Thursday, August 10, 2017

Nhìn lại sử liệu viết về Nguyễn Huệ Quang Trung và Gia Long Nguyễn Ánh(3)

Sông Gianh – biên giới 2 miền trong chiến tranh Nam – Bắc triều

Khi bạn đi qua bên này sông thì đó là lãnh địa Đàng Ngoài, còn đi qua bên kia sông thì đó là cương thổ Đàng Trong. Vâng, đây chính là sông Gianh (hay Linh Giang) huyền thoại, thuộc châu Bố Chính (tỉnh Quảng Bình), biên giới tự nhiên giữa hai vương quốc tồn tại dưới chính thể Đại Việt.

“Sông Lam lấp lánh bóng Gươm
Sông Gianh sóng nhạc xuôi buồm tướng quân.”

Linh Giang – nơi chiến sự ngút ngàn, ngày đêm khói lửa binh đao, xương chất thành gò thành lũy, máu chảy thành sông. Nếu ngồi cỗ máy thời gian về 300 năm về trước bạn sẽ thấy hai phe Trịnh Nguyễn đóng quân dọc bờ sông hữu tình. Đào Duy Từ vào nam giúp Nguyễn, hay Nguyễn Huệ ra bắc diệt Trịnh, cho tới lúc Nguyễn Ánh thống nhất quốc gia, đều từng vượt con sông này.
Đặc biệt có ông vua đẹp trai khi hành quân chinh phạt Chăm Pa đi ngang qua đây, thấy cảnh trời đất mênh mông đẹp đẽ, bèn ngơ ngẩn đứng làm một bài thơ (mà mình thấy ông này đi tới đâu cũng làm thơ cả, đúng nghệ sĩ).
“Núi bọc chung quanh biển mịt mờ
Bố Chính ngày trước vẫn hoang sơ
Ven sông làng xóm nhà tranh cỏ
Khuất bến tre pheo dựng cột cờ .
Gái thắt lưng ong khoe yểu điệu
Dân hoà giọng quých nói líu lo
Trời Nam đã rưới ơn mưa móc
Chẳng phải xa xôi bỏ cõi bờ.”
(Linh Giang hải tần – Lê Thánh Tông – 1471

Ngũ đại tộc trong thời kỳ chiến tranh Nam – Bắc triều

Sự kết nối cây gia phả của Ngũ Đại Gia Tộc trong Dai Viet Game of Thrones. Thật ra còn rất nhiều và rối tinh vì họ lấy lẫn nhau, nội chiến 300 năm mà. Mình rút gọn và chỉ đưa ra một số mối quan hệ nổi bật để cho thấy sự liên quan của 5 thế lực chủ chốt. Tư liệu cho các bác vẽ và viết truyện.
P/s: Các đường nối là trung tính chứ không phân vai trò cụ thể. Còn quan hệ giữa họ là gì, hãy đọc các bài mình viết =)).
Tình hình hỗn loạn 300 năm ở Việt Nam trung cổ có thể chia làm 12 phe:
-Mạc: mạnh và được lòng dân. Từng chém đầu được thủ lĩnh của phe Trịnh Nguyễn. Về sau bị Trịnh Tùng hấp diêm. Lên Cao Bằng tồn tại được 80 năm nữa thì bị Trịnh Tạc hấp diêm lần 2.
-Lê: khá khổ sở, là con bài để các phe bắt qua bắt lại hoặc lấy chính nghĩa. Cũng cố gắng để trở lại vương vị nhưng toàn bị đè đầu.
-Trịnh: các chúa Trịnh tài giỏi, đất nước hùng mạnh, có mua đại bác từ Hà Lan. Nhưng khi chúa Trịnh Sâm và danh tướng Hoàng Ngũ Phúc chết là phế. Thêm anh Nguyễn Hữu Chỉnh bóp team dẫn Nguyễn Huệ vào nhà, Trịnh nghỉ game từ đó.
-Nguyễn: team nam bộ, các chúa rất giỏi, được người Minh hương ủng hộ. Trong đội quân có lính đánh thuê Pháp, Khmer, Chăm… Có mua súng từ Bồ Đào Nha. Từng suýt diệt vong nhưng may mắn đến cuối game lật kèo ngoạn mục nhờ Nguyễn Ánh.
-Tây Sơn: mới đầu giao chiến thua Trịnh nhưng lại bá đạo nhất vào giữa game. Vô địch thiên hạ nhờ Nguyễn Huệ cân cả bản đồ. Quân đội thì tùm lum tà la, từ người thượng trên Tây Nguyên, nông dân, đến hải tặc Tàu Ô. Khởi đầu hoành tráng nhưng kết thúc lãng xẹt.
-Vũ: ba phải, phe nào rủ thì theo phe đó, cát cứ vùng Tuyên Quang.
-Xiêm: cường quốc khu vực, cùng với Nguyễn là hai thằng bắt nạt Cam.
-Chăm: tắt điện từ thời vua Lê Thánh Tông trở đi. Thêm vào đây cho đông vui thôi.
-Cam: đệ của Tây Sơn, rất hay bị ăn hiếp và sai vặt.
-Lào: cũng một thằng đệ khác của Tây Sơn, bị đánh vì không nộp tiền bảo kê.
-Tây: Anh, Pháp, Bồ, Hà Lan… bọn này tới Việt Nam với nhiều mục đích. Đứa thì buôn bán, đứa đến truyền đạo, nhưng cũng có đứa ưa gây sự.
-Thanh: thiên triều thân yêu của chúng ta, mạnh nhưng ảo tưởng. Quê hương của Ngũ A Ca và Tiểu Yến Tử.

