Thursday, September 2, 2010

Bài viết hay(130)

Nhắn “thằng” nhạy cảm

Tựa đề khúc tản mạn về 85 năm ngày báo chí cách mạng này, theo lẽ dự trù, sẽ là “Tổ Cha Thằng Nhạy Cảm”. Nhưng sau khi được tin sơ bộ kết quả bấm nút của quốc hội, nó đã được hỉ xả và hể hả đổi lại như trên, kèm với một nụ cười thích chí, là bởi nhiều nguyên do:

Thằng nhạy cảm tự thân nó hiền lành không khác những chú bé đồng lứa. Thế nhưng từ lúc nó tự nhận lãnh cái sứ mệnh lịch sử là giữ lề thông tin báo chí, thì tưởng chừng như cái thời “nhất đội nhì trời” đã lấy vé khứ hồi: Bỗng dưng thiên hạ đâm ra sính treo chữ “Nhẫn”, chữ “Tâm”, để nhắc nhau là đã quyết động phòng với nàng lấm lét, và chẳng ai muốn lân la với nó.

Mà cũng phải, bởi gốc gác ba đời của nó cũng y hệt như biết bao quần chúng tay trắng/tay không ở xứ này. Chỉ từ lúc có mấy thứ ban bệ (đổi tên xoành xoạch thành) tuyên giáo và bốn tờ cùng nhau tình tính tang bê nguyên cái đống khẩu hiệu “hạnh phúc – độc lập – tự do” về đây, thì tuồng như thằng nhạy cảm có thêm cái tên tây là Taboo, rồi trở thành một thứ ám ảnh của tai họa không ngờ và không lường cho giới cầm bút hay cầm chuột. Riêng nó chỉ cầm một khúc thừng bện bằng những sợi vàng lề phải bốn số 9 đã thắt sẵn nút thòng lọng.

Nạn kẹt xe ở thủ đô và các thành phố TW ngày càng khốc liệt, song chẳng đáng xách dép cho thằng nhạy cảm, bởi cái kỹ năng chuyên chính độc đáo (và độc ác) của nó từng ép lùa hàng triệu làn suy nghĩ của nhân dân vào độc lề phải của một làn duy nhất, lệt bệt chạy đúng một chiều quanh cái cối xay gió mà ai cũng ngỡ là mình đang chạy hàng đầu và sắp được trao cờ.

Nó mang kính mát, cả ngày lẫn đêm. Vậy mà, cho dù khó thấy, ai nấy đều có thể cảm nhận được cái ánh mắt dò la (pha lẫm liệt) của nó luôn toát ngời lên cái vẻ sẵn sàng trao tặng các thứ giấy mời/lệnh triệu tập/giấy khai báo/ tờ kiểm điểm/lệnh khám nhà/biên bản tịch thu máy tính lẫn điện thoại/lệnh tạm giữ lẫn tạm giam… Thậm chí, lắm lúc nó còn nhá lòe ra cả mấy cái điều 79 hay 88 chết tiệt gì đó, như kiểu nhắc nhở mọi người về các cái tội danh gián điệp và phản quốc…

Trên sơ đổ tổ chức mọi thứ cơ quan tòa soạn/hội/liên hiệp/đoàn/đảng bộ/sở/vụ/viện/cục/bộ… các cấp, thằng nhạy cảm luôn luôn nằm ngang (và ngửa tênh hênh) ngay trước chủ tịch/chủ nhiệm/bí thư, kể cả bí thư gái. Quyền lực của nó chỉ thua có mỗi “tận cùng Trên”: Nó có khả năng xổ toẹt tương lai của bất kỳ ai nó không ưa, tức là những kẻ không nghĩ theo cách nó chỉ đạo cho nghĩ. Thậm chí, cả tương lai của vợ con nạn nhân. Cho nên, không ai “dám” động tới nó (nhưng mọi người đều tự mô tả là chẳng “muốn” động tới nó), và động tới nhau. Nó là một loại vi khuẩn HIV gây bệnh liệt kháng tư duy. Nó làm bại hoại mọi sinh động suy nghĩ của nhân dân cả nước. Ở tầm chức trách đó, nó chính là thằng phản động chính hiệu, nhưng lại chuyên nghề dán nhãn phản động cho những ai còn chút đầu óc (chưa bị đào tận gốc/trốc tận rễ).

Đáng tội! Nó chỉ không rõ cái quy luật truyền thông đại chúng ngày nay không còn là loại đường mòn của thời đồ đểu đủng đỉnh đi B đánh đổng đạp đài nữa. Trong thời buổi tin học chớp nhoáng (mà tên gọi của bạo lực sắt máu là thời đại A-còng) này, hoàng triều cương thổ của bộ thông tin tòng tọc và truyền thông teo tóp đã bị khoanh vùng/thu gọn đến không ngờ. Các cụ tổ của quốc tế 1/2/3 (và ngay cả Goebbels của Nazi) nếu có hồi dương, cũng sẽ bàng hoàng há hốc/nhồi máu cơ tim/vỡ động mạch não mà “đi xa” lại lần nữa, trước các bức màn sắt/màn tre lần lượt đổ sập bởi mấy sợi cáp quang ADSL và lũ sóng Wi-Fi. Trên cái nền trơ móng của chuyên chính vô sản, đám bloggers dân báo muôn màu vạn sắc đã cải biến các thứ nhà tù tư tưởng thành những sân chơi mới và lũ lượt đứng lên giơ tay phản biện. Mọi việc. Mọi nơi. Mọi lúc. Như thử đó là bản nháp của đa nguyên, chí ít là về quyền nghĩ và nói tất yếu không cần xin. Nhà nước bó tay: Không át nổi. Không cản nổi. Không đỡ nổi.

Rêm mình/đau đầu/nhức óc khôn cùng bấy lâu vẫn chỉ quanh quẩn dăm ba câu hỏi hóc xương:

  • Báo chí quốc doanh sẽ đi đâu, về đâu?
  • Xu thế giật gân/tươi mát/lộ hàng tới đâu là đỉnh điểm câu khách của dàn báo chính quy?
  • Làm sao để độc giả tin rằng nhà báo đã tin vào chính điều họ viết?
  • Hội nhà báo làm gì ở khoảng giữa của hai Ngày Nhà Báo, sau những lời khấu tạ bốn phương tám hướng dài lê thê/lòng thòng/lượm thượm vào phút mở màn mỗi trận nhậu 21 tháng 6?
  • Chỉ thị/khuyến cáo/yêu cầu/năn nỉ tiết giảm bớt việc đưa tin xấu trong số hàng tấn tin xấu hàng ngày liệu có làm sáng nổi mớ hình ảnh “sinh hoạt của lãnh đạo” lèo tèo đó đây xưa giờ vẫn ngỡ là tin tốt?
  • Làm sao cho lãnh đạo bớt tuyên bố/phát biểu ấn tượng?
  • Làm sao cho dân khỏi tắt đài mỗi khi nghe nhạc hiệu tiết mục thời sự/xã luận/chính sách mới?…

Các trang báo đồng phục ngày nay không còn là thứ vũ khí phòng vệ của các thứ độc tài nữa. Sân chơi truyền thông thời hội nhập toàn cầu không có chỗ cho các thứ tẩy não hiểm ác (khi đào tạo), độc quyền định hướng (trước khi viết) và kiểm duyệt gắt gao (sau khi viết). Tất cả đã trở thành các thứ kỹ thuật chèo ngược giòng văn minh nhân loại, và tất yếu đã bị đào thải. Vậy thì vá săm lốp cách nào? Tự kiểm duyệt là thằng anh song sinh của thằng nhạy cảm. Cả hai ra đời trong bối cảnh quyền lực toàn trị của nhà nước đã bị u đầu mẻ trán/sứt cán gãy gọng trước lũ chuột Mac và Windows.

Dù vậy, dù thằng nhạy cảm vẫn lấp ló đó đây, song dàn nhà báo chính quy hôm nay đã không màng giữ đúng chỉ tiêu 100% bảo sao nghe vậy/cho gì viết nấy (như thời của thánh thần?). Tất nhiên, ngoại lệ vẫn là đám an ninh các thứ, từ thủ đô ra tận thế giới. Còn lại, các bác ấy đã sáng tạo một môi trường tung hứng trên cả tuyệt vời: Tay phải chính quy tung tin chạm ngưỡng “nhạy cảm”, với một số nhấn mạnh các phát ngôn ấn tượng (độc dữ kiện/không lời bàn), như một kiểu vờn banh và đưa banh. Tay trái chơi blog(s), tưng bừng pha trộn các loại ngôn ngữ từ học giả uyên bác tới xe ôm bình dị; pha trộn các loại nicks, cả nhà giáo vui tính lẫn cave yêu đời… vung bút phân tích/tổng hợp/phản biện/bình luận vượt ngưỡng “nhạy cảm” của các bản tin trong luồng, thành những cú làm bàn ngoạn mục. Và cứ thế mà tung lưới khung thành trước mặt, đưa nhà nước vào thế tiến không ổn, lui không xong. Thường là ngậm câm.

Đợt bấm nút biểu quyết của các đại biểu QH kỳ này (sau khi lấy ý kiến bằng thủ thuật thăm dò có chủ ý định hướng gian tà) đã được cả nước coi là một tiêu biểu rõ nhất:

a) Nếu đa số thuận, thì nhà nước thắng kinh tế tư/thua chính trị công.

b) Nếu đa số bác, thì nhà nước thua cả hai.

Kết quả bấm nút chiều ngày 19/6 rơi vào trường hợp (b), có vẻ hợp lòng dân nhất, dù trái ý “trên”.

Điều đáng ngẫm, không chỉ ở tỷ lệ phiếu nghị trường, mà là cả tỷ lệ áp đảo của các bài báo nâng bóng cực đểu trên dàn báo chính quy cùng các bài phản biện cực sắc trên các trang mạng ngoài luồng trước khi quốc hội biểu quyết. Đặc biệt dồn dập là ở những phút cuối 87-88-89 của trận bóng. Té ra là nhà nước thiếu “fan”. Té ra quyền lực nhà nước đã bị lột vỏ công khai.

Điều đáng ngẫm sâu hơn là dường như các đại biểu đã chịu khó đọc mạng, hay được bằng hữu đọc giúp, để có đủ dữ kiện cân bằng với bản giải trình ngắn gọn của nhà nước, trước khi cân nhắc quyết định bấm nút. Các trang mạng phản biện đã hết lòng hết sức trình bày kiến năng và sự thật nhiều chiều/nhiều góc liên quan đến đề án. Nhưng, các đại biểu bấm nút mới chính là những người dũng cảm vượt ngưỡng Taboo. Té ra, trước cái số đông đồng lòng, thằng nhạy cảm đang phân bua là rất cần một căn nhà tình nghĩa để dưỡng hưu.

Điều đáng ngẫm sâu hơn nữa là độc giả đã thấy lóe sáng những niềm tin lấp lánh của người viết trên các trang blogs tay trái, và cả những trang blogs của các tay viết nghiệp dư.

Nhà nước có thể thử áp đặt tiếp các thứ kim cô lên những người viết kẹt luồng, song không thể nào chỉ thị cho người đọc phải vào luồng/vào lề. Mà những độc giả này đang là “người của chính quyền”.

Đó chính là thế kẹt cực kỳ nan giải của nhà nước. Cho dẫu có ban tuyên án TW và bộ 16 tờ cũng đố mà đỡ nổi.

Đó là tiếng vỗ tay đều khắp cho một chiến thắng xứng công của dàn dân báo.

Đó cũng chính là lời nhắn sau cùng cho thằng nhạy cảm, bằng SMS, bằng AIM, bằng YM8, bằng ICQ, và cả Google Talk:

- Hãy gi ly si thng cho chính mình, cháu nhé! S cn đy!

20/6/2010 – nhiệt liệt chào mừng 85 năm ngày báo chí cách mạng VN.

Blogger Đinh Tấn Lực

Bác Mười Tự Hoạn

Bẵng đi từ bài “Về Định Hướng Xã Hội Chủ Nghĩa Trong Xây Dựng Đất Nước Ta Hiện Nay” (2005, ngay sau khi bác Đào sang thăm Việt Nam), lâu lắm rồi độc giả ở đây mới được thưởng lãm một bài viết khác của bác Mười. Mà là một bài lý luận công phu/uyên bác đến trên cả mức ngạc nhiên nữa, mới thú! Cho dù phong thái dùng từ và chấm câu có một khoảng cách rất xa với bản chất bình dị/xề xòa/mộc mạc hàng ngày của tác giả, vẫn thú! Cho dù tác giả chủ ý nhắm vào đối tượng đảng viên trong mục tiêu Về Xây Dựng Đảng, càng thú!

*

Thú thật!

Thú nhất là ở (chỗ mường tượng ra khung cảnh nếu đây là một bài đọc, thì hẳn tác giả đã giơ tay nhẹ nhàng lẳng lơ vuốt mái tóc phớt chẻ đôi một cách cực điệu nghệ, rồi hắng giọng thanh phá mà nhấn mạnh) cái khẳng định ấn tượng (đến mức được nâng cấp thành tựa đề): “Không có Ðảng Cộng sản Việt Nam thì không có công cuộc đổi mới”.

Thật khó mà tranh cãi với tác giả về những nỗ lực của đảng và nhà nước ta được liệt kê trong bài viết, tạm lược như sau:

Trong thời kỳ quá độ lên CNXH chúng ta đã nhận thức sâu sắc rằng, xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm… Kiên quyết và liên tục thay thế cơ chế tập trung quan liêu bao cấp bằng cơ chế thị trườngĐẩy mạnh sản xuất, trước hết phải xây dựng và phát triển nền công nghiệp tư liệu sản xuất, đặc biệt cơ khí chế tạo, sau nữa coi trọng công nghệ thông tin, điện tử, năng lượng mới, vật liệu mới, hóa chất và kể cả công nghiệp tiêu dùng…”.

Cũng quả là cực khó cho những ai muốn quên những giai thoại hào hứng đến đứt ruột về tác giả, trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH của đất nước, qua bao đoạn đời thăng trầm cá nhân, từ thời bác được chú ruột của nguyên GS Bộ trưởng Phạm Minh Hạc kết nạp vào chi bộ Đông Phù năm 1939, bị Tây bắt giam (1941), vượt ngục (1943), rồi tham gia cướp chính quyền ở Hà Đông (1945) và lần lượt giữ chức Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hải Phòng (1945-1955, nổi tiếng về cuộc đại càn quét “gián điệp” năm 1955 ở Hải Phòng cùng với câu danh ngôn để đời: Thà giết lầm hơn bỏ sót!)… Sau đó, lên tới Thứ trưởng (1956) rồi Bộ trưởng bộ Nội Thương (1958), vào TW đảng (1960), Chủ nhiệm ủy ban vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn thanh tra của Chính phủ (1961-1969), leo lên Phó Thủ tướng Chủ nhiệm Văn phòng kinh tế Phủ Thủ tướng (1969-1971), Phó Thủ tướng Chủ nhiệm Ủy ban Kiến thiết cơ bản (1971-1973). Lại tụt xuống Bộ trưởng Bộ Xây dựng (1973-1977) kiêm nhiệm đại biểu Quốc hội khóa V và VI, được bổ sung vào dự khuyết Bộ Chính trị, tái thăng chức Phó Thủ tướng Chính phủ (1976-1981) kiêm nhiệm đại biểu Quốc hội khoá VII, biến thành Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCNVN (1981), chính thức vào Bộ Chính trị (1982), Thường trực Ban Bí thư TW đảng (1986) kiêm nhiệm đại biểu Quốc hội khoá VIII, thăng chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1988), rồi trở thành Tổng Bí thư Ban Chấp hành TW Đảng (1991), đến nửa nhiệm kỳ sau thì được suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành TW Đảng, tới năm 2000 thì được thăng ngạch lên quy chế Nguyên Cố vấn.

Nói chung là gần trọn cuộc đời hoạt động và sự nghiệp của bác Mười lọt thỏm vào cái “đêm trước đổi mới”.

Còn cao điểm của sự nghiệp đó (1991) thì đã “lạt mềm buộc chặt” với cái cột mốc nối lại mối quan hệ hữu nghị vương hầu/răng môi/4 tương/4 tốt được gia công mông má thành 16 chữ vàng giữa Việt Nam và Trung Quốc. Bác thích mặc áo đại cán đi khắp nơi là do bởi sự “trùng hợp lịch sử” này nó vận vào người chăng?

*

Thú thật!

Bởi bác Mười cứ tưởng đã có đâu đó khá đông những độc giả trẻ của bài viết “Không có Ðảng CSVN… này, xưa giờ không thể có nhiều điều kiện/cơ hội nghiệm lại những đoạn sử hãi hùng cận đại được chép bằng máu và nước mắt của nhân dân, nên chẳng thể mường tượng ra cái đêm trước đổi mới ấy ra sao mà tác giả có dự phần hay toàn phần quyết định, bao gồm:

  • Các chủ trương lớn Cải Cách Ruộng Đất, đại thanh trừng Xét Lại, trù dập Nhân Văn Giai Phẩm, tắm máu nhân dân Quỳnh Lưu-Phát Diệm… thời bác Mười làm Bí thư tỉnh ủy nhiều tỉnh thành;
  • Các chính sách độc quyền thông tin, bưng bít/bẻ cong sự thật, giáo dục/đào tạo “con người mới XHCN” (nửa Hàn Tín, nửa Chí Phèo), kinh tế nô lệ ký sinh vào quốc tế cộng sản, đối ngoại là đi bằng đầu gối, đối nội là nửa đêm gõ cửa, cơ chế xin-cho, tem phiếu-hộ khẩu, hợp tác hóa nông nghiệp, cải tạo tư sản, cải tạo công thương nghiệp tư doanh, ngăn sông cấm chợ, huy động lương thực, xuất khẩu lao nô… làm kiệt sức dân, đặc biệt là nghị quyết số 49/NQ/TVQH (20/6/1961) cho phép nhà nước bắt giam mọi công dân mà không cần xét xử… thời bác Mười vào TW đảng, cụ thể là lúc nắm chức Chủ nhiệm ủy ban vật giá Nhà nước và Trưởng phái đoàn thanh tra của Chính phủ;
  • Các đòn trả thù “ngụy quân, ngụy quyền” bằng tù cải tạo, đày thân nhân họ đi kinh tế mới, tận diệt tư sản X1-X2, thu vàng bán bãi sau năm 1975… thời bác Mười vào dự khuyết BCT và làm PTT chính phủ, mang hết kinh nghiệm máu lửa của thời làm Bộ trưởng Nội thương vào thanh lý miền Nam;
  • Lệnh tiến hành chiến tranh xương máu với Campuchia, nhận lại bài học máu xương “giáo trừng” của TQ, chỉ vài năm sau khi cuộc chiến ủy nhiệm quốc-cộng vừa kết thúc, khiến cả thế giới cấm vận 10 năm, làm đứt hơi dân tộc với tổng cộng nhiều triệu người hy sinh qua 3 cuộc chiến… vào thời bác Mười bắt được trớn thăng hoa sự nghiệp.

Nhung nhớ bác Mười nhiều nhất là hàng chục vạn gia đình có người tự tử vì tán gia bại sản trong suốt chiều dài dằng dặc của cái đêm trước đổi mới kinh hoàng, mà nếu không có đảng CSVN “càng sửa càng sai” đó, thì nhân dân cả nước của cái “vựa lúa Đông Nam Á” này đã chẳng bị phân loại thành thiếu đói, đói, và đói gay gắt (năm 1985 chính phủ VN đã phải thống thiết kêu gọi thế giới cứu đói – cho đến tháng 6-2003 bản phúc trình của Ngân Hàng Thế Giới công bố: 29% dân số Việt Nam vẫn sống dưới mức nghèo đói).

Rõ ràng: Khẩu hiệu “Đổi mới hay là chết” không chỉ là phụ phẩm từ ý niệm “perestroika” của Liên Xô cũ thời đó, hay vì đảng ta bất ngờ bị mất cả kinh viện lẫn quân viện từ quốc tế III. Nó càng không phải là vì nhân dân. Nó là một biện pháp tình thế, không còn lựa chọn nào khác, để giữ đảng tồn tại, và tự thân, nó là một phản ánh trung thực và hoành tráng nhất của cái tình thế “tận cùng bằng số” do đảng gây ra trên đất nước này trong gần 2/3 của thế kỷ 20. Những bài viết ca tụng đổi mới loại này chỉ có tác dụng duy nhất là nhắc nhớ cho nhân dân Việt Nam luôn ôn tập lại trong đầu về những thảm họa đen đã phải và sẽ còn gánh chịu ngày nào còn đó đảng CSVN.

*

Thú thật!

Bởi bác Mười cứ tưởng vẫn có đâu đó khá nhiều độc giả của bài viết “Không có Ðảng CSVN… này chưa có dịp nghe nói đến thảm kịch của những người tiên phong xé rào đổi mới trước đảng:

  • Bí thư Kim Ngọc của tỉnh Vĩnh Phú, một trong những tác giả của chủ trương khoán ruộng, đã từng bị TW đảng khai trừ/trù dập đến chết;
  • Nông dân miền Nam, bị bóp nghẹt kinh tế, đã xé rào, tự nâng giá thóc, khoán cả nhiên liệu và thiết bị trong ngành xay thóc lẫn vận chuyển, đã tự động dẹp bỏ hệ thống hợp tác xã nông nghiệp… và đối diện với biết bao còng sắt, ngày tù, trước khi đưa cả nước lên hàng thứ ba thế giới về mức xuất khẩu gạo bấy giờ.

Người ta chưa quên một giai thoại khác: Lúc được nghe tham luận về việc cho phép tư nhân làm kinh tế, thì bác Mười nhà ta ngưng phe phẩy cây quạt cầm tay, trổi cao giọng hàng thịt, quát ngay: “Thế thì giết chết tươi chủ nghĩa xã hội à?”.

