Tuesday, August 1, 2017

Bài viết hay(5244)



Tư vấn cho thủ tướng, những kinh nghiệm đã qua

Thủ tướng mãn nhiệm Phan Văn Khải (trái), và tân Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong kỳ họp Quốc hội 2006.Cuối tháng 7, 2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phú ký quyết định thành lập Tổ tư vấn kinh tế cho thủ tướng gồm có 15 chuyên gia kinh tế Việt Nam cả trong và ngoài nước.
Các tổ chức tư vấn như vậy đã được thành lập trước đây.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A, từng là người sáng lập Viện IDS, một tổ chức tư vấn tư nhân đã bị giải tán dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, nói rằng sự có mặt của một Tổ Tư vấn Kinh tế cho Thủ tướng là điều rất cần thiết, nhưng ông e ngại rằng hiệu quả của tổ tư vấn có thể bị giảm do cơ chế làm việc không thường xuyên của nó:
Tổ tư vấn làm việc không phải thường xuyên lắm mà là định kỳ, mấy tháng một lần, nó cũng giống như 13 người tư vấn cho ông Dũng của nhiệm kỳ trước mà thôi. Cái hình thức của ông Dũng và ông Phúc là giống nhau. Hình thức tư vấn của ông Kiệt và ông Khải thì khác, nó rộng nhưng có một nhóm trong tổ tư vấn hay ban nghiên cứu đấy là hoạt động thường xuyên, tức là một ngày tám tiếng, ngày làm việc thì tổ đấy ngồi đấy, có thể tư vấn cho ông thủ tướng một cách liên tục.”
Ông Nguyễn Quang A nhấn mạnh tới tầm quan trọng của việc thực thi các chính sách, các đạo luật trong công việc hàng ngày của chính phủ, và nếu như tổ tư vấn có những người làm thường trực thì sẽ có tác dụng lớn hơn là chỉ tư vấn cho việc hoạch định chính sách mà thôi.
Năm 1993, dưới thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt, một tổ chuyên gia về cải cách kinh tế và hành chính được thành lập để góp ý kiến cho thủ tướng về các vấn đề kinh tế và xã hội. Năm 1996, tổ này được đổi tên thành Tổ Nghiên cứu Đổi mới Kinh tế-Xã hội- Hành chính. Năm 1998, dưới thời Thủ tướng Phan Văn Khải, tổ này được nâng cấp lên thành Ban Nghiên cứu Kinh tế của thủ tướng. Ban này bị giải tán dưới thời Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, người tham gia công việc tư vấn cho thủ tướng từ năm 1993 nói với chúng tôi:
Tổ tư vấn có những người làm việc thường trực thì sẽ có tác dụng lớn hơn.
-Tiến sĩ Nguyễn Quang A.
“Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Phan Văn Khải thì có lập tổ tư vấn và ban nghiên cứu các vấn đề kinh tế xã hội. Còn Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ tổ chức tổ tư vấn các vấn đề tài chính tiền tệ thôi, phạm vi đó hẹp. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thì đã giải thể ngay Ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải sau khi lên nhậm chức. Đó là quyết định đầu tiên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.”
Nhận định về công việc của Tổ Tư vấn và Ban Nghiên cứu Kinh tế thời hai thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, ông Nguyễn Quang A cho rằng họ đã đạt được những thành tựu rất quan trọng trong công cuộc cải cách kinh tế lúc đó.
Là thành viên của Ban Nghiên cứu Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nhớ lại về những hoạt động của mình:
“Chúng tôi đã hoạt động rất tích cực theo định hướng cơ chế thị trường. Thứ hai là chúng tôi thúc đẩy các quan hệ quốc tế, đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ kinh tế, thương mại, kể cả những quan hệ chính trị giữa Việt Nam và các nước, tránh Việt Nam phụ thuộc quá đáng vào một đối tác, nhất là đối tác đó là một nước láng giềng lớn. Điều thứ ba là chúng tôi đẩy mạnh cải cách các doanh nghiệp nhà nước, cảnh giác với các nhóm lợi ích. Chúng tôi đẩy mạnh cải cách thể chế, cải cách hành chính, Ban nghiên cứu đã hỗ trợ rất tích cực trong việc xây dựng Luật doanh nghiệp.”
