Friday, August 11, 2017

Bài viết hay(5286)

Mấy bữa nay nhóc Ủn bị 3 ông già thay phiên bề hội đồng te tua, tơi tả mà coi bộ thằng nhóc càng lúc càng thích. Ba ông già gân Mỹ(TT Trump, Ngoại Trưởng Tillerson, Bộ Trưởng Quốc Phòng Tướng Mattis), kẻ đánh người vuốt CS Bắc Hàn tới bến, khiến Kim Jong-un càng suớng khoái hơnNó mới có mấy trái ICBM  mà cứ đem ra khoe ầm ĩ cho Melania và Ivanka coi đồ chơi của nó có ngon lành hơn đồ chơi của Trump không. Dù sao sức trẻ phải khoẻ, dai hơn ông già. Thằng nhóc chọc cho ông già nóng lên thì khùng rồi nói bậy. Báo hại stock rớt xuống mà coi bộ củ sâm lẫn sushi cũng teo nhỏ xíu. Guam quíu luôn chứ bộ. Kể ra thằng nhóc dám chơi liều chọc giận Trump là đủ làm cho tui ngưỡng mộ nó rồi. Ngày xưa tui khoái ông Diệm, ông Nhu hơn ông Thiệu, ông Hồ là vì tuy xin viện trợ Mỹ nhưng ông Diệm và Nhu không sợ Mỹ, không muốn Mỹ đem quân vô VN. Ngày nay tui vẫn không ưa những đứa da màu gặp da trắng là khúm núm, quỳ mọp. Tại sao phải hèn như vậy?

Các phương án giải quyết khủng hoảng trên bán đảo Triều tiên

Căng thẳng Mỹ-Bắc Hàn dâng cao sau khi Bình Nhưỡng tiến hành 2 vụ thử bom hạt nhân và hai vụ phóng thử phi đạn đạn đạo liên lục địa hồi tháng 7.2017.Tổng thống Mỹ Donald Trump phản ứng đe dọa Bắc hàn sẽ phải đối đầu với „ lửa đạn và thịnh nộ“ nếu tiếp tục khiêu khích và ông quyết không cho phép Bắc Hàn phát triển vũ khí hạt nhân có khả năng đe dọa Mỹ và các nước đồng minh Nhật Bản ,Đại Hàn. Thông tấn xã Bắc Hàn (KCNA) đưa tin quân đội nước này đã đệ trình nhà lãnh đạo Kim Jong Un kế hoạch bắn 4 tên lửa đạn đạo tầm trung nhằm vào khu vực đảo Guam. Mỹ cảnh báo Bắc Hàn rằng các hành động của Bình Nhưỡng có thể đưa đến "kết liễu chế độ".Cuộc khẩu chiến gữa chính quyền Mỹ và lãnh đạo Bắc Hàn càng làm tình hình trở nên nghiêm trọng.Trước nguy cơ chiến tranh có thể xẩy ra trên bán đảo Triều Tiên ảnh hưởng đến Hòa bình và kinh tế thế giới,nhiều nhà lãnh đạo chính trị ở Á và Âu châu đã lên tiếng kêu goi hai bên nên kiềm chế và chấp nhận đối thoại để tìm giải pháp cho cuộc khủng hoảng.
Trong chiều hướng tìm giải pháp,các nhà nghiên cứu chính trị và chiến lược đã đưa ra một số phương án
Tiên ha thủ vi cường
Một cuộc tấn công hạt nhân hay một cuộc tấn công quy ước để giái quyết khủng hoảng giữa Hoa Thịnh Đốn và Bình Nhưỡng là phương án tồi nhất. Mục đích tân công phủ đầu hay còn gọi là tiên hạ thủ vi cường là phá hủy khả năng quân sự của Bắc hàn để đối phương tê liệt không phản công được.Trích dẫn một bản phân tích về các giàn phóng hỏa tiễn ỡ Bắc Hàn, tờ báo Anh „Guardian“cho biết có khoảng 8000 bệ phóng nhắm hướng thủ đô Hán thành Seoul-Nam Hàn.Các nhà phân tích nhận đinh khả năng quân sự của chế độ Kim Jong Un không thể bị triệt hạ hoàn toàn qua một cú tiên hạ thủ vi cường được. Bắc hàn sau đó sẽ phản pháo sát hại nhiều nạn nhân dân sự.Tạp chí „ The Atlantic“ cũng có kế luận tương tự , nhưng không loại trừ sự khả thi và đối với Trump phương án này không phải không hấp dẫn vì thiệt hại chỉ xảy ra ở bán đảo triều tiên các xa nước Mỹ
Leo thang kiềm chế
Biện pháp để cuộc khủng hoảng gia tăng trong vòng kiểm soát.Chọn mục tiêu công phá , thí dụ Mỹ sẽ oanh kích vào khu vục đặt dàn phóng mà Bắc Hàn vừa sử dụng thử hỏa tiễn.Tạp chí „Atlantic“ phỏng đoán qua biện pháp này Bắc Hàn lâu dài sẽ nhận ra Mỹ mạnh hơn. Tuy nhiên tờ „Guardian“ cảnh cáo là Kim Jong Un có thể hiểu lầm phản ứng quân sự giới hạn đối với những khiêu khích của Bắc Hàn. Một khi Kim không phân biệt được cuộc tấn công giới hạn và cuốc tấn công toàn diện phủ đầu thì ông ta sẽ trả đũa mạnh bạo hơn.
Ám sát Kim Jong Un
Điều gì sẽ xảy ra nếu lực lương đặc nhiệm hay gián điệp ám sát được Kim Jong Un ?Theo „Guardian“ Nam Hàn đã huấn luyện một lữ đoàn đặc nhiệm, nhưng liệu chương trình này có khả thi được không ? Vì Bắc Hàn chắc chắn đã có những biện pháp trù liệu cho khả năng này.
Gia tăng cấm vận kinh tế
Mỹ có thể gia tăng cấm vận.Nhưng những biện pháp này cũng không đạt thêm hiệu quả vì Bắc Hàn hầu như đã bị cô lập hoàn toàn rồi.Tác nhân quyết định cho phương án sẽ là Trung quốc, đồng minh duy nhất có thể gây sức ép cho Bắc Hàn.Nhưng phương án này cũng có nhiều rủi ro. Các nghị quyết cấm vận trước đây chỉ làm người dân bị thiệt thòi chứ không hại gì đối với tập đoàn câm quyền và còn tạo cơ hôi cho chế độ mạnh tay trân áp nhân dân.Tình trạng nghèo khổ của nhân dân không dễ dàng tạo nổi dây lật đổ bạo quyền. Ngoài ra nều Mỹ ép Trung quốc phải tăng cấm vận đối với Bắc Hàn có thể dẫn đến khủng hoảng quan hê Mỹ-Trung.Trung Quốc rất lo sợ Bắc Hàn sụp đổ sẽ gây bất lợi kinh tế, tài chính và địa chính tri cho Trung Quốc.
Phương án ngoại giao
Đa số chuyên viên phân tích cho rằng con đường đối thoại, ngoại giao là khả thi nhất một khi Mỹ chấp nhận Bắc hàn được duy trì chương trình hạt nhân.
Theo báo “Guardian” chiến lược „ Freeze for freeze“ có thể áp dụng trong cuộc khủng hoảng này.Bắc Hàn ngưng thử vũ khí hạt nhân và Mỹ - Nam hàn ngưng tập trận quân sự.Phương án này có thể được hai cường quốc Nga va Trung Quốc ủng hộ.Tuy nhiên khó tiên liệu Bắc Hàn chịu bỏ chương trình phát triển vũ khí hạt nhân vì chương trình này là những đảm bảo cho sự sống còn của chế độ.Trước đây dưới thời chính quyền Obama, giải pháp đối thoại, ngoại giao đã được thực hiện dưới hình thức đàm phán song phương hay sáu bên (Nam Hàn,Bắc Hàn, Trung Quốc, Nhật bản, Nga sô, Mỹ ).Tạp chí „Foreign Policy“ cũng nhắc lại bằng chứng thành công của phương án này trong quá khứ cho các quốc gia Ân độ, Hồi quốc,Do Thái Các quốc gia này vẫn được phép thực hiên chương trình hạt nhân mà không vì vậy các cuộc tranh chấp trong vùng căng thẳng.
