Thursday, July 27, 2017

Vị vua duy nhất chết trận trong sử Việt

Vua Trần Duệ Tông luôn chứng tỏ mình là một con người có cá tính và đầy quyết đoán. Chính điều này đã đem lại cho ông một kết cục bi thảm.

  Trên cương vị người lãnh đạo tối cao của dân tộc Đại Việt, vua Trần Duệ Tông luôn chứng tỏ mình là một con người có cá tính và đầy quyết đoán. Trớ trêu thay, chính điều này đã đem lại cho ông một kết cục bi thảm.
Vua Trần Duệ Tông (1336 – 1377), tên thật là Trần Kính, là con thứ mười một của vua Trần Minh Tông. Ông lên ngôi năm 37 tuổi, trở thành vị vua thứ 9 của nhà Trần.

Dù chỉ ở ngôi 4 năm, thời gian trị vì vua Trần Duệ Tông đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc về tài năng, sự trong sạch, thanh liêm của đội ngũ quan lại và lòng quả cảm, ý thức tự lập, tự cường và thuần phong mỹ tục của dân tộc Đại Việt.

Sau khi lên ngôi, vua Trần Dụê Tông chủ trương chọn người thực tài phục vụ quốc gia, không coi đề cao yếu tố tôn thất. Những nho sĩ thời đó như Trạng nguyên Đào Sư Tích, Bảng nhãn Lê Hiến Phủ, Thám hoa Trần Đình Thám… đều xuất thân từ bình dân và rất được coi trọng.

Để đối phó với sự quấy rối từ quốc gia lân bang, quân đội dưới thời vua Trần Duệ Tông được tổ chức chặt chẽ. Đặc biệt, ý thức dân tộc ở thời kỳ này rất được chú trọng. Vua hạ lệnh cho quân dân không được mặc áo kiểu người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của các nước Chiêm – Lào. Bên cạnh đó, ông còn quy định cụ thể về mẫu mã các loại thuyền, xe, kiệu, tán, nghi, trượng và y phục…

Trên cương vị người lãnh đạo tối cao của dân tộc Đại Việt, vua Trần Duệ Tông luôn chứng tỏ mình là một con người có cá tính và đầy quyết đoán. Trớ trêu thay, chính điều này đã đem lại cho ông một kết cục bi thảm.
 

Nǎm 1376, quân Chiêm Thành đánh vào vùng Hoá Châu (Nghệ An). Thấy người Chiêm luôn xâm phạm bờ cõi Đại Việt, vua Duệ Tông quyết định trực tiếp cầm quân đi trừng phạt.

Sau khi đánh dẹp nhiều đồn lũy của đối phương, đầu năm 1377 quân Trần vây thành Đồ Bàn - kinh đô vua Chiêm. Thấy khó chống, quân Chiêm bèn lập mưu cho người trá hàng nói Chế Bồng Nga đã bỏ trốn và chấp nhận mất thành.

Vua Duệ Tông trúng kế, ra lệnh tiến quân vào thành. Khi quân Đại Việt đến chân thành thì quân Chiêm từ 4 phía đổ ra đánh. Đại quân của vua Duệ Tông vỡ trận, bản thân vua bị giết chết khi chiến đấu trong tuyệt vọng.

Về trận đánh ở thành Đồ Bàn, sách Đại Việt sử kí toàn thư ghi lại như sau:

“Mùa xuân, tháng Giêng, ngày 23, đại quân tiến đến cửa Thị Nại của Chiêm Thành, sau lên đến Thạch Kiều, đóng lại ở động Ỷ Mang. Chế Bồng Nga cho dựng trại phía ngoài thành Đồ Bàn, sai viên quan nhỏ là Mục Bà Ma đến trá hàng, nói dối là Bồng Nga đã chạy trốn, nay thành trống không. Vậy nên tiến quân gấp, chớ bỏ lỡ cơ may.

Ngày 24, Vua mặc áo đen, cưỡi ngựa đen pha sắc trắng, sai Ngự Câu Vương Húc mặc áo trắng, cưỡi ngựa trắng, kíp truyền lệnh tiến quân. Đại tướng Đỗ Lễ thấy vậy can rằng:

Nó hàng là bởi trước muốn bảo toàn đất nước. Quan quân đi vào sâu để đánh phá thành là việc bất đắc dĩ, vậy xin hãy sai một biện sĩ mang thư đến hỏi tội, cốt xem hư thực ra sao, ấy cũng như kế của Hàn Tín phá nước Yên thuở xưa, không phải khó nhọc mà vẫn thành công vậy. Cổ nhân nói lòng giặc khó lường, thần xin bệ hạ hãy xét kĩ lại.

