Thursday, August 10, 2017

Nguyễn Hoàng

Đấng minh quân sáng lập Nhà Nguyễn Nguyễn Hoàng quê ở làng Gia Miêu Ngoại Trang, huyện Tống Giang, lộ Thanh Hoa, về sau thuộc tổng Thượng Bạn, huyện Tống Sơn, tỉnh Thanh Hóa; sau cách mạng Tháng 8.1945 là xã Lam Sơn sau đổi thành xã Long Khê; từ 1954 đến nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa.
Ông là con trai thứ hai của Chiêu Huân Phụ Tiết Tĩnh Công Nguyễn Kim tức Nguyễn Cam (1468 - 1545) dưới thời Nhà Lê và Bà Chính thất Nguyễn Thị Mai, con gái của Đặc Tiến Phụ Quốc Thượng Tướng Quân Thư Vệ Sự Nguyễn Minh Biện dưới thời Nhà Lê, quê ở Phạm Xá, tỉnh Hải Dương.
Ông sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu tức ngày 28 tháng 8 năm 1525 tại lộ Thanh Hoa khi thân sinh ông giữ chức Tư Vệ Điện Tiến Tướng Quân trấn nhậm lộ này.
Năm Đinh Hợi 1527, khi vua Mạc Đăng Dung (1517 - 1529) lên ngôi, Tỉnh Công Nguyễn Kim phò Nhà Lê đem quân tránh sang nước Ai Lao để mưu việc lớn, nên đã giao Nguyễn Hoàng lúc đó mới hai tuổi cho người em vợ là Thái Phó Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ nuôi dạy để mình lo việc nước và Nguyễn Hoàng đã được người cậu ruột hết lòng chăm sóc, dạy dỗ.
Khi lớn lên, thời trai trẻ, Nguyễn Hoàng tỏ ra là một thanh niên tuấn tú, minh mẫn. Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đã viết: “Ngài có tướng vai lân, lưng hổ, mắt phượng, trán rộng, thần thái khôi ngô, thông minh tài trí, người thức giả biết là bậc phi thường” (Nguyễn Tộc Thế Phả, tr.105)
Khi thân sinh ông mất ngày 20 tháng 5 năm Ất Tỵ tức ngày 28 tháng 6 năm 1545, thọ được 77 tuổi là do hàng tướng Nhà Mạc Dương Chấp Nhất dâng quả dưa chứa thuốc độc để ám hại, ông mới 21 tuổi. Lúc này ông làm quan dưới thời vua Lê Trang Tông (1533 - 1548) và được phong tước là Hạ Khê Hầu. Ông được vua Lê giao nhiệm vụ đem quân đi đánh quân Nhà Mạc và có lần giết được tướng Nhà Mạc nên được vua Lê khen là “Thực là hổ phụ sinh hổ tử” và về sau ông được vua Lê tấn phong tước Thái Bảo Đoan Quận Công.



Sách “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” đã viết: “Đầu làm quan Triều Lê, được phong Hạ Khê Hầu. Đem quân đánh Mạc Phúc Hải (con trưởng Mạc Đăng Doanh), chém được tướng là Trịnh Chí ở huyện Ngọc Sơn, khi khải hoàn vua khen “Thực là cha hổ sinh con hổ”. Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trang Tông, do quân công được tấn phong Đoan Quận Công (tr.30)
Vào thời kỳ mà Hữu Tướng Trịnh Kiểm (1545 - 1569) chuyên quyền vua Lê và tranh chấp uy tín và quyền lực với họ Nguyễn, đã ám hại người anh trai ruột của Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng là Lãng Quận Công Nguyễn Uông. Về sau, Trịnh Kiểm còn có âm mưu ám hại cả Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng nữa nên làm cho ông rất lo ngại. Trước tình hình đó, Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ đã khuyên ông nên tự lắng mình xuống để kín đáo giữ mình. Thế nhưng Trịnh Kiểm vẫn thâm độc tìm cách để mưu hại Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, do vậy người cậu ruột đã bàn mưu với người cháu rằng: “Kiểm đã cố tâm mưu hại mình thì mình cần phải tránh xa. Đất Thuận Hóa hiểm trở, vững chắc có thể giữ yên thân mình, cháu nên nhờ chị Ngọc Bảo (là Chính thất của Trịnh Kiểm - TG)nói với Kiểm xin trấn giữ đất này để mưu đồ việc lớn về sau” (Nguyễn Phước Tộc Thế Phả tr.100)(1).
Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng đã nghe theo lời khuyên của Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ, sai người lẻn vào nội cung cầu cứu người chị ruột của mình. Để bảo vệ cho em trai, bà Nguyễn Thị Ngọc Bảo bèn lập mưu bảo em trai giả điên và lựa lúc thuận lợi nói với chồng xin cho Đoan Quốc Công Nguyễn Hoàng đi vào trấn nhậm Xứ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm nhận thấy rằng Thuận Hóa là một vùng ác địa xa xôi, ở đấy có nhiều cống sĩ, trí thức vượt biển vào theo Nhà Mạc đem quân quấy rối, nên muốn mượn tay Nhà Mạc để loại trừ đối thủ của mình, bèn xin vua Lê Trang Tông phái Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Xứ Thuận Hóa.
