Monday, August 7, 2017

Xếp hạng 10 phim của Christopher Nolan


Từ Following đến Interstellar, sự nghiệp điện ảnh của Nolan đang mở rộng thêm, và điều này cũng là cách tốt nhất để lý giải những bí mật rằng buộc đằng sau những bộ phim với nhau.
Gần 2 thập kỷ qua, Christopher Nolan đã từ một nhà làm phim kinh phí thấp vô danh vụt sáng thành tên tuổi tài năng xuất chúng, với những dấu ấn văn hóa sánh vai cùng với Quentin Tarantino hoặc Steven Spielberg. Mặc dù, sự thật là có rất nhiều người không tán thành việc Nolan xếp ngang hàng với những đạo diễn nổi tiếng trên, nhưng ông vẫn là một thương hiệu đáng tin cậy với hàng loạt các bộ phim rất thành công. Điển hình là Inception nổi tiếng đến mức nó đã trở thành một từ dùng để miêu tả ngắn gọn những thứ có nhiều tầng, nhiều lớp.
Để hiểu thật sự về con người Nolan, bạn không thể dựa vào những hình ảnh đời thường, mà bạn phải chìm đắm vào những bộ phim của ông và lý giải những bí mật đằng sau đó. Và với Dunkirk dự kiến sẽ ra mắt ngày 21/7 tới, thì bây giờ là thời điểm tốt nhất để làm điều đó. Dưới đây là tất cả 10 bộ phim của Christopher Nolan, được xếp hạng từ tệ nhất đến siêu phẩm.Nhân dịp tác phẩm thứ 10 – Dunkirk ra mắt, chúng ta hãy cùng làm phép so sánh các phim của Nolan với nhau. Bài viết có tham khảo thông tin từ IMDb, Metacritic cùng nhiều bảng xếp hạng của các cây bút quốc tế. Nhưng thứ tự xếp hạng hoàn toàn là đánh giá cá nhân.
10. Insomnia (2002)
Danh sách này không có phim dở (chắc chắn rồi) nhưng sẽ có một phim đáng quên. Và đây chính là cái tên đó. Sau khi gây chú ý với Memento, Nolan có cơ hội thực hiện tác phẩm dài thứ 3 cùng bộ sâu diễn viên đoạt giải Oscar là Hilary Swank, Al Pacino và Robin Williams. Phim làm lại từ bản phim năm 1997 của Na Uy.

Điểm IMDb: 7,2 và Metascore: 78
Nội dung phim xoay quanh một viên thanh tra mắc chứng mất ngủ, bị ám ảnh bởi sự mơ hồ trong quá khứ và nỗ lực truy tìm một tên giết người. Phim có nhiều cảnh quay tốt, truyền tải thành công bầu không khí rùng rợn, bí hiểm. Thế nhưng việc thiếu tiết chế trong khắc họa nhân vật chính cùng khá nhiều cảnh quay thừa thãi làm cho Insomnia trở nên dài dòng. Khán giả thay vì trở nên “mất ngủ” vì phim lại thành ra “ngủ quên” khi theo dõi câu chuyện có tiết tấu chậm chạp và u tối này.
9. Following (1998)
Một nhà văn trẻ túng quẫn với sở thích quái gở là theo dõi những  người lạ mặt trên đường phố Luân Đôn để tìm nguồn cảm hứng. Bộ phim trắng đen này là tác phẩm dài đầu tay của Christopher Nolan với kinh phí chỉ vọn vẻn 6.000 USD. Phim hội tụ rất nhiều yếu tố mang phong cách Nolan: câu chuyện phi tuyến tính, những nhân vật có tâm lý phức tạp và một kết thúc bất ngờ.

Điểm IMDb: 7,6 và Metascore: 60
Với tư cách là phim mở đầu sự nghiệp, Following là tác phẩm đáng nhớ. Nhưng so với các phim “đàn em” sau này, Following có nhiều mặt  không hoàn thiện. Điều này có thể lý giải do sự hạn chế về mặt kỹ thuật vì kinh phí thấp và nhất là, sự thiếu kinh nghiệm của Nolan.
8. The Dark Knight Rises (2012)
Ngay cả Chrisopher Nolan cũng không thể tránh khỏi “lời nguyền phần 3” vẫn ngầm tồn tại trong các phim bom tấn Hollywood. Không đến mức thảm họa như Sam Raimi với Spider-Man 3 nhưng The Dark Knight Rises thực sự là phần kém nhất trong trilogy Batman danh tiếng mà Nolan tự gầy dựng.

Điểm IMDb: 8,5 và Metascore: 78 cùng 1,085 tỷ USD doanh thu.
Nội dung phim bị cho là quá ôm đồm, không kế thừa những di sản để lại từ hai phần trước mà chỉ xoáy vào nỗi đau khổ vô tận của Bruce Wayne khi chứng kiến Gotham sụp đổ. Xuyên suốt phim ngập tràn sự khủng hoảng, bất ổn được xây dựng gượng ép cùng một kế hoạch xấu xa được truyền tải vụng về. Dù vậy, không thể phủ nhận sự kỳ vọng quá cao của khán giả sau một The Dark Knight xuất sắc cũng khiến cho bộ phim phải nhận nhiều sự chỉ trích hơn bình thường.
7. Interstellar (2014)
Đây là một trong những trải nghiệm không gian hùng vĩ, choáng ngợp và chân thật nhất từng được tạo ra trên màn ảnh rộng. Khá nhiều lý thuyết về thời gian, không gian được cài cắm trong phim nhưng lại thiên nhiều về rao giảng, phô bày suông khiến người xem khó mà tiếp thu hết trong hơn 169 phút.