Thay lời kết
Để tìm một giải pháp hoàn hảo thỏa mãn quyền lợi của mọi bên liên hệ thật không dễ, nhưng phương án đối thoại, ngoại giao có lẽ là con đường thực tế để đi ra khỏi cuộc khủng hoảng tranh chấp , tiết kiệm nhân mạng và vật chất cho tất cả. Vì sự ổn định trong vùng Thái Bình Dương và Á châu,Tổng thống Trump có chấp nhận giải pháp thương thảo ngoại giao hay không ?.Trump đã được hoan nghênh khi ra lệnh dội bom ào ạt xuống Syria với cáo buộc chính quyền Assad đã sử dụng cũ khí hóa học nên dư luận lo ngại Trump có vẻ thiên về biện pháp quân sự hơn.Ngoại trưởng Cộng hòa liên bang Đức Gabriel dẫn lời tuyên bố của Bộ trưởng quốc phòng Mỹ James Mattis là cuộc chiến với Bắc hàn không chỉ gây ra số nạn nhân thương vong nhiều chưa từng thấy sau thế chiến thứ hai mà cả Thủ đô Hán thành ( Seoul) và các thành phố Nam Hàn cũng sẽ thành tro bụi một khi Bắc hàn phản công pháo kích. Gabriel bầy tỏ hy vọng những người lãnh đạo chính quyền Mỹ sẽ bình tâm giải quyết bằng lý trí thay vì cảm xúc và hiếu động. Bộ ngoại giao Trung Quốc yêu câu các bên tránh lời lẽ hay hành động có thể làm tình hình thêm căng thẳng và gây khó khăn hơn cho các nỗ lực giải quyết vấn đề thông qua đàm phán.
Vũ Ngọc Yên

Án văn

Nhân chuyện bác Việt Phương, tác giả tập thơ nổi tiếng Cửa mở rời cõi nhân sinh hôm qua (6.5.2017), sực nhớ đến những vụ án văn ở xứ này.
Án văn, nói nôm na là những vụ án liên quan đến văn chương, văn nghệ, nhà thơ nhà văn, văn nghệ sĩ. Có khi nạn nhân chết chỉ do 1 chữ chứ không cần cả bài, cả tập. Chết mà không biết mình vì sao bị chết.
Phải công nhận xứ ta nhiều án văn, có những án kinh hoàng, thê thảm, đại bi kịch. Triều Lê Thái Tôn thế kỷ 15, con người bậc nhất của thời đại là Nguyễn Trãi đã chết bởi sự ganh ghét, đố kỵ của đám tiểu nhân đắc chí, trong đó có một phần từ án văn. Kẻ hoạn quan Lương Đăng được vua tin dùng vốn sẵn từ lâu ghét Nguyễn Trãi nên tìm mọi cớ vùi dập ông. Mỗi điều Nguyễn viết ra đều được Lương săm soi vạch vòi, Nguyễn có né cách mấy cũng bị quy thành tội. Lời tâu của cụ Nguyễn Ức Trai về nhã nhạc là ví dụ, chẳng những không được vua lắng nghe mà còn bị vua xem thường, bỏ qua bởi Lương Đăng đã xúc xiểm, cho rằng Nguyễn Trãi lên mặt dạy vua, coi thường bậc minh quân, bôi xấu thời đại dưới sự cai trị của đấng thiên tử chí tôn… Một khi vua đã loại ai đó ra khỏi mắt khỏi óc thì người đó chỉ còn cách chết. Vì vậy, thời điểm Nguyễn Trãi và 3 họ lên đoạn đầu đài cũng là lúc báo hiệu triều đại nhà Lê bắt đầu lung lay mục ruỗng, chỉ còn chờ ngày sụp đổ. Khi Lê Tư Thành lên ngôi, hiệu Lê Thánh Tông, ông ta đã cố hết sức giữ vững cơ nghiệp ông cha, trong đó có việc chiêu tuyết, giải oan cho Nguyễn Trãi nhưng dù gì đi chăng nữa thì án oan Nguyễn Trãi đã thành vết nhơ cực kỳ tệ hại trong lịch sử dân tộc, trong triều đại nhà Lê có nhiều chiến công hiển hách chống ngoại xâm, giải phóng dân tộc.
Thời tôi sống, từ lúc trẻ thơ học trong nhà trường tới khi lặn ngụp mưu sinh trong cõi đời, tôi đã nghe, đã chứng kiến nhiều án văn, có những vụ cho đến bây giờ vẫn là dấu hỏi lớn của lịch sử. Có những vụ, văn chương vốn dĩ vô tình nhưng qua bàn tay kẻ thủ ác đã vùi dập, giết hàng loạt người lương thiện, trong đó có những con người đẹp đẽ, tài hoa bậc nhất thời đại. Vụ Nhân văn giai phẩm là ví dụ điển hình.
Ai muốn biết bản chất vụ án văn Nhân văn giai phẩm, chả cần tìm đâu xa, chỉ cần vào đọc địa chỉ Facebook của nhà văn Thái Kế Toại là rõ. Ông Toại là công an văn hóa, hàm đại tá, công tác tại A25 (cục chuyên về văn hóa tư tưởng của Bộ Công an), được giao thụ lý hồ sơ vụ án văn này. Nhưng càng tìm hiểu, đi vào góc khuất, khám phá ra những điều mà nhà cai trị cố tình che giấu, ông Toại càng thấy đó là tấn bi kịch văn nghệ kinh hoàng, oan sai, oan trái, không chỉ tàn hại một thế hệ văn nghệ đầy công tích trong chiến tranh chống Pháp mà còn phủ cái bóng thảm khốc đen tối của nó ám ảnh cả nền văn nghệ dân tộc suốt thời gian dài về sau. Những số phận đại bi kịch như Phan Khôi, Trương Tửu, Nguyễn Hữu Đang, Trần Đức Thảo, Lê Đạt, Trần Dần, Phùng Quán, Hoàng Cầm, Đào Duy Anh, Tử Phác, Đặng Đình Hưng, Nguyễn Bính, Hữu Loan, Trần Duy, Văn Cao, Cao Xuân Huy, Cao Xuân Hạo, Phan Ngọc, Nguyễn Sáng, Phùng Cung … đã thành mồi ngon cho chiếc máy chém khát máu trí thức của bộ máy cai trị. Dính án, nói theo kiểu Nam Cao, cuộc đời họ cứ mòn đi, mục đi, không có lối thoát, kể cả trong nhà tù đằng đẵng 15 năm như Nguyễn Hữu Đang, hay được tại ngoại như Phan Khôi, Trương Tửu...
Nghĩ lẩn mẩn, nếu những con người tinh hoa ấy không bị dòng thác cách mạng tàn bạo kia vùi dập xuống tận bùn đen thì số phận dân tộc này chắc chắn sẽ khác rất nhiều. Dù mãi về sau, “người ta” cũng âm thầm sửa sai, lặng lẽ phục hồi danh dự, ban phát đền bù cho người này người nọ nhưng đó cũng chẳng qua là động tác vớt vát cứu vãn uy thế của nhà cầm quyền chứ cũng chả phải phục thiện, ăn năn hối lỗi gì. Điều dễ nhận thấy nhất là cho đến bây giờ, chính quyền chưa hề chính thức lên tiếng xin lỗi về vụ Nhân văn giai phẩm, cũng như chưa hề có cuộc xin lỗi đầy đủ những nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất long trời lở đất mà họ đã tiến hành.