Chuyện chàng Năm – Đào Duy Từ

-Anh Năm ơi, nhậu khônggggg?
-Nhậuuuuu.
Thái uý Lê Thì Hiến vẫy tay khi thấy bạn mình đáp. Chàng Năm mặt buồn rười rượi, bước thất thểu ra khỏi căn nhà rách nát. Lê Thì Hiến an ủi:
-Thôi, đi uống một bữa cho quên.
-Sao mà quên được, cái xứ Bắc Hà này đối xử với tôi bạc ác quá.
Số là Năm mồ côi cha từ bé, sống với mẹ. Quy định của nhà Lê bấy giờ là cấm con kép hát đi thi vì xướng ca vô loài. Ngày xưa đi ca hát để nuôi thân là một nghề mạt hạng chứ không hoành tráng như showbiz bây giờ đâu, dù ca sĩ tài năng cỡ Mỹ Tâm hay Bằng Kiều mà dính luật của nhà Lê là con cháu tạch đường công danh hết.
Chàng Năm cười buồn khi nhớ lại mẹ mình. Muốn đi thi thì cậu phải đổi họ cha sang họ mẹ. Mà muốn làm được như vậy thì cán bộ xã ra yêu cầu là bà phải cưới hắn. Mẹ chàng Năm bảo:
-Khi nào nó đậu, tôi sẽ làm theo ý ông.
Chàng Năm quả nhiên đậu mà còn đậu rất cao vì chàng vốn thông minh. Lúc ấy cán bộ xã hí hửng:
-Bữa bà hứa gì đừng quên nha.
-Nó vừa mới thi xong mà tôi đi lấy chồng cũng hơi kỳ. Hay là ông gả con gái cho thằng Năm nhà tôi đi.
-Bà nói chơi hay nói giỡn thế?
Viên cán bộ tức giận khi thấy mẹ chàng Năm quá nhây nhưa. Ông ta lập tức đi tố cáo:
-Thằng Năm nó đổi họ đi thi đó.
Tin truyền về kinh thành và đưa cho bộ Lễ xử lý. Lúc đó quan thái phó Nguyễn Hữu Liêu đang chấm bài cho Năm thì cũng hơi nhíu mày:
-Bài thi hơi “phản động”, đưa cho chúa Trịnh Tùng xem mấy cải cách này chắc ổng lột da thằng nhỏ quá.
Nguyễn Hữu Liêu bóp trán chưa biết nên cho nhiêu điểm thì có tin của bộ Lễ truyền đến ra lệnh xoá tên chàng Năm ra khỏi khoa thi và lột hết áo mũ. Bà mẹ biết tin khóc ngất:
-Trời ơi tôi hại con tôi rồi!!!
Bà quá đau khổ nên đâm vào cổ tự tử. Chàng Năm vừa thi trượt, vừa mất mẹ nên bị chấn thương tâm lý, lâm bệnh nằm ở phòng trọ. Thái phó Nguyễn Hữu Liêu thấy tội nghiệp, nhân chúa Nguyễn Hoàng đi ngang qua có kể lại trường hợp của chàng Năm:
-Thằng đó nhà nghèo mà hiếu học, số nó lận đận quá, uổng phí một nhân tài.
Nói đoạn ông Liêu cho ông Hoàng mượn bài thi của Năm. Tiên chúa xem tới đâu tim đập chân run đến đấy, nhất định đây là người ta cần để gia tộc làm chủ được phương nam. Thế rồi Nguyễn Hoàng âm thầm đến gặp chủ nhà trọ:
-Đây là tiền của ta, ông cứ làm hết sức chạy chữa tẩm bổ cho cậu ấy khoẻ hẳn.
Chàng Năm được quý nhân phù trợ nên bệnh tình thuyên giảm. Vào một sáng mùa đông lạnh lẽo, cậu mở mắt tỉnh giấc thì thấy một ông già mặt mũi hồng hào, râu tóc bạc phơ, phục sức quyền quý đang ngồi cuối giường. Gượng bệnh ngồi dậy, chàng hỏi:
-Thứ lỗi, ngài là ai ạ?
-Anh cứ gọi ta là Nguyễn Hoàng. Trời rét nên ta vừa kéo chăn cho anh, cứ nằm nghỉ ngơi đi.
Tiên chúa đảo mắt quanh căn phòng trọ thì thấy bức tranh Lưu Bị đi Long Trung cầu Gia Cát Lượng về làm quân sư. Ông bèn ngâm:
“Vó ngựa sườn non đá chập chùng
Cầu hiền lặn lội biết bao công”
Chàng Năm đáp ngay:
“Đem câu phò Hán ra dò ý
Lấy nghĩa tôn Lưu để ướm lòng?”
Nguyễn Hoàng cười:
“Lãnh thổ đoán chia ba xứ sở
Biên thùy vạch sẵn một dòng sông”
Chàng Năm chốt lại:
“Ví chăng không có lời Nguyên Trực
Thì biết đâu mà đón Ngọa Long?”
Nguyễn Hoàng không còn mảy may nghi ngờ gì nữa, ông mừng thầm:
-Đúng là Ngoạ Long của ta rồi.
