Sunday, August 13, 2017

Lịch sử phân chia Ấn Độ - Pakistan

Sự chia cắt Ấn Độ là quá trình chia tách Đế quốc Ấn Độ thuộc Anh[1] dẫn đến sự hình thành của các quốc gia có chủ quyềnlà Pakistan tự trị (sau này phân chia thành Cộng hòa Hồi giáo Pakistan và Cộng hòa Nhân dân Bangladesh) và Liên hiệp Ấn Độ (sau này là Cộng hòa Ấn Độ) vào ngày 15 tháng 8 năm 1947. "Sự chia cắt" ở đây không chỉ nói về sự phân tách tỉnh Bengal của Ấn Độ thuộc Anh thành Đông Pakistan và Tây Bengal (Ấn Độ), và các cuộc chia cắt tương tự khác của tỉnh Punjab thành Punjab (Tây Pakistan) và Punjab, Ấn Độ, mà còn nói đến sự phân chia trong các vấn đề khác, như Quân đội Ấn Độ thuộc Anh, dịch vụ công và các cơ quan hành chính, đường sắt, và ngân quỹ trung ương.
Trong những cuộc bạo loạn xảy ra trước việc phân chia khu vực Punjab, khoảng 200.000 đến 500.000 người đã bị chết trong những cuộc tàn sát mang tính chất báo thù.[2][3] UNHCR ước tính có 14 triệu người Hindu, Sikh, và Hồi giáo phải di chuyển khỏi nơi sinh sống; khiến nó trở thành cuộc di dân lớn nhất trong lịch sử loài người.[4][5][6]
Quá trình tách Bangladesh ra khỏi Pakistan vào năm 1971 không được tính trong thuật ngữ Sự chia cắt Ấn Độ, tương tự như vậy đối với sự phân tách trước đó của Miến Điện (nay là Myanma) khỏi sự quản lý của Ấn Độ thuộc Anh, và ngay cả sự phân tách xảy ra còn sớm hơn của Tích Lan (Sri Lanka ngày nay). Tích Lan từng là một phần của Bang Madras của Ấn Độ thuộc Anh từ năm 1795 đến năm 1798 cho đến khi nó trở thành một nước Thuộc địa Hoàng gia của Đế quốc. Miến Điện, bị người Anh sát nhập dần dần trong thời gian từ 1826 đến 1868 và trở thành một bộ phận của Ấn Độ thuộc Anh cho đến năm 1937, sau đó được quản lý trực tiếp bởi người Anh.[7] Miến Điện được trao trả độc lập vào ngày 4 tháng 1 năm 1948 còn Tích Lan là vào ngày 4 tháng 2 năm 1948. (Xem Lịch sử Sri Lanka và Lịch sử Miến Điện.)
Bhutan, Nepal  Maldives, những quốc gia còn lại của khu vực Nam Á ngày nay, hoàn toàn không bị ảnh hưởng bởi sự chia chắt này. Hai nước Nepal và Bhutan đã ký hiệp ước với người Anh để trở thành quốc gia độc lập, và chưa bao giờ là một phần của Đế quốc Ấn Độ thuộc Anh, do đó biên giới của họ không bị ảnh hưởng của cuộc chia cắt.[8] Quần đảo Maldives, trở thành đất bảo hộ của Hoàng gia Anh vào năm 1887 và sau đó giành được độc lập vào năm 1965, cũng không bị ảnh hưởng bởi cuộc chia cắt.

Chia cắt Bengal (1905)