Về những sự việc này, sách Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục Tập I đã viết: “Từ khi triệu Tổ Tĩnh Hoàng Đế ta (tức Tĩnh Công Nguyễn Kim tác giả) mất đi, bỏ dở công nghiệp lớn, quyền bính trọng yếu trong nước đều do Trịnh Kiểm chuyên chế cầm nắm. Lãng Quận Công Uông làm Tả Tướng, Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế ta (tức Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng - tác giả)cầm quân đi đánh dẹp, lập được nhiều chiến công, được phong đến Đoan Quận Công. Cả hai đều bị Trịnh Kiểm nghi kỵ. Rồi Tả Tướng bị Kiểm làm hại. Còn Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế ta thì tự lắng xuống kín đáo để giữ mình. Bấy giờ đang có cuộc dụng binh luôn luôn với người Mạc, Thuận Hóa tuy là đất cũ Nhà Lê nhưng bè đảng Nhà Mạc phần nhiều ra vào ẩn hiện ở đó, Nhà Lê chưa kinh lý được. Trịnh Kiểm cho rằng đó là chỗ đất hiểm trở xa khơi, bèn muốn lợi dụng nên cũng thuận” (tr.137)
Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên Tập I cũng viết: “Đến khoảng năm Thuận Bình đời Lê Trang Tông, (Nguyễn Hoàng) do quân công được tiến phong là Đoan Quận Công. Bấy giờ Hữu Tướng Triều Lê là Trịnh KIểm (bấy giờ xưng là Lượng Quận Công) cầm giữ binh quyền, chuyên chế mọi việc. Tả Tướng là Lãng Quận Công (con trưởng Triệu Tổ) bị Kiểm hãm hại. Khi thấy Chúa Công (tức Nguyễn Hoàng) danh ngày càng cao nên rất ghét. Chúa thấy thế, trong lòng áy náy không yên, cùng bàn mưu với Nguyễn Ư Dĩ (tức Nguyễn Ư Kỷ - tác giả)rồi cáo bệnh, cốt giữ mình kín đáo để họ Trịnh hết ngờ... Chúa mới nhờ chị là Bảo Ngọc nói với Kiểm để xin vào trấn đất Thuận Hóa. Kiểm thấy đất ấy hiểm nghèo xa xôi cho ngay. Anh Tông lên ngôi, Kiểm dâng biểu nói “Thuận Hóa là nơi quan trọng, quân và của do đấy mà ra, buổi quốc sơ nhờ đấy mà nên nghiệp lớn. Nay lòng dân hãy còn tráo trở, nhiều kẻ vượt biển đi theo họ Mạc, sợ có kẻ dẫn giặc về cướp, ví không được tướng tài trấn thủ, vỗ yên thì không thể xong. Đoan Quận Công là con trai nhà tướng, có tài trí mưu lược, có thể sai đi trấn ở đấy, để cùng với tướng trấn thủ Quảng Nam cùng nhau giúp sức thì mới đỡ lo đến miền nam” (tr. 27 - 28 và 35 - 36)
Năm Mậu Ngọ 1558, Thái Bảo Quận Công Nguyễn Hoàng lúc này đã 34 tuổi, đã đi vào Thuận Hóa cùng phu nhân họ Nguyễn và các con là Nguyễn Phúc Nguyên và Nguyễn Phúc Hiệp cùng các tướng sĩ Thạch Xuyên, Văn Nham, Tường Trung, Tường Lộc, hai gia tướng của Tĩnh Công Nguyễn Kim là Vũ Thì An, Vũ Thì Trung và hàng ngàn đồng hương thân tín huyện Tống Sơn và binh lính. Thái Phó Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ cũng đã đưa cả gia đình vào Thuận Hóa trong dịp này để phụ tá cho người cháu ruột vào nam lập nghiệp.
Khi đến nơi, đoàn thuyền chiến đã đi vào cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt), đóng trại tại Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Vũ Xương (nay là huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị). Lưu Thủ Thuận Hóa Tống Phước Trị người quê ở Tống Sơn, Thanh Hóa đã kính cẩn đến vái chào Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, dâng nộp bản đổ, sổ sách trong xứ và một lòng phò tá.
Nhân dân trong vùng rất vui mừng khi được nghe tin Triều đình Nhà Lê cử một vị quan lớn vào quản lãnh Thuận Hóa mà Quảng Trị là một bộ phận, nên đem đến bảy vò nước trong dâng cho quan Tổng Trấn. Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ nói với Tổng Trấn Thuận Hóa rằng: “Trời ban cho, tất cả điềm báo trước. Nay Tổng Trấn mới đến đây mà dân đã đem hiến nước, đó là điềm được nước!”. Nghe nói vậy năm Mậu Ngọ 1538, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng liền bằng lòng với người cậu ruột cho lập Thủ Phủ đầu tiên tại xã Ái Tử, huyện Vũ Xương, gọi là Dinh Ái Tử (nay thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị).
Mười hai năm sau, vào năm Canh Ngọ 1570, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng cho dời Thủ Phủ về làng Trà Bát cũng thuộc huyện Vũ Xương, gọi là Dinh Cát. Cũng trong năm này, vua Lê Anh Tông (1557 - 1573) đã chỉ dụ điều động Quận Công Nguyễn Bá Quý‎nh đang trấn nhậm Xứ Quảng Nam về Xứ Nghệ An để cai quản xứ này, đồng thời phong cho Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn Tướng Quân kiêm quản cả Xứ Quảng Nam. Như vậy đến lúc này, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng quản lãnh cả Thuận Hóa và Quảng Nam, một vùng lãnh thổ rộng lớn kéo dài từ đất Quảng Bình cho đến đất Bình Định, vùng đất phèn dậu cực nam của Đại Việt giáp giới với nước Chiêm Thành.
Vào năm sau, năm Tân Mùi 1571 ở Quảng Nam đã xảy ra sự kiện các thổ hào tranh giành ruộng đất và đánh giết lẫn nhau, Tổng Trấn Tướng Quân Nguyễn Hoàng đã cử tướng Mai Đĩnh Dõng đem quân đi dẹp loạn, lập lại an ninh trật tự và vỗ yên dân để an cư lạc nghiệp. Về vấn đề này, sách “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” đã viết: “Năm 1571, thổ hào Quảng Nam nổi lên đánh giết cướp bóc lẫn nhau. Chúa sai tướng là Mai Đình Dõng dẹp yên, nhân đấy được ở lại làm Lưu Thủ giữ đất ấy để thu phục, vỗ yên dân”. Mai Đình Dõng đã làm Lưu Thủ Quảng Nam từ năm đó cho đến khi qua đời (không rõ năm mất) và về sau chức vụ này được Tổng Trấn Tướng Quân Nguyễn Hoàng giao cho Dương Đàm Hầu Trần Ngọc Phân.
Năm Nhâm Thân 1572, tướng Nhà mạc là Quận Công Lập Bạo với khí thế rất mạnh, đem hơn 60 binh thuyền đi đường biển đánh vào Thuận Hóa đổ bộ lên đất Triệu Phong để tấn công Phủ Chúa. Tổng Trấn Tướng Quân Nguyễn Hoàng thân chinh đi đánh, đóng quân bên bờ sông Ái Tử. Bỗng Tướng Quân nghe thấy tiếng “trảo trảo” từ dòng sông vọng lại nhưng nhìn ra sông chỉ thấy những làn sóng ào ạt mà thôi. Tướng Quân nhẩm khấn rằng: “Thần Sông có thiêng thì phù hộ cho ta đánh tan quân giặc”. Đêm hôm đó, Tướng Quân nằm mộng thấy một người Đàn bà mặc Áo xanh cầm chiếc quạt the thưa rằng phải lập cách dụ địch bằng mỹ nhân kế và hứa sẽ phù hộ. Hôm sau, Tướng Quân sai nàng hầu là Ngô Thị Lâm xinh đẹp tìm cách tư thông với Lập Bạo rồi dụ hắn đến thảo miếu làm lễ thề nguyền. Tướng Quân sai quân mai phục, đã bắt sống và giết chết được Lập Bạo. Quân giặc tan vỡ, một phần thì bị bắt sống, một phần thì chạy trở về miền Bắc, giữa đường bị gặp bão chết hết ngoài khơi. Sau khi đánh tan quân Nhà Mạc, Tướng Quân Nguyễn Hoàng đã phong cho Thần Sông Áo Xanh là Trảo Trảo Linh Thu Phổ Tế Tương Hựu Phu Nhân và lập Đền thờ trên bãi cát xứ Trảo Trảo, di tích này về sau qua thời gian đã bị hủy hoại.