Tôi được biết tới vụ Nhân văn giai phẩm khi đã hơn 10 tuổi, lúc miền Bắc bước vào cuộc chiến tranh chống lại máy bay Mỹ. Không biết ai đã cho thày tôi cuốn tạp chí (bị mất bìa nên tôi cũng không nhớ là tạp chí gì), số tổng kết cuộc đấu tranh chống lại nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm. Đọc những bài của Tố Hữu, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Công Hoan, Như Phong… bốc lên mùi binh khí binh đao, sắt máu, tanh tưởi, hận thù, giờ nhớ lại vẫn rùng mình. Ngay lúc này đây, trên tay tôi là cuốn Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa của ông Tố Hữu, trùm văn nghệ cách mạng, một trong những thủ phạm chính của vụ Nhân văn giai phẩm. Trong bài Qua cuộc đấu tranh chống nhóm phá hoại Nhân văn giai phẩm trên mặt trận văn nghệ, ông Lành có viết: “Lật bộ áo Nhân văn - Giai phẩm thối tha, người ta đã thấy cả một ổ phản động toàn những mật thám, gián điệp, lưu manh, trốt-kít, địa chủ, tư sản phản động, quần tụ trong những tổ quỷ với những gái điếm, bàn đèn, sách báo chống cộng, phim ảnh khiêu dâm” (trang 84, sách đã dẫn, NXB Sự Thật, 1982). Còn ông Nguyễn Công Hoan chửi cụ Phan Khôi "Nhắn bảo Phan Khôi khốn kiếp ơi/Thọ mi mi chúc chớ phiền ai/Văn chương, đù mẹ thằng cha bạc/Tiết tháo, tiên sư cái mẽ ngoài/Lô gích, trước cam làm kiếp chó/Nhân văn, nay lại hít gì voi/Sống lâu thêm tuổi cho thêm nhục/Thêm nhục cơm trời chẳng biết toi" (bài này có trong cuốn tạp chí mất bìa, đọc xong mấy anh em tôi thích quá, thấy chửi đã quá, khổ, hồi ấy trẻ con nào có biết gì).
Nếu đúng như ông Tố Hữu và những đồng chí của ông kết án những “gián điệp, lưu manh, gái điếm” của phong trào Nhân văn giai phẩm thì có lẽ nhà cai trị đã hoàn toàn sai lầm khi phục hồi cho họ, thậm chí còn trao cả Giải thưởng Hồ Chí Minh hoặc Giải thưởng Nhà nước cho những “lưu manh, gái điếm” này.
* * *
Hôm trước trong bài Án văn phần 1, nhân nhắc lại vụ án văn nghệ kinh thiên động địa Nhân văn giai phẩm, tôi lục tìm đống sách nhà mình tòi ra mấy cuốn đáng giá, giấy đã ố vàng theo thời gian, quý nhất là cuốn Phấn đấu vì một nền văn nghệ xã hội chủ nghĩa của ông Tố Hữu. Quý ở chỗ muốn nói thì phải có sách, mách có chứng, kẻo ai đó lại bảo mình phịa. Lẩn mẩn giở đọc mấy bài, cứ giật thon thót. Giời ạ, làm sao mà ngày xưa người ta lại có thể tung hô bốc lên tận may xanh được cái giọng điệu đao phủ, phát xít, côn đồ như vậy. Rồi tặc lưỡi, với ông trùm - chánh mật thám phòng nhì nhà đoan kiểm duyệt văn nghệ Tố Hữu ấy, không tung không hô thì chỉ có nước đi tù.
Lạ ở chỗ, khá nhiều vụ án văn nghệ có dính dáng, liên quan tới ông Lành (Tố Hữu) nhưng về sau người ta cố gắng chiêu tuyết cho ổng, thậm chí bảo ông không có lỗi, không can dự gì vào những số phận bị vùi dập, chẳng hạn với Phùng Quán (cháu họ ông, gọi ông bằng cậu), Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm, Nguyễn Hữu Đang (nhóm Nhân văn giai phẩm), Hoàng Cát (vụ Cây táo ông Lành), Phạm Tiến Duật (vụ Vòng trắng), Việt Phương (vụ Cửa mở)… Người ta biện hộ, nếu muốn quy trách nhiệm cho ông Tố Hữu thì phải có chứng cứ, văn bản, lệnh của ông. Có những bài bênh ông còn viết rằng ông rất quý Phùng Quán, ông tình cảm với Hoàng Cát, ông khen Việt Phương…, thế mà cứ đổ vấy cho ông, v.v..
Xin nhớ rằng, trong bộ máy cai trị này, chả riêng trong lĩnh vực văn nghệ, lệnh miệng nhiều khi còn ghê hơn lệnh giấy. Không vừa ý cái gì, người ra lệnh chỉ nói vài ba câu, cấp dưới cứ thế mà quắn đít thực hiện. Cấm cãi. Bố đứa nào dám cãi. Ông Phạm Tuyên viết nhạc, công lao với cách mạng ít ai bằng, nhưng mấy lần xét giải thưởng Hồ Chí Minh đều trượt, chẳng hạn “ngài to to” nào đó thủng thẳng buông một câu “ông ta là con Phạm Quỳnh, cần phải thận trọng, xem xét cho kỹ” thì danh sách đóng lại cái rụp. Xứ này, biết bao người, trong đó có văn nghệ sĩ, chết bởi những câu vu vơ kiểu vậy.
Tuy nhiên, ông Tố Hữu không chỉ vu vơ, ông ấy còn để lại chứng tích tội ác bằng giấy trắng mực đen về những hành đồng đao phủ chặt chém của ông ta. Chỉ riêng cái bài tổng kết mà tôi nhắc ở trên, trong đó ông miệt thị, khinh bỉ, chửi bới, kết án những Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo, Trương Tửu, Phan Khôi, Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Phùng Quán, Thụy An, Trần Thiếu Bảo, Trần Duy…, gọi họ là rác rưởi, cặn bã, lưu manh, gái điếm, quân bợ đít, phản động, kẻ thù giai cấp, kẻ phản bội nhân dân, ăn cháo đái bát…, chính ông ấy nói ra chứ có ai ép phải viết thế đâu. Cũng như sau này có vài người bênh ông Lê Đức Thọ, nói ổng nhân tình với các nạn nhân vụ Xét lại chống đảng lắm, đừng vu oan, nói quá cho ông ấy. Vâng, nhân tình hay không thì cứ phải hỏi con cháu của cụ Vũ Đình Huỳnh, ông Vũ Thư Hiên, nhà nghiên cứu Nguyễn Kiến Giang, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, nhà báo Tuân Nguyễn… là rõ ngay. Họ là người trong cuộc, máu và nước mắt đọng đầy trên mặt, gạt đi cũng chả hết, vu cáo ông ấy làm gì.
Thế hệ chúng tôi, chả mấy ai không biết những vụ án văn liên quan đến Hữu Loan, Quang Dũng. Hai ông nhà thơ này là cái gai trong mắt nhà cai trị. Nào có tội tình chi, chỉ đem cái tình cảm chân thật, riêng tư vào thơ. Ông Hữu Loan viết Màu tím hoa sim, ông Quang Dũng viết Tây tiến, nhiều người đọc khen hay, nhưng quan lãnh đạo tuyên huấn, văn nghệ thì bảo không hay, thậm chí độc hại. Theo quan, phải trừng trị. Đã không viết về thời đại anh hùng, cuộc sống anh hùng, con người anh hùng, khí thế cách mạng, đã không chịu ca ngợi đảng, bác mà lại còn ủy mị, sướt mướt, bi lụy, riêng tư, cá nhân, gây mất sức chiến đấu… thì cứ phải dẹp. Phải ngon như Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hoàng Trung Thông… thì mới cho vào sách giáo khoa được. Sách giáo khoa môn văn, từ cấp 2 đến hết cấp 3, ngồi chễm trệ chiếu trên là thơ ông Tố Hữu, và tất nhiên phải có thơ văn Hồ Chí Minh ở hàng đầu dù không hay, sau đó là thơ văn của những ông ngoan. Học sinh, sinh viên tha hồ học thơ, ngâm thơ, làm bài thi tốt nghiệp, thi học sinh giỏi về thơ Tố Hữu và thơ của những ông ngoan kia, còn đám Hữu Loan, Quang Dũng là cấm tiệt, không cho bén mảng vào sách, nếu có nhắc tới thì cũng chỉ nhắc trong bài khái quát với lời chê bai, phê phán kịch liệt. Cho chừa cái thói không đi theo đường lối văn nghệ của đảng. Ông Hữu Loan phải bán xới khỏi Hà Nội bỏ về quê xứ Thanh làm ruộng, khai thác đá, ông Quang Dũng về xứ Đoài ẩn thân, tiệt đường văn chương, có viết cũng chả ai dám đăng, sợ bị liên lụy.