Nhưng Nguyễn Hoàng không dám đón chàng Năm ngay vì sợ lộ cơ mưu xây dựng vương quốc riêng ở phương nam, và chúa Trịnh sẽ kéo quân tiến đánh, nên ông dặn:
-Lão phu về trước, xin đắp sẵn đàn bái tướng chờ đợi tiên sinh. Năm nay lão phu hơn 70 tuổi, nếu không may ra đi, cũng xin di ngôn cho con cháu phải đón tiên sinh về dạy bảo.
-Bây giờ tôi không thể theo ngài à?
-Hiện chưa được đâu tiên sinh.
Chàng Năm nước mắt chảy đầy má:
-Cho tôi về Nam Hà với, tôi không muốn sống ở Bắc Hà nữa!
Nguyễn Hoàng nhìn chàng hồi lâu, rồi ngậm ngùi quay đi:
-Tiên sinh bảo trọng. Ngày sau có duyên gặp lại.
“Ly biệt cao hiền hết cậy trông,
Tôi tuôn suối lệ, chúa đau lòng.
Non nước phương nam trời sẵn để,
Cập bến Linh Giang, thức giấc rồng.”
Nguyễn Hoàng trở về Thuận Quảng, không bao giờ ra bắc nữa. Chàng Năm sau khi khỏi ốm cũng lủi thủi quay lại quê nhà. Gia đình không còn ai, sự nghiệp cũng không có, nghèo lại hoàn nghèo, may mà cũng kết bạn được với quan thái uý Lê Thì Hiến.
-Chuyện là như vậy đấy.
Chàng Năm kể xong, đưa một chén rượu lên miệng nốc cạn rồi nhìn xa xăm. Lê Thì Hiến hỏi:
-Mấy năm nay loanh quanh ở quê rồi, giờ anh nên nghĩ đến tương lai đi.
Chàng Năm đáp:
-Tôi nghe đất Thuận Quảng hiểm trở mà dân giàu. Vị chúa phương nam lại rất biết đãi ngộ nhân tài, xứng đáng là bậc bá vương. Nếu ta đến đó làm quân sư thì còn gì bằng. Anh nghĩ sao?
Lê Thì Hiến thủng thỉnh nói:
-Tôi không vào nam đâu, chí tôi khác anh, nhưng tôi cũng chẳng ngăn cản anh. Nếu đất bắc không còn giữ được anh nữa thì hãy ra đi và bay cao trên đôi cánh của mình.
-Vậy sáng mai tôi đi.
-Nói là làm liền à?
Chàng Năm quả quyết:
-Tôi đã đắn đo lâu rồi, hôm nay chốt luôn. Sáng hôm sau anh em mình sẽ chia tay ở trạm Hoàng Mai.
Đêm đó chàng Năm về sửa soạn. Sáng sớm anh đứng sẵn ở Hoàng Mai, hành lý trơ trỏng chỉ có mấy cân gạo. Lê Thì Hiến đưa đồ vàng ra tặng:
-Lộ phí đây, anh cầm lấy mà dùng.
Chàng Năm cảm động lắm:
-Bạn tốt.
-Mãi là bạn tốt.
Chàng Năm cầm tay Lê Thì Hiến nói mấy câu từ biệt:
-Chuyến này tôi đi xa mà không chết thì là nhờ ơn của anh, muôn đời khắc cốt ghi tâm. Sau này gặp nhau ở biên cương tôi sẽ đền đáp.
Sau hơn một tuần, chàng Năm vượt qua bờ cõi Nghệ An để tiến vào sông Linh Giang. Đêm ấy trăng tròn vằng vặc, soi rõ quân lính hai bên sông. Chàng hồi hộp:
-Xứ Đàng Trong kia rồi. Cuối cùng ta cũng đến. Thật sự là xa tận chân trời mà gần ngay trước mắt. Qua được con sông này là ta đặt chân vào đất Nam Hà.
Chàng nhẹ nhàng rón rén đẩy thuyền xuống nước. Quân Trịnh kêu lên:
-Ê ê thằng kia nó muốn vượt biên, bắt ngay!
Mười mấy thanh niên gươm giáo sáng loáng đổ xô tới. Chàng cắn răng đẩy thật nhanh ra giữa dòng rồi nhảy lên. Quân lính lội xuống nước cố nắm neo thuyền kéo lại. Chàng cầm gậy tre chống cự dữ dội, quất túi bụi vào chúng.
-Để tao đi, đừng cản tao!
-Có cái nồi bọn tao để cho mày đi ý, tin người vkl.
-CÚT!!!
Chàng đạp một cú vào ngực tên lính lì lợm bám lên mạn thuyền. Đại Linh Giang bỗng nổi sóng cuồn cuộn, kéo con thuyền nhỏ như chiếc lá đong đưa trên dòng nước lũ. Chàng toát mồ hôi đè dòng, loay hoay cả mấy canh giờ mệt lử mới qua được bờ bên kia.
-Ta đi kiếm chúa Nguyễn thôi.
Nhưng tiếc thay chúa Nguyễn đi kinh lý xa xôi chưa biết khi nào mới về. Chàng Năm đành tặc lưỡi:
-Thôi mình cũng đi phượt vậy.
Rồi chàng cầm lộ phí của Lê Thì Hiến, đặt những bước đầu tiên lên lên xứ Đàng Trong xa lạ. Chàng đi, đi rất nhiều, nghiên cứu thời vận và thế núi sông của Nam Hà để suy nghĩ mưu lược về sau. Sau khi hết tiền thì đi chăn trâu cho một nhà giàu ở Quy Nhơn, không xa nhà của anh em Tây Sơn về sau lắm. Chàng Năm một hôm nằm trên lưng trâu thong thả sáng tác “Ngoạ Long Cương”, có đoạn:
“Hưng vong bỉ thái có thì
Chớ đem thành bại mà suy anh hùng
Chốn này thiên hạ đời dùng
Ắt là cũng có Ngoạ Long ra đời.”
Phú ông thấy anh chăn trâu tự ví mình với Gia Cát Khổng Minh thì ngạc nhiên lắm, bèn đi nói chuyện với ông quan Trần Đức Hoà. Ông quan đọc xong bài thơ liền sửng sốt kéo ngay chàng Năm về dạy học cho con gái mình, đồng thời gả con gái luôn. Ít lâu sau ông Trần Đức Hoà được gặp chúa Nguyễn có khoe:
-Do thầy đồ nhà tôi làm đấy.
Chúa xem qua liền bảo:
-Mời ông ấy vào đây cho ta gặp.
Vị chúa này sử gọi là chúa Sãi, con trai chúa Tiên Nguyễn Hoàng. Khi mẹ ông mang bầu thì nằm mơ có vị thần cho tờ giấy ghi chữ Phúc. Mọi người chúc mừng và bảo nên đặt tên cho cháu bé như thế. Nhưng bà nói:
-Nguyễn Hồng Phúc? Nguyễn Xuân Phúc? Nếu có mình bé tên Phúc thì chỉ một mình nó hưởng, chi bằng lấy làm chữ lót để con cháu cùng được hưởng. Con trai ta sẽ có tên Nguyễn Phúc Nguyên.
Và đó là sự tích ra đời của dòng họ Nguyễn Phúc, chân chủ phương nam. Nguyễn Phúc Nguyên là nhân vật có vai trò then chốt trong cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễn. Một cuộc nội chiến ác liệt kéo dài và không phân thắng bại. Nó tiêu huỷ sức người, sức của, triệt phá đồng ruộng xóm làng và dẫn đến chia cắt sự thống nhất của quốc gia Đại Việt. Nhưng chế độ Đàng Trong của chúa Nguyễn đã thực thi những chính sách cai trị cách tân, khác với Đàng Ngoài lúc đó đang theo xu hướng Nho giáo thời Lê sơ, kìm hãm sự phát triển của xã hội. Về mặt khách quan cuộc nội chiến có lợi cho xu thế phát triển của lịch sử dân tộc.
Nguyễn Phúc Nguyên có ý thức độc lập rất cao:
“Nghênh ngang một cõi biên thuỳ,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà!”
Tài năng, dũng cảm, ông từng đánh bại tên hải tặc Nhật Bản Shirahama Kenki, và mở cửa Hội An để buôn bán với thế giới. Xứng đáng kế ngôi Tiên chúa Nguyễn Hoàng. Con đường mang tên ông ngày nay dẫn vào ga Sài Gòn, gần siêu thị Maximark 3 tháng 2.
Lại nói khi chàng Năm vào ra mắt chúa Sãi, thấy chúa ăn mặc tuềnh toàng, có mỗi cái áo lụa trắng thì dừng lại:
-Ông ta khinh mình à?
Chúa hiểu ý, vội vàng vào thay đồ, áo mũ chỉnh tề cho thật đẹp trai rồi ra đón. Chúa hỏi:
-Chẳng hay tiên sinh tên gì?
-Tôi họ Đào, tên Duy Từ.
Hai người đều thông minh nên trò chuyện vô cùng tâm đầu ý hợp. Từ đấy đại sự quốc gia chúa đều tin tưởng giao phó cho Đào Duy Từ. Chúa còn rất hay khoe với mọi người:
-Thầy Đào Duy Từ thật sự là Trương Tử Phòng và Gia Cát Khổng Minh tái thế.
Chàng Năm khốn khổ bị Đàng Ngoài hắt hủi ngày ấy, nay trở thành người thét ra lửa mửa ra khói ở Đàng Trong, dưới một người trên vạn người. Bấy giờ chúa Trịnh Tráng có gửi sắc thư vào nam:
-Đóng thuế ông ei. 7 năm rồi chưa đóng thuế cho triều đình, đừng có nhây. 30 con voi và 30 chiến thuyền nhé.
