Saturday, July 8, 2017

Văn Cao

van-cao4Văn Cao (1923-1995) tên thật là Nguyễn Văn Cao, là một nhạc sĩ, họa sĩ, nhà thơ, sinh tại Hải Phòng. Ông là một trong những gương mặt quan trọng nhất của nền tân nhạc VN. Nhạc sĩ Phạm Duy đã vinh danh Văn Cao là “người đẻ ra thể loại Hùng Ca và Trường ca Việt Nam” sau khi là “người viết tình ca số một”. Ông là tác giả của “Tiến quân ca” – quốc ca của nước Việt Nam. Ông liên quan vào nhóm Nhân Văn Giai Phẩm tại Hà Nội trong năm 1956, bị rút khỏi ban chấp hành hội nhạc sĩ, đi thực tế lao động và từ đó không còn sáng tác nữa cho tới khi ông mất. Những tác phẩm tiêu biểu của ông như, Bến Xuân, Suối Mơ, Thiên Thai, Trương Chi, Thu Cô Liêu, Buồn Tàn Thu, Cung Ðàn Xưa, Không Quân Việt Nam, Bài ca chiến sĩ Hải Quân, Mùa xuân đầu tiên.v.v..
Hoài Nam biên soạn
Thưa quý thính giả, trong kỳ phát thanh trước chúng tôi đã trình bày về phát triển của tình ca trong những năm đầu thập niên 1940. Cũng như giới thiệu một số sáng tác tiêu biểu của Hoàng Quý và Lê Thương. Tuần này, xin mời quý vị theo dõi phần nói về Văn Cao, con người của tài hoa và huyền thoại.
Nhạc sĩ thứ ba trong nhóm Ðồng Vọng sáng tác tình ca vào những năm đầu thập niên 1940 chính là Văn Cao. Xét về số lượng tác phẩm, Văn Cao không thuộc hàng nhạc sĩ đứng đầu nền tân nhạc Việt Nam, vì nguyên nhân ông không viết nhiều ca khúc. Chúng tôi sẽ đề cập tới ở một phần sau, nhưng nếu chỉ xét về nhạc tình, Văn Cao là nhất. Chúng ta chưa có một cuộc bỏ phiếu để chọn bản nhạc tình được ưa chuộng nhất, được đánh giá là hay nhất, và mỗi người trong chúng ta có thể yêu thích nhất một bản nhạc tình của một tác giả nào đó. Thế nhưng, hình như từ trước tới nay, mỗi khi có người lên tiếng ca tụng nhạc tình của Văn Cao, không một ai lên tiếng phản đối, và như thế là đã đủ.
Văn Cao là một con người đa tài, nhạc, thi, họa lãnh vực nào ông cũng thành công. Bên cạnh đó, theo nhận xét của một số người, nếu thu hẹp trong quan niệm về tình yêu và đời người, ông còn là một triết gia, một nhà tư tưởng. Trong phạm vi loạt bài này, chúng tôi chỉ nói về lĩnh vực âm nhạc, nhạc tình của Văn Cao. Văn Cao sáng tác tình ca rất sớm, có lẽ cũng vào tuổi 18, 19 như Ðặng Thế Phong, và cũng giống như Ðặng Thế Phong và đa số trong lớp nghệ sĩ trẻ thời đó chịu ảnh hưởng của văn chương thi ca lãng mạn Pháp, Văn Cao cũng bị mùa thu ám ảnh. Một việc mà ông nửa đùa, nửa thật, giải thích rằng, tại vì ông sinh ra vào mùa thu. Nhưng khác với cái mê luyến, bi lụy trong thu của Ðặng Thế Phong vốn thường thấy trong thơ Pháp, chẳng hạn thơ của Apollinaire mà sau này Phạm Duy đã dịch và viết thành ca khúc Mùa Thu Chết.
van-cao3
Văn Cao (trái) và Phạm Duy
Thu của Văn Cao đã bớt đi chất sầu vạn cổ ấy để chỉ còn man mác buồn như một bài Ðường Thi. Trong bản nhạc đầu tay tựa đề Thu Cô Liêu sáng tác năm 1942, lời hát của ông chính là những lời thơ, “Thu cô liêu, tịch liêu. Cô thôn chiều ta yêu mùa thu, yêu mùa thu. Vàng hoen đáy nước, soi rõ đường đi. Một mùa thi, một mùa thi. Lá xanh rơi rụng, buồn chi lá vàng”. trích Thu Cô Liêu-Văn Cao-ca sĩ Hồng Nhung.