Điểm IMDb: 8,6 và Metascore: 74 cùng 1 giải Oscar về Hiệu ứng hình ảnh.
Interstellar còn là một bộ phim tham lam của Nolan khi ông cố nhồi nhét nhiều khái niệm trừu tượng trong mô tả vũ trụ, rồi lại dùng nó để làm bối cảnh cho một câu chuyện về tình thân, kèm một chút suy tư về sự tồn tại của con người giữa các hành tinh.
Bỏ qua những tranh cãi về lý thuyết khoa học áp dụng trong phim, sự xuất hiện có phần thừa thãi của các nhân vật (đặc biệt là Matt Damon), Interstellar vẫn để lại dấu ấn trong lòng khán giả về một câu chuyện gia đình cảm động. Phim là câu chuyện về cha mẹ với con cái, về nỗi sợ hãi của việc ra đi cũng như làm sao để cân bằng giữa giấc mơ và nỗi lòng của những người yêu dấu. Những phân đoạn đối thoại giữa hai cha con Cooper và Murphy đem đến sự công nhận khác dành cho Nolan trong việc kể chuyện: khả năng  tạo ra cảm xúc.
6. Batman Begins (2005)
Không ai có thể nghĩ rằng thể loại tâm lý - tội phạm lại có thể hòa hợp một cách tuyệt vời với thể loại siêu anh hùng như cách mà Nolan đã làm được với Batman Begins. Đây là tác phẩm đưa cái tên Nolan đến với dòng phim bom tấn, là mở màn cho sự hồi sinh của Batman nói riêng lẫn dòng phim siêu anh hùng nói chung.

Điểm IMDb: 8,3 và Metascore: 70
Với sự hỗ trợ vừa vặn của hai kẻ phản diện Scarecrow và Ra’s al Ghul, Batman Begins đem đến chân dung người hùng Bruce Wayne với bao nỗi trăn trở đậm chất “con người”. Điểm bị phàn nàn của phim có lẽ là sự thiếu vắng  các cảnh hành động hoành tráng, nghẹt thở vốn được “mặc định” phải có của dòng phim siêu anh hùng. Ngoài ra, Katie Holmes hoàn toàn là sự lựa chọn sai lầm cho người yêu của Bruce Wayne.
5. Inception (2010)
Dù được xem là đã vay mượn ý tưởng từ tác phẩm hoạt hình Paprika của Satoshi Kon nhưng cái cách Christopher Nolan xây dựng nên giấc mơ với các tầng thế giới “chồng” lên nhau bằng người thật việc thật khiến ai cũng phải thán phục.

Điểm IMDb: 8,8 và Metascore: 74. Đây cũng là phim đạt nhiều Oscar nhất của Nolan hiện nay với 4 giải cùng một đề cử Phim Hay nhất.
Chăm chút tỉ mỉ cho từng khuôn hình, hạn chế sử dụng CGI một cách tối đa và đặc biệt là khả năng chuyển cảnh mượt mà giữa các thế giới giúp Inception có phần hình ảnh độc đáo tới khó quên. Nội dung phim diễn ra với hai mạch truyện song song: hành trình đánh cắp giấc mơ của tên trộm tài ba Cobb và bi kịch quá khứ của anh ta với người vợ xinh đẹp.

Ảnh 8: So sánh sẽ thấy rõ độ tinh xảo, chân thật của Inception nhỉnh hơn Doctor Strange dù hai phim cách nhau 6 năm. Một bên dùng cảnh thật còn bên thì thiên nhiều về CGI.
Dù vậy, ấn tượng về chuyến phiêu lưu lẫn lộn giữa mơ và thật này sẽ kém đặc sắc hơn nhiều nếu không có sự hỗ trợ tuyệt vời về mặt âm thanh, hình ảnh và đồ họa đỉnh cao. Là tác phẩm duy nhất của Nolan từng lọt vào danh sách đề cử Phim hay nhất Oscar nên Inception cũng khá được ưu ái trong các bảng bình chọn.
4. Dunkirk (2017)
Bộ phim về cuộc di tản quân sự nổi tiếng quả thật là một đỉnh cao khác của Nolan về mặt kỹ thuật. Các cảnh chiến đấu trên không trung, cảnh chiếc phi cơ nhỏ bé lọt thỏm giữa chân trời bao la hay cảnh hàng ngàn quân Đồng minh đang run rẩy xếp hàng trên bãi biển dưới làn bom của phát xít Đức… vừa choáng ngợp lại vừa đáng sợ. Nhất là khi nó được kết hợp với âm thanh của nhà soạn nhạc Hans Zimmer. Dunkirk là trải nghiệm điện ảnh mà bạn chỉ có thể thưởng thức trọn vẹn nếu được  xem ngoài rạp.