Còn lúc gặp nguyên Chủ tịch UBND Hải Phòng Nguyễn Dần trình bày về sáng kiến dẹp bỏ hệ thống tem phiếu, bác Mười đã lớn tiếng răn đe: “Bỏ tem phiếu là có tội!”.

Rõ ràng: Chỉ thị 100CT (13/1/1981) chính thức hóa tiến trình khoán sản phẩm trong nông nghiệp tự phát của nhân dân chính là để giành công cho đảng (vốn đã bó tay), ngay trước lúc bác Mười chính thức vào BCT. Đảng chiếm công đổi mới để giữ quyền thống trị bằng hệ thống độc tài độc đảng. Cựu thư ký riêng của bác Mười là ông Đoàn Duy Thành từng có một nhận xét chính xác để đời: “Anh Mười là một con người tráo trở đến thế là cùng!”.

*

Thú thật!

Bởi bác Mười cứ tưởng lại còn có đâu đó khá nhiều độc giả của bài viết “Không có Ðảng CSVN… này khó lòng hình dung ra nổi cái kết quả vĩ đại (mà theo tác giả là rất đáng tự hào) của công cuộc đổi mới hoành tráng của đảng và nhà nước ta tới đâu:

  • Sau 25 năm đổi mới và gần cuối thập kỷ đầu của thế kỷ 21, VN ta đã gần chạm ngưỡng chế tạo được toàn bộ chiếc xe đạp và 40% chiếc xe máy.
  • Đất nước ta lấp lánh thay da đổi thịt từ ruộng đồng phì nhiêu biến thành sân golf, từ bãi tắm thiên nhiên biến thành resorts, từ quán cóc biến thành hàng hàng lớp lớp vũ trường với khách sạn từ cấp mini cho tới 4-5 sao. Các khu “giải trí và hoạt động đêm” luôn thuộc diện ưu tiên xây dựng.
  • Hiện nay, thanh niên nam nữ Việt Nam trở thành lao công/ôsin cho nhân dân nhiều nước, qua tận Trung Đông ngập cát hay Samoa ngập sóng, còn công nghiệp cả nước thì nhanh chóng tiến lên trình độ gia công/phục vụ cho thế giới thu lợi nhuận.
  • Thiếu nữ Việt Nam trở thành món hàng mua bán cho các nước láng giềng, thậm chí, được chính mồm bác Triết quảng cáo mồi chài doanh nhân Mỹ. Thống kê (chưa đầy đủ của chính phủ Việt Nam) hồi tháng 6/2008: Có 21.038 phụ nữ và trẻ em bị bán ra nước ngoài (2% là trẻ em trai dưới 10 tuổi) và 177.000 phụ nữ lấy chồng nước ngoài. Tỷ lệ khám nghiệm thanh niên nhiễm HIV trước khi thi hành nghĩa vụ quân sự trung bình là 35/1000, đạt kỷ lục là 10%, ở huyện Đô Lương, Bắc Ninh.
  • Về mặt tinh thần thì nhân dân ta ngày nay thuộc sử Tàu hơn sử Việt, nhờ vào tiến trình đổi mới của xấp xỉ 70 đài truyền hình trên toàn quốc.
  • Hệ thống báo chí/truyền thanh/truyền hình chính quy của ta đã chứng tỏ rành mạch rằng nói láo là một phong cách sống nghiêm túc đến mức trở thành truyền thống. Trong đó, những ai dám nói thật đều trở thành nạn nhân của chủ trương “thông tin liều lượng” và “bảo vệ bí mật quốc gia” (Kim Hạnh, Nguyễn Hoàng Linh, Nguyễn Hoàng Thu, Hoàng Thiên Nga, Nguyễn Việt Chiến…).
  • Hệ thống luật pháp của ta đã thành công vượt bực về nỗ lực “biến mỗi công dân thành một người tù dự khuyết” (theo Vũ Thư Hiên). Nhà tù của ta từng bước được tăng cường thông thoáng nhiều nơi. Mỗi năm ta thường có thông báo đặc xá khoảng nửa vạn tù nhân.
  • Hệ thống giáo dục của ta (từng nổi tiếng thời trước đổi mới là dắt một con bò sang Nga thì có thể dắt về một tiến sĩ) hiện đã biến thành những siêu thị bán phao cho tới bán bằng. Dù vậy, vẫn có gần 87% thí sinh không đủ điểm trung bình 5 trong kỳ thi tốt nghiệp (2003).
  • Về y tế: Các bệnh viện chuyên khoa như ung thư, chấn thương chỉnh hình, nhi khoa… bị quá tải vượt quá 150% công suất. Bản thống kê của nhà nước (8/2003) công bố VN có 850 bác sĩ chuyên khoa trị liệu cho trên 10 triệu người mắc bệnh tâm thần (tỷ lệ điên loạn cao nhất, còn tỷ lệ bác sĩ thấp nhất thế giới).
  • Thống kê 2008 công bố tiền nợ của Việt Nam lên đến hơn 28 tỷ USD. Con số này còn tăng vọt cao hơn trong năm khủng hoảng 2009 và chắc chắn sẽ làm còng lưng những thế hệ người Việt sau này.
  • Khi gia nhập vào WTO, Việt Nam ta phải chờ Campuchia ký thuận. Xứ Chùa Tháp này đã theo thể chế chính trị đa đảng và có báo riêng của từng đảng. Ta vẫn chưa theo kịp.
  • Thống kê của Asian Culture -1960 : Lợi tức bình quân tính bằng USD/người/năm: Nhật 245, Việt Nam Cộng Hòa (miền Nam VN) 141, Đài Loan 121, Thái Lan 64.2, Ấn Độ 55. Singapore bấy giờ còn thuộc về Malaysia, chưa đáng kể. Còn theo tài liệu của World Bank – 2007: Lợi tức bình quân USD/người/năm của Singapore là 35.000, Thái Lan là 3.850, VN ta là 760. Nghĩa là ta vừa tăng trưởng lại vừa tụt hậu. IL Houng Lee, Trưởng Đại diện Quỹ Tiền tệ quốc tế IMF tại Việt Nam nhận định: “VN có thể mất 18 năm để đuổi kịp Indonesia, 34 năm với Thái Lan và 197 năm với Singapore ” (báo Tiền Phong 3/2006), với điều kiện các nước đó dậm chân tại chỗ.

Phải chăng đó cũng là nguyên do xuất hiện câu thành ngữ dân gian trong những năm 80: “Mặt Thanh Hoa, da Ái Vân, chân Hồ Kiểng, trán Đỗ Mười”?

Rõ ràng: Tiến trình đổi mới của đảng và nhà nước VN là một chuỗi sửa sai liên tu bất tận, càng sửa càng sai, bởi cốt lõi chủ nghĩa xã hội và cơ chế tập quyền này đã gây ra thảm họa từ đầu và liên tục nuôi dưỡng những kẻ gây ra những thảm họa kế tiếp để làm giàu.

*

Thú thật!

Ở nửa cuối bài viết, tác giả cố tập trung vào những trọng điểm về xây dựng đảng. Đại loại cũng chỉ là những điều than phiền từng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong mọi hội nghị đảng bộ về một khối nhân sự thiểu trí thừa tham ở mọi cấp đảng mà ai cũng biết nhưng khó đụng tới vì nó thuộc diện “bí mật quốc gia”:

  • Bác Phiêu, người lật đổ và kế tục bác Mười giữa nhiệm kỳ từng phán: “Đảng đã biết cái bệnh đó rồi thì phải giải quyết đi chứ. Cũng có thực tế là anh chẳng dám đấu tranh với ai cả nhưng anh lại bè phái hại nhau: đơn thư tố cáo nhau, nói xấu nhau, dựng chuyện hại nhau… Tình trạng đó là tương đối phổ biến chứ không phải cá biệt. Và đôi lúc cũng có việc các đồng chí trung ương đảng kiểm điểm lại thì thấy chặn chỗ này lại bục chỗ kia, có cái càng bục lớn hơn”.
  • Cụ thể là các vụ liên tục “phá án” Năm Cam, Hang Dơi, Thủy Cung Thăng Long… mấy năm trước, đều là hệ quả “chập mạch” của các đường dây tham nhũng ở cấp trung ương.
  • Phóng viên Ben Rowse của hãng thông tấn AFP đã từng có một nhận định không thể nào chính xác hơn được nữa: Bất cứ quan chức nào tại Việt Nam cũng đều có thể bị đưa ra tòa về tội tham nhũng”. Vậy là cả thế giới đều hiểu giới tư bản đỏ VN từ đâu chui ra. Còn lời bình mẫu mực nhất là của tướng CA Lê Thế Tiệm về nạn tham nhũng xuyên suốt đó: “Tình trạng đang rất phức tạp và khó giải quyết”. Vì sao?
  • Ngay cả bác Triết là đương kim Chủ tịch nước cũng từng hồn nhiên phán rằng: “Làm người ai mà chẳng tham?”. Đã tham mà còn có quyền tuyên bố “Đảng là tao” nữa thì hỏi sao chẳng phức tạp và khó giải quyết?
  • Chính bản thân bác Mười cũng đã tư túi nhiều triệu USD trong chuyến công du Nam Hàn, và chuyện chỉ ló ra ánh sáng công luận sau khi bác nôn ra một ít để làm từ thiện. Cũng chính bác Mười là tác giả một câu danh ngôn ấn tượng khác: “Nếu đã no thì đừng xơi thêm!”.
  • Còn Nguyễn Văn Thuận, nguyên Bí thư thành ủy Hải Phòng, con nuôi của bác Mười, cũng đã từng tốn nửa triệu USD để chạy án vụ tham nhũng sân bay Cát Bi. Nghe đâu còn tốn thêm nhiều triệu khác để chạy ghế TW.

Chuyện thật 1: Riêng trong năm 2003, hệ thống ăn chia trong ngành Tư Pháp đã tiếp tay cho 17.100 kẻ phạm pháp đào thoát, trong đó có cả 7 trường hợp được cấp giấy xuất cảnh ra ngoại quốc.

Chuyện thật 2: Có một huấn luyện viên bóng đá nọ (tạm dấu tên), khi bị buộc tội hối lộ cho trọng tài trận đấu, đã chân thành trần tình: “Tui hối lộ như thế không phải để cho trọng tài bênh đội mình, mà là chỉ muốn trọng tài công bằng thôi!”. Bởi nếu không thì tiền hối lộ phía bên kia sẽ giúp họ chiếm thượng phong?

Rõ ràng: Lãnh đạo ta, cả cựu lẫn kim, cả nguyên chức lẫn tại chức, đều có khiếu hài hước cực nghiêm túc trong các hội nghị hay các bài xã luận. Khoa học ngày nay vẫn chưa thể kết luận được, ngày nào y khoa thế giới chưa tìm ra được cách dò dây thần kinh xấu hổ. Bác Mười này không là người duy nhất, hôm nay và cả ngày mai. Sẽ không một ai ngạc nhiên khi thấy còn nhiều bác Mười khác có cùng một loại tuyên bố hùng hồn như tựa bài viết nói trên, cho đến ngày nhân dân ta cùng xuống đường giơ cao nắm tay bảo nhau rằng họ “hết thời rồi!”.

*

Thú thật!

Trong hồi ký của ông Đoàn Duy Thành có một đoạn đáng ngẫm:

Anh Nguyễn Văn Linh đã nói nhiều lần ở Hội nghị Trung ương: “Tôi có được chuẩn bị làm Tổng Bí thư đâu”, và lúc cần quá, phải đi tìm người, anh Linh ví: “Chẳng khác gì cầm bó đóm đi tìm ếch, tìm không được ếch, lại bắt được nhái”.

Còn nhân dân ở Thủ Đô ta đã có một thời sôi máu khi nghe truyền tai một giai thoại của bác Mười cũng đáng ngẫm không kém:

Trong thời chiến tranh, trường CNKT1 ở Hà Nội được sơ tán về Lạng Giang. Đến sau 1975, vị Hiệu trưởng trường này lặn lội về thủ đô để kiến nghị với Phó thủ tướng cho trường được dời về lại nguyên quán. Bác Mười rất hồn nhiên mà phán rằng: “Ở Lạng Giang rộng rãi thông thoáng không muốn, muốn về Hà Nội để ăn cứt à?”.

Trong ý nghĩa đó, bài viết công phu/uyên bác nói trên, nếu do chính tay bác viết, thì đó là một khẳng định chắc nịch rằng bác Mười muốn giành độc quyền ở Hà Nội, và bác đã từng ở đó từ bấy tới nay.

Còn, thảng hoặc, nếu vì bác quá bận đời tư (đến mức có cả con mọn ở tuổi 91), và đó là bài của người khác viết cho bác ký tên, nhân dịp bác mừng sinh nhật 93, cộng thêm vinh dự được trao tặng huy chương 70 tuổi đảng, thì quả đúng hắn là một tay cực đểu: Muốn dâng lên bác cái độc quyền ở Hà Nội.

Thú thật!

14-3-2010, kỷ niệm 22 năm hy sinh không ngày giỗ của những liệt sĩ ở Trường Sa

Blogger Đinh Tấn Lực

Cầm Quyền Du Đảng

Hay

Du Đảng Cầm Quyền?

Nhà cầm quyền CSVN hiện chỉ cầm búa cầm liềm theo kiểu cầm chừng: Chủ nghĩa bây giờ là cầm khoán bẻ măng. Chính sách là cầm cố đất nước. Định hướng là cầm cái/cầm con mọi nguồn viện trợ. Quan chức thì cầm cốc mua vui. Khẩu hiệu đạo đức là cầm lòng. Kẻ thù là sĩ phu cầm bút. Đối nội là cầm tù phản biện. Đối ngoại là cầm dao đằng lưỡi. Tư tưởng là uốn gối cầm bô. Kinh tế là khấu đầu cầm bị. Văn hóa nhắm mắt cầm loa. Thông tin bịt mồm cầm kéo. Tuyên giáo nhắc tuồng cầm canh. Công thương khum lưng cầm khách. Công an khóa xích cầm chân. Tư pháp cầm đèn chạy án. Báo đài khép nép cầm ca. Giáo dục huơ roi cầm tiền. Y tế miên man cầm giá. Hành chánh xum xoe cầm dù. Dân phòng lăm le cầm súng. Tại chức nhi nhô cầm bằng. Cấp ủy loay hoay cầm đũa. Đảng viên tí toáy cầm nhầm. Chất xám tất bật cầm máu. Mặt Trận đắm đuối cầm chầu. Phong bì thoải mái cầm cương. Đầu tư tuột dốc cầm chắc. Quốc Hội không dám cầm còi. Tham nhũng ung dung cầm lái. Đất nước lệt bệt cầm cờ…

Sứ mệnh lịch sử bây giờ là cầm cự: Lãnh đạo níu ghế cầm đô. Nhân dân lũ lượt cầm đồ. Công nhân hút gió cầm cữ. Nông dân chạy gạo cầm hơi. Ngư dân cầm mạng chuộc tàu. Tiểu thương cầm vợ đợ con. Trí thức rán cầm nước mắt. Trung ương vẫn ngỡ cầm đầu. Trên dưới tranh quyền cầm trịch. Cả giuộc lắm phen cầm cập. Nhìn giặc đoạt ải/chiếm đất/cướp đảo mà chẳng dám cầm quân. Thấy dân đòi đất/đòi nhà/đòi chỗ tu hành thì giả dạng du côn cầm gạch/cầm đá/cầm cây/cầm gậy…

Một nhà cầm quyền như Rứa đáng gọi là gì? Nghe chừng phảng phất đâu đây thoảng chút hoang mang: cầm độc hay cầm thú?

- Toàn Đảng Chống Toàn Dân -

Câu trả lời cho câu hỏi nêu trên hoàn toàn thuộc về nhân dân. Dù chưa rõ và chắc, qua một cuộc trưng cầu dân ý vẫn biết là khó sớm có, song chẳng ai là chưa đoán ra được, căn cứ vào những sự kiện đã từng xảy ra đó đây, từ Thái Hà tới Tam Tòa, Bát Nhã, và mới vừa lặp lại, cả trên đồi Đồng Chiêm, cả trên mạng BauxiteVN, lẫn trên bục chánh thẩm khắp nước.

Cứ Google Image các từ khóa đó là lập tức hình ảnh máu me nhầy nhụa hiển thị đến không kịp bấm chuột sang trang.

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức cho dân phòng/xã hội đen lấy cớ dẹp xe máy dựng trước nhà để gây ẩu đả có thương tích; là chỉnh sửa hình ảnh của thủ phạm từ nhiều năm trước để vu oan/bắt bớ nạn nhân?

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức thuê bao xã hội đen trà trộn vào đám đông giáo dân/phật tử đang cầu nguyện để phá rối/lăng mạ; là chiếm đất giáo đường làm công viên; là giật sập nhà nguyện/đập phá chùa chiền/huy động hàng ngàn công an cùng chó nghiệp vụ giật sập thánh giá lúc 2 giờ sáng…?

Du đảng là gì, nếu không phải là chỉa dàn loa phường từ bốn hướng vào nhà thờ ra rả chửi rủa Chánh xứ họ đạo; là ủi đất/đắp mô/lấp ngõ để giáo dân không qua lại được; là hành hung/đả thương cả người thu hình các thương binh bị đánh và chụp ảnh các mô đất điển hình của chính sách gây ùn tắc giao thông/ngăn sông cấm chợ?

Du đảng là gì, nếu không phải là “tổ chức chu đáo, bỏ nhiều công sức và tiền bạc” thuê bao tin tặc (cả tin tặc “lạ”) để xâm nhập/khống chế/truy sát các trang mạng phản biện; là ăn cắp mật khẩu để chiếm đoạt các trương mục email và mạo danh tung thư lũng đoạn?

Du đảng là gì, nếu không phải là tổ chức nghe lén điện thoại/đọc lén điện thư; là xông vào nhà dân lục soát, chộp ổ cứng vi tính về khám; là gọi dân lên đồn không được, mới trưng ra trát tòa; là buộc dân phải thành khẩn khai báo “tội yêu nước” vì đã vạch trần các âm mưu phá hoại đất nước và bán nước cầu vinh?

Du đảng là gì, nếu không phải là bao vây/cô lập tòa án bằng trùng lớp nhiều thứ lực lượng cơ động/giao thông/PCCC/bảo vệ/dân phòng; là tổ chức thay đổi chiếu khán của ủy viên Hội đồng Thẩm phán Quốc tế, ngăn cản các đoàn ngoại giao, ngăn cản luật sư của Hiệp hội Luật gia Quốc tế (IBA- mà nạn nhân là một thành viên), ngăn cản phóng viên của các tờ báo quốc tế, và chận đường nhân dân đến theo dõi/dự thính phiên tòa áp án người phản biện; là huy động thuê bao hàng xóm nạn nhân vào lấp kín phòng xử trong lúc thân nhân/bằng hữu của nạn nhân phải đứng ngoài mưa; là phá nhiễu âm thanh các đoạn phát biểu của nạn nhân trước vành móng ngựa; là cấm phóng viên chụp ảnh/thu âm làm phóng sự phiên xử; là tịch thu cả điện thoại di động của những người bước vào phòng xử; là cấm tiệt báo chí tường thuật/trích đăng/bình luận phần đối thoại/tranh luận trước tòa của các nạn nhân? là chỉ cần 15 phút nghị án cho một tội danh có thể lên mức tử hình; thậm chí, là bắt giữ/hạch sách/thẩm vấn người dân ngồi uống càphê ở quán nước trước tòa?…

- Cùng Tắc Biến, Biến Tắc Tị -

Các thắc mắc hợp hiến hay vi hiến, pháp quyền hay bạo quyền… đều không còn là vấn đề, một khi đảng và nhà nước đã mất hết/mất trọn/mất ráo mọi quyền lực chính thống của một chính quyền. Đến mức phải chọn lấy các hành xử ti tiện nhất là hình sự hóa mọi lời lẽ phản biện và sử dụng/giả danh du đảng để phân định Đúng/Sai.

Liên Xô và các chế độ Đông Âu cũ đều từng trải và từng thuộc vào bậc thầy của các cách hành xử đê tiện đẫm máu và nước mắt đó trước khi kết thúc.

Các cuộc cách mạng màu (thời hậu chiến tranh lạnh) cũng có chung điểm khởi từ sự chối từ lẫn ý muốn chấm dứt cung cách cai trị du đãng hèn hạ và đê tiện của các chế độ độc tài bản địa: “Hết thời rồi” tại Serbia năm 2000. “Hoa hồng” tại Georgia năm 2003. “Màu cam” tại Ukraina năm 2004. “Uất kim hương” tại Kirzistan năm 2005. “Màu xanh” tại Lebanon năm 2006…

Hiện tượng “Hết Thời Rồi” đang rần rật tự diễn biến trong lòng chế độ Việt Nam.

Cũng không còn là vấn đề ở đây nữa, về mọi hoang mang cầm quyền hay cầm thú.

Vấn đề là thời điểm của một cuộc cách mạng trắng (áo trắng và khăn tang trắng). Biết đâu đó cũng là dịp đánh dấu hoành tráng của đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long?

21/01/2010

Blogger Đinh Tấn Lực

Obama, và hơn thế nữa…

“…Miệng họ nói “hoà giải, hoà hợp dân tộc” nhưng tay họ cầm súng dí vào lưng, cầm còng số 8 khóa vào tay, cầm dây thòng lọng tròng vào cổ những người Việt Nam đã bại trận, đã bị tước vũ khí, đã bị lột sạch, trần trụi…”

Sân khấu chính trị Mỹ đang quay cuồng trong điệu rock man rợ, chợt im tiếng. Có một người da đen mảnh khảnh bước lên bục diễn với cây kèn trompette. Và điệu Blues trầm lắng vang lên. Đó là Obama. Nhưng chàng không chỉ đến với điệu Blues, chàng mang cả một thế giới mới lạ được phối màu trầm của contrebasse, kèn gỗ và chất giọng khàn đục của Louis Armstrong xập xình lắc lư…Chàng mang lại sự hoà dịu, êm ái. Điệu Blues của chàng đã làm nhiều người khóc, có cả những người da trắng.

