Thursday, August 10, 2017

Nhìn lại sử liệu viết về Nguyễn Huệ Quang Trung và Gia Long Nguyễn Ánh(2)

Trịnh Nguyễn phân tranh 

Tình hình Việt Nam bắt đầu xấu đi nhiều kể từ sau cái chết của vua Lê Thánh Tông vĩ đại. Nhà Lê đã xuống dốc không phanh, nhất là khi Lê Uy Mục lên ngôi. Trước đây anh Lê Long Đĩnh (aka Lê ngọa triều, con Lê Đại Hành) bị dìm hàng nhưng đã được minh oan. Còn Lê Uy Mục thì người ta phải dùng từ Bạo đế. Lão này thì kinh số một rồi, đến thái hậu còn dám giết thì còn ai mà Uy Mục không dám?
-Tụi mày phải bảo vệ tao 24/24, cấm lơ là.
Uy Mục ra lệnh cho đội quân cấm vệ của mình như thế. Hắn ý thức được sự độc ác của mình gieo rắc thù oán khắp nơi nên luôn cẩn thận tối đa trong công tác an ninh. Trong đội security hoàng tộc sáu múi to khỏe đó, Mạc Đăng Dung là người đứng đầu. Nhưng ông trời có mắt, cuối cùng Lê Uy Mục cũng chết về tay Lê Tương Dực.
-Bạo chúa đã chết, ta là hoàng đế mới của Đại Việt.
Lê Tương Dực ban đầu thì cai trị ngon lành cành đào lắm, nhưng về sau thay đổi chóng mặt, tiếp tục trở thành một tên bạo chúa thứ hai. Nhân dân đã chán ghét nhà Lê vô cùng. Các đại thần đổ xô vào cung tìm giết vua và Việt Nam chính thức đại loạn từ lúc này.
Thằng bé Lê Y được tôn lên làm vua Lê Chiêu Tông kế vị. Nhưng cháu nó còn quá nhỏ, biết gì để làm vua. Thế là các phe tranh nhau giành giật vị hoàng đế bé con này như bùa hộ mệnh. Trần Cảo lúc này đang làm loạn kinh thành. Nguyễn Hoằng Dụ và Trịnh Duy Sản khi ấy dẫn đầu hai gia tộc Trịnh Nguyễn, cùng nhau đưa tiểu hoàng đế ra khỏi Thăng Long lánh nạn.
Nội chiến càng lúc càng gay go. Mặc dù đã giành lại kinh thành từ tay Trần Cảo, nhưng bây giờ trùm cuối Mạc Đăng Dung mới xuất đầu lộ diện. Hai bên đánh nhau kịch liệt tại Thanh Hóa, cuối cùng Lê Chiêu Tông, lẫn lãnh đạo hai phe Trịnh Nguyễn đều chết. Đăng Dung lập Lê Cung Hoàng lên làm vua, nhưng ít lâu sau cũng giết đi. Giờ đây ông ta đã thật sự trở thành người đàn ông quyền lực nhất cõi Việt, Mạc hoàng đế.
Tuy nhiên với tư tưởng Nho giáo bấy giờ thì chuyện giết vua cướp ngôi là rất dở. Tướng Nguyễn Kim vẫn còn trung thành với vua Lê, nên dù Nguyễn Hoằng Dụ của Nguyễn tộc đã chết, đó chỉ mới là sự khởi đầu. Nguyễn Kim tìm khắp thiên hạ được Lê Duy Ninh để kế thừa ngôi vị còn đang bỏ trống. Giai đoạn này sử gọi là Nam Bắc triều, vì Việt Nam tồn tại cùng một lúc hai triều đại là Mạc ở Hà Nội và Lê ở Thanh Hóa.
Dĩ nhiên một nước không thể có hai vua, nên một thằng sẽ là “chính thống”, còn thằng kia là “ngụy triều”. Mà vấn đề chính thống hay không ngày đó do Tàu quyết định. Thằng nào mà Tàu cho rằng không chính đáng sẽ bị anh đại kéo quân sang dạy cho một bài học. Lê Duy Ninh biết rõ, nên cho người sang méc Đại Minh xử Mạc Đăng Dung. Triều Mạc 100% là banh xác nếu cả Minh và Lê đánh cùng lúc. Mạc Đăng Dung đành chấp nhận ra biên giới cúi lạy cầu xin để Tàu đừng đánh. Hành động này của Mạc Đăng Dung khiến ông bị sỉ nhục, nhưng ông đã gián tiếp cứu cả nhà Lê. Vì nếu quả thật quân Minh diệt xong nhà Mạc, chắc chắn nhà Lê cũng vỡ mồm với Tàu khựa. Đây là cách xử lý thông minh và hợp lý nhất ở thời điểm đó của vua Mạc.
Nhà Lê cay cú lắm vì Tàu công nhận Mạc Đăng Dung. Quyết tâm phải đòi lại đất tổ Thăng Long, Lê liên tục gây sự với Mạc. Nhà Mạc sau khi Mạc Đăng Dung qua đời thì toàn mầm non nhi đồng với cả thiếu niên tiền phong lên làm vua. Nếu không có hai siêu nhân Mạc Kính Điển và Mạc Ngọc Liễn gồng gánh giang sơn thì chắc chết tươi với họ Trịnh lâu rồi. Nhà Lê tuy là kẻ thù nhưng cũng phải khen lấy khen để Mạc Kính Điển trong Đại Việt sử ký toàn thư. Còn Mạc Ngọc Liễn trung thành với 5 đời vua Mạc thì để lại lời dặn giá trị muôn đời khi mọi thứ sắp kết thúc:
-Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào? Chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng.
Lúc này phe nhà Lê đã có thêm Trịnh Kiểm (ông này mình từng có một bài viết riêng rồi). Nguyễn Kim bị nhà Mạc sai sát thủ ám toán chết tức tưởi. Trước khi tắt thở, Nguyễn Kim giao tất tần tật tuốt tuồn tuột mọi công tác “phò Lê diệt Mạc” cho ông con rể Trịnh Kiểm quý hóa.
Nguyễn Hoàng (con trai Nguyễn Kim) vì quá lo sợ sự hắc ám của anh rể Trịnh Kiểm, đặc biệt là sau cái chết đáng ngờ của anh ruột Nguyễn Uông nên tìm mọi cách để xin vào miền nam. Trịnh Kiểm đồng ý và đây chính là điểm rạn nứt đầu tiên dẫn đến Trịnh Nguyễn phân tranh về sau. Hoàng cập bến Quảng Trị rồi liền bắt đầu âm thầm xây dựng, cấp tốc mở rộng về phương nam, lấn sang cả đất của Chăm Pa ngày xưa. Ông muốn tạo nên một vương quốc của riêng mình, đề phòng nhỡ sau này Kiểm trở mặt thì gia tộc họ Nguyễn vẫn an toàn thoát khỏi nanh vuốt của nhà Trịnh.
-Hoàng, giúp anh đánh Mạc.
Trịnh Kiểm gửi thư vào nam ra lệnh. Nguyễn Hoàng phải vâng mệnh vì xứ sở Đàng Trong non trẻ đang phát triển dở dang, giờ nhỡ Trịnh Kiểm phát giác ý đồ của ông có khi bộ phim đến đây là hết. Nhà Mạc dù thua te tua nhưng quyết chơi quân tử không cầu viện giặc Minh nhờ di ngôn của Mạc Ngọc Liễn. Trịnh Kiểm sau đó bệnh chết, nhưng Trịnh Tùng con trai ông ta lại càng đáng sợ hơn cha mình gấp bội. Dã tâm và tài năng của Trịnh Tùng vô cùng ghê gớm. Sếp Tùng hai lần chiếm lại được Thăng Long, chém đầu được Mạc Mậu Hợp, trung hưng nhà Lê và tự xưng là chúa Trịnh.
Chưa hết, Trịnh Tùng còn lừa Nguyễn Hoàng ra Hà Nội và giam lỏng ở đây. Hoàng bị giam đến tận 7 năm mới trốn thoát được về nam, từ đấy vĩnh viễn chẳng quay lại đất bắc. Nguyễn Hoàng sau pha hết hồn đó liền điên cuồng xây dựng dữ dội hơn trước. Hoàng biết rằng ngày mà họ Trịnh muốn tận diệt họ Nguyễn để thống trị Đại Việt không còn xa, và nếu chính ông không hành động ngay bây giờ thì dòng dõi ông sẽ phải trả giá rất đắt.
-Nếu đánh thắng họ Trịnh thì đó là công nghiệp muôn đời. Còn nếu không thì hãy cố giữ đất đai mà chờ cơ hội. Đừng bỏ qua lời dặn của cha…
Nguyễn Hoàng trăn trối trên giường bệnh. Nguyễn Phúc Nguyên hoàn toàn kế thừa di nguyện của cha mình. Ông từ chối mọi yêu sách đòi cống nạp của sếp Tùng. Trịnh Tùng tức lắm nhưng vẫn còn nhiều thứ phải lo nên chưa muốn động binh trừng phạt. Đến khi con trai Trịnh Tráng lên thay, cho gửi thư vào yêu cầu Nguyễn Phúc Nguyên nhận sắc phong của triều đình. Đào Duy Từ đáp lại Trịnh Tráng bằng một cái mâm đồng phủ lụa, có kèm một bài thơ mà ghép lại thì thành ra 4 từ rất hỗn láo:
“Ta không nhận sắc”
Trịnh Tráng nổi cơn thịnh nộ xé toạc bức thư và khởi 20 vạn đại binh tiến đánh Đàng Trong. Chiến tranh chính thức bùng nổ. Đàng Ngoài tấn công dữ dội trong 4 tháng nhưng không khuất phục được Đàng Trong. Trịnh Tráng tức tối phải thu quân về. Ngay sau chiến thắng, Đào Duy Từ hiến kế cho chúa Nguyễn:
-Thầy sẽ giúp con xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố và tối tân nhất ngay Quảng Bình.