Điểm IMDb: 8,6 và Metascore: 94 (cập nhật tại thời điểm tháng 7/2017)
Tuy nhiên khi so với các bộ phim khác của Nolan, Dunkirk lại là câu chuyện ít kịch tính nhất. Nhịp phim diễn ra chậm rãi, từ tốn và được phân mảng với 3 tuyến truyện khác nhau. Nolan trung thành với cách kể chuyện phi tuyến tính nhưng có vẻ như lần này, hiệu ứng mà nó tạo ra là không đáng kể. Ngay cả khi chúng giao nhau ở phân đoạn cuối thì người xem cũng khó mà nhận ra nếu không tinh ý.
3. Memento (2000)
Phim kể về một người đàn ông mắc căn bệnh mất trí nhớ ngắn hạn và hành trình đi tìm kẻ đã giết chết vợ mình. Memento là bộ phim kinh phí thấp đem cái tên Christopher Nolan đến với công chúng thế giới. Và nó cũng là bài toán hóc búa nhất mà vị đạo diễn này từng tạo ra.

Điểm IMDb: 8,5 và Metascore: 80
Cấu trúc đảo ngược, sự đan xen giữa quá khứ với hiện tại cũng như cách kể chuyện “giật lùi” đã tạo ra một mê cung hoàn hảo, thách thức khả năng suy luận của khán giả trong lần xem đầu tiên. Nhưng điểm thú vị nhất ở Memento lại nằm ở những lần xem lại, lúc đó bạn sẽ nhận ra nhiều điều khác. Nhất là tâm lý phức tạp của con người và khả năng “đánh lừa” của nó.
2. The Dark Knight (2008)
Đây không chỉ là tuyệt tác của dòng phim siêu anh hùng mà còn là một trong số những tác phẩm hiếm hoi đem đến nhiều suy ngẫm cho khán giả qua nhiều năm. Phim là sự kết hợp chỉn chu của nhiều vấn đề chính trị, đạo đức, triết học và tâm lý thông qua câu chuyện của một siêu anh hùng tưởng tượng để phản chiếu hiện thực cuộc sống.

Điểm IMDb: 9 và Metascore: 82 cùng 1 giải Oscar Nam phụ xuất sắc.
Thành công của The Dark Knight còn nhờ vào diễn xuất trên cả tuyệt vời của Heath Ledger trong vai Joker.
1. The Prestige (2006)
Bản thân người viết cho rằng đây là tác phẩm bị đánh giá “không đúng tầm” nhất của Nolan. Hai nhà ảo thuật trong thế kỷ 19 bị cuốn vào vòng xoáy của cạnh tranh, hận thù, mất mát và trả giá. Cách kể chuyện đan xen giữa thực tại và quá khứ được luân phiên tái hiện qua cảnh người này đọc nhật ký của người kia nhưng hoàn toàn không gây rối rắm. Sự thay đổi nhịp nhàng  của mạch truyện kết hợp với diễn xuất chắc tay của Christian Bale và Hugh Jackman thu hút khán giả từ giây đầu tiên cho tới giây cuối cùng.