Điều trớ trêu là, mãi về sau, khi cuộc sống biến thiên, bãi bể nương dâu, thơ các ông Hoàng Cầm, Hữu Loan, Quang Dũng lại ùa vào sách giáo khoa, còn thơ mấy ông Tố Hữu, Xuân Diệu… lui dần. Âu cũng là sự trả lại giá trị đích thực của văn chương. Những gì đáng được tồn tại thì dù có bị vùi dập, khủng bố mấy đi chăng nữa cũng vẫn có ngày trở về vị trí tương xứng, còn mấy thứ văn nghệ chính trị đương nhiên sẽ lụi tàn.
Những năm 71-72, giao thời chiến tranh và hòa bình, bỗng dưng nổi lên mấy vụ án văn nghệ. Có lẽ thời điểm này người ta ngại sự chao đảo, ngả nghiêng về tư tưởng nên săm soi kỹ. Ngoài vụ tập thơ Cửa mở của cụ Việt Phương vừa phát hành được thời gian ngắn thì bị thu hồi, báo Nhân Dân và tạp chí Học tập đánh cho tơi tả, thì làng văn dậy lên vài vụ khác. Cơ quan tuyên huấn ra sức mò mẫm các ngóc ngách, siết thật chặt, giương kính lúp lên soi từng chữ từng dòng. Họ mà phát hiện ra điều gì trái ý họ, lập tức thành án ngay. Năm 1972, khi lứa chúng tôi vào đại học, thấy xôn xao vụ Việt Phương, tìm khắp nơi không đâu còn cuốn Cửa mở. Nhà xuất bản, nhà in, hệ thống hiệu sách nhân dân đều trong tay đảng, có mà tìm trên giời. Nghe thầy Hà Minh Đức kể đến cả ông Phạm Văn Đồng thấy họ đánh dữ quá cũng chả dám bênh vực đồng chí thư ký thân thiết của mình. Phải đến mấy chục năm sau, Cửa mở của ông Việt Phương mới được tái bản, những bài thơ ông viết về sau này mới được phép xuất bản. Ngài đổng lý văn phòng phủ thủ tướng còn bị thi hành án như vậy, dạng tôm tép như Hoàng Cát, Ngô Văn Phú, Phạm Tiến Duật… đừng có cãi đảng mà thêm nặng tội.
Năm 1974, đám sinh viên Văn khoa ĐHTH Hà Nội chúng tôi nghe xôn xao chuyện ông Tố Hữu giận lắm, có tay thương binh Hoàng Cát nào đó, được ông Xuân Diệu nhận làm em nuôi, viết truyện ngắn Cây táo ông Lành đăng trên báo Văn nghệ. Anh Bùi Trọng Cường học cùng lớp với tôi có quan hệ rộng lần ra được số báo ấy, cho tôi mượn xem. Tôi còn nhớ như in đó là một truyện thiếu nhi, in trên trang thiếu nhi nhân ngày 1.6, cũng ngắn thôi, dàn chữ từ trang trái sang trang phải, ở phía trên. Đọc thấy cũng bình thường, nhẹ nhàng, nhân văn, mang cái nhìn của một người yêu trẻ thơ. Đùng một cái, chả biết lệnh miệng từ ông nào (thời ấy nhiều ông có quyền ra lệnh lắm, họ là tướng quân trong bóng tối, như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Tố Hữu, Hoàng Tùng…), thương binh cụt chân Hoàng Cát bị đánh tơi tả. Ghê nhất là tạp chí Học tập (sau này đổi thành tạp chí Cộng sản, ông Nguyễn Phú Trọng có thời là Tổng biên tập) nã đại bác vào thành trì thứ văn nghệ mà họ gọi là rác rưởi.
Trong bài phê phán Hoàng Cát và truyện Cây táo ông Lành, tạp chí Học tập dõng dạc “truyện ngắn về thiếu nhi đăng trên tuần báo Văn nghệ trong thời gian qua thuộc loại nấm độc nguy hiểm. Với lối viết kiểu "biểu tượng hai mặt" truyện này gieo rắc hoài nghi trong quần chúng đối với sự lãnh đạo của đảng ta, gieo rắc tư tưởng chống lại đường lối cách mạng chống lại chế độ xã hội chủ nghĩa và nền chuyên chính vô sản của chúng ta. Miêu tả cuộc sống heo hút tâm trạng u buồn của một ông già có người vợ chết vì bom, người con trai độc nhất "vào bộ đội đợt đầu tiên kể từ sau khi có lệnh hòa bình", truyện này không những bộc lộ quan điểm sai lầm của chủ nghĩa nhân đạo tư sản trong vấn đề chiến tranh mà còn có tác dụng như một lời kêu gọi phản đối chiến tranh cách mạng có hại cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, hoàn thành độc lập và dân chủ trong cả nước của nhân dân ta. Trong điều kiện chuyên chính vô sản, cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở miền Bắc tiếp tục diễn ra gay go phức tạp, tác giả truyện ngắn đưa ra hình ảnh cái đầu lâu khủng khiếp và nói về việc "từ bỏ con đường này đi theo con đường khác" có dụng ý gì? Phải chăng đây là sự phản ứng giai cấp trước một số biện pháp như kiểm tra hành chính thu lại ruộng đất bị lấn chiếm, chống bọn ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa và bọn làm ăn trái phép bọn đầu cơ móc ngoặc, v.v.. mà nhà nước dân chủ nhân dân đã áp dụng để bảo đảm thắng lợi của chủ nghĩa xã hội trong việc giải quyết vấn đề "ai thắng ai" ở miền Bắc? Cùng với lối viết bóng gió xuyên tạc "nhà mới mà đã dột vì chuột bọ" tác giả đe dọa "bỏ" con đường mà tác giả cho là "con đường tắt" để đi con đường khác! Đó là một sự thách thức chế độ ta. Chuyện đã không chân thật chủ đề lại lấp lửng chi tiết, lại đáng ngờ gieo rắc những quan điểm tư tưởng sai trái, đây rõ ràng là một truyện xấu và có hại” (tạp chí Học tập số tháng 8.1974, trích theo Nguyễn Trọng Tạo).
Tòa đại hình của đảng đã kết án như thế, có mà chạy đằng trời. Hoàng Cát đành ngậm cười nơi anh từng hiến dâng tuổi xuân và một chân cho nó.
* * *
Trong 2 kỳ trước, tôi đã lược lại những vụ án văn nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn-Giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với "Cửa mở", Hoàng Cát với "Cây táo ông Lành", Hữu Loan với "Màu tím hoa sim", Quang Dũng với "Tây tiến", Bùi Ngọc Tấn với "Chuyện kể năm 2000"… Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi vì họ là những con người cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác chính là nhà cầm quyền. Lúc nào miệng họ cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô chính trị lên đầu đám sáng tác, anh nào cố tình chạy trốn, thoát ra sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị.
