Tuesday, August 1, 2017

Bài viết hay(5245)


Câu chuyện dạy và học võ ở Việt NamTrẻ em theo học các lớp võ cổ truyền ngày một nhiều

Tinh thần thượng võ, con nhà võ, ứng xử theo phong cách nhà võ… Tất cả những khái niệm này đều ám chỉ nghĩa cử cao đẹp của con người, muốn nói đến nguyên tắc giúp kẻ yếu thế hơn mình và không luồn cúi, hạ mình trước cường quyền. Cho con em đi học võ cũng đồng nghĩa với việc tôi luyện đạo đức, tính nhẫn nại và lòng yêu thương cho con em mình. Hiện tại, sau câu chuyện thách đấu của võ sĩ Pierre Francois Flores với các võ sĩ Việt Nam. Một lần nữa, câu chuyện đạo đức và hành xử con nhà võ lại dấy lên, bắt nguồn từ câu chuyện này.

Số lượng võ sư và chuẩn võ sư tăng đột biến

Võ sư Huỳnh Tiến Lập, Chưởng môn Ngũ Phụng Sơn, một trong năm võ đường cứu nguy miền Trung trong thời gian võ đài còn thịnh hành tại Việt Nam, chia sẻ:
“Hiện tại cách quản lý các võ đường tại Việt Nam là theo nguyên tắc phải phụ thuộc vào Liên Đoàn Võ thuật Việt Nam, bên dưới là Tỉnh hội, mọi vấn đề đều tùy thuộc vào đây. Ở các võ đường, người ta hoạt động theo võ phái , dưới sự dẫn dắt của các Chưởng Môn và Trưởng tràng và hội đồng môn phái, hội đồng kĩ thuật... Có một điều đáng buồn là hiện nay, có số xứng đáng vị trí võ sư tại Việt Nam nếu tính cho kĩ thì chừng 20 người thôi chứ không nhiều đâu. Nhưng cái danh võ sư thì tại Việt Nam hiện nay lên đến con số hàng ngàn người và chuẩn võ sư thì cả chục ngàn chứ không ít. Về trình độ võ học cũng như đạo đức nhà võ của các võ sư đại trà và các chuẩn võ võ sư cũng có lắm vấn đề để bàn... Khó nói lắm!...Các võ sĩ bây giờ chất lượng cũng kém lắm!”.
Có một điều đáng buồn là hiện nay, có số xứng đáng vị trí võ sư tại Việt Nam nếu tính cho kĩ thì chừng 20 người thôi chứ không nhiều đâu. - Võ sư Huỳnh Tiến Lập
Võ sư Huỳnh Tiến Lập chia sẻ thêm là ông thực sự trăn trở về danh xưng võ sư cũng như cái điều gọi là chuẩn võ sư trong hiện tại. Bởi một mặt, trình độ võ thuật của các võ sư hiện tại đều có vấn đề, họ chỉ cần học những bài quyền phổ biến trên toàn quốc, học một số thế công phá theo yêu cầu của Liên Đoàn Võ thuật và nộp đơn xin thi lấy bằng võ sư, chuẩn võ sư hoặc huấn luyện viên.
Điều này dẫn đến tình trạng có rất nhiều võ sư, chuẩn võ sư có đầy đủ trình độ võ thuật về mặt lý thuyết và biểu diễn nhưng lại không có thực lực chiến đấu. Trong khi đó, võ thuật là một loại hình nghệ thuật, một bộ môn mà ở đó, yếu tố cứu người phải cao hơn yếu tố đánh người. Muốn cứu người, trước tiên phải có khả năng đáp trả, tự vệ trước những kẻ muốn tấn công, lấy mạnh hiếp yếu. Và muốn có khả năng này, không còn cách nào khác là phải trau dồi, tập luyện, phải kinh qua thực chiến để rút kinh nghiệm và nâng cao trình độ võ thuật.
Rất tiếc, hiện tại khả năng cứu người của giới võ sư tại Việt Nam rất hiếm và thấp. Bởi ngoài yếu tố bảo vệ người yếu thế hơn mình, trình độ khoa học võ thuật cũng cần phải trau dồi thì các võ sư mới có thể cứu người. Từ việc nghiên cứu huyệt đạo, nghiên cứu về y học và cơ địa, nhân thể học, cho đến đạo đức học, triết học. Một võ sư chân chính phải am tường tất cả các môn này. Nhưng ai chưa trang bị đủ các môn này thì khó có thể gọi là võ sư và cũng khó có thể cứu người được.
Võ sư Huỳnh Tiến Lập tỏ ra không hài lòng với trường hợp gần đây, các võ sĩ như Flores, Đoàn Bảo Châu, Trần Lê Hoài Linh đã thách đấu và quay video clip tung lên mạng một cách vô tư, không suy nghĩ. Bởi theo võ sư Lập, việc tung ra đòn đánh cũng giống như một cú nhấp chuột Enter cho cả một qúa trình dài lập trình trước đó trên máy tính, không thể enter khi lập trình chưa hoàn thiện cũng như không thể enter cho những con virus xâm nhập vào máy tính. Chính vì vậy, trước khi có trận đấu, các võ sư phải suy nghĩ thật kĩ không phải cho việc thắng – thua hay sức mạnh của cá nhân hay võ đường, môn phái. Mà là phải suy nghĩ thật kĩ cho hiệu ứng xã hội, đạo đức xã hội, đặc biệt là đạo đức của thế hệ trẻ.