Điểm IMDb: 8,5 và Metascore: 66
The Prestige không phải là một câu đố mà chỉ đơn thuần là hành trình khám phá tâm lý nhân vật. Phim không chỉ nói lên bản chất trong niềm say mê ảo thuật của con người mà còn phản ánh phần nào tiêu chí làm phim của Nolan thông qua câu thoại: “Bạn không hề muốn biết bí mật ấy hoạt động ra sao. Bạn chỉ muốn bị lừa mà thôi”. Và khán giả cùng các nhà phê bình mê mẩn phim của Nolan vì hai điều: những khuôn hình điện ảnh khác biệt và một lối kể chuyện biết cách “đánh lừa” người xem.
Nguyễn Vân
9. The Dark Knight Rises (2012)
Đã có rất nhiều bằng chứng khẳng định rằng phần kết thúc của bộ ba phim luôn là phần khó nhất, The Dark Knight Rises được đánh giá tệ nhất trong những bộ phim Batman của Nolan, thậm chí còn không được đánh giá bằng những bộ phim Batman trước đó của Joel Schumacher. Những cố gắng trong vụng về, lộn xộn để kết thúc thương hiệu đã tạo nên phần cuối của The Dark Knight Trilogy không đạt được những gì khán giả mong đợi. Kết quả là một mớ lộn xộn nhất mà Nolan đã tạo ra, khiến bộ phim bị quá tải để khắc họa câu chuyện đằng sau sự tuyệt vọng của người hùng bóng đêm.
Hiếm có bộ phim dài 165 phút nào khiến khán giả muốn nó kết thúc ngay khi nó bắt đầu, phần phim cuối về Batman của Nolan đã không hướng đến việc giải quyết mớ bòng bong của phần phim trước để lại, mà chỉ tập trung vào việc Batman đã chịu gánh trách nhiệm ở đoạn kết The Dark Knight. Điểm thú vị là việc đưa thành phố Gotham từ Pittsburgh đến Chicago và New York, nhưng trước đó, Bane và Batman đã có cuộc chạm chán ở City Hall khiến bộ phim hoàn toàn mất đi cảm giác về nơi chốn và mục đích của việc thay đổi này.
Đánh giá của người dịch: Thật ra, nếu so với 2 phần phim trước của Batman thì The Dark Knight Rises là một bước lùi, khi “bồi bổ” khán giả với rất nhiều nhân vật, cả chính và cả phụ, khiến phim hơi bị loãng. Nhưng nếu xét tổng thể thì phần cuối này còn hay gấp mấy lần Batman của Joel Schumacher với đỉnh cao thảm họa là Batman and Robin. Có lẽ, do đỉnh cao của 3 phần đều dồn hết về The Dark Knight với màn “tung hoành” xuất sắc của Joker (Heath Ledger) đã khiến khán giả kỳ vọng quá cao vào phần kết, nên việc phần cuối này không được đánh giá cao cũng là hiển nhiên.
8. Following (1998)
Bộ phim đầu tiên của Nolan dường như giống bước chân chập chững của một tài năng. Có một điều đáng nói, bộ phim tâm lý siêu lãng mạn này đã được thực hiện với kinh phí $5,000 (một khoản tiền có lẽ sẽ không bằng tiền đi uống trà cho những bộ phim sau của ông) và bị từ chối tại liên hoan phim Sundance. Ai cũng phải bắt đầu từ những thất bại, ngay cả đạo diễn nổi tiếng Colin Trevorrow cũng từng trải trước khi thành công như ngày nay.
Nhưng nếu Following không bị cả thế giới chối bỏ, chê bai, khinh thường, thì việc tận hưởng 69 phút đen trắng có thể sẽ khám phá ra tài năng bị che giấu của một nhà làm phim xuất chúng trong tương lai. Dù sao, thì bộ phim này ít nhất cũng là lời dự báo trước cho các bộ phim sau này của ông. Bộ phim 16mm (một chủng loại phim nhựa) kể về nhà kịch bản trẻ thất bại đang tìm kiếm nguồn cảm hứng bằng việc theo dõi bất cứ ai hắn bắt gặp trên đường, bộ phim bắt đầu hack não về việc nói đến biên giới mờ ảo giữa kiếm tìm mục đích và chìm sâu trong ám ảnh.
Nếu đứng riêng là một bộ phim độc lập, Following thật sự không thỏa mãn. Nhưng nếu đứng riêng làm phần mở màn, thì thật sự đáng chú ý. Nếu để ý kỹ, bạn có thể nghe thấy Nolan trêu đùa sau ống kính. Các diễn viên đã tự nhận thức được công việc của mình, nhiều phân cảnh họ diễn rất nhập tâm. Có một anh chàng tên Cobb (nhân vật chính phim) đã từng nói rằng “Bạn hãy tận hưởng nó” và “Ai cũng có một chiếc hộp của riêng mình”. Thỉnh thoảng, những tình tiết liên quan giữa các phim trở nên rất kỳ lạ đến nỗi có cảm giác như Nolan đã biết được ông sẽ làm gì sau đó, còn chúng ta chỉ cố bắt kịp theo ông.
Đánh giá của người dịch: Bộ phim đầu tay với một kinh phí khá thấp chắc chắn sẽ không để lại nhiều ấn tượng cho khán giả. Nhất là khi phim được làm dưới định dạng đen trắng thì lại càng kén khán giả hơn. Những ai yêu thích Nolan thì nên xem vì bất chợt bạn sẽ thấy sự liên quan của phim này đến các bộ phim sau này của ông như Batman, Memento... Nhất là siêu phẩm Memento là sự phát triển dựa trên bộ phim này.
7. Insomnia (2002)
Đây là bộ phim mở đầu cho sự nghiệp thăng hoa của Nolan.