Obama là một người hùng biện, dễ mến và có chiến lược tranh cử hợp lý. Ông là sự chọn lựa của nhân dân Hoa Kỳ nhưng trước hết ông là sự chọn lựa của các thế lực tài phiệt Mỹ. Sự đắc cử của Obama đồng nghĩa với sự thay đổi chiến lược toàn cầu của các tập đoàn kinh tế ấy.

Bọn họ đã lắp Obama trên cánh cung và bắn đi. Obama là chiếc nỏ thần của Thục An Dương Vương. Cái mũi tên màu sô-cô-la hiền hoà ấy một lúc đã bắn trúng nhiều con chim: sự hiếu chiến, sự phân biệt chủng tộc, chiến tranh Iraq, Hồi giáo, lá chắn tên lửa…Obama là điều kỳ diệu nhất trong lịch sử nước Mỹ. Là chọn lựa đẹp nhất, khôn ngoan nhất của giới tài phiệt Hoa Kỳ.

Obama sẽ làm được những gì, điều đó thời gian sẽ trả lời, nhưng trước hết Obama đã thay đổi được hình ảnh nước Mỹ trong con mắt của thế giới. Đó là điều trước đây chưa ai làm được.

*
Sự có mặt của Obama tại Nhà Trắng còn có ý nghĩa rất lớn rằng: kể cả kẻ ngạo mạn nhất, hung hăng nhất, giàu mạnh nhất như Mỹ rốt cuộc cũng phải xét lại mình, phải tìm cách thay đổi. Cái đó Marx gọi là “biện chứng”. Nhưng tiếc thay những người tự nhận là marxiste như đảng cộng sản Việt Nam, như đám cầm quyền “ăn vạ” ở Bắc Triều Tiên hiện nay, như các nhà lãnh đạo còm cõi quá “đát” ở Cu Ba… lại không hiểu cái phép biện chứng ấy. Đúng ra là họ rất sợ sức mạnh của quy luật biện chứng và tìm mọi cách để ngăn cản sự phát triển của quy luật ấy. Thực chất, nói theo ngôn ngữ Mác-xít, họ là những kẻ phản động.

Họ ít học, lại hẹp hòi, tiểu nhân, độc ác. Miệng họ nói “hoà giải, hoà hợp dân tộc” nhưng tay họ cầm súng dí vào lưng, cầm còng số 8 khóa vào tay, cầm dây thòng lọng tròng vào cổ những người Việt Nam đã bại trận, đã bị tước vũ khí, đã bị lột sạch, trần trụi…

Họ không có kiến thức và lòng nhân ái để hiểu rằng tháng 4 năm 1994 khi Nelson Mandela, người bị giam giữ hơn hai thập niên trong nhà tù, lên làm tổng thống Nam Phi đã không tìm cách trả thù những kẻ đã đàn áp nòi giống mình suốt 300 năm. Ở Nam Phi lúc ấy chẳng những đã không có “học tập cải tạo”, không có dí súng vào lưng, treo cổ hay đày đoạ đối phương trong lao dịch như ở Việt Nam mà chính quyền của Mandela gần như giữ nguyên trạng bộ máy hành chính và cả bộ máy cảnh sát. Các đảng phái chính trị vẫn hoạt động tự do bình thường. Tất nhiên vẫn có những phiên toà xử các tội phạm phân biệt chủng tộc trong chế độ Apartheid nhưng không kể đến màu da, đảng phái, cũ mới. Các chánh án và luật sư phần lớn là người da trắng từng hành nghề trong chế độ cũ vì họ có kiến thức và hiểu biết luật pháp.

“Khi ông Mandela rút khỏi chính trường, nhiều người lo ngại sẽ có phân biệt chủng tộc ngược của người da mầu. Nhưng Thabo Mbeky, người kế tục sự nghiêp của Mandela vẫn tiếp tục chính sách hoà giải dân tộc, và về nhiều mặt, nhất là kinh tế, còn rộng mở hơn ngừời tiền nhiệm.” (Nguyễn Việt, « Nhìn Nam Phi ngẫm đến nước mình». Thông Luận, ngày 08/06/2007)

*
Mùa đông năm 1997, tôi có dịp sang Đức, ngụ tại Potsdam. Buổi sáng tôi gặp một ông già người Đức ngồi ăn phở tại quán của người bạn tôi. Với vốn liếng tiếng Anh không lấy gì làm lưu loát lắm ông khoe ông là đại tá phi công của chính quyền Đông Đức cũ. Tôi hỏi:

-Thế khi nước Đức thống nhất bác có phải đi học tập cải tạo không?

Ông già tỏ vẻ ngạc nhiên và nói rằng chẳng những không có “cải tạo” mà ông còn được chính quyền mới trả lương hưu nữa.

Nhưng ngoạn mục nhất là sự xuất hiện của nữ thủ tướng Angela Merkel. Bà sinh ở Đông Đức, từng là sinh viên của trường đại học Leipzig, đậu tiến sĩ vật lý năm 1986, từng là đại biểu quốc hội của chính quyền cộng sản Đông Đức. Thế mà khi nước Đức thống nhất bà lại được thủ tướng Helmut Kohl bổ nhiệm làm bộ trưởng phụ trách về phụ nữ và thanh thiếu niên.

Ngày 23/11/2005 bà đắc cử chức Thủ tướng Chính phủ Đức. Sự đắc cử của bà Angela Merkel cũng ngoạn mục không kém gì thắng lợi của Obama.

Rõ ràng là những người cầm quyền ở Âu Mỹ (và cả Nam Phi) dù bị mang tiếng là thực dân, đế quốc… nhưng khi cần cao thượng họ là những người cao thượng, khi cần nhân ái họ là những người nhân ái, khi cần lẽ phải họ là những người rất tôn trọng lẽ phải. Còn Việt Nam chúng ta, suốt trong chiều dài lịch sử từ Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Tây Sơn… chỉ thấy trả thù, trả thù, trả thù, chỉ thấy những trò hèn hạ như tứ mã phanh thây, đào mồ cuốc mả cho lính đái vào đầu lâu, tru di tam tộc, cửu tộc, chém ngang lưng, chôn sống tập thể, đấu tố, thủ tiêu, ám sát…

Đó là lỗi của ai vậy? Có phải tại cái “gen” của nói giống Lạc Hồng? Xin thưa, không phải đâu. Bởi vì Trung Quốc, Bắc Triều Tiên, Pôl Pôt, Hitler, Staline…đều thế cả. Đó là lỗi của bọn cầm quyền. Nếu chúng dã man hoặc theo những học thuyết dã man, chúng sẽ đẩy cả dân tộc vào sự man rợ.

Nhân dân không có lỗi gì cả.

Sự xuất hiện của Angela Merkel, Barack Obama, Nelson Mandela, Thabo Mbeky… là thành quả của sự hối lỗi, sự điều chỉnh, sự xét lại của Quyền Lực tại các nước ấy.

Hãy vứt những cái đầu tủn mủn vào đống phế liệu của lịch sử. Việt Nam cũng đang cần một sự hối lỗi, một sự điều chỉnh, một sự thức tỉnh như thế.

Ngày 28.03.2009
Đào Hiếu

Thật, giả lẫn lộn và trách nhiệm của chúng ta

Trong xã hội Việt Nam hiện nay xảy ra mấy việc sau đây:

- Dân chê nhà nước độc tài, không có nhân quyền, không có dân chủ, các chức vụ then chốt trong bộ máy nhà nước đều do Đảng quyết định… Nhà nước trả lời bằng cách mớm ý cho ông bí thư Đà Nẵng “đề nghị” cho dân bầu trực tiếp chủ tịch thành phố.

- Dân la làng rằng nhà nước là “tay sai Trung Quốc”, là “bán nước cho Tàu”, là dâng các quần đảo Hoàng Sa Trường Sa cho Chệt… Nhà nước bèn trả lời bằng cách bổ nhiệm một ông chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa với nhiệm kỳ 5 năm.

- Dân lại nói: Thái Lan nó biểu tình tùm lum, quậy phá cơ quan nhà nước, chiếm sân bay, ách tắc giao thông, ảnh hưởng buôn bán, du lịch, làm thiệt hại cho đất nước… còn Việt Nam thì ổn định, bình yên mấy chục năm nay. Như thế có phải “ngon lành” hơn là tự do dân chủ hay không?

- Có người hỏi: các anh muốn thay đổi chế độ hiện nay ở Việt Nam hả? Lấy cái gì thay? Học thuyết của các anh đâu? Người ta có chủ nghĩa Mác Lê-nin còn các anh có cái gì? Không có học thuyết đừng hòng tập hợp quần chúng, đừng hòng lập một đảng chính trị. Không có đảng chính trị thì ai cầm lái? Các anh sẽ dẫn dân tộc theo con đường nào, đi đến đâu?

*

Toàn là những vấn đề hóc búa. Đố ai cãi được.

Vậy thôi đừng cãi. Chỉ xin hỏi chút xíu:

Chẳng hạn như:

- Ông bí thư Đà Nẵng “đề nghị” cho dân bầu trực tiếp chủ tịch thành phố, vậy khi đắc cử xong, nhận áo mão cân đai xong, thì ông ta làm được gì?

Ông chủ tịch này chức thì lớn nhưng không phải đảng viên, vậy khi họp thành ủy chắc chắn ông không được quyền tham dự, trong khi các quan chức dưới quyền ông (ví dụ như các giám đốc Sở, các chủ tịch quận…) thì đều là thành ủy viên, họ đều được mời họp, được phổ biến chủ trương đường lối, được nhận chỉ thị của Đảng. Vậy thì họ nghe lời Đảng hay nghe lời ông chủ tịch thành phố ngoài Đảng?

Chỉ hỏi có một câu mà ông chủ tịch thành phố biến thành bù nhìn ngay.

Lại hỏi:

- Ông Đặng Công Ngữ hiện nay là chủ tịch huyện đảo Hoàng Sa nhưng lại có hộ khẩu thường trú tại Đà Nẵng, vợ con ở Đà Nẵng, ti-vi, tủ lạnh, xe pháo…đều ở Đà Nẵng và rất có thể ông chưa bao giờ đặt chân lên đảo Hoàng Sa và cũng không dám bén mảng tới gần hòn đảo ấy vì sợ Trung Quốc nó bắt nhốt.

Có thể ông cũng có một trụ sở UBND huyện Hoàng Sa ngay tại Đà Nẵng và hàng ngày ông cũng đi làm, hàng tháng vẫn lãnh lương, nhưng ông sẽ làm những việc gì? Ông có bao nhiêu nhân viên? Ông có công an, bộ đội không? Có vũ khí không? Có thành lập Mặt trận Giải phóng Hoàng Sa không? Bao giờ thì tiến hành kháng chiến? Bao giờ thì giải phóng Hoàng Sa?

Còn phía Trung Quốc, khi hay tin Việt Nam bổ nhiệm chủ tịch Hoàng Sa thì nổi tam bành, ra công hàm phản đối kịch liệt.

Trời ạ! Hai ông nhà nước đóng kịch với nhau mà cứ y như thiệt!

*

Khác với Thái Lan, dưới chế độ ta, xã hội Việt Nam ta ổn định, không biểu tình, không chiếm sân bay, không ngồi lì giữa phố cản trở giao thông, không ngăn sông cấm chợ làm xáo trộn sinh hoạt… O.K tốt quá, nhưng xin hỏi chút xíu:

- Xã hội ta ổn định ư? Sao nghe cựu Thủ tướng Phan Văn Khải nói xã hội ta “trên bảo dưới không nghe”? Sao mỗi sáng mở tờ báo ra thấy đâu đâu cũng tham nhũng. Mạnh ai nấy ăn. Cầu đường ăn theo cầu đường, dầu khí ăn theo dầu khí, giáo dục ăn theo giáo dục, y tế ăn theo y tế, bóng đá ăn theo bóng đá, nhà đất ăn theo nhà đất.

Cả nước “chia động từ ĂN”: tôi ăn, anh ăn, he ăn, she ăn, chúng tôi ăn, các anh ăn, chúng nó ăn. Ăn từ thấp lên cao, ăn từ trên xuống dưới.

Ăn một cách hùng hồn, ăn một cách sỗ sàng, ăn một cách thô bạo, ăn một cách lịch lãm, ăn một cách xấc xược, ăn một cách lộ liễu, ăn một cách quy mô, ăn một cách nham nhở, ăn một cách trí thức, ăn một cách hoành tráng, ăn một cách hiện đại…

Ăn nhấm nháp như chuột, ăn ngồm ngoàm như hổ báo, ăn lén lút như khỉ, ăn chụp giựt như kênh kênh quà quạ…

Tiền Việt cũng ăn, tiền đô cũng đớp, lúa gạo, thịt cá, tôm xuất khẩu ăn đã đành, đến xi măng nó cũng ăn, sắt thép đã đem xây cầu rồi, nó còn đập ra, gỡ ra mà ăn, thằng ở biển thì ăn biển, thằng ở rừng thì ăn rừng, computer, cáp quang nó cũng ăn, điện 220 volt nó cũng nuốt, xe lửa, máy bay, tàu biển nó ăn tuốt hết…

Chúa ơi! Xã hội như vậy mà gọi là ổn định sao hở trời!

Đó là một xã hội vô chính phủ.

Đó là một xã hội “trên bảo dưới không nghe”.

Cụm từ đó ai cũng biết người ta dùng để chỉ cái gì rồi.

Nó không phải là một xã hội ổn định. Nó là cái “con kẹc” đã hết xíu oách.

*

Những xáo trộn vừa qua ở Thái Lan là một hình thức đấu tranh chính trị rất phổ biến trong các nước dân chủ. Nó có khả năng ngăn chặn độc tài, tham nhũng và bóc lột, góp phần giành tự do, dân chủ cho nhân dân lao động.

Các cuộc biểu tình ấy có khi cũng bị các đảng phái xôi thịt lợi dụng, nhưng nó thường là một thế lực mà bọn tham nhũng, bọn tay sai ngoại bang phải dè chừng, phải chùn bước. Nó có thể bùng phát rất dữ dội nhưng cũng giống như một cơn sốt, khi uống đúng thuốc thì nó sẽ bình phục.

Còn cái xã hội gọi là “ổn định” của Việt Nam hiện nay giống hệt một người đang nhiễm HIV. Nó có thể ủ bệnh đến 10 năm. Bề ngoài trông rất bình thường nhưng… hết thuốc chữa!

Con HIV made in VN hiện nay đã tiêu diệt sức đề kháng của cả một dân tộc, của cả một thế hệ.

Đó không phải là điều rất đáng sợ sao?

*

Bây giờ nói tới chuyện “cần một học thuyết để đối trọng với học thuyết Mác-Lênin, để vạch đường đi cho dân tộc”.

Xin hỏi:

- Trong suốt hơn 3000 năm nay nhân loại đã bị đủ thứ học thuyết gây nên bao cuộc chiến tranh làm cho thây chất thành núi, máu chảy thành sông, làm cho nhà tan cửa nát, làm cho tử biệt sinh ly, làm cho tàn phế, nghèo đói, khốn khổ khốn nạn trong hai cuộc thế chiến, rồi nào là Hitler, Pôl Pốt, Mao Trạch Đông, Stalin… rồi nào là “thánh chiến”, nào là “vệ quốc”…

Bộ quý vị chưa đủ tởn sao mà còn đòi học thuyết? Cá nhân tôi, mỗi lần nghe “học thuyết” là nổi da gà, muốn ói, muốn quỳ xuống mà lạy, xin đi chỗ khác chơi, xin tránh giùm cái dân tộc này cho chúng con nhờ!

Ai nói gì nói, tôi vẫn “chịu” cụ Hồ khi cụ tuyên bố tại Tours cuối năm 1920 đại khái: “Đệ tam hay đệ tứ cộng sản? Không biết có ĐỆ NHỊ RƯỠI cộng sản không, nếu có thì tôi cũng theo, miễn là giành được độc lập…”

Câu chế giễu ấy chứng tỏ cụ Hồ cũng coi các học thuyết là cái mớ giẻ rách.

Dân Việt Nam không cần học thuyết, hiện nay chúng ta chỉ cần một lực lượng chính trị, một đảng chính trị gì gì cũng được. Có thể là đảng Dưa Chuột, đảng Bí Đao hay đảng Sầu Riêng, Chôm Chôm gì gì đó cũng được, thậm chí là một Đảng Cộng Sản thứ 2 cũng được, miễn là cái đảng ấy phải có lãnh đạo độc lập với Đảng Cộng sản đang nắm quyền hiện nay ở Việt Nam.

Để làm gì?

Không phải để dẫn dắt dân tộc theo một triết lý nào, học thuyết nào (vì đó là những thứ vớ vẩn) mà để làm những việc sau đây:

  1. Khi có bầu cử quốc hội thì Đảng đó phải có các đại biểu có thực quyền trong quốc hội.
  2. Khi nào chính quyền nói bậy, nói hiếp, nói càn thì Đảng đó biết phản bác, chỉ trích, tố cáo.
  3. Khi nào chính quyền thò tay ký kết các hiệp ước bán nước, bán biển, bán tài nguyên, bán người lao động… cho ngoại bang thì Đảng đó cầm cái búa mà đập vào tay nó cho nó khỏi ký bậy.
  4. Khi nào chính quyền há miệng ra “ăn” thì Đảng đó đưa tay ra giựt lại, trả cho dân. Khi nào chính quyền thò tay “móc túi dân” thì Đảng đó biết cầm cây roi mây quất vào tay nó cho nó chừa.

Hiện nay nhân dân chỉ cần có thế.

Nhưng ai sẽ đứng ra thành lập cái đảng Dưa Chuột ấy? Tất nhiên phải có lãnh tụ, muốn có lãnh tụ phải có lực lượng, muốn có lực lượng phải có phong trào quần chúng, từ các phong trào ấy chúng ta mới phát hiện người tốt để xây dựng cơ sở cách mạng, làm ngòi pháo, làm lực lượng xung kích. Đó là những điều mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã dạy cho tôi khi tôi hoạt động bí mật tại các đô thị miền Nam.

Tiếc thay, chúng ta đang sống trong một xã hội vô cảm. Tầng lớp thanh niên, sinh viên học sinh họ vô cảm vì nền giáo dục nhồi sọ một chiều, vì chưa nếm trải đau thương mất mát trong chiến tranh, vì tối ngày si mê điện thoại di động. Trí thức, công chức, tư chức, văn nghệ sĩ phần lớn là ngậm miệng ăn thua chỉ vì miếng cơm manh áo.

Hiện nay cũng có lác đác một số trí thức trong nước dám dùng ngòi bút của mình để mong kích hoạt một sự chuyển biến nào đó, như các giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà văn Phạm Toàn, nhà văn La Thành, tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng, nhà văn Phạm Đình Trọng, nhạc sĩ Tô Hải, nhạc sĩ Tuấn Khanh… và nhóm của các anh ở Lâm Đồng, Đà Lạt… nhưng họ cũng chỉ mới khẳng định được sự có mặt của mình chứ chưa tập hợp thành một lực lượng.

Tình thế thật gian nan. Thú thực, tôi vẫn hy vọng vào lực lượng trẻ có học, có tâm huyết trong Đảng Cộng sản Việt Nam, trong các lực lượng công an, bộ đội. Tôi vẫn hy vọng họ sẽ tách ra thành lập một Đảng Cộng sản thứ 2 độc lập với Đảng Cộng sản hiện nay (theo những tiêu chí mà tôi đã nêu ở phần trên).

Đảng ấy có thể vẫn thờ Bác Hồ, vẫn thờ cụ Mác, cụ Lê-nin… cũng chẳng sao, miễn nó có thực lực, nó đóng vai trò người giám sát, vai trò người can ngăn, vai trò hạn chế tham nhũng, vai trò đấu tranh cho các quyền cơ bản của người dân và quan trọng hơn, Đảng ấy phải có tiếng nói trong những quyết sách mang tính chiến lược quốc gia như vụ bauxite hiện nay.

Việc khai thác bauxite ở Tây Nguyên là một sai lầm nghiêm trọng, và càng nghiêm trọng gấp mười lần khi cho người Trung Quốc vào khai thác.

Nếu có sự tham dự của nhân dân, của trí thức thì đã không có những quyết định sai lầm như thế. Nhà nước đang ngày càng sa lầy vào vụ bauxite và sẽ dẫn đến mất nước trong một tương lai không xa.

Việt Nam đang lâm vào một thế bí chết người mà chỉ có lòng yêu nước và sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân mới cứu vãn nổi.

ĐÀO HIẾU

Chuyện phiếm: Từ Lê Văn Tám đến chuyện cụ Tôn bây giờ mới kể

… Nhân đây tôi nhớ lại một chuyện “buồn cười “, – sao có khi lại gọi là “tức cười”, thưa anh Quốc, nhà ngôn ngữ học. Mỗi lần nhớ lại tôi lại cười một mình, có khi nửa đêm, thức giấc, nhớ lại, bật cười không nhịn được. Hồi 1970, tôi có dịp đi theo chủ tịch nước Tôn Đức Thắng về thăm huyện đội Ứng Hoà – Hà đông, đóng ở thị trấn Vân đình. Đây là huyện quê tôi, được thưởng huân chương về thành tích tuyển quân.