Nguyễn Phúc Nguyên thắc mắc:
-Thầy định làm gì?
Duy Từ cứng rắn:
-Rạch đôi sơn hà!
Và thế là một công trình vĩ đại được tiến hành thi công bên bờ nam sông Gianh. Ngày xưa Tần Thủy Hoàng xây dựng Vạn Lý Trường Thành để ngăn hung nô từ phương bắc, thì ngày nay Nguyễn Phúc Nguyên cũng xây dựng Lũy Thầy để ngăn họ Trịnh từ phương bắc! Đại khái lũy này gồm nhiều lớp tường thành, ngăn cách Đàng Trong với Đàng Ngoài. Trong chiến tranh Việt Nam thì chỉ có sông Bến Hải là chia đôi đất nước, nhưng thời Trịnh Nguyễn phân tranh thực sự đã có một bức chiến lũy cắt ngang quốc gia của chúng ta. Để đẩy mạnh kinh tế, chúa sãi Phúc Nguyên mở cửa Hội An chào đón thương lái toàn cầu, học cách sản xuất súng của Bồ Đào Nha. Súng pháo đem đến Lũy Thầy chĩa qua bờ bên kia. Thằng Trịnh nào láo dám mò qua đây tao bắn bể sọ.
Mặc dù Đàng Ngoài của họ Trịnh nhiều dân hơn, nhưng Đàng Trong vẫn có lợi thế nhất định. Bởi vì họ có địa lợi: nơi đây hẹp nhất Việt Nam, núi dôi ra gần biển che chở cho Đàng Trong, lại thêm đồng bằng phẳng phiu để đóng quân. Cuối cùng là các chuyên gia quân sự châu Âu cũng như những vũ khí hiện đại nhất thế giới ngày đó đóng đầy ở Lũy Thầy.
Trịnh nhiều lần cố gắng hết sức để chọc thủng Lũy Thầy nhưng đều bị chặn đứng. Họ thử đủ thứ cách. Từ đi đường biển để vòng qua tường thành, cho tới đua đòi bắt chước Nguyễn copy phong cách châu Âu. Các khẩu thần công Hà Lan của nhà Trịnh bắn thủng được lớp tường thành đầu tiên nhưng bó tay với lớp thứ hai. Ba tàu chiến Hà Lan tới được cửa biển Thuận An thì còn được một cái chạy về. Đánh mãi mà không xuyên phá được hệ thống phòng thủ cứng cáp của Nguyễn nên Trịnh bắt đầu thấy ức chế và mệt mỏi. Cùng lúc đó vua Lê lăn đùng ra chết ngoài bắc, và đây là cơ hội cho nhà Nguyễn phản công.
-Tao nhịn mày đủ rồi nha!
Quân Nguyễn khởi hùng binh bắc phạt. Họ tiến cực nhanh, chiếm Quảng Bình, rồi kế đó là Hà Tĩnh. Ngay lúc đó Trịnh Tráng chết nên quân Nguyễn thừa dịp đánh lên Nghệ An luôn. Coi như chỉ còn Thanh Hóa, Ninh Bình và Hà Nam nữa là tới Hà Nội rồi! Tình hình vô cùng nguy cấp nhưng chúa Trịnh Tạc đã đảo ngược thế cờ khi dẫn quân đội hoàng gia cày nát quân Nguyễn, đánh bật họ trở lại những bức tường. Đang đà thắng thế, Trịnh Tạc hăng máu công phá cả Lũy Thầy nhưng vẫn như Trịnh Tráng, chịu thua, không đánh sập nổi. Trịnh Căn là người cuối cùng thử độ dày của “Vạn Lý Trường Thành made in Đàng Trong”, kết quả ra sao thì để độc giả tự hiểu. Hai bên đánh nhau mấy lần không ăn được nên cũng chán, đành ký hiệp định hòa bình, có chủ xị là vua Khang Hy làm chứng.
Hòa bình kéo dài cỡ 100 năm, tới khi khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ. Ba anh em Nhạc Huệ Lữ quẩy tưng bừng Đàng Trong. Trịnh Sâm nhận thấy thời cơ đã chín, bèn ra lệnh cho chiến thần Hoàng Ngũ Phúc vượt Lũy Thầy một lần nữa. Và lần đầu tiên thưa các bạn, lần đầu tiên Lũy Thầy đã bị xuyên thủng, quân Trịnh ồ ạt băng qua sông Gianh để tiến vào lãnh địa chúa Nguyễn. Nguyễn Phúc Thuần hoảng sợ bỏ chạy vào Gia Định, kinh thành Phú Xuân thất thủ. Quân Tây Sơn đuổi theo truy sát tới người cuối cùng, còn cậu bé Nguyễn Phúc Ánh sống sót. Vài năm sau quân Tây Sơn tiếp tục ra bắc múc luôn nhà Trịnh.
Trịnh Nguyễn phân tranh 200 năm cuối cùng hoàn toàn chấm dứt bởi Bắc Bình Vương. Mở đầu cho cuộc chiến mới của couple Ánh Huệ.
Năm xưa vắng non trơ đầu lũy,
Dấu cũ phai chiều lạnh trăng vàng.
Phân ly một giấc mơ màng,
Người sau cảm khái đề hàng thơ suông

Chiến tranh Nam – Bắc triều



Thời thê thảm nhất của dân tộc ta không phải là thời bị ngoại xâm, vì giặc nào cũng chỉ một giai đoạn ngắn ngủi là bị nhân dân Đại Việt cho ăn hành no nê, phải cút thẳng về nước. Mình thấy người Việt rất lạ! Bình thường giành ăn, ghen ghét nhau nhưng lúc tổ quốc lâm nguy thì đoàn kết lạ lùng.
Cho nên mới nói thê thảm nhất phải là lúc người trong nước đánh nhau liên miên không dứt. Nhưng không phải thời Trịnh – Nguyễn. Thời này thì nhờ ông Đào Duy Từ dựng thành lũy chia đôi đất nước nên có đánh nhau thì chỉ quanh quẩn ở gần sông Gianh, không tràn lan toàn quốc.
Thê thảm nhất chính lại là thời Lê Mạc phân tranh kéo dài đến 60 năm, hay còn gọi là Nam Bắc triều. Nói chung triều đại nào cũng vậy, càng về sau càng yếu dần. Triều đại của Lê Lợi sáng lập cũng không ngoài quy luật đó. Tới lúc dặt dẹo quá thì bị một võ tướng tên là Mạc Đăng Dung lật đổ, chiếm lấy Thăng Long – Hà Nội. Mạc Đăng Dung ép mẹ con nhà vua phải tự tử. Thái hậu khấn trời rằng: “Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế.”
Lúc bấy giờ tướng Nguyễn Kim (ông tổ của hoàng đế Gia Long Nguyễn Ánh) không phục hành động của Mạc Đăng Dung, ông mới tìm một người thuộc hoàng tộc để đưa lên ngôi vua. Vị vua mới này lên ngôi tại đất Lào, sau trở về Việt Nam để phục hưng cho gia tộc, và thế là chiến tranh Lê – Mạc bắt đầu.
Nhà Mạc nắm giữ toàn bộ miền bắc nên gọi là Bắc triều. Nhà Lê nắm giữ từ Thanh Hóa trở vào nam nên gọi là Nam triều. Lực lượng của Bắc triều có 12 vạn người và tổ chức khá chặt chẽ. Nam triều tuy sở hữu đất đai hẹp hơn nhưng quân đội thường trực cũng thường xuyên có 6 vạn người.
Việt Nam bấy giờ tồn tại hai thủ đô. Thăng Long nghìn năm văn hiến đã quá nổi tiếng, nơi hoàng tộc triều Mạc ngự trị. Cái kia là Vạn Lại, một kiểu thủ đô tạm bợ dã chiến của triều Lê trong thời gian bị tống cổ khỏi Thăng Long. Nói là tạm bợ nhưng Vạn Lại cũng có khá đầy đủ những gì cần có của một vương triều. Hào kiệt, danh sĩ tứ phương tìm về Vạn Lại. Ai ai cũng đồng lòng góp sức. Một triều đình có đầy đủ văn quan, võ tướng uy nghi được thiết lập. Từ đây, nhiều sắc phong, lệnh chỉ được ban ra khắp nơi. Các sĩ tử cũng tìm về hành điện Vạn Lại để kiếm đường tiến thân. Các kỳ thi Hội, thi Đình được mở ra tuyển chọn nhân tài cho đất nước. Chính nơi đây đã trở thành một trong ba địa điểm thi tuyển tiến sĩ cho cả nước: Thăng Long, Vạn Lại và Phú Xuân.
Cả Nam triều lẫn Bắc triều đều có vấn đề khó nói của họ:
Bắc triều sau vua Mạc Đăng Dung và Mạc Đăng Doanh thì những vua sau toàn con nít. Các đại thần vì chuyện phế lập mà đánh nhau ra trò. Thậm chí có nhiều VIP vì sợ bị hại hoặc vì chán nản đã bỏ về theo Nam triều. May mắn là khi ấy có Khiêm Vương Mạc Kính Điển gánh hết nên nhà Mạc mới đứng vững nổi. Ngay cả Đại Việt sử ký toàn thư vốn có thù với nhà Mạc mà cũng phải dùng tất cả những mỹ từ cao đẹp nhất để nói về Mạc Kính Điển.