Bộ phim đánh dấu cho sự trưởng thành từ nhà làm phim kinh phí thấp lên những bộ phim bom tấn mùa hè. Một bản làm lại của bộ phim hình sự Na Uy 1997 có lẽ không cần phải thực hiện lại thêm lần nào nữa, Insomnia vẫn là một trong những bộ phim hay nhất mà vị đạo diễn này không viết kịch bản (mặc dù ông cũng tham gia viết final draft). Đây là bộ phim có ít nhân vật nhất trong các dự án phim của ông. Dù thế nào, thì Insomnia vẫn là mảnh ghép quan trọng cho sự nghiệp lừng lẫy của Nolan.
Được đặt bối cảnh ở thị trấn nhỏ Twin Peaks ở Nightmute, Alaska, xoay quanh cuộc “mèo vờn chuột” với kẻ sát nhân của gã thanh tra. Nhưng với mặc cảm tội lỗi cùng ánh nắng bất tận vùng Nightmute khiến gã thanh tra thao thức suốt đêm. Giống như nhiều nhân vật chính khác của Nolan, Will Dormer là người đàn ông trung niên đầy tham vọng và có năng lực (nhưng cô đơn) đã bị tra tấn bởi quá khứ của mình và cố gắng tìm mọi cách tốt nhất để thoát ra.
Nhưng có vài vấn đề mà bộ phim này không được đánh giá cao. Một bộ phim đơn giản nhất mà Nolan từng làm sẽ ít gây hứng thú để xem lại. Khi gã thanh tra sa lầy vào một tội ác ngớ ngẩn và thỏa thuận với gã thủ phạm mà ông chưa từng gặp. Làm sao chúng ta có thể gán tội cho một người lạ khi mình chính là người gây ra tội lỗi? Làm sao để lật tẩy gã thanh tra và tên thủ phạm khi chúng ta không biết đâu là tình tiết được sắp xếp trước? Insomnia cuối cùng cũng trả lời các câu hỏi này rất thỏa mãn, nhưng cũng có những tình tiết thừa như cảnh đuổi theo Robin Williams qua những cái thùng gỗ như thể đang trình diễn cho chương trình “American Ninja Warrior”. Thật khó mà tỉnh táo để xem đến hết phim.
Đánh giá của người dịch: Bộ phim này được giới phê bình đánh giá rất cao và thu về cho Nolan tiếng tăm bước đầu sau Memento. Nhưng sẽ rất khó để không buồn ngủ với hơn 2 tiếng của bộ phim với tình tiết được triển khai khá chậm, bối cảnh tăm tối, cùng với việc tập trung khá nhiều vào khắc họa nhân vật chính. Điều này, sẽ khiến khán giả khó mà cảm thụ hết được nội dung mà Nolan truyền tải.
6. Batman Begins (2005)
Batman Begins thật sự không để lại nhiều dấu ấn để bắt đầu những việc to lớn hơn sau này, nhưng bộ phim là sự khởi tạo cho sự ra đời của một trong những siêu anh hùng nổi tiếng nhất thế giới truyện tranh. Vượt qua những bộ phim hoạt hình mà Tim Burton và Joel Schimacher gây dựng, Nolan mang đến một một phong cách tăm tối và thực tế hơn, với tính nhân đạo và chủ nghĩa hiện thực là nền tảng của phim và lý do tại sao anh lại chọn đeo chiếc mặt nạ.
Những fan cứng có những lý do chính đáng để lo lắng khi WB thuê một anh chàng người Anh không đủ sức để làm một bộ phim có tính biểu tượng của Mỹ, nhưng cuối cùng, Nolan là một lựa chọn hoàn hảo. Hóa ra, vị đạo diễn Memento này là một bậc thầy trong khắc họa tâm lý nhân vật. Nhất là khi, chúng ta rất khó để nói rằng liệu Liam Neeson có đang chơi trò chơi thù hận với Batman hay là đang trị liệu tâm lý cho anh. Ví dụ như đoạn hội thoại:
“Những gì mày thực sự sợ hãi chính là con người bên trong của mày. Mày sợ năng lực bản thân. Mày sợ cơn thịnh nộ của mày, điều có thể khiến mày làm những điều vĩ đại hay khủng khiếp.”
Trong khi đó, Rachel Dawes – người bạn lúc bé của Bruce Wayne – lại ít thể hiện sự quan tâm hơn:
“Trong sâu thẳm con người anh vẫn là đứa trẻ tuyệt vời mà anh đã từng. Nhưng đó không phải là người núp dưới bóng tối, những gì anh làm sẽ định nghĩa con người anh”.
Nolan đã lựa chọn một bộ phim khá khó với mình. Nhưng với tài năng của mình, ông đã đưa bộ phim Batman lên một tầm cao mới. Chủ đề chính của phim là nỗi sợ hãi, thứ hỗ trợ cho câu chuyện về Bruce Wayne trở thành một anh hùng. Đạo diễn Christopher Nolan xác định ý tưởng đằng sau của phim là "một người phải đối mặt với nỗi sợ hãi trong sâu thẳm tâm can mình và phải cố vượt qua nó ".
Đánh giá người dịch: Với những gì diễn ra sau thảm họa Batman và Robin, người xem hoàn toàn rất ít kỳ vọng vào việc trở lại lần này do Nolan làm đạo diễn. Nhưng những gì mà ông mang lại thật sự là đã gây nguồn cảm hứng (cùng với Spider Man) cho các bộ phim siêu anh hùng về sau. Ngoài nội dung và khắc họa tâm lý nhân vật rất tốt, thì điểm trừ của phim chính là những phân cảnh hành động ( iễn ra khá ít đối với một bộ phim về siêu anh hùng và vẫn chưa mượt mà).
5. The Dark Knight (2008)
