Sunday, August 13, 2017

Bài viết hay(5290)

Vụ việc Trịnh Xuân Thanh (TXT) bị bắt cóc đưa về Việt Nam theo tui sớm muộn gì cũng ...chìm xuồng bởi Đức không thể vì TXT mà làm sứt mẻ quan hệ giữa 2 nước mà CS chơi chiêu lì thì ai cũng thua. Không có gì ngu cho bằng đi nghe lũ dư luận viên của đảng tranh cải rồi tức làm gì cho mệt. Chế độ nào cũng có những đứa trí thức có bằng cấp cao nhưng cứ thích đi bằng 2 đầu gối nên cứ ưa làm bồi bút theo kiểu "thượng đội, hạ đạp" kia mà. Bolsa cũng có lão già đầu bạc khoe bằng Tiến sĩ kinh tế chuyên viết bài nâng bi Trump, bợ đít con voi quá ư trơ trẽn kia kìa. Thời nào, ở đâu cũng có lũ đầu trâu, mặt ngựa như vậy thì để ý làm gì cho phiền. Cứ coi ảnh tươi mát cho đời vui hơn một tí. Lú/ Trump này xuống thì cũng sẽ có Lú/ Trump khác lên thôi. Có chắc gì Mike Pence hay Huynh/ Vượng sẽ khá hơn? They are the same.

Vụ Trịnh Xuân Thanh: Nghĩ về dân trí và nhận thức luật pháp

Vụ việc Trịnh Xuân Thanh (TXT) bị bắt cóc đưa về Việt Nam theo khẳng định cùng với sự giận dữ và những biện pháp ngoại giao nặng nề của Bộ ngoại giao CHLB Đức đã là một chủ đề nóng trên mạng Internet cũng như toàn xã hội Việt Nam trong và ngoài nước gần chục ngày qua.
Ngoài việc trục xuất trưởng đại diện tình báo Việt Nam trong vòng 48 tiếng, bản Tuyên bố của Bộ Ngoại giao CHLB Đức cũng ghi rõ: "Chúng tôi cũng bảo lưu quyền áp dụng thêm các biện pháp khác trên bình diện chính trị, kinh tế và chính sách hợp tác phát triển." Còn Ngoại trưởng Đức, ông Sigmar Gabriel: "Chúng ta không thể trở lại tình trạng bình thường, làm như là không có chuyện gì xảy ra".
Quan sát sự việc dưới góc độ xã hội và luật pháp qua bản chất sự việc, người ta mới nhận ra nhiều điều qua sự việc này về mánh lới tuyên truyền bịp bợm, về nhận thức của người dân...
Thậm chí không chỉ là những người mà nhà nước thường gọi là "dân trí thấp".

