Thursday, August 10, 2017

Gió lửa(2)

Chương 4
Cõi nổi ba đào

Bõ già khệ nệ khiêng một cành đào theo Mai đi dọc chợ Ðồng Xuân, rồi tạt ngang hàng Bè. Từ đấy, đến dinh Khương Tả hầu chỉ còn chừng trăm thước, đường quang người, đỡ phải chen lấn. Hàng phố ai cũng tất tả chiều ba mươi, ngược xuôi, nhớn nhác, nghiêm trọng như thể để dành nụ cười cho đêm giao thừa. Trẻ con không đợi được, rủ nhau đốt pháo chuột, tiếng nổ lạch bạch đây đó làm phố xá chớm thơm mùi khói. Vào cổng, Mai vừa reo vừa tíu tít gọi. Ðặng-thị chạy ra, cười hở hàm răng đen tuyền có vết bã trầu, ôm chầm lấy cô cháu họ. Nghe tiếng lao xao, Toàn Nhật từ trái nhà sau bước vào nghiêng mình vái chào. Mai ngước lên nhìn. Ơ, lạ chưa, chỉ độ nửa năm xa cách mà Toàn Nhật già dặn hẳn đi, miệng tuy cười nhưng vẫn lộ ra một chút ưu tư, một chút cẩn trọng.

Hơn tháng trước, La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp để con trai trưởng là Mạnh Thuyên về Bùi Phong báo tin cho Ðặng-thị là Trọng Thức nay trắng tội. Thức lại về nấn ná dinh Khương Tả Hầu, lần lữa đến mãi tháng mười mới lên tìm Toàn Nhật trên Phố Hiến.

Sau vụ án năm Canh Tý, không khí Kinh Kỳ dịu hẳn ngột ngạt. Số người vãng lai thăm Phu tử ngày một đông. Có kẻ đến ngâm vịnh, biện bàn kinh sách. Có kẻ đến xin một quẻ dịch, hỏi dăm ba câu chuyện hậu vận. Có người đem chuyện chính sự ra kháo. Họ đều là đám thượng lưu ở đất Kinh Kỳ, con vua cháu chúa, và nếu không khoa bảng thì cũng là loại quan quyền văn võ trong Chính phủ. Phu tử tiếp mọi người, thường thì ừ à cho qua chuyện. Riêng với một người Phu tử có lưu tình, là Côn quận công Trịnh Bồng. Vào cuối tháng một, đột nhiên Bồng xuống tóc đi tu, trả lại dinh thự, nghe đâu đã đi lên thọ giới ở một ngôi chùa ở miệt Hải Dương.

Mai xin vào chào Phu tử rồi xuống bếp với Ðặng-thị. Nàng cười, mắt lại thỉnh thoảng nhìn lên nhà trên, mau
mắn giúp bà dì sửa soạn đồ cúng. Ðến chiều, Mai mới rảnh tay, đứng trên tam cấp, uống ngụm nước vối vừa pha. Nàng hỏi chuyện Toàn Nhật trên Phố Hiến, rồi giọng vẩn vơ : « ... Anh Thức có về Kinh cùng Nhật không nhỉ ? », mắt nhìn ra cổng. Lúc ấy, mặt trời chếch xuống dãy mái nhà phía Tây, lựng lên một ráng đỏ đang chuyển dần sang mầu xám lịm. Ðường vắng hẳn người đi, thỉnh thoảng mới thấy dăm ba dáng dấp hối hả như có ai đuổi. Một lát sau, đèn thắp lên, ánh vàng hắt lên vách vôi trắng những bóng người vờn xung quanh nhau như đèn kéo quân.

Cơm tối dọn ra, mọi người ăn qua loa, xong lại ai làm việc nấy. Dưới bếp, nồi bánh chưng đặt từ đầu giờ Thân sùng sục sôi, phải dập bớt củi, mở nắp nồi. Toàn Nhật rửa lại từng viên cuội trắng, tròn trĩnh, trông giống hệt như những viên kẹo bột. Nồi mạnh nha đã bắc khỏi bếp. Khi đã nguội hẳn, Ðặng-thị bỏ từng viên cuội vào nồi, khéo léo gắp ra để trên một chiếc mâm đồng có phủ lá chuối. Mâm kẹo để tiếp khách uống trà trong ba ngày Tết được xếp lên theo kiểu hòn núi non bộ, cheo veo tưởng như sắp đổ, nhưng thật ra mật dính chắc vào nhau, khó suy xuyển.

Mai vẫn ngóng về phía cổng, dáng băn khoăn lộ ra ngoài. Trong góc bếp, nàng lắng tai nghe từng tiếng động, thấp thỏm đợi một tiếng chân, thót người lại mỗi khi nghe tiếng chó sủa. Lấy tay dụi mắt cay xè vì khói bếp, Mai bâng quơ, nhắm hai hàng mi lại, hình dung cho rõ khuôn mặt một người chắc là sắép về. Gần giao thừa rồi còn gì. Pháo lại đì đùng như thúc giục. Phu tử hết đứng lại ngồi, sốt ruột : «. .. chỉ chờ có nó nữa là đủ mặt Tết này ! ». Nói xong, Phu tử quàng chiếc khăn quấn cổ, bước ra vườn, đi về phía cổng.
Ðêm ba mươi tối như mực. Ðặng-thị đã sắp xong mâm cúng. Mai lại nhắm mắt, nhớ lại buổi đến thăm Thức trong ngục. A, cái con người kỳ lạ, mồm sưng vù mà vẫn toác ra cười khi nghe nói đến hai chữ số mệnh. Mai kéo thời gian ngược lại bằng cái trí nhớ mỏng mảnh căng ra đằng sau như tơ vương vào thuở ban đầu. A, cái thuở đến khó quên, dẫu là cho một người vô tâm nhất.

Nửa năm trước, khi chân ướt chân ráo đến Thăng Long, người đầu tiên đếùn thăm thầy trò Phu tử là Nguyễn Du. Hỏi thăm được nơi phu tử tạm trú, Du vội vã tới ngay. Ðó là một thiếu niên mảnh khảnh, lưng hơi gù, miệng trễ, mũi cao, da trắng như da con gái. Tính dí dỏm, khi nói giọng Du có chút ngân nga, miệng tươi, nhưng cặp mắt sâu thăm thẳm thoáng có cái gì xa xăm vời vợi. Mừng ra mặt, Du nắm tay Thức và Nhật, rồi xin phép vào chào Phu tử. Khi ra, Du bảo :

- Thầy chỉ nói có một câu, đố các anh biết là gì, nói được thì đệ xin đãi các anh một bữa tối ở đất kinh kỳ hoa lệ này.

Du bắt chước Nhật và Thức, quen mồm gọi Phu tử là thầy, mặc dầu mình là con của Nguyễn Nghiễm, thầy Phu tử, và cùng vai vế với Khản, người bạn đồng môn nhưng kém Phu tử trên chục tuổi. Nhật và Thức chịu, Du nhanh nhẩu :

- Ðệ giúp hai người anh văn hay chữ tốt nhé! Câu này là của Hàn Dũ.

- ...

- Chịu chưa ?

- ...

- Bất bình tắc minh. Phải chăng lòng không đặng, ắt sẽ thành lời !

Thức vui vui :

- Thôi, thế thì ta đãi bữa tối này vậy.

Du giẫy lên :

- Ðùa à, anh thầy đồ «Nôm na là cha mách qué » kiết xác, túi có bao nhiêu mà ngông nghênh được. Ðây là phần đệ ...

Nói chưa dứt lời thì có tiếng gọi từ gian ngoài. Ba người ra, một người con gái nhỏ nhắn vội cúi chào. Du vui vẻ kêu : «A, thì ra chị Mai ».

Ðặng Thị Mai ngước lên, đôi mắt lấp lánh mầu hạt dẻ. Mai không cao lắm, mình dây, mặc một chiếc áo cánh gà màu ngà có quấn dây lưng tím nhạt, tóc vấn khăn nhung màu đỏ gụ. Nàng hé miệng cười e lệ, hàm răng hạt huyền đen nhay nháy làm tăng sắc hồng tự nhiên của cặp môi căng mọng. Du giới thiệu, rồi trêu :

- Hai ông anh tôi chê gái Nghệ quê mùa, rắp tâm làm rể đất kinh kỳ này đấy.

Mai cúi mặt thẹn thò rồi xin vào chào Phu tử. Gia đình nàng gốc từ Thanh Hóa đã phiêu dạt vào Phù Ðổng từ hai đời trước. Nàng là em út của Ðặng Thị Huệ, vốn họ hàng xa với Ðặng thị, vợ phu tử . Huệä hiện là sủng phi của chúa. Ngược hẳn lại với người chị luôn đem cân sắc đẹp và sự khôn ngoan bằng vàng ròng, Mai chỉ mê sách vở, thơ văn. Học chữ với phụ thân, rồi sau, nàng lại được Thụy Liên, cháu ruột của Hồng Hà nữ sĩ Ðoàn thị Ðiểm, trau dồi thêm cho nên Mai nắm bắt được cách cảm nhận văn chương khá tinh tế. Khách thơ ở Thăng Long mỗi khi gặp nàng thường ít dám ngông nghênh, một phần vì nhan sắc nàng, một phần vì tài nàng.

Thụy Liên đeo đuổi chí của Ðoàn phu nhân, nhất định không chịu hé mắt xanh tính chuyện chồng con, đến ở với bà cô mấy năm trời. Ban ngày Liên giúp Ðoàn phu nhân chấm văn điểm sách với đám học trò, tối đến hai cô cháu lại cùng nhau ngâm vịnh. Cũng như Ðoàn phu nhân, Thụy Liên coi trọng chữ Nôm, đến nay lại hết lòng gửi gắm Mai tiếp tục con đường ấy. Vì thế nên tuy mới gặp, Mai đã biết tiếng Trọng Thức từ dăm năm nay. Dịp hội ngộ này, nàng đã sắm sửa thức ăn mang lên, nên cái dự định đi ăn tối của Du phải tạm gác lại.

Sau bữa chiều, mọi người rủ nhau ra Khiêm Các. Vào cuối giờ Dậu, trăng lên trong màn sương tím bạc. Lạ thay, trăng lên từ ven hồ Trúc Bạch, lừ lừ đỏ tía, vụt lên trời nhanh đến độ chỉ một khắc sau đã đậu ngay đầu ngọn trúc. Nếu chẳng biết giờ giấc, trăng lên nhưng nhìn ngỡ như lại là mặt trời đang xuống. Phu tử tay gõ nhẹ vào phiến đá, miệng ngâm nga se sẽ :

Nguyêt lạc ô đề sương mãn thiên

Giang phong ngư hỏa đối sầu miên

Cô Tô thành ngoại Hàn San tự

Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Mọi người lắng hồn trong khói sương, ngây người trước cảnh thần tiên, im lặng đắm mình vào không khí huyền ảo tưởng như sắp loãng ra những giấc mơ vô chung vô thủy. Du trầm ngâm rồi nói :

- Chị Mai, thơ hay thế chắc chị đã dịch ra Nôm rồi nhỉ ? Mời chị đọc hầu thầy.

Mai e thẹn, li nhí chối từ. Phải Phu tử giục đến lần thứ hai thì Mai mới nhỏ nhẹ :

- Xin thúc phụ cho con phép...

Ðợi Phu tử gật đầu, Mai nhẹ nhàng cấùt tiếng ngâm :

Trăng lặn, quạ kêu, sương giăng trời

Ðèn chài le lói nỗi khôn nguôi

Thành cao bóng đổ chùa hiu quạnh

Nửa đêm văng vẳng tiếng chuông rơi .

Thức lắng tai nghe tiếng ngâm thơ da diết, hồn bay lạc vào vùng sương tím bạc đang ngày càng dày đặc.
Phu tử vỗ nhẹ vào tay Mai, ý khen ngợi. Nhật cất tiếng :

- Hay, hay lắm. Nhưng Nhật hỏi chị Cô Tô đâu, Hàn San đâu ?

Mai ngước mắt lên, dịu dàng :

- Không cần ! Người mình đâu ai biếât Cô Tô với Hàn San

Nàng nhìn về phía Thức, cúi xuống tiếp :

-... Nếu lập lại bằng Hán tự những địa danh xa lạ bên Trung Quốc, hay là dùng điển tích nhà Chu, nhà Tấn thì chỉ tạo thêm mối lệ thuộc.

Quay sang Phu tử, nàng cúi đầu như nói riêng :

- ...thế chẳng hơn gì, và nhất là không tạo được sự độc lập tinh thần của dòng Nôm ta.

Ngửng lên, Mai bắt gặp Thức nhìn lại mình. Cặp mắt ấy nóng bỏng, cháy lên rừng rực đam mê, nhưng vẫn giữ được một sự trìu mến lẫn kính trọng. Suốt đời, Mai không bao giờ có thể quên được cặp mắt ấy...

Bỗng một tiếng pháo đùng ở đâu nổ choáng tai làm Mai choàng dậy. Ðặng-thị tươi cười: «Năm mới rồi... ». Tiếp đấy, không biết cơ man nào là tiếng pháo. Xa xa, pháo thăng thiên bay lên trời, vỡ thành những chùm hoa lóng lánh ụp xuống nhân gian, đánh mốc thời gian chòng chành trên một sợi giây không ai biết đầu, không ai biết đuôi, và có lẽ chẳng gì buộc lại được.

Khi dâng tư dinh của mình cho thế tử Trịnh Cán lúc còn miệng sữa, Hoàng Tế Lý chỉ nói với một mình Ðặng Thị Huệ về con đường hầm chạy từ dinh ra cửa Bắc. Lách qua phía vườn Bích Câu, đường hầm ngược lên phía Tây, nắp hầm ngụy trang bằng một ngôi mộ trông tầm thường trong khu nghĩa trang nằm cạnh bến Tây Long. Huệ thường ở sát bên Cán để trông nom, vì năm lên ba là Cán bắt đầu oặt oẹo liên miên, thuốc men hàng tháng, lắm khi tưởng đã nguy. Có kẻ vu là Dương Ngọc Hoan, mẹ của Trịnh Tông, đã yểm bùa nơi mộ phần nhà Chúa hòng triệt thứ tôn trưởng, nên Cán mới bệnh hoạn đến độ vậy. Huệ vào khóc với Trịnh Sâm, đập đầu xuống thềm, xin chúa tra xét phần mộ. Việc đó là việc cấm kỵ vì đụng đến vong linh của tổ tiên nên Sâm gạt đi. Từ ngày Tông định làm phản và bị truất xuống làm ¨con út ¨, Huệ lại xin Chúa nghĩ lại, Sâm vẫn không chịu. Ðể bù trừ, Sâm đành bằng lòng định ngày làm lễ thành hôn cho đứa con gái yêu là Ngọc Lan với Ðặng Mậu Lân, em Huệ, kẻ dân Kinh Kỳ thì thầm to nhỏ gọi là ¨ hung thần mắt cú ¨.

Huệ bàn với Tế Lý, vẫn khăng khăng là Cán bị bùa yểm, bảo Lý tìm ra cách xem có gì lạ ở phần chân của ngôi mả Trịnh Doanh, cha của Trịnh Sâm. Lý không tin, cực chẳng đã, lấy cớ sang sửa phần mộ nhân ngày Tết, đích thân đến đào trộm mả và hứa sẽ kể rõ ngọn ngành cho Huệ.

Tối hôm đã hẹn trước, Lý vào nghĩa trang cạnh bến Tây Long, theo đường hầm bí mật lẻn vào dinh Trịnh Cán. Con đường này, Lý đã nhiều lần qua lại và bố trí sẵn cả chỗ ăn chỗ nằm, phòng làm nơi ẩn khi có biến. Qua cái ngách cửa, bất ngờ một bàn tay chặn Lý lại. Lý cau mặt, nhưng mặc cho bàn tay đó luồn xuống đai quần giật mạnh. Mùi hương nhài sực vào mũi Lý. Tiếng Huệ nói: « Há mồm ! » rồi tay thò ra cậy miệng Lý. Lý nuốt một ngụm thuốc, vị ngọt, nhưng hơi cay xông lên, mặt nóng dần. Lý túm lấy bàn tay đang lần xuống đùi mình kéo mạnh, rồi ôm xốc người Huệ lên. Mái tóc Huệ đen biếc xõa tung ra rồi xổ xuống tựa một đàn rắn lục. Huệ trườn mình lên hai chân kẹp vào mông Lý, hai tay nắm tóc, lưỡi lè ra cắn vành tai Lý, miệng rên rỉ, thúc giục. Thuốc ngấm. Lý gào lên. Huệ lắc người như con thoi, bàn tay tì cứng lấy hai vai Lý, móng sắc bấm vào làm máu Lý ứa ra, rỉ xuống. Lý xoay người áp Huệ vào bức vách, hai tay nắm cứng lấy bắp đùi Huệ nhấc lên, rồi thúc hạ bộ vào, táo tợn, lì lợm. Cứ thế. Hai sinh vật ấy hào hển quấn lấy nhau, cắn rứt nhau, kêu van nhau rồi cuối cùng buông nhau ra, đẩy nhau nằm vật xuống, mồ hôi nhễ nhại.

Lúc trống canh hai điểm, Huệ tỉnh dậy, lay Lý : « Này, việc thế nào ? ». Lý đáp :

- Ðào chân mả, quan sát kỹ nhưng không thấy gì ! Duy có một điều ...

- ...

- Lúc lấp lại mả, tôi bỗng thấy một con rết vàng dài bằng cái đũa. Nó nhẩy lên quần, rồi leo vào áo, tôi phủi không được. Nó lên đến cổ, rồi thoắt một cái, không biết biến đi đâu mất ...

- Chắc là nó rơi xuống đất, lủi vào cỏ ...

- ...

- Nếu màu vàng thì chắc là điềm lành, màu vàng là màu đế vương. Con ông chứ còn ai ! Cán làm vua thì đúng là ứng vào tên tục ông là Hoàng Ðăng Bảo. Có đổi ra Tế Lý lúc ấy cũng chẳng được ! Hừm !
Huệ tư thông với Lý từ khi Lý còn ở trấn Nghệ. Rồi mỗi lần Lý về Kinh, họ lén lút gặp nhau, Trịnh Sâm không mảy may ngờ vực. Gần gũi Sâm trên ba năm, Huệ vẫn chẳng thai nghén gì. Ngẫm lại, hơn chục năm qua Sâm đã ăn nằm với cả tá bà phi, nhưng kể từ ngày đẻ công chúa Ngọc Lan, chẳng một ai thụ thai. Huệ tính toán, giả giận Sâm cả tháng dịp Lý về, tắt kinh mới lại làm lành, rồi báo Sâm tin vui. Khi Cán đẻ ra,
Sâm vẫn nghĩ là đẻ non, lại càng yêu càng quí.

Lý cười nhẹ, xoay người lại nhìn Huệ, nói :

- Phế Tông, Cán chỉ thành Chúa thôi. Vua thế nào được !

Huệ cười khanh khách :

- Quan cách nhà các ông lắm chuyện lắm, còn quá đàn bà ! Trịnh Sâm muốn soán, sợ dị nghị, gặp Nguyễn Thiếp bàn ra là thôi ... Còn ông vua « hề » Hiển Tông kia thì lẩm cẩm rồi. Duy có một điều là tôi còn ngại : Hắn chết, rồi Thái tử Lê Duy Cẩn mà kế vì ngôi vua thì không thuận lợi cho Cán... Thằng Cẩn gần gũi con
Hoan mẹ thằng Tông, không thể tin nó được.

Xưa nay Vua Hiển Tông thấy mình không làm gì nổi Sâm đành nhịn nhục, suốt ngày viết kịch diễn tuồng. Giả như không ngó ngàng đến thế sự, Vua nói ra miệng : « Việc thiên hạ nhà Chúa lo mà nhà Vua hưởng, có chi phải phàn nàn ! Tôi sướng, Chúa khổ, vậy mà tôi không biết ơn thì đáng chê đáng cười thật ». Mỗi lần kẻ ăn người ở hậm hực, Vua gạt phăng đi không nghe. Ngay việc chọn Cẩn làm Thái tử, và việc giam nhốt tự tôn là Duy Kỳ từ thuở tấm bé đến nay đã mười lăm năm, Vua để mặc Sâm muốn làm gì thì làm, chẳng dám hé lời.

Huệ xoay người lại, nhìn vào mắt Lý, nhếch miệng :

- Thằng Cẩn lên làm Vua, chắc không lâu được. Nó đù đờ, bất nhất. Cứ để nó kế vị, đợi ít lâu cho đến lúc Cán thành niên, rồi bắt nó thoái vị. Lúc ấy Chúa thành Vua là lẽ đương nhiên. Tách thằng Cẩn ra khỏi đám mẹ con thằng Tông, tôi đã có cách

- ...

- Tôi đem gả con Mai, em tôi cho nó. Vợ thằng Cẩn vừa xấu vừa độn, chẳng làm vợ cả được ...
Lý nghe Huệ tính toán giản đơn, nhưng táo tợn, luồn lách, mặc nhiên không thèm để ý đến đám quan lại
trong triều. Hỏi, Huệ thản nhiên :

- Chúng nó là bọn vừa tham vừa hèn, lại vừa ngu. Thả cho chúng tí quyền, tí danh là đủ. Chúng không đáng ta cho một đồng kẽm. Còn ông, ông ở đấy thì chúng làm gì được ? Con ông làm vua, ông cũng phải lo một tí chứ ! Ðấy là cái số ông, không làm Vua thì làm bố Vua - Huệ cười, tay lại vắt sang đùi Lý, lơi lả - không muốn à ?

Lý tự nhiên thấy ngứa ở cổ, khục khặc ho. Ngồi lên, Lý thấy mắt tối lại, khạc ra. Ðó có phải là một con rết vàng ? Nó nhanh như cắt, thoắt một cái là biến mất. Lý hỏi Huệ có thấy con rết không ? Huệ kéo Lý đè lên trên người mình, dạng chân, mồm bảo :

- ... chỉ tin nhảm, sao đỗ đến ông cống mà còn dị đoan vậy hả ?

Không về kịp cúng tất niên như đã hẹn mãi đến mồng ba Tết Thức mới về đến Kinh. Việc di giáo hữu từ Phố Hiến về Ða Phạn y theo lệnh của Chúa Tĩnh đô Vương trở nên phức tạp. Giúp giáo sĩ Charles-Antoine Sieyès giao dịch với quan lại sở tại và đám chức sắc người lương tại địa phương, Thức thấy trước mắt một điều : sự mâu thuẫn lương-giáo trầm trọng đến độ đang biến thành những nứt rạn khó hàn gắn được. Mang đất của người lương chia cho người giáo, lại không đền bù gì cho tương ứng, đám quan lại đã đẩy người lương vào thế bạo động. Người lương hợp thành từng đoàn, mang giáo mác gậy gộc vây chặt đám giáo hữu khiến họ tiến không được mà thoái cũng không xong. Charles-Antoine mặt mũi tái ngắt, đưa sắc chỉ của Tĩnh Vương ra, ngón tay chỉ vào khoảng đất được vạch trên địa đồ nơi giáo hữu được phép định cư cho quan Cơ xem. Viên võ quan này mang một đội lính bàng quang nhìn diễn biến, thản nhiên nhổ bã trầu rồi bảo Thức là không biết gì và chẳng có lệnh trên nào đưa xuống. Cứ thế, giằng co cả tuần, đàn bà trẻ con chịu cảnh màn trời chiếu đất, nhao nhao kêu khóc. Gọâp vàng lại đút lót, quan Cơ mới mở đường, lùa giáo hữu vào một khu đất lầy nước mặn. Giáo hữu cắn răng, kêu lên quan Huyệân, rồi cũng chuẩn bị dao gậy. Thức vào hầu quan, lo lắng : «.. từ Phố Hiến lên đây, ít ra là khoảng trên một ngàn đinh. Còn giáo hữu ở Ðàng Ngoài hiện có đến trên hai mươi vạn, cứ thế này là sẽ nội chiến trên toàn lãnh thổ ». Quan cười khềnh khệch : « ... thầy rỗi hơi, lo chuyện đâu đâu. Ai chết mặc ai, cái thân thày, thày lo. Chuyện thiên hạ xá gì ! Thôi, về Kinh đi, ở lại khéo chết chẹt đấy ! ». Viễn tượng một cuộc nội chiến giữa những kẻ khốn cùng tranh nhau chút đất đai khô cằn để có cái mà ăn khiến Thức rùng mình. Chàng ở lại Ða Phạn cho đến khi tạm ổn định được đời sống của giáo hữu rồi mới lên đường.

Dăm bữa rồi, cứ sáng ra là người đó dựa mình vào thân cây hoa sữa, nón mê kéo sụp xuống mũi, ngồi đọc sách. Gia nhân mở cổng dinh Khương Tả hầu ra hỏi, người đó chỉ lắc đầu. Có kẻ hầm hè đòi đánh, người đó ngước lên, mắt sắc như dao, chòm râu quanh mép đã ngả mầu muối tiêu, hất hàm : « Ngoài cổng dinh đất là của thiên hạ, vào hỏi chủ ngươi xem có phải không ? », rồi lại điềm nhiên cúi xuống đọc sách. Gia nhân vào kể lại, Trọng Thức bước ra sân nhìn.

Ðẩy cánh cổng, Thức thủng thỉnh bước về phía cây hoa sữa. Người ngồi gốc cây giở nón, ghé mắt nhìn, rồi lại cúi xuống nói trống không: «Tôi xin được yết kiến La Sơn Phu tử ». Thức từ tốn báo là thầy mình đã về Bùi Phong từ tuần trước. Người ấy lại ồ một tiếng, thở dài, rồi lại giở nón ngước mắt hỏi : « ... dám hỏi, huynh đài tên họ là Võ Toàn Nhật ? », giọng trọ trẹ miền Hoan Châu. Thức lắc đầu, tự giới thiệu. Người ấy xưng tên là Trần Danh Kỷ, hiệu là Tiệp Dư, vốn có giao tình với Koji Mishima, người trên Phố Hiến đại diện cho Nhật Bản thương cục.

Trưa hôm ấy, khi Toàn Nhật về thì Thức đang ngồi trò chuyện với Kỷ. Kỷ đứng dậy, vòng tay chào. Toàn Nhật mới nhận chức Chưởng Cơ của đội Trung Kính, có trách nhiệm lo an ninh và bảo vệ toàn bộ dinh thự trong phủ Chúa và dinh các đại thần trong Chính-phủ. Kỷ tỏ vẻ ngạc nghiên :

- Huynh đài có cơ duyên đấy, có phải ai cũng có cái trách nhiệm ấy đâu. Quan Chánh dường tin người là phải có cơ sở. Thế còn Phu tử, ngài thuận lòng cho học trò nhận quan nhưng chính mình thì lại lánh xa hoạn lộ, cũng là điều lạ ...

Toàn Nhật mỉm cười :

- Thầy tôi không o ép gì ai cả, chỉ nói “thuận thiên hành đạo”.

- Việc Phu tử nhất quyết không tán thành việc soán ngôi nhà Lê đã đồn đãi đến Ðàng Trong, ai cũng tâm phục.

Tay chỉ Thức, Kỷ cười :

- Chỉ thiếu một chút là cái đầu huynh đài đây suýt rơi trong vụ án năm Canh Tý !

Kỷ thân mật kể chuyện Ðàng Trong cho Thức và Nhật , và nhất là tình bạn với Mishima suốt mấy năm qua.
Cơm nước xong, Kỷ xin phép ra về. Khi Nhật tiễn ra cổng, Kỷ quay lại, bất ngờ hỏi :

- Quyển sách ấy của Mishima, huynh đã trình lên quan Chánh dường chưa ?

Nhật ngẩn người, chưa nghĩ ra, hỏi lại : « Sách nào ? » thì Kỷ đã chỉ vào những cành mai còn vàng hoa, nói lấp chuyện :

- Không, chẳng có gì quan trọng ! Toàn huynh xem, mai còn vàng thế này thì chắc năm nay mùa xuân dài
hơn thường lệ, và hẳn không phải lo hạn hán.

Nhìn bóng Kỷ khuất sau lối ngõ hai bên trồng trúc bạch, câu hỏi « sách nào » văng vẳng. Toàn Nhật thầm nghĩ, chẳng hiểu có phải là cuốn « Luyện kim yếu pháp » không ? Nếu thế, Kỷ là ai ? Một người gốc châu Hoan, đỗ hương cống năm Canh Dần, xử mà không xuất hơn chục năm nay, rày đó mai đây, kết bạn với cả những ngoại kiều như Mishima ? Nhưng cũng có thể là một quyển sách khác, chẳng hạn như cuốn « Chuyện các nước phương Tây » (Seiiku Monogatari ) mà Mishima vẫn để gối đầu giường. Toàn Nhật ngẫm nghĩ rồi lắc đầu, bật cười, tự nói cho mình nghe « Cái bệnh ngờ vực ở đất Kinh Kỳ này lây thế mà nhanh thực ».