Vua nói:

- Ta mặc giáp cứng, tay mang gươm sắc, dãi gió dầm mưa, lội sông trèo núi để vào sâu trong đất giặc, không ai dám đương đầu, thế là cơ trời giúp ta đó. Huống chi, nay chúa giặc nghe tin đã chạy trốn, không còn lòng dạ kháng cự. Cổ nhân nói, dùng binh cốt ở thần tốc, nay nếu dừng lại không tiến, thì đúng là trời cho mà không lấy, giặc lập cơ mưu khác thì hối sao kịp. Ngươi chính là hạng đàn bà.

Nói rồi lấy áo đàn bà cho Lễ mặc. Quân lính bèn nối gót nhau mà đi như xâu cá, cánh trước cánh sau cách biệt, giặc thừa cơ xông ra đánh chặn. Giờ Tị quan quân tan vỡ. Vua bị hãm trong trận mà chết, bọn Đại tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh đều chết cả".

Cái chết giữa thành Đồ Bàn khiến vua Trần Duệ Tông trở thành vị vua duy nhất trong lịch sử Việt Nam bị giết chết trên chiến trường.

Các nhà sử học sau này đã có nhiều nhiều phán xét trái ngược nhau về cái chết của vua Trần Duệ Tông. Có ý kiến cho rằng ông đáng chê trách vì sự hiếu thắng và chủ quan khinh địch dẫn đến hậu quả thảm khốc cho quân đội Đại Việt. Nhưng cũng có người khẳng định Duệ Tông phải được kính trọng vì bản lĩnh, khí phách và cái chết cho lý tưởng chấn hưng dân tộc.

Có một điều không thể phủ nhận, cái chết của vua Duệ Tông là một bước ngoặt lịch sử lớn đối với nhà Trần, và thậm chí là cả tiến trình lịch sử của dân tộc.

Sau cái chết của ông, những người kế vị đều tỏ ra nhu nhược, triều đình ngày càng hỗn loạn. Vua anh Nghệ Tông vốn hoàn toàn dựa vào ông, nay phải dựa vào Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly), kẻ quyền thần nắm quyền thao túng triều chính và sau này này đã làm sụp đổ hoàn toàn cơ nghiệp nhà Trần.

Không còn một người cứng rắn như Trần Duệ Tông, quân Chiêm Thành được thể ngày càng lấn tới, trở thành một mối họa cho Đại Việt. Vua Trần Nghệ Tông tỏ ra bất lực hoàn toàn, sau này hễ vua Chế Bồng Nga tiến đánh lên phía Bắc là chỉ biết cùng Lê Quý Ly bỏ thành tháo chạy.(Kiến Thức) - Bãi chiến sớ là sớ của Đại tướng Đỗ Lễ và Ngự sử Đại phu Trương Đỗ can vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) đừng gây cuộc binh đao. 