Tự thú hay bắt cóc?
Trước hết, điều người ta thắc mắc đầu tiên về vụ việc này là có thật TXT đã bị bắt cóc như tuyên bố của Bộ Ngoại giao CHLB Đức? Hay TXT đã về nước đầu thú như những thông tin của nhà nước Việt Nam chính thức đưa tin?
Qua những gì được thể hiện, chỉ cần sự chững chạc trong giận dữ và hành xử của phía CHLB Đức, cũng như sự lấn bấn, lúng túng và thiếu minh bạch của nhà nước Việt Nam, người dân ít quan tâm nhất cũng tự đặt ra cho mình những câu hỏi để qua đó có thể tự trả lời mà rút cho mình đâu là sự thật:
- TXT bị Việt Nam tuyên bố truy nã quốc tế tại sao người ta tìm mãi trong danh sách Interpol có rất nhiều người Việt lại không có cái tên TXT?
- Trong lệnh truy nã của Việt Nam, tờ nào cũng có ghi: "Bất cứ ai cũng có quyền bắt TXT đến giao nộp cho cơ quan công an...". Trước đó, Việt Nam tuyên bố TXT đã đến một nước Châu Âu. Vậy TXT từ châu Âu về đến Trực ban hình sự Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an bằng con đường nào để không bị bắt ngay tại biên giới, tại cửa khẩu khi nhập cảnh hoặc trên đường? Hay TXT có phép xuất quỷ nhập thần và đã thi thố cái tài đó trong trường hợp này?
- Tại sao, TXT bị truy nã khi ở nước ngoài đã gây sự chú ý của toàn xã hội, từ TBT Đảng cho đến bà đánh dậm dưới ao, thế mà ngang nhiên về nước rồi đến cơ quan Công an đầu thú mà Bộ trưởng Công an không hề hay biết?
- Vì sao chính phủ CHLB Đức giận dữ đến mức đó? Phải chăng là không có việc TXT bị bắt cóc trên đất Đức, chỉ vì CHLB Đức thích giận giữ và làm căng thẳng quan hệ hai nước mà thôi?
- Tại sao chính phủ CHLB Đức, một nhà nước dân chủ, pháp quyền lại bao che cho TXT là người bị Đảng CSVN kỷ luật và cáo buộc tham nhũng? Phải chăng, nhà nước này đang bao che cho tham nhũng và tội phạm?
- TXT có phải là tội phạm hay chưa? Tại sao TXT lại có thể xin tỵ nạn ở CHLB Đức?
- Tại sao TXT về VN đầu thú có đơn, đưa lên truyền hình rằng tôi tự thú... Vậy mà khi CHLB Đức tố cáo mạnh mẽ, đuổi đại diện cơ quan tình báo VN tại ĐSQVN tại Berlin về đồng thời mạnh mẽ cảnh báo nhiều hậu quả khác mà Việt Nam lại nhu nhược, hèn nhát đến mức chỉ cho người phát ngôn lên truyền hình nhỏ nhẹ "Tôi lấy làm tiếc..." - nghĩa là cô gái này lấy làm tiếc còn VN thì chưa ý kiến gì?
Chỉ cần trả lời những câu hỏi trên, thiết nghĩ người dân thường cũng biết được sự thật có đúng như hệ thống tuyên truyền Việt Nam đã và đang tung hứng.
Dân trí và nhận thức luật pháp
Chúng tôi đã có bài viết: Qua vụ Trinh Xuân Thanh: Nghĩ về một thói quen hành xử, ở đó chúng tôi đã chỉ những hành động côn đồ xuất khẩu ra quốc tế này chỉ là bước tiếp theo của những hành động vốn đã thành thói quen hành xử trong nước xưa nay.
Ở đó chúng tôi cũng đã đặt vấn đề liệu TXT có phải là quan chức tham nhũng duy nhất ở Việt Nam và việc bắt cóc TXT có phải chỉ nhằm mục đích cho "cuộc chiến chống tham nhũng"?
Ngoài việc dùng truyền thông nhằm lấp liếm đi hành động của nhà cầm quyền tự ý bắt cóc người trên lãnh thổ của CHLB Đức làm người Đức giận dữ, thì đám báo chí và Dư luận viên (Một dạng an ninh và tay chân của công an) đã to mồm kêu gào: Nhà nước Đức thiếu thiện chí, bảo kê tham nhũng, rửa tiền... và dù bằng cách nào, thì miễn là bắt được TXT về chịu tội tham nhũng là được...
Thậm chí, cho đến khi những dòng chữ này viết ra, thì ở Việt Nam cũng như trên thế giới, chưa có một phiên tòa nào được mở để kết luận TXT là có tội, cho dù đó là một phiên tòa đểu kiểu như phiên tòa cách đây đúng 6 năm, ngày 2/8/2011 tại Hà Nội xử Cù Huy Hà Vũ đi nữa. Tại phiên tòa đó, người ta bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, luật lệ để tuyên án Cù Huy Hà Vũ có tội về kết án 7 năm tù giam. Cũng tại phiên tòa đó, LS Trần Đình Triển đã chứng kiến sự bất nhân và những trò đểu của hệ thống tòa án cộng sản. Và sau cái gọi là phiên tòa ấy, người ta tuyên bố Cù Huy Hà Vũ có tội (!).
Thế nhưng, ngay cả phiên tòa đểu như vậy, hiện vẫn chưa có để kết tội TXT, thì không rõ căn cứ vào đâu mà các Tiến sĩ luật, luật sư... cùng đồng lòng với đám Dư luận viên kết tội khơi khơi TXT là tội phạm, là rửa tiền, là cố ý làm trái... mà tất cả những điều đó, chỉ căn cứ vào lời của Đảng và báo chí nhà nước. Để rồi đi đến kết luận: "Tôi cho rằng đó là ý kiến thiếu thận trọng, vội vàng, chưa quán triệt nguyên tắc các Công ước quốc tế mà VN và CHLB Đức đã tham gia ký kết...".
Vậy phải chăng, ở đây, các ông Tiến sĩ và luật sư ở đây đồng ý rằng chỉ cần Đảng muốn và dùng báo chí của đảng thì đã đủ để thay Tòa án?
Thế là, lẽ ra đối tượng bị ném đá là TXT vì những "thành tích làm bay hơi hàng ngàn tỷ đồng của dân" thì lại diễn ra một quá trình tranh luận khác, đó là "ném đá" những người bảo vệ việc bắt cóc của một "Nhà nước pháp quyền XHCN trên đất nước khác".
Mục đích biện minh cho phương tiện?
Xưa nay, trong chế độ Cộng sản việc đạt bằng được mục đích đặt ra là một điều luôn được ưu tiên, dù mục đích đó là gì và việc đạt mục đích đó bằng những biện pháp nào. Khi đạt được mục đích, thì mọi việc được coi là thắng lợi.
Chẳng hạn, để thực hiện lệnh từ quan thầy Quốc tế Cộng sản từ Nga, Tàu, những năm 50 của thế kỷ trước, nhằm triệt tiêu tầng lớp tinh hoa, giàu có của dân tộc để tiện lợi cho việc tiến hành cuộc Cách mạng vô sản, việc tập hợp quần chúng làm những cuộc lên đồng tập thể, cướp bóc có tổ chức trong toàn xã hội như những tập duyệt cho đám Công - Nông liên minh, Quốc tế Cộng sản đã đặt ra mục đích Cải Cách ruộng đất.
Đảng Cộng sản Việt Nam đã tiến hành cuộc Cải cách ruộng đất, gây nên một tội ác đẫm máu với dân tộc. Hồ Chí Minh đã từng phải có động tác "tự phê bình, lau nước mắt" trước hàng chục, hàng trăm ngàn người dân bị oan khuất và mất mạng vì cuộc CCRĐ này. Sau này để giảm bớt tội lỗi của mình với dân tộc chính những người CSVN đã tự biện minh rằng: Khi đó, đảng ta bị áp lực từ ĐCS Trung Quốc và Liên Xô trong Quốc tế cộng sản... Thế nhưng, chính những lời lẽ đó đã hạ bệ uy tín ĐCS, luôn luôn có những lời lẽ rêu rao rằng "Đảng ta đã luôn có đường lối độc lập, tự chủ và sáng tạo"...
Dàn Dư luận viên của đảng trước hết là chối bỏ việc TXT bị bắt cóc bằng những lập luận: Bằng chứng đâu, TXT về nước là tự nguyện, là do hối lỗi, là để hưởng lượng khoan hồng của đảng nhà nước... thôi thì đủ mọi lời lẽ biện minh.
Thế nhưng, khi cộng đồng quốc tế và mạng xã hội làm sáng tỏ vụ bắt cóc, thì dàn DLV giở bài cùn rằng: Miễn là bắt được TXT về trị tội, còn bắt cách nào thì... thoải mái.
Khi đạt được mục đích, thì mọi phương tiện, cách làm đều được nhà nước chấp nhận. Chính tư duy này đã và đang được bằng mọi cách áp đặt lên suy nghĩ của người Việt Nam trong xã hội ngày nay.
Các Luật sư, tiến sĩ... về luật, những người mà lẽ ra với sự hiểu biết của mình sẽ phân tích cho xã hội những vấn đề đen, trắng, đúng, sai trong từng vụ việc dưới khía cạnh luật pháp và hành xử thượng tôn luật pháp. Điều đó cũng chính là giúp cho đảng CS, cho nhà nước như họ muốn, để đảng, nhà nước biết mà sửa sai cái thói côn đồ để tự biến mình thành côn đồ quốc tế.
Thì qua vụ án này, ngược lại có những người trong số họ lại là những người hành xử với tư duy độc tài và phe nhóm, cũng chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của đám phe nhóm đang đánh nhau theo kiểu "lựa theo chiều gió" mà người ta chưa hiểu họ đang mong đợi điều gì? Phần còn lại, những Ls hiểu biết lại ngại va chạm, ngại ảnh hưởng đến mình, đồng nghiệp mình... mà im lặng?
Lẽ nào họ không biết phân tích luật pháp và nhìn nhận vấn đề trên cơ sở luật pháp rằng: Nhà nước Đức đã không phản đối vì việc VN bắt TXT ra tòa để luận tội. Nhưng nhà nước CHLB Đức đã không đồng ý và phản ứng dữ dội bởi chủ quyền của họ bị xâm phạm khi nhà nước VN tổ chức bắt cóc người trên đất nước họ mà không đượ sự đồng ý của họ, dù người đó là ai.
Phải chăng, việc nhà nước Đức phản ứng dữ dội vì chủ quyền bị xâm phạm lại đã trở thành chuyện lạ ở Việt Nam, khi mới mấy hôm thôi, nhà nước VN đã lặng lẽ cất ván, rút dù buộc nhà thầu khoan thăm do dầu khí tại Bãi Tư Chính, trong thềm lục địa Việt Nam, chỉ vì anh bạn vàng của Đảng mới hắng giọng?
Và điều đáng buồn ở đây, là tư duy "Mục đích biện minh cho phương tiện" người Cộng sản đã thành công trong việc xây dựng một nền tư pháp độc tài không chỉ với đám dư luận viên hoặc những người dân dân trí thấp mà ngay trong cả những tầng lớp luật sư, trí thức được coi hoặc tự nhận là hiểu biết.
Với tư duy và nhận thức như vậy, thì một nhà nước pháp quyền còn là một mơ ước xa vời với Việt Nam.J.B Nguyễn Hữu Vinh
Hà Nội, Ngày 10/8/2017

THƯ GIÃN CUỐI TUẦN

1. THƯA CÔ, CHÚNG NÓ MỞ MẮT HẾT RỒI Ạ!

Kolia đến trường khoe với cô giáo:
- Cô ơi, tối qua mèo nhà em đẻ một bầy 7 con, con nào cũng là đảng viên cộng sản!
Bẵng đi mấy tuần, một hôm sực nhớ, cô giáo hỏi cậu bé:
- Này, Kolia, đàn mèo cộng sản nhà em thế nào rồi?
- Thưa cô, giờ chúng không còn là cộng sản nữa ạ, - Cậu bé trả lời.
- Sao?
- Vâng, thật mà, chúng mở mắt hết rồi!