Tất cả khán giả đều dành cho bộ phim này những lời khen có cánh nhất. The Dark Night thật sự là một bộ phim rất đáng xem. Không có vấn đề gì khi kịch bản chính là một mớ hỗn độn về những kẻ bị cô lập, hoặc đây chính là phong cách của Nolan – với sở thích là kể chuyện, khắc họa tâm lý hơn là hành động – mang đến một tác phẩm siêu anh hùng đáng nhớ. Cũng không có vấn đề gì khi những phân cảnh hành động IMAX của phim thường không được kết hợp mượt mà với nhau, hoặc đây cũng là sự ưa thích của Nolan khi tạo ra những không gian trống để khắc họa chân thực cuộc sống ở thành phố Gotham. Cũng chẳng có vấn đề gì khi việc tranh cãi công lý trước tòa về Batman mất hơn 20 phút chỉ là dư thừa, hoặc Harvey Dent đã rất chậm chạp, hay mục đích vai diễn của anh quá trong sáng khiến người xem cảm thấy có vấn đề.
Nhưng không sao – The Dark Knight thật sự là một siêu phẩm. Bộ phim thổi hồn vào câu chuyện của Batman thông qua việc chống lại thế giới ngầm. Kịch bản được Christopher và Jonathan Nolan chắp bút dựa trên ảnh hưởng từ bộ truyện Batman: The Long Halloween và mở ra một câu chuyện mang tính biểu tượng có sức ảnh hưởng nhất thế kỷ 21.
Khi bộ phim The Dark Knight được phát hành đã đem lại danh tiếng rất lớn cho đạo diễn Christopher Nolan, nhưng phần lớn lời khen vẫn thuộc về Heath Ledger. Màn trình diễn hoành tráng trong vai Joker đã làm nên một vai phản diện được yêu thích nhất. Ledger đã tận dụng hết bản năng hoang dã, sự nổi loạn và điên loạn nhất vào vai diễn với chất giọng như một chuyên gia về Shakespeare.
Đánh giá của người dịch: Trước tiên, cần phải tưởng niệm diễn viên bạc mệnh Heath Ledger, một vai diễn quá xuất sắc mà đến nay chưa một vai phản diện nào có thể sánh tầm với vai Joker của ông.
Nhưng điều này lại là một trong những yếu điểm của phim. Vai diễn Joker quá thành công, lất át cả vai Batman của anh Bale, và có khi lất át cả nội dung phim khi mà cứ nhắc đến The Dark Knight thì người xem sẽ chỉ có Joker, nội dung sẽ đọng lại rất ít (chỉ có mọt phim mới nhớ hết được nội dung phim đang nói gì, còn lại chắc tập trung vào cuộc đối đầu giữa Batman vs Joker mà thôi).
Nhưng cuối cùng, nội dung phim chính là thành công lớn của cả bộ ba phim, trở thành một trong những tác phẩm chuyển thể hay nhất mọi thời đại. Điểm yếu lớn thứ 2 cũng chính là nằm ở hai nhân vật Rachael và Dent, đặc biệt là Rachael với màn diễn khá cứng. Cảnh quay áp dụng IMAX thì khỏi bàn cãi, hành động phần này cũng không nhiều hơn phần trước là bao, nhưng với màn đối đầu tâm lý đặc sắc kia thì cần gì phải xem cháy nổ, đánh đấm chứ.
4. Interstellar (2014)
Giống như tác phẩm khoa học viễn tưởng huyền thoại 2001: A Space Odyssey, bộ phim tiếp theo sau bộ ba phim Batman của Nolan là về việc khám phá sâu hơn những bí ẩn vũ trụ. Đây là chủ đề rộng nhất mà Nolan từng làm. Bắt đầu từ sự đối lập giữa logic và cảm xúc, thực tế và cảm giác, Intertellar cố gắng định vị tình yêu theo học thuyết Darwin, theo cơ chế tồn tại, là hy vọng tốt nhất của loài người trong tương lai. Tình yêu là tất cả những gì bạn cần, bộ phim dường như là cách để nhấn mạnh những thiệt hại do nóng lên toàn cầu và nhắc nhở rằng bất kỳ loài nào cũng cần phải bảo vệ hành tinh sống.
Những bộ phim hay nhất của Nolan như một khối Rubik, chỉ có thể hiểu hết khi đặt mọi thứ vào đúng vị trí của nó. Do đó, cho đến nay, đây cũng là bộ phim tham vọng nhất của Nolan bị đánh giá là không phù hợp với năng lực của ông. Interstellar chính xác là một canh bạc, và không phải tự nhiên nó nhận được phản hồi trái chiều khá gay gắt, một mặt, phim là một tuyệt phẩm, một câu chuyện “cổ tích” về cuộc phiêu lưu xuyên không thời gian; mặt khác, phim mang nhiều khiếm khuyết.
Nét độc đáo của Nolan chính việc chơi đùa với lý thuyết thời gian tương đối, đây là vũ khí lợi hại để khắc họa tâm lý nhân vật hơn là dùng thủ pháp điện ảnh (có lẽ ông sẽ không bao giờ quay được một cảnh quay khác như lần đầu mở lòng của Cooper với con gái). Thành công lớn nhất của Nolan chính là việc truyền tải được những thông điệp đến người xem, tình cảm gia đình gài gắm rất thuyết phục và tự nhiên. Phần nổi bật nhất trong phim cũng đến từ nhạc phim do Hans Zimmer soạn, mà điều này đã được đảm bảo qua rất nhiều phim hai ông cùng hợp tác.
Đánh giá từ người dịch: Đây là bộ phim có thể nói là gây tranh cãi nhiều nhất của Nolan. Với một chủ đề quá rộng, quá mơ hồ sẽ rất kén người xem. Nhưng với những khán giả tận hưởng trọn vẹn bộ phim trong suốt hơn 3 tiếng đồng hồ thì đa số đánh giá đây là một tuyệt phẩm. Một cảm giác rất thích thú, đầy phấn khích về niềm tin vào con người, những thứ mà có lúc khi xem phim bạn đã thấy nó bị dao động, lung lay, hoen ố.