Ông Bí thư huyện ủy Dương Khánh trịnh trọng đón “Bác Tôn” ở cổng cơ quan, che ô cho Bác vì mưa Xuân rất nhẹ, trong tiếng trống và pháo nổ ran. Sau đó ông đứng trước bục lớn trong hội trường, mang mục kính, giở tờ sớ diễn văn ra dõng dạc đọc… Sau chùng 20 cái “kính thưa …”, ông cao gịong: « Hôm nay, sung sướng thay! trời quang mưa tạnh, gió thổi cờ bay, toàn thể quân dân chính đảng huyện Ứng Hoà vô cùng vinh dự, vô tận phấn khởi chào đón Bác Tôn … »

Mọi người im phăng phắc, vỗ tay rầm rộ sau mỗi câu văn hoa như thế.

Tôi ngồi ngay sau cụ Tôn, cụ rút khăn tay che miệng cười, nói nhỏ: “… đù má! mưa dậy mà trời quang ở chỗ mô! Cờ đâu có bay! hả ? hà hà!…”.

Thế rồi cụ vẫn cười vui, còn vỗ tay cùng mọi người.

Sau đó tôi được biết bài diễn văn ấy là do một thầy giáo dạy văn cấp ba của trường huyện được huyện uỷ phân công thảo ra suốt 2 tuần lễ.

Đến nay tôi vẫn còn như vẳng nghe giọng nói ông Bí thư huyện tôi như kẻ diễn tuồng và lời buột miệng của cụ Tôn, để mà cười, cười hoài không chán, không nguôi…

Nhắc đến cụ Tôn, tôi lại nhớ đến chuyện vui nữa, để kể cho các bạn và anh Quốc nghe. Cụ khi rất trẻ đi lính thủy “ma-tơ-lô” của hải quân Pháp. Cụ đâu có dự cuộc khởi nghĩa của hải quân Pháp ở Hắc Hải vào năm 1917 để tỏ tình nghĩa đoàn kết với Cách mạng tháng Mười Nga. Nhưng theo hồ sơ lưu trữ ở Moscow, hồi ấy đã có một vài chiếc tàu Pháp đi qua Hắc Hải và treo cờ đỏ hoan nghênh sự kiện này. Thế là năm 1970 khi cụ Tôn là Chủ tịch nước, có một bài báo viết về sự kiện này trên báo Lao Ðộng, liên kết các sự kiện với óc thêu dệt tưởng tượng về chàng trai Việt nam 26 tuổi, là công nhân xưởng Ba Son của hải quân Pháp, bị bắt lính sang Pháp năm 1914 và sau đó có mặt trên tàu chiến Pháp để kéo cờ đỏ lên.

Cụ Tôn trở thành một chứng nhân lịch sử, người kết liền Việt Nam với quê hương Xô Viết. Tôi được biết nhà báo Thép Mới báo Nhân Dân hồi 1975 đã gặp cụ, gặng hỏi về chuyện này nhân khi cụ được Liên Xô tặng Huân chương Lénine, cụ liền trả lời gọn:” Đù má, tau đâu biết chuyện này!” rồi lảng sang chuyện khác. Thép Mới sững sờ, than thở với tôi, tưởng là cụ khiêm tốn không muốn kể chuyện xưa. Sau này được biết rõ đây là chuyện hư tưởng, vì tên tàu hải quân là gì, ngày giờ nào, không ai biết. Nhưng báo ta đã viết, tài liệu đảng đã ghi, đài ta đã nói, tiểu sử chính thức đã viết thế, không ai được cải chính nữa. Chính cụ Tôn cũng tỏ ra khó chịu, nhưng cụ luôn có kỷ luật phục tùng tổ chức. Tính cụ rất đơn giản, chất phác, vẫn như anh công nhân giản dị ngày xưa, thích lao động chân tay, cứ rỗi việc là bảo anh em xung quanh: đù má! thằng nào có xe đạp mang lại đây tau lau cho! Cụ chuyên buột mồm nói tục. Nói rồi quên. Nói tục quen, không nghĩ là mình chửi thề. Cụ tháo xe, lau chu đáo từng bộ phận rồi lắp vào, phóng thử quanh vườn. Cụ mất năm 1980, thọ 92 tuổi.

Ở Sài Gòn hiện có Bảo tàng Tôn Đức Thắng khá lớn, và toàn đảng, toàn xã hội đều đinh ninh cụ Tôn Đức Thắng kéo cở trên biển Hắc Hải hồi 1917 là chuyện thật, cũng như chuyện em Lê Văn Tám tự đổ xăng lên người, tự châm lửa rồi lao vào hàng trăm mét để đốt cháy rụi kho xăng Thị Nghè vậy !

Bên Mỹ tôi nghe nói có giáo sư Christopher Giebel đã viết cuốn sách chứng minh rằng chuyện cụ Tôn treo cờ ở Hắc Hải là chuyện tầm phào, dựng đứng, sau khi nghiên cứu kỹ các nguồn thông tin chính xác thời ấy.

Lại một chuyện vui. Năm 1984 tôi ở Phnom Penh giúp hãng thông tấn SPK và báo Pro-chê-chun của Campuchia. Đại tướng Chu Huy Mân chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân cầm đầu đoàn quân sự Việt Nam đến làm việc với Đại tướng Bun Thoong, bộ trưởng bộ quốc phòng Campuchia. Mở đầu cuộc họp, tướng Mân long trọng đứng dậy, đằng hắng, cao giọng: “Thưa đồng chí Đại tướng Ba-to U-lăng Xê-ráp -(tôi không còn nhớ đúng tên)- quý mến! “Cả phòng họp sững sờ. Sao lại thế này! Tôi hãi hùng, chỉ muốn chui tọt xuống đất. Thì ra 3 hôm trước, tại Hà Nội, tướng Mân gặp bộ trưởng quốc phòng của Mông Cổ mang tên dài như thế. Ngài cố học thuộc tên lạ ấy để nhập tâm, để nói đúng và đủ, và hôm nay ngài nói nhịu, nói lẫn, nhầm tên ông nọ thành tên ông kia, không nhớ ra tên Bun Thoong là người chủ nhà đứng nghiêm như trời trồng trước mặt.Bùi Tín

Cùng suy ngẫm: Hãy nhìn xuống mới thấy mình hạnh phúc!!!

Người buôn gió – Phát triển kinh tế hay tư duy nhiệm kỳ?

Dự án khai thác quặng nhôm trên Tây Nguyên của Chính phủ gặp nhiều ý kiến phản đối trong mọi giai tầng nhân dân. Nhưng vì sự thống nhất từ Bộ Chính trị mà dự án này đột nhiên được thông báo là tiếp tục triển khai vì lợi ích kinh tế khu vực Tây Nguyên và được sự đồng thuận cao trong nhân dân?

Tưởng rằng dự án khai thác này ký cách đây nhiều năm, như việc đã rồi với Trung Quốc. Không thể dừng lại được cho nên bằng mọi giá bỏ qua những lời khuyên của các nhà chuyên môn, trí thức, Bô Xít Tây Nguyên (cụm từ chắc chăn sẽ gắn liền với thể chế này để đi vào lịch sử) vẫn triển khai như thống nhất trước từ đâu đó.

Cho dù bô xít được triển khai trên Tây Nguyên, những tiếng nói ngăn cản không thành, nhưng thiết nghĩ đó cũng là bài học cho những nhà lãnh đạo đất nước khi động bút đến tài nguyên, môi trường, vị trí chiến lược của đất nước sẽ cẩn trọng hơn. Để cho họ nhận ra một điều minh bạch là bất ổn xã hội không phải do các thế lực thù địch nào tạo ra, mà bất ổn có thể do chính những quyết sách không được lòng dân. Một sự thật hiển nhiên là chưa có dự án nào từ xưa đến nay của Chính phủ mà bị chỉ trích công khai nhiều như dự án khai thác bô xít.

Người ta đưa nhiều lý do để biện minh cho việc khai thác bô xít, một nguyên nhân thuyết phục nhất là để phát triển kinh tế địa phương. Những người dân Tây Nguyên quanh năm sống trong nghèo khó, một sớm mai nghe tin có dự án, có việc làm, có cơ hội kinh doanh, dịch vụ… những cơ hội cải thiện đời sống được vẽ ra rạng ngời. Và hiện thực là tiền của đang đổ vào nơi họ sống. Dân nào mà chả muốn, nhất là dân nghèo. Họ đâu cần biết ngày mai, hay thế hệ sau hậu quả ra sao. Bởi vì họ không tính được đến mai sau cho nên họ là dân. Còn những người ra quyết sách lớn lao đó họ có tính được không ? Tôi nghĩ họ tính được bởi vì họ nói họ khôn ngoan hơn dân, có đạo đức hơn dân. Bởi thế dân đã tin tưởng chọn họ làm lãnh đạo để ra những quyết sách.

Môt số người nói rằng những hành vi đang bán nước.

Tôi không nghĩ vậy hoặc chưa dám nghĩ vậy. Xưa nay bề trên kết tội kẻ dưới có thể tùy tiện. Nhưng kẻ dưới hặc tội bề trên thì dù có lý lẽ hẳn hoi đều có kết cục bi thảm. Mệnh đề “bán nước” là chuyện nghiêm trọng, cần đông đảo nhân dân hay lịch sử sau này phán xét mới thật sự khách quan.

Mới đây người ta vừa được biết có hơn 300 ngàn ha rừng đầu nguồn đã được cho Trung Quốc thuê với thời gian đến nửa thế kỷ.

Lý do đưa ra vẫn muôn thuở – phát triển kinh tế khu vực.

Một dự án bô xít Tây Nguyên mà dư âm phản đối còn chưa lắng đọng, lại tiếp thêm 300 nghìn ha rừng đầu nguồn.

Phát triển kinh tế khu vực hay tư duy nhiệm kỳ?

Có lẽ cụm từ “tư duy nhiệm kỳ” nhẹ nhàng và có phần sát với thực tế hơn là kết luận “bán nước”.

Ở nhiệm kỳ của mình, vị lãnh đạo nào cũng muốn thể hiện được việc gì đó rõ ràng mang ích lợi về cho địa phận mình quản lý. Ở tình trạng dân chúng làm ăn tư duy manh mún, chụp giật, cán bộ dưới quyền quan liêu , năng lực yếu, bộ máy hành chính cồng kềnh những vận hành trì trệ, không ăn khớp… để giải quyết hạ tầng năng lực, tư duy ở một địa phương như vậy, nhà lãnh đạo cần bao nhiêu năm? Giải quyết vấn đề phi vật thể như vậy, công sức bỏ ra nhiều, thời gian cũng nhiều mà kết quả không thể đánh giá được ngay. Người lãnh đạo cầu toàn thường hay chọn cho mình phương án tối ưu nhất trong thời gian mình lãnh đạo địa phương. Và cách thu được tiền bạc nhanh nhất là cho thuê đất, đào tài nguyên đem bán lấy tiền? Nhất là không thể không nói đến những khoản hoa hồng cho người đặt bút ký.

Nhiệm kỳ 10 năm làm vậy, thì các lãnh đạo khác của 40 năm sau này còn gì để thuê, còn gì để khai thác. Nếu cứ tiếp tục như vậy thì chỉ thêm vài nhiệm kỳ nữa, con người Việt Nam còn chưa chắc thuộc về mình chứ đừng nói đến đất đai, tài nguyên, chủ quyền, văn hóa…

Người ta lại có thể lý giải, nhiệm kỳ này cho thuê đất, khai thác tài nguyên để lấy vốn phát triển nội lực, sau này không phải bán hay cho thuê gì nữa. Vẫn là ngụy biện cho qua nhiệm kỳ thôi. Hạ tầng năng lực, chuyên môn, kiến thức, tư duy… con người như vậy thì tiền đổ vào thế chứ nữa cũng chỉ làm nháo nhào trương cái biển, dựng cái cổng, mua máy móc cũ vận hành loáng thoáng để chụp ảnh, quay phim lấy thành tích rồi bỏ đó, quản lý và phát triển được đâu. Cốt có lý do để mang tiền về rồi chia nhau tiêu, rồi có số liệu để nói kinh tế đang tăng trưởng… Việc này xảy ra nhan nhản ở khắp các địa phương.

Bao nhiêu tài nguyên đã ra đi để mong mỏi làm vốn liếng cho đất nước phát triển, một mỏ than Quảng Ninh mênh mông tưởng rằng vô tận. Thì ngày hôm nay điện tăng giá vì lý do than phải nhập từ Trung Quốc về nên giá lên. Cả một khu dầu mỏ Dung Quất, Vũng Tàu đầy tiềm năng, đầu tư không biết bao nhiêu, mà giờ để xăng, dầu tăng giá với lý do nhập khẩu dầu thế giới tăng. Chúng ta khai thác tài nguyên lấy vốn để giờ chúng ta vượt xa Căm Pu Chia những 20 năm. Tự hào chăng?

Giờ đang còn nhiều tài nguyên nữa đang và chuẩn bị ra đi để đổi lại cho đất nước, con người Viêt Nam này là gì?

- Là hãy nghĩ đến bản thân mình bây giờ đi, xã hội thế nào có người khác lo.

Đó là lời của người có quyền sinh sát nhắc nhở tôi, chắc chắn nhiều rất nhiều người trong nhân dân chúng ta cũng nghĩ vậy.

Đôi khi có lúc tôi không nghĩ vậy, vì thỉnh thoảng không nghĩ vậy tôi viết bài như thế này.

Còn bình thường tôi lại nghĩ rằng:

Chúng ta đừng nhìn Nhật, Nam Hàn, Phi, Mã, Sing, Thái, In Do… chúng ta nhìn Căm Pốt, Bắc Hàn để thấy rằng mình còn hạnh phúc, còn lạc quan, còn tin tưởng vào những gì mà chúng ta bảo nhau là cần lạc quan tin tưởng.Theo Blog Người buôn gió - Nguồn: nguoibuongio.multiply.com

Việt Nam giữ thăng bằng giữa Mỹ và Trung Quốc

'Bắc Kinh đang dồn Việt Nam vào thế phải tìm kiếm ảnh hưởng trong khu vực' với các hoạt động ngoại giao - quốc phòng của Hà Nội gần đây được các quốc gia láng giềng theo dõi chặt.

Báo Thái Lan tờ Bangkok Post vừa đăng bài của tác giả Luke Hunt phân tích quan hệ Việt Nam - Trung Quốc sau các diễn biến mới nhất.

Tác giả, một nhà báo theo dõi tình hình Đông Nam Á nhiều năm nay, nhận định rằng Việt Nam đang tăng cường quan hệ quân sự với Nga và Hoa Kỳ phần nào để đối phó với Trung Quốc nhưng vì kỳ Đại hội Đảng sắp tới nên bước đi tiếp là gì thì chưa rõ.

Theo ông, việc mở rộng quân sự của Bắc Kinh đang dồn Việt Nam vào thế phải tìm kiếm ảnh hưởng trong khu vực và giải tỏa quan ngại của những người chống Trung Quốc ở trong nước.

Chưa rõ sự hiện diện của hải quân Mỹ ở Việt Nam sẽ có tác động đến chính trị vùng ra sao.


'Để làm được việc đó, Hà Nội đã tăng cường quốc phòng thông qua một loạt thỏa thuận mua bán vũ khí với Nga trị giá nhiều tỷ đôla ký hồi tháng 12 năm ngoái tại Moscow. Trong đó có sáu tàu ngầm hạng kilo và tới 20 chiến đấu cơ Su-30.'

Bài báo nói hợp đồng này chưa hẳn sẽ được thanh toán hoàn toàn bằng tiền mặt vì Việt Nam cũng đang mời chào Nga tham gia vào lĩnh vực dầu khí của mình.

Tuy nhiên điều chắc chắn là những động thái đó không thể làm hài lòng Trung Quốc, nước ông Hunt gọi là 'láng giềng giàu có nhất và kẻ thù lâu đời nhất' của Việt Nam.

Tiếp ngay sau đó, vào tháng Ba, tàu chiến Hoa Kỳ USNS Richard E Byrd có chuyến thăm lặng lẽ nhưng mang tính lịch sử tới Việt Nam, vì tàu đã đậu cảng sửa chữa trong 16 ngày liền.

Thông điệp gửi tới cho Bắc Kinh thật rõ ràng, rằng Trung Quốc không thể tự cho mình quyền làm chủ Biển Đông.

Keith Loveard từ hãng tư vấn về an ninh khu vực Concord Consulting, trụ sở ở Jakarta, nói Bắc Kinh chắc không mấy ngỡ ngàng trước các động thái của Việt Nam.

Theo tác giả Luke Hunt, phe thân Trung Quốc trong ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam khá mạnh và có đầu óc thực tế.

Thương mại song phương Việt-Trung dự tính sẽ đạt 25 tỷ đôla Mỹ trong năm 2010, nhưng cán cân thương mại nghiêng hẳn về phía Trung Quốc.

Thâm hụt thương mại của Việt Nam trong buôn bán với Trung Quốc lên tới 11 tỷ đôla trong năm ngoái, cho thấy sự thống lĩnh của Trung Quốc.

Màn thăng bằng tinh xảo

Gavin Greenwood, phân tích gia về an ninh khu vực tại công ty Allan & Associates đặt tại Hong Kong, nói rằng nhiều người Việt Nam cho là chính quyền đang 'phản bội lại quá khứ' để theo đuổi một số thành tựu về kinh tế mà nhiều người cho rằng chẳng mang lại gì tốt đẹp cho Việt Nam về mặt lâu dài.

Ông Greenwood cũng nhận xét rằng từ năm 2007, khi chính phủ Hà Nội trao thầu dự án khai thác bauxite cho công ty Trung Quốc Chinalco, tinh thần chống Trung Quốc lên cao nhanh chóng ở Việt Nam.

Đại tướng huyền thoại Võ Nguyên Giáp, người mà cho tới nay vẫn được giới phân tích nước ngoài cho là nhân vật có ảnh hưởng đặc biệt trong sinh hoạt chính trị Việt Nam, đã chỉ huy 'một dàn đồng ca' các cựu chiến binh chỉ trích chính phủ quy thuận Bắc Kinh và chủ nghĩa tư bản.

Bài báo nói 'dàn đồng ca' này đang lớn tiếng hơn trước trong thời gian chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ XI dự kiến sẽ họp vào đầu 2011.

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh nhận thức được điều này, và theo phân tích của ông Greenwood, thời điểm để lãnh đạo Việt Nam ký hợp đồng mua vũ khí của Nga có thể phản ánh quan ngại chính trị nội địa hơn là về nhu cầu quân sự thực tế.

Việc tăng cường quân đội trong năm trước Đại hội, theo ông, được phe thân Trung Quốc tính toán là sẽ trấn an các giới chỉ trích, làm ra vẻ Việt Nam đang mạnh dạn đối đầu với Bắc Kinh.

Ông cũng nói đây là chiến lược Việt Nam đã sử dụng nhiều lần trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, tuy kịch bản nay có thay đổi đi đôi chút với vai trò của Mỹ trở lại vùng.

Chuyên gia Việt Nam tại Học viện Quốc phòng Australia, Giáo sư Carl Thayer thì nói nỗ lực quan hệ với cả hai phía của Việt Nam là một màn thăng bằng tinh xảo.

'Việt Nam vừa tiến hành đối thoại cao cấp về chính trị-quân sự với Hoa Kỳ. Nhưng trước đó, Hà Ṇôi lại đón tiếp một đoàn cao cấp của Quân đội Trung Quốc.'

Ông Thayer cho rằng phe thân Trung Quốc ở Việt Nam không phản đối quan hệ thương mại-kinh tế với Mỹ và các tàu Mỹ tới thăm Việt Nam đều không thuộc loại trực tiếp tham chiến.

Thế nhưng nếu Hoa Kỳ tiến bước nữa thì sẽ nảy sinh những kịch bản mới phải cân nhắc.

Hoa Kỳ đã đề cập khả năng ký với Việt Nam thỏa thuận về cung cấp dịch vụ Acquisition and Cross Service Agreement (ASCA), cho phép trao đổi dịch vụ hậu cần và cung ứng.

Loại thỏa thuận này Mỹ thường chỉ ký với các nước đồng minh.

Điều chưa rõ là Trung Quốc sẽ phản ứng thế nào khi các tàu Mỹ thường xuyên vào sửa chữa và sử dụng dịch vụ ở cảng biển của Việt Nam.

http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2010/06/100622_vietnam_china_bkp.shtml

Quan chức VN ‘làm tiến sĩ’ ở Mỹ nhưng không biết tiếng Anh!

Hữu Lực – Hà Tuấn

Hơn một tuần nay, dư luận tỉnh Phú Thọ xôn xao khi được biết ông Nguyễn Ngọc Ân, giám đốc sở Văn hóa- Thể thao và du lịch tỉnh Phú Thọ đã có học vị tiến sĩ với đề tài “ vấn đề di sản văn hóa với việc phát triển kinh tế du lịch tỉnh Phú Thọ”.

Sự việc bắt đầu từ khi ban tổ chức hát Xoan tỉnh Phú Thọ giới thiệu ông Ân là “tiến sĩ” làm nhiều người ngỡ ngàng, vì trước đó ông Ân chỉ là cử nhân tại chức kinh tế - quốc dân khóa 24 (lớp học được tổ chức tại thành phố Việt Trì).

Ông Nguyễn Ngọc Ân cho biết, ông có ý định làm tiến sĩ về đề tài này đã lâu. Tháng 6-2008, ông được bổ nhiệm làm giám đốc sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch thì mọi việc mới bắt đầu với sự giúp sức của các cán bộ chuyên môn trong sở. Ông cũng cho biết học vị của mình là tiến sĩ kinh tế quản trị kinh doanh chứ không phải là tiến sĩ khoa học. Viện kinh tế (Bộ Tài chính) là nơi giới thiệu ông đi làm tiến sĩ tại trường đại học Nam Thái Bình Dương của Hoa Kỳ.

Ông Ân khẳng định trong thời gian làm tiến sĩ từ tháng 2-2007 đến 9-2009, ông có sang trường đại học này để học hai đợt, mỗi đợt một tuần, được nghe giảng tiếng Anh qua phiên dịch sang tiếng Việt và ngay cả khi ông bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối.