Tỷ lệ người theo đạo Hindu năm 1909. 
Tỷ lệ người Hồi giáo năm 1909. 
Tỷ lệ người đạo Sikh, Phật và Jaina. 
Năm 1905, Toàn quyền Curzon, được một số người công nhận là một người thông minh và hăng hái, người đã có một kỷ lục ấn tượng về việc bảo tồn khảo cổ và tạo ra một nền hành chính hiệu quả trong nhiệm kỳ đầu, đến nhiệm kỳ thứ hai, chính ông là người đã chia khu vực hành chính lớn nhất của Ấn Độ thuộc Anh, Bang Bengal, thành hai tỉnh Đông Bengal và Assamvới đa số dân là người Hồi giáo và tỉnh Bengal với đa số dân theo đạo Hindu (tỉnh này ngày nay bao gồm Tây BengalBihār, Jharkhand và Odisha của Ấn Độ).[9] Quyết định Chia cắt Bengal của Curzon—một hành động được xem là cực kỳ tài tình về mặt hành chính, và được nhiều toàn quyền trước dự tính từ thời Toàn quyền William Bentinck, nhưng chưa bao giờ thực hiện—đã lật nền chính trị dân tộc chủ nghĩa sang một trang mới chưa từng có trước đó.[9] Thành phần quý tộc Hindu tại Bengal, nhiều người trong số họ sở hữu đất đai ở Đông Bengal và sau đó cho những nông dân đạo Hồi thuê lại, đã phản đối quyết định này một cách kịch liệt. Tầng lớp trung lưu Hindu tại Bengal chiếm số đông (Bhadralok), thì cảm thấy thất vọng với viễn cảnh dân Bengal sẽ dần dần bị áp đảo trong tỉnh Bengal mới bởi người đến từ Bihar và Oriya, cảm thấy hành động của Curzon là một sự trừng phạt đối với các quyết định chính trị của mình.[9] Nhiều cuộc phản đối mạnh mẽ quyết định của Curzon đã diễn ra dưới hình thức chủ yếu là chiến dịch Swadeshi ("dùng hàng Ấn") do người từng hai lần làm chủ tịch Quốc hội Surendranath Banerjee dẫn đầu và tẩy chay hàng hóa Anh. Một vài lần những người phản đối đã có những hành động bạo lực lộ liễu nhằm vào thường dân.[10] Tuy vậy, những hành động bạo lực không có hiệu quả, vì đa số những kế hoạch tấn công bị người Anh ngăn chặn từ đầu hoặc bị thất bại.[11] Những khẩu hiệu được sử dụng cho cả hai loại biểu tình là Bande Mataram (tiếng Bengal, nghĩa là: "Hoan hô Mẹ"), tựa đề của bài hát do Bankim Chandra Chatterjee sáng tác, nhắc đến hình tượng một thánh mẫu, người đứng lên vì Bengal, Ấn Độ, và vì thánh Kali (nữ thần) của Hindu.[12] Những cuộc biểu tình lan từ Calcutta đến các khu vực lân cận của Bengal khi các sinh viên được thụ hưởng nền giáo dục Anh trở về nhà ở các làng mạc và thị trấn.[13] Màu sắc tôn giáo trong câu khẩu hiệu và sự nổi giận chính trị xuất phát từ quyết định chia tách bắt đầu pha trộn khi những nhóm thanh niên, như Jugantar, tiến hành các vụ đánh bom tòa nhà chính quyền, và thực hiện những vụ cướp có vũ khí,[11] và ám sát các quan chức người Anh.[12] Vì Calcutta là thủ đô của đế quốc, cả sự nổi loạn lẫn câu khẩu hiệu đều nhanh chóng được cả nước biết đến.[12]
Những cuộc biểu tình chống chia cắt Bengal với thành phần tham gia đa số là người theo đạo Hindu đã khiến cho thành phần quý tộc theo đạo Hồi ở Ấn Độ lo ngại sẽ diễn ra một cuộc cải cách có lợi cho người Hindu chiếm đa số. Vào năm 1906, những người này diện kiến ông Toàn quyền mới Bá tước Minto và yêu cầu một khu vực riêng dành cho người Hồi giáo. Đồng thời, họ đòi hỏi một cơ quan đại diện lập pháp tương xứng, phản ánh địa vị thống trị cũ của họ cũng như lịch sử trung thành của họ với người Anh. Việc này dẫn tới việc thành lập Liên đoàn Hồi giáo Toàn Ấn vào tháng 12 năm 1906 tại Dacca. Mặc dù Curzon khi đó đã từ chức vì có mâu thuẫn với người điều hành quân đội Kitchener và đã trở về nước Anh, Liên đoàn này vẫn ủng hộ kế hoạch phân tách của ông. Vị trí của giới quý tộc Hồi giáo, thể hiện bằng các vị trí khác nhau trong Liên đoàn, đã được hình thành trong ba thập kỷ trước đó, bắt đầu từ cuộc Tổng điều tra dân số Ấn Độ thuộc Anh năm 1871, lần đầu tiên ước tính được dân số của những vùng có đa số dân theo đạo Hồi.[14] (Về phần mình, ý muốn ve vãn người Hồi giáo ở Đông Bengal của Curzon xuất phát từ sự lo lắng của người Anh kể từ cuộc điều tra năm 1871—do lịch sử đấu tranh chống người Anh của người Hồi giáo trong Cuộc binh biến 1857 và Chiến tranh Anh-Afghanistan lần hai.[14]) Trong ba thập niên kể từ cuộc tổng điều tra, các lãnh đạo Hồi giáo ở các khu vực phía bắc Ấn Độ đã vài lần chứng kiến sự thù địch của một số tổ chức xã hội và chính trị mới của người Hindu.[14] Ví dụ như nhóm Arya Samaj không chỉ ủng hộ các Nhóm Bảo vệ Bò mang tính kích động,[15] mà còn do số lượng người Hồi giáo được biết đến qua cuộc Điều tra 1871, tổ chức các sự kiện "hoàn đạo" với mục đích đón chào người Hồi giáo trở về lại với đạo Hindu.[14] Tại Uttar Pradesh, những người Hồi giáo trở nên lo lắng, khi vào cuối thế kỷ 19, các đại diện chính trị dần tăng lên, trao cho người Hindu nhiều quyền lực hơn, và người Hindu trở nên tích cực hơn về chính trị trong cuộc tranh cãi Hindu-Urdu và những cuộc bạo lực chống giết bò vào năm 1893.[16] Năm 1905, khi Tilak và Lajpat Rai nỗ lực chạy đua vào vị trí lãnh đạo trong Quốc hội, và chính Quốc hội cũng biểu tình dưới biểu tượng Kali, nỗi lo sợ của người Hồi giáo càng tăng lên.[14] Nhiều người Hồi giáo vẫn chưa quên rằng câu khẩu hiệu trong các cuộc biểu tình, "Bande Mataram," xuất hiện lần đầu trong tiểu thuyết Anand Math trong đó người Hindu đã chiến đấu chống lại những kẻ xâm lăng theo đạo Hồi.[17] Cuối cùng, nhóm quý tộc người Hồi, trong số đó có Dacca NawabKhwaja Salimullah, người tổ chức cuộc họp đầu tiên của Liên đoàn tại tư dinh ở Shahbag, nhận ra rằng việc ra đời một tỉnh mới với đa số người Hồi giáo sẽ có lợi trực tiếp cho những người Hồi giáo đang có tham vọng chính trịindiapak
70 năm trước, Anh quốc rút khỏi Ấn Độ, thuộc địa được coi là viên ngọc quý trên vương miện của Đế chế Anh.
Vào tháng Tám 1947, hai quốc gia tự trị đã ra đời - Ấn Độ cho đại đa số người Ấn Độ giáo và Pakistan cho đại đa số người Hồi giáo.
Sự chia cắt này dẫn đến một trong những thảm họa bi thương nhất của Thế kỷ 20.
Khi còn là thuộc địa của Anh, Ấn Độ là quê hương của gần 400 triệu người - người Ấn Độ giáo chiếm đa số, còn người Hồi giáo chiếm khoảng một phần tư dân số.
Ông Nehru, thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, phản đối chuyện chia cắt đất nước theo tôn giáo.
Nhưng ông Jinnah, người sau đó trở thành thống đốc đầu tiên của Pakistan, khăng khăng đòi có một quốc gia riêng cho những người Hồi giáo.
Sau khi biên giới giữa hai nước được vạch định năm 1947, Jinnah phàn nàn ông chỉ được một nước Pakistan 'bị mối mọt cắn' - với hai cánh cách xa nhau hai ngàn km và lãnh thổ của Ấn Độ ở giữa. Sau đó, vào năm 1971, phần Đông Pakistan trở thành quốc gia độc lập Bangladesh.
Dù xung đột giữa giữa người Ấn Độ giáo và người Hồi Giáo đã bùng nổ từ trước khi có sự phân chia, nhưng bi kịch lớn đã xảy ra vào thời điểm chia cắt biên giới.
Hơn 12 triệu người tỵ nạn di chuyển từ Ấn Độ sang Pakistan và ngược lại. Khoảng nửa cho tới một triệu người thuộc nhiều cộng đồng bị sát hại và hàng chục ngàn phụ nữ bị bắt cóc.
Quan hệ Ấn Độ - Pakistan tới giờ vẫn chưa phục hồi sau thảm họa này và xung đột tranh giành thung lũng Kashmir vẫn chưa được giải quyết.