Từ đó, quân Nhà Mạc không dám bén mảng đem quân đến quấy nhiễu Thuận Quảng nữa. Tướng Quân đã cho đưa gần 3.000 tù binh lên khai phá vùng đất đỏ Cồn Tiên ở Thuận Hóa, thành lập 36 phường mới ở tổng Ân Bái. Tướng quân cũng khuyến khích nhân dân ở Thuận Quảng khai hoang lập ấp, phát triển nông nghiệp, còn Thủ Phủ thì thành lập các dinh điền bằng lực lượng của binh lính, dân di cư và tù binh, nhờ thế diện tích ruộng đất và dân số của Thuận Quảng tăng nhanh, mức sản xuất phát triển, làm kinh tế Thuận Quảng có bước nhảy vọt, đời sống nhân dân được cải thiện.
Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng cũng quan tâm đến sự phát triển ngoại thương, bắt đầu chính sách rộng mở đối với các nước ngoài đến buôn bán tại Hội An. Nhờ vậy, cảng thị Hội An dần dần trở thành thương cảng quốc tế vào cuối thế kỷ XVI. Các tàu thuyền của các nước Đông Nam Á như Trung Hoa, Nhật Bản, Xiêm La.v.v... và các tàu nước phương Tây như Bồ Đào Nha, Hà Lan.v.v... lần lượt đến buôn bán với cảng thị Hội An, làm cho kinh tế của Thuận Quảng ngày càng phát triển hơn, chính quyền Xứ Đảng Trong càng thêm vững mạnh.
Năm Quý Dậu 1573, vua Lê Thế Tông (1573 - 1600) lên ngôi, đã sai sứ vào Thuận Hóa đem sắc chỉ tấn phong Đoan Quận Công chức Thái Phó Quận Công.
Trong mấy chục năm trấn nhậm Thuận Quảng, Thái Phó Quận Công Nguyễn Hoàng đã có chính sách rộng rãi, vỗ về quân dân, nhẹ sưu thuế, thu dùng hào kiệt, quân lệnh nghiêm trang, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được an cư lạc nghiệp. Thuận Quảng trở thành nơi đô hội lớn, được nhân dân mến phục và thường xưng tụng là Chúa Tiên.
Về vấn đề này, sách “Đại Việt Sử Ký Toàn Thư” đã viết: “Nguyễn Hoàng vỗ trị mấy chục năm, chính lệnh khoan hòa, thường ban ân huệ, dùng phép công bằng, chấn chỉnh khuyên răn tướng sĩ bản bộ, cấm chấp kẻ hung ác, dân hai trấn đều cảm lòng mến đức, thay đổi phong tục, chợ không nói thách, dân không làm giặc, cổng ngoài không phải đóng. Thuyền buôn nước ngoài thường tới, trao đổi phải giá, quân lệnh nghiêm cẩn, người người gắng sức. Do vậy mà họ Mạc không dám dòm ngó. Trong cõi an cư lạc nghiệp” (tr.161)
Dĩnh Thành Hầu Lê Quý Đôn, một đại thần của thời vua Lê chúa Trịnh, trong sách “Phủ Biên Tạp Lục” khắc in năm 1776, cũng đã đánh giá: “Đoan Quận Công có uy lực, xét kỹ, nghiêm minh, không có ai dám lừa dối. Cai trị trên mười năm, chính sự khoan hòa, việc gì cũng làm ơn cho dân, dùng phép công bằng, răn giữ cán bộ, cấm đoán kẻ hung dữ. Quân dân hai xứ thân yêu mến phục, cảm nhận mến đức, dời đổi phong tục, chợ không bán hai giá, người không ai trộm cướp, cửa ngoài không phải đóng, thuyền buôn ngoại quốc đều đến mua bán đổi chác phải giá, quân lệnh nghiêm trang, ai cũng cố gắng, trong cõi đều an cư lạc nghiệp” (tr.50)
Như vậy, với trọng trách là người chăn dắt quân dân hai xứ Thuận Quảng được vua Lê giao phó, Thái Phó Quận Công Nguyễn Hoàng đã có những đóng góp hết sức to lớn cho sự phát triển thịnh vượng của vùng đất cực nam của đất nước vào cuối thế kỷ XVI và đã được nhân dân kính ngưỡng và tôn vinh công ơn to lớn của Chúa Tiên.
Năm Quý Tỵ 1593, Nhà Lê thắng Nhà Mạc và vua Lê Thế Tông (1573 - 1600) trở về Đông Đô, Tổng Trấn Tướng Quân Nguyễn Hoàng đã ra kinh đô “thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe đến Kinh lạy chào và đem sổ sách về binh lương, tiền lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa - Quảng Nam dâng nộp” (Đại Nam Sử Ký Toàn Thư, tr.200). Điều này chứng tỏ rằng đến lúc này ông vẫn một lòng tôn phò Nhà Lê và không mảy may có sự toan tính, “tranh bá đồ vương” với họ Trịnh.
Ông càng được vua Lê tín cẩn giữ lại ở Đàng Ngoài và phong tước Trung Quân Đô Đốc Phủ Tả Đô Đốc Chưởng Phủ Sự Thái Uy Đoan Quận Công và được vua Lê phái đem quân đi dẹp quân Nhà Mạc và đánh đâu thắng đó.
Đến năm Ất Mùi 1595, ông được vua Lê tín nhiệm cử làm Đề Điệu tham gia vào việc tổ chức cuộc thi Đình để tuyển chọn Tiến sĩ cho Triều đình.