Đạo đức nhà võ thời kinh tế thị trường

Thời bây giờ, nhìn chung đạo đức xã hội đã xuống cấp trầm trọng quá, mà trong đó đạo đức nhà võ thì cũng rối rắm. - Võ sư Nguyễn Văn Hưng
Cựu võ sĩ Nguyễn Văn Hưng, người từng tham chiến rất nhiều trận đài ở miền Nam Việt Nam những năm thập niên 1970 và 1980, chia sẻ:
“Nói về võ thuật, cái đức phải đứng đầu, sau đó là kĩ năng tôi luyện. Thời bây giờ, nhìn chung đạo đức xã hội đã xuống cấp trầm trọng quá, mà trong đó đạo đức nhà võ thì cũng rối rắm. Trường hợp như võ sư tuyên bố mình phát ra điện rồi sau đó bị thách đấu lại rút lời. Mà đáng sợ là cái chiêu ông võ sư này nói chỉ là một chiêu trong truyện của Kim Dung. Bây giờ người ta hay bị đồng tiền chi phối nảy sinh ra những con người không có lòng tự trọng, tạo ra những cái hư ảo, vỏ bọc chiêu trò như lấy năng lượng không gian để đánh như truyền điện vậy, đó là một điển hình xuống cấp, không có lòng tự trọng, tạo ra sự chú ý để thu hút người tới học, để lấy tiền... Đó, đạo đức xuống cấp nặng rồi!”.
Ông Hưng chia sẻ thêm, sở dĩ ông phải giải nghệ với võ đài bởi ông không còn thích hợp với cái thời võ thuật và cơm áo gạo tiền kết hôn với nhau. Và có vẻ như cơm áo gạo tiền đã đóng vai một bà vợ vừa đỏm dáng lại vừa ưa hiếp chồng. Điều này khiến cho sự đoan chính và lòng tự trọng của ông chồng nhanh chóng tiêu tan. Từ chỗ hãnh tiến, kiêu mạn và thanh liêm, ông chồng võ thuật trở nên quờ quạng trước bà vợ cơm áo gạo tiền.
Chuyện một võ đường thu hút võ sinh bằng những chiêu thức PR rẻ tiền không còn là chuyện  lạ lẫm, hiếm hoi trong giới võ thuật hiện nay. Về chuyện tu luyện các chiêu thức chỉ có trong truyện kiếm hiệp của Kim Dung để thực hành trong xã hội hiện đại là chuyện không thể có thật, thậm chí đó là một loại ảo giác nhà võ. Và để thu hút võ sinh bằng các chiêu thức đầy tính hoang đường mà không có thực chứng là điều tối kị trong đạo đức nhà võ. Nhưng một số Chưởng môn đã vấp phải điều này.
Ông Hưng tỏ ra lo lắng khi đạo đức xã hội đang ngày càng xuống thấp, bạo lực xã hội gia tăng, và dù nhìn theo góc độ nào thì các võ đường trên khắp đất nước này vẫn đóng vai trò không nhỏ trong việc cân bằng đạo đức xã hội và điều tiết bạo lực. Bởi không học thì thôi, một khi đã được học võ, các võ sinh phải được dạy thật kĩ bài học về đạo đức, về danh dự làm người và về sức nặng của tiếng nói cá nhân, của uy tín. Nhưng thử hỏi một khi có một Chưởng môn nào đó đã vì đồng tiền bát gạo, đã tạo ra một ảo giác võ thuật bằng sự gian dối của họ để thu hút võ sinh thì liệu các môn sinh của họ có đảm bảo được dạy tốt đạo đức, có trở thành võ sĩ đúng nghĩa được hay không?
Ông Hưng nói rằng ông thực sự trăn trở khi đạo đức xã hội đang ngày một thêm xuống cấp mà trong giới võ thuật lại ngày càng xuất hiện thêm những câu chuyện hoàn toàn đi ngược với đạo đức nhà võ, đi ngược với lương tri con người. Đây là một vấn đề đáng lo ngại.
Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Ngư dân Việt nói gì về cảnh sát biển Indonesia