Nam triều ban đầu cơ cấu như thế này, vua Lê được hai dòng họ quý tộc Trịnh và Nguyễn phò tá để giành lại ngai vàng với nhà Mạc. Lúc này Trịnh và Nguyễn chưa phân tranh, vẫn cùng một team. Chỉ sau khi thích khách nhà Mạc ám sát lãnh tụ Nguyễn Kim thì mới to chuyện. Nguyễn Kim trao lại quyền lực cho con rể Trịnh Kiểm trước khi chết, nhưng Kiểm muốn giết hai thằng con ông Kim để độc bá võ lâm. Một người may mắn chạy về được phương nam và tạo nền móng cho xứ Đàng Trong, nguyên nhân của Trịnh Nguyễn phân tranh về sau.
Sau khi Trịnh Kiểm qua đời thì hai đứa con của ông ta là Trịnh Cối và Trịnh Tùng giành giật nhau xem ai là lãnh đạo của Nam triều. Cối là anh cả nhưng hay nhậu nhẹt say xỉn, tới hồi Mạc Kính Điển kéo quân đến phang cho tơi bời thì vội đầu hàng. Số phận Nam triều giờ đây đặt hết lên vai cậu con thứ. Trịnh Tùng quê ở làng Sáo Sơn, lại đóng quân gần Lam Sơn, vua Lê cho làm tiên phong đánh Mạc. Cho nên sử gọi là Sơn Tùng Mạc Tiên Phong. Toàn quân nhà Lê được lấy từ ba phủ của Thanh Hoá và Nghệ An được đặt trực tiếp dưới quyền của sếp. Họ là lính của thiên tử nên được xem là thiên binh (The Sky Army). Sơn Tùng M-tp lãnh đạo đội quân Sky phò tá vua Lê, tạo hoá cũng thật khéo sắp đặt.
-Tùng núi, cha cậu giờ đã chết, anh cậu cũng theo Mạc triều. Sao cậu còn cố chấp làm gì?
-Khiêm vương Mạc Kính Điển, ta là thần tử nhà Lê, không bao giờ theo nguỵ triều. Dù ông có là kỳ phùng địch thủ của cha ta, nhưng hổ phụ sinh hổ tử, ta không đầu hàng!
Mạc Kính Điển vuốt râu cười. Tiểu tử này khẩu khí ghê gớm, quả thật không phải dạng vừa đâu. Rồi ông hô:
-Ai bắt sống được Trịnh Tùng ta trọng thưởng.
-CÓ MẠT TƯỚNG!
Rồi từ trong trung quân nhà Mạc một bóng đen cao lớn vọt ra giữa trận tiền. Vị tướng quân này râu ria xồm xoàm, nhãn thần như điện, tay cầm đại kích, uy vũ như sấm sét, sát khí toả ra ngùn ngụt khiến bất cứ ai nhìn thấy cũng muốn thoái lui ngay tại đương trường. Bên nhà Lê nhiều binh sĩ nhận ra, xôn xao cả một vùng, trên mặt ai cũng không giấu được nỗi lo lắng.
-Nguyễn Quyện đấy.
-Chiến thần Nguyễn Quyện!
Ngay cả Trịnh Tùng cũng rất ngạc nhiên khi chính sếp cũng không ngờ Nguyễn Quyện vô địch lại có mặt tại đây. Danh tướng số một Bắc triều không nói không rằng thúc ngựa lao thẳng về phía Trịnh Tùng.
-To gan!
Hoàng Đình Ái của Nam triều phi ra hộ vệ chủ tướng. Nguyễn Quyện cười khẩy rồi đâm mạnh kích vào mặt Đình Ái, Ái đưa đại đao ra gạt. Hai tướng đánh với nhau 50 hiệp không phân hơn thua, hai ngựa chiến quần thảo lồng lộn, bụi bay mù trời xứ Thanh. Trịnh Tùng ngẩn ngơ đứng xem màn ác đấu, quên cả nguy hiểm. Bất ngờ Mạc Kính Điển cầm cờ lệnh phất nhẹ một cái, quân Bắc triều tràn lên tấn công. Trịnh Tùng bừng tỉnh:
-Cung thủ giữ vị trí, bộ binh dàn chữ nhất!
Bỗng có tiếng huyên náo, thì ra một đạo quân của Mạc Ngọc Liễn đã lén đi vòng ra sau tập kích. Quân Nam triều trước mặt và sau lưng đều bị tấn công, không còn theo hàng ngũ gì cả, đạp lên nhau mà chạy. Trịnh Tùng thua đau, quay ngựa đào tẩu. Mạc Kính Điển nói:
-Nguyễn Quyện, Ngọc Liễn, bắt sống chứ đừng giết!
Nguyễn Quyện gật đầu, lên gân bạt mạnh một đường kích đẩy Hoàng Đình Ái dạt ra, rồi xông lên quyết tóm cổ Trịnh Tùng. Tùng cưỡi ngựa trắng nên rất dễ thấy dù chiến trường đang vô cùng hỗn loạn. Quyện rướn người, cố dùng ngạnh kích móc áo Tùng để vật xuống nhưng quá tầm, chỉ trúng chiếc mũ. Mái tóc dài của Tùng xổ tung ra bay phấp phới. Quyện thúc ngựa chạy song song, vươn tay cố chụp lấy. May thay Nguyễn Hữu Liêu đúng lúc đó cầm đoản đao chặt xuống, nếu Quyện không kịp thu tay lại đã thành Dương Quá rồi.
-Chúa công chạy hướng này.
Nguyễn Hữu Liêu hộ tống Trịnh Tùng, lại thêm Hoàng Đình Ái đuổi theo. Hai đánh một không chột cũng què, Nguyễn Quyện đành rẽ sang đường khác về lại quân Mạc. Sau trận ấy Trịnh Tùng cố thủ, sai Lê Cập Đệ dùng bùn và tre để xây thành giả. Mạc Kính Điển thấy chỉ có một đêm mà thành đã xây xong thì vô cùng kinh ngạc, vội ra lệnh đánh gấp. Tuy nhiên sếp Tùng tử thủ quá lì lợm. Đánh mãi không thắng được nên Bắc triều rút quân trước khi mùa đông lạnh lẽo tràn về.
-Nhà vua muốn giết ta?
Trịnh Tùng phát giác âm mưu trừ khử mình nên ra tay giết vua Lê Anh Tông, rồi lập đứa con lên thay. Quân Mạc nhiều lần kéo đến đánh nhưng nhờ cái đầu lạnh nên dù chịu rất nhiều áp lực, sếp Tùng vẫn cân được hết. Một mình Trịnh Tùng phải đối phó với quá nhiều thế lực:
-Quân Mạc ở phía bắc.
-Tiên chúa Nguyễn Hoàng ngầm chống đối ở phía nam.
-Nội bộ nhà Lê.
Sống giữa một môi trường như vậy, nếu không tàn nhẫn, đôi khi độc ác thì anh không thể tồn tại được. Thậm chí cái ngày nhà bị cháy, mẹ chết, mà Tùng vẫn chỉ lén gạt lệ không cho quân sĩ biết, và ra trận như bình thường. Một người đàn ông lạnh lùng và sắt đá hiếm có, ngay cả Nguyễn Huệ khi vợ chết mà còn gào khóc vật vã mấy hôm liền.
Rồi cũng đến ngày Mạc Kính Điển già yếu qua đời. Thiếu ông nhà Mạc như mất đi cột trụ vĩ đại nhất. Trịnh Tùng thấy thời cơ giành lại Thăng Long đã tới, bèn chia quân làm 5 đạo, đó là mùa đông năm 1592. Tiết trời giá lạnh của miền bắc Việt Nam cũng không giảm nhiệt tinh thần của các Sky.
-Đoàn quân nhà Lê đi, chung lòng cứu quốc, bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa!
Đến địa phận xã Phấn Thượng, Trịnh Tùng và vua Mạc Mậu Hợp đối đầu với nhau. Hai bên bay vào xáp lá cà. Nhưng Mạc Mậu Hợp thì kinh nghiệm chiến trường sao bá đạo được như sếp Tùng. Quân Mạc vỡ vụn, bị chém chết rất nhiều, khí giới và chiến mã rơi vào tay quân Lê vô số kể. Trịnh Tùng đi đến đâu san bằng tất cả thành bình địa đến đó. Nguyễn Hữu Liêu phóng hoả, một góc kinh đô Thăng Long bốc cháy ngùn ngụt. Mạc Mậu Hợp cắm đầu bỏ chạy.
-Thưa chúa công, đã bắt được Nguyễn Quyện.
-Dẫn ra đây gặp ta.
Trịnh Tùng ngồi ghế, cao ngạo nhìn xuống vị chiến thần thất thế với khuôn mặt đáng thương. Tùng cười:
-Ông còn nhớ ngày xưa chứ?
Rồi Tùng đứng dậy đến tự tay cởi trói cho vị danh tướng, đồng thời ban lời chiêu dụ. Nguyễn Quyện thở dài:
-Nếu trời đã bỏ nhà Mạc thì người anh hùng cũng khó ra sức.
Tuy vậy Nguyễn Quyện vẫn đau đáu về Mạc triều, ông bày cho Trịnh Tùng:
-Phá sạch tường thành và chiến luỹ trong Thăng Long là điều cần làm lúc này.
Trịnh Tùng không mảy may nghi ngờ, liền sai quân làm theo. Thực ra Nguyễn Quyện muốn trong lúc các Sky đang bận rộn đập phá sẽ mua được chút thời gian cho nhà Mạc tổ chức quân đội lại phản công. Trịnh Tùng tuy thắng trận nhưng vẫn lo chưa đủ mạnh để giữ Thăng Long nên rút quân trở về Thanh Hoá.
-Chúng nó đi hết rồi, hên quá.