Nguyễn Phúc Nguyên hỏi ý Đào Duy Từ, thì Ngoạ Long tiên sinh mới bày kế. Ông gửi cho chúa Trịnh cái mâm vàng có mấy chữ ẩn dụ “ta không nhận sắc”. Thế là Trịnh Tráng điên máu và bắt đầu khởi binh hỏi tội. Sau khi đẩy lui được đợt tấn công đầu tiên của Trịnh Tráng, Đào Duy Từ lúc này mới trổ tài năng. Ông đắp luỹ ở Đông Hảo dài hơn trăm dặm, cong như hình cầu vồng chắn ngang nam bắc. Dựng vòm khói, khoét cửa súng, hễ có việc khẩn cấp thì vừa bắn súng vừa đốt lửa, thông đến tận quốc đô. Chẳng mấy chốc một “Vạn Lý Trường Thành made in Việt Nam” được xây nên, chính thức chia đôi thiên hạ từ đây.
’’Luỹ Thầy ai đắp mà cao
Sông Gianh ai bới ai đào mà sâu’’
Các cửa bể Minh Linh, Nhật Lệ đều đóng cọc và buộc khoá sắt để ngăn cản tàu thuyền. Đào Duy Từ thiết kế cho thật bền vững và liền mạch. Không bao giờ anh có thể tiến vào xâm lược Đàng Trong nếu chưa vượt được những cạm bẫy này. Xong xuôi, ông đem quân vượt sông Gianh đổ bộ bờ bắc, hạ thành giết tướng không biết bao nhiêu mà kể. Triều đình nhà Lê quên ăn mất ngủ, lo tính mọi cách để chống giữ, tuy có bớt lan tràn chiến sự nhưng đất cũ vẫn chưa lấy lại được hết. Lúc bấy giờ một tướng xin ra trận.
Đào Duy Từ đắc thắng chuẩn bị tiến quân, bỗng khựng lại. Ông lắp bắp:
-Lê Thì Hiến.
-Xin chào bạn tôi, anh Năm.
Lê Thì Hiến mỉm cười, hai ngựa đối đầu. Ông nói tiếp:
-Chúng ta vốn tình tri kỷ, nhưng ông phò chúa Nguyễn, tôi phò nhà Lê, vậy trên chiến trường không cần nương tay.
Đào Duy Từ thở dài:
-Lời hứa gặp nhau ở biên cương ngày xưa. Có lẽ đã đến lúc tôi báo đáp.
Bèn thu binh lui về bờ nam sông Gianh và đưa thư xin trả lại đất đã lấn. Nam bắc tạm thời nghỉ binh. Về sau khi Đào Duy Từ chết đã lâu, Luỹ Thầy vẫn sừng sững tại đó bảo vệ cho cơ nghiệp 200 năm của dòng họ Nguyễn Phúc. Lộc tôi trộm nghĩ nếu không có bức tường thành này, Đàng Trong đã bị tiêu diệt từ lâu bởi binh lực lớn hơn gấp 4 lần của Đàng Ngoài. Suốt Trịnh – Nguyễn phân tranh, Luỹ Thầy chưa-bao-giờ bị thất thủ. Thậm chí năm 1672 là năm ác liệt nhất, quân Trịnh 6 lần liên tục tấn công vào mặt luỹ nhưng vẫn không nổi. Cuối cùng họ phải ôm hận rút lui mà chẳng cách nào hạ được.
“Khôn ngoan qua được Thanh Hà,
Dẫu rằng mọc cánh khó qua Luỹ Thầy!”
Hiện nay tuy không còn nguyên vẹn như dáng vẻ ngày xưa, thậm chí có nhiều đoạn đã bị mất hoàn toàn do thời gian bào mòn và chiến tranh tàn phá, nhưng vẫn có một số đoạn còn lưu giữ được dấu tích. Rõ nét nhất là đoạn luỹ sát cửa sông Nhật Lệ hiện còn vết tích là một gò cao, cây cối mọc xanh tươi, hay đoạn luỹ Trường Dục đã được trồng cây chắn gió hạn chế thiên tai. Bạn nào đến Quảng Bình đi chơi Phong Nha hay Sơn Đòong các kiểu thì đừng quên ghé qua công trình tuyến phòng thủ có quy mô lớn nhất trong lịch sử thời phong kiến nước ta để selfie.
Chàng Năm Đào Duy Từ về sau được vua Gia Long xếp hàng số một trong tất cả các anh hùng có công với chín chúa và mười ba đời vua Nguyễn. Ông bảo vệ xứ Đàng Trong, mở đất về phương nam, xây dựng một triều đình tuyệt vời, là thầy của nhiều hiền tài và cũng là một danh nhân văn hoá với những đóng góp cho nhã nhạc cung đình Huế đến tận bây giờ.
“Nam Dương có kẻ ẩn nho
Khổng Minh là chữ, trượng phu khác loài
Một mình vẹn đủ ba tài
Phúc ta gẫm ắt ý trời hậu vay.”