Bà Phạm Chi Lan, một thành viên của Ban Nghiên cứu Kinh tế lúc đó viết trên báo chí trong nước vào ngày 1 tháng tám, năm 2017, rằng Luật Doanh nghiệp ra đời vào năm 1999 là một sự thúc đẩy cho kinh tế Việt Nam. Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói thêm là những đạo luật và chính sách lúc đó khi được thủ tướng chuẩn thuận thường không vấp phải những sai sót, hay phản ứng của báo chí và công luận, và Thủ tướng Phan Văn Khải là người rất lắng nghe ý kiến các thành viên Ban nghiên cứu.
Ông Lê Đăng Doanh nói rằng Ban nghiên cứu mà ông là thành viên đã tư vấn cho Thủ tướng Phan Văn Khải loại bỏ 286 giấy phép con cản trở hoạt động của doanh nghiệp. Khi được hỏi rằng với những thành quả như vậy thì việc ký sắc lệnh giải tán Ban Nghiên cứu Kinh tế của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có phải là một sự trì hoãn hoạt động cải cách kinh tế và xã hội của Việt Nam hay không, ông Lê Đăng Doanh nói:
“Cái đó thì phải để cho lịch sử phán xét. Hiện nay chúng ta thấy có rất nhiều các vụ án, các vụ việc có liên quan đến thời kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Hiện chưa có một công trình nghiên cứu tổng kết một cách đầy đủ và khách quan. Nhưng rõ ràng là thời kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để lại nhiều gánh nặng kinh tế nặng nề. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm đi, bội chi ngân sách thì tăng lên, nợ công tăng nhanh chóng. Đặc biệt là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho phép các tập đoàn nhà nước được kinh doanh đa dạng hóa, ví dụ như Tập đoàn dầu khí kinh doanh cả du lịch, khách sạn, taxi, và có rất nhiều các công ty con khác. Bây giờ chúng ta thấy là Tập đoàn dầu khí Việt Nam đang đối mặt với rất nhiều vấn đề, tài chính, tiền tệ, rất nhiều vấn đề tiêu cực.”
Những vụ việc liên quan đến Tập đoàn dầu khí Việt Nam mà ông Lê Đăng Doanh đề cập bắt đầu bùng lên vào năm 2016, với thông tin nhiều công ty làm ăn thua lỗ, những nghi án liên quan đến tham nhũng, một số cán bộ của tập đoàn này bỏ trốn ra nước ngoài, hai viên chức cao cấp thời kỳ đó là ông Vũ Huy Hoàng, cựu Bộ trưởng Bộ Công Thương, và ông Đinh La Thăng từng đứng đầu Tập đoàn dầu khí quốc gia bị kỷ luật, cách chức.
Khi được biết Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thành lập Tổ tư vấn kinh tế mới, bà Phạm Chi Lan và ông Lê Đăng Doanh đều rất hoan nghênh và hy vọng đây là cơ hội mà các chuyên gia có thể tư vấn cho chính phủ trong thời kỳ khó khăn và phức tạp của nền kinh tế như hiện nay.
Thời kỳ của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để lại nhiều gánh nặng kinh tế nặng nề. Tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm đi, bội chi ngân sách thì tăng lên, nợ công tăng nhanh chóng.
-Tiến sĩ Lê Đăng Doanh.
Ông Nguyễn Quang A, từ góc độ quan sát bên ngoài bộ máy nhà nước, nhận định về các thành viên của tổ tư vấn mới thành lập:
Tôi biết nhiều người trong số 15 người đấy. Rất nhiều người cổ vũ cho kinh tế thị trường, có đầu óc suy nghĩ chín chắn, rất là đáng quý. Nhưng tôi cũng được nghe là có một số người khi tư vấn cho người này thế này, tư vấn cho người khác với cùng một vấn đề thì hoàn toàn ngược lại. Có thể có những người như vậy, và cũng khó mà tránh. Tôi được nghe thế thôi, không rõ như thế nào, nhưng những người tôi biết thì đều là những người đáng trân trọng.”
Và khi thực hiện bài viết này chúng tôi có tìm cách liên lạc với một số thành viên của tổ tư vấn, nhưng không liên lạc được, và có một thành viên từ chối phát biểu.Kính Hòa RFA