Hoặc trong bản Buồn Tàn Thu tức Chinh Phụ Khúc cũng viết vào khoảng thời gian đó, “Còn nhớ đêm xưa. Kề má say sưa. Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần. Thôi tình em đấy, như mùa thu chết, rơi theo lá vàng.”
trích Buồn Tàn Thu-Văn Cao-ca sĩ Thái Thanh
Sáng tác thứ ba của Văn Cao sau 2 bản Thu Cô Liêu và Buồn Tàn Thu là Cung Ðàn Xưa. Tuy trong Cung Ðàn Xưa có nhắc tới mùa xuân, nhưng Văn Cao vẫn bị ám ảnh bởi mùa thu trong văn chương lãng mạn, cho nên xuân ở đây cũng chỉ là một mùa xuân đã chết đã tàn. “Hồn cầm phong sương, hình dáng xuân tàn. Ngày dần buông trôi, sầu vắng cung đàn. Lời đàn năm xưa, se kết đôi lòng. Lời đàn năm nay, chia rẽ đôi lòng” Về kỹ thuật, chàng trẻ tuổi Văn Cao đã tận dụng một nhạc điệu đầy cảm tính trong nhạc Tây Phương, cũng như thể điệu valse lưu luyến, để diễn tả một người tình tưởng tượng qua Cung Ðàn Xưa. Về cả hình thức lẫn nội dung, ca khúc ấy đã báo trước những tuyệt kỹ và tuyệt mỹ mà Văn Cao sẽ đạt tới sau này, qua 2 ca khúc bất hủ Thiên Thai và Trương Chi.
van-cao2
Từ trái: Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tuân và Văn Cao bị treo bút sau vụ Nhân Văn Giai Phẩm.
Về hình thức, tuy ngắn, nhưng Cung Ðàn Xưa cũng được chia ra thành 4 đoản khúc rõ rệt. Ðoạn đầu giới thiệu cung đàn năm xưa, đoạn 2 nói tới cung đàn và tiếng hát tức cung Thương và cung Nam trong nhạc Ðông Phương. “Cung Thương là tiếng đàn. Cung Nam là tiếng người. Ai oán khúc ca cầm chìm rơi. Tình duyên lãng đãng. Nhớ thương dần pha phôi”. Ðoạn 3 chuyển qua một nhịp điệu réo rắt, diễn tả nét buồn trong Cung Ðàn Xưa“Cung đàn ngân, buồn xa vắng trong tiếng thầm. Buồn tê tái trong tiếng ngân, buồn như lúc xuân sắp tàn”. Ðoạn 4, nói đến người tình tuyệt thế giai nhân trong trí tưởng đầy mộng mị, “Gót hài khai hoa. Mắt huyền lưu xuân. Dáng hồng thơm hương…”
Về nội dung bản Cung Ðàn Xưa, Phạm Duy đã nhận xét bằng những dòng đầy thán phục như sau, “Những cô hái mơ, cô bán hoa, cô hàng nước, cô láng giềng mà ta thấy xuất hiện trong các bản nhạc tình thời đó làm sao mà có được những “Gót hài khai hoa, mắt huyền lưu xuân, dáng hồng thơm hương” như trong bản Cung Ðàn Xưa của Văn Cao. Chỉ cần 12 chữ, và dù chỉ để xưng tụng một người tình tưởng tượng mà thôi, Văn Cao đã đưa nhạc tình tiền chiến lên tới một độ cao vượt khỏi những khuôn sáo cũ mèm.”