2. AI KHỞI XƯỚNG CẢI TỔ

Đại học Hành chính mở cuộc điều tra xã hội học. Nhóm sinh viên phỏng vấn một cụ bà:
- Thưa cụ, theo cụ, công cuộc Cải tổ đang tiến hành khắp nước ta là do các đồng chí đảng viên cộng sản hay các nhà khoa học khởi xướng?
- Dĩ nhiên là của mấy ông cộng sản rồi.
- Sao cụ lại nghĩ thế ạ?
- Vì nếu là các nhà khoa học khởi xướng thì họ đã làm thí điểm với súc vật trước khi thí điểm với người chứ…

3. TỔ NGHỀ GIÀ NHẤT

Luật sư, bác sĩ phẫu thuật, kỹ sư xây dựng, đảng viên cộng sản cãi nhau xem nghề nghiệp của ai có gốc gác lâu đời hơn.
Luật sư lên tiếng:
- Khi Thượng đế đuổi Adam và Eva ra khỏi thiên đường, thì đó chính là hành vi tư pháp đấy!
Bác sĩ phẫu thuật cãi:
- Xin lỗi, trước đó Thượng đế đã rút một chiếc xương sườn của Adam để tạo ra Eva, chẳng lẽ như vậy chưa phải là một cuộc đại phẫu thuật?
Kỹ sư xây dựng không chịu thua:
- Nhưng trước khi nặn Eva, Thượng đế đã tạo ra vũ trụ. Đó là công cuộc xây dựng thế giới chứ gì nữa! Ai chả biết, trước khi thế giới được xây dựng, thì chỉ có cõi hỗn độn thôi.
- Thế ai là Tổ nghề tạo ra sự hỗn độn? Vị đảng viên cộng sản khoái trá ngắt lời, - Tất nhiên là chúng tớ rồi!

4. THƯƠNG LẮM!

- Có thể xây dựng Thụy Sĩ thành nước cộng sản và biến Paris thành thủ đô cộng sản được không?
- Dĩ nhiên là được, nhưng thương lắm!

5. DO THÁI VÀ…

Thoạt đầu chỉ có Pharaon và Do Thái. Các vị Pharaon lần lượt băng hà, dân Do Thái tiếp tục sinh con đẻ cái. Sau, đến dân Do Thái và Tòa dị giáo. Các quan tòa dị giáo chết sạch, dân Do Thái vẫn sống khỏe. Rồi lũ Quốc xã lùng diệt Do Thái. Quân Quốc xã ra ma, Do Thái vẫn buôn bán khắp thế giới. Giờ chỉ còn Do Thái và các đồng chí Cộng sản…
- Này, thằng kia, mày định ám chỉ gì thế?
- Chẳng ám chỉ gì cả. Truyện Do Thái đến đó là hết rồi.
Người dịch: L.K.H.
Dịch giả gửi BVN

Một trăm ba mươi năm bang giao văn hóa Việt - Pháp


clip_image002
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến
[Văn Hóa Nghệ An phỏng vấn nhà phê bình văn học Đặng Tiến]
Phóng viên: Chúng tôi được biết ông đã sang châu Âu từ năm 1966 và định cư ở Pháp từ năm 1968. Ông là người đã cùng với giáo sư Tạ Trọng Hiệp sáng lập ra ban Việt học tại Đại học Paris VII và đã giảng dạy liên tục ở đó cho đến lúc về hưu. Động cơ nào đã thúc đẩy các ông hình thành ý tưởng tuyệt vời này?

Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: Trước tiên, phải thưa ngay: anh Tạ Trọng Hiệp, đã quá cố từ lâu, và bản thân tôi, không có chức danh Giáo sư. Trong lãnh vực biên khảo, chúng tôi có một vài đóng góp, chúng tôi có giảng dạy ở cấp bực đại học, nhưng với tư cách giảng viên ngoài biên chế nên không có chức danh giáo sư, ngoài ra, ở Pháp, những giáo sư có quy chế thực thụ, cũng ít khi xưng chức tước. Tôi chưa từng nghe các anh Lê Thành Khôi, Trịnh Văn Thảo… xưng danh GS TS,  cho dù họ là thầy của nhiều bậc thầy. Anh Cao Huy Thuần, ngày nay thường được người đời xưng tụng như vậy, chớ anh ấy không tự xưng chức danh trên sách báo.
Thứ đến, anh Tạ trọng Hiệp và tôi không “sáng lập” ra ban Việt học tại ĐH Paris 7. Việc sáng lập là do nhà nước Pháp quyết định, theo nhu cầu của họ, và tình hình quốc tế vào thời điểm 1968, mở đầu hội đàm Paris để chấm dứt chiến tranh Việt Nam, và sau “tháng Năm 1968” tại Paris, thay đổi cục diện nước Pháp về mặt chính trị lẫn trí thức. Giáo sư Jacques Gernet, chủ nhiệm Khoa Nghiên cứu Ngôn ngữ văn minh Á Đông (L.C.A.O.: Langues et Civilisations de l’Asie Orientale) tại Đại học Paris 7, một nhà bác học uyên bác, quen biết và tin cậy học giả Tạ Trọng Hiệp, chuyên gia chữ Nôm thuộc Trung tâm quốc gia nghiên cứu khoa học Pháp (C.N.R.S.: Centre National de Recherches Scientifiques), giao cho anh thi hành dự án thành lập ban Việt học, trực thuộc LCAO. Anh Hiệp quen tôi, rủ tôi cùng làm chung. Năm sau có thêm các anh Nguyễn Phú Phong, Phạm Đán Bình, nay đều đã quá cố.
Phóng viên: Ban Việt học của Đại học Paris 7 đã hoạt động như thế nào? Nội dung giảng dạy bao gồm những gì?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: Lúc đầu, những người tạo lập ban Việt học là chỉ để dạy tiếng Việt cho người Pháp, theo nhu cầu lúc đó. Anh Tạ Trọng Hiệp muốn nới rộng, kèm theo việc giảng dạy về văn hóa: đó là công lao của anh ấy. Lúc đấy chưa có cơ sở, phải ké vào ban Trung Quốc, tại trung tâm Censier, quận 5 Paris, về sau dọn về trung tâm Jussieu, cũng vùng quận 5, được một phòng khoảng trên 50 m2 vừa làm phòng dạy học, thư viện và văn phòng. Nay đã dọn về quận 13, gần Thư viện Quốc gia. Nội dung chính vẫn là việc dạy tiếng Việt, sau 3 năm thì có bằng cử nhân khoa tiếng Việt, sau đó là thạc sĩ hay cao hơn.
Có những chứng chỉ chuyên về văn chương, sử học, lúc đầu do những giảng viên được mời ngoài biên chế, về sau có những phụ giảng (assistant) và Phó giáo sư (Maitre de conférence).
Từ 1978, Đại học Paris 7 ký hiệp ước hợp tác với Đại học Tổng hợp Hà Nội. Phái đoàn đại biểu đầu tiên do ông Hiệu trưởng Phan Hữu Dật điều khiển, gồm có các giáo sư Hà Văn Tấn, và Nguyễn Văn Tu. Dần dần, việc trao đổi dồi dào và mật thiết hơn. Hà Nội gửi người sang giảng dạy, như giáo sư Nguyễn Tài Cẩn, Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Giáp, Trần Trí Dõi… nhưng sinh viên Pháp kiến thức giới hạn về tiếng Việt nên việc giảng dạy chủ yếu là tiếng Việt.  Công tác này, về lâu dài, cũng có hiệu lực tốt, ví dụ dạy tiếng Việt cho những người sau này sẽ là chuyên gia về Việt Nam, như sử gia Daniel Hemery, Emmanuel Poisson, hay chuyên gia tiền cổ như Thierry.
Về mặt học thuật, ban Việt học không đóng góp được bao nhiêu, nhưng nó là khung cửa mở cho Đại học Việt Nam lần đầu tiên mở cửa hợp tác với một Đại học phương Tây, ngoài khối xã hội chủ nghĩa.
Về phía Pháp cũng là một bước tiến: thiết lập quan hệ văn hóa với một chính thể Việt Nam mới: độc lập, hòa bình và thống nhất. Có thể Pháp, qua Đại học Paris 7, là quốc gia Tây phương đầu tiên thiết lập quan hệ này với nước Việt Nam trong thể chế xã hội chủ nghĩa, thoát ly hẳn với quan hệ thuộc địa trước đó.
Phóng viên: Với tư cách là người trong cuộc, là nhân chứng, ông nhận xét như thế nào về quá trình giao lưu, tương tác văn hóa Việt-Pháp trong khoảng thời gian từ khi Việt Nam thực hiện Đổi mới đến nay, hơn 25 năm?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: Quá trình giao lưu văn hóa Việt-Pháp đã có từ một thế kỷ trước. Cuộc Đổi mới 1986 không thay đổi bao nhiêu. Con người thay đổi dự án dễ hơn là thay đổi kỷ niệm. Nhưng nhất định là phải có, đầu tiên là về kinh tế: hàng hóa trao đổi trên thị trường nhiều hơn, thì tự dưng tâm lý con người cũng cởi mở hơn. Về mặt văn học, đã có thêm nhiều tác phẩm Việt Nam được dịch ra tiếng Pháp, do tư nhân chọn dịch với những nhà xuất bản tự do. Người đọc cũng tự do. Trước đây thì văn thơ được dịch, phần nhiều là do nhà xuất bản Ngoại văn Hà Nội tuyển chọn, chủ yếu là với mục đích tuyên truyền, tác dụng cũng khác đi. Cuốn sách mới được dịch, và ăn khách, là Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, bán chạy, vẫn chưa được xuất bản chính thức trong nước.
Phóng viên: Trong cuộc giao lưu văn hóa đó, theo ông thì bên nào chủ động hơn? Và bên nào được lợi nhiều hơn?
So sánh hơn, thua cho rốt ráo thì khó. Nước Pháp mạnh hơn về mọi mặt, lại nhiều kinh nghiệm ngoại giao, thì dù chủ động ít thì lợi có thể vẫn nhiều, có chỗ ta thấy, có chỗ ta chưa thấy. Phía Việt Nam, dù ý chí chủ động có mạnh hơn, thì kết quả chưa chắc đã nhiều hơn. Nhưng phần ít của một nước yếu có khi lại có tầm quan trọng. Một cuốn sách tiếng Pháp dịch ra tiếng Việt có thể có tác dụng hơn 10 cuốn sách tiếng Việt dịch ra tiếng Pháp. Về mặt kinh tế, một chai nước mắm Việt Nam và một chai rượu vang Pháp, khi xuất khẩu, chưa chắc cái nào sẽ hơn cái nào về tác dụng.
