Wednesday, August 9, 2017

Bài viết hay(5277)

Lâu nay tui rất bực mình với đám bảo hiểm xe cộ khi tụi nó chỉ biết lấy tiền của mình chứ không muốn mất xu nào cho khách hàng. Thằng Tàu đụng đít xe tui rồi bỏ chạy theo kiểu "hit and run" chứ nào phải tui muốn bồi thường để kiếm tiền bẩn thỉu? Vô parking lot của shopping center nào có nhiều người châu Á là tui sợ lắm mà cũng không tránh khỏi những đứa lái xe xịn mà ẩu vô cùng. Vậy mà bảo hiểm tăng phí lên ngay sau khi họ trả tiền cho tui sửa xe. May mà tui chưa đi chiropractor hay luật sư để kiếm chút cháo. Chó đẻ làm sao khi nó còn kiếm chuyện khi nói tui lái xe đi chơi nhiều quá nên mileage cao quá. Mua xe về để lộng kiếng trong garage hả? 

Chuyển đổi mô hình góp phần kéo dài sự cầm quyền của một chính phủ VN thành công

Trong hệ thống chính trị tổng thống, mối lo ngại xuất hiện một chế độ độc tài khiến cho các nhà thiết kế hệ thống chính trị có xu hướng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống. Việc giới hạn số nhiệm kì của tổng thống là cần thiết nhằm hạn chế sự xuất hiện độc tài, nhưng cách làm này bộc lộ hai điểm yếu đó là: một, trong trường hợp một nội các làm được việc và trẻ trung, việc giới hạn nhiệm kỳ vô tình bỏ đi một đội ngũ lãnh đạo thành công; và hai, sự thay đổi một nhóm lãnh đạo nhiều khả năng sẽ dẫn đến các thay đổi về chính sách khiến làm gián đoạn sự phát triển của một đất nước. Đó là lý do mà ở một số nước phát triển vượt bậc nhanh chóng như Đức hay Nhật sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai, vai trò cầm quyền liên tục của một đảng hay liên minh cầm quyền thành công đóng một vai trò rất quan trọng. 

Ban lãnh đạo mới của Việt Nam sau Đại hội Đảng XII năm 2016

Hệ thống nghị viện do đó cho phép kéo dài sự cầm quyền của một chính phủ thành công. Mối lo ngại duy nhất rằng chính phủ này có thể trở thành một đảng độc tài hay khuynh loát chính trị nên được giải quyết bằng các phương cách được thảo luận ở các phần bên trên.

Thiết lập một mô hình chính trị không giống như vẽ những nét cho một bức tranh trên một tờ giấy trắng. Chỉ trong một vài trường hợp đặc biệt mà những mô hình chính trị được áp đặt, như của Nhật và Đức sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Bất cứ một hệ thống chính trị nào cũng là kết quả của những dấu ấn lịch sử, và là một quá trình đấu tranh và thỏa hiệp giữa các thế lực chính trị với nhau. Ngay cả mô hình chính trị dân chủ của Đức và Nhật sau Chiến tranh Thế giới Thứ hai cũng đã được dựng lên dựa trên những hoàn cảnh lịch sử vốn đã từng tồn tại sao cho phù hợp với cả hai quốc gia này. Vì vậy mà sự hiểu biết về những hậu quả và kết quả của các cơ chế hoạt động trong các mô hình chính trị sẽ giúp định rõ những hướng đi cần thiết nhằm xây dựng một thể chế phù hợp để kiến tạo nên một xã hội tự do và phát triển.

Trong trường hợp của Việt Nam, cuối cùng rồi hệ thống chính trị độc tài cũng sẽ cáo chung nhường đường cho một thể chế dân chủ. Mô hình chính trị do đảng Cộng sản cầm quyền hiện nay có những cơ cấu tương tự như một mô hình đại nghị. Và vì vậy mà việc chuyển đổi mô hình hiện nay sang một mô hình đại nghị - liên bang - tản quyền kiểu Cộng hòa Liên bang Đức trở nên dễ dàng và thuận tiện. Ưu điểm của việc chọn lựa chuyển đổi sang mô hình đại nghị - tản quyền kiểu Đức không chỉ là dễ dàng, mà còn là ở đó nước Đức có những cơ cấu đặc thù tương tự với Việt Nam về mặt đông dân số, sự đa dạng vùng miền, và quan trọng nhất là mô hình chính trị Đức đã được kiểm nghiệm và chứng tỏ một sự thành công trong việc kiến tạo nên một nước Đức dân chủ và phát triển. 