Di sản bạo lực của cuộc chia cắt Ấn Độ – Pakistan

Tháng 8 năm 1947, khi cuối cùng người Anh cũng rời khỏi Ấn Độ sau hơn 300 năm ở đây, tiểu lục địa Ấn Độ bị chia cắt thành hai quốc gia-dân tộc độc lập: Ấn Độ với người Hindu chiếm đa số, và Pakistan với đa số người Hồi giáo. Lập tức, một trong những đợt di cư lớn nhất trong lịch sử loài người bắt đầu khi hàng triệu người Hồi giáo di dời sang Tây và Đông Pakistan (Đông Pakistan nay là Bangladesh) trong khi hàng triệu người theo đạo Hindu và đạo Sikh hướng về phía ngược lại. Hàng trăm ngàn người đã không thể sống sót trong chuyến đi.
Khắp tiểu lục địa Ấn Độ, các cộng đồng vốn chung sống với nhau trong gần một thiên niên kỷ đã tấn công nhau trong một đợt bùng nổ bạo lực sắc tộc đáng sợ, một bên là người Hindu và người Sikh và một bên là người Hồi giáo – một cuộc diệt chủng lẫn nhau bất ngờ và cũng chưa có tiền lệ.
Ở Punjab và Bengal – các tỉnh nằm dọc biên giới lần lượt với Tây và Đông Pakistan – cuộc thảm sát diễn ra hết sức dữ dội, với những cuộc tàn sát, đốt phá, ép buộc cải đạo, bắt cóc hàng loạt, và bạo lực tình dục một cách man rợ. Khoảng 75 ngàn phụ nữ đã bị cưỡng hiếp, và nhiều người sau đó đã bị làm biến dạng hoặc bị xé xác.
Trong cuốn Midnight’s Furies (Houghton Mifflin Harcourt), tác phẩm lịch sử mang nhịp độ nhanh về Cuộc chia cắt và hậu quả của nó, Nisid Hajari viết, “Những băng nhóm giết người đã đốt cháy nhiều ngôi làng, chém chết đàn ông và trẻ em trong khi lôi những cô gái trẻ đi cưỡng hiếp. Một số binh sĩ và nhà báo người Anh đã chứng kiến các trại tử thần của Đức Quốc xã nói rằng sự tàn bạo của Cuộc chia cắt còn tệ hơn thế: nhiều phụ nữ có thai bị cắt vú và mổ bụng moi thai; nhiều em bé được phát hiện bị nướng cháy đen trên những chiếc xiên.”
Đến năm 1948, khi cuộc đại di cư sắp kết thúc, hơn 15 triệu người đã phải rời bỏ quê hương, và một đến hai triệu người đã chết. So sánh nó với các trại tử thần không phải là quá xa vời như nhiều người nghĩ. Cuộc chia cắt đã trở thành trọng tâm bản sắc hiện đại của tiểu lục địa Ấn Độ, giống như Holocaust đóng vai trò tương tự với bản sắc của người Do Thái, để lại dấu ấn đau đớn về những ký ức bạo lực đến mức không thể tưởng tượng được trong ý thức của khu vực. Sử gia danh tiếng người Pakistan Ayesha Jalal đã gọi Cuộc chia cắt là “sự kiện lịch sử trọng tâm của Nam Á thế kỷ 20.” Bà viết, “[Là] một thời khắc quyết định không có cả khởi đầu lẫn kết thúc, cuộc chia cắt vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến cách mà người dân và các quốc gia Nam Á hậu thuộc địa định hình quá khứ, hiện tại, và tương lai.”
Sau Thế chiến II, Anh đơn giản là đã không còn những nguồn lực để kiểm soát tài sản đế quốc lớn nhất của mình, và họ rút khỏi Ấn Độ một cách vội vã, lộn xộn, và được tổ chức một cách vụng về. Từ góc nhìn của những người thực dân ra đi, nó phần nào đã khá thành công. Mặc dù giai đoạn cai trị Ấn Độ của người Anh được đặc trưng bởi các cuộc nổi dậy bạo lực và những đợt đàn áp hung bạo, quân đội Anh đã rút quân mà không tốn một viên đạn và chỉ tổn thất bảy người. Nhưng mức độ hung bạo của cuộc tắm máu sau đó lại là điều không ai tưởng tượng được.
Câu hỏi vì sao nền văn hóa đa dạng và pha trộn sâu sắc của Ấn Độ lại sụp đổ nhanh chóng như thế đã sản sinh một lượng văn liệu lớn. Sự phân cực giữa người Hindu và người Hồi giáo diễn ra chỉ trong một vài thập niên của thế kỷ 20, nhưng đến giữa thế kỷ 20 nó đã toàn diện đến mức nhiều người ở cả hai bên đều tin rằng tín đồ của hai tôn giáo không thể chung sống một cách hòa bình. Gần đây, một loạt tác phẩm mới đã thách thức 70 năm sáng tác thần thoại mang tính dân tộc chủ nghĩa. Cũng có những nỗ lực rộng khắp nhằm ghi lại những ký ức truyền khẩu về Cuộc chia cắt trước khi thế hệ những người đã trải qua nó vốn đang ngày càng rơi rụng dần đem ký ức của mình về thế giới bên kia.
***
Các cuộc chinh phục Ấn Độ đầu tiên của người Hồi giáo diễn ra từ thế kỷ thứ 11, với việc chiếm giữ Lahore vào năm 1021. Những người Turk đã Ba Tư hóa đến từ khu vực giờ là miền trung Afghanistan giành Delhi khỏi tay những người Hindu thống trị vào năm 1192. Đến năm 1323, họ đã thiết lập một đế chế Hồi giáo trải rộng đến Madurai, gần cực nam bán đảo, và cũng có những vương quốc Hồi giáo khác trải rộng từ Gujarat ở miền Tây đến Bengal ở miền Đông.
Ngày nay, những cuộc xâm lược này thường được coi là do “người Hồi giáo” tiến hành, nhưng những ghi chép tiếng Phạn thời trung cổ không xác định những người xâm lược Trung Á bằng cách đó. Thay vào đó, những người mới đến được xác định bằng nguồn gốc ngôn ngữ và dân tộc, điển hình nhất là Turushka – người Turk – và điều này gợi ý rằng họ không thường được nhìn nhận bằng tôn giáo của mình. Tương tự, mặc dù bản thân các cuộc xâm lược đầy chém giết và tàn phá những địa danh của người Hindu và Phật giáo, Ấn Độ lại nhanh chóng đón nhận và biến đổi những người mới đến. Chỉ trong vài thế kỷ, một nền văn hóa lai giữa Ấn Độ giáo và Hồi giáo xuất hiện, cùng với các ngôn ngữ lai – nổi bật nhất là tiếng Deccani và Urdu – pha trộn những thổ ngữ bắt nguồn từ tiếng Phạn của Ấn Độ với tiếng Thổ, Ba Tư, và Ả Rập.
Cuối cùng, khoảng một phần năm dân số Nam Á bắt đầu tự xem mình là người Hồi giáo. Những đạo sĩ thần bí dòng Sufi gắn với sự truyền bá của Hồi giáo coi những cuốn sách kinh của đạo Hindu là những tác phẩm khởi nguồn từ thần thánh. Một số còn luyện yoga theo các tu sĩ Sadhu Hindu, như xát tro lên người hay treo ngược người khi cầu nguyện. Trong truyền thống dân gian ở làng, cách hành đạo của hai tôn giáo gần như trở thành một. Người Hindu thăm mộ của những đạo sĩ Sufi và người Hồi giáo dâng lễ vật tại các đền thờ Hindu. Những người theo dòng Sufi đặc biệt đông ở Punjab và Bengal, nơi có rất nhiều nông dân cải đạo và cũng là những khu vực sẽ chứng kiến bạo lực tồi tệ nhất trong vài thế kỷ sau.