Nhưng nếu chỉ nhìn mặt văn hóa thôi, thì thấy Pháp chủ động hơn: họ có chính sách, và ngân sách phổ biến văn hóa ra nước ngoài, có chính sách ủng hộ hay tài trợ việc dịch sách Pháp, mà không can thiệp vào nội dung tác phẩm.
Phóng viên: Đã hơn 150 năm nếu tính từ khi đội quân viễn chinh Pháp vào Tourane/Đà Nẵng, thậm chí là trước đó hàng trăm năm các nhà truyền giáo người Pháp thâm nhập vào nước ta dưới thời Lê. Theo ông thì chúng ta nên xác định khoảng thời gian nào làm mốc xác định cho mối quan hệ văn hóa này?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: Ngoài việc truyền giáo từ thế kỷ 17, phải kể thêm việc các pháo thuyền Bá Đa Lộc giúp Nguyễn Ánh thắng Tây Sơn, và người Pháp giúp xây dựng thành trì theo kiểu Vauban khắp nước. Nhưng muốn xác định cái mốc cho quan hệ Việt-Pháp thì tôi chọn 1885, khi hòa ước Patenotre áp đặt chế độ thuộc địa trên toàn cõi Việt Nam, với chặng đầu quan trọng là chính sách khai hóa của toàn quyền Paul Doumer, 1887-1902. Họ bắt đầu xây dựng đường sá, đê điều, dĩ nhiên là để khai thác thuộc địa, theo quyền lợi của họ. Sau đó là việc bãi bỏ các kỳ thi chữ Hán từ 1919, phổ biến chữ quốc ngữ qua các trường học, với nhiều thiện chí, và dĩ nhiên kèm theo hậu ý. Họ cũng có công khôi phục văn hóa, văn chương, mục đích là chứng tỏ có một nền văn hóa Việt Nam độc lập với Trung Quốc, trong ý chí tách rời Việt Nam ra khỏi ảnh hưởng chính trị Trung Quốc, dĩ nhiên là có lợi chính sách thuộc địa của họ, nhưng cũng có phần lợi ích cho Việt Nam, trên đường Âu hóa mà vẫn giữ gìn bản sắc dân tộc. Dĩ nhiên là nếu dân tộc ta thực hiện được hai mục tiêu đó trong tư cách một quốc gia độc lập, thì vẫn hơn là làm dân thuộc địa. Nhưng mất chủ quyền là một việc đã rồi, dự án giải phóng dân tộc cũng tùy thuộc vào những tiến bộ xã hội: có lẽ đó là hoài bão của một thế hệ nho sĩ, như phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, vừa chống thuộc địa Pháp vừa hô hào Âu hóa, duy tân. Dù sao thực dân Pháp, trong tư cách thực dân, cũng không áp dụng chính sách hủy diệt văn hóa địa phương như Trung Quốc đã làm thời Minh thuộc, thế kỷ XV. Cũng nên nhìn lại những tiến bộ đời Pháp thuộc, nhận rõ chính sách của thực dân đế quốc, nhưng cũng nên thấy họ không chỉ bóc lột mà thôi. Trong thời gian dài tranh đấu giành chủ quyền, chúng ta đã có cái nhìn định hướng, mà ngày nay cần xét lại, công bình và cởi mở hơn.
Phóng viên: Trước đây mối quan hệ chủ yếu theo chiều tiếp nhận thuộc về phía chúng ta. Thế nhưng, khoảng dăm thập kỷ nay, chúng ta đã dần giữ thế chủ động hơn trong giao lưu văn hóa. Ông có thể cho bạn đọc NHNA biết những biểu hiện của sự ảnh hưởng của văn hoá Pháp đối với văn hóa Việt nam được không? Sự ảnh hưởng đó thể hiện sâu sắc và rõ ràng nhất ở những lĩnh vực nào nhất?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: “Chúng ta chủ động hơn” nghĩa là chủ động hơn trước, hơn thời còn là thuộc địa, chớ không phải chủ động hơn người Pháp. Họ giàu mạnh hơn thì cũng chủ động hơn, chưa kể về văn hóa họ đã có truyền thống và cơ sở lâu đời khắp thế giới.
Ảnh hưởng văn hóa là một chủ đề rộng lớn và phức tạp. Lấy ví dụ con đường sắt xuyên Việt, người Pháp xây dựng, dĩ nhiên là với sự đóng góp của người Việt về công cũng như của, khởi công từ đầu thế kỷ đến 1936 mới xong. Đây là một công trình cụ thể, lớn lao, mang lại những lợi ích kinh tế có thể đo được, đếm được. Nhưng ảnh hưởng văn hóa, trong đó có chính trị thì cần nghiên cứu sâu. Ví dụ, nó đã đóng góp sâu xa và nhu cầu thống nhất dân tộc và lãnh thổ. Mà toàn quyền Doumer cũng ý thức điều đó: là quan thực dân ông ấy đặt quyền lợi nước Pháp lên trên, nhưng không phải là không biết đến quyền lợi thuộc địa Việt Nam. Xa hơn nữa, bàng bạc hơn nữa, muốn thấy ảnh hưởng của đường xe lửa xuyên việt đến cả những làng mạc xa xôi, thì nên đọc lại truyện ngắn Thanh Tịnh trong Quê Mẹ. Hay đọc thơ Tế Hanh, Nguyễn Bính.
Đấy là chỉ lấy ví dụ con đường sắt, chứ về văn chương chữ nghĩa thì đã có nhiều người nói. Riêng về chữ quốc ngữ, nghĩa là chữ viết theo mẫu tự La tinh, tuy đã có từ điển từ 1651, mãi đến thời kỳ Pháp thuộc nó mới phát triển, thoạt đầu ở Nam Kỳ, sau ra toàn quốc, theo chính sách thuộc địa. Đã có người nói, và viết: “chữ quốc ngữ là công cụ của thực dân Pháp”, nhưng cũng có người nói ngược lại: “chúng ta chống Pháp phần nào cũng bằng chữ quốc ngữ”. Phong trào chống Pháp, phần nào, bắt đầu từ những hội truyền bá quốc ngữ.
Về văn học, nền văn học mới là văn thơ quốc ngữ. Các cụ bắt đầu viết truyện, làm thơ theo lối Âu Tây, qua văn học Pháp. Phạm Duy Tốn viết truyện Vỡ Đê, 1917, theo một truyện của Alphonse Daudet. Nhà văn Tô Hoài vừa qua đời để lại một sự nghiệp đồ sộ non 200 đầu sách, nhưng trước tác được quần chúng nhắc nhở nhiều nhất là Dế mèn phiêu lưu ký, 1943, tên sách mượn ở truyện Tê lê Mạc phiêu lưu ký, 1887, dịch Fénélon, một tác gia Pháp. Nguyên ủy, truyện Tô Hoài tên là Con Dế Mèn, thêm vào mấy chữ “phiêu lưu ký” thì… sách bán chạy hơn. Chuyện văn hóa, nới rộng ra, là như thế!
Đi sâu vào hơn nữa, những phong cảnh cũ thay đổi, từ ngoại vật đến tâm hồn người Việt. Trong một cuộc diễn thuyết tại Quy Nhơn, nhà thơ Lưu Trọng Lư đã nhận xét những biến đổi dần dà trong tâm cảnh chúng ta: “các cụ ta ưa những màu đỏ choét, ta lại ưa những màu xanh nhạt… các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya, ta nao nao vì tiếng gà đúng ngọ (…) Ái tình của các cụ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi… cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”. Tấm ái tình mà cũng đổi thay sao?