Đặc biệt đến năm Kỷ Hợi 1599, Trịnh Tùng (1570 - 1623) tự xưng vương là Đô Nguyên Súy Tổng Quốc Chính Trượng Phu Bình An Vương và lập Phủ Chúa và một số cơ quan hành chính bên cạnh Phủ Chúa để làm đối trọng với Triều đình Nhà Lê, làm bộc lộ việc tiếm quyền của họ Trịnh đối với vua Lê một cách rõ ràng mà nhân dân tục gọi là Chúa Trịnh. Chúa Trịnh Tùng lúc bấy giờ hống hách tuy không cướp ngôi vua Lê, nhưng trong thực tế đã biến vua Lê thành bù nhìn và nắm quyền chuyên chế lấn át quyền của Triều đình và chống lại các phe cánh phò Lê chống Trịnh.
Năm Canh Tý 1600, vua Lê Thế Tông băng hà và vua Lê Kính Tông (1600 - 1619) lên ngôi, tấn phong cho Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng làm Hữu Tướng. Ông ở Đông Đô lập được nhiều công tích nên càng làm cho Trịnh Tùng thêm ganh ghét.
Đến lúc này, Hữu Tướng Nguyễn Hoàng nhận thấy rõ âm mưu thâm độc của họ Trịnh và mình khó tiếp tục trở thành một bậc trung thần của vua Lê nên thấy không còn lý do gì nữa để lưu lại ở Thăng Long. Nhưng để rời khỏi Kinh đô đối với ông không phải là một điều đơn giản bởi vì Trịnh Tùng luôn luôn tìm mọi cách ngăn cản ông quay về Thuận Quảng vì sợ “thả hồ về rừng”.
Trong một chuyến về thăm quý hương ở Thanh Hóa, Hữu tướng Nguyễn Hoàng đã gặp Thái Phó Nguyễn Hữu Liêu và được biết Cử nhân Đào Duy Từ là một nhân tài nhưng đã bị vua Lê bắt giam một thời gian, lột hết văn bằng, mũ áo vì bị phạm tội đổi họ Đào sang họ Vũ của mẹ để được thi cử vì cha của ông trước đó làm cẩm vệ Triều đình nhưng đã làm thơ xúc phạm tên húy của Chúa Trịnh Kiểm, phạm tội bị thải hồi và sau đó làm nghề xướng ca mà con cái không được quyền thi cử.
Vì thế, Hữu tướng Nguyễn Hoàng đem lòng ái mộ, đã ngầm giúp Đào Duy Từ tiền bạc để sinh sống và chữa bệnh, sau đó đã đến gặp để chiêu hiền đãi sĩ nhằm vận động người tài ở Đàng Ngoài vào Đàng Trong, góp phần xây dựng cơ nghiệp của Chúa Nguyễn.
Tuy nhiên, phải đến hơn mười năm sau, Đào Duy Từ mới đi được vào Đàng Trong sau khi Chúa Tiên đã băng hà. Về sau, Lộc Khê Đào Duy Từ đã hết lòng phục vụ Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Trong khi Hữu Tướng Nguyễn Hoàng còn đang ở Kinh đô và Nhà Mạc đang trên đà suy vong thì vào năm Mậu Thìn 1568, người con út của Thái Tông Mạc Đăng Doanh (1530 - 1540) và Thứ Phi Đậu Thị Giang là Mạc Cảnh Huống, em trai của Hiển Tông Mạc Phúc Hải, Minh Vương Mạc Phúc Tư, Khiêm Vương Mạc Kính Điển và Ứng Vương Mạc Đôn Nhượng, đã cùng phu nhân Nguyễn Thị Ngọc Dương là em gái của phu nhân Hữu Tướng Nguyễn Hoàng đã đi vào Thuận Hóa với ý đồ giúp người anh đồng hao của mình chống lại Chúa Trịnh.
Sau khi Khiêm Vương Mạc Kính Điển (? - 1580) qua đời thì người con gái của ông là Quận Chúa Mạc Thị Giai cũng đã đưa em gái là Quận Chúa Mạc Thị Lâu vào năm 1593 đi vào Thuận Hóa với người chú ruột Mạc Cảnh Huống. Về sau, Quận chúa Mạc Thị đã trở thành hậu của Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên.
Sau thời gian sống ở Đông Đô tám năm, vào giữa năm Canh Tý 1600 Hữu Tướng Nguyễn Hoàng mới lập được mưu kế xui Phạm Ngạn, Ngô Đình Hàm và Bùi Văn Khuê làm phản, khởi binh chống lại họ Trịnh tại cửa biển Đại An (nay thuộc tỉnh Nam Định), Hữu Tướng giả vờ báo tin cho Trịnh Tùng đem quân đi đánh dẹp rồi đem chiến thuyền, bản bộ và tướng sĩ theo đường biển thẳng một mạch trở về Thuận Hóa một cách an toàn.
Để cho Trịnh Tùng khỏi nghi ngờ, ông đã để một người con trai là Nguyễn Hải và một người cháu là Nguyễn Hắc ở lại làm con tin và về sau lại gả con gái thứ hai là Nguyễn Ngọc Tú cho con trai cả của Trịnh Tùng là Trịnh Tráng (1623 - 1657) về sau cũng trở thành Chúa Trịnh.
Từ đây, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng quyết tâm “rạch đôi sơn hà”, chống lại họ Trịnh, mặc dù sau khi ông quay về Thuận Quảng, Chúa Trịnh Tùng đã sai sứ vào phủ dụ, nhưng ông đã bỏ điều đó ngoài tai. Chúa Tiên Nguyễn Hoàng càng ra sức quản lãnh và xây dựng vùng Thuận Quảng trở thành một Xứ Đàng Tronggiàu mạnh để đương đầu với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Trong quá trình quản lãnh Xứ Đàng Trong, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng luôn luôn được Uy Quốc Công Nguyễn Ư Kỷ, Thống Thái Phó Mạc Cảnh Huống và Luân Quốc Công Tống Phước Trị đồng tâm hiệp lực phò tá hết lòng “góp mưu nơi màn trướng, khởi xướng mưu lớn, nhiều phương trù hoạch để dựng nghiệp vương”.
Năm Tân Sửu 1601, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã vào tuổi 66, trong một chuyến du ngoạn trên Đồi Hà Khê ở tả ngạn Hương Giang, sau khi nghe dân địa phương kể về một truyền thuyết dân gian, Chúa Tiên rất mừng liền cho xây dựng tại đây Chùa Thiên Mụ, đến nay vẫn còn là một di tích văn hóa lịch sử nổi tiếng của Thành phố Huế ngày nay.