Nhiệt điện than có còn là giải pháp giá rẻ?Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1

Giải thích về việc lựa chọn phát triển nhiệt điện than thay vì các loại năng lượng khác, Việt Nam thường đưa ra lý do là chi phí sản xuất loại năng lượng này thấp, phù hợp với điều kiện hiện tại của Việt Nam. Tuy nhiên gần đây một số chuyên gia đặt ra câu hỏi rằng sau hàng loạt các chi phí về cả kinh tế và xã hội, liệu nhiệt điện than có còn là giải pháp “tiết kiệm” cho Việt Nam nữa hay không?

Nhiên liệu đắt đỏ

Nhiệt điện chạy bằng than thời gian gần đây gặp phải nhiều sự phản đối từ công luận vì gây ô nhiễm môi trường, điển hình là các cuộc biểu tình hàng ngàn người để phản đối khói bụi từ các nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân ở Bình Thuận hai năm trước.
Mặc dù như vậy nhưng hiện Việt Nam vẫn đang có kế hoạch phát triển thêm 41 nhà máy nhiệt điện chạy than đến năm 2030.
"Hiện nay các nhà máy trong nam như Vĩnh Tân chẳng hạn phải mua than từ nước ngoài, chủ yếu từ Indonesia và Úc".
- PGS-TS Lê Trình
Phó giáo sư -Tiến sĩ Lê Trình, Viện trưởng Viện Môi trường và Phát triển bền vững nói với chúng tôi rằng hiện tại nhiệt điện chạy than ở Việt Nam phải đối mặt với nhiều trở ngại làm gia tăng nhiều khoản chi phí. Đầu tiên, ông phân tích về mặt nhiên liệu:
Việt Nam hiện nay một năm sản xuất có 40 triệu tấn than. Hiện nay các nhà máy nhiệt điện than chạy rất nhiều mà than khai thác được ở Quảng Ninh chủ yếu phục vụ ngoài Bắc tính từ Nghệ An trở ra thôi chứ không đủ cho các tỉnh trong nam. Cho nên hiện nay các nhà máy trong nam như Vĩnh Tân chẳng hạn phải mua than từ nước ngoài, chủ yếu từ Indonesia và Úc. Cho nên giá cả cao hơn so với trước.
Liên minh Năng lượng bền vững VN (VSEA) đầu năm ngoái cũng công bố báo cáo cho thấy đến năm 2030 Việt Nam sẽ phải nhập khẩu 85 triệu tấn than/năm để phát điện. Con số này cao gần gấp đôi so với lượng than cung ứng nội địa.
Ngoài hai nước bạn hàng chính về than của Việt Nam là Indonesia và Úc, Việt Nam cũng phải nhập một lượng tương đối lớn từ Trung Quốc trong khi đó vào tháng 10 năm ngoái, truyền thông trong nước nói rằng giá than Việt Nam nhập từ Trung Quốc cao nhất trên thế giới.

Ô nhiễm môi trường

Ngoài những lo ngại về mặt nhiên liệu, chuyên gia môi trường Nguyễn Văn Khải còn cho rằng việc xây dựng và vận hành các nhà máy điện than tại Việt Nam rõ ràng đang gây tác hại nghiêm trọng đến môi trường:
Thí dụ nhà máy nhiệt điện Uông Bí thì chúng ta thấy bụi than như thế nào. Đầu tiên vận chuyển hàng đến là đường xá bẩn thỉu, mưa thì chất độc trong than chảy ngấm vào đất, rồi khi đốt thì những khí trong đó như SO2. NO2, các kim loại nặng như Niken, Crôm sẽ một là bay tản ra vùng chung quanh, hai là tích tụ thành mây để mưa xuống.
Trong một buổi hội thảo về nhiệt điện than năm 2015, bà Ngụy Thị Khanh, Giám đốc Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID), dẫn một nghiên cứu cho thấy có sự tác động của khí thải, chất thải từ các nhà máy nhiệt điện than tới chất lượng đất đai, cây trồng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất mùa màng của người nông dân.
nhietdienthan
Khói thải ra từ ống khói nhà máy điện đốt than ở thành phố Ji'nan, Trung Quốc hôm 23/12/2016. AFP photo
Phó giáo sư -Tiến sĩ Lê Trình đồng tình với quan điểm về khả năng gây ô nhiêm môi trường nghiêm trọng của nhiệt điện chạy bằng than. Cho nên, ông phân tích rằng riêng khoản chi phí xử lý môi trường cho loại năng lượng này đã là rất tốn kém:
Để xử lý môi trường phải sử dụng các hệ thống lọc bụi tĩnh điện, lọc bụi tay áo và các hệ thống xử lý SO2, NO2,… là rất tốn tiền. Ngoài ra là vấn đề đổ thải của nhà máy nhiệt điện than. Một năm, một nhà máy nhiệt điện chạy than 600 MW người ta phải dùng đến hơn một triệu tấn than, trong đó 70% là đốt hết, còn 30% là chất xỉ. Chất xỉ này phải đổ mà đổ thì gây ô nhiễm môi trường, mà không có chỗ nào mà đổ nữa! Muốn đổ phải đưa ra ngoài biển, ngoài khơi thì tốn kém.
Các nhà máy nhiệt điện than khi được xây dựng thường được nói là có lắp đặt bộ lọc tĩnh điện có khả năng lọc được tới hơn 99% lượng khói thải.
Một Báo cáo của nhóm nghiên cứu Đại học Harvard về gánh nặng bệnh tật do nhiệt điện than công bố vào năm 2015 nói rằng khi họ tìm hiểu một nhà máy đang vận hành, nhà máy này có khả năng lọc tới 99,75% và chỉ có 0,25% lượng khí thải thoát ra ngoài. Tuy nhiên, một nhà máy 1.200MW trong một ngày đêm thải ra ngoài tới 7,7 tấn bụi. Nhóm nghiên cứu này đặt ra câu hỏi rằng vậy nếu xây dựng thêm 41 nhà máy nữa thì lượng khói sẽ thải ra không khí là bao nhiêu?
"Tất cả các chất độc sẽ làm hại đất, nhưng dễ nhất là nó làm người ta thở không được, làm viêm phổi,viêm hoặc ung thư vòm họng".
- Chuyên gia môi trường Nguyễn Văn Khải