Và ông cũng khẳng định ông tự học là chính thông qua tài liệu của trường đại học Nam Thái Bình Dương soạn bằng tiếng Việt và đĩa CD. Trường đại học Nam Thái Bình Dương cũng không yêu cầu những nghiên cứu sinh như ông Ân phải biết tiếng Anh, không phải thi đầu vào mà chỉ cần gửi đề cương sang cho họ…chỉnh sửa là được.

Ông Ân khẳng định trong thời gian làm tiến sĩcó sang trường đại học này để học hai đợt, mỗi đợt một tuần, được nghe giảng tiếng Anh qua phiên dịch sang tiếng Việt và ngay cả khi ông bảo vệ luận án cũng có người dịch cho ông từ đầu đến cuối.

Ông Ân cũng cho hay, luận án tiến sĩ quản trị kinh doanh của ông không có người hướng dẫn nhưng lại có tới ba người phản biện!

Trao đổi với chúng tôi, một lãnh đạo tỉnh Phú Thọ (xin được giấu tên) cho biết, khi ông Ân đi đào tạo tiến sĩ, tỉnh cũng hỗ trợ kinh phí. Sau khi hết thời gian “tu nghiệp” ở Nam Thái Bình Dương (thực chất là ông vẫn làm việc tại tỉnh nhà), ông Ân cũng trình văn bằng tiến sĩ với Ban tổ chức tỉnh ủy và bằng đó là bằng thật.

Tuy nhiên, vị lãnh đạo tỉnh này cũng cho biết, quy trình đào tạo tiến sĩ của ông Ân “có vấn đề” vì Bộ giáo dục- đào tạo đã có quy chế đào tạo tiến sĩ hẳn hoi. Theo đó, nghiên cứu sinh phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học hệ chính quy loại khá trở lên, có thư giới thiệu của hai giáo sư hoặc phó giáo sư có uy tín giới thiệu. Và một điều kiện bắt buộc là phải có đủ trình độ ngoại ngữ để tham khảo tài liệu, tham gia hoạt động quốc tế về chuyên môn phục vụ nghiên cứu khoa học và thực hiện đề tài luận án.

Tại tỉnh Phú Thọ hiện còn có khoảng 10 người cũng được đào tạo tiến sĩ như theo kiểu của ông Ân!

http://sgtt.com.vn/Thoi-su/Khoa-giao/124278/Lam-tien-si-o-My-nhung-khong-biet-tieng-Anh.html

Bi hài tàu cao tốc của nước Nga và của Việt Nam (nếu có)!

Lê Diễn Đức

Số phận của dự án “Tàu cao tốc” sẽ được Quốc hội Việt Nam quyết định trong tuần này.

Dự án “Tàu cao tốc” từ hơn một tháng nay đã trở thành đề tài nóng trên báo chí trong và ngoài nước. Dự án được dư luận phân tích kỹ lưỡng, gây tranh cãi và có thể ví như nghiên cứu, xem xét lâm sàng của con bệnh phức tạp và khó chữa.

Nếu xem Quốc hội Việt Nam là tập thể các bác sĩ, thì rõ ràng họ đã được trao bộ hồ sơ bệnh án đầy đủ, với những kết luận xác đáng, không những từ những người am hiểu, có trách nhiệm trong ngành, mà còn từ cả các tầng lớp xã hội khác, đi đầu là giới trí thức Việt Nam và sau đó là một số đại biểu Quốc hội có tâm huyết.

Do vậy, sau vụ thua cuộc bẽ bàng trước dự án “Bauxite Tây Nguyên” cách đây một năm, lựa chọn liệu pháp điều trị nào cho dự án “Tàu cao tốc” sẽ là cơ hội để Quốc hội “rì-xẹt” (reset) lại căn cước của mình. Rằng, Quốc hội đại diện cho tiếng nói của nhân dân, là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước, đứng về phía lẽ phải, sáng suốt vì lợi ích phát triển lâu dài và bền vững của đất nước, hay chỉ là một định chế “hàng mã”, chỉ được sử dụng vào việc hợp thức hoá các quyết định của lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí của một người trong Bộ Chính trị. Trong trường hợp này là, một lần nữa, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Hành khách đi xe lửa ở Việt Nam. (Hình: IAN TIMBERLAKE/AFP/Getty Images)

Câu chuyện nóng bên nước Nga

Sự trùng lặp hoàn toàn ngẫu nhiên. Trong tuần qua, báo chí nước ngoài nói về đường tàu cao tốc của nước Nga, cùng với các sự cố “hậu tàu cao tốc” không tiên liệu trước, vừa hài hước và bực dọc.

Nước Nga đang nuôi tham vọng trở thành một trong những đầu tàu của kinh tế thế giới, không chỉ với vai trò của nhà cung cấp nguyên liệu, mà còn cả công nghệ mới. Kế hoạch này đã được Tổng thống Nga Medvedev đưa ra cách đây hai tuần, trong đó có tính đến xây dựng thung lũng điện tử tại thành phố nhỏ Skolkovo nằm ngoài Moskva, như một trung tâm sáng chế và đầu tư, theo mô hình của Hoa Kỳ.

Con đường tiến tới đích của nước Nga có vẻ còn lắm gập gềnh, khúc khỉu. Ít nhất dăm năm nữa mới có thể phán xét “giấc mơ Nga” có thực tế hay không.

Trước mắt, biểu tượng của nước Nga hiện đại hôm nay là con tàu cao tốc “Sapsan” nối Moskva với cố đô Saint Petersburg. Con tàu làm xích gần hai thành phố nhưng kéo dài thêm khoảng cách giữa người Nga giàu và nghèo.

Tàu cao tốc “Sapsan” (Сапсан) được gọi âu yếm bằng “Ptichka” (Птичка), tên một loài chim ưng Nga, bay nhanh nhất trên thế giới, đạt vận tốc 322 km/giờ. “Ptichka” cũng là tên không chính thức đặt cho con tàu vũ trụ thứ hai trong số năm tàu vũ trụ do Nga sản xuất trong chương trình “Buran”.

Con chim đường sắt, tác phẩm của tập đoàn Siemens (Đức) có khả năng bay nhanh hơn, tới 350 km/giờ, nhưng trên đất Nga cần cẩn trọng phòng ngừa những bất ngờ vô duyên, nên chỉ giới hạn tối đa 250 km/giờ.

“Sapsan” yên lặng, sạch sẽ, được trang bị hệ thống điều hoà không khí nên lúc nào cũng mát mẻ, dễ chịu. “Sapsan” chạy nhanh hơn máy bay, từ Moskva tới S. Petersburg mất 3 giờ 45 phút. Đúng ra máy bay bay nhanh hơn, nhưng từ trung tâm Moskva ra sân bay người ta phải mất thêm 1 giờ và 1 giờ nữa từ sân bay Petersburg Pulkov vào thành phố, chưa kể các thủ tục biên phòng và kiểm tra hành lý lôi thôi. Đi “Sapsan” chỉ mất nửa thời gian so với tàu tốc hành đêm đậm đà truyền thống Xô-viết mang tên “Krasnaya Striela” (Mũi tên Đỏ), nối thành phố anh hùng này với thành phố anh hùng kia.

Nhưng “Sapsan” hơi (bị) đắt, ít nhất về mặt lý thuyết thì không (hệt như biện luận về thu nhập của các đại biểu Quốc hội Việt Nam ủng hộ dự án “tàu cao tốc”). Vé tàu rẻ nhất giá 2.165 Rúp (khoảng 70 USD), nhưng rất khó tới tay người dân bình thường! Nhà ga chào vé 6.000 Rúp, tức cao hơn ít nhất gấp đôi vé máy bay! Người Nga giàu có chẳng xem số tiền này là cái gì. “Sapsan” tiện nghi, giữ nhiệt độ trên tàu 21-22 độ C, đưa họ đi êm ái, từ thủ đô tuyệt đẹp này đến một thành phố cũng tuyệt đẹp khác. Còn với người Nga nghèo, 70 đôla thực sự lớn lao, họ cân nhắc rất kỹ trước khi chịu mất nó.

Dân lao động Nga sống dọc đường tàu chứng kiến “Sapsan” và các tàu tốc hành khác chạy qua 16 lần mỗi ngày, nên rất khó chịu. Nhưng không chỉ vì lý do ghen tức cái bọn dư tiền lắm bạc, cho phép mình bỏ ra từng ấy, trong khi ở các tỉnh, tiền vé bằng cả tháng lương.

Họ căm ghét “Sapsan” bởi vì cũng trên chính đường ray này, những con tàu bình dân hàng ngày đã chở họ đi làm ở Moskva và S. Petersburg. Giờ đây đa số các chuyến tàu này bị bãi bỏ. Phần còn lại phải chờ cho đến khi “Sapsan” chạy qua. Vì thế, trước đây tàu sớm từ Tver (Тверь) đến Moskva mất một giờ rưỡi, nay 3 giờ.

“Sapsan” làm tê liệt cuộc sống của 1.800 cư dân làng Chubryanovska, ngoại ô Tver – sáng, chiều có bốn lượt “Sapsan”. Do đó, vào giờ cao điểm không một chiếc tàu nào dừng lại. Cứ mỗi sáng, mỗi chiều, trong một tiếng rưỡi đồng hồ, đường tàu duy nhất chạy ngang bị đóng, cắt Chubryanovska thành hai mảnh. Kẹt công chuyện, muốn vượt qua đường ray, coi như giỡn mặt tử thần. Với vận tốc 250 km/giờ, độ dài mà “Sapsan” cần để hãm và dừng lại là 1.650 mét.

Bị “chơi”, bị ép quá sẽ dẫn tới nổi khùng và phản kháng là đặc tính của người nghèo, chịu thua thiệt trong xã hội. Ít nhất “Sapsan” đã hơn 40 lần bị ném đá, vỏ chai, đồ dơ dáy, thậm chí bị bắn đạn vào toa. 20 lần dân chúng đã thành công “đánh” trúng mục tiêu cửa sổ! Dọc theo đường ray của thành phố Tver có 70 công an và từng đó nữa cận vệ canh chừng ngày đêm! Không giúp gì được. Tình hình không lạc quan hơn tý nào. Cuộc săn đuổi tàu cao tốc đang tiếp diễn!…

Con kiến và con voi

Nga là cường quốc nguyên tử, có trình độ kỹ thuật quân sự và khoa học vũ trụ đứng hàng đầu thế giới. Nga là nhà vô địch cung cấp dầu mỏ và khí đốt. Nước Nga đã cống hiến cho nhân loại nhiều nhà bác học vĩ đại, nhiều thi sĩ, nhạc sĩ lừng danh và những cây cổ thụ trong di sản văn học thế giới. Nước Nga thuộc châu Âu, đương nhiên có mặt bằng dân trí và nếp sống văn hoá (cùng chỉ số IQ) ăn đứt Việt Nam. Khỏi bàn cãi!

Theo bảng xếp hạng của International Monetary Fund (IMF – Quỹ Tiền tệ Quốc tế), năm 2009[1] GDP của Nga đứng vị trí 12 với 1 ngàn 229 tỷ đô la. Dân số của Nga năm 2010[2] đứng thứ 9 thế giới, có gần 142 triệu người. Diện tích nước Nga đứng đầu thế giới với 17,075,400 km².

Việt Nam là “tiểu cường quốc” (?) khu vực vì “đã đánh thắng ba đế quốc to”: Pháp, Nhật, Mỹ (lời ông Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, không có sự giúp đỡ kinh tế chí tình và viện trợ quân sự hiệu quả của khối xã hội chủ nghĩa anh em, đứng đầu là Liên Xô, mà Nga là quốc gia kế thừa, Việt Nam không thể làm nên chiến thắng.

Thật đáng tiếc, ngoài các cơ sở dịch vụ tân thời, loè loẹt mọc như lên nấm thời mở cửa; khách sạn, nhà hàng sang trọng, các khu ăn chơi, giải trí, sân gôn thượng hạng nhan nhản từ Bắc tới Nam; cộng thêm một ít đường cao tốc đã đưa vào sử dụng – thì, sản xuất công nghiệp trong lĩnh vực kỹ thuật và công nghệ của “tiểu cường quốc” Việt Nam hầu như chẳng có gì khả dĩ để so tài cùng thiên hạ. Vài mặt hàng kim khí, máy móc, điện tử lằng nhằng “Made in Vietnam” là sản phẩm gia công, lắp ráp của các ông chủ đầu tư tư bản nước ngoài. “Người Việt xã hội chủ nghĩa” chưa tạo ra được bất kỳ thương hiệu sáng sủa nào trên thị trường thương mại toàn cầu. Trong khi đó, thương hiệu chính trị “Đảng Cộng sản Việt Nam – Hồ Chí Minh quang vinh” giăng đầy phố ngõ.

So với Nga, diện tích (331.150 km²) của Việt Nam như con kiến đặt bên con voi. GDP (cũng theo IMF) năm 2009 của Việt Nam ở vị trí 57, với 92,429 tỷ đô la, chưa tới 8% GDP của Nga. Về tài nguyên, giữa Việt Nam và Nga, na ná anh bần nông đứng cạnh đại địa chủ. Có nghĩa là sau khi có đường sắt cao tốc (“giấc mơ Việt Nam” của ông Nguyễn Tấn Dũng và các quan chức khác), với lòng ưu ái tối đa ta cứ cho là thế giới bình yên, không khủng hoảng kinh tế, cũng chẳng chiến tranh, khủng bố gì cả, và với phép mầu, Việt Nam tăng trưởng mỗi năm 10% nhịp nhàng như “liền Anh”, “liền Chị” vùng Quan họ Bắc Ninh ca múa, thì đến năm 2030, GDP Việt Nam hơn 600 tỷ đô la, có nghĩa là sau 20 năm nữa mới bằng phân nửa của Nga hiện giờ!

Chỉ còn một món ngoại lệ. Việt Nam có thể an ủi đuổi kịp đàn anh Nga đang bị giảm dân số mạnh. Nhưng với điều kiện người Việt đẻ nhanh, đẻ mắn và dịch vụ nạo thai phải đưa vào hệ thống quản lý văn minh hơn, không bát nháo như hiện nay. Năm 2009 Việt Nam đứng hạng 13 thế giới[3] xấp xỉ 86 triệu người. Cứ như giả thiết, vào năm 2030 hai nước có cơ hội tương đương nhau ở mức, chẳng hạn 100-130 triệu người!

Lời kết

Những gì đang diễn ra tại nước Nga với con chim sắt “Sapsan” làm tôi bật cười khi nghĩ đến viễn cảnh tàu cao tốc Việt Nam (nếu có). Nhưng bức tranh Việt Nam có khả năng sẽ đượm màu sắc bi hài hơn, vì Việt Nam thua kém mọi phương diện trong so sánh với Nga.

Không kể những vụ ném đá kinh hoàng từ đám trẻ chăn trâu hư đốn của Quảng Bình, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Nghệ An, Thanh Hoá…, được báo giới trong nước ghi “sổ đen”, đội quân “dân oan” Việt Nam bị tước đoạt đất đai bất công dọc hơn một ngàn ba trăm cây số đường tàu cao tốc, chắc chắn sẽ đông đảo hơn 1.800 cư dân làng Chubryanovska, ngoại ô thành phố Tver của nước Nga!

(Bài sử dụng một số thông tin từ bài viết của Waclaw Radzinowicz, phóng viên nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza tại Moskva ngày 10/06/2010.)

© 2010 Lê Diễn Đức
© 2010 talawas

Phát Triển Quốc Gia & Quản Lý Môi Trường

Đối với các quốc gia đang trên đà phát triển, mục tiêu chính yếu là nâng cao phúc lợi cho người dân trong nước. Việc quân bình hay cân bằng phát triển là một vấn đề gai góc mà bất cứ lãnh đạo chân chính nào cũng phải lưu tâm. Bài viết dưới đây nhằm mục đích khai triển tình trạng phát triển của Chí Lợi và các mối quan tâm của chính quyền trong việc cân bằng quản lý môi trường và phát triển quốc gia để từ đó có một cái nhìn khái quát về tình trạng phát triển ở Việt Nam.

Xin đan cử dưới đây những chuyển đổi và thành quả về chính sách môi trường do chính phù dân sự ở Chí Lợi đã thực hiện được; từ đó, qua sự so sánh tỷ giảo, cố gắng truy tìm những nguyên nhân liên quan và một số suy nghĩ cho vấn đề Việt Nam. Những nguyên nhân đưa đến tình trạng môi trường suy thoái và sự hạn chế trong phát triển có thể tóm tắt vào các điểm chính sau đây: tiêu cực trong phát triển, ấu trĩ trong quản lý, và cực đoan trong việc điều hành đất nước.

Đất nước Chí Lợi

Chí Lợi là một quốc gia nằm về phía Nam bán cầu thuộc Nam Mỹ Châu, từ nam vĩ tuyến 20 đến 50. Chí Lợi nằm đối chéo hai bên bờ Thái Bình Dương so với Việt Nam, có bờ biển dài 2.897Km. Chí Lợi theo thể chế Cộng hòa, hiện tại do Tổng thống Ricardo Lagos lãnh đạo. Với diện tích 756.950Km2 trên tổng dân số là 16.601.707 (thống kê 2009), Chí Lợi có mật độ dân số là 21 người/Km2. Tỷ lệ người dân viết đọc biết viết: 95%; tỷ lệ sinh sản: 1.4 %. Lợi tức trung bình của người dân là US$ 14.400 năm 2009, có mức lạm phát trung bình hàng năm là 3,4% và tỷ số thất nghiệp khoảng 4%/năm (2009).

Main macroeconomic aggregates of GDP.

Sector↓

2003-09 (%)↓

2009 (%)↓

Private consumption

58.3

59.8

Government consumption

11.6

13.4

Inventory variation

0.4

-2.4

Gross fixed capital formation

20.8

21.4

(Exports)

(42.1)

(38.1)

(Imports)

(33.1)

(30.4)

Exports - Imports

8.9

7.8

GDP

100.00

100.00

(Quốc doanh chỉ chiếm 13,4%, tư doanh 59,8%)

Thủ đô Santiago chứa 5,4 triệu dân và Chí Lợi có khoảng trên mười thành phố có lượng dân số trung bình từ 200 đến 350 ngàn. Lực lượng lao động toàn quốc là 6,0 triệu (2009) gồm 13% là nông dân (tương đương với 5,1% dân số), 27% thuộc thành phần kỹ nghệ, và 60%, dịch vụ.

Cán cân xuất nhập cảng cho năm 2009 là: 159 tỷ Mỹ kim cho xuất cảng và 9,4 tỷ cho nhập cảng.

Về viễn thông, Chí Lợi có 4,5 triệu đường dây điện thoại (2002) và 6,5 triệu điện thoại di động cùng với 4 triệu máy truyền hình.

Mối tương quan giữa Phát triển và Môi trường

Tại Chí Lợi, chính quyền chủ trương theo mô hình thị trường kinh tế tự do, đặt trọng tâm vào việc khai thác và xuất cảng các nguồn tài nguyên quốc gia với châm ngôn là giảm thiểu giá thành sản xuất tối đa. Do đó, có hơn 90% sản phẩm xuất cảng gồm đa số là các nguyên liệu kim khí thô, gỗ, giấy và bột giấy, trái cây, tôm cá v.v... Gần đây chính phủ đề ra chủ trương cho các công nghệ là cố gắng thực hiện các quy trình “sạch” và “bầu bạn” với môi trường (clean and environment-friendly process) nghĩa là cố gắng hạn chế tối đa tác hại mội trường và sử dụng dụng cụ, máy móc sản xuất có thể thay thế được khi có vấn đề trong sản xuất. Thêm nữa, các nhà sản xuất phải trực tiếp chịu trách nhiệm về quản lý môi trường trong địa phận hoạt động của mình và phải thiết lập bộ phận xử lý các chất phế thải rắn, lỏng, và khí nếu có.

Tuy nhiên, sau hơn 17 năm, chế độ độc tài (chấm dứt vào 1990) đã để lại cho các chính phủ dân sự sau đó một tình trạng kinh tế, phát triển, và môi trường không mấy sáng sủa. Và đây là một gia sản đang đi dần đến kiệt quệ, đã và đang được cứu nguy cùng với sự trợ giúp của các cơ quan quốc tế và các quốc gia hậu kỹ nghệ.

Để có một cái nhìn đối chiếu về cung cách quản lý đất nước của lãnh đạo Việt Nam, xin đan cử ra đây vài hàng về chế độ Pinochet của Chí Lợi. Đây là một chế độ độc tài quân phiệt hoàn toàn bất lực về việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường hoặc bảo tồn hệ sinh thái cho quốc gia. Họ đã quan niệm quyền lực có thể giải quyết được tất cả vấn đề của đất nước, có thể đem lại trật tự xã hội (theo quan điểm của họ), và người dân không thể cưởng lại cường quyền được. Từ đó, khái niệm con người (độc tài) có thể làm chủ thiên nhiên và có thể “cải tạo” thiên nhiên. Kết luận là, Pinochet đã để lại cho chế độ mới một di sản không sáng sủa: một xã hội băng hoại về đạo đức, một đất nước cạn kiệt tài nguyên, và một môi trường ô nhiễm trầm trọng. Chính phủ dân sự của Tổng thống Lagos đã trải qua những giây phút thật khó khăn để làm lại từ đầu.

Theo thống kê của ngân hàng trung ương Chí Lợi năm 1995, tổng số rừng thiên nhiên của quốc gia nầy chỉ có thề tồn tại trong vòng 20 hay 30 năm nữa nếu tiếp tục khai thác với vận tốc hiện tại. Ngân hàng Thế giới cũng cảnh báo rằng Chí Lợi đã “khai thác quá độ” nguồn tài nguyên cá tôm của hải phận quốc gia.