Tàu vềTruyền thông trong nước loan tin vào ngày chủ nhật 23 tháng 7, bốn ngư dân Việt Nam bị Cảnh sát biển Indonesia bắn bị thương khi đang đánh bắt trên vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam. Tuy nhiên hai ngày sau phía Indonesia lên tiếng bác bỏ nói rằng chỉ bắn cảnh cáo khi phát hiện một chiếc tàu của ngư dân Việt Nam xâm phạm lãnh hải của Indonesia.
Nhóm phóng viên RFA nói chuyện được với một ngư dân từng mấy lần gặp lực lượng tuần duyên Indonesia cho biết lại thực tế đối với bản thân và những bạn đi biển khác

Bị kéo tàu, chuyện bình thường

Ông Lê Đức Anh, ngư dân Bình Thuận, chia sẻ:
"Họ vào vùng biển của mình gặp chiếc nào là bắt chiếc đó, tàu giã cào cũng bắt. Bắt xong là họ kéo qua vùng biển của họ và quay phim. Quay phim xong rồi họ yêu cầu tài công theo tàu của họ chạy qua bên đảo luôn; nhưng mình không biết đảo nào hết!”
Ông Anh cho biết thêm là trường hợp tàu cá Việt Nam bị tàu cảnh sát biển Indonesia nhầm hoặc cố tình kéo về vùng biển của họ, sau đó chụp ảnh, lùa ngư dân lên tàu cảnh sát và cho chủ tàu lái tàu chạy theo họ vào một đảo nào đó của Indonesia, từ đó nhốt tàu là chuyện xảy ra thường xuyên. Với ba lần bị bắt theo kiểu này, ông Anh cho rằng cảnh sát biển Indonesia hoặc cố ý, hoặc hiểu nhầm do trước đó có một số tàu của Việt Nam tiến sang vùng biển Indonesia để đánh bắt, khi thấy cảnh sát của họ thì chạy trốn về phía Việt Nam, họ tiến thẳng sang Việt Nam và kéo bất kì tàu cá Việt Nam nào mà họ gặp.
Như trường hợp mới xảy ra gần đây nhất với ông Anh, tàu của ông là một tàu giã cào và lặn các loại hải sản ở vùng nước sâu. Ông đang đánh ở ngay vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam. Lúc các ngư dân đăng lặn nghêu thì tàu cảnh sát biển Indonesia tiến đến cặp vào tàu của ông. Đợi các ngư dân lặn được gần đầy nghêu thì họ móc xích vào tàu, kéo thẳng về vùng biển của họ và chụp ảnh, lập biên bản, bắt ngư dân Việt Nam ký vào đó và kéo thẳng về nước của họ.
Họ vào vùng biển của mình gặp chiếc nào là bắt chiếc đó, tàu giã cào cũng bắt. Bắt xong là họ kéo qua vùng biển của họ và quay phim. - Ngư dân Lê Đức Anh
Tàu của ông bị nhốt ở Indonesia gần nửa năm, trong thời gian đó, các ngư dân được cung cấp gạo, nước mắm để sống qua ngày. Riêng gạo, nhắc đến nó là ông muốn ê răng bởi không hiểu loại gạo gì mà sạn nhiều không thể tưởng tượng được. Cho dù có đãi sạn trước đó rất kĩ thì khi ăn cơm, nếu nhai không nhẹ một chút sẽ bị mẻ răng sau tiếng cốp phát ra từ miệng.
Hằng ngày, các ngư dân bị đánh thức lúc 5 giờ sáng và chạy bộ, tập thể dục để giữ sức khỏe, tránh bệnh tật và không được uống rượu, bia. Có một số chủ tàu Trung Quốc cập bến gần chỗ tàu Việt Nam bị bắt nhốt thường gạ các thuyền viên Việt Nam tháo trộm phụ tùng trên tàu để bán cho họ hoặc đổi rượu, bia, thuốc lá. Và hầu hết các chủ tàu Việt Nam sau khi bị bắt, chiếc tàu được thả ra hoặc không còn gì, phải bỏ luôn, hoặc phải bổ sung phụ tùng, có khi lên đến hàng trăm triệu đồng mới chạy được.
Thường thì ngư dân Việt Nam ra khơi luôn trong tình trạng cô độc bởi thiếu sự bảo vệ của cảnh sát biển Việt Nam. Cảnh sát biển Indonesia luôn có mặt trên vùng biển của họ thì ngược lại cảnh sát biển Việt Nam hiếm khi có mặt trên vùng biển Việt Nam, đó là một thực tế.