Cung Ðàn Xưa-Văn Cao-ca sĩ Ánh Tuyết
Sau ba bản tình ca đầu tay Thu Cô LiêuBuồn Tàn Thu và Cung Ðàn Xưa, Văn Cao đã sáng tác hai ca khúc để đời Suối Mơ và Bến Xuân. Trước hết nói về Suối Mơ, chỉ cần nghe 4 câu đầu chúng ta đã thấy Văn Cao viết bản này với tâm hồn của một nhà nhạc sĩ và cặp mắt của một nhà họa sĩ, “Suối mơ. Bên rừng thu vắng. Giòng nước trôi lững lờ ngoài nắng. Ngày chưa đi sao gió vương. Bờ xanh ngắt, bóng đôi cây thùy dương”. Ðây không phải là lần đầu, cũng không phải lần duy nhất hình ảnh con suối được đưa vào tân nhạc, nhưng có lẽ không con suối nào đẹp như con suối trong rừng thu của Văn Cao.
van-cao
van-cao1
Hình bìa nhạc Cung Đàn Xưa và Buồn Tàn Thu
Về kỹ thuật khi viết bản Suối Mơ cũng như bản Bến Xuân sau đó, Văn Cao đã sử dụng một ước lệ đã có từ bao đời trong cách viết nhạc của Tây phương, đó là điệp khúc viết bằng âm giai thứ, tức minor, tới phiên khúc thì chuyển qua âm giai trưởng, tức major. Những nam thính giả nào có chút vốn liếng âm nhạc từng đệm đàn và thả hồn theo tiếng hát của người yêu, hẳn cũng biết tác dụng của việc chuyển đổi âm giai này. Bài hát mở đầu bằng một âm giai thứ để tạo một cảm giác lâng lâng, rồi chuyển sang âm giai trưởng với một niềm vui chợt thoáng, trước khi trở lại với âm giai thứ để kết thúc trong một nỗi buồn man mác. Dĩ nhiên, nhạc sĩ sáng tác nào cũng biết ước lệ ấy, nhưng Văn Cao đã vượt lên tất cả, ông đã phối hợp một cách tài tình sự chuyển đổi âm giai với lời hát như thơ, đưa người nghe từ cảm xúc lâng lâng trong sáng, tới niềm hạnh phúc thoáng chốc rạt rào, trước khi trở về nỗi buồn muôn thuở của cuộc tình êm đềm ngàn đời theo ta, của con suối rừng thu cuối mùa trút lá, “Suối ơi. Nghe rừng heo hút. Giòng êm đưa lá khô già trút. Còn như lưu hương yêu dấu. Với suối xưa trôi nơi đâu”.
Sau này, vì Văn Cao đi theo kháng chiến, bản Suối Mơ cùng với nhiều sáng tác của ông đã được gán cho nhãn hiệu sáng tác ở chiến khu. Sự thật khác hẳn, Văn Cao không cần phải sống qua mới có khả năng sáng tác. Ðời người thường có những ước mơ, nhưng riêng Văn Cao cả đời ông chính là một giấc mơ liên tục.
Trong các tình khúc của ông, hình ảnh người yêu thường là hư cấu. Trong nhạc hùng tráng của ông, lý tưởng là một cái gì cao siêu diệu vợi, và hình ảnh người chiến sĩ thì luôn nằm bên trên sự thật, không có ở đời thường. Văn Cao sáng tác bản Thăng Long Hành Khúc trầm hùng từ trước khi có “cách mạng mùa thu”, “Cùng ngước mắt về phương Thăng Long, thành cao đứng trong khói sương chiều”. Hoặc các hành khúc Hải Quân Việt Nam, Không Quân Việt Nam, khi ông viết làm gì đã có Hải Quân, Không Quân Nhân Dân, hoặc Hải Quân, Không Quân Việt Nam Cộng Hòa. Xin lấy bản Không Quân Việt Nam làm thí dụ, một bản quân hành mà đẹp và thơ, như một giấc mơ.