Ngoài hai vấn nạn kể trên, quốc gia nầy đã tận dụng đất đai để canh tác nông phẩm và cây ăn trái, sử dụng bừa bãi phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ dại, và diệt nấm. Bộ Nông nghiệp năm 1999 đã báo cáo rằng, 45.5% đất canh tác trong nước đã bị xói mòn, và 62% đang đi vào tiến trình sa mạc hóa nghĩa là sẽ không còn khả năng trồng trọt được nữa. Bộ Y tế cũng đã công bố nhiều khuyến cáo rằng việc khai thác các hầm mỏ đã tạo ra một tình trạng ô nhiễm nguồn nước và không khí trầm trọng ảnh hưởng lên sức khỏe người dân trong vùng bị khai thác.

Tỷ lệ người dân bị mắt kéo mây (cataract), hư võng mạc (cornea), một số bịnh ung thư, và các bịnh liên quan đến khí quản tăng dần theo thời gian trong những vùng trên, và chiếm tỷ lệ quá cao so với người dân sống trong các vùng không bị ô nhiễm.

Trong nhiều vùng nông nghiệp, lượng hóa chất độc hại hiện diện trong đất và nước cao gấp trăm lần hơn hàm lượng cho phép. Thêm nữa, các phế thải lỏng và rắn hòa tan được chuyển thẳng vào sông ngòi và biển cả, làm hủy diệt và tiệt chủng hàng trăm loài; thậm chí ở nhiều nơi, các bãi biển không còn sử dụng cho kỹ nghệ du lịch được nữa. Santiago đã từng được xem là thành phố ô nhiễm nhất thế giới năm 1999.

Về địa thế, quả thật Chí Lợi là một quốc gia khó quản lý về mặt môi trường:

· 1/3 của miền Bắc cấu tạo do núi và sa mạc với nguồn tài nguyên về kim loại như đồng lớn nhất thế giới, và các kim loại khác.

· Vùng phía Nam được bao phủ nhiều ao hồ len lỏi trong các vùng núi cao do đó vấn đề thải hồi các phế thải lỏng luôn luôn là một áp lực nan giải cho chính quyền trung ương và địa phương. Mặc dù chiếm một diện tích rộng so với dân số nhưng trên 45% đất có thể canh tác được đã bị xói mòn.

Với một di sản không mấy sáng sủa, Tổng thống Logos và chính phủ hiện tại đã từng bước cải thiện môi trường và kế hoạch hóa việc sản xuất cho xuất cảng và lần lần cân bằng được bài toán quản lý môi trường trong các kế hoạch dứt khoát về đổi mới môi trường. Chỉ trong một thời gian ngắn ở những năm gần đây, tình trạng môi trường ở Chí lợi đã lần lần thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn.

Đổi mới quản lý môi trường

Sau khi chấm dứt chế độ độc tài Pinochet năm 1990, chế độ dân chủ đầu tiên do Tổng thống Patricio Alywin đã đắc cử qua một cuộc phổ thông đầu phiếu. Từ đó việc làm đầu tiên của chính phủ là đặt trọng tâm vào việc đổi mới quản lý môi trường. Trong suốt 17 năm, chế độ độc tài Pinochet đã để lại một hiện trạng không mấy sáng sủa vừa kể trên. Do đó việc làm cấp bách của chế độ mới là tổ chức một hệ thống quản lý môi trường tương đối hữu hiệu hơn và được các chính phủ tiếp theo liên tục nâng cao chất lượng quản lý cho đến ngày nay.

Trước hết, Comicion Nacional del Medio Ambiente (CONAMA) hay Hội đồng Quốc gia về Môi trường đã được thành lập ngay sau chính phủ dân sự lên nắm quyền. Lần lượt các cơ quan tư vấn tư nhân được mời đến tham khảo để thẩm định hiện trạng môi trường cùng với CONAMA hoạch định kế hoạch để quy định các điều luật về môi trường và định mức giới hạn các phế thải độc hại hấp thụ trong đất, nước, con người và gia súc.

Từ năm 1996 trở đi, CONAMA phải chịu nhiều sức ép của công luận để chuyển đổi các quy trình sản xuất công nghệ quốc doanh thành ra những quy trình sạch để bảo vệ môi trường. Và tòa án vốn dĩ độc lập là nơi tranh tụng sau cùng giữa chính phủ và các nhà sản xuất để điều giải các bất đồng quan điểm về môi sinh giữa hai phía. Do đó vấn đề ô nhiễm môi trường được cải thiện rất nhiều so với những năm 90. Thêm nữa, các công ty tư vấn môi trường được trực tiếp tham dự vào CONAMA để hòa giải và đề nghị những cung cách xử lý môi trường và tăng cường mối lưu tâm của dân chúng trên các vấn nạn môi trường trầm trọng.

Những việc làm trên của CONAMA đã làm tăng thêm niềm tin vào chính quyền, khuyến khích sự tham gia đông đảo của quần chúng và do đó, việc xử lý môi trường ở nhiều nơi được giải quyết kịp thời. CONAMA đã đề ra những mục tiêu sau đây:

· Phòng vệ những tai nạn về môi trường ở các công nghệ.

· Phục hoạt môi trường ở những nơi đã xảy ra ô nhiễm.

· Và quản lý chặt chẽ nguồn tài nguyên thiên nhiên như: rừng, ao hồ, sông ngòi, đất đai.

Năm 1997, để thực hiện mục tiêu đầu tiên, chính phủ bắt buộc tất cả các công nghệ sản xuất hay chế biến phải thực thi việc nghiên cứu tác động môi trường của từng quy trình trước khi cấp giấy phép hoạt động. Do đó, mức độ ô nhiễm, lượng phế thải của từng cơ sở được ước tính rõ ràng và mỗi cơ sở phải đệ nạp phương pháp hay quy trình xử lý các phế thải trên. Nghiên cứu tác động môi trường từ đó đã trở thành luật định căn bản áp dụng cho tất cả các công nghệ dù là tư nhân hay quốc doanh, và không có bất cứ một ngoại lệ nào ngay cả cho các công ty ngoại quốc đầu tư vào Chí lợi.

Một thí dụ điển hình là công ty Bellingham, một công ty hóa chất Hoa Kỳ đầu tư vào Chí Lợi đã bị CONAMA kiện vì đã làm ô nhiễm môi trường. Ban Giám đốc công ty đã thành công trong việc kiện lên Tối cao Pháp viện viện cớ là CONAMA chưa định mức được tác động môi trường của công ty. Tuy nhiên, chỉ trong vòng vài tuần lễ, CONAMA thiết lập được các định mức trên và buộc được Cty Belligham không được vượt quá giới hạn đã được quy định. Nơi đây thể hiện một tinh thần dân chủ cao độ và sự độc lập giữa chính quyền (hành pháp) và hệ thống tư pháp Chí Lợi.

Về mục tiêu thứ hai, chính phủ đã thực hiện những kế hoạch đặc biệt và tùy theo mức độ ô nhiễm để sắp xếp thứ tự ưu tiên của những nơi cần xử lý như ô nhiễm không khí ở Santiago, xử lý phế thải độc hại ở các hầm mỏ khai thác, những vùng bị bão hòa (saturated), và các nguồn nước ô nhiễm.

Đối với mục tiêu thứ ba, chính phủ đã đệ nạp lên quốc hội dự thảo luật về quản lý rừng nguyên sinh từ hơn sáu năm, và các luật tiếp theo cũng đang được CONAMA soạn thảo.

Tuy nhiên, vấn đề nhân sự chuyên môn là một trong những cản ngại lớn của Chí Lợi trong việc quản lý môi trường. Hiện tại, cũng còn nhiều trường hợp vi phạm môi trường xảy ra do sự khiếm khuyết nhân sự. Việc kiểm soát và quản lý không được chặt chẽ như mục tiêu đã đề ra. Thêm nữa, còn có quá nhiều định mức chưa được cứu xét và quy thành luật. Do đó, có nhiều kẽ hở về phía chính quyền và chính các kẽ hở đó đã vô tình tiếp tay cho các công ty, nhất là các công ty ngoại quốc tiếp tục vi phạm vì chưa có quy định rõ ràng.

Ngoài yếu tố nhân sự, yếu tố tài chánh cũng chính là một trở ngại then chốt thứ hai, và trở ngại nầy đã gây khó khăn cho việc quản lý rất nhiều, và cũng là lý do chánh trong việc trì trệ cứu xét các định mức độc hại.

Yếu tố thứ ba là thiếu tính nhất quán trong quản lý. Vì khả năng chuyên môn của nhân sự quản lý không được huấn luyện đồng nhứt, vì chính phủ không đủ điều kiện để cập nhật hóa các thông tin về luật lệ mới để thích ứng với tình hình, cho nên việc thi hành luật ở nhiều nơi đôi khi mâu thuẫn với nhau khiến cho CONAMA phải mất nhiều thời gian để điều chỉnh và dàn xếp ở tòa án thay vì tập trung vào việc soạn thảo các quy định còn thiếu sót.

Tuy luật môi trường đã được quốc hội thông qua từ năm 1994 và có thêm nhiều bổ túc tiếp sau đó, nhưng sự hiểu biết của dân chúng về vấn đề nầy vẫn còn mơ hồ do sự thiếu phổ biến và dân trí của người dân cũng còn hạn chế.

Tổ chức quản lý môi trường

Tại Chí Lợi, cơ quan quyền lực cao nhất về quản lý môi trường kể từ năm 1994 là CONAMA. Cơ quan nầy báo cáo trực tiếp những vấn đề liên quan đến môi trường lên Tổng thống qua trung gian của Bộ Tổng thư ký. Ủy ban quản lý môi trường được triệu tập do ông Tổng thư ký. Tổng thống chủ tọa mỗi khi có vấn đề môi trường có tính cách quốc gia cần được tham khảo. Ủy ban gồm có các thành viên của CONAMA và một số Bộ trưởng liên hệ. Trong tương lai, các tham vấn độc lập và các nhóm vận động môi trường, tổ chức phi chính phủ NGO, cùng các công ty có tầm vóc lớn có thể tham gia vào ủy ban nầy.

Nhiệm vụ chính của CONAMA được ghi rõ trong luật môi trường là:

· Đề nghị và Thực thi các chính sách môi trường của chính phủ cùng phối hợp với các ban ngành liên hệ để bảo đảm tính hữu hiệu và tính đồng nhứt trong quản lý.

· Nhiệm vụ thứ hai cũng không kém phần quan trọng là hợp tác với các công ty kỹ nghệ và các công ty tư vấn môi trường để hoàn chỉnh các chính sách ngày càng thích ứng với thực tế hơn. CONAMA thiết lập hệ thống thẩm định, phân tích tác động môi trường và qua đó đã theo dõi và kiểm soát việc chấp hành các quy định môi trường của từng công ty.

Tổng số nhân viên điều hành CONAMA ở trung ương là 240 người và hoạt động với nhân sách 14 triệu Mỹ kim/năm (1999). Cơ quan nầy đặt văn phòng ở khắp 13 vùng (tương đương hệ thống tỉnh ở Việt Nam, cung cấp mọi dịch vụ tiếp ứng kỹ thuật cho Hội đồng môi trường của từng vùng có tên gọi là COREMA (R: Regional). Mỗi COREMA do ông Trưởng vùng (Tỉnh trưởng) làm chủ tịch và thành viên là các đại diện của từ 12 đến 15 bộ liên hệ trong vùng. Hội đồng tư vấn độc lập cũng được triệu tập để tham khảo ý kiến.

Luật Môi trường

Điều căn bản trong hiến pháp 1980 là tất cả mọi công dân đều có quyền được sống trong một môi trường sạch, không ô nhiễm. Hiến pháp cũng quy định rõ ràng là chính phủ phải bảo vệ quyền căn bản trên. Đây là một luật ưu tiên so với tất cả các luật khác trong hiến pháp mỗi khi có tranh tụng về giới hạn giữa các luật.

Một trong những thành quả lớn nhất của luật môi trường là hệ thống thẩm định, phân tích môi trường (Điều 2, luật môi trường được Tổng thống ban hành tháng 4/1997). Qua hệ thống nầy CONAMA đã theo dõi và kiểm soát tất cả các công ty từ lúc mới xây dựng cho đến khi đi vào hoạt động. Mọi vi phạm đa số đều được khám phá kịp thời và thực thi những biện pháp đáp ứng thích đáng ngay sau đó. Điều luật nầy được áp dụng cho các đập thủy điện, hệ thống dẫn thủy (aqueduct), hệ thống điện cao thế, các nhà máy phát điện dùng than, gas, hay nguyên tử năng. Phi cảng, bến xe buýt, đường xe lửa, đường sá, hải cảng, bến tàu, cùng tất cả các vùng phát triển trong thành phố...điều được luật nầy chiếu cố đến. Các dự án có nguy cơ ảnh hưởng lên sức khỏe người dân, làm nguy hại nguồn tài nguyên thiên nhiên, bắt buộc phải di dân, hay làm tổn thương môi trường.... đều phải nộp bản báo cáo nghiên cứu tác động môi trường trước khi được chính quyền duyệt xét.

Thủ tục thẩm định tác động môi trường

Khi nhận được báo cáo trên, COREMA cho tiến hành thủ tục triệu tập Ủy ban vùng để cứu xét dự án. Tùy theo tầm quan trọng của dự án, đại diện các bộ Y tế, Hầm mỏ, hay Du lịch...cùng các cơ quan hành pháp trung ương cũng được triệu tập để cùng thẩm định. Trong trường hợp có bất đồng ý kiến trong Ủy ban cứu xét, COREMA có thể mời gọi các tư vấn độc lập để tham khảo ý kiến thêm. Và COREMA có 120 ngày để quyết định chấp thuận hay từ chối dự án, kể từ ngày dự án được đệ nạp. Và luật nầy cũng quy định rằng, nếu COREMA không lấy quyết định trong thời hạn kể trên, dự án sẽ được tiến hành mà không qua thẩm định của COREMA nữa.

Thêm nữa, cơ quan nầy còn có thêm quyền hạn là có thể chấp thuận toàn thể dự án, chấp thuận với điều kiện thay đổi vài điểm, hay từ chối hẳn dự án. Nhưng một khi được chấp thuận, người điều hành của dự án có toàn quyền thực thi dự án, được cấp giấy phép, và giấy phép nầy có tính cách bất khả hoàn, nghĩa là không còn có cơ quan chính phủ nào có thể thu hồi giấy phép trở lại được. Điều nầy là một điểm mạnh trong thủ tục điều hành và phối hợp giữa hành pháp và CONAMA, COREMA để tránh mọi lạm dụng có thể xảy ra và đưa đến thảm nạn tham nhũng.

Tuy nhiên, cho đến nay luật lệ về quản lý nước và rừng vẫn còn nhiều thiếu sót và cần phải bổ túc thêm để tránh bớt lạm dụng vì còn nhiều quy định chưa được minh bạch.

Thủ tục khiếu nại

Từ khi COREMA lấy quyết định từ chối, người chủ công trình của dự án có quyền khiếu nại lên Giám đốc CONAMA trong vòng 30 ngày. Từ đó, Hội đồng bộ trưởng có 60 ngày để giải quyết các khiếu tố; và nếu cần tòa án có thể giải quyết trong vòng 30 ngày sau đó. Trong trường hợp nầy, các tổ chức dân sự và tư vấn độc lập cũng có quyền tham gia vào việc khiếu nại trên. Giám đốc điều hành CONAMA sẽ phải giải quyết và lấy quyết định sau cùng.

Tuy nhiên, một trong nhiều yếu điểm của hệ thống thẩm định môi trường là COREMA vẫn là một bộ phận chính trị của chính quyền địa phương, do đó có nhiều quyết định đôi khi đi ngược lại với những khuyến cáo kỹ thuật do các công ty tư vấn đề nghị. Để điều chỉnh yếu điểm nầy, “công dân tư vấn” ở các vùng có thể khiếu nại và đem COREMA ra tòa về những quyết định thiếu căn bản khoa học hay không hợp lý.

Sức mạnh của nhân dân Chí Lợi

Một trong những lý do làm tăng thêm uy tín của ngành quản lý môi trường tại Chí Lợi là sự tham gia của dân chúng vào những buổi điều trần của các dự án có tầm vóc quốc gia.. Đây là một điểm son của chế độ, thể hiện một tinh thần dân chủ rất cao, lãnh đạo Chí Lợi đã can đảm dành cho người dân có tiếng nói hầu hạn chế bớt những lạm quyền nếu có của COREMA, hay CONAMA. Sự tham dự nầy cũng còn có khả năng làm giảm thiểu hay chấm dứt những tệ nạn hối lộ và cửa quyền qua các thủ tục phê chuẩn giấy phép cho các dự án.

Từ tháng 7/1997, chính phủ đã thiết lập Bộ Giáo dục Môi trường và Tham vấn công dân (Department of Citizen Participation & Environmental Education) để tiếp tay với chính quyền trong việc soạn thảo và thi hành các chính sách về môi trường. Hiến pháp đã quy định rõ quyền hạn của công dân trong việc tham gia trực tiếp quản lý môi trường ở bốn địa hạt chính yếu như:

· Định chuẩn.

· Chất lượng môi trường.

· Kế hoạch giải nhiễm (decontamination plan).

· Dự kiến và cập nhật hóa các luật lệ mới.

Người dân còn được tham vấn qua hệ thống thẩm định phân tích tác động môi trường và được thông báo chính thức qua công báo và các báo chí địa phương hay toàn quốc. Trong vòng 60 ngày kể từ ngày công bố, mỗi công dân có quyền trình bày ý kiến về các dự án gửi lên cho CONAMA duyệt xét, và cơ quan nầy phải ghi nhận ý kiến trên trong tiến trình phê chuẩn dự án theo tinh thần của hiến pháp.

Trong trường hợp ý kiến của người dân không được lưu ý, họ có quyền khiếu tố lên cấp cao hơn trong vòng 15 ngày. Cơ quan sau cùng nầy phải có câu trả lời trước 30 ngày sau đó, và mọi khiếu tố cũng phải được ghi trên công báo.

Do được hiến pháp bảo vệ, người dân Chí Lợi đã mạnh dạn tham gia cụ thể vào công cuộc phát triển quốc gia, do đó đã tạo điều kiện cho đất nước nầy có cơ hội tiến dần theo chiều thuận của đà dân chủ hóa. Mọi người dân được khuyến khích góp ý vào các dự án quốc gia đặc biệt liên quan đến bốn địa hạt mấu chốt kể trên. Không khí dân chủ lần lần làm tăng thêm uy tín của chính quyền và đây cũng là điều kiện cần và đủ để xây dựng và phát triển một đất nước trong giai đoạn toàn cầu hóa.

Những mối ưu tư hàng đầu của Chí lợi

Vì nhận thức được nguy cơ của các thảm nạn môi trường đã, đang và sẽ xảy ra song hành với việc phát triển quốc gia, chính phủ Chí Lợi qua CONAMA đã đưa vào kế hoạch giải quyết đồng loạt những vấn nạn môi trường xảy ra sau đây:

Không khí: Ô nhiễm không khí là một vấn nạn môi trường nguy hiểm nhất là ở các thành phố lớn như Santiago, và các vùng khai thác quặng mỏ. Các biện pháp làm giảm mức ô nhiễm nitrogen dioxide NO2, sulfide dioxide SO2, carbon monoxide CO, các hạt lơ lửng trong không khí (particles in suspension), hợp chất hữu cơ nhẹ (VOCs)....là những mối quan tâm hàng đầu của chính phủ.

Thay đổi thời tiết: CONAMA phối hợp cùng với các đại học liên hệ, các viện nghiên cứu, Bộ năng lượng để thiết lập bộ luật về bảo vệ và giảm thiểu sự hâm nóng toàn cầu trong phạm vi của quốc gia nầy theo tinh thần Hội nghị thượng đỉnh Kyoto năm 1997.

Nước: Ô nhiễm nguồn nước là một hiểm họa quốc gia. Do sự phân phối không hài hòa của thiên nhiên, miền Nam Chí Lợi có lượng nước dư thừa; trong khi miền Bắc thì khô cằn (địa thế tương tự như miền Trung Việt Nam). Thời bấy giờ (1997), hầu như tất cả lượng nước thải công nghiệp (95%) đều được chảy thẳng vào sông, hồ, hoặc biển gây ra tình trạng ô nhiễm trầm trọng cho nguồn nước sinh hoạt cho cả nước, đặc biệt là ô nhiễm arsenic, sắt và đồng. Một sắc lệnh tối cao về quản lý chất phế thải lỏng vào nguồn nước vừa được chính phủ phê chuẩn, trong đó tuyệt đối cấm thải hồi những chất phế thải lỏng có chứa: phóng xạ, chất ăn mòn (corrosive), chất độc, vi khuẩn, chất nổ, chất hữu cơ nhẹ... mà không qua giai đoạn xử lý. Nước thải sinh hoạt từ các gia đình cũng đang được nghiên cứu xử lý trong năm 2001 trước khi thải hồi vào sông hay biển.

Đất canh tác: Giống như trường hợp của các quốc gia đang phát triển, ba vấn nạn căn bản của đất đai dùng để canh tác ở Chí Lợi nhằm mục đích tăng nguồn sản xuất nông nghiệp là: sự xói mòn (erosion), sự sa mạc hóa (desertification), và sự ô nhiễm. Hai phần ba lãnh thổ Chí Lợi đang bị xói mòn, 75% đất trồng trọt đang trên đà thoái hóa và có khả năng bị sa mạc hóa nếu không có biện pháp cứu chữa thích nghi . (Tình trạng trên cũng đang xảy ra tương tự như ở Việt Nam. Cộng thêm tệ trạng nhiễm mặn do sự xâm nhập nước biển vào, và cũng do việc sử dụng phân bón ào ạt đã làm tăng lượng muối trong đất. Do đó tiến trình sa mạc hóa cùng sự xói mòn có khả năng tăng nhanh hơn so với Chí Lợi).