Tống Thị – Mỹ nữ khuynh quốc khuynh thành thời chiến tranh Nam- Bắc triều

Có thể các bạn đã quá quen với Bà Trưng, Bà Triệu, Dương Vân Nga, Ỷ Lan, Huyền Trân, Ngọc Hân… Nhưng chắc chưa bao giờ nghe đến Tống Thị, Đắc Kỷ của Việt Nam
Tống Thị là một đại mỹ nhân, da trắng như tuyết, môi đỏ như son, tóc đen như gỗ mun. Nói chung ngon từ thịt, ngọt từ xương, chay mặn đều dùng được. Ngày đó bao đấng quân vương nhìn nàng mà lau nước dãi không kịp.
Tống Thị sinh vào thế kỷ 17, thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Nàng là chị dâu chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) ở Đàng Trong. Nhưng sau khi góa chồng thì nàng bắt đầu… tán chúa. Sở hữu nhan sắc kiều diễm, phục sức trang nhã, phong cách yểu điệu thục nữ. Trông thấy Tống Thị, nhiều người còn nói như thấy giáng tiên vừa đội trăng sao, vừa rẽ khói vén mây xuống hạ giới. Không chỉ đẹp, Tống Thị còn có tài đưa tình quyến rũ, duyên dáng hơn người và ăn nói như rót mật vào tai. Đặc biệt, nàng còn có một xâu chuỗi trăm hoa rất thơm, cua trai hết sảy. Chiếc vòng tỏa ra một mùi hương ma mị, chúa Thượng ngửi xong cảm thấy trong người vô cùng rạo rực và bức xúc. Việc cưa vị chúa Nguyễn đối với nàng dễ như lấy đồ trong túi.
Từ ngày đó chúa Thượng từ một người hiền lành nhân ái, luôn lo cho dân cho nước, trở thành một tên hôn quân bạo chúa, vô cùng độc ác, hoang dâm vô độ. Để chiều người yêu, chúa dự định cho xây một tòa lâu đài nguy nga để hưởng lạc cùng nàng. Chúa bắt trăm họ lấy đá quý, gỗ hiếm, tập trung nhân công và thợ giỏi để thực hiện việc xây dựng. Thuế má từ đó thêm nặng nề. Chưa kể hạn hạn với nạn đói càn quét mọi nơi, khổ không chịu được. Tiếng kêu than vang khắp Đàng Trong. Không một ai can nổi, ai can là bay đầu ngay lập tức. Trong vương phủ, những ai còn chút lương tâm đều oán ghét Tống Thị và run sợ cho nghiệp chúa…
Số người chết oan ức vì Tống Thị ngày càng nhiều, nhưng mọi lời ca thán đều bị bưng bít. Rồi một ngày, một viên quan bất chấp tính mạng đến gặp trực tiếp chúa Thượng:
-Chúa công xem đi, chỉ vì một mụ đàn bà mà chúa công đẩy con dân của mình vào đường cùng như vậy sao? Chúa Thượng khoan dung của ngày hôm qua đâu rồi?
Người ấy phân tích mọi thứ cho chúa nghe, rồi đưa gươm lên cổ sẵn sàng tự tử. Chúa Thượng bừng tỉnh:
-Ta… ta sai rồi, cám ơn khanh đã nhắc. Ta có lỗi với thần dân của mình.
Chúa lập tức đi ngay ra công trường dẹp bỏ việc xây cất. Sau hôm đó cũng tránh mặt Tống Thị hẳn. Đang được sủng ái tự nhiên bị bồ “đá”, Tống Thị cay cú lắm, nàng quyết định trả thù. Nàng sẽ làm sao cho cả xứ Đàng Trong lẫn cơ nghiệp họ Nguyễn phải bị hủy diệt mới hả dạ! Và nàng làm điều ấy thế nào? Họ Trịnh.
Tống Thị đã viết một mật thư kèm theo xâu chuỗi trăm hoa, nhờ người dâng lên tận tay chúa Trịnh Tráng:
-Thiếp là Tống Thị. Nay có thư này muốn báo với đức chúa rằng Đàng Trong đang có biến, chúa hãy dẫn quân vào đánh ngay đi. Bây giờ là lúc thích hợp nhất. Thiếp sẵn sàng bỏ tiền túi ra tài trợ cho chương trình này luôn. Chơi láng đi. Khi thành công thiếp sẽ ra Đàng Ngoài hầu hạ người.
Chúa Trịnh đọc xong thư, cầm vòng hoa lên ngửi. Lập tức mắt chúa mơ màng như vừa hút cần:
-Phê quá…
Càng nhìn nét chữ càng mơ tưởng đến mỹ nhân nơi phương trời xa xôi đó. Lòng chúa Trịnh tràn ngập yêu thương và nhớ nhung như một chàng trai tuổi teen lần đầu biết yêu. Tới khi nhớ quá nhịn hết nổi, chúa Trịnh gấp rút tổ chức cuộc chinh phạt Đàng Trong để lấy điểm với Tống Thị.
Trịnh Tráng khởi binh, nhưng Nguyễn Phúc Lan đâu phải dạng vừa. Sau khi hết phê thuốc, chúa Nguyễn lập tức đẹp trai như xưa. Chúa sai Nguyễn Phúc Tần dẫn đoàn voi hùng dũng 100 con ra đối đầu. Quân chúa Trịnh bị đánh cho một trận nhớ mẹ, phải rút về lại bắc. Trịnh Tráng vỡ mộng gặp người đẹp.
Tống Thị chửi thề:
-@#-%*-%-, lần thứ hai rồi đó nha!
Quyết tâm quá tam ba bận mới đầu hàng. Nàng chuyển con mồi sang em ruột chúa Thượng là chúa Trung. Vì nàng nghĩ ông này mới đủ sức để thực hiện điều đó. Bởi vì lúc này chúa Thượng đã chết, cậu trai Nguyễn Phúc Tần trẻ tuổi ở trên nối ngôi.
Chúa Trung là người hung dữ, ban đầu thấy vì Tống Thị mà anh mình thành ra như thế nên cực kỳ căm ghét nàng, chỉ muốn xé xác phanh thây. Thế nhưng ngay khi vừa ngửi chiếc vòng hoa thì ông này cũng đờ đẫn, thứ bùa yêu này quả thật lợi hại. Sau đó là cảnh nóng xảy ra.
Bà có một kỹ thuật 18+ siêu đẳng gọi là “tía rụng hồng rơi”. Nhờ thế mà từ khinh bỉ, chúa Trung trở nên cực kỳ ghiền Tống Thị. Bấy giờ Tống Thị mới xúi Trung tiếp tục liên hệ với chúa Trịnh để đánh Đàng Trong lần nữa. Sự việc bại lộ, kết cuộc của Tống Thị là bị xử trảm và bêu đầu ngoài chợ vì tội phản quốc.
“Gái đẹp quả có mãnh lực vô biên, làm lung lạc cả đấng quân vương”, nhiều sử gia bình luận. Ngày xưa Dương Quý Phi mê ăn vải, Đường Minh Hoàng thậm chí phải cho người chạy sang tận Việt Nam lấy vải gấp về cho nàng ăn. Ăn nhiều quá nên bị nhiệt miệng, Dương Quý Phi khóc rưng rức vì đau. Đó cũng là lý do vải còn có tên khác là quả Lệ Chi. Đường Minh Hoàng thấy cute quá lại càng mê mệt, càng ngày ông càng lầy, và nhà Đường càng lúc càng nát.
Trở lại, dâm dâm cô nương Tống Thị bất chấp luân thường đạo lý làm bao nhiêu việc ác nên kết cục vậy cũng đáng. Người đàn bà từng chọc trời khuấy nước khuynh đảo cả lịch sử hai Đàng đó có một khối tài sản khổng lồ. Nhờ ăn hối lộ và bóc lột nhân dân mà Tống Thị tiền bạc như nước, vàng bạc châu báu chất đầy rương hòm, ruộng đất cò bay thẳng cánh. Chúa đã max giàu, mà bà giàu chỉ có thua có mỗi chúa thôi. Cuộc đời bà này viết fic cũng hay lắm. Đấy, thời Trịnh Nguyễn hấp dẫn quá trời, chỉ là không được dạy kỹ thôi.