Về vấn đề này, sách Đại Nam Thống Nhất Chí Tập II đã viết: “Chúa thượng đến xã Hà Khê thấy giữa đồng bằng nổi lên một gò đất cao như hình đầu Rồng ngoảnh trông trở lại, phía trước ngó thẳng ra trường giang, phía sau có hồ, cảnh trí rất đẹp, nhân hỏi thăm dân địa phương, họ nói gò này linh dị. Tương truyền rằng ngày xưa ban đêm có người thấy một bà già mặc áo đỏ quần lục, ngồi trên gò nói rằng: “Sau sẽ có vị chân chúa đến sửa dựng lại núi này, tụ linh khí để giữ vững long mạch cho được bền vững”. Nói xong bà biến mất. Nhân đó mà núi này được gọi là Thiên Mụ Sơn. Chúa thượng cho rằng đất này có linh khí, bèn dựng chùa gọi là Thiên Mụ Tự”.
Như vậy, sự ra đời của Chùa Thiên Mụ đã gắn liền với Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vị chân chúa đầu tiên của họ Nguyễn ở Đàng Trong, minh chứng cho hoạt động của thiền phái Trúc Lâm đặc thù của Phật giáo Đại Việt tại Thuận Hóa từ cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII.
Vào thời kỳ này, Xứ Quảng là một vùng đất trù phú của Đàng Trong. Trong sách “Phủ Biên Tạp Lục” Dĩnh Thành Hầu Lê Quý Đôn đã viết “Thuận Hóa không có nhiều của cải, đều lấy ở Quảng Nam và xứ ấy phì nhiêu nhất thiên hạ”. Vì vậy sau khi quay trở lại Thuận Quảng hai năm, vào năm Nhâm Dần 1602, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã thực hiện một chuyến tuần du phương nam, vượt Núi Hải Vân cho đến phủ Điện Bàn và phủ Thăng Hoa của Xứ Quảng. Đây không đơn thuần là một chuyến du ngoạn cảnh quan hùng vĩ của Hải Vân Sơn mà là một chuyến vi hành có chủ đích nhằm kinh dinh và phát huy tiềm năng kinh tế của vùng đất giàu có và đông dân cư này để mưu toan công việc lâu dài.
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã cho dựng Hành điện tại xã Cần Húc bên bờ bắc Sông Chợ Củi (tức Sông Thu Bồn) trên phủ Điện Bàn, xây kho tàng lưu trữ thóc, tiền và cử con trai mình là Nguyễn Phúc Nguyên làm trấn thủ và các quan cai trị là Cai bộ và Ký lục.
Về vấn đề này, Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm trong sách “Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí” đã viết: “Chúa Nam Nguyễn Hoàng lại đi thăm Xứ Quảng Nam, thấy Núi Ải Vân hiểm trở sừng sững vươn cao, dáng tựa Núi Ma Thiên Lĩnh ở đất Ba Thục, Đoan Vương Nguyễn Hoàng khen mãi cho là nơi cảnh đẹp núi kỳ. Rồi Nguyễn Hoàng vượt đèo đi vào địa phận phủ Thăng Hoa, Quảng Nam xem xét tình hình núi non các nơi trong xứ. Thấy xứ này đầy nguồn hiểm yếu, cửa biển vững chắc, bèn sai dựng hành điện, kho tàng để chứa trữ thóc tiền, mưu toan công việc lâu dài. Lại để công tử trấn thủ để bảo vệ cho dân lành” (tr.85)
Sách “Đại Nam Thực Lục Tiền Biên” cũng đã viết: “Chúa đi chơi Núi Hải Vân thấy một dải núi cao dăng dài mấy trăm dặm nằm ngang đến bờ biển, Chúa khen rằng” chỗ này là yết hầu của miền Thuận Quảng”. Liền vượt qua núi, xem xét tình thế, dựng trấn dinh ở xã Cần Húc (thuộc huyện Duy Xuyên)(*) xây kho tàng, chứa lương thực, sai hoàng tử thứ sáu trấn giữ” (tr.42)
Đến năm Giáp Thìn 1604, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cho tách phủ Điện Bàn khỏi đất Triệu Phong của Xứ Thuận Hóa và sáp nhập với ba phủ Thăng Hoa, Tư Nghĩa và Hoài Nhơn để thành lập Dinh Quảng Nam và xây dựng Dinh trấn tại Thanh Chiêm trên đất phủ Điện Bàn, bên bờ bắc Sông Chợ Củi (Sông Thu Bồn), tục gọi là Dinh Chiêm (nay là làng Thanh Chiêm, xã Điện Phương, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam) và cử công tử Nguyễn Phúc Nguyên làm quan trấn thủ đầu tiên.
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí đã viết: “Đầu bản triều dựng Dinh trấn ở xã Thanh Chiêm, thuộc huyện Diên Phước” (tr.33). Sách Hoàng Việt Nhất Thống Dư Địa Chí cũng đã viết: “Lỵ sở đóng trên xã Thanh Chiêm, huyện Diên Khánh thuộc phủ Điện Bàn” (tr.218)(**)
Dinh trấn Thanh Chiêm có vai trò hết sức quan trọng dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cũng như thời kỳ các Chúa Nguyễn kế nghiệp là cơ sở đào luyện các quốc vương của Đàng Trong (làm quan trấn thủ trước khi lên ngôi Chúa Nguyễn), là trung tâm điều hành việc phát triển và hậu cần kinh tế cho Đàng Trong, nhất là việc chỉ đạo hoạt động của thương cảng quốc tế Hội An, là bộ tham mưu đảm bảo an ninh cho Dinh Quảng Nam, góp phần quan trọng bảo vệ độc lập tự do và chủ quyền của Đàng Trong chống lại sự tấn công của Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và mở rộng bờ cõi về phương nam.
Cũng trong thời gian này, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã cho xây dựng Chùa Kinh Thiên trên huyện Lệ Thủy ở Dinh Quảng Bình, Chùa Long Hưng bên cạnh Dinh trấn Thanh Chiêm trên huyện Diên Phước, Dinh Quảng Nam (về sau qua thời gian chùa bị hư hỏng) và Chùa Bảo Châu trên huyện Duy Xuyên, Dinh Quảng Nam (nơi về sau Thống Thái Phó Mạc Cảnh Huống tu hành sau khi nghỉ hưu) về sau bị quân Tây Sơn phá hủy khi chiếm được Dinh Quảng Nam vào năm 1774.