Viết đến đây, tôi lại nhớ chuyện hoặc giai thoại về những ông lãnh đạo đảng cộng sản xứ này chỉ đạo văn nghệ. Hồi những năm giữa thập niên 60, khi đám văn nghệ vẫn chưa hoàn hồn sau cuộc cách mạng long trời lở đất trừng trị đám phá hoại Nhân văn-Giai phẩm (được ví kinh khủng tai hại như cuộc Cải cách ruộng đất trong văn nghệ) thì ông Trường Chinh tìm cách trấn an. Anh Năm (tên thân mật của ông Trường Chinh) trong một buổi gặp các nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, khi nghe đây đó có ý kiến về quyền tự do sáng tác, ông liền cười mỉm, rằng "ai nói đảng không cho các anh các chị quyền tự do sáng tác. Nói thế là hồ đồ. Đảng vẫn cho các anh các chị quyền tha hồ chửi đế quốc Mỹ đó sao". Đám nghệ sĩ, nhà văn nhà thơ ngồi nghe chết lặng. Mà đúng thật, những gì “anh Năm” nói đều có thực tế, và sau chỉ đạo ấy của ông lại càng lộ mạnh hơn quyền tự do chửi Mỹ trong các sáng tác.
Tôi vẫn nhớ hồi bé người ta truyền tai nhau câu thơ, cứ bảo của “nhà thơ” Bút Tre nhưng chả biết có phải không: “Trên rừng con khỉ đánh đu/Thằng Ngô Đình Diệm mút cu bác Hồ”. Rồi sau ông Diệm bị dí là thằng thì tới thằng Thiệu, thằng Kỳ. Năm 1966, nhà thơ trào phúng Nguyễn Đình có viết trên báo Nhân Dân chửi Thiệu-Kỳ (tôi đọc bài này bởi thày tôi sai ra ủy ban mượn báo để đọc ké, vẫn còn nhớ câu mở đầu: “Hội nghị Gu-am được gọi đi/Thằng Thiệu thằng Kỳ tầm váo tầm vênh”. Mà chả riêng Ngô Đình Diệm bị gọi là thằng, các đời tổng thống Mỹ đều được phong "thằng" tuốt: thằng Ai xen hao, thằng Ken nơ đi, thằng Giôn xơn, thằng Ních xơn, thậm chí người ta còn khuyến khích các gia đình nuôi chó đặt tên chó là con Giôn xơn, con Ních xơn để chửi cho sướng miệng.
Nhân chuyện quan điểm tự do sáng tác của ông Trường Chinh, tôi lại nhớ hồi học ở Mễ Trì, thầy chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị tuy làm lãnh đạo khoa nhưng vẫn tham gia dạy phần văn học Xô viết và phần lý luận tính đảng trong văn học. Một lần thầy nhắc đến chi tiết trong đại hội các nhà văn Xô viết, nhà văn Pha đê ép (Fadeev) đã rất hùng hồn khẳng định “chúng ta được viết theo tiếng gọi của trái tim mình. Nhưng trái tim chúng ta đã thuộc về đảng”. Thầy bảo, đại loại đó là quyền tự do sáng tác, là tính đảng trong văn học của nền văn học xã hội chủ nghĩa ưu việt.
Vị thứ 2 ở xứ này để lại dấu ấn với đời sống văn nghệ là ông Nguyễn Văn Linh. Sau khi được các đồng chí của ông vật cho lên bờ xuống ruộng, đến năm 1986 thì ông được bầu làm tổng bí thư. Ông từng một thời được ca ngợi là nhân vật đổi mới, với những mẩu ngắn trên báo Nhân Dân trong mục “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL, tên tắt của ông nhưng đám tuyên giáo khen nịnh thối thành “Nói và làm”, còn dân gian cứ gọi nôm na là ông “en nờ vê e lờ”. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi ngồi ghế nóng là lấy lòng văn nghệ sĩ. Ngày 6.10.1987, ông gặp họ, tuyên bố hùng hồn phải “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, còn ai trói, trói thế nào, vì sao trói, v.v.. thì ông không nói. Đám văn nghệ phấn khởi, lại được các bác Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc hô xung phong nên hào hứng lắm. Những tác phẩm vang dội như "Cái đêm hôm ấy đêm gì" của Phùng Gia Lộc, hàng loạt phóng sự của Trần Huy Quang, những quan điểm táo bạo của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến… ra đời trong dịp này. Nhưng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) cuối cùng cũng chỉ là anh chết nhát, nửa vời, đảng của ông ấy không ủng hộ quan điểm cởi trói nên ổng co dần lại, sống chết mặc bay. Kết quả là báo Văn Nghệ bị bóp chết, các ông Trần Độ, Nguyên Ngọc bị đưa lên “đoạn đầu đài”, đời sống văn nghệ lại một lần nữa tan tành, chả khác gì văn nghệ Trung Quốc sau cú lừa “Trăm hoa đua nở”, tới nay (năm 2017) vẫn không gượng dậy được mặc dù đã mấy chục năm trôi qua.
Phải những ai từng nếm mùi phê phán từ bộ máy tuyên giáo truyên truyền của đảng thì mới hiểu thế nào là “văn nghệ phục tùng, phục vụ chính trị”. Đảng có thể biến một tác phẩm hết sức bình thường thành thứ cực kỳ nguy hiểm đối với họ, gán vào đó những cái gọi là âm mưu, ý đồ, biểu tượng hai mặt, cao hơn nữa thì quy rằng nó ẩn chứa hoặc công khai thái độ thù nghịch, chống phá. Như tôi đã từng kể ở 2 bài trước, hàng loạt bài văn thơ của Nhân văn-Giai phẩm, rồi thơ Quang Dũng, thơ Hữu Loan, thơ Việt Phương, truyện ngắn Hoàng Cát… bị đánh tơi tả, người viết không ngóc đầu dậy nổi, phải ẩn dật, trốn chui trốn lủi, tìm đủ mọi cách mới sống qua ngày đoạn tháng. Thời ấy, những người dân bình thường đã phải chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ.
Thời tôi sống, tôi được chứng kiến, được nghe, được biết thêm khá nhiều vụ án văn khác, xuất phát từ bàn tay sắt của đảng, mà cụ thể là các ông Trường Chinh, Tố Hữu, Hà Xuân Trường, Như Phong, những đao phủ văn nghệ. Chả mấy ai không biết cuộc đời lận đận của ông Hà Minh Tuân, tác giả mấy cuốn tiểu thuyết “có vấn đề”. Ông Tuân từng tham gia cách mạng và quân đội rất sớm, hàm đại tá, năm 1954 đã leo đến chức Trưởng phòng Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị (ông đại tướng Nguyễn Chí Thanh là Chủ nhiệm tổng cục này). Có máu văn nghệ, lại lãng mạn, ông Tuân viết liền mấy cuốn tiểu thuyết "Trong lòng Hà Nội", "Hai trận tuyến", "Vào đời", cuốn nào bạn đọc cũng thích nhưng đảng không thích. Những cuốn này bị quân ông Tố Hữu đập tơi tả, chê mất lập trường cách mạng, không phân biệt được ta và địch, ủy mị, yếu đuối, đồi trụy. Cứ sau khi sách ra lại bị thu hồi. Ông Tuân lên bờ xuống ruộng, bị cách chức, chuyển qua hết việc này đến việc khác (thời ấy đại tá to lắm nên không dễ gì lôi ra tòa), nhưng đời văn tàn luôn.
Một ông khác, nhà văn Phù Thăng, bị đánh cuốn tiểu thuyết "Phá vây" ra đời năm 1961. Một cuốn truyện hay về đề tài chiến tranh nhưng nhà cầm quyền cho rằng tác giả đã mất lập trường, nhìn sai lạc về cuộc kháng chiến, đặc biệt làm méo mó hình ảnh người lính bộ đội cụ Hồ. Sách bị cấm, thu hồi, tác giả phải về quê Hải Dương chăn vịt, một thời gian sau mới được viết lại nhưng đời văn cũng nhiều bề lận đận.