Cảnh sát biển Việt Nam đi đâu?

Bày tỏ quan điểm về tình trạng bốn ngư dân Việt Nam vừa bị tàu cảnh sát Indonesia bắn, ông Anh chia sẻ thêm:
“Không có một cảnh sát biển nào của mình hết. Họ nằm trên vùng Trường Sa chứ còn ráp ranh Mã Lai… không có ai luôn. Nhưng cảnh sát biển của họ thì nhiều lắm, cứ mỗi tuần họ lại thay phiên: anh trực một tuần thì anh vô, tui ra.”
Ông Anh cho rằng bản thân ông không hề ngạc nhiên khi ngư dân Việt Nam bị cảnh sát Indonesia bắn. Bởi việc bắn hay bắt diễn ra quá dễ với họ. Thường thì mỗi nhóm cảnh sát trực một tuần ngoài khơi Indonesia, hết phiên thì có tàu khác ra trực thế và tàu kia lại vào nghỉ ngơi. Vùng biển các nước trong khu vực luôn có tàu cảnh sát biển tuần tra mỗi ngày, riêng Việt Nam thì hiếm khi có tàu cảnh sát biển tuần tra.
Không có một cảnh sát biển nào của mình hết. Họ nằm trên vùng Trường Sa chứ còn ráp ranh Mã Lai… không có ai luôn. - Ngư dân Lê Đức Anh
Và ông Anh cũng khẳng định thêm là chính vì việc ít tuần tra, dẫn đến lượng xăng dầu dư thừa và một số cảnh sát biển bán xăng dầu cho ngư dân để đổi các loại hải sản quí hiếm, tìm một chỗ nào đó kín đáo để tổ chức ăn nhậu. Vì Cảnh sát biển Việt Nam hầu như vắng mặt trên vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam nên mỗi khi các ngư dân bị rượt đuổi, chỉ còn cách bỏ chạy, nếu không chạy kịp thì bị bắt. Mà thường là bị bắt trong lúc đánh cá ngay trong vùng biển Việt Nam, sau đó họ kéo tàu về vùng biển của họ để chụp ảnh làm bằng chứng và bắt nhốt.
Ông Anh cho rằng đó cũng là một chiến thuật xâm chiếm vùng biển một cách khôn khéo. Nghĩa là cứ bắt ngư dân Việt ngay tại vùng biển Việt Nam ở các khu vực giáp ranh, sau đó tìm bằng chứng giả để nhốt, làm nhiều lần như vậy thì ngư lùi dần vào thềm lục địa và phần biển giáp ranh giữa Việt nam và Indonesia sẽ lệch dần về phía Việt Nam.
Ông Anh tỏ ra bức xúc bởi nếu như có sự can thiệp cũng như sự có mặt thường xuyên của lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam thì nhất định cảnh sát biển Indonesia sẽ không thể lộng hành như đang có. Nhưng nghiệt nỗi, mỗi khi có sự cố gì cho ngư dân Việt Nam thì chẳng thấy cảnh sát biển Việt Nam nào có mặt, phía nước bạn muốn làm gì thì làm.
Như để kết câu chuyện, ông Anh khẳng định là cảnh sát biển Việt Nam vắng mặt thường xuyên trên vùng biển Việt Nam, đặc biệt là vùng giáp ranh Việt Nam với Indonesia, ngược lại, cảnh sát biển Indonesia luôn có mặt tại vùng giáp ranh này. Và hầu hết các cuộc bắt bớ ngư dân Việt Nam đều diễn ra trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Nhưng ngư dân Việt Nam đành chịu thua thiệt!Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