Ðặng Thị Huệ vồn vã nắm tay em kéo ngồi xuống chiếc sập gụ lên màu đen tuyền bóng lên như thoa mỡ. Nàng đưa tay vuốt lại vài sợi tóc vấn vội còn xòa trên thái dương Mai, miệng tươi tắn :

- Chị có một tin vui báo em. Này Mai ạ, Thái tử Cẩn nhờ người dạm hỏi em về Ðông cung làm Ðệ Nhất thứ phi. Việc cưới phải làm gấp, vì nay Ðức Vua chừng yếu lắm, chẳng biết lúc nào ... Chị tính là sau lễ tơ hồng cho Mậu Lân, chị mới có thể lo đến phần em ...

Mai bàng hoàng, tai ù lên, nghe Huệ nói như vẳng đến từ một cơn mơ. Cùng cha nhưng là con bà lẽ, thuở tấm bé Mai phải gọi mẹ mình là «chị » cho đến khi mẹ mất. Ngày xưa, khi mẹ «cả» lấy vợ cho cha, mẹ hằn học: « tuổi tao hết vui hết thú, lấy người về hầu ông ấy, đỡ nhọc đỡ vướng ». Bà lẽ, lúc ấy mới mười sáu, là một cô bé còn ngây thơ. Sau lễ tơ hồng, cô bé mặt xanh lớt, nhịn ăn cả tuần lễ, cứ nghe tiếng chân ban đêm là dúm người lại. Hai năm sau, Mai ra đời. Mẹ «cả» ngắm Mai, rồi khinh khỉnh nói : «... đúng là cha già con cọc ! ».

Năm Mai lên tám, «chị » bỏ Mai đi, thở hắt ra, miệng rên : « Tội nghiệp con mẹ một mình ! » rồi nấc lên, đầu ngoẹo xuống, tay vẫn nắm cứng lấy Mai, phải hai người mới gỡ ra được. Mẹ «cả» bảo Huệ, lúc ấy tuổi xấp xỉ tuổi «chị » đẻ ra Mai, giọng sa sả: «Từ nay mày lo cho con ranh này !».

Vài tháng sau, mẹ «cả» đau yếu, cả ngày nằm một chỗ, nhưng vẫn tỉnh táo. Mẹ bảo: «... Con Huệ, tao đã lo cho mày vào hầu hạ Chúa trước khi tao chầu trời, chậm thì lại kẹt cái tang mẹ. Sau này, mày lo cất nhắc thằng Lân, nó chữ nghĩa không có, chỉ suốt ngày lêu lổng ». Mấy ngày sau, mẹ gọi Huệ và Lân vào phòng, đuổi cha ra, rồi dằn từng tiếng: «Tao sắp đi về với ông bà. Vốn liếng nhà chẳng được là bao. Cha chúng bay là thứ vô công, chỉ lăng nhăng hết ngâm lại vịnh. Nhìn ngang, cũng chẳng bằng ai, nhìn lên thì thấy ai cũng hơn, nên chỉ biết gục mặt nhìn xuống, miệng nói nhân, nói nghĩa, không màng công danh tự lừa dối mình. Hai chúng mày chẳng nhờ vả gì được cha đâu...Nhớ đây, mẹ dặn : đời chúng mày, phải làm thế nào để chẳng phải quì gối trông lên một ai. Muốn thế, phải có tiền. Muốn có tiền, phải có quyền. Muốn có quyền thì đừng lấy chuyện nhân nghĩa tầm phào làm mốc. Cái mốc khiến được thiên hạ là lợi, là tiền.Tiền à, là Tiên là Phật, là ngọc là ngà, là cái đà của danh vọng, là cái lọng của nịnh thần, là cán cân của công lý... ». Mẹ «cả» ngưng nói, rồi thều thào: « sáng mai, con Huệ vào phủ Chúa, nhớ lời mẹ ».
Mẹ «cả» đi ngay tối hôm đó, nhưng chỉ báo tang ba ngày sau, đợi Huệ vào phủ Chúa xung thị nữ trước đã. Huệ làm vẻ không hay biết gì. Ngày đi chôn mẹ «cả» chỉ có cha, Lân và Mai. Từ đấy, gia cảnh túng quẫn, đồng ra đồng vào là nhờ tay Huệ. Cha tuổi cao, chỉ quanh quẩn với Mai, dạy Mai ngâm vịnh, và phàn nàn Lân là loài nghịch tử, họ Ðặng đến đây coi như tuyệt tự. Còn Lân thì kéo bè kéo đảng rủ nhau lấy tiền xâu ở chợ hàng Da, hung bạo đến độ nổi tiếng một vùng. Ít lâu sau, Huệ không những chinh phục Trịnh Sâm mà còn cả đám quan thị phục dịch trong phủ. Ðến lúc ai muốn gì, cứ nói với Huệ là Sâm cho toại ý, người đời
gọi Huệ là bà Chúa Chè.

Nhìn Mai, thình lình Huệ lên tiếng:

- Em nghĩ thế nào ?

Mai ngước nhìn Huệ, cắn môi ngập ngừng :

- Chị để em nghĩ, việc một đời ...

Huệ ngắt lời :

- Bà Thái phi đau yếu, bệnh tật, lại đứng tuổi rồi. Sau, là em. Ðức Vua chắc sống cũng chẳng còn lâu. Như vậy, chị độ là em sẽ thành hoàng hậu nhà Lê, làm vang danh cho họ Ðặng, chắc cha cũng mỉm cười nơi chín suối...

Ngẫm nghĩ một lát, Huệ nói tiếp, giọng đanh lại :

- Không phải ai cũng được như chị em mình. Chị cũng biết là em có tình ý với một anh thầy đồ xứ Nghệ. Thái tử Cẩn già nua, nên em cũng đừng phí độ xuân xanh của mình. Quan Chánh dường có ý xếp việc cho thầy đồ nhà em được gần gũi em trong Ðông cung phủ. Việc ấy không có gì khó cả...

Huệ nheo mắt nháy, cười giả lả :

- Bây giờ em về xếp đặt, rồi đầu tháng lên đây ở với chị, giúp chị trông nom thế tử Cán vẫn cứ oặt oẹo, chưa thuyên giảm được chút nào.

Huệ giữ Mai ở lại ăn cơm chiều, bảo Mai vào chơi với Cán. Ði qua những hành lang lờ mờ thấp thoáng ánh bạch lạp, Mai bước vào một căn phòng tứ bề rủ chướng gấm, mùi thuốc xông vào mũi. Cán reo : « Dì Mai, mẹ dặn thế nào dì cũng đến, Cán đã sắp sẵn đồ chơi đây rồi !». Cán đứng lên, chân không vững xiêu đi suýt ngã, mặt xanh xao, bụng ỏng, tay bưng một hộp gỗ đựng dế có đục lỗ. Mai ra cửa sổ định kéo mành, nhưng thị nữ giơ tay lên chặn lại, nói rằng tuyệt đối cấm vì sợ gió máy. Mai ngồi xuống tràng kỷ, miệng đắng lại, khô tưởng như bỏng. Chập chờn tranh tối tranh sáng, văng vẳng trong đầu Mai tiếng hát quan họ « ... cá cắn câu biết đâu mà gỡ... chim vào lồng biết thuở nào ra ». Mai đưa tay lên quệt mắt, lòng quặn lên một niềm hãi sợ đang ầm ập kéo đến hệt như một cơn giông bất ngờ.

Ra khỏi Cấm cung, Mai ngơ ngẩn như người mất hồn, chân bước về phía hồ Thủy Quân, lòng trống trải để gió lộng tứ bề. Buổi tàn thu, những cây bàng cong queo rắc lá vàng xuống vệ đường vòng quanh hồ như trải thảm dưới chân. Giữa hồ, tháp gươm nổi lên để đánh bạn với nỗi đìu hiu của đàn sâm cầm tha về để hoang trên cỏ dại.

Ngồi xuống gốc cây đại thụ đâm chồi ra mặt hồ, Mai lẳng lặng nghe hồn mình se sắt theo hơi lạnh đang lẩn qua chiếc áo bông bằng nhiễu màu gụ đỏ. « Như vậy, chị độ là em sẽ thành Hoàng hậu nhà Lê ...», tiếng Huệ lại vang lên trong đầu Mai. Không, chị Huệ, em chỉ là một thứ đồ vật mang ra gả bán. Khi thành Hoàng hậu thì em chắc chắn em không còn là em. « ... Quan Chách dường có ý xếp việc cho thầy đồ nhà em được gần gũi em trong Ðông cung phủ ». À, hay nhỉ. Vẹn toàn ghê, chưa gì đã rắp tâm trốn chúa, lộn chồng. Nhử nhau bằng vàng và tội lỗi, chị Huệ ơi, chị định nặn em theo khuôn chị, để « làm vang danh họ Ðặng, ... cha cũng mỉm cười nơi chín suối ». Không, chị làm sao hiểu được cha. Cha chắc sẽ ngậm hờn thì đúng hơn, chị ạ.

Mai chợt buồn nôn khi nhớ lại cảnh Huệ nheo mắt nháy, vục vội đầu nôn thốc nôn tháo xuống hồ. Nhìn bóng những cành đại thụ gẫy ra, rồi nhòa nhạt, như chắc không bao giờ sẽ hiện lại nguyên hình nguyên ảnh, nàng hoảng sợ. Ðứng vội lên, Mai đi như chạy về dinh Khương tả hầu.

Khi Thức ra mở cổng, Mai òa khóc, nước mắt như mưa. Ðưa Mai ra cạnh bờ ao, Thức chấm nước mắt cho Mai, tay ôm lấy bờ vai gầy guộc run rẩy nép vào lòng mình. Thức xót sa nhớ lại những giọt nước mắt ngày Mai khóc khi đi thăm mình trong cảnh tù ngục năm ngoái. Nghe Mai kể xong, Thức thở dài, mắt nhìn lên bầu trời đang ngả sang màu mực nhạt. Mai im lặng, chờ đợi. Thời gian giãn ra tưởng dài đến vô chừng trong khi Thức vẫn mím miệng, hàm bạnh ra, cái sẹo đâm xuống chân mày co giựt từng hồi. Không nhịn được, Mai ấp úng :

- Phải làm gì bây giờ ?

Tránh cái nhìn trách móc của Mai, Thức hỏi lại, ngây ngô :

- Em định làm gì cơ ?

Vừa bực, vừa buồn cười, Mai sẵng :

- Hay anh muốn có cái việc gì ấy ở Ðông cung phủ ...

- Không, nói bậy - Thức quay lại trừng mắt - Em phải từ chối. Rồi anh xin thầy đến hỏi em về ...

Bấy giờ, Thức bỗng nhỏ đi như một đứa trẻ trong mắt Mai. Nàng bình tĩnh :

- Họ nắm quyền, nắm thế, chẳng để mình yên để hỏi để cưới như thế đâu. Hai ta không có cách gì khác là trốn đi ...

Thức như người trên mây, bật miệng :

- Nhưng trốn đi đâu ?

Bật cười để ghìm cơn giận, Mai cố nhỏ nhẹ đáp :

- Bầu trời này còn rộng chán cho mình nương náu ...

Nhìn Thức cứ nghệt ra, Mai bỗng tủi thân, hệt như kẻ vừa ngửa tay xin mà không được cho. Hộc lên một tiếng, nàng lại cắn răng, nhưng nước mắt đã giàn giụa. Hai tay nắm lại, nàng đấm thùm thụp vào ngực
Thức, miệng ấm ức kêu :

- Giời ơi là giời ...

Thức ngạc nhiên, rồi nhẹ nhàng nắm lấy hai tay Mai, áp vào mặt mình cũng đã nhòe nhoẹt nước mắt. Mai nhũn người, thở hổn hển. Bấy giờ, Thức lẳng lặng xiết chặt lấy Mai, hiểu rằng từ nay sóng gió kéo vào đời cả hai người.

Mai ở lại dinh Khương tả hầu ăn cơm tối. Khi nàng định ra về, Thức nắm lấy tay, kéo lại hỏi, giọng run rẩy :

- Em còn về đâu nữa ?

Nhìn mớ tóc búi vội còn lòa xòa trên trán Thức, Mai thấy nàng mềm lòng đi, yếu ớt khẽ gỡ tay ra. Nghĩ thế nào, nàng quay phắt lại nhìn Thức, quyết liệt :

- Em nay chỉ còn một chốn về mà thôi !

Ðêm hôm đó, Mai cởi quần áo, đắp chiếc chăn đơn mỏng mảnh, lên giường nằm. Ngồi xuống cạnh Mai, Thức rón rén với tay vặn bấc chiếc đèn dầu cho bớt sáng. Chàng kéo chiếc chăn khiến Mai nhắm mắt, mặt quay vào vách, hai tay đưa lên che ngực, chân vắt chéo co lại. Thức cúi xuống áp môi vào bụng Mai, ngụp lặn vào màu sữa trắng tinh mơ và ngát mùi dạ lan của da thịt trinh nữ. Cứ thế, Thức thăm dò từng tấc vuông trên cái thân thể đang nhũn ra, vụng về, quanh co, hệt một kẻ dẫn đường mà không biết đường đi lối bước. Bên khung cửa, ánh trăng chênh chếch hắt lên vách bóng lá lung linh, chập chờn, nhảy múa. Thức lần xuống hôn lên từng ngón chân Mai, rồi áp mặt vào giữa hai đùi nàng đã không còn khép lại như trước. Mùi nồng hắc thoảng lên, kích thích Thức đến tột cùng. Hai tay nâng đầu Thức kéo lên, Mai áp miệng vào tai Thức, nói thì thầm : ... « Em là của anh, chỉ một anh thôi... ».

Mai nghiến răng chịu đau, hai bàn tay luồn sâu vào tóc Thức ghì chặt lấy, biết là mình chẳng muốn níu kéo gì một thời con gái. Thời nào rồi cũng phải qua đi. Ðể còn sang một thời khác, thời đàn bà...

Toàn Nhật được phân hẳn cho dinh Khương Tả hầu làm nơi cư trú, ngại ngùng không muốn, nhưng quan Chánh dường ép phải nhận. Bằng Vũ nay làm dưới quyền Toàn Nhật, đi lại luôn luôn, nhưng cả Thức lẫn Nhật đều ngờ Vũ là người của Nội Mật viện, có ý giữ gìn. Vũ kéo đám thư lại của lính Tam phủ đến dinh, chèo kéo, làm thân. Trong bọn, Trần Nguyên Nhưng là kẻ suýt bị chém trong vụ năm Canh Tý, may có Ðăng Khoa, con trưởng quan Chánh dường, đứng ra đảm bảo cho nên mới được tha. Rút cục, Nhưng chỉ bị đánh xuống hai trật, phái ra xung quân cho đội Tiền Hùng có trách nhiệm an ninh ở vùng ngoài ven đô chứ không còn ở Cấm cung như trước nữa.

Nhật tuyển một đám lính trẻ, mỗi sáng bắt tập võ. Thời gian Nhật ở với Koji, ngoài ba đường gươm bí truyền, Nhật học thêm được phép Nhu Thuật và cách đánh ám khí, đặc biệt là ném tiêu và ném đồng chinh. Phép ném chinh, Nhật đã tập đến độ siêu tuyệt. Một tay, Nhật có thể vẩy ra ba đồng chinh được mài cạnh sắc như dao, kẻ địch đứng trong gần mười thước khó mà tránh né được. Về cách đánh kiếm, Nhật cũng cải biến cho phù hợp với loại kiếm ta, ngắn và nhẹ hơn loại kiếm Nhật. Vẫn đeo ngang hông nhưng xoay ngược lưỡi lại, cách rút kiếm của Nhật biến thành một nhát chém từ dưới lên trên, chiếm ngay thế thượng phong. Ðồng thời, Nhật cũng nghĩ ra những bài liên hoàn cho ba tay kiếm đứng hình tam giác, tiến lui đồng bộ, linh hoạt chế ngự được ít ra là ba lần số đối thủ. Quan Chánh dường, xưa vốn đỗ Tạo sĩ, không phải là một kẻ võ nghệ tầm thường, gật gù lẩm nhẩm : «... có nòi cả ! » . Một hôm Tế lý đích thân ban cho Nhật cây kiếm chuôi có khắc ba chữ «Hoàng-gia kiếm ». Ðăng Khoa không giấu được nét bực bội nhưng miệng chỉ cười nhạt. Lý biết ý, ghé vào tai Khoa nói nhỏ. Mặt Ðăng Khoa tái lại.

Từ hai tuần nay, Thức rầu rĩ, lắm buổi ngồi đăm chiêu, không nói một lời. Mai bàn với Thức, rồi cả hai nói lại với Toàn Nhật. Nhật bóp trán đồng tình, bảo :

- Tính thế cũng được, nhưng Nhật phải nhờ tay Trần Nguyên Nhưng là kẻ trong đội Tiền Hùng phụ trách ven đô phía sông Nhị.

Trước kia, mỗi lần Tiệp Dư Trần Danh Kỷ ghé thăm Thức, hai người thường thảo luận một số cách nhìn xã hội của người Tây dương. Thời gian Thức đã học với Sieyès đủ cho phép Thức dịch ra vài đoạn trong cuốn « Công ước xã hội » do Rousseau viết bằng tiếng Pha- Lăng- Sa. Kỷ không đồng tình với nhiều điểm, trừ khâu nói về quyền tư hữu, theo Rousseau, là nguồn gốc của mọi bất bình đẳng trong xã hội. Thấy Thức dạo này im lìm, không hăng hái chuyện trò như trước, Kỷ hỏi gặng nhưng Thức chỉ thở dài. Mấy hôm sau, Kỷ đến từ giã, quay về Hoan châu. Bấy giờ Kỷ nói với Thức :

- Huynh đài vào Ðàng Trong, đã có Kỷ này. Thế sự Ðàng Ngoài như nước trên lửa, vung nồi lại đậy chặt, sớm muộn cũng bung. Với người anh hùng tái thế ở trong kia, thế nào cũng sẽ đất bằng sóng dậy...

Thức hỏi :

- Có phải là Biện Nhạc ở Qui Nhơn không ?

Kỷ lắc đầu. Thức nhìn Kỷ, chậm rãi :

- Vậy là Nguyễn Phúc Thuần hay Nguyễn Phúc Dương ?

Kỷ lại lắc đầu, bảo Thức với giọng chân tình :

- Huynh muốn cứu đời, ắt đây không phải là chốn thuận lợi. Kỷ này vào dò xét, biết thực lực của đám quyền thần ở Kinh chỉ đáng mớ lửa, không ai nhóm rồi cũng cháy, chẳng cần ra tay.

Thức ngỏ ý muốn ra đi, nhưng bảo chắc còn phải đợi ít lâu. Kỷ hẹn Thức ngày rằm tháng sau ở bến Thanh Trì, và dặn chớ thổ lộ cho ai biết.

Mấy ngày sau, Kinh Kỳ nhộn nhịp hẳn lên vào dịp lễ cưới công chúa Ngọc Lan. Ðám quan lại tứ phương về Kinh dự lễ, quà cáp hàng đấu, ngựa xe tấp nập, làm đám lính Tam phủ phải ra sức lo bảo vệ, lúc nào cũng căng thẳng. Quan Chưởng Cơ Trung Kính là kẻ bận hơn ai hết, mỗi đêm chỉ chợp mắt được vài giờ, tất tả đốc lính hết công này đến việc nọ. Buổi tối tuần trăng thứ ba, Nhật vừa về đến nhà thì một đội quân thuộc viện Nội Mật ập tới. Viên đội trưởng kính cẩn :

- Trình quan, có giấy của Nội Mật viện đòi Nguyễn Trọng Thức cư ngụ tại đây.

Nhật bình tĩnh chìa tay, mở tờ giấy, chăm chú đọc. Giữ sắc diện thản nhiên, Nhật bảo :

- Quan đội, Trọng Thức đã đi từ sáng hôm qua rồi.

- Bẩm quan, người ấy đi đâu ?

- Ta không rõ ...

- Bẩm quan, theo lệnh, xin ngài cho phép khám nhà.

Nhật cất tiếng cười ha hả, rồi sờ vào đốc kiếm, miệng khinh mạn :

- Viện Nội Mật coi người như rác hay sao mà chỉ có tờ giấy này là đủ xông vào đâu thì xông, chẳng còn phép tắc gì cả. Các người khám nhà ta vì không tin lời ta, có phải không ?

Viên đội trưởng cúi đầu lí nhí. Toàn Nhật nóng ruột muốn biết tin Mai và Thức. Không còn cách khác, Nhật lạnh lùng :

- Quí vị đưa ta lên viện, tội tình gì ta chịu. Còn muốn khám nhà ta thì không được !

Nói xong, Toàn Nhật ra cửa nhẩy phóc lên con chiến mã màu trắng, vẫy tay gọi thủ hạ. Tiếng vó ngựa trên đường đến viện Nội Mật đập thình thịnh trên nền đất vào lúc trăng ló lên qua rặng cây hoa sữa. Trong Nội viện, Ðăng Khoa cười nửa miệng, bỡn cợt :

- Cá một cặp mà chỉ chộp được con cái, đã trả về cung Ðặng Tuyên phi. Còn con đực, không trú ngụ dinh quan Chưởng Cơ Trung Kính thì ở đâu ?

Toàn Nhật nghe Khoa nói, mặt nóng bừng lên nhưng dằn xuống, hỏi :

- Thế ra họ không được phép rời Kinh ?

Khoa vẫy tay. Trần Nguyên Nhưng bị điệu ra, mặt mũi bị đánh sưng vù, ủ rũ nhìn Toàn Nhật. Nhật nghiêm trang hỏi :

- Trần huynh, ngài có chiếu chỉ gì cấm Ðặng Thị Mai và Nguyễn Trọng Thức rời Kinh đô không ?

Nguyên Nhưng rầu rĩ đáp :

- Không !

Nhật quay sang Khoa, gằn giọng :

-Ðăng Khoa đại ca ! Thế là bắt người trái phép, lại còn dám xâm phạm đến thân thể võ quan của Chính-phủ, tội ấy anh bào chữa thế nào ? Trần Nguyên Nhưng làm sao biết ai cấm ai, ai cản ai ? Luật Vua phép Nước ra sao mà tước vị như anh lại hành xử tùy tiện đến vậy ?

Nhật tiến về phía Nhưng, rồi nhanh như cắt xoay người gạt hai tên lính canh ngã chổng bốn vó lên trời, tay vòng ngang lưng Nhưng kéo về phía mình, từ từ lui ra cửa. Ðăng Khoa mặt tái lại, hét lính. Ðám thủ hạ đi hộ vệ Nhật hợp thành thế kiếm trận tam giác, vòng quanh Nhật và Nhưng, chậm rãi lùi dần ra cửa dinh
Viện Nội Mật.

- Gọi cung thủ và xạ thủ ! Không để đứa nào ra khỏi cổng này!

Ðăng Khoa quát như điên như dại, tay tuốt kiếm xông lên.

Trịnh Sâm gượng ngồi lên sàng, tay dựa vào chiếc gối thêu chỉ ngũ sắc, đằng hắng lên tiếng cám ơn đám quan khách dưới trướng. Chúa nắm bàn tay bé nhỏ của Ngọc Lan đang run rẩy, nhìn đứa con gái mình nưng như trứng, hứng như hoa, nói nho nhỏ : « Ðừng khóc, con. ».

Phía bên kia, Ðặng tuyên phi chủ hôn. Mậu Lân ăn mặc chỉnh tề, áo gấm màu gụ có thêu hoa mẫu đơn to như cái bát, lưng thắt đai bằng vàng có giát những thỏi ngọc hình chữ nhật, thỉnh thoảng lại đụng vào nhau leng keng. Khuất đằng sau là Ðặng Thị Mai, đứng cúi đầu. Ðại diện cho Ðức Vua, Ðông cung thái tử Cẩn bước ra chúc mừng hai họ, nói lại những câu sáo tụng loại như trăm năm hạnh phúc, đầu bạc răng long. Quan Chánh dường Hoàng Tế Lý cung kính đứng hầu bên Chúa, thỉnh thoảng lại cúi xuống nhắc tên những viên quan biên trấn từ xa xôi về mừng lễ thành hôn cho công chúa. Nhìn con mình quì cạnh Mậu Lân cúi xuống lạy bàn thờ gia tiên, Sâm mủi lòng, ứa nước mắt, gọi Sử Trung hầu đến thì thào. Chúa giao cho Sử Trung theo phò công chúa, và cắt một đám hai mươi người thị nữ theo sang dinh cơ của Mậu Lân.
Thái tử Cẩn lân la đến gần Tuyên phi, mắt đáo quanh tìm Mai, bụng muốn xem mặt. Ðặng Thị Huệ lễ phép : « Em nó mệt nên đã xin về nghỉ, để hôm nào Thái tử qua chơi em nó sẽ đích thân ra dâng rượu cho ngài ».

Miệng cười, Huệ nhí nhảnh :

- Mà duyên càng đợi, thì lửa càng nồng. Thái tử chờ cho dăm bữa nửa tháng nữa ...

Hai hôm sau, Huệ thình lình vào mở cửa phòng Mai, mắt sắc như dao liếc, hỏi :

- Mày đi đâu mà định qua sông ngày thằng Lân lấy vợ ? Ðịnh trốn theo trai hả ?

- ...

Huệ thẳng tay giáng một cái tát nổ đom đóm, không thèm nhìn Mai ngã chúi xuống giường, riùt lên :

- Thân lừa ưa nặng. Tao dựng vợ gả chồng cho chúng bay toàn là con vua cháu Chúa, không muốn làm Hậu làm Phi, lại một lại hai đi đánh đĩ với một thằng thày đồ kiết xác gàn gàn dở dở, người chẳng ra người, ngợm không ra ngợm ...

- ...

- Từ nay, mày ở lại Cấm cung, không đi đâu nữa. Tuần sau, ta sẽ mời Thái tử Cẩn qua đây, liệu mà vui vẻ lên, đừng vác cái mặt đưa đám ra nghênh tiếp người ta. Mày cứng cổ thì tao cho người tìm băm thằng Thức ra, chỉ mang cái đầu nó về cho mày đỡ nhớ với thương ...

Mai bật khóc, rên rỉ :

- Tôi lạy chị, chuyện lấy ai nữa thì không được đâu. Tôi đang có mang.

Huệ nghe Mai nói, quay ngoắt lại, trừng mắt :

- Có thai thì phá. Mất trinh còn dễ hơn. Chút vỏ hột lựu máu mào gà vào là trông như mới. Nghe tao đây : mày muốn thằng Thức sống thì phải vâng lời tao. Nếu không, mày là oan gia của nó. Tao sai giết cả nhà nó chứ chẳng phải chỉ lấy cái mạng của một nó mà thôi ...

Nói xong, Huệ đi ra, gọi thị nữ dặn dò. Chiều hôm đó, quan Chánh dường vào dinh. Nhìn nét mặt Huệ, Tế Lý biết nàng đang cơn thịnh nộ, lửa bốc lên khóe mắt như đốt sống người đối thoại. Huệ gằn giọng :

- Quan Chánh dường ! Ngài đứng đầu Chính-phủ, việc gì cũng qua tay, xưa nay chẳng sơ suất một điều gì. Những sự gì xẩy ra cho em tôi, tôi chưa thông rõ, mong ngài cho biết thêm để tôi tường tận.

Tế Lý kể việc người Nội Mật viện theo dõi Mai từ hơn tháng nay, nên chặn ngay khi nàng cải trang thành nam nhi, đến bến Tây Long hỏi nhà thuyền ngược lên Thanh Trì. Phần Trọng Thức, chắc có lẽ đi đường bộ. Người Nội Mật viện lập tức giăng lưới khắp khu Hà Ðông, nhưng đến nay vẫn chưa bắt được. Ðồng thời, trấn quan hai vùng Thanh-Nghệ đều được báo, và chắc chắn là tóm được nếu Thức lần mò về quê.

Huệ lẳng lặng nghe, cắt ngang :

- Thức có bố mẹ anh em gì không ?

- Khải Vương phi, không ! Thức mồ côi cha từ nhỏ, mẹ cũng đã qua đời gần chục năm nay.

Huệ nghiến răng, trừng trừng nhìn Tế Lý, miệng mím lại, nói :

- Ngài làm sao thì làm, thế nào trong một tháng cũng phải lấy đầu thằng Thức mang về đây. Ai chém nó, tôi xuất một trăm lạng vàng ra thưởng!

Vừa lúc đó, Mậu Lân ở đâu sồng sộc chạy vào kêu :

- Thế này thì tức chết được ! Lấy vợ về mà chả đụng được đến cái gót chân nó. Thằng hoạn Sử-Trung lúc nào cũng lè kè bên cạnh, nào là Chúa dặn thế này, nào là Chúa dặn thế nọ. Thế thì chị bảo tôi, mang con ranh con đó về nhà để làm gì hả ?