Lứa chúng tôi cũng từng chứng kiến 2 vụ án văn là bài thơ "Vòng trắng" của Phạm Tiến Duật và "Sẹo đất" của Ngô Văn Phú. Hai ông nhà thơ này trưởng thành thời chống Mỹ, tạo dựng được tên tuổi, thậm chí ông Duật từng nổi danh là nhà thơ số 1 viết về Trường Sơn, vua biết mặt chúa biết tên, trọng vọng lắm. Những năm cuối thập niên 60, đầu 70 đang khí thế hừng hực chống Mỹ, văn nghệ bị cuốn vào chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ta thắng địch thua, thế đứng trên đầu thù, “40 thế kỷ cùng ra trận/Có đảng ta đây, có Bác Hồ”, anh nào lệch ra khỏi quỹ đạo là chết ngay. Tự dưng ông Duật viết bài "Vòng trắng", in tháng 1.1974. Lúc đầu có lẽ do tiếng tăm ông Duật vẫn còn cao, vả lại bài thơ được in trên tạp chí Thanh Niên ít người đọc nên người ta không để ý mấy. Ông Duật viết “Có mất mát nào lớn bằng cái chết/Khăn tang, vòng tròn như một số không”. Sau chả biết có ai mách ông Tố Hữu, thế là báo Nhân Dân và tạp chí Học tập nã đại bác vào thần tượng Phạm Tiến Duật. Tạp chí Học tập (sau đổi tên thành tạp chí Cộng sản) tháng 9.1974 dõng dạc kết án “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở...”. Chỉ cần chừng ấy thôi là thành án, ông Duật mất bao nhiêu công phân trần, giãi bày nhưng đảng chả chịu nghe.
Còn ông Ngô Văn Phú ra mắt "Sẹo đất" năm 1972. Chả là nhìn cái hố bom, ông nghĩ có lẽ đất nó cũng như người, nó đau lắm. Trong bài thơ có câu “Tưởng như da thịt mình mới sẹo/Ai ngờ đất cũng sẹo như mình". Đám tuyên giáo phang luôn, quy kết ông Phú có vấn đề về tư tưởng, không xác định rõ tính chất của cuộc chiến tranh giữa ta và địch, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây suy nghĩ sợ chiến tranh trong nhân dân. Ông Phú bị kiểm điểm, bị cách chức, gây bao phiền phức về sau. Nhìn chung tội của ông Duật ông Phú là sáng tác theo suy nghĩ cá nhân, không đi đúng đường lối quan điểm "ta tốt địch xấu, ta thắng địch thua" của đảng, phải phê phán triệt để làm gương cho kẻ khác.
Dưới thời “văn nghệ cách mạng”, bất cứ động thái nào của văn nghệ sĩ bị nhà cầm quyền không ưa đều có thể thành tội. Người cai trị hay lo sợ vu vơ, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm, bởi “văn nghệ sĩ chúng nó thâm lắm”. Có khi đang bình thường, nghe ông bà kễnh nào phát ra ý nhận xét chi đó về tác phẩm này nọ, thế là vội vàng tổ chức chiến dịch đánh cho tơi tả, rồi cấm. Miền Bắc có dạo cấm suốt một thời gian dài những bộ phim rất hay của Liên Xô như "Đàn sếu bay qua", "Bài ca người lính", "Số phận con người" (đầu thập niên 1960), hoặc cuốn "Truyện núi đồi và thảo nguyên" (của Aimatov) chỉ bởi lúc ấy ở Liên Xô có “chủ nghĩa xét lại”, mà chủ nghĩa này nhà cầm quyền Việt Nam cho là phản động, đi chệch khỏi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, nên phải cấm.
Án văn xứ này nhiều lắm. Kể từ khi thơ văn của Nguyễn Trãi bị đốt thành tro sau vụ án oan tày đình thế kỷ 15 đã bao nhiêu nước trôi qua cầu, bao án văn oan ức chồng chất lên số phận người sáng tác, mà xảy ra nhiều nhất trong “thời đại cách mạng” người cộng sản nắm quyền. Nếu kể ra, phải vài cuốn sách, đặc biệt những vụ tịch thu và thiêu hủy “văn hóa đồi trụy”, bắt văn nghệ sĩ đi cải tạo (thực chất là tù đày) sau ngày 30.4.1975. Nhiều sự việc đã bị lãng quên, nhiều vụ nhạt dần theo năm tháng, nhưng tôi nghĩ có lẽ ở người nào đó, bộ phận nào đó vẫn lặng lẽ ghi chép đầy đủ, sau này bổ sung vào cuốn sử chân thực của xứ này cho cháu con được tỏ tường.Nguyễn Thông

Ông Ngô Đình Nhu và ông Ngô Đình Cẩn

Trước đây có tài liệu viết, nguyên Bí thư Trung ương Đảng Trần Quốc Hương (Mười Hương) bị chính quyền Ngô Đình Diệm bắt giam ở khu biệt giam Chín Hầm, nơi được coi là địa ngục trần gian ở Huế. Người ta bảo ông bị các cai ngục của Ngô Đình Cẩn tra tấn vô cùng man rợ. Trong lần gặp ông để viết về Phạm Xuân Ẩn và Phạm Ngọc Thảo, tôi hỏi ông có chuyện đó không, ông trả lời là ông có bị giam ở Huế nhưng bị tra tấn thì không.
Ông Mười Hương kể, trong thời gian ông bị giam, Ngô Đình Nhu có đến gặp ông. Cuộc gặp này có mặt Ngô Đình Cẩn. Theo ông Mười Hương thì vừa gặp ông, Ngô Đình Nhu nói ngay : “Cộng sản các anh ác lắm. Họ Ngô của tôi suýt nữa thì tuyệt tự…”. Ông Mười Hương nói : “Nhưng cụ Hồ đã không làm khó cho ông Ngô Đình Diệm…”. Ngô Đình Cẩn nói chen vào : “Đúng rồi, cấp trên của các anh thì rất tốt, làm bậy chỉ có cấp dưới thôi”. Ngô Đình Nhu cũng tán thành với ý kiến của Ngô Đình Cẩn. Mục đích cuộc gặp là để biết người biết ta thôi, không hề có chuyện thuyết phục “quy hàng”, nhưng vì cuộc gặp không mong muốn đó mà sau này ông Mười Hương đã bị không ít đồng chí của mình làm khó dễ. Nhờ các đồng chí cấp trên cao nhất của ông hiểu được sự quang minh chính đại của ông nên ông không bị làm sao, mới có thể lên làm tới chức Bí thư Trung ương Đảng. Người bảo vệ tư cách ông Mười Hương chính là ông Lê Đức Thọ.
Sở Nghiên cứu chính trị xã hội do bác sĩ Trần Kim Tuyến cầm đầu là cơ quan mật vụ khét tiếng, là cánh tay đắc lực của ông Ngô Đình Nhu. Tướng tình báo Đặng Trần Đức (Ba Quốc) từng là sĩ quan của cơ quan đó. Theo ông Ba Quốc kể lại với tôi thì cơ quan này không mặn mà lắm với hoạt động chống Cộng, mặc dù có nhận viện trợ của Mỹ để hoạt động chống Cộng. Nhiệm vụ của nó chủ yếu là xử lý những vấn đề nội trị để củng cố chế độ. Ông Ba Quốc kể, có một khoản tài trợ 50 triệu đồng (là khoản tiền rất lớn lúc đó) để mua một chiếc tàu hiện đại dùng để đưa điệp báo ra miền Bắc, nhưng bác sĩ Tuyến chỉ sử dụng một số tiền rất nhỏ để mua một tàu cũ nát, số tiền còn lại dùng vào việc khác theo lệnh của ông Nhu. Khi không thấy hiệu quả của hoạt động điệp báo ngoài Bắc, người Mỹ cho thanh tra việc mua tàu, biết tin này ông Tuyến đã cho nó nổ tung ngoài khơi để phi tang, cho phép thủy thủ lặn xuống biển để thoát nạn.