Để chuyển đổi từ mô hình chính trị cộng sản hiện nay sang mô hình đại nghị - liên bang kiểu Đức, việc đầu tiên là tách đảng ra khỏi chính quyền. Sau đó chúng ta có thể gộp một vài tỉnh lân cận lại với nhau thành một đơn vị hành chính tiểu bang sao cho mỗi tiểu bang có thể tự quản lý, thu thuế và chi tiêu. Với một dân số trong tương lai lên đến 100 triệu người, Việt Nam có thể chia thành khoảng 15 tiểu bang. Quốc hội sẽ cơ cấu thêm Thượng nghị viện đại diện cho các tiểu bang. Luật bầu cử kiểu hỗn hợp theo tỉ lệ, hiến pháp, và cơ cấu tổ chức hoạt động của các cơ quan chính phủ sau đó chúng ta tham khảo từ hệ thống của Đức. 

Những hệ thống chính trị dân chủ được xây dựng trên cơ sở tham khảo, kế thừa và bổ sung những hệ thống đi trước, và một ích lợi của các nước chuyển đổi sang dân chủ đi sau đó là họ có thể học và tham khảo từ những thể chế đã chứng tỏ sự thành công của nó. Vì vậy mà việc chọn lựa và áp dụng một mô hình dân chủ đúng đắn sẽ giúp Việt Nam nhanh chóng kiến tạo nên một xã hội dân chủ sống động và một đất nước phồn thịnh trong tương lai. 

Ngăn ngừa sự thực thi các chính sách tồi dở của CQ


Một ưu tư không kém phần quan trọng trong việc thiết lập các mô hình chính trị là làm sao để ngăn ngừa các chính sách tồi dở của các chính phủ cầm quyền, nhất là trong các hệ thống chính trị dân chủ non trẻ? Hay ít nhất là bảo đảm cho hệ thống chính trị có cơ hội được thể hiện những quan điểm và cách điều hành mới, khác với tư tưởng đang thống trị? 

chữa ù tai

Có ba điểm cần quan tâm: một, cần phải bảo đảm rằng đất nước luôn có một chọn lựa khác khi đảng cầm quyền tồi; hai, ngăn ngừa các chính sách tồi được thực thi; và ba, bảo đảm rằng các tư tưởng khác với tư tưởng chính thống có cơ hội được thực hiện. 

Điều này đặc biệt quan trọng khi quan sát những kinh nghiệm của Malaysia và Ấn Độ, cả hai đều là những nền dân chủ non trẻ và đều bị thống trị trong một thời gian dài bởi một đảng/liên minh cầm quyền. Lịch sử chính trị của Malaysia và Ấn Độ tiêu biểu cho mô hình dân chủ nhưng “thiếu tự do”. Sự thiếu vắng vai trò mạnh mẽ của đối lập trong suốt một thời gian dài khiến đảng cầm quyền lạm quyền, mị dân, tham nhũng, và tiếp tục chèn ép sự xuất hiện của đối lập. Nhưng nguy hiểm hơn, khi một đất nước không có một đảng đối lập lớn mạnh làm đối trọng và cạnh tranh với đảng cầm quyền, một đảng cầm quyền tầm thường sẽ tiếp tục cầm quyền cho đến khi nào đưa đất nước vào cơn khủng hoảng thì lúc đó đảng đối lập mới có hi vọng lôi kéo và xây dựng được lực lượng.