Vùng biển Tuy Phong thời nhiệt điệnVùng biển huyện Tuy Phong tại khu vực Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2.

Cư dân vùng biển huyện Tuy Phong lâu nay gắn bó với nghề biển tuy nhiên  kể từ khi Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đi vào hoạt động, họ cho biết phải gặp nhiều xáo trộn.

Tác động nhiều ngành nghề

Vùng biển Tuy Phong là nơi giáp ranh giữa hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận với trữ lượng hải sản dồi dào, ngư dân trước đây chưa bao giờ thiếu cá, nhưng từ 2 năm nay, sau khi nhà máy điện Vĩnh Tân đi vào hoạt động, những ngư dân địa phương mà chúng tôi nói chuyện cho biết thực tế số cá đánh bắt được:
“Cá bạc má, cá mình đi lưới vây, năm nay không có gì hết, đi mấy bữa vô năm ba kí cá, bán đủ ăn qua ngày, có bữa dô không đủ cá nấu phải lên chợ mua cá ăn, thảm, thảm không ra gì hết.
Chả biết làm sao, năm bữa tới hôm giờ cá không có luôn.
Mấy năm trước làm cũng được, có bữa năm ba trăm có bữa khá thì kiếm được triệu.”
Mọi năm làm ăn được cũng khá, từ hồi nhà máy nhiệt điện làm ở đó thì mất cá mất tôm luôn à.
-Một người dân
Không chỉ đối với ngư dân đánh bắt cá biển, mà  một số ngành khác như nuôi tôm giống hay tôm lồng cũng chịu tác động:
“Mấy cái nhà nuôi tôm phải chạy tàu ra ngoài khơi hút nước đem vô chứ nước sát biển không nuôi được nữa, ô nhiễm tôm chết.”
Đối với các hộ dân nuôi tôm lồng bè xung quanh, hiện tượng tôm chết bất thường gây thất thu làm họ hoang mang, một số người phải bỏ đi nơi khác, một số cố bám trụ trong cảnh ngèo đói:
“Hai năm nay là đói hơn mấy năm trước, không có gì hết, không biết làm sao mà tôm không có sinh sản được nữa.
Mọi năm làm ăn được cũng khá, từ hồi nhà máy nhiệt điện làm ở đó thì mất cá mất tôm luôn à, mấy năm là nhờ tôm đó chớ, mấy chỗ này thả là tôm nó bu vô nè mà năm nay nó bỏ bờ hết, không có.”
Các cánh đồng muối bạt ngàn xung quanh nhà máy đứng trước nguy cơ phải sử dụng nguồn nước biển không đảm bảo để sản xuất. Ngành làm nước mắm Cà Ná, cũng giống như ngành làm muối, đã có truyền thống từ lâu đời, sử dụng cá và muối đánh bắt từ vùng biển địa phương, đang đối mặt sự e ngại từ người tiêu dùng. Trước đây trên tuyến quốc lộ 1A đi ngang làng mắm Cà Ná, các du khách thường hay dừng chân để mua đặc sản mắm Cà Ná nổi tiếng, nhưng nay dường như chẳng ai màng dừng lại, xung quanh, các cửa hàng đóng cửa im lìm, một số cửa hàng lớn có mắm xuất khẩu hay thị trường tiêu thụ manh hơn vẫn mở cửa nhưng không có ai vào mua bán tại chỗ.
FEATURE01.Still003.jpg
Công ty Nhiệt điện Vĩnh Tân. RFA PHOTO
Những chủ thuyền phải vay ngân hàng để đóng tàu nhưng nay phải nằm bờ hết sức lo lắng vì không biết xoay đâu ra để trả cả gốc lẫn lãi:
“Vay ngân hàng mà ghe đậu bờ thì tiền lãi đẻ ra nhiều có mà chết thôi.”
Nhiều chủ tàu phải chọn cách đi đánh bắt xa bờ để duy trì kế sinh nhai cho bản thân cũng như người làm công:
“Nhà chị tàu đánh cá phải đi xa chứ làm đây không được. hai mươi mấy người đi một ghe, hễ một người đi là nuôi cả gia đình đó, mà một chiếc ghe là biết bao nhiêu gia đình.  hễ không có là người ta chết đói hết.”