Về nhân vật Ngô Đình Cẩn, báo chí Sài Gòn vẫn miêu tả là một tên nhà quê ăn trầu, bất tài vô dụng và độc ác. Nhưng theo lời kể của ông Mười Hương và ông Phạm Xuân Ẩn mà tôi nghe được thì Ngô Đình Cẩn không giống như vậy. Ông Cẩn không hành hạ tra tấn những cán bộ Việt Minh nằm vùng mà chính quyền Sài Gòn bắt được ở miền Trung, nhưng thủ đoạn chính trị thì thật đáng sợ. Ông đối xử tử tế với những người bị bắt, đặc biệt là những người mà ông biết là cán bộ có tầm cỡ, giam một thời gian rồi thả ra. Để làm gì vậy? Hầu hết những người do ông Cẩn thả ra đều bị tổ chức của cách mạng nghi ngờ, những cán bộ cấp dưới của những người ấy cũng bị nghi ngờ nốt. Kết quả là Ngô Đình Cẩn đã vô hiệu hóa một lực lượng đáng kể của cách mạng mà không cần phải tra tấn, giết chóc.
Tướng Phạm Xuân Ẩn nói với tôi, trong số anh em của ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Cẩn là người tài giỏi nhất. Nếu ông Diệm và ông Nhu nghe lời ông Cẩn thì chế độ của họ Ngô khó mà sụp đổ. Ông Ẩn cũng cho tôi biết, sau khi giết hai ông Diệm và Nhu, quân đảo chính đã ra Huế bắt ông Cẩn. Lúc đó ông Cẩn có giữ một tài sản 2 triệu đô la. Khi lên cầm quyền, tướng Nguyễn Khánh đã yêu cầu ông Cẩn nếu chuyển 2 triệu đô la đó cho ông ta thì được tha, nhưng ông Cẩn dứt khoát không chịu, ông đã nhắn tin cho người quản lý chuyển 2 triệu đô la đó cho Giáo hội Công giáo và chịu chết. Ông Ẩn còn bảo, khi ra pháp trường, ông Cẩn vẫn ung dung, mặt không hề biến sắc.

Ông Ngô Đình Nhu



Ông Ngô Đình Nhu và phu nhân
Cho đến giờ, thông tin được phổ cập về nhân vật này không phải từ báo chí của cách mạng, mà từ báo chí Sài Gòn sau cuộc đảo chính lật đổ chính quyền ông Ngô Đình Diệm năm 1963, trong đó dòng “chủ đạo” là báo chí do Giáo hội Phật giáo Việt nam thống nhất chi phối hoặc báo chí hậu thuẫn cho những người tham gia đảo chính. Theo đó thì Ngô Đình Nhu là “kiến trúc sư” của chế độ độc tài gia đình trị, đàn áp Phật giáo và phản dân chủ.
Tuy nhiên, nhứng tin tức tình báo mà sau này tôi được tiếp cận trong quá trình viết những ký sự về Phạm Xuân Ẩn, Phạm Ngọc Thảo, Đặng Trần Đức (Ba Quốc) và những nhà tình báo khác, đã cho thấy một Ngô Đình Nhu không giống như Ngô Đình Nhu mà báo chí Sài Gòn trước đây miêu tả.
Chuyện thứ nhất : Vào năm 1955, sau khi ông Ngô Đình Diệm mới lên làm Thủ tướng chính phủ quốc gia (lúc đó chưa gọi là Việt Nam cộng hòa), một hôm ông đi đi lại lại trong phòng làm việc, thể hiện tâm trạng rất lo lắng. Ngô Đình Nhu đẩy cửa bước vào, hỏi : “Anh đang lo lắng gì vậy?”. Ngô Đình Diệm nói: “Lần đầu tiên Việt Nam cử đoàn đại biểu dự một hội nghị quốc tế lớn, tôi đang lo không biết ta sẽ nói những gì”. Ngô Đình Nhu cười nhạt: “Đối với đám cóc nhái đó anh nói gì chả được!”. Đó chính là Hội nghị quy mô lớn đầu tiên của các nước châu Á và Châu Phi diễn ra tại Bangdung, Indonesia, vào tháng 4-1955, thường gọi là Hội nghị Bangdung, cũng là Hội nghị đầu tiên của Phong trào các nước không liên kết.
Chuyện này tôi nghe ông Trần Bạch Đằng kể lại, ông ấy biết là từ nguồn tin tình báo. (Thực tế thì Ngô Đình Diệm không đi dự hội nghị này, mà chỉ cử một Bộ trưởng làm Trưởng đoàn, không hiểu vì lý do gì, nhưng không phải vì vậy mà ông không lo lắng về tiếng nói của đoàn đại biểu chính phủ ông).
Chuyện thứ hai: Khi trọng dụng Phạm Ngọc Thảo làm sĩ quan thân cận bên cạnh mình, Ngô Đình Nhu không thể không biết ông Thảo từng là đảng viên cộng sản và Trung đoàn trưởng quân đội Việt Minh. Nên nhớ là ông Thảo không hề “chiêu hồi”, dù là “chiêu hồi” giả, ông đã từ hàng ngũ của Việt Minh đường đường chính chính đến làm việc với Ngô Đình Nhu, vẫn công khai ca ngợi Việt Minh là những người yêu nước, vẫn công khai thể hiện niềm tự hào mình là chiến sĩ của Việt Minh. Có lần ông Nhu hỏi ông Thảo : “Tôi thấy nhiều người về với quốc gia đã báo cho chính quyền bắt những cán bộ Việt Minh nằm vùng, sao không thấy anh Thảo báo để quốc gia bắt ai cả vậy?”. Ông Thảo trả lời: “Tôi theo Việt Minh vì Việt Minh yêu nước, tôi làm việc cho Tổng thống và anh Nhu vì tôi nghĩ Tổng thống và anh Nhu cũng là những người yêu nước và là những người quân tử. Nếu tôi báo để chính quyền bắt đồng đội của tôi thì tôi là một tên tiểu nhân. Liệu những người quân tử như Tổng thống và anh Nhu có thể trọng dụng một kẻ tiểu nhân như vậy được không?”. Câu trả lời khiến Ngô Đình Nhu rất hài lòng và không bao giờ hỏi những chuyện như vậy nữa.
Chuyện thứ ba: Khi Phạm Ngọc Thảo được cử làm Tỉnh trưởng Bến Tre, ông đã tự ý thả 2000 tù chính trị sau khi cho ăn uống tử tế và phổ biến “chính sách thân dân của Ngô Tổng thống”. Cơ quan an ninh và cảnh sát đã báo lên Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, khẳng định Phạm Ngọc Thảo là Việt Cộng và đề nghị “xử lý” ông Thảo. Tuy nhiên, cả ông Diệm và ông Nhu đều không những không bắt tội Phạm Ngọc Thảo mà còn khen ngợi ông hết lời, đồng thời yêu cầu : “Tất cả các tỉnh khác phải học tập và làm theo Phạm Ngọc Thảo”.
Chuyện này do tướng tình báo Nguyễn Đức Trí cung cấp cho tôi. Tôi cũng có nhắc tới trong loạt ký sự về Phạm Ngọc Thảo. Làm tình báo, Phạm Ngọc Thảo không thể là người cẩu thả tự đưa mình vào chỗ chết. Sau này ông Trần Quốc Hương, nguyên Bí thư Trung ương Đảng CSVN, người chỉ huy nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, có nói với tôi, rằng anh em ông Ngô Đình Diệm Ngô Đình Nhu cũng là “những người yêu nước theo cách của họ”. Nếu không thừa nhận ông Diệm ông Nhu là những người yêu nước thì Phạm Ngọc Thảo đã không dám đi một nước cờ cao như vậy. Và cũng cần biết thêm chi tiết thú vị này nữa, Phạm Ngọc Thảo được phân công làm tình báo nhưng không phải là làm tình báo theo cái nghĩa thông thường của nhiệm vụ này, nhiệm vụ của ông là tham gia vào chính quyền Sài Gòn để thúc đẩy quá trình thống nhất đất nước.