Nhận ra Tế Lý, Mậu Lân bớt hùng hổ, im miệng lại, nhưng mặt mày vẫn cau có. Huệ không nói gì, chỉ khẽ đứng dậy. Tế Lý hiểu ý, nghiêng mình cáo từ. Ðưa Lý ra cửa, Huệ quay trở vào, nhìn vào mặt Lân, thét :

- Mày ngồi xuống !

Có ai ngờ được kẻ bàn dân gọi là « hung thần mắt cú » líu ríu khuỵu chân xuống. Huệ cười nhạt :

- Mày ngủ với cả trăm con đàn bà, còn thèm nhạt gì. Mang con ranh con đó về nhà là tao mở mày mở mặt ra cho mày thành vương, thành tướng. Cái thứ đốn mạt như mày thật ngu hơn con chó ...

Ðến trước mặt Lân, Huệ bất ngờ tát vào mặt, miệng tiếp tục hét :

- ... ngu hơn con chó.

Lân không dám đỡ, ngồi im chịu cái tát. Huệ cứ thế, tát liền tay cho đến khi mỏi ê ẩm.

« Hung thần mắt cú » ôm mặt khóc thút thít, chẳng khác gì một đứa trẻ lên mười.

Thật là may, Hoàng Tế Lý kịp thời đến vừa lúc Ðăng Khoa tuốt kiếm xông ra. Lý vội hét : « Ngưng tay ! » rồi hoành thân nhảy từ yên ngựa xuống chặn giữa đám lính phủ Trung Kính và đội cung thủ của Nội Mật viện . Toàn Nhật cúi đầu chào :

- Thật chỉ có kẻ này đắc tội với bề trên, lính cơ Trung Kính chỉ biết nghe lệnh, xin ngài cứ xử phạt một mình tôi.

Nhật nói xong, tự mình cởi kiếm, hai tay dâng lên Tế Lý. Lý xoay người về phía Ðăng Khoa, hỏi sẵng :

- Thế còn ngươi ! Không biết tự xử à? Hay bắt ta ra tay ?

Quì xuống đất, Khoa không nói năng, bắt chước làm như Toàn Nhật, mắt quét về phía Lý một cái nhìn nửa như ngạo nghễ, nửa như chịu đựng.

Lý phất tay, ra lệnh cho Toàn Nhật và Ðăng Khoa vào Chính-phủ đối chất vào giờ Tị sáng hôm sau.

Người lo lắng nhất không phải là Hoàng Ðăng Khoa. Việc giám sát Ðặng Thị Mai và Trọng Thức là do Lý ra lệnh cho viện Nội Mật chứ không do Khoa quyết định. Khoa trong bụng vẫn hận việc Tế Lý trao cho Nhật thanh kiếm Hoàng gia. Nhân thời cơ, Khoa chỉ muốn vỗ mặt Nhật cho hả bằng cách phái quân đến khám nhà Nhật, mặc dầu thừa biết là Thức không có ở đấy. Phần Nhật, Nhật lo cho Mai và nhất là lo cho Thức. Cái mạng Thức có đáng gì ! Trong sự tính toán xếp đặt ở đất Kinh Kỳ này, Thức là cái gai phải nhổ đi để gả Mai cho Thái tử Cẩn. Nhật hỏi Trần Nguyên Nhưng mới biết Nhưng đã đưa được Thức qua bên kia sông Nhị, thoát khỏi sự kiềm tỏa của cấm binh. Khách quan về dự đám cưới công chúa dập dìu, Nhật hy vọng là Thức lẩn đi được dễ dàng.

Trước mặt Tế Lý, Nhật giữ thái độ cung phục nhưng vẫn ung dung tự tại. Nhật thưa :

- Bẩm quan, ngài đã biết Thức và tôi là đồng môn, lại như anh em. Anh đến nhà, không lẽ em lại đuổi đi ? Còn như Thức làm gì, quan hệ với ai, tôi làm thế nào mà trách nhiệm cho được. Chức phận quan xếp đặt cho tôi là chỉ lo bảo vệ an ninh cho ngũ cung tam phủ, không phải giám sát bất cứ ai.

Lý giơ tay chặn Nhật, rồi quay sang Khoa, hỏi như buộc tội :

- Còn ngươi ? Ngươi gọi cung thủ định giết quan của triều đình à! May mà ta kịp đến, nếu không, ngươi có biết là tội ấy phải xử hình phạt nào không ?

Không để Khoa nói, Lý dằn giọng:

- Tội này phải xử tử, dẫu ta là cha ngươi ! Mạng đền mạng !

Ngừng một lát, Lý nói tiếp :

- Ta nai lưng gánh vác mọi việc trong Chính-phủ, nhìn quanh số người tin cậy được chẳng có bao nhiêu.
Với Toàn Nhật, ta coi như là ruột thịt nên mới giao cho trọng trách.

Nhìn Nhật và Khoa, Lý dịu dàng :

- Lòng ta mong hai người coi nhau như thủ túc, cho nên nếu một trong hai không làm được thế thì cho ta biết ngay, để ta còn tính.

Quay nhìn Ðăng Khoa, Lý trầm giọng :
- Việc Nội Mậït là quan yếu, con lấy đó làm trọng, chớ để mờ quáng bằng những chuyện không đâu. Tiện đây, ta hỏi cả hai con, việc Trần Danh Kỷ đến đâu ?

Nhật thót bụng tự hỏi có phải Kỷ cũng là người của Nội Mật viện ? Khoa nhìn lên, từ tốn :

- Thưa cha, Kỷ lẻn vào Kinh với bốn người. Hiện tóm được ba, nhưng tên nào tên nấy đều cắn móng tay lúc bị bắt, chết vì độc dược. Kỷ rời Kinh hai tuần rồi, có tin hắn luẩn quẩn ở vùng Sơn Nam Hạ ...

- Hắn là người của Biện Nhạc ? hay là người của bọn Nguyễn Ánh - Ðỗ Thanh Nhân ?

Khoa ngẫm nghĩ :

- Người của Ánh và Nhân thì chắc không phải ! Hiện Ánh đang bị quân Tây Sơn dồn vào thế phải trốn chui trốn nhủi ở Gia Ðịnh, đâu lòng dạ nào phái người đến đây dò xét ta. Còn Biện Nhạc, từ ngày tự xưng là Thái Ðức hoàng đế, hắn chừng thỏa mãn, chỉ ra vào ở Qui Nhơn, mặc hoàng bào tay cầm ấn, tập làm vua, cũng lập tam cung ngũ viện, nghe đâu lại sắp «xuống chỉ » cho thi đệ nhất khoa tiến sĩ ... Kỷ chưa hẳn là người của hắn.

- Vì sao ?

- Vì cái Kỷ dò tìm là để lấy cả thiên hạ.

- ???

- Kỷ tìm sách « Luyện kim yếu pháp » của Koji Mishima. Có lẽ vì biết Võ tướng quân đã một thời ăn cận ở kề Mishima nên Kỷ mới lần lữa đến chứ chẳng phải là vì muốn làm quen La Sơn Phu tử hay Trọng Thức ...

Hoàng Tế Lý khẽ ra hiệu cho Khoa ngừng nói, lấy tay gõ lộp bộp trên kỷ, mặt trầm trọng :

- Toàn Nhật, có biết gì về quyển sách đó không ? Có nó thì đúc được nòng súng, và đúng đấy, sẽ lấy được cả thiên hạ ...

Trong đầu Nhật, hình ảnh Koji lại hiện ra với những trang sách xé rời cháy xém trong lửa đỏ, và giọng nói khàn đặc ê a : «...A ha, nếu Ðàng Ngoài này mà rèn được súng thì Ðàng Trong không chống nổi, đấy chuyện phong hầu cho tôi nó là thế ... Tôi không nhận thì không được. Tôi nhận mà không làm nòng súng, tất phải chết như kẻ bề tôi không hoàn thành trách nhiệm. Nhưng nếu tôi tham sống mà làm súng thì biết bao nhiêu mạng người Ðàng Trong sẽ tiêu vong ... Ðàng Trong đánh, Ðàng Ngoài đỡ. Rồi Ðàng Ngoài đâm, Ðàng Trong chém...cứ thế đã cả trăm năm rồi. Ðâm chém thế, làm sao thành được một quốc gia. Không ! cái nghiệp dĩ này sẽ biến dân tộc các bạn thành một dân tộc chia rẽ từ trong tâm thức. Cùng gốc gác, cùng phong tục ngôn ngữ, nhưng chém giết nhau mãi thì cứ thù hận, cứ nghi kỵ, tạo ra cái nghiệp còn nặng hơn là phải đối phó với ngoại nhân. Nó như căn bệnh vô hình vô sắc, đục ruỗng ra từ bên trong, nguy hiểm gấp trăm lần mụn nhọt mọc bên ngoài thân thể ».

Nhật ngửng nhìn Tế Lý, chậm rãi lắc đầu.

Lý lại nhìn Khoa dọ hỏi. Khoa thưa:

- Con đã cho người lật từ hòn gạch, xem từng cái kèo, xét từng cái cột, nhưng không tìm thấy gì. Hiện nhà Mishima ta niêm phong canh gác cẩn mật.

- Ðốt, đốt nhà nó đi. Sách không vào tay ta thì không được vào tay bất cứ một ai. Còn Kỷ, phải tìm bắt cho bằng được. Ta ngờ hắn là người của Quận Tạo Phạm Ngô Cầu, hiện đang trấn thủ Phú Xuân, chứ chẳng là ai khác ! Ở Thăng Long, chắc là yên, không có gì quản ngại. Vậy chuyến này, Ðăng Khoa lấy người đi vào châu Hoan, bí mật đến Phú Xuân xem động tĩnh và tổ chức lại mạng lưới của Nội Mật ...

Nắng bên ngoài chếch qua mái hiên chiếu in lên tường những bóng cây rung rinh trong gió. Lý đứng lên, trầm ngâm, lẩm bẩm nói một mình. Nhìn Toàn Nhật và Ðăng Khoa, lòng Lý bỗng hân hoan, miệng mỉm cười.
Khi chia tay, Ðăng Khoa nghiêng người nhìn Nhật nói :

- Võ tướng quân, chuyện cũ bỏ qua cho !

Nhật chưa kịp trả lời thì Lý đã cắt ngang, vui vẻ :

- ... chúng bay phải gọi nhau là anh em, ta đã bảo phải coi nhau như thủ túc kia mà !

Không biết từ đâu chim từng đàn bay về khoảng giờ Dậu. Tiếng chim quang quác ríu lên thảng thốt như bị săn đuổi làm náo loạn dân hàng phố sống ven hồ Thủy Quân. Họ kéo nhau ra ngơ ngác đứng xem. Từng đàn chim nháo nhác bay dọc, rồi bay ngang, lắm khi tưởng như sắp xô vào nhau, nhưng lại túa ra, bốc lên
cao, sà xuống thấp. Ðầu giờ Tuất, chim đậu đen nghịt tháp Rùa.

Sáng hôm sau, cánh chim bay che rợp mặt trời, tới giờ ngọ mà trông cứ tưởng chừng như là trời đã tối. Rợn nhất, vẫn là tiếng chim kêu. Tiếng chim có lúc chíu chít như kim chích vào não bộ, có lúc lại o o tựa như cơn sốt của nước sông Nhị lên vỗ mặt đê. Bỗng nghe ầm ầm như tiếng súng thần công. Bàn dân bảo nhau rằng nhà Chúa bắn súng để đuổi chim. Chim lại nháo nhác, bốc lên tít cao, nhưng vẫn bay quanh, hàng đàn, hàng đàn, rít lên đinh tai nhức óc.

Cứ như thế, hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba, chim sống bay hết đi đâu không còn một bóng. Còn chim chết đầy đường, chẳng biết cơ man nào mà kể. Người ta đi xúc xác chim rơi hàng xe bò mang đi đổ. Các cụ xì xào kể với nhau rằng điềm gở này đã xẩy ra cách đây hơn ba trăm năm, cũng vào độ tháng chín năm Nhân Dần, ngày Thái sư Trần Thủ Ðộ chôn sống ba trăm người tôn thất nhà Lý.

Sử-Trung quì xuống, dập đầu :

- Xin Phò mã chớ nói nặng. Nhà Chúa hai trăm năm nay tiếp mệnh Trời cai quản thiên hạ, không phải là thường, ngài nên giữ mồm giữ miệng ...

Lân nóng mắt thẳng chân đá một cái, Sử-Trung văng vào tường, mếu máo đứng lên. Ngọc Lan nằm trên sàng, xiêm y bị xé rách toạc, lõa lồ nằm co vào, sợ đến độ chỉ ú ớ rên rỉ gọi « Ới, cha ơi ... », nước mắt nước mũi ròng ròng. Lân quay lại hét :

- Câm miệng ! Quí báu đéo gì !

Quay sang Sử-Trung, Lân rít lên :

- Còn mày, đi khỏi đây ngay ...

Sử-Trung lắc đầu thì Lân rút phăng kiếm ra, chẳng nói chẳng rằng cầm kiếm lia ngang một nhát. Máu Trung phụt ra từng vũng, tung tóe bắn vào mành, vào chăn, vào gối ... Lân sững sờ, tỉnh rượu, cuốâng lên quát thủ hạ đóng cổng dinh, canh gác không cho xuất nhập. Một người thị nữ của Ngọc Lan chui qua ống cống về phủ Chúa báo.

Nghe tin, Trịnh Sâm điếng hồn, vời ngay Hoàng Tế Lý đến. Lý bình tĩnh, miệng ôn tồn :

- Công chúa còn ở đấy, Phò mã Lân nổi dại nổi điên lên thì ném chuột sợ vỡ bình.

Nói xong, Lý sai Bố-già đến dinh đòi Lân vào phủ Chúa. Lân sai người ra kiếu ốm nói thác rằng đang đau bụng. Bố-già nhất định không về, gọi to :

- Ðặng Phò mã, việc gì mà phải sợ ...

Nghe đến chữ sợ là đúng ruột đúng gan mình, Lân nổi cuồng lên, vác đại đao sồng sộc chạy ra, tay quơ chém loạn xạ, miệng hét :

- Việc đéo gì mà tao sợ đứa nào.

Bố-già đành chạy về báo quan Chánh dường. Lý bảo để đến mai xem động tĩnh, rồi sẽ tính. Trong bụng, Lý thừa hiểu là Lân sẽ nhụt dần, nhưng biết là Chúa vì bị ép nên mới đành gả con gái cho Lân, nên nhân thời cơ Lý nhất định không nương tay mặc dầu biết Lân là em ruột Tuyên-phi Ðặng Thị Huệ. Buổi sáng Lý vào chầu Chúa. Chúa bồn chồn phán : « Nó thế thì cứ giết quách đi. Chém sứ của Chúa theo phép là tội tử hình. Vậy nó chống cự, cứ việc, khỏi phải xét xử gì nữa ».

Lý liền vời Nhật đến. Sau khi gặp Lý, Toàn Nhật và Bố-già cùng một toán lính đội Trung Kính thẳng đường đến dinh Mậu Lân. Cổng dinh đóng kín, trên nóc nhà thấp thoáng có bóng xạ thủ. Nhật dàn lính ra, rồi tay
xách kiếm, một mình vào trước cổng, quát :

- Lệnh của Chính-phủ, mở cổng !

Không thấy động tĩnh gì, Nhật lẳng lặng lùi ra, lấy đà phóng chân đạp. Ðến lần thứ hai thì chiếc cổng đổ xuống. Nhật vẫy lính, từ từ tiến vào. Ðặng Mậu Lân tóc xõa, tay cầm đao chạy ra, tru tréo, lồng lộn :

- A, quân nào dám phá nhà tao ...

Toàn Nhật đứng sừng sững nhìn Lân chăm chú. Lân sựng người lại, ú ớ :

- ... mày giật roi tao ngày xưa phải không ?

Nhật làm sao quên được cái cảnh Lân cùng đám thủ hạ quây người mắc bệnh hủi lại rồi nổi lửa thiêu sống. Dằn máu nóng đang bốc lên mặt, Nhật định thần, từng bước đi về phía Lân, không nói năng gì cả, mắt xoáy vào mắt Lân cái nhìn lạnh đến làm nước đóng băng. Lân hoảng sợ, chân cứ lùi dần, đến vách thì quị xuống.
Tay trái, Nhật nắm lấy cổ Lân bóp lại, xách lên, rồi nâng bổng ép người Lân vào vách, gằn :

- Ngươi nói bậy một câu là ta vả vào cái miệng ...

Liều lên, Lân chửi :

- Tổ cha mi !

Một tiếng bốp vang lên chói tai. Mồm Lân đỏ lòe loẹt máu, nhổ ra một búng răng, mặt như hề bôi son trong những vở tuồng cổ.

Giải Lân về Chính-phủ xong, Bố-già và Toàn Nhật lững thững đi sang bến Hàm Như, nơi đóng quân của đội Tiền Hùng do Trần Nguyên Nhưng chỉ huy. Chiều hôm ấy, Nhưng mở tiệc mời bạn bè nhân ngày thượng thọ ngũ tuần. Trà dư tửu hậu, những lời đồn đãi hàng dân lại thành ra câu chuyện lính Tam phủ đem ra bàn bạc. Bố-già xưa nay vốn lừng khừng, sau dăm chén rượu, cũng mạnh miệng :

- Một họ nhà tôi đã ba đời nay xung quân tôn vua Lê, phò Chúa Trịnh. Riêng tôi, nay đây mai đó kểù từ ngày biết cầm cái dao, cái kiếm, thờ hai đời Chúa, có đâu một dạ hai lòng. Ai chứ tôi, tôi sẵn sàng chết cho nhà Chúa, không để đứa nào tiếm ngôi được ...

Ðám thực khách cười rộ lên đồng tình. Bằng Vũ, nay là thư lại đội Tiệp Bảo, đổ dầu vào lửa :

- Tệ nhất là cái đám quan lại khoa bảng xưng là kẻ sĩ, miệng nói chữ Trung nhưng bụng thì chỉ biết chữ Lợi, đâm thọc, mưu này kế nọ, chỉ đợi Chúa băng hà là chia nhau lạm quyền ... Cứ vây lại, chặn gạo bỏ đói thì

Nhất sĩ nhì nông

Hết gạo chạy rông,

Nhất nông nhì sĩ

Mọi người trong tiệc thích chí reo :

- Nhất nông nhì sĩ. Ðúng đấy. Bọn sâu chữ có làm được gì ! Xốc vác việc nhà Chúa là chúng ta cả.
Chén vào lời ra, chẳng ai kiêng nể gì tên quan Chánh dường và Tuyên-phi. Có kẻ lại phao rằng Ðông cung Cán đã chết rồi, nhưng tiếng giữ kín, để Lý tiếm ngôi Chúa trước rồi mới báo. Nhưng Thế tử Tông thì sao ? Cán chết thì ngôi Chúa lại trao về Trịnh Tông chứ ? Liền có người nói rằng Tông đã bị Lý phát vãng về Sơn Tây, giao cho Quận Thạc Hoàng Phùng Cơ giam giữ. A, cái lão Quận Thạc cũng chẳng phải tay vừa. Biết đâu lão chẳng thừa cơ mang Tông về Kinh, lấy tiếng phù nhà Chúa mà đuổi Hoàng Tế Lý ? Những tình tiết bí hiểm, âm mưu lắt léo, tráo trở, ly kỳ kể ra hệt những sự kiện không thể chối cãi được. Nghe chán chê, Nhật một mình lững thững tản bộ về phía bờ sông, ngồi nhìn nước chảy. Dòng nước đục ngầu như nước tù cứ loanh quanh như quẫn, xô vào đâu cũng là bờ là bụi, rác rưởi lềnh đềnh.

Một lát sau, Nguyên Nhưng và Bằng Vũ cũng theo ra. Ngập ngừng, Nhưng hỏi :

- Dân kháo, lính kháo như thế, chắc Nội Mật viện nắm hết, sao không thấy động tĩnh gì ?

- Ðộng tĩnh gì được trước lời đồn như gió bay ? Nhật hỏi lại, rồi tiếp - ... Vả lại, từ ngày công tử Hoàng
Ðăng Khoa vào Phú Xuân, công việc của Nội Mật chắc cũng có phần lỏng lẻo ...

Bằng Vũ ngần ngừ rồi hỏi Toàn Nhật :

- Vạn nhất có gì xẩy ra, huynh liệu đứng ngoài xem hay muốn nhập cuộc ?

- Nhập để làm gì ?

Bằng Vũ như đinh đóng cột, chậm rãi :

- Ðể mở đầu cho cái thời « Nhất nông nhì sĩ ».

Chưa kịp đáp, Toàn Nhật nghe tiếng gọi Bằng Vũ. Một trung niên tay cầm quạt nhanh nhẹn bước tới, miệng tươi cười : « ... quí huynh cho Bùi Bật Trực này nhập cuộc với nhé ! ».

Bùi Bật Trực cũng người huyện La Sơn, xưa có học với Tiến sĩ Nguyễn Huy Oánh ở miệt Trường Lưu, làm Viên ngoại lang rồi mất quan, nhưng được Viêm Quận công cưu mang. Viêm Quận công là Quốc Cửu, đối với Chúa Trịnh Sâm là hàng bác, phú quí vinh hoa nhất nhì thiên hạ.

Trước kia, Trực lân la đến chơi với Trọng Thức và Toàn Nhật ở dinh Khương Tả hầu, viện tình đồng hương và cùng là con nhà danh giáo. Trực thích biện thuyết, than thân là viên ngọc quí ở chốn bụi đen, rất trọng Hàn Phi nên thỉnh thoảng lại mang lời Hàn Phi ra, bóng gió nói lên cái chí của mình. Hôm mừng thượng thọ của Trần Nguyên Nhưng ở bến Hàm Như, Bật Trực cũng có mặt, ngồi thì thào với đám cấm binh, vẻ khẩn trọng, lo lắng.

Một tối, Trực mời Toàn Nhật và đám Bằng Vũ, Nguyên Nhưng đến dự tiệc nhân dịp ăn đầy tháng đứa con trai út. Ðám khách quan gần hai chục người, trong đó có Gia Thọ làm thư lại cho Thế tử Trịnh Tông hiệân còn bị giam lỏng trong Nội phủ. Chè chén đến độ ngà ngà, Gia Thọ mớm lời xoay chuyện, lại đề cập đến việc tiếm ngôi Chúa, chủ tâm dò xem ý tứ. Thấy không ai chống, Thọ lửng lơ :

- Thế tử Tông nóng ruột, thấy xã tắc bấp bênh, nhưng thân cô thế cô, tính mạng lại đang nằm trong tay bọn nghịch thần, chẳng biết xoay sở thế nào...

Một người râu xồm đứng lên ồm ồm nói :

- Nếu Chúa băng hà, Thế tử có chính nghĩa mà đứng ra thì mới nên chuyện, chứ cứ co lại sợ chết, hỏi ai làm gì được ? Cấm binh Tam phủ là người từ đất « tắm gội » của bản triều, có ai nỡ để nghiệp nhà Vua nhà
Chúa rơi vào tay bọn hoang dâm vô đạo !

Thế là nhao nhao lên mỗi người một ý, bàn tán xôn xao. Bằng Vũ đứng dậy, hai tay vỗ vào nhau khiến mọi
người im lặng, rồi chậm rãi :

- Trong Kinh, quyền lực nào cũng phải dựa vào Cấm binh, kể cả Lý và Huệ. Vậy mà bọn ta là Cấm binh chứ còn ai vào đấy ! Thế thì có gì là sợ... Trong bảy đội, chỉ còn hai đội ưu binh là chưa rõ ý, chứ ai cũng chỉ phò nhà Chúa, đâu có hai lòng. Ðội Thị Kỵ thì nhỏ, thuận hay chống không là việc quyết định cho thành bại.

Quay về nhìn Toàn Nhật, Bằng Vũ hắng giọng:

- Riêng còn đội Trung Kính, anh em con nhà lính phân vân, chẳng biết Chưởng Cơ nghĩ sao ?

Cả bọn im lặng, mắt chăm chăm nhìn. Nhật mỉm cười, bỗng nhấc cả vò rượu lên tu ừng ực, tu xong nói :

- Các vị là bằng hữu, cứ theo nhân nghĩa mà làm thì Nhật này không chống !

Gia Thọ xen vào :

- Không chống nhưng không theo ?

Nhật trừng mắt, hỏi lại :

- Theo ai ? Theo gì ? Theo để làm gì ?

Bằng Vũ thấy không khí có vẻ găng lên, vội đứng dậy, nghiêm trang:

- Thưa các vị bằng hữu, Vũ này ở lính đã hai mươi năm, kể ra không gọi là ngắn được. Lính chúng ta xuất thân từ dân dã, gốc gác nhà nông, dẫu có tí chút học hành thì cũng không quên người làng xóm mình cày sâu cuốc bẫm, mang hột gạo hạt thóc về nuôi cả nước. Thời bình, cái ăn là từ mô hôi nước mắt của ta. Thời chiến, thì cũng lại xương máu của ta mang về để bảo hộ giống nòi, yên bề xã tắc. Thế mà từ ngày Vũ này biết nhìn biết nghĩ thì chỉ thấy dân dã chúng ta chịu sưu cao thuế nặng, còng lưng cam chịu sự o ép của đám cường hào đã lươn lẹo thông đồng với đám quan lại ở Phủ, ở Huyện, thật là cay cực không sao tả xiết. Vừa đây, dân hai trấn Thanh-Nghệ lại chết đói đầy đường, thây nằm rải từ sông Lam đến núi Tản, càng nghĩ càng đau lòng xót ruột...

Cảm động, Vũ nghẹn ngào nói tiếp :

- Thưa các vị, dịp này Cấm binh ta giữ nghiệp Chúa không để bị soán đoạt cũng là dịp ta tâu trình để xin bỏ hết sưu dịch, giảm tô giảm thuế trong ba năm, để dân đen được thở ra...Vậy theo ai, ta theo nhân dân. Theo gì, ta theo đạo nghĩa, đền bù kiêm ái những người khốn cùng. Theo để làm gì ? Ðể bắt đầu một xã hội công bằng cho kẻ tay làm thì hàm có quyền nhai, không để ai đi bóc đi lột mình...Vâng, một xã hội công chính, căn bản là nông. Còn tầng lớp Sĩ, Phú, Ðịa, Hào? Phải đánh tận gốc, trốc tận rễ...

Thời gian bỗng như chùng xuống. Lời Bằng vũ bay bổng mang sức mạnh một giấc mơ từ lâu đời. Cả đám thực khách cứ thế vỗ tay hò :

- Ðánh tận gốc, trốc tận rễ.

Nguyên Nhưng đứng đậy, vòng tay rồi nói :

- Các vị bằng hữu, về cứ nói cho mọi người tỏ cái đồng tâm, đồng chí của chúng ta, và hẹn ngày rằm lên chùa trên núi Khán Sơn cùng nhau cắt máu ăn thề.

Toàn Nhật là người ra về cuối cùng. Ðến cửa Bật Trực nắm tay :

- Chắc Võ huynh cũng bắt buộc phải nhập cuộc rồi.

Nhật cười khẩy, hỏi lại :

- Còn huynh ?

Trực thâm trầm nhìn lên, rồi thủng thỉnh :

- Nhập thôi !

Nhật nheo mắt hóm hỉnh :

- Ðừng quên mình là Sĩ đấy. Ðào tận gốc...

Bật cười, Trực nói như đùa :

-... rồi cũng có lúc họ cần người biết đọc biết viết chứ, phải không ?

Tiếng khò khè từ sập ngự xung quanh có treo những bức trướng thủy tinh mỗi lúc một gấp gáp. Ðặng Thị Huệ vạch trướng bước ra, tay vẫy một người nữ tì đứng gần, nói nhỏ vào tai. Lát sau, hai quan thị-dược vội vã bưng vào một bát thuốc sóng sánh màu đen biếc. Ánh sáng từ những ngọn bạch lạp để khắp phòng lung linh, chập chờn rọi vào những nét mặt căng thẳng, môi mím chặt, mắt nhìn xuống, im lặng. Tiếng khò khè bỗng to lên, tưởng sắp tắc nghẹn, rồi lại nhỏ xuống, rên rỉ, lê thê kéo dài ra. Huệ xốc nách Sâm, đỡ đầu lên. Mặt Trịnh Sâm lúc này không còn thịt, chỉ vêu vao trơ xương, hố mắt trũng xuống sâu như cái chén hạt huyền, miệng há ra hớp không khí, nhe hàng răng lêu nghêu khấp khểnh đen sịt. Một thứ mùi thối khó tả xông vào mũi. Nó thum thủm, lại lẫn vào hơi chua như khi trẻ con ợ sữa, rồi nồng nặc mùi vôi đổ trên một đống rác lâu ngày chưa tiêu. Sâm hé mắt ra, thều thào :

- Mời Thánh Mẫu vào ...