Vua không nghe nên họ đều từ quan còn vua thì bại trận.
Cỗ xe đang xuống dốc
Sau những kỳ tích của ba lần chiến thắng quân Nguyên Mông đưa nước Đại Việt làm nên một thời hưng thịnh đến nửa sau thế kỷ XIV, nhà Trần bắt đầu bước vào thời kỳ suy vong. Gian thần lộng hành trong triều chính, ngoài đời loạn lạc liên miên, trăm họ lầm than. Những bậc chính nhân quân tử muốn giúp đời trị nước an dân, cứu nguy cho xã tắc nhưng không kìm lại được cỗ xe đang xuống dốc bởi các ông vua không chịu nghe tôi hiền, những người dám nói lên tiếng nói thẳng thắn. 
Tiêu biểu cho những con người đó là Chu Văn An (1292 - 1370) đã dâng thất trảm sớ đời vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369) xin chém 7 gian thần, nhưng vua không nghe. Chu Văn An liền bỏ quan về Chí Linh dạy học. Còn đến đời vua Trần Duệ Tông (1372 - 1377) có Đại tướng Đỗ Lễ và Ngự sử Đại phu Trương Đỗ đã nhiều lần dâng "Bãi chiến sớ" can nhà vua đừng gây cuộc binh đao. Vua không nghe nên họ đều từ quan còn vua thì bại trận.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Tháng 5 năm Bính Thìn (1376), quân Chiêm Thành đến cướp Châu Hóa. Tháng 6, vua Trần Duệ Tông xuống chiếu cho quân binh sắm sửa khí giới, chiến thuyền để vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành.
Mùa thu, tháng 7, Ngự sử Trung tán Lê Tích dâng sớ rằng: "Binh là đồ hung khí, không nên tự mình gây ra. Huống chi ngày nay mới dẹp được giặc trong nước. Ví như cái nhọt lâu năm chưa khỏi, chúa không nên lấy mối tức giận riêng mà dấy quân, tướng không nên cầu công mà đánh liều. Chiêm Thành tuy là không có lòng thần phục, nên sai tướng đi đánh để đợi Trời diệt, nếu xa giá thân đi đánh, thần nghĩ là không nên". Vua không nghe.
Tranh minh họa. 
Hậu quả nghiêm trọng
Tháng 8/1376, xuống chiếu cho quân dân Thanh Hóa, Nghệ An, Diễn Châu tải 5 vạn hộc lương đến Châu Hóa. Mùa đông tháng 10 đại duyệt quân thủy bộ ở bãi cát sông Bạch Hạc. Tháng 12, vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, đem 12 vạn quân từ Kinh sư tiến đi. Sai Lê Quý Ly đốc suất Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa chở lương cấp cho quân lính.
Ở đây cần nói đến một điều có liên quan đến kết cục của cuộc hành quân này và cũng được coi là một sự kiện tiêu biểu nhất trong lịch sử nước ta về hậu quả nghiêm trọng của một hành vi biển thủ công quỹ. Trước đây, vua Chiêm Thành là Chế Bồng Nga quấy rối biên giới. Triều đình sai Hành khiển Đỗ Tử Bình đem quân đến trấn giữ Châu Hóa. Bồng Nga đem mười mâm vàng để dâng, Tử Bình lấy đi để cho mình, lại nói dối là Chế Bồng Nga ngạo mạn vô lễ, nên đem quân đánh. Vua giận lắm, quyết ý thân chinh. Bấy giờ quan quân đến cửa biển Di Luân (Cửa Ròn thuộc huyện Quảng Trạch, Quảng Bình ngày nay) các quân vượt biển tiến đi. Vua thì đi ngựa, men theo bờ biển đến cửa biển Nhật Lệ đóng quân, luyện tập trong một tháng.
Mùa xuân, ngày 23 tháng Giêng năm Đinh Tỵ (1377), đại quân đi đến cầu đá ở cửa biển Thị Nại. Bồng Nga dựng trại ở ngoài thành Chà Bàn, sai viên quan nhỏ là Thu Bà Ma giả đầu hàng nói dối là Bồng Nga đã trốn đi, chỉ có thành không, nên chóng tiến quân, chớ để lỡ cơ hội. Ngày 24, vua mặc áo đen cưỡi ngựa Nê thông (ngựa lông sắc trắng, sắc đen xen lẫn), sai Ngự Câu Vương Húc mặc áo trắng cưỡi ngựa trắng, truyền lệnh kịp tiến quân. 
