Sunday, July 23, 2017

Xóm Lò Nồi

Xóm Lò Nồi (Khu phố 4, phường Bửu Long, TP.Biên Hòa, Đồng Nai) được hình thành từ những năm 1930 bên ven sông Đồng Nai. Thời đó, hàng chục người dân quê huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) chạy loạn giặc dã đến Đồng Nai đã mang theo nghề truyền thống của cha ông về vùng đất mới lập nghiệp.
Sản phẩm của xóm Lò Nồi chủ yếu là đồ gia dụng như bếp lò, nồi nấu cơm, cái om, niêu kho cá, cái cơi tráng bánh, khuôn bánh khọt… Gần một thế kỷ tồn tại, đã có lúc nghề này rất hưng thịnh và phát triển mạnh, tạo nên “thương hiệu” bếp lò, nồi đất nung Bửu Long đưa đi tiêu thụ ở nhiều nơi như TP.HCM, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh và cả các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
Sau này, nồi, niêu ,xoong, chảo, ấm, lẩu bằng nhôm, inox phát triển ồ ạt và tiện lợi nên nồi, bếp đất nung Bửu Long đứng trước sự cạnh tranh khốc liệt. Nhiều hộ làm nghề phá sản hoặc chuyển sang làm kinh tế khác. Thời “vàng son” của làng nghề đã rơi rụng dần. Từ hàng chục hộ, đến nay xóm Lò Nồi Bửu Long duy nhất còn một hộ đeo bám và duy trì nghề.
Ông Trần Văn Tám (75 tuổi), được coi là người còn giữ lửa lò nung nồi đất cuối cùng ở xóm Lò Nồi Bửu Long. Gia đình ông có truyền thống 5 đời làm nghề. Ông Tám trăn trở: “Bỏ thì cũng không đành, mà theo thì cực lắm. Ngồi “nặn” và phơi nắng ngoài trời cả ngày, mỗi tháng chỉ dư ra hơn triệu đồng, đủ ăn, không lỗ là may. Nếu giờ làm ăn có lời hàng chục lò nung khác trong xóm người ta đã không bỏ nghề rồi”.
Theo ông Tám hiện để làm ra sản phẩm khó nhất là nguồn nguyên liệu đất sét vàng đang ngày càng khan hiếm, chỉ duy nhất ở vùng Bửu Long có loại đất sét vàng mà thôi. Đất sét làm làm nồi, bếp... khác với đất sét làm gạch, ngói. Đất sét Bửu Longlà loại đất đặc biệt, những cáinồi, bếpđược nặn từ đất này ra, sau khi nung lên đỏ tươi trông bắt mắt và xài rất bền.
Một mẻ niêu nặn xong phải đi đem phơi 2 -3 ngày nắng cho khô cứng lại trước khi đem vào lò nung chín.
Với mẻ bếp “ông táo” thì phải phơi nắng ít nhất 4 ngày để bếp lò rắn chắc và không bị vỡ khi đun nấu.
Nếu gặp những ngày có thời tiết không thuận lợi như ít nắng, mưa bão thì mẻ sản phẩm nặn xong phơi không kịp phải đổ bỏ. Bởi vậy cái nghề này hoàn toàn phụ thuộc vào thời tiết, 1 năm chỉ tập trung vào 6 tháng mùa nắng mà thôi.
Sau khi mẻ nồi, niêu, bếp phơi đủ nắng thì người thợ xếp vào lò lửa tiếp tục công đoạn nung chín. Chỉ dùng củi chà nhỏ, cành cây khô để chụm lửa cho lò nung. Nhiệt độ lò nung luôn giữ khoảng 800 độ C, thời gian nung khoảng 48 giờ. Một kỳ ra lò, nếu có từ 70- 80 % lượng sản phẩm “chín” đạt yêu cầu là thành công. Do đó người thợ lò phải là người có kinh nghiệm canh lò. Hiện tại, công đoạn nung do người con rể của ông Tám đảm nhiệm...
Theo ông Tám thì cái lò nung hình thang này có tuổi thọ gần 80 năm, 5 đời dòng họ Trần gắn bó với lò. Cho nên đến đời ông phải làm sao luôn giữ lửa cho lò không bao giờ tắt, tàn canh nguội lạnh.
Bà Nguyễn Thị Lan (vợ ông Trần Văn Tám) chia sẻ: “Làm nghề này vất vả nắng mưa, tay chân bê bết nên con cái có người theo nghề, có người đi làm công nhân. Dù vậy, hai vợ chồng bà luôn nhắc nhở nhau người phụ nghề, chứ nghề không phụ người. Sản phẩm làm ra tùy loại chỉ bán với mức giá từ 15.000 – 25.000 đồng/cái cũng đủ chi tiêu gia đình và lo con cái ăn học đàng hoàng...”.
Bà Trần Thị Mười (em gái ông Tám) mỗi ngày nặn được từ 40 cái nắp niêu, bà Mười thật thà nói :“Nặn dễ nhất là nồi, niêu... khó nhất là siêu, ấm, bếp lò...Tụi trẻ bây giờ không ai ham học nghề này nữa rồi, chỉ có lớp người già như tụi tui cố ngồi khụm lưng làm để mà nhớ tổ tiên, ông bà, quê hương...”.
Thương hiệu “Lò đất ông Tám”, “Nồi đất ông Tám” làm hoàn toàn bằng thủ rất đều, đẹp và chất lượng nên ổn định đầu ra vì nhiều nơi tin dùng và đặt hàng. Đặt biệt, có công ty nước ngoài ở KCN tỉnh Bình Dương liên hệ với cơ sở nhà ông Trần Văn Tám ký hợp đồng làm cái om đất theo mẫu sẵn với số lượng đáng kể.
Ông Tám hồ hởi cho biết thêm chính quyền địa phương, ban ngành tỉnh Đồng Nai rất quan tâm đến “lò nung đất cuối cùng” của nhà ông. Ông được xét cho vay vốn ưu đãi sản xuất, hỗ trợ đưa sản phẩm đi quảng bá, triển lãm các hội chợ thủ công mỹ nghệ. Từ đó, ông Tám có thêm niềm tin và động lực để gắn bó với cái nghề gần như đeo đuổi suốt cuộc đời ông.
Nhờ người có tấm lòng như ông Tám luôn biết gìn giữ và phát huy nghề truyền thống thủ công của ông cha nên con cháu hôm nay mới tìm thấy những dấu xưa vẫn còn đâu đó... từ những đồ dùng gần gũi, bình dân.TRƯỜNG TRÍ
"Nguyên liệu đã hết, nghề làm nồi đất ở Bửu Long sẽ đi vào quên lãng. Nhưng lò của gia đình còn đỏ lửa là tôi còn thấy kỷ niệm của ông bà cha mẹ. Kỷ niệm ấy luôn là nỗi khao khát, nhớ nhung theo tôi suốt hàng chục năm qua...", chủ lò duy nhất ở Bửu Long ngậm ngùi chia sẻ.Video: Chủ lò cuối cùng ở Bửu Long trải lòng
 