Khoảng ba khắc sau, mẹ già của Sâm vội vã đến, đứng bên cạnh sập, sụt sịt khóc. Sâm được đỡ người ngồi lên, mình dựa vào gối, nhìn mẹ :

- Con biết mình không còn ở lâu để phụng dưỡng mẹ, sắp về với cha nơi chín suối. Xin mẹ cứ yên hưởng
tuổi già, việc phụng dưỡng do Tuyên-phi và Tự -vương thay cho con ...

Thánh mẫu gạt nước mắt, ngần ngừ mãi, xưng « Chị » theo lệ nói với Chúa:

- « Chị » thương con xót cháu, mà chẳng làm gì được với mệnh Trời. Trước khi con về với tổ tông, « Chị » xin thưa một điều : Tự-vương còn bé, lại yếu đuối trong khi Tông, bị giáng xuống làm đứa con «út » , dẫu sao thì cũng chưa làm gì bại hoại, bất quá chỉ dại dột để bị lừa vào cái thế dấy loạn...

Thánh Mẫu nhìn Huệ, mím miệng tiếp:

- Nay, vì xã tắc và vì cơ nghiệâp nhà Chúa, « Chị » xin cho Tông tạm ngôi Chúa đợi khi Tự-vương lớn khôn, lại xuống nhận phận con «út » như giờ ...

Sâm xua tay, lả người ra. Huệ sụp xuống chân Thánh Mẫu, khóc to :

- Chúa đi thì tôi cũng xin chết, chẳng muốn sống nhục trong nỗi ngờ vực oan khiên. Phụng dưỡng Thánh
Mẫu đã có Tự-vương và các Ðại-thần, có hay không có tôi cũng chẳng sao ...

Sâm cố sức hổn hển :

- Mẹ lo cho xã tắc thì con không biết lo sao. Lúc này chưa nhắm mắt được cũng vì thế ... Thằng Tông định làm phản cả cha lẫn em, đưa ngôi Chúa cho nó thì sự nghiệp họ Trịnh tiêu tan. Biết con, nào ai hơn cha.
Thôi, xin mẹ về đi ...

Thánh Mẫu lui ra, bắt gặp cái nhìn tóe lửa của Huệ, bụng thót lại, không kìm được vãi ra ướt quần.

Sâm lại cho vời quan Chánh dường Hoàng Tế Lý, miễn lạy, chỉ tay cho ngồi cạnh sập. Lý tâu :

- Khải Chúa, còn những chuyện phải làm ngay. Một là xin Ðức Vua sắc phong cho Thế tử Cán làm Chúa, hai là thảo ra «cố mệnh» chỉ định một số Ðại-thần phụ chính cho Ấu Chúa.

Sâm giơ tay, chặn Lý :

- Tờ «cố mệnh» cậu lo thảo ngay. Ðòi cho ta Quận Khanh và Quận Hoàn vào.

Quận Khanh là Trịnh Kiền, em Trịnh Doanh, là vai chú của Sâm. Còn Hoàn đỗ tiến sĩ khoa Quí Hợi, trước làm Hữu- tri giảng, dạy Sâm học, rồi lên đến chức Tham Tụng ở tiền triều, nay đã cáo lão. Sâm nói :

- Chắp tay lạy chú, lạy thày. Con bệnh nặng, nay sắp lìa đời, muốn Thế tử Cán lên nối ngôi Chúa, xin chú và thày đồng tâm hiệp lực giúp cho.

Nói dứt lời, Sâm lả đi, Huệ phải đỡ lấy giúp Sâm đặt mình nằm xuống. Hoàng Tế Lý quì xuống dâng trình tờ «cố mệnh » nhưng Sâm chỉ xua tay lia lịa, miệng phùi bọt, lại thở khò khè. Khanh Quận công cầm bút phê vào những chỗ còn để trắng tên của bảy Ðại-thần phụ chính. Ngoài Hoàn và Lý còn thêm năm người. Ðó là Tứ xuyên hầu Phan Lê Phiên, Châu Quận công, Ðàm Quận công, Diễm Quận công và Thùy Trung hầu Tạ Danh Thùy, toàn là hàng quan thị gần gũi với Thế tử.

Khi Quận Khanh hai tay dâng trình lên bản «cố mệnh» thì Sâm mắt đã nhắm nghiền, miệng há ra hớp như cá hớp bọt.

Một quãng đời bốn mươi bốn năm quay về trong một chớp mắt. Sâm thấy một cậu bé trông giống mình. Nó
lấy nhựa mít dính lên đầu sào ngồi rình chuồn chuồn, miệng ê a nho nhỏ : « Chuồn chuồn có cánh thời bay ...». Rồi Sâm lại thấy Thái tử Lê Duy Vĩ. Nhìn vào mắt Vĩ, Sâm bảo : « Có Chúa này thì không có Vua ấy ». Vĩ cười nhạt. A, cười hả ? Sâm sai vào cung Vua bắt Vĩ. Trốn đi đâu ! Bỏ nó vào ngục. Chưa bõ. Chém. Vợ con nó ư ? Bắt, bắt ngay. Giam lại. Sâm mặc hoàng bào thắt đai đỏ dẫn đầu ba quân vào Phú Xuân. Mọi Tây Sơn đuổi Nguyễn Phúc Dương vào Gia Ðịnh, mặt bắc đâm ra bỏ trống. Xua quân vào lấy hết Hoan Châu. Cứù để chúng lục đục đánh nhau mặt nam. Phong hầu cho Biện Nhạc. A, cái phường gá bạc, quân vũ phu. Láo nhỉ ? Nó dám xưng Ðế. Ha, ha, thằng vua Mọi ... Mặc nó, ta đánh giữ Phú Xuân, đẩy về phương nam ắt nó phải vào diệt bọn Nguyễn Ánh. Chúng nó kiệt sức thì ta vào thôn tính cả hai. Lê mạt rồi. Cứ xem Hiển Tông bôi mặt diễn tuồng trong Hoàng cung để mà cười. Hai trăm năm nghiệp Vương, đã đến lúc nối tiếp bằng nghiệp Ðế cho họ Trịnh. A, Huệ ơi, Huệ yêu dấu ... Ừ, hôm nay ta làm ông hổ, được không
? Ta vồ nàng, lấy chân móng sắc cào vào nhé ?

Này, sao mày lại về đây Duy Vĩ ? Mày vẫn theo tao ám hả ? Tao cắt lưỡi mày, tao cắt lưỡi mày ! Vĩ mặt
xanh lè chẳng còn tí máu, cười nhạt :

- Ðã đến lúc này mà còn hung hăng sao, ta bảo cho mi biết, họ Trịnh chỉ đương được nghiệp Chúa mà
chẳng quá hai trăm năm. May thêm được hai ba năm nữa là cùng.

- Nói láo, tao đã thảo tờ « Cố mệnh », Tự-Vương được phù chính. Hoàng Tế Lý mưu cơ như thế, trời lại
đưa Lý cho ta dùng, ắt rồi sẽ dấy nghiệp Ðế cho mày xem.

- Thằng Cán chắc đâu là con mi. Mi có nghe lời thiên hạ đồn đãi không ? Nó là con thằng Lý đấy ! « Nhất
thiœ trục quần dương » , mi nhẹ dạ quá nên quên đi mất. Một con lợn rừng lại thêm vào một con rắn lục như Ðặng Thị Huệ, thì cái mạng con dê của mi đến ngày tuyệt... Mi có biết thuốc mi uống hàng ngày có độc dược không ? Chính Hoàng Tế Lý bày ra đấy... Nói ra, cho mi chết mà không nhắm mắt được, ha ha ha...

Lúc đó là giờ Mùi ngày mười ba tháng chín năm Nhâm Dần. Chiếc đỉnh đồng đặt giữa phủ Chúa tự nhiên rung rinh phát ra những tiếng ken két như người nghiến răng. Bỗng đâu cả trăm tiếng cú rúc ban ngày rờn rợn vang lên. Chiếc đỉnh đồng tự nhiên đổ lăn kềnh, rơi xuống vườn uyển, cắm sâu vào lòng đất.

Sâm oặt đầu, miệng thổ ra một cục máu bầm, mắt trợn trắng dã trong hai hốc đen đầy lệ. Nơi chiếc đỉnh
đồng rơi xuống, đất sụt sâu, nước ngầm tóe lên tuôn phùn phụt, lâu thành một cái ao. Còn cặp mắt Sâm, đúng là ai vuốt cũng không nhắm, tê cứng đi như làm bằng một loại kim màu sắt rỉ.

Nhật bực bội vung tay ném hòn đá xuống ven hồ. Những gợn nước tỏa rộng ra thành những vòng tròn, lan ra rồi tan dần vào mặt hồ chỉ lát sau là lại phẳng lặng, lung linh bóng cây cổ thụ rễ gân guốc trồi lên mặt đất, lòng vòng chạy tủa ra rồi đâm vào ven bực tam cấp lên chùa.

Từ ngày Thức trốn, rồi Mai bị bắt và cầm tỏa trong dinh Thế tử Cán, Nhật không đi lại chơi bời với ai, kín đáo dò xét đợi dịp cứu Mai khỏi chốn tù hãm. Việc cắt đặt đội Trung Kính để bảo vệ tam cung ngũ phủ đã vào nếp, Nhật mặc thường phục, bỏ thì giờ đi vào khắp nơi ngóc ngách của đất Kinh Kỳ. Khi đầu óc căng thẳng đến độ Nhật chỉ muốn đập phá cho hả, chàng lại mò đến chùa Trấn Quốc, một mình ngồi cạnh gốc cây sống hẳn đã nghìn năm nay, đợi nghe tiếng thỉnh chuông, để cho lòng theo tiếng ngân, bay xa, nhẹ nhõm.

Những cơn chán nản và bực bội ùa đến Nhật như cơn triều sông Nhị mùa nước lớn dấn vào bờ đê sồi sụt lở lói. Nhật lôi cây kiếm Hoàng gia ra, nhìn chầm chập vào sống kiếm có đổ chì, nghĩ ngợi mông lung. Bây giờ, Nhật chẳng còn nghi ngờ gì về gốc gác của mình. Nhưng cái gốc gác đó khiến đường gươm thứ nhất trong ba đường chiêu kiếm học được của Mishima mỗi ngày một chậm. Nhật lại nghe văng vẳng lời dặn «... có dứt bỏ được vọng niệm, căm hờn thì đầu mới liền lạc được với tay, và đường kiếm nhanh bằng vận tốc của suy tưởng, nghĩ đến đâu là kiếm phát ra đến đó ». Rồi hình ảnh người đàn bà quay lưng lại, tay quạt cho Nhật buổi trưa nắng ở miếu Ba Cô cứ chập chờn hiện về, chẳng phải chỉ trong giấc mơ, đôi khi như luẩn quẩn giữa ban ngày ban mặt.

Nhật nhắm mắt, mơ màng nhớ về thuở ở trại Bùi Phong. A, cái thời trong trắng. Cái thời tưởng đã bay khỏi tầm tay níu kéo của mỗi con người, nhưng rồi lại vẫn lảng vảng đâu đây, thoáng trong hương hoa bưởi, vẳng về từ tiếng ếch ven ao. Nhật thầm nhủ : « Thôi, về thôi... Cũng là biển cả với nương dâu, chốn Kinh Kỳ này như thế là đủ ».

Bỗng có tiếng hát lanh lảnh rợn người. Hát rằng :

Ta về, ta hát, ta chơi ...

Co chân xoạc cẳng đo trời ngắn cao ...

Nhật ngạc nhiên, lần theo tiếng hát đi về phía sân chùa. Một người đàn bà trạc tứ tuần, áo cánh vàng, chít khăn đen mỏ quạ, chân đi vòng, tay múa miệng hát, nước mắt nhỏ ròng ròng. Thỉnh thoảng bà ta ngưng bước, ngửa mặt lên trời gào : « Mẹ, Mẹ ơi ! », rồi lại tiếp tục :

... Kinh Kỳ sóng nổi ba đào

Nước dâng tám cấp lửa cao chín tầng

Bà ta bỗng đứng khựng người lại, thét lên:

- Mẹ ơi ! Thánh thần nay cũng hư nữa, nói chi đến con người !

Hai tay chắp, bà lại bất động đứng dưới bệ thần Bạch Hổ, lưng quay về phía Nhật. Không ngoảnh lại, bà ta đột nhiên gọi :

- Này anh ơi ! anh vào đây ...

Ở góc sân, một đứa bé gái trạc lên mười ngồi thụp xuống đất, bên cạnh một sư ông râu tóc bạc phơ. Họ nhìn Nhật, không nói. Nhật bước vào sân. Người đàn bà lại cười khúc khích :

- Anh lên bệ đây, cho em lạy chào... Cứ lên, không ai ăn thịt đâu mà sợ...

Nhật rón rén ngồi xuống cạnh bệ thờ. Bà ta lại vòng chân bước, miệng hát :

Trăm năm trong cõi người ta

Bên tài bên mệnh khéo là ghét nhau

Trời đầy kẻ trước người sau

Biển kia cùng với ruộng dâu, cũng là...

Nhật giật mình. Hai câu đầu là hai câu thơ của Nguyễn Du, cậu bé đã lên sống trên trại Bùi Phong cách đây hơn ba năm. Nhưng những câu này họa chăng chỉ có Thức biết, làm thế nào mà nó lại từ cửa miệng của người đàn bà kia vừa cất tiếng hát ? Còn hai câu sau ? Lạ quá ! Người đàn bà như đọc được tư tưởng của
Nhật vài phút trước, khi chàng muốn bỏ chốn Kinh Kỳ, vừa nói vừa cười :

- Này anh ơi, chưa về ngay được đâu ! Mà về thì rồi nhớ giúp ông Hoàng Mười, ba bốn năm nữa anh lại ra đây.

Dứt lời, bà ta xoay vòng, tay xòe ra múa may uốn éo, hát theo điệu Hồ Quảng :

Duyên chưa đành, nghiệp chưa dứt, ới ai ơi...

Cái cõi sân si nó rộng, nó nổi ba đào !

Nhật hoảng sợ, không biết ai là ông Hoàng Mười và chẳng hiểu làm sao người đàn bà kia có thể nói toạc ra một phần tâm thức của chàng. Bước về phía sư ông, chàng vòng tay chào, tai lại nghe :

- Ðấy, nhà em đấy. Còn con cháu kia là con chúng em ...

Nhật ngẩn người ra. Sư ông chỉ cười hiền lành :

- Mẹ nó điên, ông đừng chấp.

Mùi khói hương sực vào mũi ngây ngất. Chẳng hiểu vì lẽ gì, tự nhiên Nhật thấy nhẹ hẳn mình. Phải chăng phần số đã là tiền định, thì có xá gì, thành mây mưa nắng gió hay hổ báo chim chóc cũng là...

Cũng là ... cả biển xanh với nương dâu. Cũng là ... kẻ trước với người sau...

Nhật lững thững ra cổng chùa. Con bé con, mặt mũi lem luốc, cặp mắt nâu tròn lóng lánh, đứng đậy đi theo. Nhật lại nghe giọng lanh lảnh :

- Con ơi, chớ bỏ theo trai ...

Nhật bước nhanh giữa gió chiều trống trải. Từ xa vẫn cứ văng vẳng tiếng hát :

Ới ai ơi ...

Cái cõi sân si, nó rộng , nó nổi ba đào.

Chương 5
Kiêu binh

Xế chiều hôm Tĩnh-đô vương Trịnh Sâm lìa đời, Vua Lê Hiển Tông hạ sắc phong Trịnh Cán làm chúa, hiệu là Diễn đô Vương. Ðặng Thị Huệ và bảy vị quan Ðại-thần phụ chính cũng nhận được những lời phủ dụ từ Hoàng cung. Cán mặc sắc phục tước Vương, ra sập ngồi cho hai hàng quan văn võ lạy chào. Sau, Diễm
Quận công bế Cán vào Huỳnh cung ra mắt Thánh Mẫu.

Quan tài Sâm vẫn quàn đó, đợi phong Vương cho Cán rồi mới khâm liệm cho Sâm. Trong triều, chỉ một mình Tế Lý biết là Cấm binh họp nhau ở Khán Sơn, nhưng không có thì giờ đối phó. Lý chặc lưỡi khinh bỉ, trao cho Quận Châu chức Binh phiên trì sự và dặn phải cẩn thận.

Trên núi Khán Sơn, có lẽ có đến cả trăm người đến hội. Oai Lý còn lớn, nên ban đầu ai cũng dè dặt. Ðến khi bàn việc, không một ai lên tiếng. Bằng Vũ nhẩy lên đứng trên một mỏm đá, giọng kiên quyết :

- Gần như toàn thể Cấm binh Tam phủ ở trong quyền chỉ huy của chư vị có mặt ở đây. Lâm sự, ta chặt cầu cản đường cứu viện đường bộ từ Kinh Bắc và Sơn Tây. Mặt thủy, Ðinh Tích Nhưỡng có đến được cũng không đổ bộ nổi. Vả lại, họ có đến được Kinh cũng phải dăm bữa một tuần. Nếu ta xử sự cho gọn, bắt giết Huệ và Lý, rồi xin ngay Ðức Vua ban sắc phong Vương cho Thế tử Trịnh Tông, thì chỉ nội nhật là xong. Lúc đó, ai không nghe hiệu lệnh của Vua và Chúa là làm phản, bọn cứu viện nào dám đến nữa.

Ngưng lại, Bằng Vũ nhìn khắp lượt, nghiêm trang tiếp :

- Chỉ sợ anh em ở đây không đồng một lòng. Bây giờ trước Hoàng Thiên soi xét, ai tôn phù nghĩa tôi Chúa, quyết dẹp bọn tặc thần chuyên quyền, xin đứng sang bên phải. Ai chống, bên trái. Còn ở giữa thì xin cứ bình chân như vại, đừng có can thiệp.

Cả đám cấm binh ồn ào lên, rồi di động. Hai phần ba bước về bên phải. Còn lại đứng giữa trừ một người. Nguyên Nhưng há hốc mồm nhìn, thảng thốt kêu: « Sao vậy ? sao lại vậy ?».Trăm cặp mắt đổ dồn vào phía bên trái, và đã có người nắm đốc kiếm, miệng hầm hè. Người đó quần áo nho sinh, tóc búi, tay cầm quạt phẩy nhè nhẹ, đủng đỉnh bước lên đứng trên gò đất, nói rành mạch:

- Chưa được đâu ! Làm như cách Bằng Vũ nói là vội quá, dục tốc bất đạt. Hành sự chín chắn phải nghĩ đến khả năng bất thành, còn giữ đường mà lùi...

Giữ đường lùi đúng là đánh vào tâm lý đám Cấm binh thật ra vẫn còn sợ sệt. Họ nhôn nhao hỏi. Người cầm quạt nghiêm nghị :

- Bùi Bật Trực xin có một lời. Phàm làm việc, giữ được chính danh mà không mang hại là thượng sách. Ai cũng biết là Thánh Mẫu không đồng lòng việc phế Tông lập Cán. Hay nhất là bàn với Quốc Cửu Viêm Quận công, để ngài vào trình với Thánh Mẫu, và phát hiệu lệnh rồi mới bắt Lý và Huệ. Nếu thuận như vậy, Trực này xin làm con én đưa đường...

Ðám Cấm binh vỗ tay hoan hô, cho là diệu kế. Bằng Vũ gật gù rồi nói :

- Ngày khởi sự như vậy chưa biết. Tam quân lúc nào cũng phải sẵn sàng, khi nghe tôi vào phủ đường đánh ba hồi trống sau giờ cúng cơm buổi sáng là cứ việc tiến đến vây Chính-phủ và Vương phủ.

Ðám Cấm binh lại vỗ tay hoan hô, cho Vũ là đảm lược hơn người, cử Vũ cùng Trực đi gặp Quốc cửu.

Sáng hôm sau, trên đường đến dinh Quốc cửu, Vũ bảo Trực :

- ... có ý Quốc cửu và Thánh Mẫu hay không, đã cưỡi cọp rồi, xuống thế nào được !

Trực trả lời :

- Có càng hay. Không thì lại càng phải làm. Thành thì khối các vị Ðại-thần nhảy ra xin ăn theo, lo gì.

Quốc cửu là loại người vừa ngu vừa nhát, cứ ậm ừ, khuyên nên đến thẳng Huỳnh cung. Vũ và Trực đến, phao rằng Quốc cửu đã thuận và nay xin ý Thánh Mẫu. Bà ngần ngừ, biết là việc trọng đại, muốn trì hoãn và vời Hoàn Quận công vào tham khảo. Lúc đó, không biết kẻ nào đã thảo ra một tờ hịch, tựa là ¨ Tam Quân Phù Chính ¨, kể tội tiếm quyền, dâm loạn của Lý và Huệ, đòi truất Cán lập Tông. Hịch dán trên năm cửa ô, rồi chép ra truyền tay nhau đọc trộm, bàn dân xôn xao, có kẻ sợ Kinh sắp gặp đại biến, lục tục rủ nhau bồng bế về quê. Giá gạo cao vụt lên, và trộm cắp tha hồ hoành hành, bất kể luật pháp.
Hoàng Tế Lý gọi Toàn Nhật vào Chính-phủ, từ tốn hỏi Nhật về binh tình trong đội Trung Kính vốn có nhiệm vụ bảo vệ Tam cung Ngũ phủ. Lý đăm chiêu :

- Tin được bao nhiêu đầu lính ?

- Năm sáu trăm, Nhật trả lời.

Nhìn ra sảnh đường, Lý làm vẻ thản nhiên :

- Ðịch được bao nhiêu ?

Nhật thận trọng :

- Ba nghìn, ba nghìn rưởi.

- Bao lâu ? Lý cười nhẹ, nhướng mắt lên.

Ngần ngừ một lát, Nhật đáp, giọng quả quyết :

- Ba nghìn thì cả tuần, ba nghìn rưởi, bốn đến năm ngày.

Lý trầm ngâm nghĩ ngợi rồi xuất một nghìn lượng bạc ra cho Nhật để thưởng cho lính đội Trung Kính. Mặt khác, Lý đích thân phái người của viện Nội Mật lên Sơn Tây vời quân Hoàng Phùng Cơ, sang Hải Dương vời quân Ðinh Tích Nhưỡng và xuống Thanh Hóa vời đội chiến thuyền của Nguyễn Hữu Chỉnh.

Từ dạo anh mình là Nguyễn Khản được tha tội chết, chỉ bị Chúa Trịnh Sâm giam lỏng tại tư dinh Châu Quận công, Nguyễn Du đã lánh lên Tuyên Quang, tá túc nhà một viên võ quan cấp thấp. Năm sau, Du về trấn Sơn Nam, rồi thi đỗ Tam trường khóa năm Giáp Thìn. Vì đường xá xa xôi, Du ít tin tức, không hề biết là Ðặng Thị Mai bị giam hãm, và Trọng Thức phải bỏ trốn, trôi giạt chẳng biết đến nơi đâu. Mấy tháng gần đây, tiếng đồn đãi về khả năng binh biến ở Kinh lan xa, bàn đân ở các phiên trấn ngóng cổ chờ diễn biến. Du quyết định lần về Thăng Long, một mặt vì tò mò, một mặt vì muốn tìm giữ những tập bản thảo do chính mình trước tác đã để lại dinh Kim Âu, tư dinh của anh mình là Nguyễn Khản.

Hai hôm sau ngày về Kinh, Du đến dinh Khương Tả hầu nhưng Nhật vắng mặt. Ðành ngồi đợi, Du nhìn đám Cấm binh mặt mũi nghiêm trọng, biết là tiếng đồn đãi cóù xác cứ. Bố-già, người lính lâu năm nhất, cũng mò tới tìm Nhật. Ông ta nhìn Du đăm đăm, buồn rầu :

- Ðời lính tôi suốt mấy mươi năm rồi, đến nay đâu lẽ nào phải cầm gươm cầm kiếm đánh đấm với chính anh
em lính chúng tôi... Ðánh giặc, lúc nào tôi cũng sẵn sàng, nhưng ai nỡ lòng nào đâm chém vào ruột vào
thịt mình.

Nhìn cánh bướm vàng chập chờn trên hàng dâm bụt màu đỏ tươi, Du bâng quơ an ủi cho có lệ người lính già nhăn nhó đang khổ tâm lo lắng. Nhật về, thấy Du, vội ôm chầm lấy, quên Bố-già đứng lóng ngóng bên cạnh. Uống chén nước hàn huyên xong, nhìn Nhật, Du nhắc lại lời Bố-già. Lúc ấy, Bố-già chắp tay, giọng trang trọng :

- Quan Chưởng cơ, chỉ có ngài mới cứu được việc anh em lính chúng tôi phải đâm chém lẫn nhau. Bọn Bằng Vũ, Nguyên Nhưng hăng lắm, không cản được, lại có Bật Trực thúc vào. Lính Tiền Hùng đã từng tốp vào Kinh, bỏ hết phòng thủ tuyến sông, tiếng là về cứu Ấu Chúa. Ngoài ra, cơ đội Nhượng Trung, Hậu Dũng và Tiền Ninh cũng phối hợp trấn đóng những chỗ hiểm yếu, hăm hở đợi tiếng trống hiệu... Riêng đội Trung Kính và Thị Nội tả quân do Chưởng cơ chỉ huy là không động tĩnh gì, vẫn tiếp tục phận sự bảo vệ Tam cung Ngũ phủ. Nay, anh em ăn thề trên núi Khán Sơn phái tôi đến xin ý của Chưởng cơ, và cầu trời cho khỏi đổ máu, là phúc cho lính...

Nói đến đấy, Bố-già sụp xuống quì lạy Nhật, khóc ròng ròng. Nhật vội đỡ Bố-già lên, mủi thương, nhẹ nhàng:

- Xin lão đứng dậy. Nhật này cũng chẳng ưa gì mùi máu.

Nghiêm nghị nhìn mớ tóc lởm chởm bạc mọc như nổi loạn trên đầu người lính già đã suốt một đời chinh chiến, Nhật trầm giọng :

- Cuộc nội chiến này không tránh được nữa rồi. Ngay như quan Chánh dường có lập thế tử Tông lên ngôi Chúa, ta cũng đồ rằng chưa đủ để tránh việc binh đao ...

Thở dài, Nhật quay sang Du, hỏi :

- Có phải đường huynh là Nguyễn Khản đã về dinh Kim Âu rồi chăng ?

Du lắc đầu. Bố-già chen vào :

- Không, Khản dẫu ở nhà Châu quận công nhưng cả hai đều biết rõ tình thế. Bây giờ, chỉ chờ ý quan
Chưởng cơ rồi anh em lính chúng tôi mới dám động tĩnh.

Nhíu mày lại, Nhật nhăn mặt nhìn ra góc vườn, nét đăm chiêu khiến chàng như già đi hàng chục tuổi.
Bố-già tần ngần, nước mắt lại ứa ra, giàn giụa chảy theo vết nhăn đã thành rãnh trên khuôn mặt phong
trần sạm màu nắng gió. Du ngần ngừ, nói trong cuống họng :

- Cứ đổ một giọt máu là phí đi một giọt, dẫu là của bất cứ ai.

Nhật vùng đứng dậy, vỗ nhẹ lên vai Du. Ôm vai Bố-già tiễn ra cổng, Nhật nhìn lão, nói:

- ... Ta không phụ ai, nhưng cũng chẳng để ai phụ mình. Lão về bảo họ như vậy.

Trong thời gian đó, Thánh Mẫu đã gặp Hoàn Quận công. Hoàn đồng lòng, xin Thánh Mẫu hạ chỉ dụ Hoàng Tế Lý, hứa sẽ thuyết phục đám Ðại-thần phụ chính. Chỉ của Thánh Mẫu như sau:

« Ấu Chúa ốm đau, trong nước bàn dân lo sợ nghi ngờ. Tướng quân nếu lấy xã tắc làm trọng, thì nên tạm cho Thế tử Tông nhiếp chính để yên lòng người. Chờ đến khi nào Ấu Chúa trưởng thành, Tông sẽ trả lại
chính quyền, lui về làm tôi...»