Đặng Thị Huệ – Tuyên phi đảo thế khuynh thành của chúa Trịnh Sâm

Nếu đã nói về Tống Thị rồi mà không nhắc đến Đặng Thị Huệ thì thật thiếu sót. Một nàng quậy banh Đàng Trong, một nàng phá nát Đàng Ngoài. Sở trường chung là biến mấy anh từ minh quân thành hôn quân vô đạo trong vài nốt nhạc. Đúng chuẩn cụm từ “nghiêng nước nghiêng thành” như mấy nàng Đắc Kỷ, Muội Hỷ, Bao Tự bên Tàu.
Đặng Thị Huệ sinh ra tại Gia Lâm (Hà Nội), cô bé nhà rất nghèo, hàng ngày phải hái chè để mưu sinh. Đó là lý do sau này người ta gọi là Bà Chúa Chè. Nàng xinh đẹp nên nhanh chóng được đưa vào phủ chúa. Ban đầu chỉ là nô tỳ vớ vẩn thôi.
Một hôm Đặng Thị Huệ phải bưng khay hoa vào cho chúa Trịnh Sâm. Nàng nô tỳ mặt hoa mơn mởn, trang điểm nhẹ nhàng, mình liễu uyển chuyển, Trịnh Sâm trông thấy đã vội hỏi:
-Nàng tên gì?
-Dạ thưa, Đặng Thị Huệ.
Nói rồi, đôi mắt long lanh ướt át nhìn phớt vào cặp mắt chàng. Bốn mắt đưa lên, rồi bốn hàng mi lại rũ xuống, rồi lại bắt gặp nhau lần nữa, khiến cho chúa Trịnh ngẩn ngơ như chìm vào cõi mộng, y hệt bị thu hồn đoạt phách. Ôi cặp mắt ấy, đâu khác gì sóng nước hồ thu đưa thuyền tình. Trịnh Sâm đờ đẫn nắm lấy tay Đặng Thị Huệ kéo nàng vào lòng.
18+ 18+ 18+ (Đặng Thị Huệ với Tống Thị giống nhau ở chỗ rất pro 18+)
Trịnh Sâm trước đây vốn là một minh quân. Trong số 12 chúa Trịnh thì Trịnh Sâm nằm trong số những chúa “xịn”. Vừa hào hoa phong nhã, xuất khẩu thành thơ, từng đối đáp với đại văn hào Ngô Thì Sĩ. Và là vị chúa Trịnh đầu tiên dám dẫn quân vào tận xứ Đàng Trong đánh thẳng vào kinh thành Phú Xuân, khiến cả nhà chúa Nguyễn và cậu bé Nguyễn Ánh phải tháo chạy vào Sài Gòn. Nếu mà đừng chết yểu như Nguyễn Huệ thì Trịnh Sâm rất có thể sẽ là người thống nhất Việt Nam.
Nhưng mà đời đâu như mơ và tình đâu như thơ, Trịnh Sâm mê Đặng Thị Huệ đến quên hết mọi thứ. Một vị chúa tàn nhẫn, gian hùng như Trịnh Sâm mà hoàn toàn bị Đặng Thị Huệ dắt mũi. Đến mức khi vào Đàng Trong đánh quân Nguyễn, Trịnh Sâm có bắt được một viên ngọc dạ quang đẹp tuyệt vời. Chúa quý viên ngọc lắm nên thường cài nó trên khăn. Một lần Thị Huệ đưa tay cầm viên ngọc mân mê. Chúa mới sốt sắng:
-Nàng nhẹ tay thôi, đừng làm trầy ngọc của ta.
Thị Huệ nghe vậy cầm viên ngọc ném ngay xuống đất rồi khóc lóc bảo:
-Chàng quý hòn ngọc ấy hơn thiếp hả? Bất quá thiếp vào Quảng Nam tìm hòn ngọc khác cho chàng. Cái đồ trọng của khinh người!
Nói rồi Thị bỏ về phòng và mấy ngày liền tránh mặt chúa. Chúa Trịnh xót của thì xót thật, não hết cả ruột gan luôn chứ không đùa. Nhưng vẫn phải mất bao công sức dỗ dành năn nỉ mới làm nàng vui lòng và chịu bỏ qua cho mình.
Thậm chí chúa không ngừng dùng tiền quốc gia, vắt óc nghĩ ra những thứ hay ho để chiều lòng Tuyên phi. Cứ đến dịp trung thu là chúa cho lấy gấm lụa trong kho ra làm đèn lồng. Gấm thượng hạng nha, không phải vải nhà quê đâu, mỗi cái có giá đến vài chục lạng vàng. Và dựng đến hàng trăm cây phù dung ven hồ Long Trì để treo đèn chỉ nhằm mục đích ghi điểm với Thị Huệ.
Một lần có một người Tây đem đến phủ chúa một lọ nước hoa rao bán với giá 10 xe ngọc. Cái giá rất cắt cổ, chúa Trịnh Sâm còn phải toát mồ hôi. Thị Huệ thích lắm nhưng chúa còn tiếc tiền, 10 xe ngọc chứ có phải 10 xe đá đâu??? Nàng dỗi, bèn phụng phịu bỏ ăn ba bữa làm Trịnh Sâm phải đồng ý mua mặc dù đắng hết cả lòng mề. Tội anh Sâm vãi, vớ phải con mẹ bánh bèo này đúng là quá đen, mà cũng tại ảnh dại gái quá.
Do chị được chúa yêu như thế nên em trai nàng là thằng đại dâm tặc Đặng Mậu Lân làm đủ chuyện khốn nạn mà vẫn không sao. Mậu Lân không ngán ai cả. Cái phủ của hắn ở Thăng Long to không kém phủ chúa, ăn uống thì cực kỳ kenny sang hoàng tộc. Trong nhà chứa cả trăm osin, cho đeo gươm. Mỗi khi hắn đi chơi là kéo nguyên băng đi cùng, uống rượu đánh nhau tưng bừng hoa lá mà lính gác đành bó tay. Đặc biệt Mậu Lân còn nuôi rất nhiều kiki, và hễ ra phố là bọn nó cũng được đi theo. Các kiki đều được mặc áo thêu, đeo chuông vàng, chạy lung tung ị đái khắp phố phường. Dân Hà Nội ngày đó cực ghét thằng trẻ trâu Mậu Lân.