Sự pha trộn văn hóa diễn ra xuyên suốt tiểu lục địa. Trong những văn bản thời trung cổ của đạo Hindu từ Nam Ấn Độ, Sultan (Quốc vương) của Delhi đôi khi được nhắc đến như hiện thân của thần Vishnu. Vào thế kỷ 17, thái tử Dara Shikoh của đế quốc Mughal đã cho dịch Bhagavad Gita, có lẽ là văn bản trọng tâm của Hindu giáo, sang tiếng Ba Tư, và viết một nghiên cứu về đạo Hindu và đạo Hồi, “Sự pha trộn của hai đại dương,” nhấn mạnh sự tương đồng của hai tôn giáo. Không phải mọi nhà cai trị của đế quốc Mughal đều có tư tưởng cởi mở như vậy. Người Hindu vẫn chưa quên những tội ác của người em mù quáng và khắt khe Aurangzeb của Dara. Nhưng vị hoàng đế cuối cùng của Mughal, lên ngôi năm 1837, đã viết rằng đạo Hindu và đạo Hồi “chia sẻ cùng bản chất,” và triều đại của ông đã noi theo lý tưởng này ở mọi cấp độ.
Trong thế kỷ 19, Ấn Độ vẫn là một nơi mà truyền thống, ngôn ngữ, và các nền văn hóa có tầm quan trọng hơn tôn giáo, và là nơi mà người dân không  xác định bản sắc của mình dựa trên tôn giáo. Một thợ dệt Hồi giáo dòng Sunni ở Bengal sẽ có nhiều điểm chung về ngôn ngữ, quan điểm, và thích ăn cá như một người Hindu cùng xứ hơn là với một người Hồi giáo dòng Shia ở Karachi hay một người Pashtun dòng Sufi ở biên giới Tây Bắc.
***
Nhiều tác giả đã đổ lỗi một cách rất thuyết phục lên người Anh vì sự xói mòn của những truyền thống chung nói trên. Như Alex von Tunzelmann nhận xét trong cuốn sử Indian Summer của bà, khi “người Anh bắt đầu định nghĩa các ‘cộng đồng’ dựa trên bản sắc tôn giáo và gán sự đại diện chính trị cho nó, nhiều người Ấn Độ ngừng chấp nhận sự đa dạng trong tư tưởng của chính họ và bắt đầu tự hỏi mình thuộc về nhóm nào.” Học giả người Anh Yasmin Khan, trong cuốn sử The Great Partition được ca ngợi của bà, đánh giá rằng Cuộc chia cắt “là minh chứng cho sự dại dột của đế chế, thứ làm tan vỡ sự tiến hóa của cộng đồng, bóp méo những quỹ đạo của lịch sử, và cưỡng ép sự hình thành nhà nước một cách bạo lực từ các cộng đồng mà nếu không chúng đáng lẽ đã đi theo những con đường khác – và không thể biết được.
Tuy nhiên, các đánh giá khác nhấn mạnh rằng Cuộc chia cắt không hẳn xuất hiện một cách tất yếu từ một chính sách chia để trị, mà chủ yếu là một bước phát triển ngẫu nhiên. Đến tận năm 1940, người ta vẫn có thể tránh được Cuộc chia cắt. Một số tác phẩm cũ hơn, như tác phẩm của sử gia Patrick French, trong Liberty or Death, cho thấy sức ảnh hưởng của những xung đột cá nhân giữa các chính trị gia trong thời kỳ này, đặc biệt là giữa Muhammad Ali Jinnah, lãnh đạo của Đảng Liên đoàn Hồi giáo, với Mohandas Gandhi và Jawaharlal Nehru, hai lãnh đạo nổi bật nhất của Đảng Quốc Đại do người Hindu chiếm ưu thế. Cả ba đều là những luật sư Anh hóa đã học ít nhất một thời gian ở Anh Quốc. Jinnah và Gandhi đều là người Gujarat. Họ có khả năng trở thành đồng minh thân cận. Nhưng đến đầu những năm 1940 mối quan hệ của họ đã trở nên tồi tệ đến mức gần như không thể thuyết phục hai người ngồi chung một phòng.
Tính cách của Jinnah, người chịu trách nhiệm lớn nhất trong việc xây dựng Pakistan, là trung tâm của các cuộc tranh luận. Theo những mô tả mang tính dân tộc chủ nghĩa Ấn Độ, ông là nhân vật phản diện của câu chuyện; đối với người Pakistan, ông là người cha của dân tộc. Như French chỉ ra, “Cả hai bên đều đặc biệt không muốn nhìn nhận ông như một con người thực sự, người Pakistan thu hẹp ông thành một tấm ảnh trên những tờ tiền trong trang phục Hồi giáo nghiêm trang.” Một trong những điểm mạnh của tác phẩm lịch sử mới của Hajari là bức chân dung cân bằng hơn về Jinnah. Ông chắc chắn là một nhà đàm phán cứng rắn và quyết tâm với một cá tính lạnh lùng; chính trị gia Đảng Quốc Đại Sarojini Naidu từng nói đùa rằng bà phải khoác áo lông thú khi có sự hiện diện của ông. Nhưng Jinnah chủ yếu là một kiến trúc sư đáng ngạc nhiên của Cộng hòa Hồi giáo Pakistan. Là một người thế tục chủ nghĩa trung thành, ông uống whiskey, hiếm khi đến nhà thờ Hồi giáo, cạo sạch râu và ăn mặc phong cách, ông thích những bộ âu phục và cà vạt lụa được may cắt một cách đẹp đẽ ở đường Savile Row. Đáng chú ý, ông đã quyết định kết hôn với một phụ nữ không theo đạo Hồi, cô con gái quyến rũ của một doanh nhân người Parsi. Bà nổi tiếng với những bộ sari khêu gợi và có lần còn mang sandwich giăm bông cho chồng vào ngày bầu cử.
Không muốn đưa tôn giáo vào chính trị Nam Á, Jinnah rất phẫn nộ với cách Gandhi đưa sự nhạy cảm tinh thần vào thảo luận chính trị, và Jinnah từng nói với Gandhi, theo lời kể của một thống đốc thuộc địa, rằng “pha trộn tôn giáo và chính trị như cách ông ta làm là một tội ác.” Ông tin rằng làm như vậy sẽ kích động những phần tử sô vanh chủ nghĩa quá khích ở tất cả các bên. Trên thực tế, ông đã dùng phần lớn thời gian đầu của sự nghiệp chính trị của mình, trong khoảng thời gian diễn ra Thế chiến I, để cố gắng đưa Đảng Liên đoàn Hồi giáo và Đảng Quốc Đại xích lại gần nhau. “Tôi đã nói với những người bạn Hồi giáo của tôi: Đừng sợ!” ông nói, và ông mô tả ý tưởng về sự thống trị của người Hindu như “một ông kẹ mà những kẻ thù của các bạn đặt trước mặt để hù dọa các bạn, để các bạn sợ đến mức không thể hợp tác và đoàn kết, những điều tối cần thiết đối với việc thành lập chính phủ tự chủ.” Năm 1916, khi còn thuộc cả hai đảng, Jinnah đã thuyết phục thành công hai đảng đệ trình lên người Anh một tập hợp yêu sách chung, Hiệp ước Lucknow. Ông được ca ngợi là “Đại sứ của sự thống nhất Hindu-Hồi giáo.”
Nhưng Jinnah cảm thấy bị lu mờ trước sự trỗi dậy của Gandhi và Nehru sau Thế chiến I. Tháng 12 năm 1920, ông bị la ó trong một sự kiện của Đảng Quốc Đại khi ông nhất quyết gọi đối thủ của mình là “Ông Gandhi” thay vì danh hiệu tinh thần của ông, Mahatma – Linh hồn Vĩ đại. Trong những năm 1920 và 1930, sự thù ghét giữa hai người ngày càng gia tăng, và đến năm 1940 Jinnah đã dẫn dắt Đảng Liên đoàn Hồi Giáo đòi hỏi một quê hương riêng biệt cho người Hồi giáo thiểu số ở Nam Á. Đây là một lập trường mà ông trước kia vẫn phản đối, và, theo Hajari, ông “đã trấn an những người đồng nghiệp bất an rằng Cuộc chia cắt chỉ là một con bài mặc cả” với tư cách cá nhân. Ngay cả khi những đòi hỏi của ông về việc thành lập Pakistan đã được đáp ứng, ông vẫn nhấn mạnh rằng đất nước mới của ông sẽ đảm bảo tự do biểu đạt tôn giáo. Tháng 8 năm 1947, trong bài phát biểu đầu tiên trước Quốc hội Lập hiến Pakistan, ông nói, “Mọi người có thể thuộc bất kỳ tôn giáo, đẳng cấp, tín ngưỡng nào – miễn sao nó không liên quan đến việc vận hành đất nước.” Nhưng tất cả đã quá muộn: khi bài phát biểu cất lên, bạo lực giữa người Hồi giáo và Hindu đã vượt khỏi khả năng kiểm soát của bất cứ ai.