Hàng chục ngàn người “chết yểu”

Một nguồn kinh phí lớn nữa mà chuyên gia Nguyễn Văn Khải gọi là “vô hình” vì nó không nằm trong chi phí kinh tế, đó là tác động đến sức khỏe của con người. Ông nhận định:
Quanh đi quẩn lại tất cả các chất độc sẽ làm hại đất, nhưng dễ nhất là nó làm người ta thở không được, làm viêm phổi,viêm hoặc ung thư vòm họng. Bụi than xỉ than làm người ta không thể mở cửa nhà, cửa sổ.
Báo cáo của nhóm nghiên cứu Đại học Harvard nêu trên cũng đã ước tính rằng số ca tử vong sớm ở Việt Nam do ô nhiễm nhiệt điện than sẽ tăng từ 4.300 ca (năm 2011) lên 15.700 ca vào năm 2030. Nhóm này cũng tính toán nếu cả thảy 41 nhà máy nhiệt điện mà Việt Nam dự tính đều được hoàn tất vào năm 2030 thì số người tử vong sớm có thể tăng lên đến 25.000 người mỗi năm, chưa kể kèm theo đó là chi phí y tế khổng lồ do sự suy giảm sức khoẻ của người dân.
Sau khi tính toán hàng loạt các chi phí về kinh tế và xã hội trên, PGS-TS Lê Trình kết luận với chúng tôi rằng nhiệt điện chạy than giờ đây không thực sự là một giải pháp “giá rẻ” cho Việt Nam như trước nữa.RFA

Nghề truyền thống Huế ngày mỗi mai mộtMột trong những người hiếm hoi còn sót lại trong làng làm Quạt giắy truyến thống Huế