Tế Lý lĩnh chỉ, đọc xong, lắc đầu cười nhạt. Khạc vào cái ống nhổ bằng đồng để dưới chân, Lý lẩm bẩm « ... rõ là dơ. Nghi ngờ gì thì lại chẳng dám nói ». Ngồi ngay ngắn trước thư án, Lý tự lấy bút nghiên ra thảo :
« Lý tôi quì lạy dưới cửa thánh Mẫu. Thánh Mẫu đã lo đến việc lớn của xã tắc, tôi đâu dám không vâng lời ? Chỉ hiềm là việc đó không phải ý của Tiên Vương. Lý tôi khi được Tiên Vương gửi gấm, ngài đã dặn dò cặn kẽ, lại có tờ «Cố mệnh» làm bằng. Nay quan tài còn quàn ở đây mà thay đổi mệnh ngài, lòng tôi nghĩ sao cho đang ? Vậy xin việc đó hãy để sau rồi sẽ liệu tính ... Vả chăng, trong thiên hạ sau này nếu lo âu sẽ hết lo, nếu ngờ vực sẽ hết ngờ, dám xin Thánh Mẫu cứ yên tâm... »

Ðưa thư hồi âm về Thánh Mẫu xong, Tế Lý gọi hai hàng quan văn võ vào triều ngay buổi chiều hôm đó tại Nội phủ. Ðám Thị Nội quân được chia ra canh gác, mặc quần áo trận, cứ sáu thước có một người lính, gươm giáo sáng lòe. Ðội Nội cuông chấn mặt Bắc, Nội dực mặt nam, còn phía đông và tây do đội Nội nhưng và Nội kiệu phòng thủ. Ở vòng ngoài, những dinh thự lớn như dinh Kim Âu, dinh Trung Nhuệ đều được canh gác cẩn mật bởi cơ đội chủ lực Trung Kính. Ðám Thị-kỵ quân được giao giữ cung Vọng Hà, cung Tây Long và cung Trung Hoa ở trung tâm, có thể dùng như lực lượng trù bị sẵn sàng cứu viện những mặt quan yếu.
Cuối giờ Thân, các quan đã đủ mặt, ngồi hai hàng ghế. Trên trướng cao, chiếc ngai Chúa để trống, nhưng bên cạnh có sắp một chiếc ghế cho Ðặng Tuyên-phi. Ở hàng đầu, Tế Lý liếc mắt nhìn kiểm điểm, thấy thiếu Hoàn Quận công. Quốc cửu Viêm Quận công cáo ốm, không đến. Lý trình bày sự thể, cắt đặt công việc cho Châu Quận công là Binh phiên Trì sự, đưa ra bằng chứng có người tố Viêm Quận công định làm loạn và yêu cầu chư quan đình nghị để trị tội. Lý chau mày, trầm giọng :

- Chỉ mai kia là có biến, hàng quan võ các ông cũng nên một phen hãn mã, thử xem nghề cung kiếm còn phong độ hay không ... Phía quan văn, các ông bảo người nhà sửa soạn đao kiếm để tự phòng vệ, chớ có khinh trọng.

Hai hàng quan xì xào, hư thực, bấm bụng nói cứng nhưng lo ngay ngáy, ai nấy nhấp nhổm chỉ muốn về nhà. Trời sập tối, có kẻ khuyên Lý mang nghĩa sĩ vào phủ hộ vệ cho mình, có kẻ lại bàn là Lý nên ẵm Ấu Chúa trốn khỏi Kinh rồi gọi quân ở ngoài vào bắt bọn phản loạn. Lý chỉ im nghe, rồi chắp tay cảm tạ các quan, giọng khẳng khái :

- Xưa nay, hư thực trong chuyện binh biến thế nào ai mà lường được. Dẫu sao, cứ để thong thả, không việc gì phải mất bình tĩnh .

Lý cười, ung dung, tiếp :

- Ví bằng việc gấp quá, không trị nổi bọn làm giặc, thì tôi đã vâng mệnh Tiên Vương, sống thác cũng cam, có chi mà hốt hoảng ?

Ðêm hôm ấy, Tế Lý vẫn mang vài người hầu như thường lệ vào ngủ ở Phủ đường nhưng cho người đi gọi Toàn Nhật. Chờ đến canh hai không thấy, Lý bắt đầu lo, cả đêm không chợp mắt.

Tiễn Bố-già xong, Nhật thấy đầu choáng váng, vào nhà trong đặt mình xuống giường. Mấy hôm nay, trời ẩm đục, âm u, mây trĩu xuống như bị ai trì kéo. Chợp mắt được một lúc, Nhật nghe tiếng người gọi tên mình. Nhật choàng dậy. Cạnh cửa sổ, bóng người đàn bà ở miếu Ba Cô trên Phố Hiến thấp thoáng. Lưng quay lại, giải áo trắng bung phần phật mặc dầu không có gió, tóc xõa ra đằng sau như uốn như lượn, người đàn bà như chực bị bốc lên không trung. «Con ngoan, mẹ về với con nhưng chẳng được lâu, lại sắp phải đi đây ! ». Nhật đứng dậy, mắt căng ra, gọi : « Mẹ đừng đi nữa, ở lại để con báo hiếu mẹ ... Tội nghiệp thân mẹ ». Tiếng khóc thút thít, bắt đầu còn nhỏ, sau lớn dần rồi choáng ngợp thành những tiếng nấc, lẫn vào dăm câu nói tức tửi : «... báo hiếu, con ơi..., mẹ chờ... ». Cánh cửa sổ phềnh ra, đen ngòm, hút lấy giải áo trắng vẫn phần phật bay, mờ dần rồi tan biến như khói. Nhật gào lên : «Mẹ, mẹ ơi... »

Khi Du vào lay, Nhật tỉnh lại, thấy mặt mình lã chã nước mắt, người nhễ nhại mồ hôi. Du nhẹ nhàng ngồi xuống cạnh, lo ngại :

- Chắc huynh ốm mất rồi.

Nhật nhắm mắt định thần một lúc rồi đứng dậy ra sân sau. Chàng rút gươm chém ba đường, cứ thế chém, vừa chém vừa hét. Không biết vì lẽ gì, đường gươm thứ nhất lại chậm hơn trước. Nhật ngừng, nói với Du : « Du xem mắt ta có ánh căm hờn không ? » rồi lại tiếp tục chém.

Tối đến, Du về dinh Kim Âu. Toàn Nhật lên ngựa đi thẳng về phía sông Nhị. Quả thật những điếm canh nay bỏ trống, lính Tiền Hùng đã kéo nhau vào Kinh. Ngồi ven sông, Nhật nghe tiếng nước rì rào như tâm sự những nỗi niềm từ vạn đại. Chàng nhắm mắt, liên tưởng đến khoảng thời gian vừa qua. Khi quan Chánh dường trao cho chàng thanh kiếm « Hoàng gia », Nhật biết là gốc gác mình quả có rễ rợ sâu xa với họ Hoàng. Cha chàng là ai ? Là Quận Việp Hoàng ngũ Phúc ? Hay chính là Hoàng Tế Lý ? Nếu là Quận Việp thì thôi, đã chết rồi, vậy chẳng qua là chàng mồ côi cha từ nhỏ ! Nhưng nếu là Tế Lý ? Thế có nghĩa là kẻ phụ bạc mẹ chàng, khiến mẹ phải trầm mình chết để rửa nhục, sờ sờ còn đấy, quyền cao chức trọng, thế lật thiên hạ như trở bàn tay. Và bóng mẹ chàng ở miếu Ba Cô còn luẩn quẩn quanh đây, phải chăng là để nhắc nhở chàng mối hận câu chuyện ngày xưa mà nước sông Lam vẫn chưa rửa sạch ?

Nhật bần thần, tay mân mê đốc kiếm, lòng phân vân. Hình ảnh Bố-già và những giọt nước mắt một người không muốn máu lính vấy lẫn tay lính lại hiện ra. Ngày mai sự thể diễn biến ra sao ? Chàng thừa biết là lính đội Trung Kính sẽ nghe lệnh, chắc chắn sẽ chống trả khi bị tấn công. Từ ba hôm nay, họ khẩn trương chuẩn bị, sẵn sàng đối phó với mọi tình huống. Nếu việc binh đao không tránh được, số nạn nhân hẳn là không dưới vài ngàn. Nhưng làm thế nào đây ? Lúc can qua, Hoàng Tế Lý sẽ trực tiếp chỉ huy cả ba cơ đội Thị Nội, Thị Kỵ và Trung Kính. Con người Lý chiến trận đã quen, chắc gì bọn Bằng Vũ, Nguyên Nhưng thủ thắng được. Hơn nữa, quân biên ngoại hiện cũng đã rục rịch về Kinh mang danh nghĩa phù Chúa. Xương máu hàng vạn người sẽ đổ ra ! Nhưng để làm gì ? Cho ai ? Nhật chép miệng, thở dài. Chắc chắn là không phải cho những người phải liều mạng mình vào chuyện xương rơi máu đổ !

Nhật nhìn dòng sông, miệng thầm gọi : « Nước, nước ơi ! cho ta xin một lời khuyên. » Mắt rưng rưng, chàng ngửng lên trời tìm một ánh sao đêm. Không, không có một vì sao nào hiện ra chỉ lối.

Nhật nhắm mắt, cố lôi trong óc mớ chữ nghĩa đã học xem có gì giúp được cho chàng lấy được cái quyết định cam go này. Không, vẫn không. Không có thứ chữ nghĩa nào đặt lên bàn cân, một bên là máu xương hàng trăm hàng ngàn người, một bên là cha chàng, cho dẫu rằng cha chàng có phụ rẫy, bức tử mẹ chàng.
Phải chăng có thầy chàng, thầy sẽ nói gì ? Phải chăng có Trọng Thức, Thức sẽ khuyên gì ?

Nhìn sang bên kia sông, Nhật bỗng thèm bơi qua, rũ hết đi mọi vướng bận mặc cho cán cân nghiêng thế nào thì nghiêng, đổ thế nào thì đổ. Ðầu nóng lên đến bốc khói, Nhật rút từ sau lưng cây kiếm võ sĩ do Mishima tặng, rồi vừa hét vừa chém, tiếng xé gió nghe đến buốt xương lạnh thịt. Chàng chém cho đến độ tay mỏi nhừ, óc rỗng tuếch, mồ hôi đổ ra ướt hết hai lần áo. Ngồi xuống vệ cỏ, Nhật nhắm mắt lại. Quái lạ, sao chàng thấy dòng sông dưới kia bỗng thành một dòng sông máu đỏ lừ lừ, cú lững lờ trôi đi.

« Ðổ một giọt máu là phí một giọt », tiếng Du văng vẳng từ đâu đưa lại. Phải, có phải thế chăng ? Câu trả lời bẩy bật người Nhật dậy.

Phóng ngựa vào trung quân của cơ đội Trung Kính ra quân lệnh xong, Nhật đến dinh Kim Âu nơi Du trú ngụ chứ không về nhà. Khoảng canh hai, những tốp quân cứ mười người một từ ba cửa ô Ông Thánh, Trường Bản và ô Cầu Giấy lẳng lặng chia nhau tản ra ven đô. Họ đi ngược lên bến Tây Long, giữ bến Hàm Như, bến Thúy Ái cho đến bến Thanh Trì.

Sáng ra, trong Kinh im ắng đến ngơ ngác. Hàng dân sợ, không họp chợ, nhà nào nhà nấy đóng chặt cửa ngõ. Người kẻ chợ thấp thỏm, chờ đợi một biến cố đến từ sự quái ác của vần xoay. Trời lại mưa tầm tã, nhìn ra một màu trắng xóa, như sắm sửa tang ma cho những thân phận bị xô đẩy vào vòng rủi may đao kiếm.

Sau giờ cúng cơm, ba hồi trống chín tiếng trong Phủ Chúa chợt thúc lên rộn rã. Ðột nhiên, tiếng reo hò vang dội từ bốn phía nổi lên. Sáu người lính trong đội Thị Nội vây Bằng Vũ lại, trói giật cánh khuỷu, đẩy vào sân Chính phủ. Ở bên ngoài, một đám lính Tam phủ kéo ra, gươm giáo loảng xoảng, vừa đi vừa hò hét, tiếng chân dậm trên đất thình thịnh. Quận Châu ra lệnh đóng chặt cửa Chính-phủ và Nội-phủ, hớt hải gọi lính Thị-kỵ ra tiếp sức với đội Thị Nội, rồi báo Hoàng Tế Lý :

- Lạ thật ! Không còn bóng lính nào của cơ đội Trung Kính cả !

Bụng hoảng sợ, nhưng lại lấy vẻ ung dung, Lý cười bảo:

- Ðừng lo, việc quân ta đã xếp đặt đâu đấy rồi ..

Quận Châu đi ra lắc đầu, mặt tái ngắt. Ðiệu Bằng Vũ bắt quì trước thềm, Lý cao giọng hỏi :

- Mày đánh trống làm hiệu dấy loạn, vậy làm loạn để đạt mục đích gì ?

Bằng Vũ vùng mình đứng dậy, miệng hiên ngang nói :

- Ta không làm loạn. Kẻ làm loạn là bọn lập ra Ấu Chúa để tiếm quyền rồi phá nát cơ nghiệp nhà Chúa !

Lý bình tĩnh :

- Bay có bao nhiêu lính mà làm loạn nổi ?

Bằng Vũ ngửng mặt dằn giọng :

- Hỏi cung ta à ? Ðã vào đây, ta nào sợ gì cái chết ! Nhưng để ta bảo cho mi biết, bọn ta là lính đất «tắm gội » của nhà Chúa, đã đồng tâm với nhau từ hai trấn Thanh-Nghệ cho đến tận Tuyên Quang, Hà Bắc ...

Lý quát :

- Giỏi đấy ! Chư Ðại-thần phụ chính, ta phải chém đầu thằng tặc này, bêu lên làm lệnh cho ba quân để giữ phép nước !

Lúc ấy, Tạ Danh Thùy đứng ra can, trong bụng là tìm cách cứu lấy thân mình nếu vạn nhất không thắng được bọn lính Tam phủ, nhưng ngoài mồm lại nói :

- Giết một đứa như tên đánh trống này thì lấy đâu là đầu mối để bắt bọn đầu đảng ?

Lý chỉ cười nhạt, ra đứng ngoài lan can nhướng mắt xem xét tình hình. Vẫy tay gọi gia nhân, Lý thì thào vào tai, rồi vào thảo tờ khải :

« Lý tôi kính tâu : đám ba quân nổi loạn làm cho Kinh khuyết náo động. Tôi xin vâng lĩnh mệnh Chúa đem quân giết chúng, nếu được, ấy là nhờ oai lĩnh nhà Chúa, nhược bằng không, tôi đành liều chết để xuống dưới âm cung ra mắt Tiên Vương ».

Trao tờ khải cho đám phụ chính, Lý ung dung nói : «... Cứ yên tâm, đâu sẽ vào đấy ! » rồi lên ngựa trẩy về tư dinh của Trịnh Cán với sáu người võ sĩ hộ vệ.

Bấy giờ, Ðặng Tuyên-phi và Diễm Quận công đã chực sẵn chờ Lý. Huệ cười khẩy, nói mát :

-... quan Chánh dường tính toán thế nào để tam quân mở hội mừng Tân Chúa vui vẻ đến như vậy !

Lý lẳng lặng đi trước, Diễm ẵm Cán, Huệ và dăm ba tì nữ đi sau, đến trước cửa dẫn vào đường hầm bí mật được ngụy trang sau một cái tủ chè bằng gỗ mun rộng bằng nửa bức tường. Lý mở tủ, tay vặn ba cái khoen bằng đồng, sai võ sĩ đẩy tủ sang một bên. Cửa hầm rộng vừa một người đi lờ mờ hắt ánh sáng lên. Ðường hầm đó sẽ dẫn vào nghĩa địa cạnh bến Tây Long. Lý tính rằng Ấu Chúa và Ðặng Tuyên-phi có thể lấy thuyền con sang tả ngạn sông Nhị, từ đó tắp lên Kinh Bắc rồi liên lạc với Quận Thạc là Hoàng Phùng Cơ đang chuyển quân về Kinh cứu giá.

Ðợi cho bọn người tùy tùng Ấu Chúa lục tục vào hầm, Lý đóng cửa, đi ra gọi đám võ sĩ cận vệ đã nai nịt gọn ghẽ. Ghé vào tai tên Chưởng đội, Lý dặn dò, nét mặt vẫn bình tĩnh nhưng giọng nói đã có chút căng thẳng. Vẫy tay, hai tên phu lực lưỡng vai khiêng một hòm vàng cong người từng bước đi theo Lý vào căn phòng có cánh cửa bí mật. Ðang làm động tác mở cửa hầm, Lý chợt giật nẩy người, lùi ngược lại, quát : « Ai ? ».

Từ cửa hầm, một người khoan thai bước ra, lưng gài kiếm dài, tay cầm kiếm ngắn, vai đeo khiên. Tế Lý sững sờ rồi thét lên:

- A ! Toàn Nhật, là ra ngươi ...

Nhật nghiêng người thi lễ, miệâng cười buồn buồn :

- Kính chào thượng quan, đội Trung Kính đã chờ Ấu Chúa ở ven sông để xa giá.

Nhật nghiến răng, rành mạch :

- Nhưng thượng quan là rường cột, đâu bỏ đi như thế được!

Lý tái mặt, tay nắm vào đốc kiếm. Nghĩ thế nào, Lý lại bỏ ra, giọng như van vỉ :

- Nhật con, con cầm thanh kiếm Hoàng gia do tổ phụ truyền lại là để giết cha sao ?

Nhật nhìn lên trần, gằn từng tiếng, lạnh lùng :

- Tôi họ Võ, đẻ ra chưa đầy tháng thì mẹ tôi trầm mình trong dòng sông Lam. Sống với ông ngoại đến năm mười hai, ông tôi mất. Từ đó, tôi về làm nghĩa tử của La Sơn Phu tử họ Nguyễn, làm gì có máu mủ với họ Hoàng ?

Toàn Nhật vung tay ném về phía Tế Lý, miệng tiếp :

- Quan Chánh dường nhận lầm người, đây xin trả lại ngài thanh kiếm !
Tế Lý bắt lấy, rút ra khỏi bao, nhìn chằm chặp vào sống kiếm, rồi bật cười não nùng, miệng rên : « Ới oan gia, hỡi oan gia ... »

Sáu người võ sĩ đứng hai hàng quanh Lý ngẩn ra như phỗng, không biết cư xử thế nào, đưa mắt nhìn nhau.
Chợt Lý quát :

- Thôi thì đành ... Giết nó cho ta!

Ba người võ sĩ lừ lừ tiến lên, tay đao sáng quắc, rồi bất ngờ xông vào. Lóe lên ba lằn sáng và một tiếng hét. Toàn Nhật thoắt đã trở về vị trí cũ, thanh kiếm cũng lại bỏ vào bao giắt sau lưng. Một thây người đã mất đầu đổ xuống như thân cây mục, máu phun phì phì. Còn lại hai võ sĩ. Họ thất thần, rồi gập xuống, theo vết chém xẻ đứt bảo giáp từ trên xuống dưới và từ trái sang phải.

Lý kinh hoảng rú lên, rồi quát : « Bắn, bắn nó ... ». Ba người võ sĩ còn sống vừa đưa tay ra sau lấy súng thì Nhật xoay người hất ngược cánh áo. Trên mu bàn tay cả ba võ sĩ, ba đồng chinh cạnh mài sắc ghim vào, máu ứa ra nhỏ giọt xuống sàn đá hoa. Họ thất sắc, đứng như bị thôi miên, ngẩn người ra nhìn.

Nhật lại nhẹ nhàng :

- Ba vị không hại Nhật này, thì không lo Nhật hại ba vị, xin đi đi.

Khi họ lùi ra, Tế Lý cũng liền chân theo, vừa bước vừa lẩm bẩm những gì không ai nghe rõ.

Cắm đầu chạy luồn qua những luống hoa thược dược trong vườn uyển, Lý và ba người võ sĩ trở lại Chính-phủ. Bọn quan Ðại-thần phụ chính ngơ ngác chờ Lý, nhao nhao lên kêu. Quận Châu báo vào là loạn binh đang đục tường để vào phủ. Lý ngầm tính trong bụng là sẽ trì hoãn bằng cách nhậân đòi hỏi đưa Tông lên ngôi Chúa, nhưng bó buộc phải chờ sắc phong của Vua Lê cho thuận danh nghĩa. Hét quản tượng đưa voi ra, Lý nhảy lên, sai thúc chiêng. Bấy giờ, Quận Châu đã mở toang cổng phủ, đám binh Tam phủ kéo nhau vào đầy sân, không có trật tự nào, vừa chen vai thích cánh, vừa la hét vừa chửi tục. Lý tuốt gươm đứng trên lưng voi, từ từ đi ra, quát :

- Bớ tam quân, các người là lính đã mấy đời ơn Vua ơn Chúa, có chi không toại chí thì cứ đề bạt qua chư quan, việc gì mà phải mất phép nước mang tiếng loạn tặc ...

Vốn sợ oai Tế Lý, lại chẳng biết đầu suôi đuôi ngược thế nào, đám binh Tam phủ kéo nhau ngồi bệt xuống đất. Nhân thế, Lý đánh thêm một đòn tâm lý, lập lờ tiếp :

- Nay, ta bảo cho biết, lính tráng là để đi dẹp giặc chứ không phải đi làm giặc. Cơ đội Trung Kính đã vây quanh từ ven đô trở vào, nhưng ta không nỡ nồi da xáo thịt, nên không cho hành động sợ làm máu đổ vô ích ... Vậy chư quân ai về đội ngũ nấy, làm tờ khải lên triều đình, việc gì ta cũng sẽ cất nhắc cho ...

Ðám lính hoang mang, nhìn nhau, rồi đùn Bố-già ra. Vị lão binh này đi đến trước chân voi, quì xuống, nói lớn:

- Bẩm Chánh dường thượng quan, kẻ hèn này là Hài đã suốt đời làm lính, một lòng ân nhà Chúa, và chỉ mong giữ yên xã tắc chứ đâu muốn dấy loạn thành ra bọn tặc phản...Trình quan, cứ như chỉ dụ của Thánh Mẫu là tạm lập Thế tử Tông vào ngôi Chúa, đợi cho Ấu Chúa trưởng thành rồi trả lại quyền bính, thì bọn lính tráng chúng tôi cắn cỏ ngậm vành đội ơn bề trên, và xin tha ngay tội náo động cung khuyết, ai về cơ nấy lập tức. Bằng không thì…

Nói chưa dứt lời, bỗng con voi rống lên, lấy vòi cuốn lấy Bố-già tung bổng lên trời rồi quật xuống. Thì ra có kẻ lấy kích đâm vào bụng voi, nó nổi khùng, phản ứng nhanh khiến quản tượng không kịp kìm lại. Ba quân nhốn nháo đứng cả dậy, ào ào ném thương, ném kích vào mình voi, miệng la hét vang trời át tiếng gào của Lý. Quản tượng bị câu liêm ném lên giật xuống đất và bị ba quân dẵm chết tại chỗ. Con voi lùi ra sau, luống cuống, xoay vòng vòng. Lý kêu : « Bằng lòng, ta bằng lòng ... » nhưng nào có ai nghe nữa. Năm sáu cái câu liêm ném lên cùng một lúc giật Lý ngã từ mình voi xuống đất. Chỉ hai phút sau, Lý đã là một cái xác không hồn, đầu bị đập nát, óc phòi ra trắng hếu.

Có một kẻ lấy đại đao nhè cổ Hoàng Tế Lý chém hai nhát. Cổ không đứt, hắn nhay qua nhay lại lưỡi đao, mồm văng tục. Thấy thế, một kẻ gạt hắn ra, ngồi xổm thọc kiếm vào khớp xương cắt như đồ tể đang sẻ xương lóc thịt trâu bò. Lúc chiếc đầu lìa ra khỏi xác, lại một kẻ khác lấy đầu ngọn giáo cắm vào, rồi đưa lên cao, miệng hò như khi hát đúm.

Ðám lính rầm rập bước theo ngọn giáo cắm đầu Hoàng Tế Lý, vừa đi vừa hò hét như hổ beo trong cát bụi mờ mịt. Riêng có hai kẻ, mặt mũi gân guốc, mắt mầu đỏ đục, chạy ào lại lôi cái xác không đầu vào một góc. Họ cởi giáp, lấy dao thọc vào, miệng hềnh hệch cười, tay móc ra một buồng gan nóng hổi. Một kẻ liếm môi tiếc rẻ nói : «... Chà, phải chi có cút rượu ! »

Trưa hôm lính Tam Phủ kết thúc được thời lạm quyền của Hoàng Tế Lý và Ðặng Thị Huệ, trời bỗng đột nhiên bừng nắng sau một cơn u ám kéo dài cả tháng. Hàng dân kháo nhau rằng đấy là điềm thái bình.
Không hẹn, họ kéo nhau ra chật phố, cứ thấy bóng lính là thi nhau hò reo. Người thổi cơm, kẻ nắm xôi, mang ra giúi vào tay lính. Họ đặt bàn thờ, cắm hương, hăm hở đợi xem Tân Chúa. Không khí giải phóng khỏi những tù túng bốc những giấc mơ đổi đời lên chín tầng mây trắng.

Bằng Vũ vào Vương phủ tìm Trịnh Tông, quì xuống :

- Xin Thế tử ra mắt hàng dân. Trăm họ đang chờ đợi, không phụ lòng họ được.

Lính Tam phủ chia nhau đội Trịnh Tông trên một cái mâm đồng, vừa đi vừa reo hò, cười nói vang vang, hô to nào là « Cách Mạng », nào là « Nông chế », nào là « Ðất trả người cày ». Bàn dân dẫu không hiểu gì cũng vui miệng hô theo. Kinh đô nhộn nhịp hẳn lên, chăng đèn kết hoa và đốt pháo như ngày Tết.

Ngay đêm hôm đó, dân hàng phố mở hội, phường nào cũng chăng đèn, trống cái trống con đánh lên rộn rã. Lính Tam phủ được vồ vập săn đón và nhìn với con mắt đầy ân nghĩa. Mới chỉ ngày trước, lính lạnh lùng, cứ theo lệnh trên như máy mà thi hành, dẫu oán than chi thì cũng mặc. Dân sợ họ, lảng tránh, khép nép, đi ngang thường cúi đầu không dám nhìn. Bây giờ, trái ngược hẳn lại. Người dân mong đợi thay đổi nhìn những người lính vần xoay thế cục một cách hoàn toàn khác hẳn. Vừa được giải tỏa tất cả những uẩn ức thầm lặng trong mười sáu năm trời dưới quyền bính của Chúa Trịnh Sâm, họ ùa ra tỏ niềm hân hoan. A, thì ra lính cũng là bàn dân đấy chứ ! Dân và lính, khác gì nhau ? Trên khắp đường phố, họ cười cười nói nói, chuyện nổ như pháo, ôm vai sát cánh nhau như đi trẩy hội.

Bỏ đằng sau tiếng chiêng tiếng trống, Nhật vào sân Vương phủ. Lính đã lấy xác Lý mang đi bêu đầu ở trước Tây Long cung. Còn lại cái bó chiếu nằm chơ vơ trên thềm Chính-phủ, xác của lão Hài, kẻ lính gọi là Bố-già, mà người ta quên mất trong những giây phút hồ hởi. Ðêm đầu tháng chạp đen kìn kịt. Lính bỏ hết những vọng canh xung quanh dinh thự, đang say sưa túm tụm với nhau. Nhật lẳng lặng ôm xác lão Hài bỏ ngang lên lưng ngựa, rồi chậm rãi dắt đi trên con đường ra đê Yên Phụ. Ðến nghĩa địa gần hạt Nghi Xuân, Nhật lại ôm bó chiếu, đi một quãng tìm chỗ. Nhật rút thuổng ra đào. Ðào hì hục.

Mở bó chiếu ra, mặt lão Hài nhợt nhạt, miệng còn đọng một vệt máu đen. Dưới ánh nến, Nhật lau mặt cho lão, nhớ lại ngày lão đến gặp Nhật, lòng ôm mối lo rằng lính Tam phủ phải đánh giết lẫn nhau. Nhật nhặt nhạnh được dăm cây hương cháy dở trên những ngôi mộ xung quanh. Lấp xong đất, Nhật đốt những nén hương thừa đó, chua xót nhớ mình đã đưa được đội Trung Kính ra ven đô để tránh đi mọi đụng độ giữa lính với lính. Chàng chắp tay cúi đầu, khấn nhỏ : « Tránh được đổ máu rồi, Bố-già ạ ! ». Hình ảnh con voi cuốn lấy lão tung lên không rồi quật xuống lại lởn vởn hiện ra. Tiếng voi lại văng vẳng rống lên đâu đây, rồi tiếng chiêng trống, tiếng Hoàng Tế Lý bị át trong tiếng reo hò quát tháo ào lên như nước vỡ bờ.

Ðấy mệnh người nó thế, nho nhoi, chết đến thật tình cờ, chết vô lý vô nghĩa.

Giá mà không có ngọn kích nào đó phóng vào bụng voi, thì nào lão Hài có vong mạng. Và như thế biết đâu, biết đâu Tế Lý chẳng đã thuyết phục được đám lính Tam phủ cơ nào về đội ấy. Rồi quân Nhưỡng, quân Thạc kéo về. Chắc gì lính Tam phủ bảo vệ được ngôi Chúa cho Trịnh Tông ? Máu đổ. Lại máu đổ ! Cho Tông hay Cán, Cán hay Lý, Lý hay Bằng Vũ, Bật Trực thì có khác gì ? Những kẻ phải đổ máu ra có lẽ thực tình không hiểu vì sao. Như bị trì kéo vào cái cộng nghiệp oan trái, họ không hiểu nhưng vẫn làm. Làm điên cuồng. Làm hối hả. Cứ hệt như khi lên đồng, lú lẫn quay cuồng trong điệu kèn tiếng trống dẫn vào một cõi u mê.