***
Người Hindu và Hồi Giáo bắt đầu quay lưng với nhau trong sự hỗn loạn mà Thế chiến II gây ra. Năm 1942, khi người Nhật chiếm Singapore và Rangoon và đang tiến quân nhanh chóng đến Ấn Độ thông qua Miến Điện, Đảng Quốc Đại bắt đầu một chiến dịch bất tuân dân sự, Phong trào Rời khỏi Ấn Độ, và những người lãnh đạo của nó, bao gồm cả Gandhi và Nehru, đã bị bắt. Trong khi họ ở trong tù, Jinnah, người tự nhận mình là một đồng minh trung thành của người Anh, củng cố ý kiến rằng ông là sự bảo hộ tốt nhất cho những lợi ích của người Hồi giáo trước sự thống trị của người Hindu. Đến khi chiến tranh kết thúc và các lãnh đạo Đảng Quốc Đại được thả, Nehru nghĩ rằng Jinnah đại diện cho “một ví dụ điển hình của sự thiếu vắng hoàn toàn một tinh thần văn minh,” và Gandhi gọi ông là một “tên điên” và “một thiên tài xấu xa.”
Từ đó trở đi, bạo lực đường phố giữa người Hindu và người Hồi giáo bắt đầu leo thang. Người ta bắt đầu tự di dời hoặc buộc phải đi khỏi những cộng đồng hỗn hợp để tìm nơi trú ngụ trong những khu ổ chuột ngày càng phân cực. Căng thẳng thường bị thổi bùng lên bởi những lãnh đạo chính trị địa phương và khu vực. H. S. Suhrawardy, vị thủ hiến tàn nhẫn ở bang Bengal của Đảng Liên đoàn Hồi Giáo, đã kích động nổi loạn chống người Hindu ở bang mình và viết trên một tờ báo rằng “bản thân đổ máu và rối loạn không nhất thiết là những điều ác, nếu phải dùng đến vì một mục đích cao quý.”
Chuỗi tàn sát mang tính tôn giáo rộng khắp đầu tiên diễn ra ở Calcutta năm 1946, một phần là do sự kích động của Suhrawardy. Cuốn sử của Von Tunzelmann kể lại những tội ác mà nhà văn Nirad C. Chaudhuri chứng kiến ở đó. Chaudhuri mô tả một người bị trói vào cột điện với một lỗ khoan nhỏ trên hộp sọ, để người đó chảy máu đến chết thật chậm. Ông cũng viết về một đám đông người Hindu lột quần áo của một cậu bé 14 tuổi để xác nhận cậu bé đã được cắt bao quy đầu, và vì thế là người Hồi giáo. Sau đó cậu bé bị ném xuống một cái ao và nhấn chìm bằng những thanh tre – “một kỹ sư người Bengal được giáo dục ở Anh tính thời gian thằng bé chết bằng đồng hồ đeo tay Rolex của ông ta, và tự hỏi rằng cuộc sống của một thằng khốn Hồi giáo thì khó khăn đến mức nào.” Năm ngàn người đã bị giết. Phóng viên ảnh người Mỹ Margaret Bourke-White, từng chứng kiến việc mở cửa một trại tập trung của Đức Quốc xã một năm trước, viết rằng đường phố của Calcutta “trông giống trại Buchenwald.”
Khi bạo loạn lan sang các thành phố khác và số người thương vong leo thang, các lãnh đạo Đảng Quốc Đại, những người ban đầu phản đối Cuộc chia cắt, bắt đầu xem nó như cách thức duy nhất để loại bỏ Jinnah phiền hà và Đảng Liên đoàn Hồi giáo của ông. Trong một bài phát biểu hồi tháng 4 năm 1947, Nehru nói, “Tôi muốn những người đứng ngáng đường chúng ta phải tránh sang đường của họ.” Tương tự, người Anh nhận ra họ đã mất hoàn toàn kiểm soát và bắt đầu đẩy nhanh chiến lược rút lui của mình. Chiều ngày 20 tháng 2 năm 1947, Thủ tướng Anh Clement Atlee tuyên bố trước Quốc hội rằng sự cai trị của Anh sẽ chấm dứt vào “một ngày không trễ hơn tháng 6 năm 1948.” Nếu Jinnah và Nehru có thể hòa giải thì khi đó quyền lực sẽ được chuyển giao cho “một hình thức nào đó của chính quyền trung ương Ấn Độ thuộc Anh.” Nếu không thì họ sẽ chuyển giao quyền lực “theo những cách thức khác có vẻ hợp lý nhất và vì lợi ích tốt nhất của người dân Ấn Độ.”
***
Tháng 3 năm 1947, một hoàng thân sang trọng tên là Louis Mountbatten bay đến Delhi với tư cách tổng đốc cuối cùng của Anh, với nhiệm vụ chuyển giao quyền lực và rời khỏi Ấn Độ càng nhanh càng tốt. Một loạt cuộc gặp tai hại với một Jinnah không khoan nhượng nhanh chóng thuyết phục Mounbatten rằng lãnh đạo của Liên đoàn Hồi Giáo là “một ca tâm thần,” và không thể đàm phán. Lo rằng nếu ông không hành động nhanh chóng thì nước Anh, như Hajari viết, rốt cuộc sẽ là “trọng tài cho một cuộc nội chiến,” Mountbatten phải sử dụng tính cách lôi cuốn đáng kể của mình để thuyết phục tất cả các bên đồng ý rằng Chia cắt là sự lựa chọn duy nhất còn lại.
Đầu tháng 6, Mountbatten khiến mọi người choáng váng khi thông báo rằng ngày 15 tháng 8 năm 1947 sẽ là ngày chuyển giao quyền lực – mười tháng sớm hơn dự kiến. Lý do cho sự vội vã này vẫn là đề tài tranh luận, nhưng có khả năng Mountbatten muốn buộc các bên đang tranh cãi nhận ra rằng họ đang đâm đầu vào một vách đá bè phái. Tuy nhiên, vội vã chỉ làm trầm trọng thêm hỗn loạn. Cyril Radcliffe, thẩm phán người Anh được phân công vẽ các đường biên giới cho hai nhà nước mới, chỉ được giao 40 ngày để vẽ lại bản đồ Nam Á. Cuối cùng các đường biên giới mới được công bố hai ngày sau khi Ấn Độ độc lập.
Không bên tranh chấp nào hài lòng với thỏa hiệp mà Mountbatten buộc lên họ. Jinnah, người thành công trong việc lập nên một quốc gia mới, coi quốc gia bị cắt ra mà ông được nhận – những mảnh đất ở cực Đông và Tây của Ấn Độ, tách biệt bởi một ngàn dặm lãnh thổ Ấn Độ – là một vùng đất “tàn phế, bị cắt xén và sâu mọt” trong đất nước mà ông đã đấu tranh để có được. Ông cảnh báo rằng sự chia cắt Punjab và Bengal “sẽ gieo mầm cho rắc rối nghiêm trọng trong tương lai.”
Tối ngày 14 tháng 8 năm 1947, tại Dinh Tổng đốc ở New Delhi, Mounbatten và vợ ông thư giãn bằng cách xem một bộ phim của Bob Hope, “My Favourite Brunette.” Cách đó không xa, dưới chân Đồi Raisina, tại Quốc hội Lập hiến Ấn Độ, Nehru đứng lên để bắt đầu bài diễn văn nổi tiếng nhất của ông. “Cách đây nhiều năm dài, chúng ta đã có một cuộc hẹn với định mệnh,” ông tuyên bố. “Lúc nửa đêm, khi thế giới đang ngủ, Ấn Độ sẽ thức dậy với cuộc sống và tự do.”
