụ năm 1920, làng Tân Thạch (Kiến Hòa) cho phép mỗi người dân khẩn 5 công (3 600 m2) theo chiều ngang «dây đất ngang» và tự do khẩn «dây đất suôi» vào xâu bên trong gần lung, láng, sẽ đóng thuế điền sau 12 năm. Công việc đầu là dọn dẹp cây cối, trồng thêm lác cho đất thuần, mau cứng cát và bán lác dệt chiếu. Tiếp theo, thôn dân đắp bờ bao ngạn dọc theo bờ cù lao để ngăn nước sông tràn vào. Lúc nước ròng, đẩy xuồng ra lòng sông phía bờ bồi, móc đất rồi chờ nước lớn kéo xuồng đầy đất vào bờ. Đất ướt đem phơi khô, dẻ lại mới đem đắp bao ngạn. Nhằm tránh đất lở, dùng một vỉ tre kẹp sát vào bờ bao mới đắp, đóng sâu những cây cừ sát vào vỉ tre. Bờ bao ngạn cứng cát rồi sẽ thành đường giao thông chạy bọc cù lao. Con đường sẽ được bảo vệ bởi hàng dừa nước, bần trồng ven sông. Sau cùng, thôn dân dọn «dây đất suôi» sâu vào bên trong để đắp nền nhà, lên líp vườn, xẻ mương thoát thủy làm ruộng lúa. 
Phù sa nước lỡ và mặn
Vùng phù sa nước lỡ[54] gần duyên hải, chỉ lác đác có 20 trung tâm tỵ nạn miền Bắc (Long An, Kiến Hòa) một địa điểm dinh điền tại Ba xuyên và vài khu trù mật nhỏ như thôn ấp. Lý do chính là đường nước mặn xâm nhập nội địa, khắp nơi trên giồng đất cao có chứa nước ngọt đều đã được chiếm cư, và đất trồng lúa dưới thấp đã được chiếm canh. Muốn mở mang nông địa trồng lúa thì phải đắp đê, xây cống ngăn nước biển như người Pháp đã làm tại Gò Công.
Cư trú và nông địa
Thôn dân cư trú trên giồng, cặp theo kênh rạch nước ngọt hay phân tán trong vùng nước lỡ trồng dừa ở Kiến Hòa, Bến Tre (xứ dừa) hay trên ruộng cấn giai ở Long An.
Xuống đến Long An, sự định cư chi phối bởi đường xâm nhập của nước mặn, sa cấu có chứa nước ngọt. Vào mùa khô cuối tháng 3, độ mặn trên 4g/l tràn vào sâu là vì :
-sức nóng mặt trời làm đất khô ráo tạo thẩm thấu của chân nước mặn tiến sâu vào trong;
-lưu lượng hai sông Vàm Cỏ giảm, gió và thủy triều đẩy nước mặn vào tràn ngập các địa thế thấp như ruộng biền dọc theo sông rạch.
Ở phía đông đường liên tỉnh 14, vì vấn đề nước mặn,  nhà cửa lưu dân đầu tiên phân tán trên vùng ruộng cấn giai cao chứa nước ngọt, xa đường nước mặn, có thể đào hào, ao ngay cạnh nhà. Nhà nào cũng phải có hàng lu mái chứa nước mưa xếp hàng sau hè.
Ra đến gần duyên hải, cư trú tập trung trên các giồng (hình thoi, hình cánh cung, hình tàu lá dừa nước…).Trung bình giồng rộng khoảng 200m, cao từ 3 đến 4m, dài 1 đến 2Km. giồng ở sâu nhất trong nội địa  cách bờ biển 70 cây số, là giồng Nhị Quí và Cai Lậy (Định Tường)[55]. Giồng biển ở Bạc Liêu dài đến 20 cây số, tại Kiến Hòa, Ba Xuyên, nhiều giồng nhỏ dài từ 50m đến 100m gọi là «gò chạy» sa cấu cát nghèo nàn.
Sự chọn lựa giồng làm nơi dựng nhà lập ấp còn bị ảnh hưởng của khoa phong thủy vì giồng có chứa nước ngọt (thủy tụ), thế đất cao (dương), dài coi như long mạch còn gò là «cù dậy» «cù nổi» là đất phát dương rất tốt cho dựng nhà, xã ấp. Thí dụ trên đất giồng Gò Công, giồng Nâu và Vạn Thắng là mình rồng, đầu rồng ở xóm Kiểng, hai chân trước ở xóm Tre và xóm Đập, hai chân sau ở xóm Bưng và xóm Dinh.
Ở Bạc Liêu, người Tiều gọi giồng nhãn (giồng biển) là lếng (long) là long mạch đầu ở hướng bắc, đuôi hướng nam. Nhiều người tiều mang hài cốt cha ông bên Tàu đem về mai táng.
Nông địa
Nông địa chính là vườn và ruộng lúa. Trên các giồng, nhờ cao độ và sa cấu nhiều cát, dễ thoát nước, lên vườn trồng hoa màu phụ (rau cải, dưa, bắp, sắn…), đào ao chứa nước ngọt, trồng được cây trái đa niên (mãng cầu, nhãn trên giồng biển Bạc Liêu).  Tại xã Mỹ Hòa quận Cầu Ngang (Vĩnh Bình), thôn dân đào giếng cạn vì nếu đào sâu quá 15m sẽ gặp nước mặn. Trên đất «rộc» (đất thấp nhiều sét), thôn dân đào nhiều bào lớn dài tới 500m để trữ nước ngọt và trồng rẫy (dưa hấu) vào mùa khô.
Dọc theo sông rạch là loại ruộng biền thấp sình lày thường bị thủy triều tràn vào nên chỉ trồng được lúa vào mùa mưa.
Sau cùng, dọc theo duyên haỉ thôn dân chỉ sống nghề hạ bạc :
Chồng chài vợ lưới con câu
Chàng rể đi xúc, con dâu đi nò.
Thôn ấp tập trung ở vàm sông như xóm Đèn Đỏ, xã Vàm Láng (cửa sông Soài Rạp), ở mỗi vàm rạch lớn nhỏ dọc duyên hải Cà Mau là trại tôm, xóm lưới, xóm chài, trại nò, trại đáy.

Kết luận
Viết cuốn sách nhỏ này là để tưởng nhớ đến một vị tổng thống yêu nước có đường lối, phát triển kinh tế có chính sách, mở mang nông nghiệp và phân phối dân số có quốc sách. Ngày nay ai đi qua Cái Sắn, Hố Nai, Xóm mới, Vị Thanh…phồn thịnh mà chẳng nhớ đến những quốc sách định cư dân tỵ nạn miền Bắc, dinh điền hữu sản hóa nông dân bần cùng, khu trù mật thành thị hóa nông thôn…Lạp Chúc Nguyễn Huy
Cựu giáo sư Đại Học Văn Khoa Sài Gòn
Trước năm 1975, giáo sư  Đại Học Văn Khoa Sài Gòn,
1981-1992, chuyên viên nghiên cứu tại đại học Laval, Québec, Canada.
Từ 1995, tác giả chuyên tâm nghiên cứu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và vẽ tranh
Email. nguyenhuyquebec@yahoo.ca

No comments:

Post a Comment