Trước những nguy cơ trên, chính phủ bắt đầu theo dõi, kiểm soát các kế hoạch phát triển nông nghiệp cũng như hạn chế sản xuất một số nông phẩm xuất cảng dư thừa để bảo vệ đất và giữ cho đất có đủ thời gian để tái tạo trở lại giống như tình trạng nguyên thủy.

Quản lý chất phế thải rắn: Chất phế thải từ các hộ gia cư vẫn còn được đổ vào những bãi rác mở (open dump site). Tình trạng chất phế thải kỹ nghệ cũng chẳng khá hơn, tuyệt đại đa số công nghệ hiện có đều không có hệ thống xử lý và phế thải vẫn phải đi vào các bãi rác nếu là chất rắn, và vào sông, hồ, biển nếu là chất lỏng.

Chính phủ đã đưa ra một chương trình hành động nhắm vào từng mục tiêu riêng biệt để giải quyết tình trạng trên:

· Thiết lập cơ quan giáo dục công cộng về môi trường có mục đích giải thích cho người dân hiểu rõ thêm về các vấn nạn môi trường.

· Khai triển thêm các luật lệ chi tiết để quản lý từng loại rác.

· Thành lập những bãi rác theo tiêu chuẩn quốc tế nghĩa là có vách ngăn nước rỉ để bảo vệ nguồn nước ngầm và hệ thống xử lý nước rỉ để bảo vệ sức khỏe người dân.

· Khuyến khích và hỗ trợ sự tham gia của các nhà sản xuất công nghiệp vào việc giảm thiểu phế thải (waste minimization) kỹ nghệ.

Tài nguyên thiên nhiên

Nhận thức được nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là một nguồn vô tận, đó là một nguồn dự trữ thiết yếu của quốc gia, và là một vấn đề sống còn của đất nước, Chí Lợi đã thấy và thấy rất rõ đây chính là nguồn nội lực cần phải được bảo vệ. Do đó việc khai thác các hầm mỏ và nguồn tài nguyên rừng được lưu tâm kỹ lưỡng.

Mỏ: Đây là một nguồn tài nguyên lớn chiếm 25% sản lượng thế giới về đồng (Cu), 40% về lithium (Li), 21% về selemium (Se), và 40% về rhenium (Rh). Quốc gia nầy đứng thứ nhì thế giới về molybdenum (Mo); ngoài ra còn có nhiều mỏ có trữ lượng đáng kể như: sắt, manganese, vàng, bạc, nitrate và iodine. Tổng lượng xuất cảng của Chí Lợi chiếm 50% trong doanh số về quặng mỏ. Để đổi lại các thành tựu trên, Chí lợi phải trả một giá đắt về tình trạng ô nhiễm ở những vùng bị khai thác. Do đó kể từ 1992, luật về mỏ số 185 đã quy định rõ ràng định mức khai thác và biện pháp để làm giảm thiểu ô nhiễm bắt đầu đi vào áp dụng. Tình trạng ô nhiễm ở những vùng bị khai thác đã được cải thiện rất nhiều sau đó.

Rừng: Gỗ là nguồn tài nguyên thứ hai của Chí Lợi. 90% gỗ xuất cảng gồm gỗ thông và khuynh diệp. Do thiếu kiểm soát và không có kế hoạch khai thác từ đầu, nạn phá rừng thiên nhiên đã đưa Chí Lợi đến nguy cơ cạn kiệt về rừng. Nhưng sau đó chính phủ đã kịp thời đưa ra hai biện pháp thích nghi để chận đứng nạn khai thác rừng bừa bãi như:

· Cấm và hạn chế xuất cảng một số gỗ tạp.

· Quy định kế hoạch trồng rừng để tái tạo rừng nguyên thủy. Hành động nầy của chính phủ tuy có làm giảm bớt một số ngoại tệ nặng do xuất cảng, nhưng trái lại nó đã mang lại cân bằng hệ sinh thái của quốc gia, một điều cần thiết để bảo vệ môi trường.

Nông nghiệp: Trong khoảng 20 năm trở lại, sản xuất nông nghiệp của Chí Lợi tăng vọt mạnh với khoảng 5 triệu mẫu trồng cây ăn trái. Nhiều trái cây hầu hết được xuất cảng qua Bắc Mỹ và Âu Châu.

Vì phải tập trung vào việc xuất cảng nông phẩm tối đa, Chí Lợi hiện nay phải trực diện với tình trạng đất xói mòn, bị sa mạc hóa, và ô nhiễm môi trường do phân bón tồn đọng trong đất và sự hiện diện của đủ loại thuốc trừ sâu rầy, diệt cỏ dại. Hiện tại có 45% đất bị xói mòn, và lượng thuốc trừ sâu rầy khổng lô được nhập cảng trong năm 1998 là 50 ngàn tấn gồm hơn 900 loại khác nhau. Hầu hết các loại thuốc bị cấm sử dụng như DDT, Aldrin, Endrin, v.v…đều đang được sử dụng rộng rãi ở Chí lợi (tương tự như ở Việt Nam). Do đó, từ năm 1998, Ủy ban thẩm định mức độc hại của thuốc bảo vệ thực vật được thành lập gồm đại diện bộ y tế, một nhà độc tố học của CONAMA, và nhiều chuyên gia nông nghiệp để thẩm định mức tối thiểu của từng hóa chất có thể ảnh hưởng lên con người và thú vật. Bộ nông nghiệp được chỉ định kiểm soát việc phân phối các loại thuốc nầy.

Trường hợp Việt Nam

Từ giữa thập niên 80, chính sách kinh tế “Mở cửa” và “Đổi mới” tiếp ngay sau đó đã khai mào cho một chu kỳ tăng trưởng cho toàn quốc, đặc biệt ở thành phố Sài Gòn và các vùng lân cận, trong đó hầu hết các khu kỹ nghệ đều tập trung vào và chiếm hơn 35% tổng sản lượng quốc gia. Với tiềm lực kinh tế và lao động như trên, Liên Hiệp Quốc ước tính cần phải có thêm 10 ngàn cơ sở công kỹ nghệ mới hàng năm để có đủ khả năng thu dụng lượng lao động mới bước vào xã hội ước tính là một triệu mỗi năm.

Từ hiện trạng xã hội nầy, lãnh đạo Việt Nam hiện đang vấp phải những lỗi lầm tương tự như những lầm lỗi của nhà độc tài Pinochet trong việc quản lý đất nước. Độc tài quân phiệt hay độc tài chuyên chính đều đưa đất nước đến cùng một hệ quả: sự diệt vong.

Họ không nghĩ rằng những khẩu hiệu “thay trời làm mưa”, “biến sỏi đá thành cơm”... không thể chuyển đổi và vực dậy một nền kinh tế èo uột vì quản lý quá tồi tệ. Họ cũng vì chủ quan mà thách đố cả thiên nhiên. Kinh Nhiêu Lộc đã được tiêu tốn hàng ngàn tỷ đồng nhưng vẫn không tống khứ được khối lượng nước dơ bẩn ra sông Sài gòn.

Vì sao? Vì sông Sài Gòn chịu hấp lực của hiện tượng bán nhật triều nghĩa là trong một ngày có hai thủy triều lên và xuống. Nước ròng chưa kịp rút hết ra sông thì nước rong (nước lớn) đã tràn vào do đó nước bẩn phải bị ứ đọng lại trong kinh. Làm sao họ có thể thẩm thấu và giải đáp được câu hỏi vì sao mực nước ở Tân Châu, Châu Đốc đã rút xuống (9/2002), trong lúc đó khu Tứ giác Long Xuyên lại bị ngập? Lý do giản dị là vùng nầy đã bị đê bao giữ nước lại thay vì để cho nước lưu thông ra biển khi mực nước sông Cửu Long bắt đầu dâng cao.

Nhìn chung, nếu so với Chí Lợi về mặt địa dư và khí hậu, Việt Nam có nhiều ưu đãi của thiên nhiên hơn vì thời tiết ít khắc nghiệt và vũ lượng của mưa thích hợp cho nông nghiệp. Nhưng ngược lại, Việt Nam phải cung cấp thực phẩm cho quá đông cư dân so với diện tích đất khai thác. Với ước tính khoảng 7 triệu mẫu đất canh tác cho cả nước, và 70% dân số là nông dân so với 30 triệu mẫu và 5,3% nông dân của Chí Lợi, số lượng đất canh tác sẽ ngày càng giảm thiểu so với mức gia tăng dân số trong tương lai. Nếu tính lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng trong nông nghiệp, Việt Nam đã sử dụng một lượng thuốc cao hơn bốn lần lượng tiêu thụ ở Chí Lợi. Theo báo cáo của Bộ Thương Mại năm 2001, Việt Nam nhập cảng 34 ngàn tấn thuốc đủ loại, khoảng 12 ngàn tấn thuốc nhập lậu bị thu hồi, 130.000 tấn sản xuất trong nội địa và không kể một số lượng lớn thuốc lậu ước tính hơn 1,5 triệu tấn đã thoát ra khỏi hàng rào hải quan.

Về rừng, năm 1945, cả nước có 14 triệu mẫu rừng chiếm một diện tích là 43,8%. Nhưng hiện nay chỉ còn khoảng độ 17% diện tích rừng tự nhiên. Cũng theo ước tính, Việt Nam mất khoảng 200.000 mẫu rừng hàng năm, trong khi đó chỉ trồng lại khoảng 20.000 mẫu. Gần đây nhất, hiện tượng phá các rừng tràm, đước để nuôi tôm làm cho diện tích rừng ngày càng suy thoái thêm. Với tình trạng trên, ta có thể phỏng đoán rằng, mức độ xói mòn, sự sa mạc hóa, sự hóa mặn, tệ trạng ô nhiễm...của đất sẽ xảy ra với tốc độ nhanh hơn so với tình trạng ở Chí Lợi.

Mặc dù phải đối diện với nhiều nghịch lý và mâu thuẫn trong bài toán phát triển quốc gia và bảo vệ môi trường, mặc dù cần phải nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân trong một quốc gia đang phát triển, lãnh đạo Chí Lợi đã thấy rất rõ là cần phải cân bằng sản xuất, chấp nhận hy sinh một số thu nhập ngoại tệ nặng do xuất cảng để đổi lấy một tình trạng cân bằng hợp lý cho đất nước. Họ biết phải hy sinh để cứu lấy tài nguyên thiên nhiên, nguồn tiềm năng của quốc gia. Họ biết phải bảo vệ môi trường cho các thế hệ về sau mặc dù phải tiến chậm lại vài bước.

Các quyết định và cung cách giải quyết sáng suốt những vấn đề môi trường trên đã đem lại tin tưởng cho người dân, do đó Chí Lợi có được sự ổn định chính trị và xã hội trong nước. Từ sự ổn định trên, đầu tư ngoại quốc sẽ an tâm hơn để giúp đất nước nầy đẩy mạnh phát triển, mang nhiều quy trình công nghệ tân tiến và “sạch” có khả năng làm tăng nhanh phát triển đồng thời giảm thiểu hay ngăn ngừa được ô nhiễm. Làm được như thế, Chí Lợi cùng một lúc giải quyết được hai vấn đề cho quốc dân: làm tăng phúc lợi cho người dân và bảo vệ được môi trường cho các thế hệ về sau, đi đúng theo tiêu chuẩn của Liên hiệp quốc đề ra cho sự phát triển bền vững của các quốc gia đang phát triển là: 1- Tạo dựng tăng trưởng kinh tế; 2- Cân bằng môi sinh; 3- và Tiến bộ xã hội.

Tính tiêu cực trong phát triển

Đối với Việt Nam, nếu nhìn về các con số thống kê, không ai có thể phủ nhận mức phát triển tăng vọt hàng năm. Về mặt xuất cảng trên thế giới, Việt Nam được xếp hàng thứ nhì về gạo, thứ ba về cà phê, cao su, tiêu, trà, điều. Các mặt hàng nầy đã chiếm vị trí quan trọng trong cán cân xuất cảng chỉ sau dầu hỏa. Ngược lại, Việt Nam phải trực diện với muôn vàn vấn nạn ô nhiễm môi trường như đã xảy ra cho Chí Lợi. Nhưng để đổi lại, người dân chẳng những không được hưởng những phúc lợi do xuất cảng đem lại mà còn phải chịu đựng thêm nhiều áp lực kinh tế trong đời sống hàng ngày và sức khỏe ngày càng bị đe dọa nhất là đồng bào miền Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).

Sản xuất càng tăng, nhưng ngược lại, mức sống người dân ngày càng thoái hóa! Theo sách Le Dossier Noir du Communisme do Michel Tauriac xuất bản tại Pháp (4/2001) thì hiện có 80% dân chúng Việt Nam sống với ít hơn 1 Mỹ kim/ngày và 12 triệu người vẫn thường xuyên bị đói. Có 69,5% trẻ em đang trong tình trạng thiếu dinh dưỡng và nghịch lý hơn nữa là có từ 500 đến 1.000 đảng viên là triệu phú đô la! Và các số liệu trên có chiều hướng tăng thêm trong hiện tại.

Các nghịch lý trên đưa đến những mặt tiêu cực sau đây:

· Nhiều dịch vụ phát triển quá nhanh chóng và không được điều nghiên kỹ lưỡng như việc thiết lập các trung tâm giải trí, khách sạn, sân golf.. . với mục đích phục vụ cho người giàu và ngoại quốc tạo thêm ranh giới cách biệt giữa tuyệt đại đa số quần chúng và một nhóm thiểu số “tư bản mới”.

· Một số tư bản mới đã thành hình, từ đó phát xuất ra thêm nhiều mâu thuẫn và hệ lụy tiêu cực trong hệ thống quyền lực kinh tế-chính trị. Chính hai mặt tiêu cực trên đã là một trong nhiều nguyên nhân chính tạo nên khủng hoảng xã hội gần đây nhất và làm giảm dần mức tăng trưởng kinh tế từ 10% ở những năm đầu đổi mới xuống đến 4% năm 1999, mặc dù Việt Nam vẫn còn quá nhiều nhu cầu cần phải cung cấp cho đất nước.

Việc tăng trưởng kinh tế-kỹ nghệ quá nhanh so với tốc độ trước khi có chính sách đổi mới, nhưng không đủ nhanh so với nhu cầu của quốc gia, đã tạo nên những biến động ảnh hưởng lên môi trường ở những vùng được phát triển mạnh. Tại các nơi trên, bầu không khí ngày càng ô nhiễm thêm. Thán khí cùng với nhiều kim loại độc hại như chì, thủy ngân, manganese, chrome và một số hợp chất hữu cơ nhẹ làm dung môi trong quá trình sản xuất đã được ghi nhận. Nguồn nước bị ô nhiễm, đặc biệt ở các vùng tiếp nhận trực tiếp nguồn nước thải từ các nhà máy vào hệ thống cống rãnh.

Kết quả phân tích cho thấy ô nhiễm hữu cơ đã được ghi nhận ở Bến Than, thượng nguồn sông Đồng Nai, nguồn nước chính cung cấp nước cho cư dân thành phố. Ở nhiều nơi, chỉ dấu oxy hòa tan (Dissolved oxygen-DO) giảm xuống đến 2.3 mg/L (nếu chỉ số DO xuống dưới 3,5, cá tôm sẽ không đủ nguồn oxy trong nước để có thể tồn tại được). Lượng E-coliform, vi khuẩn gây bịnh đường ruột và có thể làm chết người nếu không cứu cấp kịp thời, tăng trung bình tùy nơi từ 14.000 đến 480.000 MPN/100mL ở kinh Nhiêu Lộc (tiêu chuẩn cho nước sinh hoạt ở Hoa kỳ là 23MPN/100mL) (MPN, most probable number). Đặc biệt cũng tại Bến Than, độ mặn đo được vào giữa tháng 2/1999 (giữa mùa khô) là 400 mg/L. Tuy lượng chloride trong nước chưa đến mức báo động, nhưng đây là lần đầu tiên chỉ dấu trên báo hiệu sự nhiễm mặn đã xâm nhập vào thượng nguồn sông Đồng Nai. Đặc biệt, vào tháng 4, 2010, nghĩa là chỉ mới vào giữa mùa khô, nước mặn đã xâm nhập vào tận Cần Giuộc, chỉ cách Sài Gòn 15 Km, cũng như đã vào sâu tận Cần Thơ và Tân An… Ngoài ra, các ô nhiễm dầu, kim loại nặng đạt đến mức độ có thể tác động đến nguồn tài nguyên nước và con người. Hàm lượng thuốc trừ sâu như aldrin, diedrin, DDT (đây là những loại thuốc đã được xếp vào trong danh sách 12 hóa chất độc hại bị cấm sử dụng do LHQ đề ra) đôi khi vượt quá tiêu chuẩn của nước uống. Riêng arsenic, được trực tiếp phân tích từ các mẫu nước giếng mặt và giếng khoan trên nhiều nơi ở Việt Nam, đã hiện diện ở nhiều địa phương mà kết quả sơ khởi đã được ghi nhận như sau: 5ug/L (phần tỷ) tại Xóm Mới (Tp HCM); ở thị xã Biên Hòa 35 ug/L (cho giếng khoan sâu trên 150m), 11,5ug/L (giếng mặt); thị xã Tân An, 8,5 ug/L (giếng đóng sâu trên 280m); thị xã Tiền Giang, 11 ug/L; và nhất là tại những nơi có nồng độ nhiễm mặn cao như Bình Đại (Bến Tre), 37 ug/L; Gò Công, 5,4 ug/L. Các kết quả trên cho thấy tình trạng ô nhiễm arsenic đã bắt đầu ảnh hưởng lên ĐBSCL.

Về các bãi chứa rác, các bãi chính không bảo quản đúng tiêu chuẩn như bãi rác Đông Thạnh ở Hốc Môn đã xảy ra nhiều vụ “bể bờ” làm cho nước rỉ chảy tràn ra sông Rạch Tra và Sàigòn năm 2000. Cũng tại nơi bãi rác nầy, chính quyền đã chi ra trên 500 tỷ đồng (tương đương 32 triệu Mỹ kim) để xây dưng nhà máy xử lý nước rỉ. Nhưng tiếc thay, nhà máy chỉ hoạt động không hơn một tuần lễ sau khi khánh thành vào giữa tháng 7/2002. Ngoài ra, còn vô số bãi rác “phụ” chen lẫn trong các khu dân cư đông đúc đã làm tăng thêm điều kiện cho các bịnh truyền nhiễm phát triển mà thôi.

Về ô nhiễm đường nước, một thí dụ cụ thể cho thấy tại Việt Trì (Bắc Việt), hàng năm các khu kỹ nghệ nơi đây đổ ra biển khoảng 35 triệu m3 nước thải kỹ nghệ, 100 tấn acid sulfuric H2SO4), 4000 tấn acid chloridric (HCl), 1300 tấn sút (NaOH), 300 tấn dầu đủ loại, và 24 tấn thuốc bảo vệ thực vật. Một thí dụ khác là hàng năm nhà máy than đá Quảng Ninh đã thải vào vịnh Hạ Long 900 triệu tấn nước thải và bụi than làm ô nhiễm toàn vùng san hô vùng biển phía bắc và đông bắc vịnh Bắc Việt. Viện Hải Dương Học Nha Trang đã ước tính là có ít nhất 50% san hô bị hủy diệt ở vùng nầy và đã tìm thấy dấu vết của kim loại chì trong cá tôm. Đối với khu Tứ Giác Long Xuyên (ĐBSCL) độ mặn đã xâm nhập đến nhiều nơi và đạt đến mức 6,5 mg/L cũng như đã lấn sâu vào đất liền trên 100 Km.

Nhìn chung, tình trạng môi sinh ở Việt Nam đã đến mức báo động, nhất là ở các thành phố lớn mặc dù mức độ khai triển kỹ nghệ vẫn chưa phát triển tương xứng với nhu cầu của dân chúng toàn quốc, chỉ tập trung váo những thành phố lớn mà không lưu tâm hay quy hoạch tùy theo điều kiện của từng địa phương. Hiện nay vẫn còn khoảng 75% dân chúng sống tập trung ở các vùng nông nghiệp, vẫn sống trong điều kiện sơ khai của thời đại phát triển kỹ nghệ.

Nguyên nhân của việc trì trệ phát triển cho những năm gần đây cũng như hiện trạng ô nhiễm ở Việt Nam có thể được tóm tắt vào những ghi nhận sau đây:

· Ảnh hưởng của sự sụp đổ hệ thống Cộng sản ở Nga sô và Đông Âu đầu thập niên 90 cùng với sự khủng hoảng kinh tế vùng Đông Nam Á ở những năm gần đây làm cho quốc tế ngần ngại đầu tư vào Việt Nam.

· Hệ thống tiền tệ Việt Nam chưa hoán chuyển được và chưa thiết lập được thị trường chứng khoán cùng các luật định ngân hàng phức tạp và thay đổi thường xuyên, không bảo đảm tối thiểu cho cuộc giao thương với bên ngoài.

· Hệ thống ngân hàng không hữu hiệu, chưa thể hiện nhiệm vụ đúng đắn trong dịch vụ trao đổi và không có tính xuyên suốt trong báo cáo. Thống đốc ngân hàng Nhà nước mới đây đã xác quyết nhiệm vụ của ngân hàng là phục vụ cho nhu cầu của quốc gia và dân chúng chứ không thi hành theo chỉ thị và mệnh lệnh của Đãng nữa (?). Nhưng xin thưa, đây cũng chỉ là những lời nói để xoa dịu áp lực dư luận mà thôi.