Nhưng bên ngoài những mảnh đất được canh phòng nghiêm ngặt của New Delhi, nỗi kinh hoàng đã diễn ra. Cũng buổi tối đó, khi những quan chức người Anh còn lại ở Lahore lên đường đến nhà ga xe lửa, họ phải đi qua những đường phố rải rác xác chết. Trên sân ga, họ chứng kiến cảnh các nhân viên nhà ga xịt rửa những vũng máu. Mấy tiếng trước, một nhóm người Hindu đang trốn chạy khỏi thành phố đã bị một đám đông người Hồi giáo sát hại khi họ đang ngồi chờ xe lửa. Khi chuyến tàu tốc hành Bombay rời Lahore và bắt đầu hành trình về phía Nam, các quan chức có thể thấy Punjab chìm trong lửa, lửa bốc lên từ làng này đến làng khác.
Điều diễn ra tiếp theo, đặc biệt là ở Punjab, tâm điểm của bạo lực, là một trong những thảm kịch lớn nhất của con người trong thế kỷ 20. Như Nisid Hajari viết, “Những đoàn người tị nạn khốn cùng trốn chạy bạo lực kéo dài đến hơn 50 dặm. Khi những người nông dân lê bước một cách mệt mỏi, đám du kích có súng nhào ra khỏi các cánh đồng cây cao bên đường và giết họ như giết cừu. Những đoàn xe lửa đặc biệt chở người tị nạn, nhồi nhét đến quá tải từ lúc khởi hành, bị phục kích liên tục trên đường đi. Thường thì những đoàn xe đó vượt qua biên giới trong sự im lặng như đưa đám, máu rỉ xuống qua cửa toa xe.”
Chỉ trong vài tháng, cảnh quan Nam Á đã thay đổi một cách không thể vãn hồi. Năm 1941, Karachi, được chỉ định là thủ đô đầu tiên của Pakistan, có 47,6% người Hindu. Delhi, thủ đô của Ấn Độ độc lập, có một phần ba người Hồi giáo. Đến cuối những năm 1940, gần như tất cả người Hindu ở Karachi đã di tản, trong khi 200 ngàn người Hồi giáo đã bị đuổi khỏi Delhi. Những thay đổi trong vài tháng đó vẫn không thể xóa nhòa sau 70 năm.
***
Hơn 20 năm trước, tôi đến thăm tiểu thuyết gia Ahmed Ali. Ali là tác giả cuốn Twilight in Delhi, xuất bản năm 1940 với sự hỗ trợ của Virginia Woolf và E. M. Forster, và có thể vẫn là tác phẩm hay nhất viết về thủ đô Ấn Độ. Ali lớn lên trong thế giới đa sắc tộc của Delhi cũ, nhưng khi tôi đến thăm thì ông đang sống lưu vong ở Karachi. “Nền văn minh của Delhi hình thành từ sự hòa trộn giữa hai nền văn hóa, Hindu và Hồi giáo,” ông nói với tôi. Giờ “Delhi đã chết… Tất cả những gì làm Delhi đặc biệt đã bị nhổ bật rễ và phân tán.” Ông đặc biệt buồn rầu vì sự tinh túy của tiếng Urdu ở Delhi đã bị phá hủy: “Bây giờ ngôn ngữ đã thu hẹp lại. Nhiều từ đã biến mất.”
Giống như Ali, nhà văn Saadat Hasan Manto ở Bombay xem việc tạo dựng Pakistan là một thảm họa cả cá nhân lẫn cộng đồng. Thảm kịch của Cuộc chia cắt, ông viết, không phải là giờ đây có hai quốc gia thay vì một, mà là nhận thức được rằng “người dân của hai nước là nô lệ, nô lệ của sự cố chấp… nô lệ của cuồng si tôn giáo, nô lệ của bản năng thú vật và man rợ.” Sự điên cuồng mà ông đã chứng kiến và những đau đớn ông phải chịu đựng trên đường rời Bombay và đến Lahore đã ghi dấu ấn sâu đậm đến hết cuộc đời của ông. Nhưng nó cũng biến ông thành bậc thầy tối cao của truyện ngắn tiếng Urdu. Trước Chia cắt, Manto là một người viết tiểu luận, nhà biên kịch, và nhà báo với thành công nghệ thuật nhất định. Sau đó, trong vài năm sáng tạo điên cuồng, ông trở thành một nhà văn đáng được so sánh với Chekhov, Zola, và Maupassant – những tác giả ông đã dịch và đón nhận như những hình mẫu. Mặc dù những tác phẩm của ông vẫn ít được biết đến bên ngoài Nam Á, một số bản dịch chỉn chu mới – do Astish Taseer, Matt Reeck, và Aftab Ahmad thực hiện – hứa hẹn sẽ đem ông đến với nhiều độc giả hơn.
Như được sáng tỏ gần đây trong cuốn The Pity of Partition của Ayesha Jalal – Jalal là cháu của Manto – ông trăn trở về logic của Cuộc chia cắt. “Mặc dù đã cố gắng,” ông viết, “tôi vẫn không thể nào tách biệt Ấn Độ với Pakistan, và Pakistan với Ấn Độ.” Ai, ông hỏi, sẽ sở hữu nền văn học được viết trong Ấn Độ thống nhất? Mặc dù phải đối mặt với chỉ trích và kiểm duyệt, ông vẫn viết một cách ám ảnh về bạo lực tình dục đi cùng Cuộc chia cắt. “Khi nghĩ đến những người phụ nữ được giải cứu, tôi chỉ nghĩ đến những cái bụng bầu – chuyện gì sẽ xảy ra với những cái bụng bầu đó?” ông hỏi. Những đứa trẻ ra đời như vậy “sẽ thuộc về Pakistan hay là Hindustan?”
Nét đặc trưng nhất trong tác phẩm của Manto là, bất chấp những cảm xúc của mình, ông không bao giờ phán xét. Thay vào đó, ông thúc giục chúng ta hãy cố gắng hiểu những gì đang diễn ra trong tâm trí của tất cả những nhân vật của ông, những kẻ giết người cũng như các nạn nhân, những kẻ cưỡng hiếp cũng những người bị cưỡng hiếp. Trong truyện ngắn “Colder Than Ice,” chúng ta bước vào phòng ngủ của Ishwar Singh, một kẻ giết người và cưỡng hiếp, mắc chứng bất lực kể từ khi hắn bắt cóc một cô gái Hồi giáo xinh đẹp. Khi hắn cố gắng giải thích nỗi khổ của hắn cho Kalwant Kaur, người tình hiện tại của hắn, hắn kể câu chuyện về việc phát hiện cô gái sau khi đột nhập vào nhà và sát hại gia đình của cô:
“Anh có thể cắt cổ cô ấy, nhưng anh đã không làm thế… Anh nghĩ cô ấy đã ngất, nên anh vác cô ấy đến một con kênh bên ngoài thành phố… Rồi anh đặt cô ấy xuống thảm cỏ, sau bụi cây và… thoạt đầu anh nghĩ anh sẽ vờn cô ấy một chút… nhưng rồi anh định làm luôn…”
“Rồi sao nữa?” cô hỏi.
“Anh đã làm chuyện đó… nhưng, nhưng…”
Giọng hắn chìm xuống.
Kalwant Kaur lắc người hắn dữ dội. “Rồi sao nữa?”
Ishwar Singh mở mắt. “Cô ấy đã chết… Anh đã khiêng một xác chết… một tảng thịt lạnh lẽo… jani, [em yêu] đưa tay em cho anh.”
Kalwant Kaur đặt tay cô lên tay hắn. Nó lạnh hơn băng.
Câu chuyện được ca ngợi nhất của Manto về Cuộc chia cắt, “Toba Tek Singh,” bắt đầu từ một tiền đề đơn giản, được trình bày trong những câu mở đầu:
Hai hoặc ba năm sau Cuộc chia cắt năm 1947, hai chính phủ Ấn Độ và Pakistan nghĩ đến việc trao đổi người tâm thần giống như cách họ đã làm với tội phạm. Người Hồi giáo tâm thần ở Ấn Độ sẽ được gửi sang Pakistan và người Sikh và người Hindu tâm thần trong các nhà thương ở Pakistan sẽ được bàn giao cho Ấn Độ.
Rất khó biết được đề xuất này có nghĩa lý gì hay không. Tuy nhiên, quyết định này đã được phê chuẩn ở bậc cao nhất của cả hai bên.