van-cao
Văn Cao
Không Quân Việt Nam Cộng Hòa hành khúc-Văn Cao- hợp ca
Nhà phê bình văn học Ðặng Anh Ðào, ái nữ của học giả Ðặng Thái Mai, một người từng ước mơ theo kháng chiến từ thuở nhỏ, gần đây đã hồi tưởng, “Bấy giờ, câu hát mà tôi thường hát lên một mình, những lúc ở nhà. Mắt ngước nhìn trăng sao qua khung cửa sổ rộng của tầng lầu 2, số nhà 32 Lý Thường Kiệt, là những câu trong bài Không Quân Việt Nam-Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng”. Cho đến bây giờ, tôi vẫn nhớ cảm giác lâng lâng, bay tới tuyệt đỉnh của giấc mơ ấy. Ngay cả những câu như-Khi nhìn qua khói những kinh thành tan, đôi cánh tung hoành vượt trên mây xanh. Ðối với tôi, cũng không hề vương vấn chút gì hung hăng, hiếu chiến, kể cả cái chết của người phi công, cũng được cho vượt lên những đau thương, bi lụy thường tình- Ði không ai tìm xác rơi..”.
Như vậy, nếu bắt buộc phải tìm ra một sự liên hệ nào đó giữa các ca khúc của Văn Cao và kháng chiến, thì chỉ có thể nói, chính những sáng tác có sẵn của Văn Cao, từ bản Tiến Quân Ca, sau này được sử dụng làm quốc ca của miền Bắc, cho tới Suối Mơ, Bến Xuân đã góp phần lý tưởng hóa, thơ mộng hóa những ngày kháng chiến, chứ không phải kháng chiến đã tạo cho nguồn cảm hứng của những sáng tác của Văn Cao. Thế nhưng, mãi tới thập niên 1980, mới có nhiều người biết rằng, Suối Mơ đã được Văn Cao sáng tác vào thưở còn thanh bình tức khoảng năm 1942-43. Khoảng trước đó, nhất là trong thời gian kháng chiến, đại đa số nam nữ đi theo lý tưởng, đều tin rằng Suối Mơ đã được Văn Cao sáng tác tại chiến khu Việt Bắc, sau khi bản thân ông đã tham gia kháng chiến.
Nhưng xét cho cùng, việc bị gán đặt cho một lý lịch cách mạng, cũng không hề ảnh hưởng tới chỗ đứng của ca khúc Suối Mơ trong nền tân nhạc Việt Nam. Bởi vì, như chúng tôi đã trình bày trong một kỳ trước, dù lịch sử có thăng trầm, lòng người có đổi thay, chân giá trị của những tác phẩm bất hủ, sẽ không bao giờ bị mai một. Huống chi ở đây, cho tới những ngày cuối đời, ước mơ của Văn Cao cũng vẫn là những ước mơ trong sáng của thuở ban đầu, thuở chưa ai nhắc tới những địa danh như Việt Bắc, Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây, mà chỉ có tiếng suối róc rách, tiếng đàn lưu luyến và những lời hẹn thề bên rừng thu trút lá.
van-cao2
Văn Cao phu nhân Nghiêm Thúy Băng
Suối Mơ-Văn Cao- ca sĩ  Lệ Thu
Thưa quý thính giả, trong chương trình tuần trước, chúng tôi đã giới thiệu một số sáng tác của Văn Cao. Tuần này, xin mời quý vị theo dõi tiếp, phần nói về sự nghiệp tình ca của nhà nhạc sĩ tài danh này. Trong cuốn video “Văn Cao, buổi sáng có trong sự thật”, phổ biến ít lâu sau khi ông qua đời, nhạc sĩ đã tâm sự, giải thích về việc, trong các tác phẩm của ông, luôn thấp thoáng một tình yêu lãng mạn và ẩn hiện hình bóng một người con gái đẹp như sau, “Hình tượng người thiếu nữ chỉ là hình ảnh tưởng tượng trong không gian mơ hồ của tôi, hầu như tôi làm nhạc tình ái thì không có người đàn bà nào là thật hết. Tôi gặp không phải không nhiều, mà người ta yêu tôi cũng nhiều. Tôi thích cái đẹp, nhưng lại sợ sự hòa nhập với cuộc đời của người khác.” Thế nhưng, 6 năm sau ngày ông mất, trả lời một cuộc phỏng vấn về nội dung cuốn sách sẽ viết để thân phụ, nhà thơ Văn Thao, trưởng nam của Văn Cao lại cho biết, “Tôi đã tìm gặp cả những người phụ nữ đã từng yêu dấu cha tôi, mẹ tôi rất yêu cha tôi, nên bà không thấy thoải mái khi tôi muốn đưa ra những chuyện tình cảm ngày xưa của ông, nhưng tôi cho rằng, phải bảo đảm tính cách trung thực của lịch sử. Không thể không kể tới những mối tình ấy, khi chính nó là nguồn cảm hứng để ra đời những tuyệt phẩm của Văn Cao. Tôi có đi gặp những người phụ nữ vẫn giữ từng bức thư, bài thơ, bản nhạc cha tôi tặng. Tình yêu của các cụ ngày xưa đẹp và trong sáng lắm. Bản thân họ vẫn còn chồng, con và gia đình, cho nên khi công bố họ cũng ngại. Có người còn yêu cầu tôi chờ đến lúc cô mất rồi, cháu hãy nói ra câu chuyện này.”