Trong trường hợp của Malaysia đó là việc chính phủ dùng các chính sách trợ cấp nhằm mị dân và chèn ép đối lập. Liên minh cầm quyền đứng đầu bởi Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO) kiểm soát chính trị tại Malaysia suốt từ ngày Malaysia giành độc lập với cuộc tổng tuyển cử đầu tiên vào năm 1959 cho tới nay. Liên minh đối lập trong cuộc bầu cử vào tháng 5, năm 2013 cho dù chiếm được hơn 50% tổng số phiếu bầu cũng chỉ có được 89 ghế khi so với liên minh dẫn đầu bởi UMNO chiếm 47% số phiếu và 133 ghế. Ở trường hợp của Ấn Độ đó là sự thống trị hệ thống chính trị của đảng Quốc Đại với chính sách kinh tế kiểu xã hội, vốn chẳng mấy thành công từ ngày giành độc lập cho tới khi bị đảng đối lập Bharatiya Janata đánh bại và giữ quyền hơn 6 năm. Ấn Độ chắc chắn sẽ khá hơn nếu các đảng đối lập được nuôi dưỡng và có dịp thể hiện những tư tưởng hướng đến nền kinh tế thị trường sớm hơn ít nhất là ở cấp độ tiểu bang. Sự thống trị chính trường lâu dài của đảng Quốc Đại để lại hậu quả là một nền chính trị tham nhũng và quan liêu. 

Do đó, một hệ thống chính trị tốt phải có cơ chế nuôi dưỡng và hình thành đảng đối lập. Phương thức bầu cử đóng một vai trò quyết định đến sự hình thành và cơ cấu đảng phái. Phương thức bầu cử theo tỉ lệ sẽ đưa đến sự hình thành nhiều đảng nhỏ; các liên minh cầm quyền do đó trở nên yếu, và thường chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn, làm mất đi sự ổn định về chính trị. Ngược lại phương thức bầu cử theo đa số (majority voting) kiểu Anh làm lợi cho đảng lớn nhất, làm bất lợi cho đối lập và triệt tiêu các đảng nhỏ; về lâu về dài sẽ hình thành hệ thống hai đảng lớn song song. Tuy vậy, phải mất ít nhất 50 năm như hai trường hợp của Malaysia và Ấn Độ để các đảng đối lập có thể lớn mạnh cạnh tranh được với đảng cầm quyền. 

Liệu có phương thức nào vừa giúp bảo đảm sự ổn định về chính trị của các liên minh cầm quyền, vừa giảm sự hình thành các đảng quá nhỏ, và vừa giúp nuôi dưỡng các đảng khác? Mô hình của Đức cho một ví dụ bảo đảm được cả ba điều này. 

Lối bầu cử gồm hai phiếu, một phiếu bầu cho một đảng và một phiếu bầu trực tiếp cho ứng cử viên khu vực, của hệ thống bầu cử Đức khiến cho không một đảng nào có thể dễ dàng chiếm đa số trong quốc hội. Phe cầm quyền luôn là liên minh giữa một đảng lớn và một đảng nhỏ hơn. Điều này khiến các đảng lớn luôn tìm sự hỗ trợ của các đảng nhỏ hơn thay vì triệt tiêu hay đàn áp họ. Để hạn chế các đảng quá nhỏ xuất hiện trong Hạ nghị viện, luật được đưa ra rằng chỉ các đảng giành được hơn 5% trong tổng số phiếu toàn quốc hoặc 3 ghế từ bầu cử trực tiếp mới được có mặt ở Hạ nghị viện. Các đảng xuất hiện ở Hạ nghị viện do đó là các đảng không quá nhỏ, điều đó giúp hình thành các liên minh bền vững. Tuy vậy, liên minh giữa các đảng lớn chỉ mới là điều kiện cần để có được sự ổn định của một liên minh cầm quyền. Hệ thống của Đức còn giới thiệu thêm nguyên tắc “bỏ phiếu bất tín nhiệm mang tính xây dựng” (constructive vote of no-confidence) nhằm bảo đảm rằng một cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm chỉ diễn ra khi các nghị viên trong Hạ nghị viện đã chọn được một ứng cử viên thủ tướng mới nhận được đa số ủng hộ trong Hạ nghị viện. Thêm vào đó, thủ tướng chỉ có thể đề nghị tổng thống bãi nhiệm Hạ nghị viện và tổ chức bầu cử sớm nếu như đề nghị bỏ phiếu bất tín nhiệm của thủ tướng không thể nhận được đa số ủng hộ trong Hạ nghị viện. Nguyên tắc này giúp ổn định hệ thống chính trị vì nó ngăn ngừa các đảng đối lập muốn phá rối liên minh cầm quyền và ngược lại nó hạn chế việc thủ tướng hay tổng thống muốn tự động giải tán Hạ nghị viện để bầu cử sớm nhằm có được ưu thế cho đảng của mình. 