Một thời vàng son
Xóm Lò Nồi (phường Bửu Long, TP. Biên Hòa, Đồng Nai)là một con hẻm rộng với nhà cửa san sát. Nơi đây, lò duy nhất còn hoạt động thuộc về gia đình ông Trần Văn Tám. 
Bên trong, trên mảnh sân nhỏ, khoảng hơn 20 chiếc nồi đất còn ướt đang phơi dưới ánh nắng ban mai. 
Cạnh đó, trên tường, trên mái nhà đều có nồi ướt đang phơi. Qua khỏi sân vào bên trong, chúng tôi thấy hai lò nung đang đỏ lửa. Chúng tôi hỏi thăm người phụ nữ đứng tuổi đang đưa những thanh củi vào lò về ông Tám, chủ lò.
Nhà ông Tám cách lò khoảng vài trăm mét phía bên kia đường. Chúng tôi bước vào trong. Nghe tiếng gõ cửa, một ông già đang nằm ngủ dưới thềm gạch bật dậy.
Làng nghề, làng nghề  gốm
Xưởng chế tác các sản phẩm bằng đất tại nhà ông Trần Văn Tám
Ông Trần Văn Tám (77 tuổi) chia sẻ: "Nghề này bây giờ ít việc nên tôi để cho con cháu trông coi. Chỉ khi nào có chuyện gì khó khăn lắm tôi mới giải quyết. Tôi làm nghề này từ nhỏ nay cũng phải có lúc nghỉ ngơi chứ".
Ông kể cho chúng tôi về lịch sử làng nghề Lò Nồi. Vào những năm cuối của thập niên 1940, cha ông từ quê (xã Phú Khánh, huyện Đức Phổ, Quảng Ngãi) làm nghề sản xuất lò nồi đi bán dạo khắp nơi. 
Khi đến vùng đất Bửu Long ông cụ dừng lại. Nhận thấy vùng đất này có thể làm nghề lò nồi rất tốt nên đã trụ lại lập lò.
Làng nghề, làng nghề  gốm
Hiện nay trong xưởng chỉ còn 1 công nhân vận hành máy
Ông kể tiếp: "Ban đầu nơi đây là một vùng đất hoang vắng, không có dân cư trú. Lò của cha tôi sử dụng đất tại chỗ. Đất ở đây là loại đất sét vàng chỉ duy nhất có ở vùng Bửu Long. 
Đất sét ở đây làm được các loại đồ gia dụng như bếp lò, nồi nấu cơm, niêu kho cá, cái cơi tráng bánh, khuôn bánh căn... ".
Làng nghề, làng nghề  gốm
....và một thợ thủ công
Theo ông Tám, không giống với đất sét làm gạch ngói và thậm chí với đất sét làm đồ gốm ở Lái Thiêu, đất sét Bửu Long có kết cấu địa chất rất đặc biệt. Những sản phẩm được làm từ loại đất sét này, sau khi nung lên đỏ tươi trông bắt mắt và rất bền. 
"Sau đó, cha tôi trở lại quê nhà kêu gọi thêm một số anh em, bà con để cùng vào làm. Từ đó, xóm Lò Nồi chính thức mọc lên với gần 20 lò lớn nhỏ... ", ông Tám tiếp tục câu chuyện.
Người "giữ lửa" cuối cùng
Ông Tám đưa chúng tôi đi xem cơ ngơi của ông. Ngày trước, vùng này rất nhiều lò, thu hút rất đông lao động. Đi đâu người ta cũng gặp sân phơi rộng lớn, mỗi sân có thể chứa vài trăm thậm chí cả ngàn sản phẩm. 