Điểm mạnh nhất của bộ phim chính là sự truyền tải thông điệp về tình yêu gia đình, về niềm tin, về sự sống và sự đoàn kết của con người. Điểm mạnh thứ 2 là đưa lý thuyết vũ trụ bao la đến người xem, để khi kết thúc, người xem có hứng thú tìm hiểu về lỗ đen, không gian 5 chiều… vì theo như Nolan, ông đã cố gắng đưa những lý thuyết khoa học vũ trụ chính xác nhất vào phim (bật mí: qua mỗi hành tinh mà Cooper dừng chân đều là thời kỳ tiến hóa của Trái Đất). Điểm nổi bật thứ 3 là hình ảnh quá đặc sắc, chân thực, khiến ai cũng phải choáng ngợp với sự vĩ đại của vũ trụ. Phần âm nhạc chính là tuyệt tác tạo nên tuyệt phẩm này.
Điểm trừ chính là việc mạo hiểm của Nolan khi chọn đề tài vũ trụ này. Với cả đống lý thuyết mơ hồ vả vào mặt khán giả, khiến ra rạp ai cũng lắc đầu ngao ngán vì độ hack não của phim (mà thực ra là loạn não vì lý thuyết chứ phim rất phức tạp là vậy nhưng có ý nghĩa rất đơn giản) và cả những lý thuyết thậm chí chưa được xác thực về không gian 5 chiều, khiến cái kết của phim được đánh giá khá mơ hồ. Điểm trừ nhỏ thứ 2 là các nhân vật phụ, có hai nhân vật phụ trở nên mờ nhạt chính là chị Amelia Brand (người đi cùng với Cooper), nếu không được đưa trở lại ở đoạn kết thì chắc chả ai nhớ đến chị; người thứ 2 không ai khác chính là con trai lớn của Cooper, một nhân vật có cũng như không.
3. Inception (2010)
Thỉnh thoảng, dường như Christopher Nolan đã hiểu được vẻ đẹp của đánh lừa thị giác hơn bất kỳ nhà làm phim nào từ thời Orson Welles. Ông là bậc thầy đánh lạc hướng, một thiên tài có thể đưa bất kỳ cảnh phim nào vào một mô hình phức tạp của nghệ thuật origami, một chuyên gia về kỹ xảo. Những bộ phim hay của ông sẽ đưa khán giả đi từ bất ngờ này đến những bất ngờ khác, và thậm chí trở nên tuyệt vời khi biến sự tò mò thành ngỡ ngàng. Những bộ phim đó sẽ khiến bạn ám ảnh không hiểu bộ phim đang nói gì, nó sẽ diễn biến ra sao, tại sao lại như vậy, cho đến khi ngả ngửa nhận ra, điều đó đâu thật sự quan trọng.
Mặt khác, cũng có lúc Christopher Nolan dường như không cần thủ thuật để đánh lừa khán giả. Một nhà ảo thuật sẽ không bao giờ tiết lộ thủ thuật của anh ta, nhưng với Inception, Nolan không thể ngừng nói với khán giả ông đang làm gì. Bộ phim dành phần lớn thời gian để giải thích cho khán giả hiểu. Thậm chí, càng về cuối phim, Nolan vẫn cố gắng mở ra những điểm mấu chốt mà ông muốn truyền tải, như việc nhân vật Ariadne (Ellen Page) tạo ra mê cung và hướng dẫn những người khác đi qua nó, và giúp Cobb điều chỉnh tiềm thức của chính anh. Với vai trò là người duy nhất đang tìm hiểu về việc chia sẻ giấc mơ, cô đồng thời giúp khán giả có được khái niệm về cốt truyện.
Nolan đã làm rất tốt cả hai vai trò là người kể chuyện và tác giả, những có lúc ông cũng gặp khó khăn để cân bằng hai vai trò này. Inception là một bộ phim kịch tích về tội lỗi, chuộc tội và sức mạnh của ý chí, nhưng hơn bất cứ điều gì, đó là sự mơ hồ mà bộ phim đem lại cho khán giả.
Phần lớn nội dung phim diễn ra trong thế giới giấc mơ liên kết với nhau. Kiểu kiến trúc này tạo ra một nơi mà mọi hoạt động trong mơ và đời thực đan xen vào nhau. Giấc mơ luôn luôn được xây dựng, và nó thay đổi khi những nhân vật di chuyển trong đó. Nolan đưa vào phim nhiều yếu tố của các thể loại phim khác nhau, chủ yếu là khoa học viễn tưởng, trộm cướp sử dụng công nghệ (heist film) và phim trắng đen. Bộ phim kết thúc với cảnh con quay bắt đầu loạng choạng (nhưng không ngã), gợi lên suy nghĩ về việc cảnh cuối cùng diễn ra trong thực tại hay là trong một giấc mơ khác. Một hình ảnh gây nhiều tranh cãi cả về phía người xem lẫn nhà phê bình. Inception, không chỉ là bộ phim bom tấn hay nhất thế kỷ 21 mà còn là minh chứng cho sức mạnh đáng kinh ngạc để mở ra ý thức tiềm ẩn trong mỗi giấc mơ.
2. Memento (2000)
Một câu chuyện phi tuyến tính về người đàn ông trung niên tìm mọi cách để thoát khỏi ám ảnh về cái chết của người vợ. Memento không giống như bao bộ phim khác của Nolan, bước đột phá năm 2000 đã trở thành khuôn mẫu cho sự nghiệp sau này của ông. Đặc biệt, khán giả sẽ nhớ mãi những lời mà Leonard Shelby nhận thức về căn bệnh của mình:
"Tôi phải tin vào một thế giới bên ngoài tâm trí của tôi. Tôi phải tin rằng hành động của tôi vẫn có ý nghĩa, ngay cả khi tôi không thể nhớ chúng. Tôi phải tin rằng khi mắt tôi nhắm lại, thế giới vẫn còn đó. Nhưng liệu tôi có tin rằng thế giới vẫn còn đó không? Hay nó đã biến mất?... Đúng thế. Tất cả chúng ta đều cần một cái gương để nhắc nhở bản thân chúng ta là ai."