Hoài Thanh đã ghi nhận chính xác về những thay đổi vật chất “đến những hang cùng ngõ hẻm… nào dầu tây, diêm tây, chỉ tây, kim tây, đinh tây, … một cái đinh tây cũng mang theo nó một chút quan niệm của phương tây về nhân sinh, về vũ trụ…”. Ý tưởng ý nhị, thâm trầm này Hoài Thanh viết vào 1941. Theo tiểu sử chính thức, thì ông ấy đã “theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học”. Vậy ta có thể xem Hoài Thanh như là kết quả của nền giáo dục thuộc địa mà nhiều người gọi là “chính sách ngu dân”?
Sau này, dưới ánh sáng cách mạng, ổng sẽ viết cái gì, viết ra sao, hay hơn bao nhiêu, vì ít đọc nên tôi không biết.
Phóng viên: Và điều chúng tôi quan tâm nhiều hơn, rằng có sự ảnh hưởng của văn hóa Việt đối với văn hóa Pháp không? Nếu có, chúng ta có thể nhận biết các biểu hiện của sự ảnh hưởng đó ở những lĩnh vực nào?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: Nếu hỏi về các thành tựu của người Việt, sức phổ biến của sản phẩm Việt thì còn dễ trả lời. Nhưng nói đến ảnh hưởng của Việt nam trên văn hóa Pháp thì khó lắm.
Tôi nghĩ ngay đến việc trồng lúa nước, gọi thế cho phân biệt với lúa mì, dùng làm bánh mì. Từ thế kỷ XVI, miền Nam nước Pháp, đã biết lúa nước, du nhập từ Ý, nhưng không mấy phát triển, có lẽ vì năng suất thấp. Năm 1939, chính quyền thuộc địa đã trưng dụng nhiều thanh niên Việt, gọi là Lính thợ không chuyên ( ONS: Ouvrier Non Spécialisé), sang Pháp lao động trong Đệ nhị thế chiến. Xong chiến tranh, họ giải ngũ, nhiều người ở lại, làm công cho các nông trại và truyền đạt kỹ thuật trồng lúa nước tại miền Camargue, gia tăng năng xuất, phẩm chất. Thị trường có mặt hàng “gạo Camargue” là công của những người lính thợ Việt nam.
Sau đó là những món ăn, những tiệm ăn phát triển mạnh từ khoảng 1955, khi người Pháp phải triệt thoái khỏi Việt Nam, “hồi quốc”, mang theo nhiều người Việt có quan hệ gia đình hay với chế độ thuộc địa. Trước đó thì chỉ lèo tèo đôi ba hiệu thực phẩm nhỏ ở Paris, Marseille. Về sau là làn sóng di tản ào ạt 1975, rồi 1979-80 với người vượt biển gồm có người Việt, gốc Việt hay gốc Hoa. Hiệu ăn, hiệu thực phẩm phát triển để phục vụ quần chúng Á Đông nhưng nhiều người Pháp hưởng ứng. Việc giao lưu văn hóa bắt đầu từ đôi đũa. Món ăn Việt được yêu chuộng nhất là chả giò, người Pháp gọi là nem. Sau đó là phở. Tuy phải đương đầu với sự cạnh tranh của tiệm Tàu, bề thế hơn, nhưng món ăn Việt vẫn có khách vì nhẹ nhàng hơn, ít mỡ, nhiều rau. Nhưng cạnh tranh cũng khó khăn vì người Việt non vốn, ít có óc thương mãi, không bền chí. Người Việt làm nhà hàng đôi khi vì sa cơ, tìm sinh kế nhất thời, chớ không có truyền thống như “bếp Tầu”. Những thành tựu cụ thể như vậy, dù tầm thường, có khi có ảnh hưởng rõ nét hơn là chuyện văn chương nghệ thuật, mà ta cũng phải nêu lên thôi.
Về văn truyện, giữa thế kỷ XX người Pháp thường nhắc đến Phạm Duy Khiêm, tác giả Légendes des Terres Sereines (Truyền Kỳ từ vùng tĩnh lặng); Nam và Sylvie, ông ấy là thạc sĩ đầu tiên người Việt, anh ruột nhạc sĩ Phạm Duy. Cũng có đôi tác giả khác như Nguyễn Hữu Châu. Về sau, nổi tiếng là cuốn Perdre la demeure (Mất nơi trú ẩn), của Phạm Văn Ký, được giải Tiểu thuyết Hàn Lâm Viện Pháp, 1961. Nội dung là sự xung đột giữa hai nền văn minh Âu Á, lấy công trình xây dựng con đường sắt tại Nhật Bản thế kỷ XIX làm bối cảnh. Ông ấy viết bằng tiếng Pháp hàng chục tiểu thuyết, kịch bản, văn bản truyền thanh, về sau có tập thơ Đường về nước tiếng Việt, in tại Việt Nam. Phạm Văn Ký là anh ruột nhà văn Phạm Hổ, nhạc sĩ Phạm thế Mỹ, sang Pháp và lập nghiệp từ 1936, nay đã qua đời mà không có người thừa kế.
Hiện nay Linda Lê là một nhà văn nữ nổi tiếng, bố Việt, mẹ Pháp, sinh trưởng tại Việt Nam, “hồi hương” từ khoảng 1977. Truyện hiện đại, tân kỳ, sâu sắc, đi sâu vào thời sự văn học Pháp, được giới phê bình đánh giá cao. Bà còn là nhà biên khảo sắc sảo và uyên bác, tác phẩm gồm có truyện Les Trois Parques (Tam Nương), Voix (Giọng nói), Lettres Mortes (Thư chết)… và nhiều tác phẩm khác, được dư luận đề cao. Nội dung tác phẩm ít có quan hệ với Việt Nam nên cũng khó nói là ảnh hưởng Việt Nam.
Nhưng hình bóng Việt Nam rõ nét nhất trong văn học Pháp phải nói là truyện dịch. Trong thời gian dài thời Pháp thuộc không mấy ai quan tâm dịch tác phẩm đương đại, trong khi người Pháp có kẻ dịch truyện Kiều hay thơ Hồ Xuân Hương. Thậm chí truyện Kiều còn được Crayssac dịch toàn bộ sang thơ cổ điển tiếng Pháp. Như trên đã nói, thời chiến tranh, Hà Nội chủ động dịch những tác phẩm có tính cách tuyên truyền hay tố cáo xã hội, kiểu Bước đường cùng của Nguyễn công Hoan, hay Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, và rất nhiều tác phẩm phản ánh công cuộc đấu tranh giải phóng. Công tác này có tác dụng: dư luận Pháp thời đó ủng hộ Hà Nội mạnh mẽ. Mãi đến 1998, khai mạc cho giải vô địch bóng đá thế giới tại Pháp, thành phố Paris cho diễn hành 5 bức tượng, một bức mệnh danh Hồ. Mọi người đều nhận ra ẩn ý. Sau 1975, nhất là sau thời kỳ Đổi Mới, người Pháp quan tâm đến hiện tình Việt Nam, tìm những thay đổi tích cực mà họ ngóng đợi, những nét mới, nét tiến bộ, nên chủ động tìm dịch những tác phẩm có tính cách tố cáo, phản kháng kiểu Tướng về hưu của Nguyễn Huy Thiệp, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, hay nhiều tác phẩm Dương Thu Hương. Phần trên, tôi đã có nhắc tiểu thuyết Truyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn dịch hay và bán chạy. Có thể nói tác phẩm Việt Nam được dịch ra tiếng nước ngoài, nhiều nhất là tiếng Pháp, vì những quan hệ lâu dài và có phần đặc biệt giữa hai nước. Tổng thống Pháp Mitterand là nguyên thủ đầu tiên của phương Tây công du đến Việt Nam, lên thăm di tích Điện Biên Phủ, ắt không phải là tình cờ.