Quá nhiều bất cập

Tuy vậy, nghề đi biển đầy rủi ro khiến nhiều người trong ngành này nay không còn mặn mà nữa; nhất là khi họ có thể kiếm được công việc trên bờ:
“Đi tìm bạn không có bạn để làm nữa, ghe đó người ta nằm bờ không có bạn đi biển là do ở dưới nhà máy nhiệt điện người ta đi làm cái đó bỏ.
Từ ngày nhà máy nhiệt điện làm lên là không có bạn đi biển, hồi đó ghe mình là bạn nó tới hỏi đông lắm, nhưng giờ công nhân lao động người ta bỏ ghe đi biển.
-Một người dân
Từ ngày nhà máy nhiệt điện làm lên là không có bạn đi biển, hồi đó ghe mình là bạn nó tới hỏi đông lắm, nhưng giờ công nhân lao động người ta bỏ ghe đi biển.”
Thực tế cho thấy, ngoài những mặt lợi từ nhà máy điện Vĩnh Tân được phía chính quyền đề cập như tăng cường điện năng, giải quyết công ăn việc làm cho một số người dân địa phương… thì còn quá nhiều bất cập mà chính người dân địa phương nêu ra:
“Điện thì chị không biết, giá cả vẫn vậy chứ cũng đâu có rẻ hơn cho dân nhà, dân Cà Ná không có nhà máy nhiệt điện thì vẫn dùng điện bình thường.
Kéo dài 2 năm nay rồi, ghe người ta làm ăn không có cái đổ nợ người ta bỏ làng đi.
Dân thì không có biết chờ cấp trên đi họp giải quyết chứ dân người ta nói không được.”
Trong khi những thực tế xảy ra sau khi nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 đi vào hoạt động gây nên chưa giải quyết xong; thì dân chúng địa phương tại Tuy Phong lại nghe tin Bộ Tài nguyên - Môi trường đồng ý cho phía điện lực đổ gần 1 triệu mét khối bùn, cát nạo vét xuống biển Bình Thuận gần khu bảo tồn Hòn Cau.
Giới chuyên gia và người dân được hỏi ý kiến đều cho rằng đổ bùn cát xuống biển chắc chắn tác động đến môi trường và từ đó gây ảnh hưởng bất lợi cho kế mưu sinh của dân địa phương.
Chân Như, phóng viên RFA

Đời sống khó khăn của lao động miền TrungLực lượng lớn cảnh sát được huy động đến khu vực Vũng Áng, ảnh chụp hôm 30/6/2016.

Kể từ lúc các tỉnh Bắc miền Trung xuất hiện các nhà đầu tư Trung Quốc với hàng loạt dự án hứa hẹn về đời sống ấm no, phát triển, văn minh, tiến bộ cho người dân nơi đây đến nay, có thể nói rằng đời sống của người lao động Bắc miền Trung ngày càng trở nên bi thảm, khó nói. Tình trạng người lao động Bắc miền Trung bị ép chế, bị thất nghiệp và bị thiệt mạng không những không thuyên giảm mà có dấu hiệu tăng cao trong thời gian gần đây.