Mạc Mậu Hợp quay lại kinh thành, nhưng thay vì tận dụng chút thời gian quý báu Nguyễn Quyện mua cho để tập hợp quân đội, mà chủ quan khinh suất. Và chuyện gì đến cũng sẽ đến, sếp Tùng quay lại.
-Tiến về Hà Nội, ta quét sạch giặc thù
Hướng về đồng bằng, ta tiến về thành đô
Nước nhà còn chờ trận cuối là trận này
Tiếng về đồng bằng, giải phóng thành đô!
Các Sky hát vang trời dậy đất và ào ạt xông lên. Nhờ vào sự lãnh đạo tài tình và sáng suốt, cùng đường lối chính trị vững vàng của sếp Tùng, Mạc Ngọc Liễn dù có ba đầu sáu tay cũng không thể đỡ được. Kinh thành thất thủ hoàn toàn, Mạc Mậu Hợp bỏ trốn. Trịnh Tùng bèn cho Sky lùng bắt và biết được địa điểm. Lúc đó Mạc Mậu Hợp đang nghiễm nhiên ngồi thiền trong chùa. Sky hỏi thăm thì Hợp lúng túng:
-Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này. Chén muối, đĩa rau hàng ngày trai dưỡng. Thắp hương thờ phật, công đức chuyên làm.
Quân Sky thấy nhà sư nói hoạt bát khiêm tốn, biết là Mậu Hợp, bèn bắt giữ. Ông tự liệu không thể thoát được, bèn thú thực và nói rằng:
-Mấy ngày trước tôi chạy trốn ẩn núp trong rừng rậm đã quá đói khát, dám xin cho một bình rượu uống cho đã.
Sky bèn cho bình rượu. Sau khi Mậu Hợp uống thỏa thích, ngậm ngùi than rằng:
-Nghiệp chướng quá sâu! Nay cầu làm một người dân thường cũng không thể được. Tội lỗi chỉ vì tổ tiên đã giết vua cướp ngôi, đến nỗi con cháu ngày nay phải mắc tội nặng như vầy. Mong tướng sĩ dẫn tôi đến trước Lê hoàng đế để bày tỏ thực tình. Đó là điều lòng tôi rất mong muốn.
Sky bèn sai dùng voi chở Mậu Hợp giải về Thăng Long. Khi ông tới trước hành doanh, Trịnh Tùng sai dàn binh mã cực kỳ uy nghiêm, rồi mới cho dẫn Mậu Hợp vào yết kiến. Mậu Hợp dập đầu phủ phục ở ngoài sân. Trịnh Tùng truyền hỏi tới 3 lần, Mậu Hợp vì quá sợ, cứ ấm ớ không thể đáp được, Sếp bèn sai dẫn ra ngoài cửa quân, giam tù tại đây.
Tất cả các quan văn võ của Nam triều đều bàn:
-Chiếu theo luật pháp thì cướp ngôi phải xử lăng trì và dâng đầu để tế tiên vương.
Trịnh Tùng thấy Mạc Mậu Hợp về hàng, không nỡ sử dụng cực hình, bèn nói:
-Treo hắn lên 3 ngày rồi đem ra bãi cát Bồ Đề chém đầu.
Mậu Hợp chết, thủ cấp dâng lên vua Lê tại hành cung Vạn Lại, đem đóng đinh vào 2 con mắt, rồi bêu ra ngoài chợ. Sử ký toàn thư viết thế, nhưng có lẽ Mậu Hợp đã trốn thoát.
Thế là chiến tranh Lê – Mạc kết thúc. Cuộc chiến này cực kỳ tàn khốc, đặc biệt là giai đoạn 1545-1580, hai bên lúc thắng lúc thua, tranh nhau từ Ninh Bình đến Nghệ An. Dài hơn cả chiến tranh Việt Nam và đô hộ của nhà Minh cộng lại. Đất đai bị giằng qua giật lại, dân bị cả hai bên cướp giết hiếp khổ không tả xiết. Hoàn toàn không có chính nghĩa hay niềm tin gì ở đây cả.
Trong 60 năm chiến tranh giữa Lê và Mạc đã diễn ra 38 trận lớn nhỏ, cả hai bên đều huy động gần hết các lực lượng lao động chính trong xã hội vào cuộc chiến cùng những nhân tài, vật lực trong tay. Cuộc chiến đã tác động tiêu cực đến đời sống nhân dân toàn quốc. Sức mạnh Đại Việt trên bản đồ thế giới bị suy yếu nghiêm trọng vì dân trong nước làm ra bao nhiêu của cải đều đổ hết vào việc chém giết lẫn nhau. Chỉ có thằng Tàu khựa là ngồi rung đùi quan sát và… sướng.
“Hậu vương xem đó giữ non sông,
Chớ để ngai vàng phải lở long.
Gan óc sinh linh đầy đất loạn,
Lửa thiêu tàn núi, máu loang đồng.”
Vua Lê trở về cố đô trong tiếng nhã nhạc thanh bình. Nhà Mạc theo lời cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm lánh lên Cao Bằng xây dựng một vương quốc nhỏ ở đó thêm 80 năm nữa. Mạc Ngọc Liễn trước khi mất đã có câu nói bất hủ:
-Nay khí vận nhà Mạc đã hết, họ Lê lại trung hưng, đó là số trời. Dân ta là người vô tội mà khiến để phải mắc nạn binh đao, ai nỡ lòng nào! Chúng ta nên lánh ra ở nước khác, nuôi dưỡng uy lực, chịu khuất đợi thời, chờ khi nào mệnh trời trở lại mới làm được, chứ không thể lấy lực chọi với lực. Khi hai con hổ tranh nhau, tất phải có một con bị thương, không có ích gì cho công việc. Nếu thấy quân họ đến đây thì chúng ta nên tránh đi, chớ có đánh nhau với họ, cốt phòng thủ cẩn thận là chính; lại chớ nên mời người Minh vào trong nước ta mà để dân ta phải lầm than đau khổ, đó cũng là tội lớn không gì nặng bằng.
Một triều đại cao thượng và quân tử. Đời sống ấm no, trộm cướp vắng bóng, vốn đã có thể biến Việt Nam hoá rồng sớm hơn Nhật 200 năm, nay bị tiêu diệt chẳng còn gì. Âu cũng là điều đáng tiếc.
Trịnh Tùng công lao cực lớn nên vua phong Bình An vương, được phép cho xây phủ chúa, khởi đầu ở phố Khâm Thiên, gần Ô Chợ Dừa và con đường đắt nhất thế giới Xã Đàn bây giờ. Sau đó quy mô ngày càng mở rộng, lấn qua cả Vincom Bà Triệu, phở Thìn, kem Thuỷ Tạ… Phủ chúa được toàn quyền đặt quan, thu thuế, bắt lính. Cả trời Nam sang nhất là đây. Mình đã viết chi tiết trong một bài khác.
Tiếng tăm của Trịnh Tùng còn vang đến đất Trung Quốc, khiến hoàng đế nhà Minh phải khen là Chân anh hùng. Thế nhưng quyền át cả vua là điều không nên, và Lê Kính Tông tìm cách ám sát sếp.
Bình thường Trịnh Tùng cưỡi voi. Hôm ấy, sếp thấy trong lòng không yên, cho voi ngựa và thị vệ đi trước, còn tự mình ngồi kiệu đi sau. Đến chỗ ngã ba có tiếng súng nổ, bắn gãy cây lọng tía. Sếp giật mình sai truy bắt thích khách đem về phủ tra hỏi. Hắn khai là nhà vua và con trai sếp Trịnh Xuân sai làm.
-À, thằng vua mất dạy và thằng con bất hiếu dám âm mưu hãm hại ta.
Rồi sếp nói:
-Thời kỳ họ Mạc nhà vua đã không còn thiên hạ. Cha tôi thân khởi nghĩa binh, đón tiên đế từ trong hang núi trở về sáng lập triều đình. Tôi tôn phò 3 triều, thân trải trăm trận đánh, thu phục giang sơn, tổn phí bao tâm lực, tuổi đã 70. Nay nhà vua nghe đứa con phản nghịch, nhẫn tâm làm việc này.
Cả triều đình nhao nhao lên cho rằng vua là hôn quân, và Lê Kính Tông bị xử tử bằng cách thắt cổ. Kỷ lục Việt Nam đến lúc này chính thức xác nhận rằng sếp là người giết nhiều vua nhất lịch sử, triple kill 3 ông. Good job sếp Tùng.
Nhưng sếp cũng là người, không thoát khỏi sinh lão bệnh tử. Vấn đề đau lòng nhất của sếp là các con trai đánh nhau dữ dội để tranh quyền làm chúa. Trong lúc chạy loạn, sếp Tùng bị thuộc hạ bỏ lại trên kiệu giữa đường. Thân mang bệnh nặng, sếp không thể làm gì khác, hơi thở nặng nề, cảnh vật mờ dần trước mắt. Tào Tháo của Việt Nam, gian hùng vĩ đại nhất đã qua đời cô đơn như vậy đó.
Nhưng 400 năm sau sếp lại trỗi dậy một lần nữa, và đó là một câu chuyện khác.

-Ta thấy hai cháu là người có tài, tại sao phải chịu làm bề tôi cho người khác mãi thế?
Tiên chúa Nguyễn Hoàng ôn tồn nói với hai chiến tướng Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê. Xin nói thêm là Tiên chúa từ miền nam ra bắc được hơn 7 năm. Ban đầu được Trịnh Tùng yêu cầu phụ đánh Mạc, sau khi tái chiếm được kinh đô thì vua Lê phong cho hẳn làm Thừa tướng và giữ lại Thăng Long.
-Cậu nói rất phải.