Do uy danh của Chiêu Huân Phu Tiết Tĩnh Công Nguyễn Kim trước đây, những chiến công chống Nhà Mạc của Đoan Quận Công về sau này, cũng như lòng dân phò Nhà Lê chống Chúa Trịnh, nên sau khi Đoan Quận Công xây dựng thế lực mới ở Thuận Quảng đã nhanh chóng thu hút dòng người di cư từ phía Bắc đi vào phía Nam tạo ra một cuộc di dân thật sự.
Thêm vào đó, năm Mậu Thìn 1608, Thuận Quảng được mùa lớn, giá gạo rẻ còn ở phía Bắc, từ xứ Nghệ An trở ra gạo đắt, nên dân chạy nhiều vào với Chúa Nguyễn làm cho dân số Thuận Quảng ngày thêm đông đúc.
Sách Trịnh - Nguyễn Diễn Chí Tập I đã viết: “Năm Mậu Thân, niên hiệu Hoằng Định thứ 9 (1608) các nơi ở Đàng Ngoài thời tiết khô hạn, lúa má cháy khô, giá thưng gạo một đồng tiền, có nhiều người chết đói, thậm chí có nơi đã ăn thịt lẫn nhau, đói khổ như thế đến hơn một năm. Duy chỉ có hai Xứ Thuận Hóa Quảng Nam mưa thuận gió hòa, một đấu gạo chỉ có ba tiền, ngoài đường không ai nhặt của rơi, bốn dân sĩ nông công thương đều an cư lạc nghiệp” (tr.80)
Dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng nhờ chủ trương khẩn hoang lập ấp đã làm biến đổi về căn bản bộ mặt kinh tế của Xứ Thuận Quảng. Trong những làng ấp mới đó, người nông dân tập hợp lại theo tổ chức công xã nông thôn, làm nghĩa vụ nộp thuế, sưu dịch và quân dịch góp phần xây dựng chính quyền của Chúa Nguyễn. Từ một vùng hoang vắng, lạc hậu nhờ chính sách khoan hòa, nghiêm minh, công bằng, quan tâm đến đời sống của dân, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã làm cho Xứ Đàng Trong trở thành một khu vực phát triển.
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã vượt qua tư tưởng “trọng nông ức thương” thời đó nên ngày càng quan tâm hơn đến hoạt động của ngoại thương tại cảng thị Hội An sau một thời gian suy thoái kéo dài nhờ đường lối mở cửa buôn bán với nước ngoài vào đầu thế kỷ XVII, nên đã cho thành lập Phố Nhật vào năm 1589 và Phố Khách vào khoảng năm 1608(*) làm cho cảng thị Hội An trở thành thương cảng quốc tế lớn nhất Đông Nam Á thời đó.
Về vấn đề này, sách Hội An, Di sản Thế giới đã viết: “Sau một thời gian suy thoái kéo dài đến 150 năm - từ 1306 đến 1558 - trải qua các giai đoạn dưới thời Nhà Trần, Nhà Hồ và Nhà Lê, cảng thị Hội An mới hồi sinh trở lại dưới thời Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1558 - 1613) nhờ đường lối mở cửa buôn bán với nước ngoài, khôi phục hoạt động ngoại thương của Hội An nhằm mục đích tăng cường tiềm lực kinh tế - xã hội và quân sự của Đàng Trong để đương đầu với Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài” (tr.57)
Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đã viết: “Bấy giờ Chúa trấn hơn mười năm chính sự rộng rãi... Thuyền buôn nước ngoài đến nhiều. Trấn trở nên một đô hội lớn”.
Không rõ vào năm nào, hai gia tướng người Việt gốc Chăm của Tĩnh Công Nguyễn Kim là Vũ Thì An và Vũ Thì Trung đã giúp Chúa Tiên Nguyễn Hoàng chiếm hữu Bãi Cát Vàng tức Quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa khi còn là một vùng đất vô chủ mà không một nước nào phản đối hay bảo lưu. Như vậy, các Quần đảo Hoàng Sa và Trường sa đã thuộc lãnh thổ và chủ quyền của Đại Việt - Việt Nam từ cách đây 400 năm dưới thời Chúa Nguyễn Hoàng vào thế k‎ỷ XVI.
Về vấn đề này trong tư liệu “Quần đảo Hoàng Sa và đội ghe của các Chúa Nguyễn” đã cho biết: “Theo một số nhà nghiên cứu, năm 1558 Chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, Vũ Thì An, Vũ Thì Trung và con cháu gốc người Chămpa đã giúp ông chiếm lĩnh Hoàng Sa” (tr.19). Như vậy, công lao cực kỳ to lớn về việc chiếm hữu đầu tiên Bãi Cát Vàng thuộc về Chúa Tiên Nguyễn Hoàng.
Năm Tân Hợi 1611, nước Chiêm Thành đem quân xâm lấn bờ cõi phía nam Đàng Trong, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng sai Chủ Sự Văn Phong (**) đem quân đi dẹp, đánh lấy được một vùng đất của Chiêm Thành và thành lập phủ Phú Yên, chia làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa và cử Chủ Sự Văn Phong làm Lưu Thủ phủ Phú Yên.
Đây là thời kỳ mở đầu chiến lược mở rộng lãnh thổ của Đại Việt về phương Nam của Chúa Nguyễn ở Xứ Đàng Trong.
Về cuối đời, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng càng thể hiện sự quyết tâm tách khỏi sự lệ thuộc vào chính quyền vua Lê - chúa Trịnh, xây dựng Đàng Trong thành một vùng lãnh thổ độc lập tự chủ, càng quyết tâm xây dựng tiềm lực kinh tế xã hội và quân sự vững mạnh trên cơ sở đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp và nhất là phát triển ngoại thương, tạo tiềm lực để tiếp tục mơ cõi về phương Nam và để đủ sức đương đầu với họ Trịnh ở Đàng Ngoài.
Phan Du qua sách “Quảng Nam qua các thời đại” đã đánh giá rất đúng vấn đề này khi viết: “Muốn dựng nghiệp lớn, trong cái thế của Tiên Chúa Nguyễn Hoàng thời đó, cần phải tạo một cơ sở vừa đem lại cái thế ỷ đốc cho thượng đô và cho cả Chính Dinh nhằm đủ khả năng, lực lượng chặn đứng mọi cuộc tấn công của quân Trịnh từ phía Bắc tràn xuống và mặt khác vừa tạo được một bàn đạp để bành trướng thế lực, mở rộng bờ cõi về phương Nam”.