van-cao3
Văn Cao khi sáng tác trường ca sông Lô -1947
Như vậy, phải chăng có một sự mâu thuẫn giữa con người và sáng tác của Văn Cao? Tùy theo cách suy nghĩ, mỗi người có thể có câu trả lời khác nhau. Riêng chúng tôi thì cho rằng, chẳng qua đây chỉ là sự biến ảo giữa thực và mộng nơi các sáng tác của Văn Cao. Nghĩa là, những người con gái đẹp ông gặp, những người đem lòng yêu ông, chính là nguồn cảm hứng, nhưng lại không phải hiện thân của những hình ảnh tưởng tượng trong không gian mơ hồ của riêng ông. Một trong những người con gái có thật, đã trở thành hình ảnh tưởng tượng ấy, là nữ ca sĩ Hoàng Oanh của Hải Phòng năm xưa. Ðiều này rất ít người biết, và cái số rất ít ấy đã không hề nói ra khi Văn Cao còn sống. Phải đợi cho tới năm 1997, tức là hai năm sau ngày nhạc sĩ qua đời, một nhà báo lão thành từng quen biết Văn Cao từ thời kháng chiến, mới dám viết ra những điều mà gần đây đã được người thân của nhạc sĩ xác nhận. Ngày ấy, đầu thập niên 1940, Hoàng Oanh một người đẹp đầy huyền thoại của Hải Phòng, đến thăm Văn Cao trên bến đò rừng, tạo nguồn cảm hứng cho chàng viết bản Bến Xuân. “Nhà tôi bên chiếc cầu soi nước, em đến thăm một lần.
van-cao1
Nhà thơ Văn Thao
Bao lũ chim rừng, hợp đàn trên khắp bến xuân”
Nhưng lúc ấy Hoàng Oanh đã có người yêu, nàng chỉ đến thăm Văn Cao một lần duy nhất rồi lên xe hoa, cho nên ở phiên khúc 2 chàng mới viết
“Nhà tôi sao vẫn còn ngơ ngác, em vắng tôi một chiều. Bến nước tiêu điều, còn hằn in nét đáng yêu”. Mấy năm sau, người chồng vắn số của Hoàng Oanh từ giã cõi đời, lúc đó cũng là thời gian chiến tranh chống Pháp nổ ra trên toàn quốc. Người góa phụ trẻ xuất thân ca sĩ ấy đi theo ban ca kịch kháng chiến cho vơi bớt sầu muộn. Mùa xuân năm 1947, nàng tái ngộ Văn Cao ở Việt Trì. Trong lần hạnh ngộ ấy, theo lời yêu cầu, một người trong nhóm nghệ sĩ hiện diện, chàng du ca Phạm Duy đã ôm đàn hát lại bản Bến XuânBến Xuân của ngày nào chứ không phải Bến Xuân của thời kháng chiến, khi mà với một dụng ý nào đó, người ta đã đổi tựa thành Ðàn Chim Việt, đặt ra những lời ca mới như “Thái Nguyên tung hoành” thay cho “Giấc mơ ven đồi”“Bắc Sơn kia thời tung cánh” thay cho “Thấy chim ghen lời âu yếm” của Bến Xuân xưa
Bến Xuân – Văn Cao – ca sĩ Hà Thanh
Văn Cao, trường ca và truyện dân gian

No comments:

Post a Comment