Đại tướng Đỗ Lễ can rằng: "Nó đã chịu đầu hàng, ý muốn được nước là hơn cả. Quan quân vào sâu mà đánh thành là bất đắc dĩ, hãy xin sai một người khéo nói cầm mảnh thư đến hỏi tội, để xem tình hình giặc thế nào đã, như kế sách của Hàn Tín phá nước Yên ngày xưa, Không phải khó nhọc mà có công. Cổ nhân có nói: Lòng giặc khó lường, bệ hạ xét kỹ lại". (Kiến Thức) - Trong sự suy thoái của nhà Trần có nhiều nguyên nhân và trên nhiều mặt, trong đó tệ nạn tham nhũng tràn lan là một phần quan trọng gây ra...
Trong sự suy thoái của nhà Trần có nhiều nguyên nhân và trên nhiều mặt, trong đó tệ nạn tham nhũng tràn lan trong giới quan lại và quý tộc là một phần quan trọng gây ra bất mãn trong quần chúng nhân dân, mâu thuẫn trong triều đình, giữa các quan đại thần với nhau... Sự kiện đau lòng nhất là việc quan Hành khiển Đỗ Tử Bình tham ô 10 mâm vàng dẫn đến cái chết thương tâm của Vua Trần Duệ Tông.
10 mâm vàng bị ỉm đi
Khoảng gần cuối thời nhà Trần, sau khi đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông (1258 - 1288), đất nước ta bước vào thời kỳ cường thịnh. Biên giới mở mang tới tận đèo Hải Vân. Ở phía Bắc, nước Trung Hoa trọng nể, ở phía Nam nước Chiêm Thành kính phục và chịu triều cống. Nhưng đến năm Mậu Ngọ (1376) vì một vụ tham nhũng mà dẫn tới các chết oan nghiệt của nhà vua Trần Duệ Tông (1377) rồi sau đó xảy ra biết bao sự cố khiến nhà Trần bước vào thời kỳ suy thoái và xuống dốc.
Sử cũ chép rằng: "Chiêm Thành từ đời Lê, Lý đến đời Trần dân và lính hèn nhát. Hễ quân ta đến là đem cả nhà chạy trốn hoặc họp nhau khóc lóc xin hàng. Về sau đến thời vua Chế Bồng Nga dân Chiêm được tập hợp, dạy bảo, thay đổi thói cũ trở nên can đảm hăng hái, chịu được gian khổ..." (Đại Việt sử ký toàn thư bản kỷ).
Chế Bồng Nga là một ông vua dũng cảm của nhân dân Chiêm thời bấy giờ. Thoạt đầu Chế Bồng Nga muốn hòa hiếu, thần phục Đại Việt nên giữa năm 1376 đã đem mười mâm vàng ra vùng Hóa Châu để dâng lên vua nhà Trần. Lúc bấy giờ Đỗ Tử Bình là quan hành khiển coi giữ lộ Hóa Châu để ngăn chặn quân Chiêm quấy nhiễu và xâm lấn biên giới phía Nam. 
Đáng lẽ khi nhận được số vàng của Chế Bồng Nga cống nạp, Đỗ Tử Bình phải đưa ngay số lễ vật đó (10 mâm vàng) ra kinh đô Thăng Long và chuyển đạt lòng hòa hiếu của Chế Bồng Nga lên vua Trần Duệ Tông, để thực hiện chính sách "mục lân" (hòa hiếu với các nước láng giềng), giữ vững an ninh bờ cõi. 
Nhưng trái lại với lòng tham vô đáy, Đỗ Tử Bình đã ỉm đi, giữ lấy 10 mâm vàng ấy làm của riêng mình. Đã thế, Đỗ Tử Bình lại còn xuyên tạc sự thật, tấu dối rằng Chế Bồng Nga ngạo mạn, vô lễ với Đại Việt và xin nhà vua nên đem quân chinh phạt Chiêm Thành. Đỗ Tử Bình tính toán rằng, nếu gây ra chiến tranh thì ông ta sẽ có cơ hội vơ vét được nhiều hơn nữa.
Ảnh minh họa. 
Vua nghe lời sàm tấu
Nói về vua Trần Duệ Tông. Ông sinh năm Đinh Sửu (1337), là con thứ 11 của vua Trần Minh Tông, em vua Trần Nghệ Tông. Đến năm Quý Sửu (1373), 36 tuổi được vua Trần Nghệ Tông trao ngôi vì đã từng góp công dẹp loạn. Trần Duệ Tông thông minh, có tài dùng binh, nhưng tính khí kiêu căng, chủ quan, ương gàn, cố chấp. 
Nghe lời sàm tấu của Đỗ Tử Bình, không chịu phân tích, nghe ngóng đã vội tin ngay, không phân biệt thực hư, liền nổi giận lôi đình, quyết định tự mình cất quân đi đánh Chiêm Thành ngay trong năm đó. 
Quan Ngự sử Lê Tích và các quan đại thần dâng sớ can ngăn: "Binh đao là việc dữ, không nên tự mình gây ra. Huống chi ngày nay vừa mới dẹp yên giặc trong nước thế như cái nhọt lâu năm chưa khỏi, không nên vì tức giận tức thời mà dấy quân, tướng không thể cần công mà đánh liều". Nhưng nhà vua nhất định không nghe.
Hoàng Phương

No comments:

Post a Comment