Chỉ một vài ngàn chữ trào phúng mơ hồ, Manto đã truyền đạt được rằng người điên lại tỉnh táo hơn những người quyết định đưa họ đi, và, như Jalal viết, “sự điên rồ của Cuộc chia cắt lớn hơn sự điên rồ của mọi bệnh nhân tâm thần cộng lại.” Truyện kết thúc với cảnh nhân vật chính cũng là nhan đề truyện kẹt giữa hai biên giới: “Đứng một bên, sau hàng rào kẽm gai, là những người tâm thần của Ấn Độ, và đứng bên kia, sau nhiều hàng rào kẽm gai hơn, là những bệnh nhân tâm thần của Pakistan. Ở giữa, trên một nhúm đất nhỏ không có tên, Toba Tek Singh nằm ở đó.”
Cuộc sống của Manto sau chia cắt tạo nên một đường song song bi thảm với sự điên rồ của các thể chế được mô tả trong “Toba Tek Singh.” Không được chào đón ở Pakistan, ông bị cộng đồng nhà văn theo khuynh hướng Marxist ở đất nước này cho là phản động. Sau khi xuất bản “Colder than Ice”, ông bị buộc tội khiêu dâm và bị phạt tù lao động khổ sai, dù sau được tha bổng khi kháng án thành công. Nhu cầu kiếm sống đã buộc ông vào một trạng thái siêu năng suất; một thời kỳ trong năm 1951, ông viết một cuốn sách mỗi tháng, với tốc độ một truyện ngắn mỗi ngày. Dưới sức ép này, ông rơi vào trầm cảm và nghiện rượu. Gia đình đưa ông vào một bệnh viện tâm thần để cố gắng giúp ông cai rượu, nhưng ông đã qua đời vì ảnh hưởng của rượu ở tuổi 42.
Cùng những yếu tố trớ trêu bi thảm trong những câu truyện của Manto và tâm trí dày vò của chính ông, thực tế của Cuộc chia cắt cũng không kém phần vô lý. Nghiên cứu xuất sắc gần đây của Vazira Zamindar, “The Long Partition and the Making of Modern South Asia,” mở đầu bằng câu chuyện về Ghulam Ali, một người Hồi giáo đến từ Lucknow, một thành phố ở Trung Bắc Ấn Độ, chuyên làm chân tay giả. Ông đã chọn ở lại Ấn Độ, nhưng đúng khoảnh khắc Cuộc chia cắt bắt đầu ông tình cờ lại đang làm việc ở một xưởng quân sự ở biên giới phía Pakistan. Chỉ trong vài tháng, hai quốc gia mới đã tham chiến vì vùng Kashmir, và Ali bị ép đi lính cho Pakistan và bị ngăn không được trở về nhà ở Ấn Độ. Năm 1950, quân đội Pakistan cho ông giải ngũ vì ông đã trở thành công dân Ấn Độ. Nhưng đến biên giới ông lại không được công nhận là người Ấn Độ và bị bắt giữ vì không có giấy thông hành. Năm 1951, sau khi thụ án ở Ấn Độ, ông bị trục xuất về Pakistan. Sáu năm sau, ông vẫn bị trục xuất qua lại giữa hai nước, trở thành con thoi giữa các nhà tù và trại tị nạn của hai quốc gia mới. Hồ sơ chính thức của ông kết thúc bằng tình tiết một người lính Hồi giáo bị giữ trong một trại tù dành cho người Hindu ở biên giới phía Pakistan.
***
Kể từ năm 1947, Ấn Độ và Pakistan đã nuôi dưỡng một mối hiềm khích sâu đậm với nhau. Hai bên đã tham chiến trong hai cuộc chiến không có kết quả vì tranh chấp ở Kashmir – khu vực duy nhất có người Hồi giáo chiếm đa số còn thuộc về Ấn Độ. Năm 1971, hai nước đánh nhau vì việc ly khai của Đông Pakistan và nơi này trở thành Bangladesh. Năm 1999, sau khi quân đội Pakistan tiến vào một khu vực ở Kashmir có tên là Kargil, hai nước xích gần đến chiến tranh hạt nhân ở mức đáng báo động. Bất chấp những hành động thiện chí định kỳ nhằm hướng đến đàm phán hòa bình và những khoảnh khắc xích lại gần nhau, xung đột Ấn Độ-Pakistan vẫn là thực tế địa chính trị có ảnh hưởng thống trị trong khu vực. Ở Kashmir, một cuộc nổi dậy kéo dài chống lại sự cai trị của Ấn Độ đã làm hàng ngàn người chết và đôi khi vẫn làm phát sinh bạo lực. Trong khi đó, ở Pakistan, nơi một nửa số phụ nữ vẫn mù chữ, quốc phòng lại chiếm đến một phần năm ngân sách, làm thu hẹp số tiền dành cho y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng, và phát triển.
Dễ hiểu vì sao Pakistan có cảm giác bất an: dân số, ngân sách quốc phòng, và nền kinh tế của Ấn Độ lớn gấp bảy lần Pakistan. Nhưng con đường mà Pakistan đã chọn để bảo vệ mình trước ưu thế dân số và quân sự của Ấn Độ lại là thảm họa cho cả hai nước. Trong hơn 30 năm, quân đội Pakistan và ISI, cơ quan tình báo của nó, đã dựa vào các chiến binh thánh chiến để thực hiện các mục tiêu của mình. Các nhóm này gây rắc rối cho Pakistan không kém gì – nếu không nói là hơn – rắc rối đối với các quốc gia láng giềng mà ISI hy vọng làm suy yếu: Afghanistan và Ấn Độ.
Ngày nay, cả Ấn Độ lẫn Pakistan vẫn bị tê liệt bởi những câu chuyện được xây dựng xung quanh ký ức về những tội ác của Cuộc chia cắt, khi mà các chính trị gia (đặc biệt ở Ấn Độ) và quân đội (đặc biệt ở Pakistan) tiếp tục thổi bùng thù hận từ năm 1947 vì mục đích riêng. Nisid Hajari kết thúc cuốn sách bằng cách chỉ ra sự thù địch giữa Ấn Độ và Pakistan “đang trở nên nguy hiểm hơn thay vì bớt nguy hiểm đi; kho vũ khí hạt nhân của cả hai nước đều phát triển, các nhóm chiến binh ngày càng có năng lực, và những phương tiện truyền thông thái quá ở hai bên đang thu hẹp phạm vi dành cho những tiếng nói ôn hòa.” Hơn nữa, Pakistan, một nước có vũ khí hạt nhân và hết sức bất ổn, không chỉ là một mối nguy hiểm cho Ấn Độ; giờ nó đã trở thành một vấn đề cho cả thế giới, tâm điểm của rất nhiều nguy cơ an ninh đáng báo động nhất. Các trường giáo lý của Pakistan là nơi Taliban nổi lên. Chế độ đó, được xem là thoái hóa nhất trong lịch sử Hồi giáo hiện đại, đã cung cấp nơi trú ẩn cho lãnh đạo Al-Qaeda, ngay cả sau sự kiện 11/9.
Khó mà không đồng ý với kết luận của Hajari: “Thời gian đã trôi qua quá nhiều đủ để những người kế tục Nehru và Jinnah có thể cho những hận thù của năm 1947 an nghỉ.” Nhưng bức tranh hiện tại không hề sáng sủa. Ở Delhi, một chính quyền cánh hữu cứng rắn đã từ chối đối thoại với Islamabad. Cả hai nước đều dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết trước chủ nghĩa cực đoan tôn giáo. Nói một cách nào đó, năm 1947 vẫn chưa chấm dứt.Nguồn: William Dalrymple, “The Great Divide: The Violent Legacy of Indian Partition,” The New Yorker, 29/06/2015.
Biên dịch: Ngô Việt Nguyên | Hiệu đính: Nguyễn Huy Hoàng
William Dalrymple là sử gia người Scotland. Cuốn sách gần đây nhất của ông có nhan đề Return of a King: The Battle for Afghanistan (Bloomsbury, 2012).

