Friday, July 28, 2017

Về Insulin

Đây là sự liên quan của insulin với những chứng bệnh khác (ngoài bệnh tiểu đường) Lượng insulin quá nhiều hay quá ít đều gây bệnh tật cho cơ thể, và insulin không chỉ dính dáng tới bệnh tiểu đường mà còn liên quan đến những chứng bệnh khác như nhồi cơ tim (heart attack), tai biến mạch máu não (stroke), cao huyết áp, và nhiều loại ung thư.
Tế bào tụy tạng, loại B-cell, tiết ra nội tiết tố insulin để điều hòa lượng đường trong máu. Khi lượng đường lên cao, sau bữa ăn nhiều tinh bột (carbohydrate), tinh bột được tiêu hóa, biến hóa thành đường trong máu dưới dạng glucose, lượng insulin lên cao để vận chuyển đường vào những nơi dự trữ như tế bào bắp thịt hoặc những tế bào mỡ. Ðôi khi những tế bào này không còn hoạt động dưới ảnh hưởng của insulin và do đó, không “nhận” lượng đường để dự trữ, và khi ấy, người ta bị chứng “insulin-resistant” hoặc đôi khi còn gọi là “metabolic syndrome”. Vì lượng đường trong máu lên cao nên tụy tạng tiếp tục tiết thêm insulin, dù insulin trong trường hợp này không có hiệu lực; kết quả là ta có bệnh tiểu đường, loại II (khác với loại I, khi tế bào tụy tạng không tiết ra insulin). Khi tụy tạng tiết ra nhiều insulin, lượng nội tiết tố dư thừa này ảnh hưởng đến những bộ phận khác trong cơ thể. Insulin không những chỉ “đưa” đường trong máu đến nơi dự trữ mà còn làm những công việc khác, chẳng hạn như khiến thận giữ lấy muối (thay vì đào thải); khi lượng muối lên cao, cơ thể sẽ giữ nước, và hậu quả là cao huyết áp.  Insulin còn ảnh hưởng đến sự sinh sản và tăng trưởng của nhiều loại tế bào trong cơ thể, khi lượng insulin lên cao, tế bào bị kích thích để sinh trưởng.
  1. Ung thư
So với tế bào bình thường, tế bào ung thư có gấp 10 lần lượng thụ thể (receptor) insulin, cấu trúc tiếp nhận insulin trên màng tế bào. Ðiều này có nghĩa là tế bào ung thư sinh sôi rất nhanh khi chịu ảnh hưởng của insulin. Ðặc biệt, ung thư ruột già, vú, tử cung (dạ con), tụy tạng và nhiếp hộ tuyến là những loại ung thư rất “nhạy” với ảnh hưởng của insulin.  Ở ung thư vú, dạ con, và nhiếp hộ tuyến, nội tiết tố giữ một vai trò rất quan trọng trong sự tăng trưởng của các tế bào ung thư này. Riêng với ung thư vú, người ta tìm thấy một loại receptor đặc biệt, fetal insulin receptors, khiến loại tế bào sinh sôi rất nhanh với ảnh hưởng của insulin (ultrasensitive). Bác sĩ Pamela Goodwin, Marvelle Koffler Breast Center at Mount Sinai Hospital, Toronto, cho rằng khi một loại nội tiết tố bị ảnh hưởng, sẽ gây ra phản ứng dây chuyền, và sẽ ảnh hưởng đến những nội tiết tố khác; ở ung thư vú, insulin ảnh hưởng đến estrogen, một loại nội tiết tố khác cũng gây ra sự sinh sôi của tế bào ung thư. Tại trung tâm Y Khoa này, bác sĩ Goodwin và những người cộng sự đang xúc tiến một chương trình thử nghiệm y tế, dùng glucophage để làm giảm lượng insulin trong những bệnh nhân bị ung thư vú, và khi lượng insulin bị giảm đi có ảnh hưởng gì đến sự tái phát ung thư hay không.  Cuộc thử nghiệm đang tiến hành, chưa có kết quả sau cùng.
insulin
digest.bps.org.uk
  1. Bệnh tim mạch
  2. Lượng insulin cao sẽ: a) gây viêm lớp tế bào lót mạch máu, b) khiến tiểu cầu (platelet) dính với nhau tạo thành khối bám chặt vào thành mạch máu, và c) làm gia tăng lượng mỡ đọng tại thành mạch máu. Cả ba yếu tố đều đưa đến việc nghẽn mạch máu một cách nhanh chóng, gây hậu quả tai hại là chứng cao huyết áp, nhồi cơ tim và chứng tai biến mạch máu não. Cơ quan y tế Phần Lan đã công bố tài liệu của họ về một cuộc thử nghiệm y tế với 1,000 thanh niên, được theo dõi trong 22 năm; kết quả cho thấy là lượng insulin cao sẽ đoán trước nguy cơ của chứng nhồi cơ tim, chính xác hơn cả chứng mập phì hoặc tình trạng ít vận động. Tại Hoa Kỳ, vai trò của insulin trong các bệnh tim mạch đang được thử nghiệm. Viện Y Tế Quốc Gia (National Institute of Health) đã bắt đầu một cuộc thử nghiệm y tế tại 60 trung tâm Y Khoa để thử Actos, một loại insulin sensitizer, xem loại thuốc này có thể ngăn sự tái phát của chứng tai biến mạch máu não.