Vấn đề thứ hai là làm sao để ngăn ngừa các chính sách tồi và lạm quyền được thực thi? Trong các mô hình dân chủ, các quyết định quan trọng cần sự chuẩn thuận của quốc hội. Vai trò của quốc hội được dùng để kiểm soát các chính sách tồi của nội các cầm quyền. Cách phổ biến nhất là nâng cao vai trò của thượng nghị viện và sắp xếp số nhiệm kỳ của thượng nghị viện dài hơn nhiệm kỳ của đảng cầm quyền. 


Trong hệ thống chính trị Hoa Kỳ, nhiệm kỳ của các thượng nghị sỹ là 6 năm, và một phần ba các thượng nghị sỹ phải bầu lại mỗi hai năm. Các cuộc bầu chọn do đó còn là thước đo mức hài lòng về chính sách của người dân với chính quyền trung ương. Sự bất mãn của người dân sẽ khiến họ bầu cho đại diện của đảng đối lập. Khi một trong hai viện của quốc hội bị khống chế bởi đảng đối lập nó sẽ giúp ngăn ngừa sự thực thi các quyết định tồi dở hay gây tranh cãi của chính quyền. Tuy vậy, sự khống chế chính nó cũng là một nhược điểm khi trói tay chính quyền của tổng thống trong việc đưa ra các chính sách mới. 

Ngược lại, vai trò của các thượng nghị viện trong các hệ thống nghị viện của Canada, Úc, hay Đức yếu hơn hoặc ít quyền lực hơn so với hạ viện -- nơi bị ảnh hưởng bởi đảng/liên minh cầm quyền – và do đó, các chính sách được đề xuất bởi chính phủ dễ dàng được thông qua. 

Trong hệ thống của Đức, Thượng viện chủ yếu giữ vai trò kiểm soát việc ban hành các luật lệ liên quan đến chính quyền bang và sửa đổi hiến pháp. Điều đó cho phép chính quyền Berlin vốn đã là một liên minh chính trị dễ dàng thông qua các chính sách ít có liên quan đến quyền lợi của các tiểu bang hơn và trở nên một chính quyền làm được việc. Trong trường hợp đối với các chính sách có ảnh hưởng đến quyền lợi của tiểu bang, sự cần thiết phải có sự chuẩn thuận của Thượng nghị viện khi thông qua các chính sách khiến cho những chính sách phải trải qua các phản biện và rà soát chặt chẽ hơn, đặc biệt là trong những trường hợp khi mà Thượng nghị viện rơi vào tay liên minh đối lập.

Trong những trường hợp khi mà những đề xuất không thể được áp dụng trên toàn quốc ngay lập tức, hệ thống liên bang cho phép những tiểu bang có thể thử nghiệm những chính sách riêng rẽ ở phạm vi trong tiểu bang mình. Hệ thống liên bang do đó cung cấp những uyển chuyển trong việc thực thi và thử nghiệm các chính sách mới mẻ trước khi có thể được áp dụng đại trà trên toàn quốc. Các chính sách tồi dở nếu thất bại ở các cấp tiểu bang có thể được dừng lại, và do đó hạn chế được mức thiệt hại. Ngược lại, khi toàn hệ thống đắm chìm trong sự kiểm soát của một hệ tư tưởng, những thử nghiệm thành công ở các cấp tiểu bang có thể cung cấp cho các bang lân cận và toàn quốc một hướng đi mới cho đất nước. Một hệ thống chính quyền liên bang do đó giúp giảm thiểu đi rất nhiều sự hình thành các chính sách tồi dở.Nguyễn Huy Vũ

Ngu dân thì dễ cai trị, Ngu quan thì dễ phục thuần!