Ông chia sẻ thêm: "Lò của tôi - lò duy nhất còn lại nơi đây - nay chỉ còn là những mẻ sản phẩm lèo tèo phơi dưới đất, phơi trên cao. Cả một dây chuyền sản xuất rộng lớn bây giờ chỉ còn lại một máy và một thợ thủ công.
Những người làm ở đây đều là con cháu trong gia đình đã nhiều năm gắn bó với nghề. Hiện nay không thể kiếm được thợ ngoài bởi không có lực lượng kế thừa và cũng không còn ai mặn mà với nghề này nữa".
Làng nghề, làng nghề  gốm
Sản phẩm được phơi khô trước khi đưa vào lò nung. Do không còn mặt bằng để phơi, các sản phẩm được phơi khắp nơi kể cả trên mái nhà.
Ông Tám chỉ vào chị thợ thủ công đang hình thành những nồi đất, nói: "Cháu tôi đó, nó theo nghề từ nhỏ. Nghề này muốn đào tạo một thợ không phải ngày một ngày hai".
Làng nghề, làng nghề  gốm
Xưởng chỉ còn 2 lò nung nhỏ
Sau khi phơi xong, những sản phẩm này được tập trung về lò nung cách đó vài trăm mét trong một con hẻm hẹp. Chất đốt là củi được nung trong suốt 2 ngày với nhiệt độ 800 độ C.
Suốt gần một thế kỷ trôi qua, sản phẩm của gốm Bửu Long đã được đưa đi tiêu thụ nhiều nơi như: TP.HCM, Bình Dương,  Bình Phước, Tây Ninh... và cả các tỉnh miền Tây tạo nên một thương hiệu gốm nung nổi tiếng.
Trong thời gian dài, “xóm nồi đất” Bửu Long vang tiếng cả khu vực, sản phẩm được đưa đi tiêu thụ khắp nơi và được nhiều người ưa chuộng.
Làng nghề, làng nghề  gốm
Ông Trần Văn Tám, chủ lò cuối cùng còn lại ở xóm Lò Nồi.
Sau 1975, vùng đất nguyên liệu nơi đây được quy hoạch. Trước đây một xe 10m3 đất tốt được bán với giá 300.000 đồng thì nay đã lên đến 3 triệu đồng. Sản phẩm làm ra không thể lên giá được bởi tính cạnh tranh với mặt hàng cùng chủng loại nhưng làm bằng kim loại.
Nhiều sản phẩm nội trợ ra đời, thay thế như nồi nhôm, bếp điện… đã khiến “xóm nồi đất” dần dần bị lép vế.
Ông chủ lò nói tiếp với giọng trầm buồn: "Hiện nay, chúng tôi có rất nhiều đơn đặt hàng nhưng vẫn không thể đáp ứng vì thiếu nguyên liệu, nhân công và mặt bằng sản xuất bị thu hẹp".
Cũng theo lời ông Tám, hiện nay chính quyền tỉnh Đồng Nai rất quan tâm đến “lò nung đất cuối cùng” ở xóm Lò Nồi này. Ông được hỗ trợ nhiều điều kiện tốt để phát triển nghề. 
Ông chủ lò bày tỏ: "Nguyên liệu đã hết, nghề làm nồi ở Bửu Long sẽ đi vào quên lãng. Thế nhưng tôi cũng sẽ cố gắng đến khi không còn làm được. Lò của gia đình còn đỏ lửa là tôi còn thấy kỷ niệm của ông bà cha mẹ. Kỷ niệm ấy luôn là nỗi khao khát, nhớ nhung theo tôi suốt hàng chục năm qua...".

No comments:

Post a Comment