    1. Bệnh buồng trứng
    Chứng bệnh polycystic ovary syndrome (buồng trứng có nhiều u nang, những túi nhỏ li ti chứa chất lỏng) là nguyên nhân chính gây hiếm muộn (không thụ thai) của phụ nữ Hoa Kỳ, một trong 10 người đàn bà Mỹ bị chứng bệnh này.  Khi lượng insulin lên cao, buồng trứng sẽ tiết ra một số nội tiết tố khiến sự tăng trưởng bình thường của trứng bị gián đoạn, kinh nguyệt bị rối loạn và người đàn bà khó thụ thai, một phản ứng dây chuyền. Một trong số những nội tiết tố dư thừa này là androgen; nội tiết tố này gây ra việc mọc lông trên mặt, tay hoặc da mặt trở nên thô nhám, nhiều dầu như phái nam. Giới y học đã bắt đầu chữa bệnh polycystic ovary syndrome bằng những loại thuốc trong nhóm “insulin sensitizer” cũng như sử dụng những phương cách giảm cân vì việc giảm cân cũng làm hạ lượng insulin. Việc chữa trị chứng polycystic ovary syndrome không chỉ để chữa chứng hiếm muộn mà còn nhằm vào việc giảm bệnh tim mạch, những phụ nữ này có tỷ lệ rất cao về bệnh tim mạch (gấp 7 lần bình thường) và chứng tiểu đường (gấp 3 lần bình thường).
    1. Bệnh mất trí nhớ (Alzheimer’s disease)
    Tế bào não bộ tại trung tâm học hỏi (learning centers) và trí nhớ (memory centers) có rất nhiều thụ thể insulin receptors. Khi lượng insulin vọt lên cao (gia tăng một cách nhanh chóng), trí nhớ và khả năng làm việc sẽ gia tăng; khi lượng insulin xuống thấp, não bộ không còn hoạt động mạnh mẽ. Tuy nhiên, trong trường hợp của “insulin resistance” nói trên, sự “nghịch lý” xảy ra, một lượng insulin cao luân lưu trong máu (nhưng không sử dụng được) dẫn đến hiện tượng lượng insulin thấp tại não bộ. Một giả thuyết chính đang được bàn cãi sôi nổi là insulin “gặm mòn” những tế bào lót mạch máu, những tế bào dính vào nhau tích tụ lại thành khối gây ra việc nghẽn mạch máu, kể cả những mạch máu li ti trong não bộ, gây khó khăn cho việc “đưa dẫn” glucose.  Hậu quả là tế bào não bộ bị bỏ đói (thiếu đường, năng lượng chính) và chết dần mòn. Một vài kết quả sơ khởi đã giúp giả thuyết này thuyết phục những chuyên gia y học: gia tăng lượng insulin tại não bộ đã giảm triệu chứng của Alzheimer’s disease trong một số bệnh nhân. Tiến sĩ S. Craft, Veteran Administration Puget Sound Health Care System, trình bày trong một cuộc hội thảo về chương trình khảo nghiệm của bà: một số bệnh nhân đã “hít” (inhaled) insulin, việc “hít” insulin sẽ đưa một lượng insulin đáng kể lên thẳng não bộ, cao hơn và nhanh hơn so với việc chích insulin, và một số bệnh nhân chỉ hít giả dược hay “placebo”. Nhóm bệnh nhân hít insulincó khả năng “nhớ lại” (recall) nhiều hơn so với nhóm bệnh nhân chỉ nhận placebo. Hiện tại, nhóm khảo cứu này đang thử nghiệm Avandia, một loại insulin sensitizer, để xem loại thuốc này có làm ngưng hoặc làm chậm lại tiến trình hủy hoại tế bào não bộ của chứng Alzheimer hay không.
    Ðiều nên nhắc lại là dược phẩm không phải là cách duy nhất để chữa trị “insulin resistance”.  Việc giảm cân cũng là cách chữa trị hiệu nghiệm không kém, chỉ cần xuống cân từ 5-20 cân anh (khoảng 2-10 kí lô) là chứng “insulin resistance” hầu như được chữa lành.  Những chuyên gia về dinh dưỡng thường thuyết phục bệnh nhân nên ăn, uống nhiều chất xơ (fiber) nhất là những loại xơ hòa tan trong nước (soluble fiber) hiện diện trong các loại dâu (berry), đậu (beans) và ngũ cốc (whole oat), cũng như protein trong cá. Bệnh nhân cũng nên ăn những loại chất béo (saturated fat) tìm thấy trong đậu phụng (nuts) và trái bơ (avocado), loại chất béo này có thể khiến lượng insulin gia tăng cấp thời (insulin spike). Việc giảm cân rất quan trọng vì chứng mập phì gia tăng “insulin resistance”, lượng mỡ dư thừa trong máu dường như ngăn chặn các tế bào mỡ tiếp nhận insulin.  Ngoài ra, sự vận động giúp các bắp thịt “tiêu thụ” insulin nhanh hơn, do đó, làm giảm lượng insulin trong máu. 
Trần Lý Lê

No comments:

Post a Comment