Nhật bỗng ngậm ngùi, rưng rưng nước mắt, nghe loáng thoáng « ... để giết cha sao ? ». Chàng ngẩn ngơ, không hiểu rõ động cơ nào đã khiến chàng chặn đường đào tẩu của Tế Lý, buộc cha chàng phải gánh trách nhiệm trực diện đối đầu với đám kiêu binh. Phải chăng trong tiềm thức đó là cách chàng bắt cha trả giá cho sự trốn tránh cái trách nhiệm đối với cái bào thai bị bỏ rơi ngay trong bụng mẹ và người đàn bà đã trầm mình vào dòng sông Lam lạnh cóngï để rửa nhục ? Toàn Nhật cắn răng, tai lại văng vẳng tiếng thét «...Giết nó cho ta ».

Nhưng sao vẫn có điều gì gần như một niềm ân hận, lênh đênh tựa thủy triều, dâng lên, rồi ùa đến dìm dắm lòng chàng vào một nỗi cô đơn khủng khiếp.

Nhật ôm nấm mộ mới đắp ngủ thiếp cho đến lúc gà gáy sáng.

Ngày hôm sau, Tông nhận được sắc phong Chúa và vời ngay Nguyễn Khản, thầy dạy học mình đang bị giam ở nhà Quận Châu, về làm Tể Tướng. Dương Khuông, em của Dương Ngọc Hoan và là cậu của Tông, nhậm chức Quyền Phủ Sư. Ðám thủ lãnh lính Tam phủ không mấy ưng lòng, trách Khản xưa là Trấn Thủ Nghệ An đã hà khắc với nhân dân đất « tắm gội ». Họ nói ra miệng : «... Hắn mà thành Tể Tướng thì dân cả nước sẽ bị cướp bóc đến manh quần cũng sẽ chẳng còn ... ». Tông sợ, vội đình ngay việc bổ nhiệm Khản, lúng túng không biết tin vào ai, xin ý của Quốc cửu Viêm Quận công.

Viêm rỉ tai, Tông hiểu ra liền xuống chỉ phong cho Bằng Vũ làm Suy Trung Dực, Vận công thần, tước Hầu. Bọn Trần Nguyên Nhưng, Gia Thọ, Bùi Bật Trực làm Tuyên-lực công thần và theo thứ tự đều lãnh trọng chức. Ðám người nhóm họp ở Khán Sơn được ghi tên vào sổ Trung Nghĩa, cấp những đạo sắc bỏ trống chỗ đề tên người để họ bán cho kẻ khác lấy tiền. Ngoài ra, toàn bộ lính Tam phủ tham gia ở trong hay ngoài Kinh đều được thăng chức một cấp và ban tiền thưởng khắp lượt.

Về phần Toàn Nhật, Tông vời đến Vương phủ để thưởng công nhưng Nhật không nhận gì, xin được trở về trại Bùi Phong. Tông nhất định không nghe, một mực đòi giữ Nhật, lại hỏi :

- Theo ý tướng quân, liệu Phu tử có chịu giúp Tông này không ?

Nhắc lại bữa ăn buổi tối trước vụ án năm Canh Tý đã là cái cớ để Hoàng Tế Lý bắt Thức và o ép Phu tử trong việc phế Tông lập Cán, Tông làm ra vẻ ngậm ngùi, tiếp :

- Nếu Trọng Thức chịu về Kinh để cùng với Tông này hợp sức cùng nhau xây lại đời Nghiêu đời Thuấn thì
hay biết mấy. Tướng quân nghĩ thế nào ?

Nhật cười thầm, nhưng chỉ cúi đầu cảm tạ, và cho biết là chẳng ai biết Thức đã trôi giạt về đâu từ ngày trốn khỏi Kinh dăm tháng trước. Tông đưa tay lên trời, điệu bộ như người đóng kịch, thở dài :

- Ô hô, nhân tài như sao buổi sớm ! Cầu trời cho Tông này được những bậc chính nhân phù trợ !

Toàn Nhật khải Chúa về việc Ðặng thị Mai bị Huệ bắt và chỉ xin được phép mang nàng ra khỏi chốn tù ngục. Tông biết rõ chuyện Huệ ép Mai lấy Thái tử Lê duy Cẩn cũng như ý đồ Mai định trốn theoThức, nói dăm câu phủ dụ nhạt nhẽo và ban cho ít tiền thưởng để lấy lòng. Ra khỏi Vương phủ, Toàn Nhật vào thẳng dinh Trịnh Cán tìm Mai. Gia nhân trong dinh lấy khóa mở cái xiềng cửa một căn phòng nằm tuốt phía sau. Mai nằm trên một chiếc trõng tre, mình đắp chiếc chăn đơn. Nàng không hề hay biết gì về những sự cố xảy ra bên ngoài. Thấy Nhật vào, Mai ứa nước mắt.

Những ngày tù ngục vừa qua là đoạn đời cực nhọc nhất của Mai. Sợ bị đánh thuốc để phá cái thai trong bụng, Mai không dám ăn gì, chỉ uống nước cầm chừng gần ba tháng. Sau, có một con mèo đen không biết thế nào mà lọt được vào phòng. Thức ăn bưng vào, Mai để mèo thử trước, một ngày sau không thấy gì bất thường mới dám ăn. Ăn cầm chừng. Lúc nào cũng phấp phỏng. Nhưng vẫn phải ăn để nuôi cái bào thai mỗi lúc một lớn, cựa quậy, chân đạp, tay quào. Mai vuốt ve cái bụng mình, miệng nựng : « Con ơi, cố đi, rồi có lúc thái lai... », nhắm mắt mơ tới ngày phá cũi xổ lồng. Trong những giấc mơ ấy, người đứng phía bên kia chờ Mai là Thức. Chàng mỉm cười, hai tay giơ lên, nói lớn : «Trời có mắt, trời có mắt ...».

Người Mai gầy tọp đến một nửa, mắt sâu hoắm, ngực lép kẹp. Sợ Mai chết, thị nữ đến báo Ðặng thị Huệ. Huệ vào, tay để lên trán Mai, nói giọng như khóc : «Chị đâu có muốn em thế này, sao không chịu làm hoàng hậu mà lại làm con ma không chồng ? Ðã bắt được thằng Thức rồi, hiện bỏ ngục. Nếu em nhất định không chịu lấy Thái tử Cẩn, chắc Tế Lý giết nó thôi. Còn cái thai này, cứ ưng lòng đi, đẻ ra chị sẽ nhận làm con nuôi. Như vậy, thế là cứu cả con lẫn thằng Thức, cho em thêm ít lâu để em suy nghĩ ...».

Mai nghe Thức bị bắt, người điếng đi, lưỡi cứng ra, sợ quá cứ vâng vâng dạ dạ. Khi Huệ đi rồi, Mai ngẫm nghĩ : bất cứ giá nào cũng phải cứu Thức. Vả lại, cái thai mới năm tháng, vậy là còn bốn tháng có thể trì hoãn được. Nàng xin gặp Huệ, gập đầu thưa : «... Từ nay em nghe lời chị. Chỉ xin rằng được gặp Thức một lần, trao đứa con lại cho bố nó, rồi chị đặt đâu em ngồi đó ...». Từ dạo đó, mặc dầu vẫn bị quản thúc, nàng được phép ra khỏi phòng, lẩn quẩn ở Hậu cung nhưng lúc nào cũng có hai thị nữ kèm cặp.

Một trong hai thị nữ tên là Soan, vốn là vợ một cai cơ trong đội Thị-kỵ. Soan thấy cái dây chuyền có đính một viên bích ngọc của Mai cứ trầm trồ, mê mẩn ngắm. Mai thấy thế, nhờ Soan hỏi thăm tin Trọng Thức, nếu có gì đích xác thì bồi tặng sợi dây chuyền. Nửa tháng sau, Soan bảo : «... có bắt được đâu !». Trong lúc ấy, viện Nội Mật tỏa người ra khắp nơi truy nã Thức ngặt nghẽo. Mai mừng quá, vào phòng, nằm khóc rồi lại vuốt bụng mình, nói thầm : «... con ơi, bố con vẫn tự do ». Ðêm hôm ấy Mai mơ thấy một con chim phượng trắng toát tít cao trên mây, cánh chơi vơi bay lên đáp xuống, rồi sà vào nằm ủ lấy thân thể mình.
ý tìm đường thoát thân nhen nhúm như lửa bén vào cây khô trong lòng Mai. Nàng hứa với Soan là tặng hết tài sản nếu Soan giúp nàng. Tháng sau, Soan xin về quê giỗ bố, rồi lén lút quay lại, dẫn Mai ra phía đông vườn Uyển, định trốn ra Cầu Giấy, sau đó lẻn sang bến Thúy Ái tìm thuyền xuôi về Nam Ðịnh. Không may, lính tráng trong đội Hậu Dũng bắt lại cả hai, mang nộp Tế Lý.

Huệ giận quá, bắt vợ chồng Soan đem chém ngay, không hỏi tội trạng gì thêm. Nàng gọi Mai ra, nhìn chằm chặp :

- Mày đối với tao tệ đến thế à ?

Mai chưa dám nói gì thì Huệ bất ngờ quào vào mặt. Móng tay dài như vuốt chim rạch vào má Mai hai vết chạy từ cuối thái dương đến cằm, máu ứa ra nhỏ giọt. Huệ rít lên :

- Ðồ khốn nạn. Mặt mày sẹo thế này, cho mày nhớ đời. Nhan sắc à ? Ðể làm gì ? Cái nhan sắc ấy mà không ra tiền ra quyền thì có hơn gì xấu xí !

Từ đó Mai lại bị bỏ vào phòng, cửa lúc nào cũng xiềng lại. Mai nghiêng người cho Nhật nhìn thấy vết sẹo trên má mình, giọng run rẩy :

- Nhật có biết anh Thức ở đâu không ?

Nhật lắc đầu, kể cho Mai chuyện cấm binh đã lật Lý và Huệ, nhìn vết sẹo rồi hỏi, giọng sắc đanh :

- Chị có định quào lại Huệ thì Nhật xin đưa chị đi ngay !

Mai cười buồn, lắc đầu :

- Thôi, chẳng để làm gì ! Thôi đi, Nhật ạ !

Nhật xếp đặt đưa Mai về quê nội ở Phù Ðổng, hẹn sẽ tìm Thức và báo tin. Mai lúc đó gày gò, bụng chửa vượt mặt, tay xanh xao nắm lấy Nhật, nước mắt giàn giụa. Linh tính thấy một điều gì, nàng bật miệng :

- ... chắc còn lâu, lâu lắm mới lại thấy nhau.

Thế quyền nào với bàn dân cũng đều có một thời gian trăng mật. Hệt như vợ chồng mới cưới, hai đằng khám phá lẫn nhau, thử thách giằng co nhau. Ðến cái mực biết nhau rồi thì thôi, tình nghĩa lại nhạt phèo, quay lưng vào với nhau mà ngủ. Cochân lại giả ngủ say, ngáy cho đều là bàn dân. Còn thế quyền, lúc nào cũng chập chờn, chỉ lo không biết lúc nào ngã xuống chân giường. Vì vậy, thế quyền nằm xoạc cẳng ra, tay níu lấy thành giường, và cất dao kéo dưới gối.

Những giấc ngủ như thế bắt đầu ngay khi bọn chỉ huy lính Tam phủ sai đi tìm đám thủ hạ của Lý và Huệ đã lừa bắt những kẻ theo Trịnh Tông trong vụ án Canh Tý mang chém hoặc bỏ ngục. Nếu thời trước người ta còn mang ra định án rồi khu xử theo tội trạng thì ngày nay, lính Tam phủ mau mắn hơn, khỏi bỏ cái công mang ra tra xét cho mệt. Ðối với bọn ác ôn, họ mang ra đường kể tội, rồi để cả giỏ đá sẵn đấy, bàn dân ai thích cứ lấy mà ném cho đến chết. Ðám tội nhẹ hơn, họ để bàn dân đánh đập. Nếu có chút tiền đưa ra, họ thôi. Nếu không có, thì lại đánh đập nữa. Ðánh cho đến khi lòi tiền ra. Không tiền, kẻ bị đánh trở thành ác ôn. Và lại để bàn dân vui vẻ chơi trò ném đá, họ rêu rao : «... chúng là kẻ thù của nhân dân, phải trừng trị xứng đáng ». Triều đình không dám ho he. Nhà Chúa cũng vì nể, nếu có trách thì chỉ dám nói bóng nói gió. Lính Tam phủ đi ngoài chợ, quan lớn quan nhỏ, công hầu khanh tướng gặp họ thường phải né tránh để khỏi bị họ làm nhục trước mắt bàn dân.

Dân Kinh Kỳ gọi lính Tam phủ là Kiêu binh.

Bọn Bằng Vũ, Bật Trực, Nguyên Nhưng và Gia Thọ là những công thần trong thời đại mới. Họ hồ hởi lao mình vào việc triều chính, khiêm nhường tự xưng là đầy tớ nhân dân, đưa ra phương án dẹp Tây Sơn và Chúa Nguyễn ở Ðàng Trong hầu thu đấùt nước về một mối. Bàn dân nhận được lệnh bắt lính lo lắm, nhưng chẳng biết làm gì hơn là tiếu lâm với nhau, nói lái hai chữ chinh chiến ra thành chuyên chế.

Quên khuấy mất việc hứa miễn sưu miễn thuế ba năm cho bàn dân, những kẻ nay cầm quyền bính trong bụng chỉ lo đối phó với bọn sĩ phu cả trong triều lẫn ngoài tam cung ngũ phủ. Ðám quan mới nghĩ cách phân biệt họ với đám quan cũ bằng cách cắt bỏ hai cáng chuồn và đính trên mũ của mình hình một ngôi sao mầu đen. Bàn dân lại có dịp đùa đó là những vì sao sáng giữa ban ngày.

Theo kế của Bùi Bật Trực, lính gốc Thanh-Nghệ đóng ở mọi trấn đều được đặt vào những vị trí quan yếu, giữ thế liên hoàn với lực lượng trấn thủ Thăng Long. Trực hội họp với Bằng Vũ, Nguyên Nhưng và Gia Thọ, hàng ngày theo dõi việc triều đình, thấy gì không vừa lòng là họ hoạnh hoẹ và can thiệp ngay. Bằng Vũ tiếm chức chỉ huy đạo quân Thị Nội, áp đảo cả Chúa lẫn đại thần và tự mình tổ chức lại Nội Mật viện mà không thèm hỏi ý triều đình. Về phần Gia Thọ, hắn cậy thế kiêu binh xen vào việc xét xử cả việc hình lẫn việc hộ, cứ tư riêng với ai là kẻ đó thắng kiện, thay trắng đổi đen tùy ý.

Bật Trực đã thảo sẵn ra hai phương án, gọi là Nông chế và Chiến sách . Ðại để, những phương án này chỉ sao chép lại cổ thư của Thương Ưởng và Hàn Phi, cho rằng cái gốc của xã hội là sức mạnh. Sức mạnh đó chỉ có thể có nếu nông nghiệp phát triển để cho dân giàu; và dân giàu thì mới tạo khả năng xây dựng một lực lượng võ bị hùng hậu. Trực thích nói chữ, đắc chí lặp đi lặp lại lời Hàn Phi : « Lực đa tắc nhân triều, lực quả tắc triều ư nhân; cố minh quân vụ lực », có nghĩa là sức mình mạnh thì người triều phục mình, sức mình yếu thì mình triều phục người, nên bực minh quân cần lo về sức mạnh.

Ðể cai trị, Trực bắt chước Thương Ưởng, đề cao hình pháp, đặt ra năm nhà thành một ngũ, mười thì thành một thập, phải coi chừng lẫn nhau, thấy phạm luật mà không tố cáo thị bị tội chém. Nhưng thế nào là phạm luật ? Ngoài trộm cắp giết người cướp của, Trực cho rằng bất cứ gì, kể cả điều tiếng, biện bác đi ngược lại Nông chế, có tác hại đến quyền lợi và sự nghiệp của con nhà nông là phạm luật. Với một chủ trương chung chung như vậy, Gia Thọ độc quyền diễn dịch khiến cho phép nước trở thành hoàn toàn tùy tiện. Những việc cụ thể ai muốn hiểu thế nào cũng biện minh được. Tệ hơn, muốn bắt tội ai cũng có cách giải thích cho hợp tình hợp lý được. Vì vậy, hình pháp trở thành quốc nạn, và tha hồ bọn nắm quyền nắm thế thao túng để trục lợi, chủ yếu là chiếm nhà chiếm đất làm sở hữu riêng tư.

Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là bệnh lưỡi rụt, một căn bệnh hay lây đến nay vẫn chưa có thuốc chữa. Trong dân gian, không khí nghi kỵ lẫn nhau trở thành một thứ văn hóa mới. Không ai dám nói gì chân thật với ai, thậm chí kể cả với anh em, bố mẹ, con cái. Chỉ ít lâu sau, căn bệnh đó lại biến chứng thành ra tật léo lưỡi. Bàn dân mở mồm thường là nói nước đôi nước ba, không ai hiểu được ai. Sau cái tật này, dân Kinh Kỳ mắc thói vừa thì thào vừa nhìn quanh và nhất là nhìn ra sau lưng. Thói này được Hải Thượng Lãn Ông gọi là hội chứng lạnh gáy, chữa khó nhưng có thể thuyên giảm bằng cách uống rượu đế. Xã hội thành một sân khấu khổng lồ, toàn dân rủ nhau diễn kịch, lặp lại những khẩu hiệu kiểu «Sĩ, Phú, Ðịa, Hào. Ðào tận gốc, trốc tận rễ » hệt những con vẹt tự động. Hai quốc sách là Nông chế và Chiến sách trở thành hai pho kinh thiêng liêng đến độ có những người mang thờ trên bàn thờ tổ như một cách thủ thân và tiến thân dưới chế độ Kiêu Binh.

Bằng Vũ noi gương Lý Tư thời Tần, ra lệnh gom hết sách của Bách Gia Chư Tử, chỉ để dân gian giữ sách về nghề trồng trọt, chăn nuôi, sách thuốc và sách tử vi, bói toán. Thời kiêu binh, lên đồng trở thành phổ biến. Chỉ có người ngồi đồng dựa vào thần thánh là có dịp muốn nói gì cũng được. Tuy thế, phần lớn vẫn sợ, và có nói thì họ chỉ ca thán về những chuyện oan ức và đói khổ. Thần thánh cũng ngại không dám bình phẩm hai quốc sách. Dĩ nhiên, khi đồng xuất để trở lại làm người phàm, không ai còn nhớ gì nữa.

Dân Kinh Kỳ đã hết hy vọng. Như mọi sinh vật, họ đã bắt đầu thích ứng với cái xã hội mới và tùng phục một nền văn hóa mới. Ðúng lúc đó thì xẩy ra một sự cố nhỏ nhưng cũng đủ khiến cho con người lại mất đi cái quán tính cam chịu số phận. Ở chợ Hôm, đứa con trai đầu lòng một bà bán hoa đã lên sáu mà chưa biết nói. Nó khá bụ bẫm, trắng trẻo, thường cứ giương mắt đen lay láy lên chào mời khách, miệng cười, tay chỉ vào những bông cẩm chướng kẹp trong những tầu lá chuối xanh biếc mầu phí thủy. Sáng hôm rằm, một tên kiêu binh ghé vào chợ, túm lấy vài bó hoa, bỏ đi không thèm nói một lời. Nó há miệng ú ớ, rồi bật thành tiếng :

- Ðồ ăn cướp !

Tên kiêu binh quay phắt lại, hùng hổ :

- A, ranh con. Thế thì tao lấy cả gánh chứ chẳng phải vài bó.

Thằng bé bỗng đảo người đứng dậy, vươn mình cao lên, rồi cất tiếng hát, giọng lanh lảnh :

- Ới ai ơi, nông chế là nên chống

Chiến sách là ách cổ dân.

Người hàng chợ xôn xao, có kẻ kêu lên là Ðức Thánh đã về. Tên kiêu binh ném mấy bó hoa xuống đất, ba chân bốn cẳng chạy về báo viện Nội Mật. Hàng dân ở đâu bu tới, bày ra hương án, trong khi thằng bé đứng lên trên một chiếc sập, mồm thao thao bất tuyệt những bài cổ thi.
Khi Bằng Vũ đích thân tới nơi, thằng bé đang đọc :

- Vị cải thử độ ( Vẫn chưa đổi hướng ư )

Xa ký phúc nhi mã diên hề(Xe kia đã đổ, ngựa kia đã ngã)

Kiển độc hoài thử dị lộ (Sao cứ bám con đường quaí dị ấy)

Lặc kỳ ký nhi cánh giá hề (Hãy thắng ngựa ký và đổi yên)

Tạo phủ vị ngã tháo chi (Rồi nhờ Tạo phủ cầm cương )

Mặt xanh nhợt, Bằng Vũ mang máng nhớ bài thơ, quát :

- Mi là thánh hay quỉ ? Bài Tư mỹ nhân của Khuất Nguyên làm sao đổi được đời này ! Thánh hay quỉ cũng phải bước xuống ngay !

Thằng bé lại vươn cho cao thêm một trượng, cười ha hả :

- Nông chế là nên chống

Chiến sách là ách cổ dân

Gầm lên như phát điên, Vũ hét :

- Giết nó, giết ngay cho ta...

Ðám kiêu binh nhìn thủ lãnh, ngần ngừ, vẻ sợ sệt không che dấu ai được. Móc tay ném xuống đất thỏi vàng ròng, Vũ cười nhạt :

- Thưởng cho.

Một tên đen đủi, lùn tịt, mồm chề ra những chiếc răng vẩu bám vôi trầu đỏ loét, xông vội ra lao chiếc kích vào ngực thằng bé.

Hàng dân ôm mặt rú lên.

Lạ thay, chiếc kích cắm phập vào chiếc cột gỗ chống chợ, và chỉ có một con vàng anh bay vù lên. Nó đảo một vòng quanh chợ rồi chắp cánh về một chốn tít mù, tiếng kêu lảnh lót vang đến tận tầng mây cao nhất trên đồng bằng sông Nhị.

Cho đến tận bây giờ, mầu vàng của cánh chim xưa thỉnh thoảng lại óng ánh sáng lên ở phía đông thành Thăng Long. Những lúc đó, dẫu chẳng muốn, không mấy ai lại không nghe tiếng chim kêu dục giã.

Chương 6
Bụi Kinh Kỳ

Dưới thời Diễn Ðô Vương Trịnh Tông, Thăng Long trở thành một hòn cù lao trong dòng quyền lực. Ở hầu hết mọi trấn, từ Kinh Bắc trở lên Cao Bằng, Tuyên Quang hay xuống đến Sơn Nam, Hải Dương, các quan Hiệp Trấn đều án binh bất động. Chỉ riêng Thanh - Nghệ, bọn kiêu binh dẫu có ảnh hưởng nhiều nhưng vẫn gặp sự chống đối ngầm của viên Tham Hiệp họ Lê, tên Quốc Trình. Vì thế, “ Chiến sách ” của Bùi Bật Trực nhằm tiến vào Ðàng Trong bị chựng lại ở mọi nơi. Lệ cứ mỗi ba đinh bắt một lính khiến một số trấn như Hải Dương và Sơn Tây gây dựng được binh lực khá mạnh, nhưng hai đại tướng Ðinh Tích Nhưỡng và Hoàng Phùng Cơ cứ mũ ni che tai, thậm chí thoái thái không về Kinh ra mắt Trịnh Tông. Áp lực của bọn Bằng Vũ, Bật Trực trên triều đình kết cục cô lập hóa chính quyền trung ương, vô hình chung tạo ra sức đề kháng ở mọi nơi địa phương, và dần dà đưa Ðàng Ngoài vào thế sứ quân. Trực lo lắng, bắt giết Lê Quốc Trình, rồi ép Tông ra sắc lệnh cứ năm đinh mới bắt một lính như lệ cũ. Lý do đưa ra, Trực tâu, là có thực mới vực được đạo. Vì thế, triều đình phải tập trung sức dân để tiến hành “ Nông chế ” trước.

“ Nông chế ” là người định. Lũ lụt do trời. Ngay quí đầu năm Quí Mão, gió bão liên miên, nước sông Nhị lên cao tràn vào, vùng ven đô ngập đến bụng. Mặt khác, đất đai đều hóa ra công điền nên dân cày biến thành những người làm công, cứ theo công mà trả bằng lúa. Thói thường, cha chung không ai khóc. Vả lại, của chung là của tất cả mọi người, nên ai nấy đều tìm cách tranh phần mình. Dĩ nhiên, phần lớn nhất đều vào tay những kẻ có quyền phân, quyền quản. Dân làm vè ta thán: Gì cũng quản, gì cũng phân. Ðến phân cũng quản thì dân còn gì. Cũng vì phân chia bất công khiến hàng dân làm vờ vịt cho có, hoặc lãng công phản đối. Cả một làng ở miệt Gia Lâm nhất định không một ai chịu ra đồng đi cấy. Họ bị bỏ đói, kết cuộc chết quá nửa làng. Tiếng về Kinh làm hàng dân xôn xao, chẳng phải vì sắp Tết, mà là vì viễn tượng thiếu đói ngay ở Kinh Kỳ đã chập chờ đe dọa.

Lời đồn rằng Ðinh tích Nhưỡng sẽ kéo quân từ Hải Dương về “ cứu giá ” khiến giá gạo tăng lên vùn vụt. Bằng Vũ ra lệnh chém bất cứ ai dị nghị lung lạc lòng người, rồi mang yết chiếu an dân ở năm cửa ô. Vũ sai người mời Toàn Nhật vào dinh.

Thời gian từ ngày Kiêu binh chấp chính, Nhật vẫn trú ở dinh Khương tả hầu. Gần như mất hết sinh thú, suốt ngày chàng ngồi dựa vào gốc cây sung cạnh bờ ao, tay cầm be rượu, uống một mình, say lại lăn ra ngủ. Bộ râu quai nón không cắt nay xồm xoàm đâm xỉa ra như lông nhím, che phần nào nét xanh xao, nhưng chẳng giấu được cặp mắt chàng nay lõm sâu vào, quầng thâm lại, và nhìn thì cứ đâu đâu, lạc lõng, vô hồn. Bằng Vũ bước xuống đón Nhật, ngạc nhiên :

- Võ huynh, sao mà tiều tụy thế ...

- ...

Kéo Nhật ngồi xuống bên mình, Vũ hỏi han nhưng Nhật chỉ trả lời hờ hững. Vũ giả lả :

- Triệt hạ được Hoàng Tế Lý, công đầu là huynh, vậy mà Chúa không phong, không thưởng gì. Ðể ta vào
Chính phủ lấy bằng được cái Tuyên lực công thân, tước Uy vũ hầu, cho Võ huynh nhé ?

Toàn Nhật lắc đầu. Vũ lại gặng. Nhật nhìn lên trần, cười nhạt rồi buông thõng :

- Giết cha mà được phong hầu thì còn trời đất gì nữa !

Lắc đầu quầy quậy, Vũ lại nói như biện minh hộ Nhật. Nhìn lơ đãng ra vườn, Nhật bất ngờ hỏi :

- Nhà quan Vận công thần có rượu ngon không ?

Vũ vẫy tay gọi người nhà. Uống một lúc sạch be rượu, Nhật mới thong thả :

- Bằng huynh gọi đệ đến có việc gì ?

- Kinh Kỳ có thể lâm nguy. Có tin chắc chắn là Nhưỡng ở Hải Dương gom quân tập trận. Anh em nhờ Võ huynh chống giặc cho.

Buồn bã, Nhật nói :

- Cấm binh nay trong tay huynh. Ở dinh Khương tả hầu, đệ còn hai chục tay võ, tình nguyện ở lại với đệ để tập võ. Ngay chuyện tập ấy, đệ cũng chẳng còn quan tâm. Vậy làm sao chống được ai ?

Vũ cắt ngang :

- Ðám Bật Trực, Gia Thọ không tin là Nguyên Nhưng có đủ khả năng. Họ muốn giao cho Võ huynh bốn đội
Tiền - Hậu - Hùng - Dũng. Kế hoạch là đem đánh thẳng vào dinh ổ Nhưỡng trước khi hắn gom được quân
về.

Tay vê râu, miệng nhếch lên, Nhật đủng đỉnh :

- Nhưỡng nắm thủy binh, dinh trại dựa vào sát mé biển. Cấm binh có biết đi thuyền đâu mà đánh, mà đuổi. Vây bất ngờ có thể thắng được, nhưng lại không bắt được, nó quay về vây lại, lấy mười đánh một thì chống đỡ thế nào?