Câu chuyện của Leonard Shelby được kể theo hai hướng: một câu chuyện trắng đen chiếu bình thường và một câu chuyện màu chiếu theo lối "giật ngược" từng đoạn theo ngược chiều thời gian. Hai câu chuyện "đụng nhau" tại cuối phim tạo ra một câu chuyện thống nhất. Giới phê bình đặc biệt khen ngợi cách kể chuyện "giật lùi từng đoạn" độc đáo của phim cũng như cách bố trí những đoạn hồi ức, nhận thức, đau buồn, tự lừa dối, và sự trả thù. Memento luôn bắt người xem phải suy nghĩ, gắn kết từng sự kiện, tự hỏi tự trả lời từng chi tiết xuyên suốt khắp bộ phim. Và đó là thành công của Nolan khi đưa khán giả vào chính câu chuyện của phim, khiến khi kết thúc bộ phim, mỗi khán giả sẽ có một Memento của riêng mình.
Đánh giá người dịch: Điều ấn tượng đầu tiên khi nhắc đến Memento chính là sự hack não của nó. Một lối kể chuyện đan xen giữa hai mạch thời gian ngược chiều nhau, nối vào nhau gần cuối phim (tưởng chừng rời rạc, nhưng thống nhất lạ thường), cùng với một số chi tiết đánh lạc hướng khiến người xem bị rối mà không rõ mình bị lạc từ lúc nào. Người xem phải ngồi ngẩn ngơ nhớ lại tất cả các dữ kiện, tình tiết để hoàn thiện bộ phim, còn gì hạnh phúc hơn khi chính chúng ta là người tạo dựng lên bộ phim của riêng mình. Dám cá, những ai thưởng thức trọn vẹn Memento, sẽ chẳng ai có thể chê được siêu phẩm này cả.
1. Prestige (2006)
Christopher luôn mong muốn tất cả bộ phim của ông đều khiến khán giả phải tự đặt ra câu hỏi. Ông muốn khán giả nhập tâm vào câu chuyện, muốn bạn tự trả lời mà bạn đặt ra. Không có gì thú vị hơn khi đánh lừa được sự không chú ý của khán giả. Và tất nhiên, thủ thuật này chỉ thành công khi bạn biết mình bị lừa. Và đó là sự kì diệu mà The Prestige mang đến cho khán giả, một bộ phim yêu cầu phải thật sự chú ý đến những điểm mấu chốt của câu chuyện. Đây là bộ phim kiệt tác về nghệ thuật đánh lạc hướng.
Bộ phim kể về thù hận giữa hai nhà ảo thuật (Christian Bale và Hugh Jackman) trong thời kỳ hoàng kim của mình (cả hai đều mong muốn mang đến những màn trình diễn ảo thuật mãn nhãn nhất). Bộ phim đi từ những bí ẩn sâu nhất, và sau đó giải đáp về sự thật hiển nhiên của nó, Prestige là minh chứng đầy thú vị về hiểm họa của việc chạy theo tham vọng và đánh lừa bản thân để quên đi những gì mà chúng ta biết là sự thật.
Nói cách khác, đây giống như thủ thuật mà Nolan đã làm trong Memento và Inception. Prestige không chỉ là bộ phim hay nhất của Nolan, mà còn là siêu phẩm tuyệt vời nhất mà Nolan đã tạo ra. Điều gì khiến Prestige nổi bật hơn những bộ phim còn lại, đó chính là việc khai thác triệt để ảo ảnh hơn hơn các phim khác, thông điệp được truyền tải một cách khéo léo trong từng câu chuyện.
Prestige là câu chuyện về hai ảo thuật gia, Borden và Angier, khao khát đến phát điên vì những trò ảo thuật. Họ là đồng sự, là bạn bè rồi trở thành kẻ địch, sẵn sàng dồn nhau tới chỗ chết. Thông qua Prestige, Nolan mang đến cho khán giả cái nhìn trần trụi về thế giới của những nhà ảo thuật. Cuộc đầu óc tính toán tỉ mỉ và đạt được vinh quang tột bậc là những ảo thuật gia sẵn sàng hi sinh cả cuộc đời vì vài phút được thừa nhận trên sân khấu, hào quang nào cũng phải đánh đổi bằng máu và nước mắt. Cuối cùng, The Prestige khiến thứ bất thường trở lại thành bình thường, hoàn tất cho một chu trình khép kín của cái được gọi là ảo thuật.
"Những bí mật sẽ không gây ấn tượng với ai. Bí quyết bạn sử dụng mới chính là tất cả”.
Phải chăng, câu nói của Michael Caine chính là những gì mà Nolan xây dựng cho các con của mình. Tất cả bộ phim của Nolan như một màn trình diễn của ảo thuật gia, duy chỉ có Prestige xứng đáng là tuyệt phẩm của phù thủy.
Đánh giá người dịch: Màu sắc u tối, nhịp phim đôi lúc chững lại khiến cho phim có thiên hướng dài dòng. Đỉnh cao của phim này chính là việc đi thẳng vào vấn đề, không còn là cái kỳ ảo, mộng mơ của ảo thuật, mỗi màn ảo thuật đều toát lên được cái khắc nghiệt, đánh đổi, và ma mị của nhân vật. Bộ phim duy nhất dám đi thẳng vào sự trái ngược mà ảo thuật mang lại. Nhưng cuối cùng, cái kết phim lại khiến người xem phải giật mình. Việc đưa yếu tố sinh đôi để giải thích toàn bộ phim, cùng với khả năng siêu nhiên phân thân khiến bộ phim trở nên mơ hồ. Thất vọng nhất, chính là hóa thân của Scarlett Johansson cứng, chưa đạt đến tâm lý nhân vật, may mà đất diễn của cô khá ít nên không mấy ảnh hưởng đến toàn bộ phim.
Nguồn: Indiewire

No comments:

Post a Comment