Vụ tấn công hàng loạt ở Mumbai hôm 26/11 đã khiến quan hệ giữa hai nước láng giềng có sở hữu vũ khí hạt nhân Ấn Độ - Pakistan ở tình trạng căng thẳng nhất kể từ khi xảy ra vụ tấn công vào Quốc hội Ấn Độ tháng 12/2001.


Niu Delhi đã tuyên bố nâng tình trạng an ninh lên “mức độ chiến tranh” và khẳng định không còn nghi ngờ về việc Pakistan có dính líu đến các cuộc tấn công khủng bố.

Sau đây là những thời điểm thăng trầm trong quan hệ giữa hai nước:

1947 - Sau Chiến tranh Thế giới Thứ II, Anh trao trả độc lập cho tiểu lục địa Ấn Độ và chia tiểu lục địa thành hai quốc gia Ấn Độ và Pakistan - dựa trên cơ sở tôn giáo: Hồi giáo ở Tây Pakistan và Đông Pakistan (cách xa nhau hơn 1600 km) và Ấn Độ giáo (đạo Hinđu) ở Ấn Độ. Việc này đã châm ngòi cho một trong những cuộc di cư lớn nhất và đẫm máu nhất trong lịch sử hiện đại.

1947/1948 - Ấn Độ và Pakistan bước vào cuộc chiến đầu tiên do tranh chấp xung quanh khu vực Kashmir ở dãy Himalaya. Cuộc chiến kết thúc với thoả thuận ngừng bắn và nghị quyết do Liên Hợp Quốc dàn xếp tìm kiếm một cuộc trưng cầu ý dân cho người dân ở Jammu và Kashmir quyết định liệu sẽ trở thành một phần của Ấn Độ hay một phần của Pakistan.

1965 - Ấn Độ và Pakistan bước vào cuộc chiến thứ hai vì tranh chấp Kashmir. Chiến tranh kết thúc sau khi Liên Hợp Quốc kêu gọi ngừng bắn.

1971 - Pakistan và Ấn Độ chiến tranh lần thứ ba vì khu vực Đông Pakistan. Đông Pakistan tách ra thành lập nước Cộng hoà Nhân dân Bangladesh. Từ đó, lãnh thổ Pakistan chỉ còn ở miền Tây.

1972 – Thủ tướng Pakistan Zulfikar Ali Bhutto và Thủ tướng Ấn Độ Indira Gandhi ký thoả thuận ở thị trấn Simla của Ấn Độ để đặt ra những quy tắc cho quan hệ hai nước.

1974 - Ấn Độ cho thử thiết bị hạt nhân đầu tiên.

1990 - Ấn Độ bắt đầu cáo buộc Pakistan vũ trang và cử những phần tử Hồi giáo vào khu vực Kashmir do Ấn Độ kiểm soát. Pakistan phủ nhận cáo buộc.

Tháng 5/1998 - Ấn Độ tiến hành 5 vụ thử hạt nhân và tuyên bố kế hoạch chế tạo vũ khí hạt nhân. Đáp lại, Pakistan tuyên bố tiến hành 6 vụ thử.

1999 - Hai nước đứng bên bờ vực cuộc chiến thứ tư sau khi Ấn Độ phát động chiến dịch lớn nhằm vào những người Pakistan xâm nhập vào khu vực núi ở Kargil thuộc khu vực Kashmir của Ấn Độ.

2001 - Vào tháng 12, khủng bố tấn công Quốc hội Ấn Độ. 14 người, trong đó có 5 kẻ tấn công, đã thiệt mạng. Ấn Độ cáo buộc các nhóm khủng bố người Kashmir có trụ sở ở Pakistan và Lashkar-e-Taiba và Jaish-e-Mohammad là thủ phạm. Hàng nghìn binh sĩ đã đối đầu nhau ở biên giới sau vụ này.

2003 - Pakistan tuyên bố ngừng bắn dọc biên giới  kiểm soát ở Kashmir, Ấn Độ hoan nghênh động thái này.

2004 - Hai nước khởi động tiến trình hoà bình mà sau đó đã cải thiện quan hệ về ngoại giao, thể thao, thương mại, nhưng không đạt được tiến bộ trong vấn đề Kashmir. Tiến trình hoà bình bế tắc sau các vụ đánh bom nhằm vào Ấn Độ.

2008 - Hồi tháng 7, Ấn Độ cho rằng Cơ quan Tình báo Pakistan (ISI) đứng sau vụ tấn công sứ quán Ấn Độ ở thủ đô Kabul của Afghanistan làm 58 người chết.

Laske e Taiba là ai?

Lashkar e Taiba là một trong những tổ chức hồi giáo cực đoan hoạt động một cách bất hợp pháp tại Pakistan. Tổ chức này đấu tranh chống lại cái họ gọi là "sự đô hộ" của Ấn Độ tại vùng Kashmir và chống lại những hành vi ngược đãi nhắm vào cộng đồng thiểu số hồi giáo sinh sống tại Ấn.

Lashkar e Taiba trong tiếng Ảrập có nghĩa là "đội quân sùng tín" được thành lập từ những năm 1990 tại Lahore ở phía Đông Pakistan, gần khu vực biên giới với Ấn Độ. Ấn Độ vẫn cáo buộc tổ chức này được chính quyền Islamabad yểm trợ và thậm chí cơ quan tình báo Pakistan còn giúp đỡ Lashkar e Taiba do Islamabad luôn chống đối ựu hiện điện của Ấn Độ tại vùng Kashmir, nơi đôi bên đã ba lần giao chiến vì tranh chấp chủ quyền.

Sáng lập viên của tổ chức hồi giáo nói trên là Haiz Mohamad Saeed, một người Pakistan từng chiến đấu chống lại quân đội Liên Xô ở Afghanistan vào thập niên 80. Nhưng sau đó nhân vật này đã tách ra riêng để lập một nhóm họat động từ thiện hồi giáo mang tên là Jamaat ut Dawa. Tổ chức này đã tích cực giúp đỡ nạn nhân động đất ở vùng Kashmir hồi năm 2005. 

Trên thực tế, nhóm này đã bị cấm hoạt động tại Pakistan từ năm 2002 cho dù về mặt chính thức, Lashkar e Taiba chưa bao giờ bị tố cáo là thủ phạm các vụ khủng bố ngay trên lãnh thổ Pakistan. Ngoài ra, Lashkar e Taiba còn nằm trong danh sách các tổ chức khủng hố của Mỹ.

Theo giới quan sát, tương tự như tất cả những tổ chức bị cấm, Lashkar e Taiba tiếp tục âm thầm họat động và mở rộng mạng lưới liên lạc đến mạng lưới khủng bố Al-Qaeda, đến các nhóm Taliban ở Pakistan. Chính điều này đã giúp Lashkar e Taiba mở rộng địa bàn hoạt động ở các vùng phía tây bắc Pakistan. Về liên hệ với Al-Qaeda, các chuyên gia cho rằng đây chỉ là một mối quan hệ lỏng lẻo do Lashkar e Taiba chỉ tạm dung túng một vài thành viên Al Qaeda khi họ phải chạy trốn khỏi Afganistan vào cuối năm 2001.
 Trà Giang/Theo Reuters, AP  

No comments:

Post a Comment