Làng quạt giấy truyền thống Huế tại xóm Chùa, đường Chi Lăng, Phường Phú Hậu, tp Huế có lịch sử hơn trăm năm nay. Nhưng hiện tại trong làng chỉ còn 3 hộ cố gắng bấu víu với nghề. O Huệ là một trong những người hiếm hoi còn sót lại trong làng làm công việc này.
“Giờ chừ ế quá họ dẹp hết”
Làm quạt tuy không khó nhưng để có được chiếc quạt hoàn chỉnh, những người thợ phải trải qua 10 công đoạn khác nhau. Một cái quạt thành phẩm được chỉ được bán với giá 1 ngàn đồng, người thợ chỉ lấy công làm lời, nhưng lãi trên mỗi sản phẩm chỉ tính bằng trăm đồng, một ngày làm việc, tiền công kiếm được chỉ khoảng 50k đồng.
“Quạt chú làm ri thì xài cũng mấy năm.  Bán thì cũng rẻ thôi, tuỳ theo giá chợ. Làm một ngày được năm ba chục ngàn tiền công chớ mấy, ít. Chú đạp xe đi bán dưới Vinh Thanh rứa, chú bán lẻ được giá hơn, bán lẻ một chục 15,000, bán sỉ 1 chục 12,000. Một cái quạt có 1500 chớ mấy”.
Thực tế cho thấy khi những chiếc quạt máy, máy lạnh trở nên phổ biến thì quạt giấy trở nên không còn hữu dụng.
“Khi trước hay cúp điện ngoài tê họ vô đây đóng là cả xóm ni coi như thanh niên đi lãnh về đan thuê cho họ. Chừ ế vì điện có thường xuyên, thời trước điện năng cúp họ cần tới cái quạt nhiều, chừ cũng có mà phải đi xa bán nhưng cũng lai rai rứa thôi.”
Trước đây, cả xóm Chùa ai cũng biết làm quạt, từ mấy đứa nhỏ cho tới người lớn. Nhiều người từ nơi khác còn tới để học nghề. Nhưng giờ chẳng ai mặn mà với nghề này nữa.
“Mấy người già đầu nớ, có 3 nhà làm, còn người trẻ ít tiền hắn đi làm cái khác hắn mai một thì thôi, kiếm cái khác làm mụ làm ông tự đi bán, vì cái quạt ni hắn bình thường, còn quạt xếp thì khách hắn mới mua.”
Cùng chung cảnh ngộ với quạt giấy xóm Chùa, hiện nay làng ngói Nam Thanh ở xã Hương Toàn, thị xã Hương Trà, TT Huế từng là nơi sản xuất ngói lợp cho các lăng tẩm dưới thời nhà Nguyễn, nhưng hiện nay nghề này cũng mai một dần.
Nhu cầu làm ngói vẫn có nhờ việc trùng tu cố đô, nhưng người dân nơi đây gặp khó khăn trong việc mua đất về làm nguyên liệu và để tiếp tục sản xuất họ gặp quá nhiều vướng mắc hành chính từ phía chính quyền.
“Chừ bên đại nội kêu gọi gạch ngói để xây mà chừ ở đây không có đất nên cũng chịu. Kỳ trước về đây là lò mô lò nấy chật cứng.”
“Làng nghề truyền thống mà chừ thất nghiệp, sân bãi làm đẹp lắm mà chừ không có đất làm dân đi tản mát hết để sân để bãi cỏ lên lút hết kìa. Họ không bán đất, đất đai không có họ nghỉ hết, chủ lò họ nghỉ hết. Chủ lò đi mua đất mà họ không bán kêu bị ô nhiễm. Mỗi lò là họ chụm ngói liệt lên chỗ đại nội với chùa chiền, mà đất họ không bán thì chủ lò thất nghiệp nên nhân công cũng thất nghiệp theo luôn.  Người thì đi làm thuê làm mướn, ở nhà trông con trông cái, có việc mô mà làm ăn, thất nghiệp đói hết.”
Truyenthong01
Người làng Nam Thanh gắn bó với nghề thủ công nghiệp. RFA
Hơn trăm năm nay, người làng Nam Thanh gắn bó với nghề thủ công nghiệp. Vì đó nên họ không có đất nông nghiệp để canh tác, việc thất nghiệp kéo dài là không tránh khỏi và tương lai của các hộ trong làng cũng mù mịt.
“Làng 100 hộ mà 60 hộ là thủ công nghiệp còn 40 hộ là nông nghiệp, chừ không có đất thì mạnh ai đi nấy, người thì thợ nề, kẻ thì đi ở, người thì đi làm thuê làm mướn ở Quảng Trị, Quảng Bình chứ không là thất nghiệp. Cái ni cũng kiến nghị ra tới tỉnh ra tới trung ương nhưng cũng chịu.”
Hiện nay, dự án trùng tu đại nội Huế là một trong những hi vọng cuối cùng của người dân để giữ lại nghề truyền thống.
“Giờ ở trên thành nội kêu gọi, tư gia nào có khả năng thì cung cấp cho thành nội chứ không làm tập thể nữa. Con cái chừ bỏ đi hết”
Làng văn hóa Nam Thanh dưới thời triều đình nhà Nguyễn ban tặng 7 sắc phong, bao gồm 3 sắc phong dưới thời vua Duy Tân và 4 sắc phong dưới thời Khải Định do có công sản xuất nhiều gạch ngói cung cấp cho việc xây dựng kinh thành.
Nhiều dân làng tỏ ra tự hào với quá khứ, muốn nghề xưa vẫn dược duy trì thế nhưng không ai có thể cưỡng lại thực tế phát triển của xã hội. Có chăng mong muốn của họ là những nhà quản trị xã hội thấy trước mọi xu thế và có kế hoạch giúp cho dân chúng ổn định cuộc sống trên mảnh đất truyền thống quê nhà.RFA

No comments:

Post a Comment