Về vấn đề này, Li Tana, trong sách “Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế - xã hội thế kỷ XVII - XVIII” cũng đã viết: “Ngoại thương đã trở thành yếu tố quyết định trong tốc độ phát triển của Đàng Trong. Ngoài thương nghiệp không có gì khác có thể giúp họ Nguyễn xây dựng một cách nhanh chóng vùng đất ít nhân lực này có thể đương đầu nổi với một vùng đất có số tiềm lực nhiều gấp đôi, gấp ba Đàng Trong về mọi mặt” (tr.85).
Năm Quý Sửu, ngày mồng 3 tháng 6 (20.7.1613) Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cảm thấy người mệt nặng khó qua khỏi, nên liền gọi con trai và cận thần đến bên giường để trao lại những lời dặn dò tâm huyết cuối cùng.
Sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên đã viết: “Chúa yếu mệt, triệu hoàng tử thứ sáu(***)(tức Nguyễn Phúc Nguyên - TG) và thân thần đến trước giường, bảo thân thần rằng: “Ta với các ông cùng nhau cam khổ đã lâu, muốn dựng lên nghiệp lớn. Nay ta để gánh nặng lại cho con ta, các ông nên cùng lòng giúp đỡ cho thành công nghiệp”. Rồi Chúa cầm tay hoàng tử thứ sáu dặn bảo rằng: “Làm con phải hiếu, làm tôi phải trung; anh em trước hết phải thân yêu nhau. Mày mà giữ được lời dặn đó thì ta không ân hận gì”. Lại nói: “Đất Thuận Quảng phía bắc có Hoành Sơn (Núi Đèo Ngang) và Linh Giang (Sông Gianh) hiểm trở, phía nam có Hải Vân Sơn (Núi Hải Vân) và Thạch Bi Sơn (Núi Thạch Bi) vững bền. Núi sẵn vàng sắt, biển có cá muối, thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”. (tr.37)
Qua lời trăn trối tâm huyết cuối cùng của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) trước khi qua đời đã cho thấy Chúa Tiên rất quyết tâm xây dựng Xứ Đàng Trong (còn gọi là Nam Hà) vững mạnh thành một vùng lãnh thổ độc lập, tự chủ để chống lại Chúa Trịnh ở Xứ Đàng Ngoài (còn gọi là Bắc Hà) và Chúa Tiên Nguyễn Hoàng là vị thủy tổ đã sáng lập Xứ Đàng Trong Đại Việt với biên giới mở rộng về phương Nam, vị thủy tổ đã sáng lập Triều Nguyễn với nước Việt Nam thống nhất sau này.
Trong sách “Việt Nam Khai Quốc Chí Truyện”, Bảng Trung Hầu Nguyễn Khoa Chiêm đã ca ngợi Chúa Tiên Nguyễn Hoàng một cách đúng đắn rằng: “Nam Chúa Đoan Vương Nguyễn Hoàng tướng mạo đĩnh đạc khác kẻ bình thường, bản tính thông minh xuất chúng, có khí phách như Tống Tổ, Đường Tông, từ khi cai quản hai Xứ Thuận Hóa, Quảng Nam nhân chính ban khắp gần xa, ơn đức bao trùm mọi chốn, người người yêu mến ngưỡng mộ như cha mẹ, trên thuận đạo trời dưới hợp tình dân, đúng là một bậc minh chúa tài ba sáng suốt” (tr.92)
Chúa Tiên Nguyễn Hoàng băng hà ngày mồng 3 tháng 6 năm Quý Sửu tức ngày 20 tháng 7 năm 1613, ở ngôi Chúa 56 năm (1558 - 1613), hưởng thọ được 89 tuổi (1525 - 1613) trong niềm thương tiếc của con cháu, quần thần và nhân dân Xứ Đàng Trong. Vua Lê Kính Tông (1600 - 1619) đã truy tôn Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tước hiệu là Cần Nghĩa Công và thụy hiệu là Cung Ý.
Ban đầu mộ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng táng ở Núi Thạch Hãn (nay thuộc huyện Hải Lăng tỉnh Quảng Trị), về sau được cải táng về Núi La Khê tức Khải Vận Sơn (nay thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ban đầu Chúa Tiên Nguyễn Hoàng được thờ tại Chùa Long Phước (nay thuộc huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị), về sau được Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên phối thờ cùng Tĩnh Công Nguyễn Kim tại Chùa Thiên Mụ ở Phú Xuân (nay là Thành phố Huế)
Năm Giáp Tý 1804, vua Gia Long (1780 - 1820) cho dựng Thái Miếu rộng mười ba gian để thờ các Chúa Nguyễn và các công thần đời trước, Chúa Tiên Nguyễn Hoàng cùng Hoàng hậu được thờ ở áng chính giữa. Vua Gia Long đã truy tôn Chúa Tiên Nguyễn Hoàng tước hiệu “Triệu Cơ Thùy Thống Khâm Minh Cung Ý Cần Nghĩa Đạt Lý Hiển Ứng Chiêu Hựu Diệu Linh Gia Dũ Hoàng Đế” và miếu hiệu là Thái Tổ.
Các Chúa Nguyễn kế nghiệp đời sau đã thực thi lời dạy tâm huyết cuối cùng của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng một cách nghiêm chỉnh, triệt để và sáng tạo đã dẫn đến những công tích to lớn:
- Đã trả sắc phong của Chúa Trịnh Tráng năm Đinh Mão 1672 bằng kế hoạch “mâm hai đáy(****) và đã đánh thắng bảy lần các cuộc tấn công vào Đàng Trong của các Chúa Trịnh trong các năm 1627, 1630, 1635, 1648, 1655, 1661 và 1672 và chấm dứt cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài bốn mươi lăm năm từ 1627 đến 1672 và chiếm đến sông Linh Giang (sông Gianh) làm ranh giới lãnh thổ lâu dài giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài;
- Đã mở rộng biên giới cực Nam của Xứ Đàng Trong cho tận đến mũi Cà Mau trong 146 năm, từ 1611 đến 1757 và đã thu được từ nước Chiêm Thành và nước Chân Lạp một vùng lãnh thổ rộng lớn hơn Xứ Đàng Ngoài như đã thấy ngày nay;
- Đã hai lần đánh thắng hạm đội Hà Lan vào loại hùng mạnh nhất thế giới thời bấy giờ tấn công vào cảng thị Hội An, năm 1618 do thuyền trưởng Jacob Van Liesvel chỉ huy 5 tàu chiến và năm 1644 do thuyền trưởng Peter Beack chỉ huy 3 tàu chiến, làm từ đó không một nước phương Tây nào dám xâm phạm Xứ Đàng Trong;
- Đã thành lập Ty Tào vụ để kiểm soát việc xuất nhập cảnh và đánh thuế các tàu thuyền nước ngoài đến buôn bán với Phố Nhật, Phố Khách và người Việt tại thương cảng quốc tế Hội An, làm cho Hội An sầm uất hơn hẳn thương cảng Phố Hiến ở Đàng Ngoài và trở thành trung tâm trung chuyển của con đường tơ lụa và gốm sứ quốc tế xuyên đại dương nối liền phương Đông và phương Tây trong các thế kỷ XVII - XVIII và đã để lại Phố cổ Hội An với trên 1.000 di tích cổ xưa, được UNESCO phong tặng danh hiệu Di sản Thế giới ngày 4.12.1999 và hiện nay có sức hấp dẫn du khách nước ngoài vào loại bậc nhất của Việt Nam;
- Đã đánh thắng dù gặp không ít khó khăn cuộc nội chiến do Nhà Tây Sơn gây ra mà trong đó họ Trịnh đã bị mất nghiệp Chúa, kéo dài trong ba mươi năm từ 1771 đến 1801 do được lòng dân ủng hộ và đi đến thành lập nước Đại Việt thống nhất vào năm 1802 sau gần 250 năm chia cắt với quốc hiệu là Việt Namcho đến tận ngày nay...