Vũ lặng người đi, tay gõ nhẹ xuống mặt bàn. Một lát sau, Vũ hỏi :

- Thôi. Liệu cấm binh ở thế thủ có giữ được Kinh không?

- Vấn đề ở chỗ giữ được bao lâu. Bị vây, lính đói, dân đói thì sao ?

- Nếu giữ được một tháng, lính Thanh - Nghệ sẽ về cứu. Võ huynh giúp phòng thủ Kinh Kỳ nhé ...

Toàn Nhật ngửa mặt cười, giọng bi thiết :

- Sức của Nguyên Nhưng có thể làm việc ấy được rồi. Về phần đệ, đã giết rồi chưa kịp để tang cha mà lại phải nhận quan tước cầm quân, thì mặt mũi nào nhìn ai nữa... Nhật này chỉ xin huynh cho đệ rời Kinh về
Bùi Phong phụng dưỡng thầy mà thôi.

Vũ đáp, miệng nói như có gang, nhưng mắt lại nhìn xuống đất :

- Ừ, để xem đã nhé.

Hiểu rằng đó là lời từ chối, Nhật đứng dậy kiếu :

- Ðệ phải về, chiều nay nhà có khách.

Từ trước Tết năm Ất Sửu, Côn quận công Trịnh Bồng xuống Hải Dương, sau đó giạt tới Kiến An, xuống tóc vào xin thụ giới với một vị cao tăng không ai rõ tên tuổi. Năm sau, Chúa Trịnh Tông phái sứ giả đi tìm, khẩn khoản mời Bồng về giúp mình, viết : “ Nếu không thì chẳng biết cơ nghiệp họ Trịnh đi về đâu ”.

Bồng vốn là người nết na đạo hạnh. Cha Bồng là anh Trịnh Sâm; và dẫu cha bị chú ruột mình hại, Bồng cũng chẳng oán gì Sâm. Khi Cán ốm đau tưởng là không qua, chính Sâm có ý lập Bồng lên nhiếp chính, nhất định không đoái hoài gì đến Tông. Nhưng Bồâng vốn ưa thanh tịnh, lẩn đi, có dịp lại đến chơi với Phu tử, luận bàn về vấn đề tổng hợp Nho-Phật.

Lần lữa, Bồng nhờ sứ giả về nói với Tông rằng đã dâng mình cửa Thiền, không muốn dính gì đến bụi nhân gian. Tông lại phái sứ giả lên chùa, tha thiết cầu khẩn. Về đến Kinh, Bồng xin gặp Tông và nói ngay :

- Khải Chúa, tôi xin phép thầy tôi được đi hai năm đến hầu Chúa, sau đó phải về chùa.

Tông mừng, nắm hai bàn tay Bồng bảo :

- ... có huynh có đệ thì mới giữ được nghiệp nhà.

Từ đó, Bồng dẫu tham sự vào việc triều đình, nhưng cứ chân trong chân ngoài, về đến nhà là tụng kinh gõ mõ. Chiều hôm Nhật gặp Bằng Vũ, Bồng lững thững đến dinh Khương Tả hầu, nơi ngày trước Phu tử cư ngụ, để hỏi thăm tin tức. Cổng mở, Toàn Nhật ra mời vào.

Xưa kia, hai người ít trao đổi khi có dịp gặp nhau. Thoáng nhìn Nhật, Bồng bật miệng :

- Cái sát khí trong đôi mắt của tướng quân nặng quá ! Phải giải nó đi.

Nhật lửng lơ đáp :

- Tôi giải nó mỗi ngày bằng cách chém đúng trăm lần ba đường gươm. Thượng công có muốn xem không ?
Bồng lắc đầu.

Trời bỗng bần bật gió. Gió xoáy vòng thành những cột bụi bốc lên thẳng trên trời, chạy sang trái rồi sang phải như một con trâu nổi cơn điên, quần quật đánh thốc vào những mái rạ, mái ngói. Tiếng đổ vỡ nghe chát chúa từ bốn về. Rồi tiếng người réo nhau. Tiếng chó sủa. Tiếng gà kêu quang quác. Bụi mù bay vào mắt vào mũi đến không thở được.

Lấy vạt áo che mắt, Bồng ra đứng giữa sân, im lìm như một pho tượng chết. Khi gió đã ngưng, Nhật đến bên cạnh. Bồng nhỏ nhẹ :

- Bụi đấy, bụi Kinh Kỳ. Không khéo thì dây lấm mà khéo thì cũng dây lấm, tướng quân ạ ! Chỉ xa đi thì mới
tẩy trần được thôi.

Hai người bước sóng đôi đến ven hồ. Trăng nhô lên cao khỏi đầu những tàn lá, lạnh lẽo, mơ hồ. Nghe tiếng
cá quẫy, Bồng đọc bài kệ :

Tâm có trước đất trời

Thân có sau đất trời

Ðất trời bọc thân tâm

Xoay vần bao giờ mất

Ðọc xong, Bồng tạ từ ra về, chỉ nói :

-Còn duyên là còn gặp.

Mấy hôm rồi, trận mưa dầm kéo dai dẳng như đánh đu với trời đất. Nỗi sợ lúa úng nước ở đầu cửa miệng, hàng dân nhìn lên những đám mây lì lợm rồi ngó nhau chép miệng. Nước ven bờ đê sông Nhị réo sôi sùng sục dọa nạt. Ðêm đêm tiếng kẻng hộ đê báo động đánh thức cư dân cứ từng chặp khua lên. Miệt phía đông, nước sông Nam Ðịnh đã tràn ra ngập trắng những cánh đồng chiêm. Nước tứ bề mênh mông nhìn tưởng như là biển. Dân chạy lụt bắt đầu thấp thoáng ở những cửa ô. Mùa màng năm nay chắc là không cứu nổi nếu cứ mưa gió mãi thế này. Bàn dân lại thì thào “ ... kiêu binh làm ngược đạo trời. Cho nên... ”.

Tiếng mưa tí tách trên mái ngói dinh Khương tả hầu đều đặn như ru ngủ. Du uể oải nhìn ra vườn, hỏi :

- Anh phỏng chừng lúc nào thì đi được ?

Nhật lắc đầu, nâng ly rượu uống cạn, đáp :

- Chưa biết ! Nhật cười, tiếp - đi chẳng khó, nhưng đi đâu ? Ði đến đâu thì cũng thế thôi. Ta cứ tạm ở đây
để uống cho say cái đã ...

Ái ngại, Du định lên tiếng nhưng lại tần ngần rồi thôi. Ðúng lúc đó, cửa phòng mở, lão bộc đủng đỉnh vào báo có khách.

Ðó là một người đàn bà từ quê ra, đi cùng là ba đứa bé độ chừng mươi, mười lăm tuổi. Người đàn bà chạc trung niên, răng đen, môi đỏ màu trầu, nhút nhát :

- Bẩm các quan, nhà cháu ở Hưng Yên vào. Hỏi thăm mãi, các ông ấy bảo là chỉ có quan đây mới biết chỗ
chôn Bố-già các cháu !

Nhật ngạc nhiên, ngần ngừ nhìn mấy đứa trẻ :

- Nếu là lão Hài thì xưa nay có ai nghe ông ta vợ con gì đâu!

- Dạ, chính lão - người đàn bà quay sang tíu tít nói với đám con - Ðấy, thế là tìm được rồi !

Bà lại cúi đầu, tiếp :

- Bẩm quan, bố-già các cháu không đẻ, nhưng nuôi các cháu.

Bà tên là Thơm, vốn người làng lão Hài. Năm mười sáu, Hài đã ngắm nghé Thơm, chưa nói ra nhưng tình ý ai cũng biết. Hài lúc đó đã đâu hai lăm hai bảy tuổi, lại phải nuôi mẹ già, chẳng dám tính đến đường vợ con. Dân làng chế là trai-già, nhưng ai cũng thương Hài, chỉ mong cho vợ con yên ổn. Ðùng một cái, Chúa bắt cứ ba đinh một lính đi đánh giặc Nguyễn Hữu Cầu. Hài phải xung quân đi bằn bặt ba năm. Khi về, Thơm đã lấy chồng và có chửa đứa lớn. Thấy Hài, Thơm cắn răng, ra dựa gốc cây sung ở bờ ao khóc một mình. Hài biết, không nói gì, cũng khóc. Mẹ Hài mất. Thế rồi Hài biệt tăm, khi đi trấn thủ Nghệ An, lúc lại vào đến Châu Hoan, Châu Ái. Sau này chồng Thơm, người làng bên, cũng phải đi lính. Trong lần đánh Phú Xuân, chồng Thơm chết trận. Hài về làng gặp Thơm, buồn rầu bảo “Cái phận nó vậy, biết làm sao được !”. Bốn năm liền, Hài cầm nửa phần lương của mình cho Thơm, hể hả : “ ... trên Kinh tôi ăn cơm lính, có tiêu pha gì đâu, để tiền đầu giường lại sợ trộm cắp ”. Mỗi lần về, Hài thường đến thăm hỏi lũ trẻ. Chúng cũng bắt chước lính, gọi Hài là Bố-già. Và cứ hễ Bố-già về là lại có quà, khi thì một lạng kẹo bột, khi lại một cân đường phèn. Ðến Tết, thế nào cũng thêm một bánh pháo.

Một tối, Thơm ngồi giặt áo ở bờ ao, Hài đứng tựa gốc cây sung, lẳng lặng nhìn ánh trăng vừa độ mười sáu. Vạn vật nhuộm màu trăng xanh lớt như bất động. Chỉ có tiếng nước khuấy. Tiếng Thơm thở, ngực nhô lên hụp xuống cái chuyển động kỳ diệu của tạo hóa. Chợt Thơm lên tiếng “... Này, hay là...”, rồi lí nhí “ hay là, hay là...”. Hài ngẩn người ra chưa đáp thì Thơm đâm bổ vào lòng. Họ ôm nhau rất lâu. Thơm khóc rưng rức. Một lúc sau, Hài gỡ tay Thơm, nói từng tiếng, dịu dàng nhưng cương quyết : “ Không đi lính thì lấy gì mà ăn. Cái đời lính nó bất trắc lắm. Thôi cứ để như vậy mà lại hay, Thơm ạ !”. Nói xong, Hài về, hút thuốc lào sằng sặc rồi uống đến say khướt. Hôm sau, Bố-già sang chào, bảo với đám trẻ “... Tết nhé, Tết bố lại về ”.
Ðưa gia đình bà Thơm đi lên nghĩa địa nơi Nhật đã chôn lão Hài, Du vừa đi vừa ngẫm nghĩ về bao nhiêu oan trái mất mát trong những cuộc đời xung quanh. Bước vòng vèo qua những gò đống ngổn ngang hoang phế, lòng Du man mác một nỗi cảm thương vô hạn. Dưới kia là những bộ xương đã một đời chạy vạy, lăn lóc trong cuộc trần ai này. Trên đây, những linh hồn đã rời thể xác chẳng hiểu xô giạt về cõi nào vô định. Nhìn những nấm mộ hiu quạnh chẳng đèn nhang hương khói, Du lẩm nhẩm :

Còn chi ai giỏi ai hèn

Còn chi mà nói ai hiền ai ngu .

Ðâu đây tiếng kèn đám ma văng vẳng. Cõi phù thế tạm bợ này lại đầy nước mắt của người sống. Họ khóc, một phần là khóc cho kẻ nằm xuống, một phần khóc vì thương thân. Sự đau đớn mất mát làm họ tỉnh lại, nhưng chỉ giây lát. Khi chôn cất xong, họ về. Và thế là dứt, cơn u mê lại bắt đầu. Họ lại xông vào cuộc sống với lòng tham lam, tiï hiềm và nhất là sự hão huyền. Kẻ mạnh chèn ép người yếu. Còn kẻ yếu, họ đi tìm người yếu hơn mình. Họ ức hiếp, hành hạ, đâm chém lẫn nhau, lòng vòng xoay như đèn kéo quân kẻ nọ đuổi người kia. Không thấy gì khác hơn là cái bóng trước mắt mình, họ cứ lao vào mà chụp bắt. Bắt xong bóng này, họ lại đi tìm cái bóng khác, vẫn ở đằng trước, và cứ như thế ...

Du quay lại tần ngần nhìn. Gia đình bà Thơm quây nhau lại, tay che gió, tay che mưa, nhóm lửa đốt hương, rồi bày lễ cúng : Ba nắm cơm với một quả trứng luộc. Họ thắt lên đầu những vòng khăn tang trắng, nước mắt giàn giụa, miệng lẩm nhẩm khấn vái. Ðứa bé gái ngồi xổm cạnh nấm đất sụt sùi, chỉ biết gọi “ Bố-già ơi! Sao lại bỏ con đi ! ”. Nước mắt ứa ra, Du hồi tưởng đến người lính già chết cũng bởi những cái bóng từ một cõi đi về ám ảnh nhân sinh. Ô, cái bóng huyển hoặc của phú quí, tiền tài. Cái bóng của quyền thế, của danh vọng. Thế nhân nhoài người với tay ra bắt. Lúc có, không thấy đủ. Không đủ, lại tiếp tục chụp bắt... Cho đến phút cuối, sức đã kiệt, họ có thấy chăng là đằng sau những cái bóng còn biết bao nhiêu điều có thật chót bị lãng quên ?

Ðó chính là những niềm hạnh phúc của một cuộc sống bình thường. Hạnh phúc khi nhìn trời xanh. Khi đùa vui với con, với cháu. Khi chợt gặp một ánh trăng. Khi cắn vào trái vả chín cây. Khi ngửi hương cốm đầu mùa. Những niềm hạnh phúc ấy, mấy ai biết là nó đâu phải nhỏ nhoi ? Chắc lại muộn rồi, sao cứ mãi lại muộn mất rồi, thế nhân ơi ! Cuộc hẹn với yên vui lẽ nào vĩnh viễn lỡ làng ? Thắp lên, thắp thêm một nén hương. Rồi thế nhân ơi, chớ quên ném xuống những lỗ huyệt đã tự mình đào sẵn cho mình dăm cánh hoa dại cứ muôn đời lỡ độ.

Toàn Nhật tìm đâu ra được một mảnh gỗ vuông vắn. Chàng hì hục lấy đoản dao khắc tên lão Hài lên, lầm lì không nói. Khắc xong, Nhật mang ra cắm xuống trước mộ. Nhìn cánh tay của Nhật chắc nịch nhấn sâu mảnh gỗ vào đất còn ướt, Du bất giác nghĩ đến cái bút lông mềm nhũn lúc nào chàng cũng mang theo bên người. Sự so sánh làm Du kinh hoảng : cây bút ích gì cho thời buổi này, một thời buổi mà cái chân, cái thiện, cái mỹ chỉ là để tô vẽ ngụy trang cho chiều của trục gươm, sống kiếm, chiều dọc theo đóù người ta uốn nắn thế quyền. Du thấy mình nhỏ đi như một con sâu kèn. Hình ảnh Toàn Nhật râu hùm - hàm én - mày ngài đang lững thửng đứng lên, cứ to dần cho đến độ ngợp choáng không gian cái nghĩa địa trong mưa dầm gió bấc.

Bà Thơm sửa soạn hóa vàng. Bà lại nhút nhát đến gần Du, thật thà :

- Nhà cháu chỉ biết khấn vái thường thôi. Ông ấy, lính đấy, nhưng lại cũng thích thơ thích phú một tí. Xin các quan làm phúc cho vài câu ...

Nhật ngạc nhiên, suýt phì cười, quay sang nhìn Du. Ðúng là một dân tộc yêu thơ đến độ có những kẻ chết
rồi mà vẫn còn mê ngâm vịnh. Ngâm vịnh thế này, Nhật nhủ thầm, quả là một quốc nạn. Và nhất là một điều thật bất hạnh cho nàng Thơ cứ bị dày vò không ngừng trong lầu xanh chữ nghĩa. Nhật khẽ huých tay nhắc Du, lúc đó còn ngẩn ngơ nhìn theo những sợi khói chao đi trong gió nhẹ. Du trầm mặc, rồi đọc khe khẽ :

Nào những kẻ mắc vào ngũ lính

Bỏ cửa nhà đi gánh việc quan

Nước bầu cơm ống gian nan

Dãi dầu muôn dặm lầm than một đời

Trong chiến trận mạng người như rác

Thân đã dành đạn lạc tên rơi

Lập lòe ngọn lửa ma chơi

Tiếng oan văng vẳng thấu trời tít cao ...

Chỉ còn nửa tháng nữa là đến Tết năm Giáp Thìn, nhưng Kinh Kỳ hầu như không vui lên được, ủ rủ trong những trận mưa dai dẳng kéo ngày này qua ngày khác. Vì ngăn sông cấm chợ, hàng quán loe hoe, người mua kẻ bán âm thầm, vội vã, lẩn tránh như những kẻ phạm tội. Giá gạo vẫn lên. Giá muối, giá đậu cũng lên. Chỉ có những cành đào, cành mai là rẻ. Như khiêu khích người, trời cho được mùa hoa. Ðào đỏ ay áy, mai vàng rực rỡ óng ả, mai trắng thanh thản, cứ nằm dài ven chợ Ðồng Xuân như thể trêu ngươi, mặc cho hàng dân đong từ lạng nếp đến dăm yến thịt lợn mỡ, lo cho một nồi bánh chưng tằn tiện đón chúa Xuân.
Tiếng chân rầm rập, rồi tiếng ngựa hí bỗng đâu vang lên, xô sự buồn thảm đi để thay vào đó nỗi bàng hoàng của hàng dân. Họ tan chợ, rồi ai về nhà nấy, ngơ ngác nghe ngóng, đồn rằng cấm binh vào vây phủ Liêu nơi Chúa ngự. Những kẻ có người thân thích trong đám quan quyền kháo nhau rằng nay Vua Lê đang lật Chúa Trịnh. Kiêu binh tiến về Phủ Chúa là chắc sắp lại có chuyện đổi rời. Cư dân ở ven đô tung ra tin quân Nhưỡng đã kéo quân về, rồi quận Thạcï cũng theo đường bộ cùng sáu người con sắp vượt qua sông Luộc.

Bật Trực bước lên chính điện Phủ Liêu, theo sau là Bằng Vũ và Nguyên Nhưng. Ngồi trên ngai, Trịnh Tông đưa mắt nhìn Khuông và Khản. Ðám kiêu binh không quì lạy theo lệ, trương mắt nhìn Tông. Trực sẵng giọng:

- Thái phi đâu ?

Nổi giận, Dương Khuông hằn học :

- Thói ở đâu mà vào đến phủ Chúa, không chào không lạy, lại hạch hỏi Thái phi ?

- Hừ, mang Thái phi ra đây ! Rắp tâm giết Hoàng tự tôn, trốn tránh thế nào được !

Nghe Vũ quát, Trịnh Tông lạnh sống lưng, tay bóp vào nhau, xương nghe lách cách. Hoàng tự tôn là Lê Duy Kỳ, bị Trịnh Sâm bắt từ lúc tấm bé, bỏ ngục cho đến ngày kiêu binh đưa ra thì đã mười sáu tuổi. Mặt mũi uy nghi, Kỳ đúng là bức truyền thần sống của Ðông cung thái tử Lê Duy Vĩ, kẻ đã bị Sâm sát hại khi Sâm lên ngôi Chúa. Vua Lê Hiển Tông đón cháu đích tôn về cung Vạn Thọ, vừa khóc vừa bảo “ ... thế là hồng phúc nhà Lê chưa dứt ”. Từ đó, Kỳ ở cạnh Vua, ngày ngày đọc sách Chu Tử, có gì thắc mắc lại đem ra luận bàn với những nhà danh nho như Ninh Tốn, như Phan Huy Ích, và có tiếng là thông tuệ. Hiển Tông rất quí Kỳ, không cho ra ở riêng, lại bắt nhận Thái tử Lê Duy Cẩn làm nghĩa phụ. ý Vua là sau này Cẩn sẽ truyền ngôi lại cho Kỳ vốn thuộc dòng trưởng nhà Lê.

Cẩn vốn thân tình với Thái hậu Dương Ngọc Hoan và Chúa. Thái phi vẫn nghĩ rằng một khi Cẩn lên nối ngôi Vua, vị trí Chúa của Trịnh Tông lại càng vững, nên luôn luôn săn đón mời mọc. Có lần, Cẩn dẫn cháu là Duy Kỳ đi theo, Hoan thấy tướng mạo Kỳ đúng là có quí phúc, đem lòng ngấm ngầm ganh ghét. Gọi một thày tướng nổi danh vào Phủ, Hoan đãi một bữa tiệc có cả Tông lẫn Kỳ. Cuối bữa, Hoan hỏi. Thày tướng nói nhỏ vào tai : “ Một người là Chúa thì người kia không thể là Vua. Một người là Vua thì người kia không thể là Chúa. Ðằng Kim, đằng Mộc, tướng khắc mà mệnh cũng khắc ... ”. Hoan nghe xong, mặt tái nhợt, đứng dậy kiếu đi nghỉ trưa.

Về đến phòng, Hoan vẫy gia nhân tín cẩn ra dặn dò. Ngoài sảnh điện, Kỳ và Tông tiếp tục uống rượu. Thêm dăm chén, Kỳ thấy nhức đầu, xin phép đi về. Bấy giờ, kiệu rước Kỳ đã về cung Vạn Thọ vì gia nhân nhà Chúa ra bảo rằng Hoàng tự tôn còn ở lại ăn yến bữa tối. Kỳ đành lên kiệu nhà Chúa, nhưng chưa đi ra đến cổng thì kiệu rẽ về phía nhà hậu. Có người vén kiệu, úp một chiếc khăn vào mặt, làm Kỳ mê đi.

Khi nửa tỉnh nửa mê, Kỳ thấy mình nằm bó giò trong một chiếc võng có hai người khiêng chạy. Kỳ cố hé mắt ra. Trời lúc đó đã chạng vạng tối. Kỳ thét “ ... bay đưa ta đi đâu ? ” Chỉ có tiếng quát nhỏ “ Nhanh lên nào ! ” và bước chân phu võng lại càng vội vã. Kỳ thấy nguy, hết sức vùng vẫy la hét. Ðám cấm binh trong đội Trung Kính nghe tiếng chạy đến giải cứu cho Kỳ, khiến đám gia nhân ba chân bốn cẳng trốn mất.
Sau khi nghe Kỳ thuật chuyện, Bằng Vũ ngẫm nghĩ rồi cho mời Bật Trực và Gia Thọ vào. Họ bàn tính gì đến nửa đêm không ai hay biết, nhưng sáng hôm sau, cả bọn nai nịt rồi kéo kiêu binh đến vây phủ Liêu hạch hỏi. Ðặng chẳng đừng, Tông đành phải cho mời Thái hậu ra đối chất. Bằng Vũ nhỏ nhẹ :

- Võng mang Hoàng tự tôn đi đâu ?

- ...

- Lối đó võng chỉ có thể ra hồ Thuyền Quang. Vậây ai định dìm chết Hoàng tự tôn ?

Mặt tái mét, Dương Ngọc Hoan lắc đầu :

- Tôi không biết !

Lúc ấy, Bùi Bật Trực vẫy tay, kiêu binh xốc nách một gã đàn ông chạc tứ tuần, đầu tóc bù xù, mặt mũi bị
đánh sưng vêu lên, mang vào đẩy cho ngã xuống thềm điện. Trực hỏi :

- Thái phi có nhận ra y không ? Ðây là người em con dì con già của Thái phi, và là một trong hai người khiêng chiếc võng bắt Hoàng tự tôn đấy !

Dương Khuông nhìn chị, mặt xanh như tầu lá. Khản chép miệng, thở dài không nói không năng gì. Bằng Vũ đằng hắng :

- Việc đã đến thế này, không giải quyết không được. Thái tử Cẩn vốn là do Tiên chúa đặt lên, xét đến công đức thì không có gì, chỉ độc có tiếng là cục đất tròn, lăn đến đâu thì lăn. Nay, Vua giỏi Chuá tài thì xã tắc mới yên ổn. Chúa có rồi, Vua già yếu, tất ai cũng nghĩ đến chuyện nối ngôi. Hoàng tự tôn Lê Duy Kỳ vốn là trưởng nam của Ðông cung thái tử Vĩ, lên ngôi là hợp lẽ và đúng ý của Ðức Vua. Quí vị nghĩ thế nào ?

Khuông lập cập :

- Thế là phải truất Cẩn đi à ?

Trực cười nhạt, không thèm trả lời. Khản hắng giọng :

- Việc như thế, phải có cả triều đình, không chỉ một hai người mà làm thì mới giữ được danh cho chính.

Vũ gật đầu, nhìn Tông dò hỏi. Như một cái máy, Tông lắp bắp :

- Phải, phải đấy. ý ta cũng thế, ta nói vào để việc lập Ðông Cung cho Kỳ suông sẻ, được không ?

Trực lại đưa mắt nhìn Gia Thọ, xưa vốn là thư lại của Tông. Tên này bước lên, chân quì, tay vái, miệng ráo hoảnh :

- Chúa nghĩ thế quả là phúc cho xã tắc. Toàn thể cấm binh chúng tôi xin đời đời đội ơn. Nay chúng tôi sẽ
ăn khao cái tin mừng mà hàng dân đang trông đợi ...

Tông ngạc nhiên :

- Ăn khao ?

Gia Thọ hềnh hệch cười, giọng nhẽo nhẹt :

- Vâng, khải Chúa. Tốn kém cũng không phải ít.

Người hiểu đầu tiên là Dương Ngọc Hoan. Thái hậu nay đã bớt sợ, chép miệng rồi bảo Thọ :

- Ðược, mai đến có rượu thịt ê hề cho trăm người ...

Thọ mặt dạn mặt dày :

- Ðội ơn Thái hậu, mai chúng tôi sẽ đông đủ để chúc mừng công đức nhà Chúa. Thế còn hôm nay ...

Thái hậu thở dài, xót xa :

- Hôm nay thì ta còn một nghìn lạng bạc, cứ lấy mà chia nhau. Có thế thôi, nài ta cũng chẳng đào đâu ra thêm cho được !

Câu chuyện ám hại Lê Duy Kỳ tưởng đến đấy đã xong, nhưng Bùi Bật Trực vẫn không bằng lòng. Trực vào thẳng Hoàng cung tâu với Vua Lê rằng Tông bất tài bất tướng, phải phế đi để lập Trịnh Bồng lên thay. Thật ra, lý do chính là Trực thấy với Bồng thì có vẻ thế nào cũng được, trong khi đó Tông vẫn âm thầm tìm cách khống chế kiêu binh. Vua không thuận mà cũng không chống. Ðược thể, Bật Trực tìm Trịnh Bồng nói thẳng.

Bồng nghe xong, buổi tối hôm ấy đến ẩn trong Vương phủ, kể lại đầu đuôi cho Tông và Dương thái phi nghe. Trịnh Tông mời Khản và Khuông đến vấn kế. Khuông lầu bầu :

- Thế này thì chẳng còn lề lối phép tắc gì nữa. Chúng nó làm càn đến độ chẳng còn trời còn đất, đúng là quân bất trị !

Khản bình tĩnh hơn, đề nghị với Bồng là nên rời Kinh đi trong một thời gian. Bồng nghe như mở cờ trong bụng. Mẹ con Tông không phản đối nên Bồng xin phép đi ngay để tránh sự cấm cản của kiêu binh. Khản lại nói :

- Thượng công có thể lên hai trấn Sơn-Nam gọi Quận Thạc mang quân về không ?

Bồng chắp tay, lắc đầu :

- Chuyện này, xin thứ cho. Bồng tôi đã vào cửa Phật, không đành lòng vướng vào những hệ lụy nhân sinh.

Trịnh Tông vội nắm lấy tay Bồng :

- Nhưng cơ nghiệp tổ tiên, bỏ đi sao đành ? Họ Trịnh ở ngôi chúa đã ba trăm năm, một lúc mang đổ xuống
sông hết ư ?

Nhìn vào mắt Tông, Bồng hiền hòa :

- Có sinh, tất phải có diệt. Có cơ nghiệp nào mãi mãi được ?

Thái phi Dương Ngọc Hoan chen lời :

- Còn nước, còn tát. Hay là Thượng công cần vàng. Có cần, cứ cầm lấy ba trăm lạng tôi còn giữ được đây!

Bồng niệm Phật, nhìn Hoan, nhẹ nhàng :

- Bồng tôi không cần gì.

Lúc ấy, Khuông gằn giọng buông sõng :

- Không mang chiếu gọi quận Thạc về thì không đi đâu được !

Bồng lại niệm Phật, không đáp. Khản gạt tay rồi từ tốn :

- Thượng công ở Kinh ngày nào, kiêu binh có cớ ép Chúa thoái vị ngày ấy. Nhưng tu thì cũng dăm bảy đường tu. Có khi biến, có khi thường. Lúc biến mà xử như khi thường thì mang tiếng là vô trí lự, xin Thượng công nghĩ lại cho.