Giới công chức nói gì?

Một cán bộ lãnh đạo công chức ngành Lao động và Thương Binh, xã hội tại Quảng Bình, bộc bạch cảm nhận của ông và yêu cầu không nêu danh tính:
“ Bảo vệ người lao động ở Việt Nam là một vấn đề nhức nhối mà không nói thì không được mà nói thì đụng chạm, mà mình cũng làm cơ quan nên càng khó. Nhưng rõ ràng cái gì thì con người phải được đặt lên trên hết, không riêng gì vụ hai anh thủy thủ vừa rồi bị Abu Sayyaf giết hại bên kia mà ngay cả lao động trong nước cũng bị giới chủ ép chế đủ điều. Đó là thiếu một chính sách chung dành cho người lao động , nếu như không kịp đưa ra chính sách mới thì sẽ có nhiều vấn đề sau này khó mà lường được.”
Theo vị này, người lao động Việt Nam, dù có soi chiếu trên bất kì góc độ nào cũng thấy họ thiệt thòi và đau khổ. Đặc biệt, kể từ khi vụ các công nhân bị sập giàn giáo ở Formosa, rồi hai công nhân của mỏ đá Hùng Đại Dương ở huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái bị đá đè chết mà báo chí hoàn toàn không có thông tin bởi đây là một công ty của Ấn Độ làm chủ đầu tư, họ không cho báo chí vào và họ đã thu xếp ổn thỏa. Rồi gần đây là vụ hai thủy thủ người Việt Nam là Hoàng Trung Thông và Hoàng Văn Hải bị Abu Sayyaf sát hại ở Phillipines và vụ các lao động Việt Nam vượt biển từ Trung Quốc sang Đài Loan để làm thuê, bị chìm tàu, mất tích trên eo biển Đài Loan… Những chuyện này khiến ông đau lòng và cảm thấy bản thân mình có lỗi mặc dù ông chưa từng tiếp xúc hay có trách nhiệm liên đới nào với họ.
Bảo vệ người lao động ở Việt Nam là một vấn đề nhức nhối mà không nói thì không được mà nói thì đụng chạm, mà mình cũng làm cơ quan nên càng khó - Một cán bộ ngành Lao động và Thương Binh, xã hội tại Quảng Bình 
Ông nói rằng ông thấy mình có lỗi bởi ông là một đảng viên Cộng sản với đầy đủ lý tưởng về một xã hội tốt đẹp mà trên lý thuyết, đảng của ông vẫn luôn giữ quan điểm “chủ trương lớn của đảng là nhân bản, những sự cố nhỏ là ngoài ý muốn”. Nhưng rồi ông cũng tự nhìn ra có một điều gì đó bất ổn trong lý thuyết này, trong cái mà người ta vẫn gọi là “chủ trương lớn” này. Bởi chủ trương nào không cần biết, nhưng sinh mạng của con người luôn phải đặt lên trên hết, có con người mới có những thứ do con người nghĩ ra như chính trị, văn hóa, văn minh, triết học, chủ nghĩa xã hội khoa học…
Với ông, chuyện bưng bít thông tin về số phận các lao động bị bắt cóc, bị giết là một việc làm phi đạo đức, thiếu tình người, dù đứng trên góc độ nào để đánh giá cũng thấy như vậy. Ông khẳng định là nếu mọi chuyện được công khai là chỉ nửa tháng ông sẽ cứu được các con tin hoặc giúp cho gia đình nạn nhân cứu các con tin dễ dàng vì ông căn cứ vào tình cảm xã hội, vào lòng tốt của người Việt hiện nay.
Ông nói rằng người Việt hiện nay có thể xấu về tính cạnh tranh, xấu về tính đấu tố, xấu về tính bạo lực cũng như nhiều thói xấu khác do thời kì cạnh tranh bao cấp đầy đói khổ cũng như thời kì cạnh tranh kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đầy khốc liệt phe nhóm gieo rắc. Nhưng người Việt vẫn giữ trong tâm hồn mình một nét đẹp không phải dân tộc nào cũng có được, đó là tính chia sẻ, điển hình là trận hồng thủy do thủy điện xả đập cuối năm 2016 đã được cộng đồng người Việt hải ngoại và người Việt trong nước chung tay cứu giúp rất mạnh. Nhờ biết chạm đến tinh thần “lá lành đùm lá rách, bầu ơi thương lấy bí cùng” mà Phan Anh đã vận động được vài chục tỉ đồng, nhiều nhà cứu trợ khác cũng vận động được số tiền không nhỏ.
Trở lại câu chuyện các con tin Việt Nam bị Abu Sayyaf bắt cóc. Vị cán bộ này nói rằng nếu như mọi chuyện được công khai và nhà nước quyết tâm cứu các con tin hoặc công khai thông tin, kêu gọi tìm hướng giải quyết thì riêng ông, ông sẽ đăng đàn, sẽ kêu gọi người dân toàn quốc góp tay trong lúc dầu sôi lửa bỏng, lúc mà mạng người ngàn cân treo sợi tóc như thế này, chỉ trong vòng 15 ngày sẽ đủ tiền để chuộc con tin.
Bởi dân số Việt Nam ngót nghét 100 triệu dân, ông sẽ nói rõ hoàn cảnh và thuyết phục mọi người về ý nghĩa của việc cứu người, sau đó kêu gọi nhân dân hãy vì mạng người là trên hết, mỗi người dân đóng góp 5 ngàn đồng. Gần 100 triệu dân, sẽ có người đóng, người không đóng và có người đóng 5 ngàn, có người đóng 500 ngàn, thậm chí hơn. Như vậy, trong vài ngày là đã có đủ số tiền để chuộc mạng người. Và qua lời kêu gọi đóng góp, người dân lại biết thêm một câu chuyện về mối nguy khi đi biển, mối nguy của người lao động để mà rút kinh nghiệm. Một công đôi chuyện. Nhưng rất tiếc, đó chỉ là sự tưởng tượng của ông và nó không bao giờ thành hiện thực được mặc dù nó nhân đạo!