Trong những nhà tình báo mà tôi viết, có 2 người tôi gặp khi các ông còn sống, đó là ông Ẩn và ông Ba Quốc. Ông Ẩn không hề giấu diếm mối quan hệ thân tình với Ngô Đình Nhu, còn ông Ba Quốc thì nhiều lần tiếp xúc với Ngô Đình Nhu. Cả hai vị tướng này đều là những nhà tình báo không bao giờ báo cáo theo “khẩu vị của cấp trên”. Trong những lần trao đổi với tôi về những chuyện liên quan đến Ngô Đình Nhu, cả hai ông đều không nói một lời nào xấu về ông Nhu và tôi tin trong những báo cáo gửi cấp trên cũng không có những lời như vậy.
Còn nhiều chuyện thú vị khác về Ngô Đình Nhu tôi sẽ đề cập trong một dịp khác.
Thời kỳ đất nước chia đôi là thời kỳ bi thương của dân tộc. Non sông về một mối đã 42 năm, chúng ta cũng đã nói hòa hợp dân tộc 42 năm nay, nhưng lòng người vẫn còn ly tán. Muốn hòa hợp dân tộc thực sự, cần hiểu đúng về lịch sử. Muốn hiểu đúng về lịch sử thì phải hiểu đúng từng con người trong dòng chảy của lịch sử. Cái gì không biết thì thôi, cái gì đã biết thì nên ghi nhận. Trừ giặc ngoại xâm ra, dân tộc ta làm gì có “bên này” hay “bên kia”!Hoàng Hải Vân

Kiến tạo kiểu xin-cho

Có lần, doanh nghiệp tôi nhận được cuộc gọi từ thư ký một lãnh đạo ngành.
Họ muốn lãnh đạo công ty góp ý cho họ về một số vấn đề quan trọng của chính sách. Chúng tôi ở TP HCM, họ tổ chức tại Hà Nội. Lời mời khá gấp song vì cảm thấy đây là việc cần thiết, chúng tôi khăn gói ra Hà Nội đến cuộc gặp.
Tới nơi, họ cho ngồi đợi cả tiếng đồng hồ. Bất chấp việc lời mời được đưa ra bởi “tư lệnh ngành” - cái cách đối xử với doanh nghiệp được mời đến nơi để góp ý thì không khác gì một đơn vị đến xin xỏ. Cách họ cư xử trong quá trình trao đổi, cũng giống như chúng tôi là một nhân viên nhà nước đi báo cáo với họ. Doanh nghiệp được mời tham gia góp ý nhưng bị lép vế ở vai trò bề dưới.
Tôi ngạc nhiên quá. Họ mời mình đến để nghe ý kiến mình, bởi việc mình góp ý giúp cho việc xây dựng văn bản luật của họ, nhưng họ đối xử như là mình đi xin. Và thái độ nghe ý kiến cũng không có vẻ gì là muốn cầu thị để thay đổi hiện trạng vấn đề.
Chuyện hành xử như vậy không chỉ một lần. Trong nhiều năm làm doanh nghiệp, tôi được một số cơ quan nhà nước mời đến trao đổi, xin ý kiến nhưng tôi hiếm khi thấy sự trọng thị thật sự mà thường là thái độ quan liêu. Có lần tôi thấy vô lý quá, liền đứng dậy bỏ về giữa chừng.
Tôi không nói tất cả các cuộc làm việc giữa doanh nghiệp - cơ quan công quyền đều như vậy. Cũng có những cuộc đại diện chính quyền có lắng nghe và chia sẻ, nhưng thực sự không nhiều. Còn lại có rất nhiều cuộc gặp, làm việc, hội nghị, hội thảo, diễn đàn, chuyến đi mà cách tổ chức không đi vào thực chất. Có những lần doanh nghiệp được chọn đi dự cái này cái kia nhưng cách trao đổi khiến doanh nghiệp hiểu là do mình được “ưu tiên” chứ không phải sự lựa chọn công bằng mà họ xứng đáng được hưởng. Thậm chí có doanh nghiệp đã từ chối sự “ưu tiên” đó.
Tôi biết những sự kiện khai trương dự án lớn có ý nghĩa với kinh tế vùng, do một cơ quan công quyền đứng ra mời gọi đầu tư, nhưng khi doanh nghiệp gửi thư mời đại diện chính cơ quan đó xuống tham gia, thì không hề nhận được câu trả lời.
Hay trong sự vụ hàng ngày, biết bao nhiêu đơn từ, thư mời, thư đề nghị của doanh nghiệp cứ gửi đi rồi biệt tăm, rất ít khi có hồi âm.
Vì sao mà trách nhiệm của cơ quan nhà nước với các doanh nghiệp không bình đẳng như vậy? Chính tư duy “xin – cho”, hay là “ban phát - cho phép” tạo ra thái độ đó.
Có ai cảm thấy ngạc nhiên khi hầu hết tất cả công văn, đơn từ doanh nghiệp gửi đi cơ quan nhà nước đều là “đơn xin”. Người ta đã quen nên không ai chỉnh sửa từ “xin” phi lý này, bởi vì mấy chục năm qua nó đã ngấm vào máu vào xương chúng ta, và không ai cảm thấy bất bình với từ xin, cũng không ai chủ động thay thế nó bằng từ “đề nghị”.
Trong mối quan hệ giữa khu vực tư nhân và khu vực công, tâm lý bình đẳng chưa được đề cao.
Đơn cử, chúng ta vẫn dùng những từ bóng bẩy như cơ quan công quyền là công bộc của dân, đầy tớ của dân. Dân, doanh nghiệp cũng không cần cơ quan công quyền làm đầy tớ. Chỉ cần họ có được văn hóa phục vụ, coi doanh nghiệp là đối tác, là khách hàng của mình, và hành xử theo thái độ tôn trọng nhau, hợp tác hai bên bình đẳng và đều có lợi.
Tôi không cần anh phục vụ, chỉ cần anh làm đúng theo chức năng bình đẳng của vai trò cơ quan bảo vệ và phục vụ theo văn bản, theo hợp đồng, theo luật pháp thì tôi cũng biết ơn anh. Bởi vì người dân, doanh nghiệp đang trả lương cho bộ máy công quyền.
Chúng ta mong muốn chính phủ kiến tạo. Kiến tạo là tạo ra môi trường tốt để doanh nghiệp sinh sôi phát triển và bản thân các doanh nghiệp cũng có vai trò kiến tạo của mình trong sự tương tác ngược lại với chính quyền. Nền kinh tế là một cơ thể, các doanh nghiệp là các tế bào. Tế bào yếu thì cơ thể ốm.
Trong cuộc gặp gần đây giữa Thủ tướng và đại biểu doanh nghiệp tư nhân toàn quốc - hàng chục nghìn doanh nghiệp theo dõi và cả nghìn đại diện tham gia trực tiếp - ông đã thể hiện mong muốn xây dựng một chính phủ liêm chính kiến tạo và hành động. Nếu tư duy xin-cho còn thì cơ chế hành động - liêm chính - kiến tạo sẽ còn bị hạn chế. Nguồn gốc một chính phủ liêm chính kiến tạo và hành động phải bắt nguồn từ thay đổi trong tư duy.
Vậy bao giờ thay đổi, thay đổi từ đâu? Tôi nghĩ, ta cần kích hoạt cuộc cách mạng văn hóa đó bằng việc gạch đi một từ “xin” trong các lá đơn.Phạm Phú Ngọc Trai

No comments:

Post a Comment