Trong lịch sử loài người, trong pháp thuật trị quốc, người ta thường dụng kế ngu dân để cai trị. 

Dân càng ngu thì kẻ thống trị càng dễ bề xoay sở, mục đích của kẻ thống trị là làm sao duy trì được cái thể chế đó lâu dài, từ đó chúng hưởng phúc, hưởng lộc từ đời này qua đời khác, bằng cách này hay bằng cách kia "nhóm lợi ích" của kẻ thống trị tự biết chia nhau cổ phần miếng bánh quốc gia.


Với trí tuệ và miệng lưỡi của kẻ thống trị, chúng luôn tìm mọi cách tuyên truyền những điều đẹp nhất, huy hoàng nhất và vinh quang nhất để mị dân!

Ngoài việc tự kẻ thống trị nghĩ cách mị dân thì họ còn tìm hiểu và lựa chọn những đạo giáo mộng du, hòng ru ngủ thần tính của con người, đạo giáo nào làm cho thần tính con người mềm mại, ngoan ngoãn, ít đấu tranh... thì đạo đó được kẻ thống trị phát huy triệt để và tôn vinh, bằng cách này cách khác kẻ thống trị sẽ biết cách khuếch trương thanh thế và giả vờ tín đạo để cho người dân lầm tưởng mà tôn sùng, điều này giúp cho kẻ thống trị dựa vào lý thuyết của đạo ấy đánh vào tín ngưỡng, ru ngủ... làm cho thần tính của dân chúng dịu đi mà không có phản ứng đề kháng.

Những người có bản lĩnh khác thường, có tầm nhìn mở mang hơn, có tư duy chống lại bất công... thì kẻ thống trị sinh ra luật pháp để dựa vào cái luật đó bảo vệ chính thể, đồng thời dựa vào luật đó để cai trị những người mà ta gọi là "cứng đầu"! Áp đặt tính thống nhất của nhóm lợi ích và số lượng người bị ru ngủ quá đông, lấy đa số mà triệt tiêu nhóm thiểu số thông tuệ! 

Cho nên thời nào cũng vậy không phải cứ tài mà ra làm quan, không phải cứ giỏi mà được quyền phụng sự tổ quốc!

Đó là ý nghĩa của việc ngu dân thì dễ cai trị.

Còn việc ngu quan thì đễ phục thuần là sao?

Kẻ thống trị cao nhất được gọi là quân vương là vua một nước. Kẻ đó sẽ tập hợp xung quanh mình những người cùng ý chí, cùng hưởng lợi trong cái bánh cổ phần quốc gia, họ luôn rao giảng những lý thuyết chính nghĩa, những tư tưởng lớn lao, những hoài bão bá chủ để khích lệ và ru ngủ quan lại thực hiện bằng được cái "chân lý" tự tôn của bản thân mình, từ đây hình thành một nhóm lợi ích khổng lồ trong hệ thống cai trị toàn tập, bất kỳ ai đi ngược lại lợi ích nhóm khổng lồ ấy thì sẽ bị tiêu diệt bằng mọi thủ đoạn.

Một quốc gia lớn muốn phục thuần một quốc gia nhỏ, thì những kẻ nước lớn lợi ích lớn, chúng luôn thông minh hơn nhóm lợi ích nhỏ rất nhiều, chúng không cần cai trị người dân của quốc gia nhỏ, mà chúng tìm mọi cách để cai trị những kẻ cầm đầu trong cái quốc gia nhỏ kia, chúng tìm ra ba cách cơ bản để "thuần quan chư hầu" như sau:

Cách thứ nhất là chúng tuyên truyền đường lối và lý thuyết đại đồng, vươn tới những điều mỹ miều của nhân loại làm cho những quốc gia nhỏ tưởng bở theo chân lý của một chủ nghĩa không tưởng! 

Cách thứ hai là chúng đánh vào lòng tham của kẻ cai trị mà trong đó có ba cái tham: -Tham quyền cố vị-Tham tiền tham bạc-Tham sắc ham chơi. 