-Nếu các cháu cho là phải, hãy giúp cậu lần này.
Nguyễn Hoàng ban đầu được Trịnh Tùng lấy tình ruột thịt đối xử rất tốt, nhưng qua thời gian, sếp Tùng thấy ông cậu Hoàng của mình là người hùng tài nên dần e ngại, càng lúc càng lạnh nhạt, xuất hiện ý nghĩ trừ khử. Đôi lần nhìn sắc mặt băng giá của Tùng, chúa Hoàng đã thấy không ổn, bắt đầu tính kế thoát thân.
-Cậu làm trấn thủ cả vùng Quảng Nam và Thuận Hoá to lớn, mấy đứa bay lo gì mà không có cơ hội làm nên đại nghiệp?
Nguyễn Hoàng liên tục dụ dỗ Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê. Hai ông tướng nghe thấy hấp dẫn quá nên máu cũng dồn lên não. Hoàng lén đưa tay làm ám hiệu, người hầu hiểu ý liền lui ra. Một lúc sau thì có tiếng huyên náo, Hoàng bảo Ngạn và Khuê nấp đi, rồi ra đón tiếp người vừa đến.
-Chẳng hay sứ giả của chúa Trịnh đến có chuyện gì?
-Chúa thấy bọn Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê kiêu căng tự phụ, lại sẵn binh lính đông đảo, muốn nhờ ngài diệt trừ giùm.
-Tôi biết rồi.
Nguyễn Hoàng cung kính, rồi tiễn sứ giả ra về. Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê nghe thấy thì vô cùng tức giận, quyết ý làm phản chúa Trịnh, nhưng đâu ngờ vị sứ giả vừa đến là tay chân của chúa Nguyễn đóng giả.
-Ông ta là anh hùng, thì bọn cháu cũng là hào kiệt. Đều là nam nhi hết, ngán gì?
-Các cháu đừng nóng, cẩn thận tai vách mạch rừng.
Ngạn và Khuê cảm tạ rồi ra về. Nguyễn Hoàng mừng lắm, lập tức sáng hôm sau đi bộ sang phủ chúa trình bày. Sếp Tùng nghe xong nói:
-Việc bắt hai thằng phản tặc ấy nhờ cậu định đoạt nhé.
Kế này quá cao tay, con đường phía trước đã dần sáng sủa, Nguyễn Hoàng cười thầm rồi quay lại phủ dọn dẹp hành trang để chuẩn bị kế hoạch đào thoát vĩ đại của mình khỏi miền bắc. Chúng ta không thuộc về nhau.
“Chớ bảo giếng làng nhện chăng lưới,
Hãy xem ngựa chiến vượt khe rào.
Rồng thần há phải loài ao cạn,
Nằm đợi trời cao gió thét gào?”
-Nhậu đi, tới bến mấy ông eiii!!!
Sếp Tùng nâng ly và cạn chén liên tục. Hôm ấy là tết đoan ngọ, cả triều đình quắc cần câu. Nguyễn Hoàng ra bến nước chỉnh đốn thuỷ quân. Ông bước lên sàn tàu, nhìn cố hương lần nữa rồi nói:
-Từ độ mang gươm đi mở cõi. Trời nam thương nhớ đất Thăng Long…
Nguyễn Hoàng hô to “khởi hành”. Con thuyền chở Tiên chúa giương buồm lên đón đợt gió đầu tiên. Đồng loạt các thuyền khác cũng căng buồm trực chỉ phương nam. Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê hay tin Nguyễn Hoàng lên đường thành công thì nhìn nhau gật đầu:
-Thời điểm đã chín!
Nói rồi hai tướng nai nịt, vũ trang tận răng, kéo về kinh thành với khí thế nuốt phong vân. Ngạn và Khuê dùng hoả công đốt doanh trại, phố phường. Dân chúng thủ đô khiếp vía vì có biến. Một góc Thăng Long khói lửa cuộn ầm ầm, khét lẹt cả vùng. Người đời sau có thơ khen rằng:
“Khai cơ sáng nghiệp mở dư đồ,
Thao lược mưu mô giỏi tính lo.
Nam trấn rồng bay về đất chúa,
Bắc triều gió nổi rối kinh đô.
Chớ rằng Trịnh Tùng tài cao nhất,
Hãy nói Nguyễn Hoàng trí chẳng nhì.
Chúa sáng vươn mình ngời cõi nội,
Muôn năm xây lớn vững quy mô.”
-Phản tặc!
Trịnh Tùng bị bất ngờ, vội điều động anh em ra giao chiến, nhưng đều bị Ngạn và Khuê trổ tài đánh bại hết. Sếp buộc phải đem theo vua Lê đến Thanh Hoá lánh nạn, bỏ trống kinh đô. Lúc bấy giờ một lực lượng thứ ba bất ngờ xuất hiện: nhà Mạc.
-Phong toả Thăng Long.
Mạc Kính Cung tế ngựa đi thẳng vào thành, sau lưng ông là đại đội hùng binh Mạc triều. Phan Ngạn và Bùi Văn Khuê bước tới chắp tay:
-Càn Thống hoàng đế!
-Các khanh bình thân.
Cần nói rõ trong thời Nam Bắc triều thì chuyện “sáng Lê, chiều Mạc, tối lại Lê” là chuyện rất thường. Trong sự kiện thất thủ Thăng Long mấy năm trước, khi đó Kính Cung đang cầm quân tận Hải Dương. Khi kinh thành rơi vào tay Trịnh Tùng thì ông không về cứu kịp, khiến vua Mạc Mậu Hợp bỏ chạy và sau đó bị bắt chém đầu.
-Anh trai Mạc Kính Chỉ của ta cũng bị Tùng giết.
Kính Cung thở dài. Sau đó ông chia quân ra đóng giữ những nơi hiểm yếu trong thủ đô, đồng thời chiêu an dân chúng. Lúc này Thăng Long đã khá đổ nát do nhiều biến cố dồn dập liên tiếp xảy ra. Kính Cung nói:
-Thế nào Trịnh Tùng cũng sẽ trở lại, nếu có chuyện bất trắc, hãy đi lên Cao Bằng.
Quả nhiên 3 tháng sau, khi đã hồi sức hoàn toàn, quân Lê Trịnh bắt đầu rục rịch khởi động. Mạc Kính Cung dắt gươm sau lưng, phi ngựa đến Gián Khẩu sắp đặt đội hình. Quân Lê Trịnh ào ạt như thác lũ cuốn về Thăng Long. Lính Mạc gồng mình, tay nắm chặt vũ khí sẵn sàng đẩy lùi đối phương.
-Bắn!
Loạt đạn đì đùng từ phía quân Lê đốn ngã đội tiên phong nhà Mạc, sau đó hết lớp này đến lớp khác tràn lên. Hai bên hỗn chiến kịch liệt, máu văng tung toé. Bất ngờ Nguyễn Khải xuôi dòng sông Hát đánh xuống, quân Mạc chống không nổi bỏ chạy tứ tán. Mạc Kính Cung vẫn bình tĩnh chạy về Kim Thành đóng doanh trại. Trịnh Tùng biết được:
-Hoàng Đình Ái, truy sát hắn, bắt sống hay giết chết tuỳ ý ngươi.
-Tuân lệnh chúa thượng.
Đình Ái là danh tướng nhà Lê, sức địch muôn người. Ái hông dắt đoản đao, tay cầm trường thương, dẫn một cánh quân đột phá Kim Thành. Mạc Kính Cung buộc phải bỏ trại chạy lên tận Lạng Sơn.
-Cao Bằng tuy nhỏ, khả diên sổ thế.
Lời trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm căn dặn gia tộc nhà Mạc, ông vẫn còn nhớ. Kính Cung không bỏ cuộc, ông lặn lội lên xứ sở mới, nơi về sau sẽ trở thành kinh đô của vương quốc do ông cai trị. Cao Bằng hiểu đơn giản là vùng đất bằng phẳng trên cao. Hoang vu và giá lạnh, sương giăng tứ phía, khung cảnh cô tịch u buồn, nhưng ít ra là nơi khả dĩ nhất để xây dựng triều đại nhà Mạc trung hưng lúc này.
Sau khi ổn định thì Mạc Kính Cung bây giờ mới chính thức lên ngôi hoàng đế, bắt đầu cho xây cất và sửa sang mọi thứ. Không những khuyến khích phát triển kinh tế, Mạc Kính Cung còn quan tâm đào tạo cả người thiểu số và người Kinh.
-Vị tiến sĩ này sao xinh xắn thanh tú không giống nam nhi?
Trong buổi tiệc chiêu đãi tân khoa, Mạc Kính Cung quan sát và hỏi lớn. Hoá ra nàng Nguyễn Thị Duệ cải trang đi thi. Mọi người nhao nhao phản đối, đòi bắt tội, thì vua cười và xua tay:
-Nhân tài là của báu, tại sao phải phạt?
Nàng Duệ là nữ trạng nguyên duy nhất thời phong kiến Việt Nam. Vua Mạc Kính Cung yêu mến nên mời vào cung dạy các phi tần, sau đó lấy bà luôn, gọi là Tinh Phi – Bà chúa Sao. Thỉnh thoảng hai vợ chồng cũng rời cung ngoạn cảnh. Vương quốc này cảnh thú thanh lịch, có chùa Viên Minh, đền thần và cung điện lầu cao gác đẹp, có chuông chùa hàng ngày đánh lên vang động không trung.
“Nàng về nuôi cái cùng con
Để anh đi trẩy nước non Cao Bằng.”