Ngày nay, với tư tưởng đổi mới, chúng ta có thể đánh giá rằng Thái tổ Gia Dũ Hoàng Đế - Chúa Tiên Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) là một đấng minh quân, một danh nhân lịch sử của dân tộc Việt Nam vào cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII đã có những đóng góp đáng trân trọng cho lịch sử của đất nước. Vì vậy hiện nay, ở nhiều tỉnh và thành phố trên cả nước ta đã có những con đường mang tên Nguyễn Hoàng như một sự tưởng niệm, một sự tôn vinh.
Chúng tôi thiết nghĩ rằng đã đến lúc tại Thành phố Đông Hà, tỉnh lỵ của tỉnh Quảng Trị, vùng đất mà ngày xưa Chúa Tiên Nguyễn Hoàng đã từng lập Phủ Chúa để quản lãnh đầu tiên Xứ Đàng Trong, nên xây dựng Tượng đài Thái Tổ Gia Dũ Hoàng Đế - Chúa Tiên Nguyễn Hoàng để thể hiện lòng kính ngưỡng và biết ơn của các thế hệ đời sau đối với tiền nhân đã có công đức to lớn đối với dân tộc./.

Tài liệu tham khảo
1. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Đại Nam Thực Lục Tiền Biên. Tập I
Nhà xuất bản Sử học.1962
2. Hội đồng Trị sự Nguyễn Phước Tộc. Nguyễn Phước Tộc Thế Phả.
Nhà xuất bản Thuận Hóa Huế. 1995
3. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Tập II
Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội. 1998
4. Ngô Sĩ Liên. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư.
Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Hà Nội. 1985
5. Phan Khoang. Việt sử xứ Đàng Trong
Nhà xuất bản Văn học 2001
6. Nhiều tác giả. Duyên hải miền Trung: Đất và người
Nhà xuất bản Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh. 2004
7. Lê Quý Đôn. Phủ Biên Tạp Lục
Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội. 1977
8. Dương Văn An. Ô Châu Cận Lục (Bùi Lương dịch)
Nhà xuất bản Văn hóa Á Châu. Sài Gòn 1961
9. Quốc Sử Quán Triều Nguyễn. Đại Nam Nhất Thống Chí. Tập II
Nhà xuất bản Thuận Hóa. 1997
10. Nguyễn Khoa Chiêm. Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí.
Nhà xuất bản Hội Nhà văn Hà Nội.1969
11. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Lịch sử Việt Nam. Tập I
Nhà xuất bản Khoa học xã hội Hà Nội. 1971
12. Trần Trọng Kim. Việt Nam Sử Lược Tập II
Bộ Giáo dục - Trung tâm Học hiệu xuất bản. 1971
13. Nguyễn Phước Tương. Hội An, Di sản Thế giới
Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh.2004
14. Kỷ yếu Hội thảo. Chúa Nguyễn và Vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX.
Nhà xuất bản Thế giới. 2008
15. Li Tana. Xứ Đàng Trong. Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII
Nhà xuất bản Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh.1999
16. Thệ Thủy. Quần đảo Hoàng Sa và đội ghe của các Chúa Nguyễn.
Tạp chí “Huế Xưa và Nay”. Số 29.1998
17. Nguyễn Khoa Chiêm. Trịnh - Nguyễn Diễn Chí. Tập I
Sở Văn hóa Thông tin Bình Trị Thiên. Huế 1986
18. Phan Du. Quảng Nam qua các thời đại. Quyển Thượng
Cổ Học Tùng Thư Xuất Bản Đà Nẵng.1974
19. Nguyễn Phước Tương. Mạc Cảnh Huống, một khai quốc công thần, Nhà Nguyễn.
Tạp chí “Nghiên cứu Lịch sử”. Số 2.2002

(1)Có tài liệu nói rằng đây là lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái vạn đại dung thân
(*)đúng ra là phủ Điện Bàn - Tác giả
(**)Diên Phước và Diên Khánh là tên gọi của cùng một huyện ở hai thời điểm khác nhau thuộc phủ Điện Bàn.
(*)Theo sách “Hội An, Di sản Thế giới” tr.114 và tr.118
(**)Văn ở đây là họ, không phải chữ lót. Họ Văn có nguồn gốc Chămpa
(***)Hoàng tử Nguyễn Phúc Nguyên là con thứ sáu, Bốn hoàng tử đầu là Nguyễn Hà, Nguyễn Hán, Nguyễn Thành, Nguyễn Diễn đều mất sớm. Hoàng tử thứ năm, Nguyễn Hải làm con tin ở Đàng Ngoài.
(****)Sau khi nhận được Sắc phong của Chúa Trịnh Tráng, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên liền cử người mang mâm hai đáy chứa tặng phẩm gửi Chúa Trịnh. Chúa Trịnh thấy đáy mâm sâu, nghi ngờ cho phá mâm và phát hiện bài thơ chữ Hán bốn câu: Mâu nhi vô dịch. Mịch phi kiến tích. Ái lạc tâm trường. Lực lai tương địch. Bốn câu trên là Dư bất thụ sắc nghĩa là “Ta không nhận sắc” do Lộc Khê Đào Duy Từ hiến kế.

No comments:

Post a Comment