Đặng Mậu Lân nổi tiếng khắp thành Thăng Long là một thằng mất dạy chuyên sàm sỡ con gái nhà lành, nhưng vì chị hắn là Tuyên phi nên mọi người bó tay. Có lần hắn dê một cô gái không được, liền cắt luôn vú cô ta, đồng thời tống cổ chồng cô vào tù luôn. Thậm chí con gái cưng của chúa Trịnh Sâm mà hắn cũng không tha.
-Cưng à, cho anh hun miếng.
Hắn đè cô bé xuống. Quan Sử nội giám lao vào can thì Mậu Lân nổi điên chém chết. Sau đó cắm thanh gươm trước cửa thách thức:
-Thằng nào vào tao đồ sát!
Nghe tin dữ, chúa phải sai người đem quân vây bắt Lân giải về phủ, giao cho triều đình xử tội. Các quan đều nói tội Lân đáng bêu đầu. Tuyên phi nghe tin khóc lóc xin chết thay em. Chúa bất đắc dĩ phải tha cho Lân tội chết và giảm xuống thành tội đi đày ở châu xa. Lân xếp dọn nhà cửa, mặc áo tù thủng thỉnh bước ra khỏi kinh, có sẵn thuyền để chở đi. Lân đem theo rất nhiều gái, tiếng đàn sáo véo von không dứt. Ra đến nơi chịu đày quan địa phương phải làm nhà cửa cho gã ở. Kinh chưa?
Tuyên phi Đặng Thị Huệ chiều em như thế thì đối với con trai còn thế nào nữa? Theo lẽ thì chúa Trịnh Sâm phải nhường ngôi cho con trưởng Trịnh Tông của Thái phi. Nhưng quá yêu Tuyên phi Đặng Thị Huệ mà chúa cãi lời mẹ mình để truyền ngôi cho Trịnh Cán (chúa Trịnh Sâm nổi tiếng có hiếu nhé).
Trịnh Sâm là một người cực kỳ khang kiện mà từ khi cặp với Đặng Thị Huệ thì càng lúc càng đuối, phang phập, rượu chè, mới 44 tuổi mà đã sức tàn lực kiệt rồi qua đời. Trịnh Sâm có nhiều cung tần vào loại nhất trong các chúa Trịnh, tầm 400 bà. Như thế thì đến trâu bò cũng chết chứ đừng nói người. Trịnh Cán lên thay, nhưng mà thằng cu này rất ốm yếu. Trước học sách giáo khoa có trích tác phẩm Thượng kinh ký sự của Hải Thượng Lãn Ông, nói về việc vào phủ chúa Trịnh, chính là để chữa bệnh cho thằng nhóc Trịnh Cán này đây.
Trịnh Cán làm chúa được có 1 tháng thì đã bị phe ủng hộ Trịnh Tông đạp xuống. Tuyên phi Đặng Thị Huệ giờ mới khổ, chúa Trịnh Sâm chết rồi thì ai bảo vệ bà? Mẹ của Trịnh Tông là Thái phi vốn cay Tuyên phi từ vụ cướp ngôi con bà, giờ mới thỏa sức trả thù.
-Thị Huệ, lạy ta nào!
Thái phi buộc Tuyên phi lạy tạ. Tuyên phi không chịu lạy, Thái phi sai hai a hoàn đứng hai bên nắm tóc Tuyên phi dập đầu xuống đất, nhưng bà vẫn kiên quyết không lạy là không lạy, cắn răng chẳng nói nửa lời. Thái phi điên máu quát:
-Đánh chết nó cho ta!
Đám a hoàn xúm lại đánh đập Tuyên phi túi bụi, phun nước miếng đầy mặt mũi bà. Tuyên phi bầm tím khắp người, vừa đau đớn vừa nhục nhã. Sau đó nàng bị bắt giam vào nhà Hộ Tăng ở vườn sau. Tại đây Đặng Thị Huệ bị làm tình làm tội cực kỳ khổ sở, y như cảnh hoàng hậu với Dung ma ma hành hạ Tiểu Yến Tử trong Hoàn Châu Cách Cách. Một bữa chịu không nổi, bà bỏ trốn, nhưng sắp lên được đò thì bị quân lính bắt lại.
Sau một thời gian bị biệt giam, Thị Huệ được cho làm cung tần nội thị, vào Thanh Hóa hầu hạ lăng tẩm chúa Trịnh Sâm. Bà ngày đêm gào khóc:
-Chàng ơi cho thiếp theo với, sống thế này khổ không bằng chết!
Đến ngày giỗ của chúa, Tuyên phi ngẩng mặt lên trời, bưng chén thuốc độc uống một hơi. Chiếc chén rơi xuống đất vỡ tan, bà ngã ra sau, máu tuôn xối xả từ miệng, hơi thở lịm dần rồi tắt hẳn. Tuyên phi Đặng Thị Huệ, người đàn bà khuynh đảo Đàng Ngoài một thời, người khiến chính quyền chúa Trịnh 200 năm lung lay nghiêm trọng, chỉ còn chờ vua Quang Trung đến đánh gục, đã qua đời trong hoàn cảnh cô đơn lạnh lẽo tột cùng. Bà được an táng cách mộ chồng một dặm
TRẦN VŨ 
20/ 01/ 1992 
Nguồn: Ăn Mày Văn Chương

No comments:

Post a Comment