Thế nhưng yên bình chẳng được bao lâu, Trịnh Tùng nhiều lần điều quân lên Cao Bằng quyết nhổ cỏ nhà Mạc. Mạc Kính Cung nhớ lời Ngọc Liễn, khi hai con hổ đánh nhau, tất có một con bị thương, không ích lợi gì, vả lại cũng đừng mời quân Minh. Thế nên Kính Cung vừa đánh vừa rút, khi nào quân Trịnh đi hết mới trở về, hết sức vất vả.
-Niềm tin đã mất, giọt nước mắt cuốn ký ức anh chìm sâu…
Mạc Kính Cung đăm chiêu bóp trán. Mắt lim dim thả hồn theo điệu nhạc. Vua trị bệnh trầm uất bằng âm nhạc, đặc biệt là điệu then của dân Tày Nùng. Giữa Ly Cung rộng lớn, tiếng đàn sáo vang lên như nói hộ nỗi lòng nhà vua.
Rồi một ngày kia Trịnh Tùng qua đời, con trai Trịnh Tráng lên thay, quyết ý một phen này tóm được nguỵ vương Mạc Kính Cung. Quân nhà Lê băng đèo, vượt suối, vin rễ cây, bám hốc đá, gươm giáo sáng loáng tiến về kinh đô nhà Mạc. Trịnh Tráng phất tay ra hiệu, những mũi tên lửa bay như sao sa rợp một góc trời Cao Bằng. Quân lính dắt đồ dẫn lửa đánh hoả công khắp nơi.
-Hoàng thượng chạy đi!
Các quan Mạc gào lên trước khi gục xuống trong đám loạn quân. Mạc Kính Cung rẽ vào đường nhỏ chạy, nhắm theo sao Bắc Đẩu bỏ trốn. Chạy được nửa canh giờ, trăng đã lên cao, khung cảnh rừng núi âm u tịch mịch. Tạm yên tâm, vua ngồi tựa vào gốc cây nghỉ mệt, ngẫm lại những chuyện đã qua trong đời.
Bỗng lưới từ đâu chụp xuống, trói nghiến Mạc hoàng đế. Thì ra phục binh nhà Trịnh đã cắm ở đây từ lâu. Vua biết mệnh trời đã dứt, không chống cự nữa, theo họ về Thăng Long.
-Tiếm nguỵ ngai vàng, tội đáng muôn chết.
Đao phủ đưa đao lên, chuẩn bị hành hình. Mạc Kính Cung nói lời cuối:
-Chờ xem ngày sau sẽ ra sao.
Và ung dung mỉm cười khi lưỡi đao sắc lạnh hạ xuống, chấm dứt chục năm trị vì Cao Bằng.

Nguyễn Hoàng và cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều


-Mai, chúng ta thu xếp rồi lên đường ngay.
-Đi đâu vậy anh?
-Thuận Hóa.
Nguyễn Hoàng đáp nhanh trong khi bận rộn cất những đồ quý giá vào rương. Bà Nguyễn Thị Mai há hốc miệng, không tin những gì chồng vừa trả lời. Thuận Hóa? Tại sao lại là xứ Ô châu ác địa đó? Nguyễn Hoàng nói:
-Anh sẽ giải thích sau. Nhanh, chúng ta không phải đi du lịch đâu. Em muốn đem theo những gì thì đóng thùng hết trong hôm nay. Lát anh sẽ chuyển tất cả lên tàu vào nam.
Ông sai gia nhân khệ nệ vác rương ra ngoài. Nguyễn Hoàng quẹt mồ hôi, xắn tay áo lên thu dọn tiếp. Bà Mai cũng tất tả phụ chồng. Thì ra ông đang chuẩn bị chạy nạn. Hoàng vốn là con trai thứ của danh tướng Nguyễn Kim. Năm 1527, xảy ra sự biến Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê, lúc ấy Nguyễn Hoàng mới lên 2 tuổi. Cha ông đã phải tránh sang Lào, xây dựng lực lượng để tìm cách khôi phục nhà Lê. Nguyễn Hoàng được chú ruột Nguyễn Ư Dĩ nuôi dưỡng trong khi cha đi “công tác xa”.
-Nhà mình không đi ngay bây giờ thì chết không có chỗ chôn đâu Mai. Trịnh Kiểm…
Nguyễn Hoàng ngừng lại để quan sát xem có ai nghe lén không, rồi nói khẽ:
-…đang có âm mưu giết anh.
Như mình đã viết ở bài trước, Trịnh Kiểm giúp Nguyễn Kim đánh Mạc, cứu sống ông nên được Kim gả con gái cưng cho. Về sau Nguyễn Kim bị Dương Chấp Nhất đầu độc. Việc Dương Chấp Nhất xin hàng chỉ là kế “trá hàng” vì ông ta vốn là một tay mưu sĩ nhà Mạc. Khi thấy chủ của mình là Mạc Đăng Doanh luôn đau đầu với nhà Lê, Dương Chấp Nhất đã tìm cách xâm nhập vào nội bộ đối phương để phá hoại và đích thân mình thực hiện nhiệm vụ khó khăn này. Nhưng điều ấy vô nghĩa vì mọi quyền lực của Nguyễn Kim sau đó lại được trao cho ông con rể quý hóa cũng hùng tài không kém. Tội Dương Chấp Nhất vãi, lao tâm khổ tứ mà chẳng được gì. =))
Trịnh Kiểm suy nghĩ:
-Hoàng là một thằng giỏi mà dũng cảm, thật là hổ phụ sinh hổ tử. Tự nó chém được tướng Trịnh Chí của quân Mạc. Lúc này thì chưa sao, nhưng nếu không sớm trừ khử thì cơ đồ của họ Trịnh mà ta ấp ủ về sau có nguy cơ mất trắng. Một rừng không thể có nhiều hổ, có ta thì không có mấy thằng con ông Kim.
Một hôm, Nguyễn Uông dù không đau ốm gì tự nhiên lăn đùng ra đột tử. Cái chết oan nghiệt và mờ ám này đã làm cho cậu em Nguyễn Hoàng vô cùng lo ngại, ông cảm thấy rằng bản thân mình sẽ là đối tượng của một âm mưu ám sát. Nguyễn Hoàng vốn là người thông minh nên cũng đoán ra ai là thủ phạm, nhưng vì lúc này thật sự quyền lực nhà Lê nằm hết trong tay Trịnh Kiểm rồi, có muốn bật lại cũng không đủ lực. Một người khác còn lo lắng hơn đó là Ngọc Bảo, bà rất sợ cho tính mạng của đứa em út của mình. Hai chị em bàn tính với nhau:
-Chị nói giùm anh Kiểm cho em vào miền nam trấn thủ.
-Trong đó khắc nghiệt lắm Hoàng, nghĩ kỹ chưa em?
-Khổ mấy cũng được!
Bà Ngọc Bảo gật đầu nhận lời em. Đêm về khi Trịnh Kiểm tháo giày chuẩn bị lên giường thì bà nhẹ nhàng ôm chồng thủ thỉ:
-Thằng em trai em muốn xin vào trấn nhậm mặt phía nam, anh thấy được không?
Là vợ chồng nên Ngọc Bảo hiểu rõ ông xã của mình đang rất khó xử về việc không biết phải giải quyết làm sao với cậu em út của vợ. Để Nguyễn Hoàng ở trong triều thì nhiều lời bàn tán, nhất là sau cái chết đầy bí ẩn của Nguyễn Uông. Trịnh Kiểm đưa mắt nhìn vợ rồi nói:
-Ờ vậy à, để anh tính…
Khi đã buông màn, Trịnh Kiểm vắt tay lên trán nghĩ:
-Đất Thuận Hóa ở phía bên đèo Ngang ấy chỉ có thằng điên mới muốn đến, vừa khô cháy, vừa cằn cỗi. Chưa kể bọn hải tặc hung dữ xuất hiện rất nhiều. Lực lượng của chúng lại vô cùng hùng hậu, có nhiều chiến thuyền cỡ lớn, binh sĩ lại giỏi nghề biển, súng ống tối tân, quân đội của ta đã nhiều phen ra sức tiễu trừ nhưng vẫn không tiêu diệt được. Giờ ta giết thằng Hoàng thì cũng mang tiếng, nó tự nguyện dẫn xác vào Ô châu ác địa thì còn gì bằng. Vùng đó cũng nghèo nàn, nó cũng chẳng cách nào để xây dựng lực lượng đánh lại ta được.
Thế là ông đồng ý và hôm sau ra lệnh cho Hoàng phải đi ngay lên đường. Nguyễn Hoàng đưa gia quyến theo đường biển dong buồm vào nam. Đây là dựa vào kế của trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm khi Nguyễn Hoàng tới hỏi. Cụ Khiêm chỉ vào một hòn non bộ và phán:
-Một dải Hoành Sơn có thể dung thân được.
Đoàn thuyền của Hoàng vượt qua dãy Hoành Sơn, tiến vào địa phận Thuận Hóa (nay thuộc Quảng Bình – Quảng Trị – Huế). Hoàng mỉm cười:
-Đến rồi!
Thuyền cập bến Cửa Việt, cả một vùng mênh mông cát trắng xóa. Trong khi gia nô và thuộc tướng đang bốc dỡ hành lý thì Nguyễn Hoàng kéo khăn trùm đầu của áo khoác lữ hành lên rồi đi quan sát thực địa. Ông nheo mắt khi một luồng gió khô khốc thổi tới:
-Nóng như thế này thì làm sao phải mặc?