Phóng viên: Chúng tôi được biết Việt Nam học ở Pháp đã có quá trình tồn tại tự lâu và phát triển khá mạnh, có thể là mạnh nhất châu Âu. Xin ông cho biết những thành tựu quan trọng nhất của Việt Nam học ở Pháp? Ông có thể chỉ dẫn những công trình quan trọng nhất, xuất sắc nhất và những tác giả nổi tiếng nhất?
Nhà phê bình văn học Đặng Tiến: “Việt Nam học” là một từ ngữ mới; ngay ở Pháp, khái niệm này, “vietnamologie, vietnamologue”, cũng là từ mới, ít thông dụng. Nó chỉ một ngành nghiên cứu chuyên sâu, về một đề tài giới hạn, do những chuyên gia dành nhiều thì giờ đảm trách. Nó chỉ được sử dụng giữa giới chuyên môn với nhau, chứ không tràn lan như ở Việt Nam: nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc, nhà Quảng Nam học Nguyễn Văn Xuân, nhà Huế học Nguyễn Đắc Xuân… chắc báo Văn hóa Nghệ An cũng có nhiều nhà “Nghệ học” hợp tác.
Theo tôi chỉ nên dùng từ ngữ “nghiên cứu Việt Nam” gồm có sử học, kinh tế học, xã hội học, dân tộc học, văn học, ngữ học. Ví dụ thời sự, đang hiện ra tại Việt Nam, là giới học thuật đang hoan nghênh nhiệt liệt bản Việt dịch Lịch sử Việt Nam từ khởi thủy đến 1858 của Lê Thành Khôi, nguyên bản tiếng Pháp, in tại Pháp từ 1955, được tác giả cập nhật 1971 và tái bản 1981, nổi tiếng từ lâu mà nay mới được dịch để phổ biến. Trong thời gian đó, trong nước đã có nhiều cuốn lịch sử mà ít được tin cậy, là vì sao? Cũng nên nói thêm: Anh Khôi là người khuynh tả, có khuynh hướng mác-xít, thân chính quyền Hà Nội một thời, mà sách mãi đến nay mới được dịch và phổ biến; anh từng thổ lộ: có lần gửi tác phẩm về tặng thủ tướng Phạm văn Đồng mà sách… không đến tay (!!!).
Tuy nhiên, Lê Thành Khôi không phải là “nhà Việt Nam học” vì sự nghiệp nghiên cứu của anh bao gồm cả Đông Nam Á, đến tận Trung Đông, châu Phi, sang cả địa hạt mỹ học thế giới. Anh lại có công dịch văn thơ cổ điển và hiện đại Việt Nam cho người ngoại quốc thưởng lãm. Anh là nhà sưu tầm đồ cổ, có nhã ý tặng toàn bộ sưu tập của mình cho đất nước. Mà việc không thành.
Một ví dụ thời sự khác: cuốn “Bức tranh kinh tế Việt Nam thế kỷ 17-18” của Nguyễn Thanh Nhã, mới được nhà xuất bản Tri Thức dịch và ấn hành. Đây là luận án tiến sĩ về kinh tế, tác giả chủ yếu minh chứng tiến trình phát triển nền kinh tế đô thị thời kỳ này, nhưng anh Nhã là người sính và sành văn học nên đã chứng minh thêm: việc phát triển các đô thị đã đổi mới xã hội Việt Nam giúp cho nên văn thơ chữ Nôm phát triển mạnh. Đây là một vấn đề văn học lớn, trong nước các nhà nghiên cứu như Trần Đình Hựu đã quan tâm, nhưng không có tư liệu cụ thể để minh chứng (Ngoài đề: nguyên tác tên là Tableau économique du Vietnam au XVII et XVIII siècles, chữ tableau nên dịch đơn giản là “bảng”, chua thêm bảng lược đồ, bảng tổng quan gì đó, hay “phác họa nền kinh tế Việt Nam…” thì chính xác hơn “bức tranh”).
Vẫn trong thời sự nghiên cứu: hiện nay có một số sách biên khảo về xã hội học của Trịnh Văn Thảo, một học giả uyên bác, có chức danh cao tại đại học Provence, đã có giao lưu với các đại học Việt Nam trong nhiều năm, đã từng giúp đỡ nhiều sinh viên Việt Nam sang học tập hay tu nghiệp tại miền Nam nước Pháp. Nhưng đến gần đây mới thấy có sách xuất bản trong nước như Nhà trường Pháp ở Đông Dương (2009) là đề tài của bài phỏng vấn này, hay Xã hội nho giáo Việt Nam dưới nhãn quan của xã hội học lịch sử, nghe nói đã in mà còn đợi phép phát hành (?). Năm ngoái, 2013, đã xuất bản Ba thế hệ trí thức Việt Nam. Tác giả Trịnh Văn Thảo là nhà xã hội học, không phải là “Việt Nam học”.
Đây là chỉ nói đến thời sự, còn việc giao lưu đã có từ non trăm năm nay thì nói không bao giờ dứt.
Trong quá khứ, đóng góp lớn lao nhất đến tự một danh nhân xứ Nghệ của các anh, là học giả Hoàng Xuân Hãn, xuất thân là nhà toán học cao cấp, học tập và tốt nghiệp tại Pháp, về nước phục vụ tổ quốc, năm 1945 đã làm Bộ trưởng Giáo dục và Mỹ thuật đầu tiên của Việt Nam. Sau đó, phải sang sinh sống tại Paris nhưng luôn luôn đóng góp cho đất nước, cho cả hai miền Nam Bắc trong thời kỳ chiến tranh. Cống hiến đầu tiên là Chương trình trung học toàn Việt, rồi đến từ điển danh từ khoa học, những bộ sử La Sơn phu tử, Lý Thường Kiệt, nhiều phát hiện về văn học như văn bản Chinh phụ ngâm, thơ Hồ Xuân Hương, truyện Kiều, Bích Câu kỳ ngộ, những công trình về thiên văn như biên khảo về Lịch và lịch Việt Nam… và nhiều công trình dang dở.
Đóng góp lớn nhất của ông là phương pháp khoa học, truy tầm chân lý bằng mọi cách, đến gốc đến rễ, bên ngoài những dư luận sẵn có, từ thành kiến, định kiến, quan điểm chính trị. Là người yêu nước, ông tận dụng khoa học để phục vụ đất nước mà vẫn không đặt tình cảm của mình lên trên chân lý.
Chúng tôi xin dừng lại ở trường hợp Hoàng Xuân Hãn vì nó là một biểu tượng cao, trên địa hạt khoa học lẫn nhân văn, về mặt trí thức và đạo đức.
Những đóng góp của giới học thuật tại nước Pháp, từ người Việt hay Pháp, còn nhiều lắm, kể không hết trong một bài báo, có dịp thì ta trở lại. Các công trình nghiên cứu này, dồi dào về số lượng, nhưng đặc biệt quan trọng về phẩm chất: nó biểu dương một thái độ của con người trước chân lý, một cung cách lao động nghiêm chỉnh, đặt căn bản trên một đòi hỏi nhất quán, là đức liêm khiết.
Chúng ta nên chọn dừng lời lại ở hai chữ: liêm khiết.
Phóng viên: Trân trọng ông về cuộc trao đổi này. Hy vọng chúng ta sẽ còn gặp nhau ở những diễn đàn khác.
Đặng Tiến
Orléans, 2-9- 2014
Phan Thắng thực hiện