Trịnh Bồng quay vái Khản một vái, miệng cười, chậm rãi :

- Thượng quan quả là người danh giáo trí tuệ hơn thiên hạ. Song với đệ tử nhà Phật, không có thường mà chỉ có biến. Rồi qui cái biến hiểu ra lẽ, thì biến lại hóa thường ở chỗ sinh, lão, tử, bệnh. Giải thoát khỏi được những cái khổ ấy, đệ tử nhà Phật thấy gốc nó ở lục căn, ngũ uẩn và tìm diệt chúng đi từ sự tỉnh thức vô tướng vô ngã để rồi chỉ nhập thế bằng từ - bi - hỉ - xả. Chuyện quyền lực không phải là chuyện kẻ xuất gia, xin Thượng quan hiểu cho, Bồng này chắp tay cúi đầu cảm tạ.

Khản vội đứng dậy đỡ lấy Bồng, mắt nhìn có thoáng ngậm ngùi, không nói gì nữa.

Nửa đêm hôm đó, Bồng đến dinh Khương Tả hầu, nói với Nhật :

- Tôi đến chào tướng quân, và nhờ đưa tôi một thôi đường.

Toàn Nhật không ngạc nhiên, chỉ đáp nhỏ : “ ... Xin mừng cho Thượng công ”.

Giắt kiếm sau lưng, Toàn Nhật cùng Trịnh Bồng đi về phía sông Nhị Hà. Trên trời, những giải sao chi chít lấp lánh mỗi lúc một xa đi với cõi nhân gian. Bọn lính tuần canh gặp chủ tướng cũ, không hỏi han gì, chỉ cúi đầu chào. Gió thổi từ phía bắc về đã bắt đầu se sắt lạnh. Bỗng Trịnh Bồng lên tiếng :

- Mắt tướng quân còn sát khí là vì tướng quân chưa giải được nghiệp. Tôi nghe kể là tướng quân đã tránh được một trường binh đao, nhưng cũng vì thế mà phải ngộ sát cha mình ...

Nhật nghe Bồng nói, hồi tưởng lại những giằng co trong tâm tưởng đêm trước ngày cấm binh làm loạn. Cũng trên bờ sông này, cũng với dòng nước cuốn xiết dưới kia, chàng đã chực buông xuôi hết, rũ áo qua bờ bên kia, bỏ lại Kinh Kỳ với những dối trá, những lọc lừa, với những âm mưu quyền lực và nhất là lòng tham muốn không bờ bến. Nhưng làm thế thì xương máu hàng vạn người phải đổ ra! Không, không làm thế được! Bỏ đi như vậy là trốn chạy trách nhiệm của một con người trước sinh mệnh đồng loại. Vũng máu kia đổ ra sẽ là niềm ân hận theo Nhật suốt đời. Và nếu thế, chắc chàng chẳng bao giờ còn dám nhìn mặt mình trong gương. Vậy thì chỉ còn một cách độc nhất : cứ để ai làm gì thì người đó phải đối đầu với trách nhiệm của mình. Nghiệp người nào, người đó trả.

Nhưng khốn khổ chưa, Lý là cha ngươi đấy, Toàn Nhật ơi ! Lý vẫn là cha ngươi dẫu mẹ ngươi chết trong dòng nước sông Lam vì cái con người bạc bẽo đó bỏ mẹ lấy công chúa Ngọc Tĩnh để rồi được tấn phong Quận Công ? Mẹ đâu ! Mẹ ! Thoắt lại thấp thoáng người đàn bà miếu Ba Cô ở đâu đó, trả lời : “ ... Mẹ đây ! ”. Gió bỗng thổi dựng đứng những hàng lau ven bờ nước. “ Con đã làm gì ? Mẹ ơi !”. Hình như chỉ có gió trả lời qua những tiếng vi vút nghe tưởng muôn đời không dứt được. Quay lại nhìn xoáy vào mắt Trịnh Bồng,
Nhật buông gọn một câu đau xót :

- Không. Không phải ngộ sát mà...

Nghẹn giọng,Toàn Nhật cố mở miệng nói tiếp, nhưng rồi nghĩ thế nào lại mím môi lại. Bồng đầm ấm :

- Ta không có, thì làm gì có cái gọi là cha Ta. Sợi dây oan nghiệp vô thủy vô chung, gọi là con cũng được mà là cha cũng thế, ai biết được cái chi trước cái chi sau ? Thôi, cởi dây ra đi ! Ðể chết có thể là cứu đấy. Ðể sống có thể lại đọa đầy thêm. Ðường trần còn dài, càng ít vướng bận càng hay.

Từ đấy, hai người không nói gì, lặng lẽ bước trên con đường dẫn về phía sông, giữa tiếng côn trùng rên rỉ và tiếng ễnh ương thỉnh thoảng lại ộp oạp vẳng lên từ bờ mương. Ðến khi tạt về mé phải là ra đến bờ sông Nhị, Bồng ngừng bước, nắm lấy tay Toàn Nhật, lại lặp lại :

- Còn duyên là còn gặp.

Nhật đứng nhìn theo bóng Bồng một mình khuất bóng sau lũy tre già ở lối rẽ.

Khi Nguyễn Khản được thăng Thượng Thư, tước Tán quận công, lo việc triều chính cho Trịnh Tông, Du quay về ở hẳn trong dinh Kim Âu. Khản nổi tiếng là người sành chơi, nhà đầy đồ cổ từ đời nhà Tần cho đến đời nhà Thanh. Còn sách xếp chật hai dãy thư phòng, từ sách Xuân Thu Chiến Quốc cho đến đủ loại Tân Thư. Quí nhất là vô số những bản thảo tự tay những khách tài tử như thủ bút của Ðặng Trần Côn, của Ðoàn Thị Ðiểm.

Dinh Kim Âu không lớn lắm, nhưng cảnh trí xếp đặt tài tình, nét phong nhã khiến xưa Tiên Chúa Trịnh Sâm phải trầm trồ khen, và mỗi khi có dịp, Tiên Chúa lại đến ngự, chuyện trò đôi khi suốt ngày với Khản. Chúa rất thích ngồi cạnh hồ bán nguyệt, ngắm một cây đa triết thụ gần nghìn năm chỉ cao bằng ba đốt tay, nghe nói là lấy từ Ðỗ-Lăng, quê nhà thơ Ðỗ Phủ.

Du ít khi ra khỏi dinh, đăm chiêu tư lự, chỉ thỉnh thoảng mời Nhật đến chơi. Khản coi Nhật cũng là loại kiêu binh, ngầm khinh khi nhưng không lộ ra mặt. Trong triều, Dương thái phi, Dương Khuông và Khản tìm cách kiềm chế sự thao túng quyền thế của đám Bằng Vũ, Bật Trực, Nguyên Nhưng và Gia Thọ. Họ chia rẽ kiêu binh bằng cách mua chuộc. Trịnh Tông gần gũi Nguyên Nhưng hơn những kẻ khác, định sắc phong cho tước Quận công, và cho hưởng một trăm mẫu công điền. Vũ, Trực và Gia Thọ nói thế nào mà Nguyên Nhưng không dám nhận, nhưng trong bụng đã hằn học. Sau đó, bộ ba lại o ép đến độ Tông uất quá, nói :

- Biết thế thì chẳng làm Chúa còn hơn !

Bằng Vũ khinh khỉnh đáp :

- Tưởng Chúa muốn nên mới lập, nay nếu không thì chúng tôi xin phò Thụy quận công lên thay !

Tông sợ, im ngay. Khuông và Khản đều lấy làm ức, tìm Chiêm Võ hầu là một võ quan khẳng khái và cầu được hỗ trợ. Chiêm Võ bàn là nên xa giá lên Sơn Tây, rồi mang quân của Hoàng Phùng Cơ về dẹp kiêu binh. Họ bí mật liên lạc với Cơ, hẹn mang thuyền đến bến Tây Long đón Chúa, sau đó tức thì khởi sự tiến công vào dinh. Việc vỡ lở, kiêu binh vào cật vấn, Dương thái phi khóc lóc :

- Nào có việc ấy, ba quân nghe đồn mà tin, làm gì có căn cứ.

Bật Trực quát :

- Chuyện đại sự không nói với đàn bà !

Trịnh Tông thót bụng lại, từ ghế ngự bước xuống, chưa kịp nói gì thì Bằng Vũ đã mím môi dằn giọng :

- Cái chuyện định ra Tây Long lên thuyền đi trốn, chúng ta biết cả rồi. Ðừng dài hơi mất công.

Từ đó, kiêu binh canh gác cẩn mật Vương phủ, người ra người vào ai nấy e dè, sợ sệt. Bọn Vũ, Trực tính đến đường truất nhà Chúa. Họ biết là hai mẹ con Trịnh Tông vẫn chần chừ trong việc phế Ðông cung Lê Duy Cẩn nên vào tâu thẳng với Vua Lê xin lập Hoàng tự tôn là Lê Duy Kỳ lên làm Thái tử. Suốt đời bị họ Trịnh ép uổng, Vua Hiển Tông thuận lòng ngay, lại khêu ý cho Vũ và Trực là sẵn sàng để cung điện làm chỗ ba quân hội bàn. Cẩn sợ quá, chạy vào Vương phủ, kiêu binh đuổi theo dẫm nát cái kiệu, chửi : “... ngôi Vua chẳng đứa nào cầu xin mà được ! ”. Tông phải ra trấn an, sai triều đình lập ngay Kỳ lên ngôi
Ðông-cung cho được lòng kiêu binh.

Bọn kiêu binh kéo nhau vào điện Vua đòi thưởng cái công truất Cẩn lập Kỳ. Bắt phiên tả sai người đánh cá hồ sen bắt lấy cá trắm làm gỏi để đãi, rồi cho kiêu binh vào cung Vạn Thọ, Vua tuyên chỉ ủy lạo và mang tiền ra phân phát. Trần Nguyên Nhưng chạy về báo cho Tông, Tông mời ngay Khản và Khuông đến hỏi ý.
Khản nghiến răng :

- Xin cho bắt và giết đi.

Khuông bực tức, xen vào :

- Không cần hỏi tội trạng gì ! Chúng cậy đông mà ngông nghênh. Ðũa bẻ cả nắm không được thì cứ rút ra một hai chiếc mà bẻ, dần dần phải hết.

Tông liền sai Chiêm Võ lấy lính phong vân vào vây bắt. Chiêm Võ người huyện Yên Lãng, đỗ Tạo sĩ, có tiếng là gan dạ. Tuốt gươm ra, Võ bảo : “ Gươm này đủ sắc để lấy đầu bọn phản tặc ”. Ðang chè chén, bọn kiêu binh bất ngờ bị vây, bỏ chạy toán loạn, Võ bắt được bảy mạng điệu về Vương phủ nghị tội. Ðám triều thần xưa nay vốn nhút nhát, sợ bị kiêu binh trả thù nên ai cũng có ý che chở họ. Khuông hằn học :

- Cứ chiếu pháp mà làm.

Tông sai đem cả bảy người chém luôn hôm đó.

Bọn kiêu binh họp nhau lại, có kẻ nói nếu nấn ná nín nhịn chịu cái kế “bẻ đũa ” thì sớm muộn cũng sẽ chết. Gia Thọ lại bàn cứ đến Vương phủ hỏi ân oán cho ra lẽ, rồi hẹn nhau khởi sự khi tan triều hôm sau.

Sáng sớm, một tốp kiêu binh bất ngờ đến vây nhà Khuông và Chiêm Võõ. Hai người này ra cửa sau, chạy thẳng đến Vương phủ. Kiêu binh vào khuâân bàn, ghế, tủ sập ra chất lên xe, lấy hết đồ tế nhuyễn tư trang rồi phóng hỏa đốt nhà. Họ chia của vừa cướp, cười nói nhốn nháo, dân hàng phố chỉ đứng nhìn ngao ngán. Một tốp kiêu binh khác ùa đến dinh Kim Âu, nhưng còn thập thò không dám vào, e rằng dinh có phòng bị. Khản ở trong nhà phái gia nhân ra ngoài nghe tin tức, nhưng họ đều bị kiêu binh đánh chết tại chỗ, không người nào về được.

Ðến trưa, kiêu binh kéo nhau vây Vương phủ, đòi mang Dương Khuông và Chiêm Võõ ra trị tội. Dương thái phi lo cho em, quên cả địa vị tôn kính của mình, đưa ra biếu một nghìn lạng vàng, quì lạy :

- ... cắn rơm cắn cỏ xin chư quân tha cho.

Bọn kiêu binh hềnh hệnh cười, bảo một nghìn lạng thì tha Khuông, muốn tha Chiêm Võ phải thêm vào năm trăm lạng. Dương phi xót của không chịu, lải nhải mặc cả. Trịnh Tông khẩn khoản :

- Giết Chiêm Võ, bẩn gươm đao. Thôi, hai trăm lạng, được nhé ...

Ba quân lại ồ ồ cười, quát ầm lên là nhà Chúa gì mà keo bẩn thế.

Chiêm Võ trốn trên lầu các nghe thấy hết, chán ngán thở dài, rút đôi song kiếm, đĩnh đạc bước xuống, nói :

- Vâng lĩnh mệnh Chúa, Võ này trước khi chết cũng lấy đầu được chục đứa loạn binh.

Ðám kiêu binh ngán võ nghệ của Võ, lùi hết lại rồi nhao nhao lên:

- Hễ động kiếm là chúng ta đốt Vương phủ, vạn lạng lúc đó cũng mất, nói chi đến hai với chả năm trăm lạng

Tông sợ quá, níu tay Võ kéo vào, năn nỉ :

- Thôi, tướng quân vì xã tắc hãy thôi đi ...

Nói rồi, Tông viết sáu chữ “Trung Nghĩa Tráng Liệt Ðại Vương ”, ban cho Võ một nghìn mẫu ruộng làm đất nối đời, và sắc phong làm Phúc Thần. Chiêm Võ vo tròn mảnh giấy bỏ vào miệng nuốt, chỉ nói :

- Tôi chẳng xin tước lộc, chỉ mong Chúa dựng lại phép nước mà thôi !

Nói xong, Chiêm Võ hiên ngang bước ra, vạch lối giữa đám kiêu binh mà đi, không mảy may hãi sợ. Có đứa hỏi “ Kiếm sắc của mi đâu ? Lúc này mi phải đền bảy mạng ! ” rồi xông vào. Võ trừng mắt quát :

- ... ra khỏi Cấm cung đã.

Ði đến chân cầu bắt ngang hào vào Vương phủ, Võ khoan thai ngồi xuống, miệng mỉm cười, nói lớn :

- Ta vâng lệnh Chúa không thi võ với bay, nhưng vẫn có thể thi gan.

Bọn kiêu binh mỗi đứa lấy một cục gạch đến đập vào đầu Chiêm Võ, máu me bắn đầy ra, nhưng đánh cả giờ mà Võ vẫn ngồi không ngã, mắt mở trừng trừng, miệng vẫn nhếch ra ngạo mạn. Ðến khi mây xụp xuống, mưa đổ như trút nước, sấm sét nổ một cơn thịnh nộ vỡ tung trời đất, thì lúc ấy Võ mới ngã ra, mắt nhắm lại.

Về phía dinh Kim Âu, đích thân Bằng Vũ phải đến để bắt Khản. Chỉ thấy một tay kiếm đi đi lại lại trong sân, Vũ ngại có mai phục, đứng ngoài vung tay làm loa vừa gọi vừa chửi Khản. Ðột nhiên, Toàn Nhật cùng chín người cận vệ xuất hiện, đi thẳng lại phía cổng dinh. Vũ ngạc nhiên nhưng chỉ cười khẩy hỏi :

- Toàn Nhật ! huynh đến để cứu cho giặc ư ?

Không trả lời, Nhật trườn mình đu lên cổng, thoắt một cái đã nhảy vào trong dinh. Vì Nhật là khách quen thường đến dinh Kim Âu, tay kiếm trong sân chỉ nghiêng đầu chào. Ði thẳng vào mé sau, Nhật gặp Du đi ra.
Mừng rỡ, Du nắm lấy tay Nhật, nhưng miệng vẩn đùa :

- Bắt phong trần, phải phong trần ...

Nhìn quanh, Nhật nói nhanh :

- Phải đi gấp. Nếu chúng kéo đến đông quá, bất lợi. Ta đã cho người sắp sẵn thuyền ở ven sông rồi ! Quan Thượng thư đâu ?

Du cười tủm :

- Lệnh huynh cứ khi lâm nguy lại đau bụng. Ðể đệ vào trình ...

Một lát sau, Khản bước ra, mặt mũi nhăn nhó, cố gượng cười :

- Ða tạ Võ tướng quân. Ðúng là Khản này được cứu mạng, làm sao đáp đền cho được !

Nhật xua tay, giọng đanh thép :

- Xin Thượng Quan cùng gia quyến sửa soạn đi mau lên, và chỉ mang theo những gì cho gọn, nhẹ.

Ðợi cho mọi người lục tục ra đến sảnh đường, Toàn Nhật quét mắt nhìn đám đồ đạc ngổn ngang, rành rọt nói :

- Các vị mang kềnh càng, chỉ làm mồi cho bọn cướp cạn rình mò khắp nơi, của không giữ được, lại có thể thiệt thân. Vậy xin mỗi vị chỉ hai tay nải, cái gì giấu được trong người thì giấu. Trai tráng nhớ giắt theo đao kiếm, có lúc phải dùng. Khi đi theo tôi, tuyệt đối không được la hét hay khóc lóc. Ðàn bà con trẻ đi vào giữa, thanh niên kèm hai bên, và không được tản ra rời hàng. Quí vị đã hiểu chưa ?

Ðến trước mặt Khản, Nhật nói vừa đủ Khản nghe :

- Xin Thượng quan giữ mình. Qua sông Nhị, ngài nên chia thành nhóm nhỏ, cải trang làm thợ gặt mà đi. Của cải vàng bạc lúc đó tìm chỗ chôn giấu, chớ có mang theo mình mà mang họa.

Vái tạ Nhật, Khản hỏi :

- Tướng quân có cần tiền để chi dùng không ?

Nhật lắc đầu. Du lật đật ôm một chồng sách ra bỏ vào túi nải, miệng cứ xuýt xoa, chắc còn đang tiếc nuối những quyển sách quí không mang theo được. Nhật bật cười, quát nhỏ :

- Du đệ. Ta chỉ cho phép mang theo bản thảo những trứ tác của đệ. Còn bao nhiêu, vứt lại hết trừ vàng.
Có vàng là mua được hết.

Ðợi đến hai khắc sau, BằngVũ vẫn không thấy động tịnh. Chẳng hiểu Nhật định làm gì, Vũ thét kiêu binh cẩn thận và cho đi gọi lính tiếp viện. Lúc ấy, đám gia nhân đang dìu Khản ra, đi đằng sau có Du. Nhật ra trước cổng, nhìn Bằng Vũ, nhỏ nhẹ :

- Bằng huynh còn nhớ tình cũ thì để đệ đem họ đi là tốt hơn cả. Nhà họ Nguyễn với đệ đây là chỗ ân tình, đệ không thể phụ họ được.

Bằng Vũ vừa quát “... vào bắt ! ” thì Nhật đã lạng người đến bên, tay trái kẹp lấy cổ Vũ, tay phải để con dao trủy thủ vào cuống họng. Bọn kiêu binh hò hét nhưng không dám làm gì. Nhật bảo Vũ :

- ... ra lệnh cho họ lùi ra, cách xa ít nhất là mười trượng, tuyệt đối không được động thủ. Nếu trái lời, kẻ mất mạng đầu tiên là Bằng huynh đấy.

Nhật đi đoạn giữa, đoạn tiền và hậu do đám hộ vệ đảm lấy, di chuyển về bến Hàm Như theo thế kiếm trận tam giác. Bằng Vũ bị Nhật nắm lấy gáy, dao kề cổ, đẩy đi, đầu cúi gầm xuống, mặt mũi tái nhợi.

Dân hàng phố ra đứng hai vệ đường, hò reo hể hả như bắt được cướp. Bật Trực và Gia Thọ được báo, kéo thêm kiêu binh ra, nhưng chỉ đi theo, không dám đến gần, quát tháo dọa nạt bàn dân.

Ðến bến, Nhật chia tay với đám thủ hạ, lấy hết tiền bạc chia đều ra, bảo ai về quê thì về, ai muốn phò nhà Chúa thì theo Khản. Họ mượn thuyền nhỏ qua sông Nhị, đám xuôi xuống Thanh-Trì, tìm đường lên Sơn-Lạng, đám đi thẳng về miệt Thái Bình.

Trên chiếc thuyền con, chỉ có Vũ, Du và Nhật. Trời đã tối, đằng xa vẳng lại tiếng trống và tiếng reo hò. Kiêu binh ập vào dinh Kim Âu hôi của rồi châm lửa đốt. Nhân dịp đục nước béo cò, vô số dinh thự của đám Công Hầu cũng chịu chung số phận. Hơn nửa những công trình xây cất từ hai trăm năm phừng phừng cháy, lửa bốc lên cao, hừng hực, điên dại, không có gì kìm chế được. Du hồi tưởng lại đống kinh, sách làm bạn với mình từ thở thơ dại, ứa nước mắt, vừa thương vừa tiếc.

Nằm chèo queo trong khoang, Bằng Vũ không biết số phận mình sẽ ra sao. Thuyền ngược nước, nhà đò ra sức đẩy, hò lên từng chặp. Toàn Nhật nghiêm nghị, nhìn Vũõ, rồi thủng thẳng nói :

- Từ vụ án Canh Tý, ta đã đoán biết Bằng huynh là người trong Nội Mật viên, lập mưu lấy cớ bắt Trọng Thức, ép thầy ta phải phế Tông lập Cán. Rồi Bằng huynh lại trở mặt, phế Cán lập Tông. Nhưng nghĩ cho cùng, kỳ thật là Bằng huynh chỉ tìm cách tiến thân, cũng muốn trở nên công, hầu, khanh, tướng ... Ðạt được rồi, song vẫn còn chưa thấy đủ, nay Bằng huynh lại mơ tưởng đến tước Vương. Bịa ra nào là «Nông chế», nào là « Chiến sách », Bằng huynh lấy chữ lòe đám kiêu binh, đem lợi riêng lung lạc dân tình, gây nên mầm chia rẽ, gieo họa cho cả nước.

Ngưng lại, Nhật nhìn về phía Kinh đang phừng phừng khói lửa, nói tiếp :

- Cứ theo lời Hàn Tử, chính sách pháp trị có hai điểm phải làm. Thứ nhất, pháp phải phổ biến ra để ai ai cũng biết. Thứ nhì, pháp phải nhất chấp, nghĩa là ai phạm vào cũng bị tội. Vừa đây, bất cứ cái gì cũng là pháp mà cũng là vô pháp, cứ theo cách suy diễn của Gia Thọ mà làm. Tệ hơn, đám kiêu binh đứng ra ngoài vòng pháp luật, rồi dùng bạo lực ứa hiếp cả thiên hạ, quả thật đã đi quá cái mức khó có ai tưởng tượng ra nổi ...Tội của Bằng huynh, Bật Trực và Gia Thọ chất cao như núi, cứ nghe tiếng oán thán trong bàn dân, tất hiểu ...

Bằng Vũ đột nhiên rú lên như thú cùng đường, đầu rúc vào sàn thuyền, mắt lạc đi, nhìn Du, nhìn Nhật, lưỡi ríu lại không nói được. Sợ quá, Bằng Vũ ỉa đái ra đầy khoang, miệng rên ư ử. Lạ chưa ? Lúc xưa chẳng có gì trong tay, Vũ hiên ngang chẳng kể chi đến cái chết trước mặt Tế Lý. Thế mà nay, có quyền có lực trong tay để ép Vua chèn Chúa, Vũ lại hóa ra khiếp nhược, khóc hu hu xin tha.

Thuyền cập bến. Nhật lên trước, rồi đưa tay kéo Du theo. Nhìn người lái đò cong lưng đẩy cho thuyền ra,
Du hỏi Nhật :

- Bây giờ ta đi đâu ?

Nhật nhắm mắt, tưởng ra trại Bùi Phong, song miệng lại đáp :

- ... chưa, chưa đi đâu hết !

Nói rồi, Nhật cởi hết mũ, miện, cân, đai ném hết xuống sông. Trần truồng như nhộng, Nhật lao người vào dòng nước, chồi lên hụp xuống, vừa bơi vừa hát :

“... Ới này sông ơi.!

Nước trong ta rửa giải mũ.

Nước đục ta rửa chân.

Nhưng chớ cạn.

Nhưng chớ kiệt..

Bởi nước cạn kiệt thì ta còn gì là ta...”

Nhật vẫy vùng ngụp lặn, sải tay bơi, rồi hụp xuống thật sâu, thật sâu cho đến độ buồng phổi căng tức ra đẩy Nhật trồi lên thở hít khí trời. Nhật lại lặn xuống, mắt mở, tưởng như nhìn thấy nào là Bố-già, là Sâm, là Huệ, là Tông ... vùn vụt trôi bên cạnh, tay cứ quờ quạng bám víu, miệng kêu cứu trong tiếng ì ầm chuyển động của dòng nước cuốn băng băng trong cơn thịnh nộ. Nhật bỗng thấy một người đàn bà đưa tay vẫy. Có phải là mẹ chàng, người quay lưng ở miếu Ba Cô trên Phố Hiến ? Chàng chỉ nhớ tiếng mẹ gọi. Gọi chàng với giọng nặng nhọc oan khiên. Những xoáy nước ở đâu nổi lên, vỡ ra, rồi lại hợp lại. Nhật nhận ra mặt Tế Lý, người bỏ mẹ đi lấy công chúa Ngọc Tĩnh con Chúa Trịnh Sâm để tìm đến danh vọng và quyền lực.

A, cái Ta, lời Trịnh Bồng đâu đó vẳng lên. Tưởng có Ta, nên tìm cái danh vọng cho Ta, cái quyền lực của Ta. Vì cái Ta của mình, Lý cam tâm phụ rẫy, bỏ mẹ chàng với cái bào thai trong bụng. Nước lại xoáy vòng làm mặt Tế Lý khổ sở nhăn nhó, chiếc cổ bị chém đứt máu loang đỏ trên mặt sông. Mắt nhìn chàng, miệng phì phào đòi lại thân mình chẳng biết là ai đã chôn cất ở đâu, khuôn mặt Lý dần dần nhòa nhạt đi, lẫn vào bóng cây ven sông, chìm xuống một vực sâu không có đáy. Cái Ta biến mất. Nó thoắt đến thoắt đi. Danh vọng, quyền lực, phú quí đi kèm cũng thoắt đi thoắt đến. Rồi cả giọt nước mắt và lời oán hờn của mẹ. Cả nỗi đau lòng của Toàn Nhật khi ném trả thanh kiếm Hoàng gia vào tay Lý, cắn răng không nhận gốc gác mình. Cả niềm ân hận dằn vặt Nhật từ mấy tháng vừa qua. Tất cả bỗng chốc hững đi như chưa hề có. Hay giả nếu có thì chỉ như một cơn ác mộng, bập bềnh rồi biến vào những bọt nước vỡ tan, trả mình lại cho lòng sông thản nhiên nhận chìm mọi điều ân oán. Ðột nhiên, tiếng ì ầm nhỏ dần đi. Dòng nước lại trở lại hiền hòa ôm Nhật vào lòng như bồng bế. Nhật nhô đầu ra khỏi mặt sông, hả miệng hét : “ Nước ơi, chớ cạn, chớ kiệt. Bởi nước cạn kiệt thì ta còn gì là ta... ”.

Lên bờ, Nhật mở cái tay nải bằng vải thô chàng mang theo từ lúc xuống trại Bùi Phong. Lôi ra ngắm nghía, rồi vuốt ve bộ quần áo thường dân nhuộm nâu có dăm miếng vá do chính tay mẹ nuôi chàng khâu cho, Nhật cảm động áp nó vào mặt mình. Nó thơm hương cốm tươi có thoảng mùi mồ hôi. Nó nhẹ tênh, khác hẳn bộ võ phục nặng nề chàng phải mang trên người từ ngày rời phố Hiến.

Tồng ngồng bước lên bờ, Nhật vuốt nước trên mặt, miệng hỏi Du « Xem ta đã sạch bụi Kinh Kỳ chưa ?»
Chẳng đợi trả lời, Nhật vươn vai ưỡn người, hít không khí tự do đầy lồng ngực, vui vẻ mặc quần áo thường dân vào. Bên kia sông, lửa vẫn bốc cao, khói bay lên nhuộm hồng những đám mây đang còn ngơ ngác sợ. Bên này, gió sông mát rượi mơn trớn những tấm hình hài đổ xuống bờ đê những chiếc bóng khổng lồ.
Bỏ lại phía sau Kinh Kỳ hừng hực cháy sáng một góc trời, hai người nhắm hướng Nam lên đường..Nam Giao

No comments:

Post a Comment