Mùa hè mảnh đất Quảng Trị gió Lào thổi ù ù làm cát bụi dọc đường thiên lý bay mịt mờ như ai ném cát lên không trung. Còn về mùa mưa, nhất là mưa mấy tháng đông kéo dài thì buồn lắm. Tuy không đến nỗi Hà Nội mùa này phố cũng như sông, cái rét đầu đông em tôi bơi từng chiều trên phố, nhưng quả thật đây là vùng đất khắc nghiệt chưa từng thấy. Nguyễn Hoàng khát cháy cả cổ, mồ hôi đầm đìa, ông lấy túi da ra đưa lên miệng hớp một ngụm nước lớn. Chú ruột Nguyễn Ư Dĩ than:
-Ông cụ Khiêm bày dại ghê, chỗ này sao mà ở được? Có khác quái gì hỏa diệm sơn trong tây du ký đâu?
-Trước mắt thoát được Trịnh Kiểm là tốt rồi, từ từ cháu sẽ lo liệu mọi thứ chu đáo. Yên tâm đi.
Nguyễn Hoàng động viên chú mình. Ông cho đóng trại ở Ái Tử để ổn định cuộc sống. Đây là một địa danh có cái tên hết sức dễ thương, vì Ái Tử nghĩa là Yêu Con:
“Mẹ thương con ra cầu Ái tử,
Vợ trông chồng lên núi Vọng phu.”
Quan trấn thủ Thuận Hóa nghe Nguyễn Hoàng đến liền phi ngay tới chỗ ông để dâng bản đồ, sổ sách trong xứ. Hoàng hỏi:
-Ở đây sống sướng không?
Quan thiệt thà:
-Sướng con mắt ông chứ sướng. Cực thấy mẹ luôn. Thôi tui bàn giao hết rồi đó, gánh giùm nha. =))
Người dân địa phương hết sức vui mừng khi biết triều đình đã cử một vị quan cực lớn vào trấn nhậm xứ sở của mình. Họ đã đón tiếp vô cùng trọng thể, linh đình chẳng kém tiếp đón nguyên thủ quốc gia xuống sân bay Nội Bài, đồng thời gọi Nguyễn Hoàng là Chúa. Những bô lão trong xứ đã mang đến dâng lên Chúa Hoàng 7 vò nước tinh khiết. Ông Nguyễn Ư Dĩ bèn cười:
-Cháu mới đến trấn nhậm đất này mà được người dân tặng nước cho, ấy là điềm sẽ có được nước vậy.
Hoàng phấn khởi, cho rằng đó là điều cực kỳ may mắn. Ông đọc lại câu sấm của Nguyễn Bỉnh Khiêm:
-Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân!
Mình xét về địa lý thì nước ta về phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, phía đông giáp Biển Đông, nam giáp Chăm. Trong các hướng đó, đâu là nơi có thể mở mang bờ cõi?
Lên phía bắc thì không thể vì thằng Tàu nó đánh cho ba má không nhận ra. Với cả tư tưởng của nước Việt thời phong kiến luôn xem Tàu là thiên triều, mỗi triều đại của ta sau khi thành lập đều phải được sự thừa nhận của thiên triều mới là chính thống, còn lại là ngụy triều hết. Do vậy trừ Lý Thường Kiệt  Nguyễn Huệ thì hầu như chưa có ai nghĩ đến việc gây sự với Tàu.
Dãy Trường Sơn hùng vĩ như vạn lý trường thành. Bên kia biên giới là lãnh địa của các bộ tộc Lào, cũng là đàn em của thiên triều. Nếu mở rộng qua phía tây thì mình phải đục nhau với hai thằng Miến Điện và Thái Lan nữa, rất phiền. Thôi bỏ đi.
Biển Đông thì hẳn nhiên là của mình rồi, Hoàng Sa và Trường Sa do nước mình tìm thấy, thành thử hàng năm các chúa Nguyễn đều “đông tiến” để khai thác sản vật và liên tục xác lập chủ quyền trên hai quần đảo này. Tuy nhiên nó là biển nên cũng không thể xây dựng gì được. Vậy chỉ còn phía nam.
Phía nam là đất Thuận Quảng (Thuận Hóa và Quảng Nam), giáp giữa Việt Nam và Chăm Pa. Chỗ này thảm hại quá nên luôn được coi như đất biên viễn xa xôi, chuyên dùng để đày phạm nhân và tù binh. Kinh tế siêu bèo nhèo nhưng bù lại được cái đất đai rộng rãi, tiềm năng khai thác bao la. Với cả biên giới chỗ này thay đổi liên tục, lúc thì của Việt, lúc thì của Chăm. Nhưng sau khi Chăm ăn no hành của vua Lê Thánh Tông thì việc cai trị vùng đất này cũng lỏng lẻo hơn. Thế nên, cỗ đã dọn ra mà Nguyễn Hoàng không ăn thì có lỗi với tổ quốc. Từ đây thì sau này các đời chúa kéo dài mãi tuốt luốt xuống dưới Hà Tiên, tạo nên chữ S cho Việt Nam có cái tự hào. :))
Quay lại, để đối phó lâu dài với họ Trịnh, Nguyễn Hoàng cần phải có chỗ dựa vững chắc nên những người thân thuộc, trung thành là sự lựa chọn đầu tiên của ông trong bước đường “nam tiến”. Nguyễn Hoàng tự xây dựng cơ ngơi cho mình. Ông nói với vợ:
-Người dân nơi đây thích anh lắm, nên anh sẽ bằng mọi giá để biến vùng đất nghèo nàn khắc khổ này thành một vùng giàu có. Một xứ sở thần tiên cho người Việt. Làm nơi dung thân cho gia đình mình và con cháu về sau.
Ông trăn trở:
-Tuy nhiên bước đầu anh gặp nhiều khó khăn quá. Thuận Hóa phong thủy không tốt, nhiều chướng khí. Chưa kể bọn nhà Mạc, Chăm, Chân Lạp liên tục đánh phá. Cộng thêm lũ thổ phỉ, hải tặc hoành hành. Bất cứ tàu nước nào xuôi ngược vùng này cũng phải đóng tiền mãi lộ cho chúng mới được yên thân. Đoàn hải hành nào dù có đông đảo đến đâu, khi nghe đến tên cướp Lâm Phượng cũng đều kinh hồn bạt vía…
Có thể nói rằng, đất Thuận Hóa thời Nguyễn Hoàng mới đến là một mảnh đất dữ dội, nguy hiểm, lại rộng lớn bao la, hầu như chưa có bàn tay của con người đến khai phá, tha hồ để ông trổ tài như chơi SimCity (dĩ nhiên là ở chế độ SIÊU KHÓ). Mọi người thấy cuộc sống ở đây khổ quá nên chẳng thèm khai hoang, chỉ lập làng xóm ở chỗ nào mát mẻ gần sông suối để trồng lương thực ăn qua ngày. Nguyễn Hoàng ra sắc lệnh:
-Bà con cứ tự do khai hoang thả cửa đi nha. Ai khai hoang được bao nhiêu thì cho làm chủ đất đó luôn.
Chính vì thế mà lãnh thổ ngày một phình to ra. Mà chỗ nào càng trù phú thì dân kéo về càng đông, mà dân đông thì sẽ có chợ búa buôn bán. Chưa hết, họ còn hăng hái đào kênh mương để tưới tiêu. Chẳng mấy chốc, vùng đất vốn được xem là “khỉ ho cò gáy” nay đã là một miền đất hứa cho dân chúng khắp nơi vào định cư. Bên cạnh việc lo cho dân có một đời sống sung túc, ông còn cùng với những cận thần của mình tổ chức nên một lực lượng quân đội hùng mạnh để đương đầu với các thế lực thù địch tại vùng đất dữ này.
Nguyễn Hoàng tuy một mặt vẫn ngầm xây dựng triều đại của riêng mình, nhưng mặt khác ông vẫn giả vờ thuần phục Trịnh Kiểm. Phải vậy thôi, giờ mà ổng làm phản lộ quá là Trịnh Kiểm xách quân nam tiến hốt xác luôn chứ đùa. Nguyễn Hoàng đi thuyền ra bắc gặp anh rể nói:
-Em khai hoang được ít lúa gạo, dâng cho anh để đánh nhà Mạc.
Trịnh Kiểm thấy thằng em biết điều thì hài lòng lắm, cho trấn thủ thêm đất Quảng Nam nữa. Thời chúa Nguyễn Hoàng nhân gian hết sức thái bình. Chợ không nói thách, đêm dân ngủ yên giấc, nhà không đóng cửa, nạn trộm cắp chưa bao giờ xảy ra, sản vật dồi dào. Trước hết là chúa khoan hòa, sử dụng người tài, thực bụng chiêu hiền đãi sĩ… Ông thậm chí còn gửi thư kết giao với mạc phủ Tokugawa Ieyashu lừng danh của Nhật Bản. Dân mến công đức gọi ông là Chúa Tiên. Anh hùng giữ nước thì có nhiều, nhưng anh hùng dựng nước có mấy ai được như Nguyễn Hoàng?
Rồi một ngày Trịnh Kiểm cũng qua đời. Ông ta có hai người con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng. Binh quyền được giao hết cho Trịnh Cối, nhưng ông này là một đệ tử lưu linh chính hiệu, say xỉn tối ngày và mê gái. Thành ra mọi người xúi em ông là Trịnh Tùng lên thay.
Mạc Kính Điển nghe tin thì cười:
-Anh em nó ghét nhau, thật là có lợi cho nhà Mạc ta.
Rồi nhà Mạc kéo 100 nghìn quân quyết làm gỏi nhà Lê. Trịnh Cối đánh không nổi liền sợ hãi, dắt vợ con ra đầu hàng quân Mạc. Trịnh Tùng chửi:
-Thằng anh ăn hại chó má!