Tau chửi – Một bài thơ kinh dị và khốc liệt

Sáng nay tình cờ tôi đọc bài thơ dưới đây, và nghĩ rằng có lẽ trong văn học VN (và thế giới?!) chưa từng có một bài thơ nào kinh dị, khốc liệt như bài thơ này. Điều gì làm cho tâm hồn con người – thi sĩ – phải đau đớn, quằn quại, căm hận, phẫn nộ đến vậy?
Tôi rất thú vị với lời bình của anh Mac Lam về bài thơ này: “Trong văn học dân gian, không hiếm những bài vè, lục bát dùng để chửi bới người mình ghét. Nhưng đối với các nhà thơ vốn quen thuộc và trân trọng những con chữ thì việc chửi bới là một điều phạm húy. Trần Vàng Sao chẳng những không sợ chữ nghĩa đau đớn mà ông còn bóc trần, nạo hết nét vàng óng bên ngoài của chúng để phục vụ cho một bài thơ mà ông cảm thấy hả hê. Ông dùng thơ để chửi cả một chế độ. Chửi từng sự việc, từng con người. Cách chửi của bà nhà quê mất gà được ông “biên đạo” lại thành của riêng, gây sốc lẫn gây cười cho người đọc bài thơ.

Có điều là cười xong thì người ta lại chảy nước mắt...”.
Chỉ xin góp thêm vài ý.
Bài thơ “Người đàn ông bốn mươi ba tuổi nói về mình” làm cho Trần Vàng Sao nổi tiếng, nhưng theo tôi, bài “Tau chưởi” là bài đáng kể nhất trong thơ của ông.
clip_image002
Về ngôn từ, ông lật đổ quan niệm duy mỹ lâu nay trong thơ Việt, nhưng điều khác biệt là ông không sử dụng đến những từ tục tỉu như nhiều nhà thơ đương thời đang dùng. Ông ác miệng, cực kỳ ác miệng, nhưng không tục tỉu.
Chưởi là 1 trong 2 hành vi của kẻ yếu, của người thấp cổ bé miệng mà có chữ (nhà văn, nhà thơ chẳng hạn), nhưng không có cách gì để tự vệ, để phản ứng trước kẻ mạnh. Họ không thể phản ứng bằng hành động, bằng bạo lực, nên họ chọn cách phát ngôn bằng lời nói hay chữ viết. Hành vi còn lại sau chưởi là đặt, viết những chuyện tiếu lâm đen mà chúng ta thường đọc, hay nghe kể. Tôi chưa từng gặp Trần Vàng Sao, nhưng tôi mơ hồ nghĩ rằng với cái tâm tính bộc trực và tâm hồn mẫn cảm của mình, ông chỉ có thể bày tỏ cảm xúc bằng cách chưởi thẳng chứ không thể dùng ẩn dụ né tránh, nói kiểu móc họng, sâu xa, thâm thúy như nhiều người khác.
Điển hình là bài thơ “Tau chưởi” này. Bài thơ nói thẳng, nói thật cảm xúc và suy nghĩ của một con người bị vùi dập, bị đàn áp thô bạo đến chỗ tàn tệ nhất.
Ban đầu, tôi suýt hiểu nhầm rằng bài thơ như phát ngôn của một con người vì quá đau đớn, phẩn nộ mà đứng ở chỗ mấp mé sự điên loạn, nhưng khi tôi đọc kỹ lại thì thấy không phải vậy. Bài thơ có một cấu trúc chặt chẽ, diễn đạt một tiến trình tâm lý rất lớp lang.
Từ dòng đầu của bài thơ, ông chưa chưởi, mà ông nói. Ông bình tĩnh nói thiệt hơn về nỗi ấm ức vì phải câm nín trước sự tàn độc, bất công và dối trá cho tới khi chịu không nổi nữa:
“tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không”
Từ đó, sự phẫn nộ kết tụ rồi bùng vỡ dữ dội thành tiếng gào thét. Ông quyết định phải chưởi, nhưng không chưởi vòng vo, vông khống, ông chưởi thẳng, không chỉ chưởi thẳng, ông còn kêu đối tượng, thậm chí cả dòng họ thân tộc của chúng ra để nghe ông chưởi. Ông không chỉ chưởi, ông vừa chưởi vừa kể tội chúng, và sau cùng, ông nguyền rủa, những lời nguyền rủa vô cùng độc địa.
Tôi tự hỏi, với một cảm xúc khốc liệt như thế, trong thơ, thì cái thiện ở đâu, cái đẹp ở đâu? Tính nhân văn ở đâu? Lương tri con người ở đâu?
Hay khi đặt những tiêu chí có vẻ cao đẹp đó ra cho thơ – thi ca – của một tâm hồn bị tổn thương đến tận cùng như Trần Vàng Sao thì chúng ta đang bắt đầu cho một sự dối trá khác?
T.N.
***
tau chưởi
tau tức quá rồi
tau chịu không nổi
tau nghẹn cuống họng
tau lộn ruột lộn gan
tau cũng có chân có tay
tau cũng có đầu có óc
có miệng có mắt
có ông bà
có cha mẹ
có vợ con có ngày sinh tháng đẻ
có bàn thờ tổ tiên một tháng hai lần
rằm mồng một hương khói bông ba hoa quả
tau đầu tắt mặt tối
đổ mồ hôi sôi nước mắt
vẫn đồng không trự nõ có
suốt cả đời ăn tro mò trú
suốt cả đời khố chuối Trần Minh
kêu trời không thấu
tau phải câm miệng hến
không được nói
không được la hét
nghĩ có tức không
tau chưởi
tau phải chưởi
tau chưởi bây
tau chưởi thẳng vào mặt bây
không bóng không gió
không chó không mèo
mười hai nhánh họ bây đem lư hương bát nước
giường thờ chiếu trải sắp hàng một dãy ra đây
đặng nghe tau chưởi
tau kêu thằng khai canh khai khẩn tam đợi mười đời
cao tằng cố tổ ông nội ông ngoại cha mẹ chú bác cô dì
con cháu thân hơi cật ruột bây tau chưởi
tau chưởi cho tiền đời dĩ lai bây mất nòi mất giống
hết nối dõi tông đường
tau chưởi cho mồ mả bây sập nắp
tau chưởi cho bây có chết chưa liệm ruồi bu kiến đậu
tam giáo đạo sư bây
cố tổ cao tằng cái con cái thằng nào móc miếng cho bây
hà hơi trún nước miếng cho bây
bây ỉ thế ỉ thần
cậy nhà cao cửa rộng
cậy tiền rương bạc đống
bây ăn tai nói ngược
ăn hô nói thừa
đòn xóc nhọn hai đầu
ngậm máu phun người
bây bứng cây sống trồng cây chết
vu oan giá hoạ
giết người không gươm không dao
đang sống bây giả đò chết
người chết bây dựng đứng cho sống
bây sâu độc thiểm phước
bây thủ đoạn gian manh
bây là rắn
rắn
toàn là rắn
như cú dòm nhà bệnh
đêm bây mò
ngày bây rình
dưới giường
trên bàn thờ
trong xó bếp
bỏ tên bỏ họ cha mẹ sinh ra
bây mang bí danh
anh hùng dũng cảm vĩ đại kiên cường
lúc bây thật lúc bây giả
khi bây ẩn khi bây hiện
lúc người lúc ma
lúc lên tay múa ngón sủi bọt mép gào thét
lúc trợn mắt khua môi múa mỏ đả đảo muôn năm
lúc như thầy tu vào hạ
lúc như con nít đói bụng đòi ăn
hai con mắt bây đứng tròng
bây bắt hết mọi người trước khi chết phải hô
cha mẹ bây ông nội ông ngoại bây tiên sư cố tổ bây
sống dai đời đời kiếp kiếp
phải quỳ gối cúi đầu
nghe bây nói không được cãi
phải suốt đời làm người có tội
vạn đợi đội ơn bây
đứa nào không nghe bây hớt mỏ chôn sống
thằng nào không sợ bây vằm mặt thủ tiêu
bây làm cho mọi người tránh nhau
bây làm cho mọi người thấy nhau nhổ nước miếng
đồ phản động
đồ chống đối
đồ không đá bàn thờ tổ tiên
đồ không biết đốt chùa thiêu Phật
thượng tổ cô bà bây
mụ cô tam đợi mười đời bây
tau xanh xương mét máu
thân tàn ma dại
rách như cái xơ mướp chùi trách nồi không sạch
mả ông bà cố tổ bây kết hết à
tụi bây thằng nào cũng híp mắt hai cằm
bây ăn chi mà ăn đoản hậu
ăn quá dã man
bây ăn tươi nuốt sống
mà miệng không dính máu
người chết bây cũng không chừa
năm năm mười năm hai mươi năm
xương chân xương tay sọ dừa vải liệm`
bây nhai bây khới bây mút
cả húp cả chan bây còn kêu van xót ruột
bao nhiêu người chết diều tha quạ rứt xương
khô cốt tàn dọc bờ dọc bụi giữa núi giữa rừng
để bây xây lăng đắp mộ dựng tượng dựng đài cho
cha mẹ cố tổ bây
hỡi cô hồn các đảng
hỡi âm binh bộ hạ
hỡi những kẻ khuất mặt đi mây về gió
trong am trong miếu giữa chợ giữa đường
đầu sông cuối bãi
móc họng bóp cổ móc mắt bọn chúng nó
cho bọn chúng nó chết tiệt hết cho rồi
bây giết người như thế
bây phải chết như thế
ác lai thì ác báo
tau chưởi ngày chưởi đêm
mới bét con mắt ra tau chưởi
chập choạng chạng vạng tau chưởi
nửa đêm gà gáy tau chưởi
giữa trưa đứng bóng tau chưởi
bây có là thiền thừ mười tám con mắt tau cũng chưởi
mười hai nhánh họ bây
cao tằng cố tổ bây
tiên sư cha bây
tau chưởi cho bây ăn nửa chừng mẻ chai mẻ chén
xương cá xương thịt mắc ngang cuống họng
tau chửi cho nửa đêm oan hồn yêu tinh ma quỷ
mình mẩy đầy máu hiện hình vây quanh bây đòi trả đầu trả chân trả tay trả hòm trả vải liệm
tau chưởi cho cha mẹ bây có chết cũng mồ xiêu mả lạc
đoạ xuống ba tầng địa ngục bị bỏ vào vạc dầu
tau chưởi cho cha mẹ bây có còn sống cũng điên tàn
đui què câm điếc làm cô hồn sống lang thang đầu đường xó chợ
bốc đất mà ăn xé áo quần mà nhai cho bây có nhìn ra
cũng phải tránh xa
tau chưởi cho con cái bây đứa mới đi đứa đã lớn
sa chân sẩy tay đui què sứt mẻ nửa đòi nửa đoạn
chết không được mà sống cũng không được
tau chưởi cho dứt nọc dòng giống của bây cho bây chết sạch hết
không bà không con
không phúng không điếu
không tưởng không niệm
không mồ không mả
tuyệt tự vô dư
tau chưởi cho bây chết hết
chết sạch hết
không còn một con
không còn một thằng
không còn một mống
chết tiệt hết
hết đời bây
TRẦN VÀNG SAO

29 tháng 6 năm 1997

Thận Nhiên

No comments:

Post a Comment