Bao giờ người lao động thôi khổ đau?

Một người tên Nguyên, từng làm công nhân trong quá trình xây dựng Formosa Hà Tĩnh, chia sẻ: “Hà Tĩnh, Quảng Trị, Quảng Bình, ai cũng vất vả, giá thị trường giờ bấp bênh quá. Như đủ ăn hạt gạo nhờ mình tự trồng là quý lắm rồi. Không có tiền nhưng các khoản đóng như làm đường rồi các khoản nhà nước yêu cầu đóng thì nhiều lắm. Thời sự thì vẫn đưa tin là hải sản tầng đáy chưa khai thác được. Người quen của tôi dựa vào biển để sống giờ không biết làm gì. Các vùng thì ô nhiễm, như vùng Hương Khê này thì rác thải nó đổ đầy đường.”
Ông Nguyên nói rằng cái điều mà người ta gọi là phát triển ở Hà Tĩnh, theo ông thấy chẳng có gì ngoài giá đất tăng vùn vụt. Mà giá đất tăng thì người ta bán đất để rồi kinh doanh hay mua sắm, thậm chí ăn chơi, điều đó có cảm giác như tâm thức của người ta bị đảo lộn bởi phần văn hóa, phần tính người chưa kịp trở tay với một cục tiền lớn rơi vào nhà. Cuối cùng thì anh em cạch mặt nhau vì đất đai, cha mẹ, con cái không nhìn nhau cũng vì chia chác đất đai và thậm chí anh em sát hại nhau cũng vì đất đai.
Ngoài yếu tố gia đình bị phá vỡ, mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân cũng bị phá vỡ hoàn toàn bởi cán bộ thì trí trá với dân, nhà đầu tư thì mượn hơi công an để đàn áp dân, cuối cùng, kẻ được lợi là các nhà đầu tư người nước ngoài, trong đó kẻ được nhiều nhất vẫn là nhà đầu tư Trung Quốc.
Hiện tại, các gia đình ngư dân vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn kể từ sau khi biển miền Trung bị nhiễm độc, các lao động ở đây phải trốn sang Lào, Trung Quốc để làm thuê cứu gia đình và mối nguy hiểm từ việc này không phải là nhỏ.Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

No comments:

Post a Comment