Toàn bộ binh quyền nhà Lê lúc bấy giờ chuyển thẳng qua Trịnh Tùng. Ông phò tá vua Lê Anh Tông nhưng do quân yếu hơn nên buộc phải lui để thủ. Mạc Kính Điển đánh mãi không ăn được Trịnh Tùng thì mới nhìn về phía nam của Nguyễn Hoàng, nói:
-Thằng trẻ trâu Tùng này nó lì quá, còn ông Hoàng già rồi, quất đi!
Liền sai tướng Lập Bạo đem 60 chiến thuyền đánh vào Thuận Hóa. Đươc tin, chúa Nguyễn Hoàng nghĩ ra Mỹ nhân kế để giết Lập Bạo. Chúa nhờ một cô gái xinh đẹp tên Ngô Thị Ngọc Lâm mở một quán nước để Lập Bạo vào uống nước tán tỉnh. Chúa dặn người con gái ấy rằng:
-Cô gái, ban đêm nếu Lập Bạo lẻn vào nhà thì hãy để hắn ngủ thật say, sau đó cột tóc hắn vào góc giường rồi dùng dao chém. Thành công ta sẽ ban thưởng.
Nhưng Lập Bạo là kẻ thông minh nên đã đề cao cảnh giác. Khi cô gái vừa đưa dao lên chém. Hắn vụt vùng dậy giật lấy cây dao, cắt phăng lọn tóc rồi chạy thẳng ra khỏi nhà, nhảy xuống sông và lặn sâu dưới nước.
Như vậy kế hoạch ám sát Lập Bạo đổ bể. Sáng hôm sau có một con chim bay tới, bay lui trên mặt sông và kêu Trảo Trảo. Nguyễn Hoàng sinh nghi:
-Coi chừng Lập Bạo nó trốn dưới đó.
Nên sai quân lính đem thuyền bè và lưới ra giăng bắt, quả thật Lập Bạo bơi tới đâu thì chim bay tới đó, và kết cục thế nào thì các bạn tự hiểu. Để tỏ lòng nhớ ơn thần điêu đại hiệp, chúa Nguyễn Hoàng cho lập một miếu thờ có tên Trảo Trảo bên bờ sông.
Lại nói về Trịnh Tùng, quả thật ông Kiểm giỏi thì ông con cũng giỏi không kém. Tùng rất mưu trí, dần dần đã khẳng định được rằng ai mới làm chủ đất bắc. Quân Mạc bị thua trận, tổn hại rất nhiều. Năm 1592, Trịnh Tùng quyết định đánh những trận cuối cùng với với quy mô lớn:
-Mọi người cứ thoải mái ăn Tết. Ta sẽ làm lễ tế cáo trời đất và tiên đế nhà Lê, sau đó tất cả chúng ta cùng kéo về kinh thành Thăng Long!
Quân đi đến đâu, nhân dân tranh nhau đem rượu và trâu bò đến đón. Vua Mạc Mậu Hợp thất thủ, bỏ Thăng Long mà chạy. Họ Trịnh và họ Mạc sau đó đại chiến với nhau dữ dội thêm mấy lần nữa. Dân chúng chạy trốn lưu li, ngoài đường vang đầy tiếng khóc. Cuối cùng Trịnh Tùng bắt được Mạc Mậu Hợp, đem bêu ba ngày rồi chém đầu, đóng đinh vào hai mắt, bày ra ở chợ. Sau đó Tùng truy sát những người còn lại của nhà Mạc rồi đem chém hết. Nhà Mạc kể từ Thái Tổ Mạc Đăng Dung đến đây thì tan rã sau 67 năm.
-Đừng có nhờn với sếp Tùng. Anh mà đã đánh là nhà Mạc chỉ có thành nhà Mạt.
Tùng đắc thắng phủi tay, rồi cưỡi ngựa vào Thăng Long, ông đã trung hưng thành công vương triều Lê. Nhà Lê kể từ khi mất ngôi đến bây giờ được trở về chốn xưa nhưng vị thế đã không còn được như trước nữa. Quyền uy ngày một cao, Tùng muốn được phong tước Vương bèn sai người vào xin với vua Lê. Vua bất đắc dĩ phải đồng ý. Tùng được mở phủ chúa và lập bộ máy quan lại riêng. Từ đấy chính sự trong nước do sếp Trịnh Tùng MTP quyết định. Tùng liên tục phát hành các bản hit “Lê của ngày hôm qua”, “Ngôi báu xa dần”, “Âm thầm bên vua”…
Nói chung hết thảy công việc quốc gia đại sự đều do phủ chúa định đoạt. Nhà vua chỉ còn mặc áo long bào, cầm hốt ngọc để nhận lễ triều yết. Nói chung là vua Lê chả phải làm gì, chỉ có đuổi hoa bắt bướm cho qua ngày tháng, mọi chuyện trong nước lớn nhỏ đã có chúa Trịnh lo tất tần tật =)).
Uy danh của Trịnh Tùng càng trở nên lừng lẫy. Thậm chí Tùng còn trừ khử Lê Anh Tông, lập Lê Thế Tông. Vua Thế Tông trẻ tuổi và lắm bệnh tật nên bị coi thường. Thỉnh thoảng Trịnh Tùng chỉ hỏi qua loa đôi việc cho có lệ mà thôi. Nhưng dẫu sao thì địa vị của vua Lê cũng không đến nỗi quả kém cỏi. Các vua nối tiếp nhau tuy bị chúa Trịnh ra sức lấn át, thậm chí là bị giết nhưng tiếng nói của hoàng đế vẫn còn có người nghe và về hình thức chính quyền vẫn là một mối, đứng đầu là vua Lê.
Cầm quyền trong thời loạn, Trịnh Tùng luôn phải đối phó với nhiều lực lượng: tranh chấp quyền hành giữa anh em, vua Lê đòi lấy lại thực quyền, chiến tranh với nhà Mạc ở phía bắc, chúa Nguyễn Hoàng chống đối ngầm ở phía nam. Vị trí “dưới một người trên vạn người” của Trịnh Tùng khiến ông trở thành tiêu điểm cho sự tấn công của các lực lượng này. Trong hoàn cảnh đó, muốn giữ vững ngôi vị thì ngoài tài năng cầm quân và cai trị, Trịnh Tùng buộc phải trở thành người cứng rắn, quyết đoán và đôi khi trở nên tàn nhẫn. Có sử gia nhận xét:
-Trịnh Kiểm tuy chuyên quyền nhưng tội ác chưa có gì tỏ rõ cho lắm, đến Trịnh Tùng mới thật là gian thần như Vương Mãng và Tào Tháo. Dựa vào công lao trước của cha, Trịnh Tùng có công rất to, mà mang tội cũng nặng lắm. Không làm như vậy thì không đủ để diệt nhà Mạc mà phù Lê được. Mạc tuy bị diệt rồi, nhưng Trịnh lại lù lù ở đó thì cũng lại là một Mạc thứ hai mà thôi!
Tùng tuy gian tà nhưng vẫn không dám cướp ngôi, là vì e rằng nếu thoán đoạt thì giang hồ sẽ nổi lên lấy cớ phù Lê diệt Trịnh, rồi mình lại mất công đi đánh, mệt lắm. Thôi thì làm chúa cũng vui mà, hihi. Từ đó sự nghiệp của chúa Trịnh ở Đàng Ngoài chính thức bắt đầu.
Nhưng mối lo ngại lớn nhất của Trịnh Tùng vẫn là người cậu Nguyễn Hoàng. Tùng gửi thư vào Thuận Hóa:
-Cậu, hỗ trợ cháu đánh dẹp tàn dư họ Mạc với. Bọn nó vẫn đang trốn ở Cao Bằng đấy.
Nguyễn Hoàng đưa quân ra bắc giúp Trịnh Tùng trong 8 năm trời. Tùng sau đó tiếp tục giữ Hoàng ở lại để giám sát, không cho về Thuận Hóa. Hoàng khổ tâm:
-Làm sao về nhà được đây? Thằng cháu nó giam lỏng ta rồi.
Bỗng dịp trời cho đến, có kẻ làm phản Trịnh Tùng. Hoàng chộp lấy cơ hội xin đi đánh dẹp, rồi lén trở lại miền nam. Tùng bất ngờ lắm, bèn viết thư dọa:
-Ủa sao cậu bảo giúp cháu dẹp loạn nay lại bỏ về? Do bọn chúng xúi giục hay là do cậu tự ý? Cậu coi thường cháu vậy à? Suy nghĩ kỹ lại hành động của mình đi, đừng để sau này hối hận không kịp!
Để làm dịu tình hình, Nguyễn Hoàng đã viết thư:
-Cậu xin lỗi, dưới Thuận Quảng đang có việc gấp cần cậu, không về không được. Để cậu tạ tội nhé Tùng.
Rồi Hoàng lấy thóc lúa vàng bạc cống nộp cho Trịnh Tùng, đồng thời gả con gái cho Trịnh Tráng để kết nghĩa thông gia. Từ đó, Nguyễn Hoàng không ra Thăng Long nữa, quyết ‘rạch đôi sơn hà’, lo cấp tốc xây dựng xứ Đàng Trong cho thật mạnh vì Hoàng biết rằng một ngày nào đó gia tộc họ Trịnh ở Đàng Ngoài sẽ trở thành kẻ thù của mình.
Và đúng là như thế, hai vị chúa Trịnh Tráng (con Trịnh Tùng) và Nguyễn Phúc Nguyên (con Nguyễn Hoàng) về sau trở thành địch thủ truyền kiếp. Đến nỗi “Khổng Minh” Đào Duy Từ phải cho đắp Lũy Thầy chia cắt nam bắc để ngăn hai bên phang nhau sống mái. Nhưng như vậy vẫn là không đủ để ngăn cuộc chiến 200 năm Trịnh – Nguyễn phân tranh trở thành hiện thực.

No comments:

Post a Comment