Cách thứ ba là chúng đe doạ tới sự an toàn của kẻ cai trị những quốc gia nhỏ, từ đó nắm bắt được thần tính của bọn cai trị tiểu quốc mà đặt ra điều kiện a, b, c... thế là người dân bị bọn cai trị nhỏ thống trị, mà quốc gia nhỏ thì bị bọn quốc gia lớn điều hành! Đó là cái lý nhãn tiền đương đại mà chẳng ai không biết.

Người khôn, dân tộc khôn là dân tộc biết tự mình làm chủ mà ta gọi là dân chủ, tự do và độc lập. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sớm nhận ra chân lý ấy, cho nên trong cái tên nước ban đầu ông đã đặt ngay ba cụm từ quan trọng nhất đó là "dân chủ, độc lập, tự do" đó là chân lý không thể thay thế bởi bất kỳ lý thuyết nào.

Dân chủ, tự do, độc lập... được áp dụng ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy rằng cách áp dụng của mỗi quốc gia có khác nhau nhưng chân lý dân chủ tự do độc lập thì không thể bị thay đổi.
Đó chính là quyền con người, quyền sống, quyền bình đẳng, quyền mưu cầu hạnh phúc... mà tuyên ngôn độc lập ngày 4-7-1776 của nước Mỹ đã chỉ dẫn, chân lý ấy không thể thay đổi. Ngay kể cả nước Đức cội nguồn của "triết lý mới" nhưng họ cũng vẫn đi theo chân lý ấy, ngay cả nước Nga nơi thực hành lý thuyết đầu tiên của thế giới cũng đã từ bỏ mà quay trở về chân lý khó thay đổi của loài người. 
Tôi nghĩ rằng: chừng nào vẫn còn biên giới, vẫn còn quốc tịch, vẫn còn sự khác biệt ngôn ngữ... thì không thể nào thay đổi được chân lý dân chủ, độc lập, tự do.
Có bao giờ thế giới nói chung một ngôn ngữ, và không còn quốc tịch, không còn biên giới không cần đến hộ chiếu thì lúc đó chúng ta bàn đến chuyện thế giới đại đồng cũng chưa muộn, nhưng điều này sẽ mãi mãi chỉ là lý thuyết không tưởng và mơ hồ của loài người. Bởi nó đi trái lại quy luật âm dương của tự nhiên, nó đưa thế giới trở lại "đơn cực" mà Tổng Thống Nga PuTin đã từng phát biểu không bao giờ chấp nhận.
Hà nội 7-7-2017
Võ sư.Gs-Vs Lương Ngọc Huỳnh

Cảnh Sát Đức tiết lộ trước khi bị bắt cóc Trịnh Xuân Thanh gọi điện thoại cho Đại tá Nguyễn Đức Thoa nói gì?

Mời xem Video: Cảnh Sát Đức tiết lộ trước khi bị bắt cóc Trịnh Xuân Thanh gọi điện thoại cho Đại tá Nguyễn Đức Thoa nói gì?



Cảnh sát Đức cho biết, trước khi bị bắt cóc Trịnh Xuân Thanh đã thực hiện nhiều cuộc gọi cho Đại tá An ninh TC5 Nguyễn Đức Thoa. Vậy ông Trịnh Xuân Thanh đã nói những gì?Mời xem Video: Nóng: Điện thoại của Trịnh Xuân Thanh có ghi clip vụ bắt cóc do người lạ mặt giao lại cho cảnh sát Berlin?


Theo cảnh sát Berlin cho biết đã có một nhân vật thứ 3 người Á Châu lạ mặt đã sử dụng điện thoại Iphone của Trịnh Xuân Thanh để quay lại cảnh bắt cóc, rồi sau đó cầm điện thoại (đã mở khóa sẵn) chuyển lại cho an ninh Đức và nói là ông đã vô tình nhặt được tại nơi bắt cóc trong ngày 23/7/2017.

Đăng ký xem tin mới nhất tại: https://goo.gl/65ciF2

Đăng ký xem tin mới nhất tại: https://goo.gl/65ciF2


No comments:

Post a Comment