· Mặc dù có sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Á Châu (ADB), Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF), Chương trình phát triển LHQ (UNDP).. . về tài chính và kỹ thuật cho việc nâng cấp và giải quyết các vấn nạn môi sinh ở Việt Nam do sự phát triển kỹ nghệ và nạn gia tăng dân số, nhưng hầu hết các hạng mục công trình trên vẫn còn nằm bất động trên hình thức các dự án khả thi hay thực thi nửa chừng rồi biến thành những “dự án treo” do mức độ thi công tiến hành quá chậm do thủ tục hành chánh rườm rà và bất nhất cũng như các tệ nạn quan liêu, tham nhũng.

· Việc phá hoại các rừng ven biển và việc dẫn nước mặn vào sâu trong đất liền để khai thác dịch vụ nuôi tôm là một trong những nguyên nhân chính cho việc nhiễm mặn. Ngay cả việc nuôi tôm, sau một vài mùa có thu hoạch cao, dịch vụ nầy lần lần đi vào phá sản vì tôm con bị chết quá nhiều do hệ sinh thái thay đổi và môi trường sinh sống của tôm không còn đồng nhất như vùng nước mặn nguyên thủy. Việc thay thế chloramphenicol, một hóa chất được sử dụng như thuốc kháng sinh trong kỹ nghệ nuôi tôm đã bị cấm vì không đáp ứng được tiêu chuẩn xuất cảng qua Liên Hiệp Âu châu và Hoa Kỳ, bằng rễ của cây thuốc cá có chất rhotenone cũng sẽ là một đề tài cần phải thảo luận và nghiên cứu lại trong kỹ nghệ nầy. Ảnh chụp từ vệ tinh năm 1999 cho thấy khoảng 100.000 mẫu tây ở ven biển Cà Mau, Bạc Liêu đã bị bỏ hoang trong số khoảng 200.000 mẫu đã khai thác trong thời gian 10 năm trở lại đây. Từ xa xưa, các rừng tràm, đước, vẹt.. . đã phát triển vững mạnh trong vùng nầy, thiết lập một hệ sinh thái thiên nhiên vừa cân bằng và cầm chân nước mặn tiến sâu vào đất liền, vừa là môi trường sống thích hợp cho tôm cá, do đó tôm khó thể phát triển lâu dài được vì sự mất cân bằng trên.

· Trong những năm sau nầy, lãnh đạo Việt Nam có khuynh hướng cứng rắn hơn trong việc điều hành quốc gia. Đường lối và chính sách hiện tại thể hiện sự bất an, bối rối trong quyết định trước những vấn nạn sinh tử của đất nước.

· Có nhiều thành phần tham gia vào việc phát triển Việt Nam. Đó là quân đội, công an, chính quyền, tư nhân, và ngoại quốc. Một khi đã nắm chặt quyền lực trong tay, cộng thêm sức mạnh kinh tế có sẵn, các thành phần như công an, quân đội, và chính quyền có khả năng tạo ra nạn kiêu binh có thể làm xáo trộn xã hội mà lãnh đạo sẽ khó kiểm soát được. Điều nầy sẽ làm giảm thiểu mức đầu tư của dân chúng và nhất là đầu tư quốc tế.

· Đối với nhu cầu phát triển, điều kiện tiên quyết là phải có sự bàn thảo và đồng thuận giữa chính quyền và các tư nhân. Cho đến nay, sự hợp tác giữa chính quyền-tư nhân-ngoại quốc chưa được đặt trên căn bản công bằng và đồng thuận, do đó vẫn còn nhiều cản ngại trong việc giao thương quốc tế. Vẫn còn có nhiều thiên vị cho các đối tác có liên quan đến chính quyền. Công ty quốc doanh chiếm đa số vẫn còn được tài trợ và ưu đãi mặc dù làm ăn thua lỗ. Việc kiểm soát môi sinh còn quá lỏng lẻo đưa đến việc lơ là trong bảo quản và xử lý phế thải.

· Một số dự án có tầm vóc quốc gia, đối tác được chọn chưa thu thập đầy đủ dữ kiện nghiên cứu tác hại môi trường, nhân sự chuyên nghiệp không đáp ứng được nhu cầu của công trình, do đó nhiều dự án phải bị bỏ dở nửa chừng. Một công ty tư vấn ngoại quốc vừa mới trình dự án khả thi để thải hồi 800.000 m3 nước sinh hoạt của thành phố Sài Gòn hàng ngày sau khi xử lý sơ bộ (cơ học) và thải vào sông Sài Gòn với mục đích vừa để giải quyết lượng nước thải của thành phố và vừa để ngăn chặn sự nhiễm mặn trong mùa khô (2000). Có cần phải xét lại tính khả thi của dự án về mặt kỹ thuật và ảnh hưởng tác hại lên môi trường hay không?

· Các công ty tư vấn ngoại quốc được Việt Nam mời đến để khai triển một số dự án kỹ thuật và tính khả thi trong từng điều kiện hiện có. Đôi khi Việt Nam dùng tư cách chủ nhà để “chỉ đạo” dự án hay sa đổi không đúng với quy cách kỹ thuật làm cho dự án cáng khó được thực hiện hoàn chỉnh. Cũng có nhiều công ty ngoại quốc vì muốn được trúng thầu mà thiết lập dự án khả thi khi chưa hoàn tất thủ tục điều tra cặn kẽ ban đầu. Điều nầy làm cho việc phát triển Việt Nam bị trì trệ về thời gian, tài lực, nhân lực, và nhất là làm giảm thiểu niềm tin của người dân về thực tâm xây dựng đất nước của những người có trách nhiệm.

Nhận diện được một số nguyên nhân căn bản đưa đến sự kiện chậm phát triển cho Việt Nam trong những năm gần đây, chỉ cần một ít động não, việc truy tìm giải đáp cho bài toán phát triển cũng không khó vậy.

Ấu trĩ trong quản lý môi trường

Luật môi trường của Việt Nam đã được quốc hội chấp thuận và đem vào áp dụng kể từ ngày 8/1/1994. Luật nầy gồm 7 chương và 55 điều như sau:

· Chương I - Những quy định chung.

· Chương II - Phòng chống suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.

· Chương III - Khắc phục suy thoái mội trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường.

· Chương IV - Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường.

· Chương V - Quan hệ quốc tế về bảo vệ môi trường.

· Chương VI - Khen thưởng và xử lý vi phạm.

· Chương VII - Điều khoản thi hành.

Ngoài luật lệ môi trường, Việt Nam còn có một số luật khác liên quan đến môi trường như luật bảo vệ rừng, luật đất đai, luật dầu khí, luật đất lâm nghiệp. Nhìn chung đây là một bộ luật nói lên quy định và chính sách tổng quát trong việc bảo vệ và xử lý môi trường. Cá nhân và cơ sở sản xuất kỹ nghệ không thể nào căn cứ vào văn bản của bộ luật môi trường nầy để chấp hành luật pháp trong sinh hoạt sản xuất được. Lý do căn bản là bộ luật không minh định rõ ràng, và không có tính xuyên suốt.

Điều 37 trong chương IV quy định rằng nhà nước ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu chuẩn môi trường. Trái lại, trong Điều 38 lại quy định Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước để bảo vệ môi trường. Trong lúc đó, cũng trong Điều 38 luật lại chỉ định Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương. Hai điều luật trên đây cho thấy tính mơ hồ và tròng tréo về trách nhiệm trong việc quản lý môi trường. Ủy ban nhân dân, dù không có khả năng chuyên môn vẫn có đầy đủ tư cách pháp nhân để giải quyết các vấn nạn môi trường! Và kinh nghiệm đã chứng minh rằng, cho đến ngày nay, 17 năm sau ngày ban hành, có rất nhiều “sự cố” quản lý ở địa phương đã xảy ra trong khi đi tìm phương án để giải quyết sự cố môi trường. Mặc dù khả năng nhân sự và tài chánh không cho phép thực hiện một bộ luật môi trường chi tiết áp dụng cho tất cả mọi trường hợp-điều kiện như bộ luật của Hoa Kỳ (gồm trên 25.000 trang giấy cỡ chữ nhỏ), thiết nghĩ Việt Nam cũng có khả năng làm một bộ luật chi tiết hơn một văn bản gồm 17 trang giấy như bộ luật hiện hành với chi phí hai triệu Mỹ kim do Ngân hàng Thế giới tài trợ.

Viễn tượng tài nguyên bị cạn kiệt vì sự khai thác quá độ để đáp ứng cho nhu cầu kinh tế cấp bách như: nạn phá rừng, đất đai bị tận dụng khai thác mà không có đủ thời gian để tái lập cân bằng cho đất, sử dụng phân bón và thuốc sát trùng bừa bãi, tận dụng nguồn nước mặt và nước ngầm mà không điều nghiên kỹ lưỡng đến tác động môi trường, không khí và nguồn nước bị ô nhiễm. Nếu không tìm được một phương cách tiếp cận mới để tạo dựng một sinh lộ cho tương lai thì hình ảnh một dân tộc triền miên sống trong nghèo đói, và không có sinh khí vì thiếu dinh dưỡng và bịnh hoạn sẽ là hình ảnh của Việt Nam trong tương lai.

Trong chuyến viếng thăm Việt Nam vào cuối tháng 2/2000, James Wolfensoln, chủ tịch Ngân hàng thế giới đã khuyên Việt Nam rằng: “Việt Nam cần phải thiết lập một nền kinh tế dựa trên cơ sở kiến thức”. Lời tuyên bố trên vẫn còn có giá trị cho đến ngày hôm nay. Đây là một thông điệp chiến lược về phát triển kinh tế áp dụng không những cho Việt Nam mà cho tất cả các quốc gia đang phát triển. Cơ sở kiến thức là gì, nếu không là một cuộc cách mạng khoa học-kỹ thuật để thỏa mãn ba yêu cầu phát triển do Liên Hiệp Quốc đề ra. Đó là tạo dựng tăng trưởng kinh tế, cân bằng môi sinh, và phúc lợi xã hội.

Thời đại cách mạng nông nghiệp đã qua rồi. Đổi mới để hội nhập vào nền kinh tế thị trường toàn cầu mà chỉ dựa trên phát triển nông nghiệp để gia tăng phúc lợi cho đất nước chắc chắn không phải là một thượng sách cho Việt Nam ở thế kỷ 21 nầy.

Cực đoan trong quản lý đất nước

Từ các hiện tượng tiêu cực trong phát triển, ấu trĩ trong quản lý môi trường, lãnh đạo Việt Nam còn thể hiện tính cực đoan trong quản lý đất nước. Đứng trước xu hướng toàn cầu hóa trong mọi lãnh vực của con người, lằn ranh quốc gia, chủng tộc cũng lần lần phai mờ dần. Cùng với sự tiếp tay của các nước hậu kỹ nghệ, người dân ở các quốc gia đang phát triển ngày càng được tiếp thu và hấp thụ thêm nhiều thành quả của tiến bộ khoa học để cải thiện xã hội từng bước một. Tuy nhiên, cũng cần nhận rõ thêm nhiều mặt tích cực và tiêu cực của một số quốc gia Tây phương trong cung cách hành xử trước xu hướng trên để có cái nhìn khái quát về các phương cách tiếp cận môi sinh cho toàn cầu. Xin đan cử ra đây hai trường hợp điển hình để từ đó lãnh đạo Việt Nam có thể chuyển hóa được những nét cực đoan trong việc quản lý và phát triển đất nước. Đó là trường hợp nước Đức và Pháp.

Pháp quốc và người Pháp luôn luôn tự hào là chiếc nôi của cách mạng dân chủ trên thế giới qua cuộc nổi dậy phá ngục Bastille năm 1789. Họ đã kiêu hãnh vì có một nền văn hóa ưu việt và một ngôn ngữ văn minh, tiến bộ nhất trên thế giới. Nước Pháp cũng là một trong những quốc gia đầu tiên phát triển công-kỹ-nghệ và có nền kinh tế thịnh vượng hàng đầu.

Nhưng đứng trước nhu cầu toàn cầu hóa, người dân Pháp đã thể hiện một số mặt tiêu cực có thể làm chậm lại tiến trình đi đến gần nhau của các dân tộc trên thế giới để cùng giải quyết những vấn đề chung cho nhân loại. Các thí dụ điển hình sau đây liên quan đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao dịch quốc tế đã nói lên tính “cô lập” tiêu cực của người Pháp.

Kể từ năm 1994, chính phủ Pháp đã dự phóng tính toàn cầu hóa của nhân loại nên khuyến cáo về việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục, dịch vụ công cộng và trao đổi quốc tế. Claude Allegré, Bộ trưởng giáo dục Pháp thời bấy giờ đã yêu cầu các nhà nghiên cứu khoa học trong khi viết luận án hay báo cáo nên trình bày bằng Anh ngữ. Nhưng cho đến năm 2010, hầu hết các tài liệu nghiên cứu từ Pháp vẫn được soạn thảo bằng Pháp ngữ; và đây là một cản ngại lớn cho thế giới và nước Pháp trong việc trao đổi các tiến bộ của khoa học. Hiện tại chỉ còn trên dưới 130 triệu người nói tiếng Pháp so với hơn 6 tỷ người hiện diện trên thế giới.

Tính cực đoan còn thể hiện trong việc trao đổi trong lãnh vực hàng không. Các phi công Pháp vẫn tiếp tục cưỡng lại lệnh của chính phủ đề ra trong luật an toàn không lưu vào tháng 2/2000 về việc sử dụng Anh ngữ khi đi và đến phi trường De Gaulle (Paris). Hai sự kiện kể trên thể hiện rõ tinh thần tự mãn và tự ái dân tộc cực đoan của người Pháp. Kết quả là hiện tại nước Pháp không còn ảnh hưởng mạnh về kinh tế-chính trị-văn hóa đối với các quốc gia đang phát triển như ngày xưa nữa. Vị trí của nước Pháp đã tụt xuống hàng thứ yếu cùng với các trì trệ về kinh tế-xã hội mà chính phủ Pháp đang phải đương đầu.

Trước kia, ảnh hưởng của văn hóa và ngôn ngữ Pháp rất quan trọng đối với Việt Nam. Vào giữa thế kỷ 20, có thể nói rằng hầu hết trí thức từ Bắc chí Nam đều sử dụng Pháp ngữ một cách rành rọt. Cho đến ngày nay, trong kỳ thi tốt nghiệp trung học toàn quốc (2000) có 528.380 thí sinh, trong đó có 471.585 thí sinh chọn môn Anh ngữ làm ngoại ngữ chính, trong khi chỉ có 18.006 chọn Pháp ngữ và 5.801 chọn tiếng Nga. Số thống kê trên đã giảm rất nhiều cho kỳ thi trung học năm 2010.

Ngay trong lãnh vực điện toán, cũng vì tính cực đoan trên mà người Pháp đã để lộ ra những yếu điểm trong việc chuyển ngữ các danh từ thông dụng quốc tế mà đôi khi không hiểu ý nghĩa thực sự của các danh từ trên. Đại để như: CD rom ra Cédérom, start-up ra jeunes pousses(?),và lố bịch hơn nữa là stock option ra option sut titre(?). Theo lịnh của Liên Hiệp Âu châu (7/2002), các nhãn hiệu thực phẩm sản xuất từ Pháp phải ghi chỉ dẫn, công thức, liều lượng. .. bằng Anh ngữ. Điều nầy làm cho người Pháp càng thêm khó chịu.

Trên đây là những nét đặc thù thể hiện tính cực đoan của dân Pháp và đang là một cản lực lớn cho sự phát triển của đất nước nầy.

Trở về nước Đức, từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ, người dân và chính phủ Tây Đức trong vòng 10 năm phải cưu mang hai vấn nạn chính:

· Một Đông Đức nghèo nàn và hạ tầng cơ sở cùng hệ thống công-kỹ-nghệ không còn phù hợp với cung cách phát triển mới.

· Dân sinh và dân trí người Đông Đức ở dưới mức trung bình quá xa so với người Tây Đức. Thêm nữa, sau gần 50 năm dưới chế độ Cộng sản, người dân Đông Đức không còn thấy một định hướng mới nào khác cho xã hội trước sự phát triển vượt bực của người anh em từ bên kia bức màn sắt.

Đứng trước tình trạng đó, thay vì hành sử với cung cách của kẽ chiến thắng về kinh tế và chính trị đối với người chiến bại, chính phủ và người dân Tây Đức đã mở rộng vòng tay cứu vớt đồng bào ruột thịt Đông Đức. Họ đã tân trang, chuyển vận các công nghiệp sạch qua Đông Đức cùng với việc hàn gắn vết thương ý thức hệ do một chủ thuyết không tưởng đã tạo ra sự nghèo đói cho phân nữa phần đất nước.

Theo ước tính, Tây Đức dự trù chuyển dịch từ 200 đến 300 tỷ Mỹ kim trong vòng 20 năm tới để vực dậy kinh tế và xã hội ở miền đất nghèo khó nầy. Vì vậy khoảng cách kinh tế-kỹ thuật giữa hai miền đất nước lần lần được thu hẹp lại. Hai người anh em ruột thịt Tây và Đông Đức lần lần hội nhập vào sinh hoạt của một tổ quốc chung: quốc gia thống nhất Đức Quốc.

Về cung cách hành sử quốc tế, nước Đức thống nhất đã có tầm nhìn toàn cầu hóa bằng cách sáng lập và khai sinh đồng tiền chung cho Âu Châu: Euro Dollar. Nước Đức thống nhất không còn đứng về phía cánh hữu cực đoan và chính phủ Đức hiện tại đã chuyển vận theo xu hướng toàn cầu hóa về lập trường chính trị dưới sự lãnh đạo của đảng ôn hòa.

Về đối nội, nước Đức thống nhất đã xem đồng bào chính quốc như một. Về đối ngoại họ đã có cái nhìn vị tha hơn đối các quốc gia đang phát triển bằng cách mang đến cho các quốc gia nấy nhiều khoảng viện trợ không bồi hoàn và xóa nợ.. . hơn là tận dụng và bốc lột kinh tế-lao động.

Đức quốc trong chiều hướng tiếp cận tương lai như trên đã có một tầm nhìn thật dân tộc, nhân bản và một hướng đi khai phóng phù hợp với nguyên tắc căn bản chân chính cho nhân loại để tiếp tục cuộc hành trình vào thế kỷ 21. Tinh thần dân tộc cực đoan của người Đức, từng tự ví mình như một chủng loại siêu nhân, đã nhường bước cho khuynh hướng xích lại gần nhau trên thế giới.

Nhìn lại Việt Nam, chính quyền hiện tại vẫn tiếp tục giữ trong đầu ý tưởng siêu việt, đỉnh cao trí tuệ để điều hành đất nước mà không chịu mở rộng tầm nhìn ra thế giới bên ngoài: thế giới của sự hợp tác hài hòa và tôn trọng lẫn nhau. Một nước Việt Nam thống nhất nhưng đâu đây vẫn còn phảng phất mối ngăn cách vô hình của người chiến thắng và kẽ chiến bại!

Kết quả đã cho thấy trước mắt là, sau 35 năm thống nhất đất nước, cho dù có ý nghĩ hết sức lạc quan, Việt Nam không còn thể hiện một chỉ dấu nào chứng nghiệm cho khuynh hướng đứng đắn trong việc phát triển quốc gia nữa. Lãnh đạo không tìm ra được hướng đi khả dĩ phù hợp cho sự hồi sinh của Việt Nam. Và người dân, như hàng thần lơ láo, quanh quẩn lo toan cho cuộc sống hàng ngày (mà vẫn chưa xong!) thì đâu còn trí tuệ nào nữa để nghiền ngẫm đến việc bồi đấp quốc gia.

Lãnh đạo Việt Nam đã áp dụng chủ nghĩa hình thức thể hiện qua hầu hết các điều luật, biện pháp, quy định.. . để quản lý đất nước. Nhân danh dân tộc, nhân dân để bào cha cho những thất bại trong chính sách. Do đó, dân có nghèo thêm, có khổ thêm cũng vì những hình thức luật pháp, hình thức dân chủ, hình thức tự do qua các Nghị Quyết. Làm sao người dân cảm thấy an toàn được khi mà đại đa số không đủ ăn, đủ mặc, không đủ nước sạch để sinh hoạt, nấu nướng, không đủ không khí trong lành để th, vân vân và vân vân. Làm sao người dân gắn bó với quê hương và chế độ khi những điều kiện tối thiểu cho một cuộc sống bình thường không thể có được trên mãnh đất thân yêu nầy.

Nước Việt Nam đã chính thức thống nhất từ năm 1976 về phương diện địa dư, nhưng tình tự dân tộc vẫn còn bị ngăn chặn do những rào cản vô hình. Người dân miền Nam vẫn còn mang nhiều uẩn khúc trong cuộc sống hàng ngày từ đó đến nay. Trái lại người miền Bắc, đa số còn đang hả hê với cuộc giải phóng miền Nam, mải mê tiếp thu xã hội vật chất trong Nam mà trong suốt cuộc chiến cũng như trong hiện tại, họ vẫn không thể hình dung được cái di sản “vĩ đại” của miền đất hứa nầy.

Đứng trước xu hướng toàn cầu hóa trên thế giới, báo Nhân Dân ngày 6/7/2000 đã nói thay quan điểm của đảng Cộng sản Việt Nam trước sức ép của toàn cầu hóa:”Toàn bộ vấn đề là ở chỗ, chúng ta, những người xây dựng chủ nghĩa xã hội, có thái độ và cần hành động như thế nào trước quá trình toàn cầu hóa? Câu trả lời của chúng ta là: “hội nhập”, “mở cửa”, dĩ nhiên trên cơ sở nguyên tắc của chúng ta, vì lợi ích của chúng ta, và trong hội nhập phải chủ động, phải căn cứ thực lực và không thể không cảnh giác, không thể quên đấu tranh, phải nên nhớ hội nhập mà không hòa tan”.

Tuy nói như thế, nhưng cuối cùng bài viết cũng phải thú nhận để gở gạt rằng:”Nếu không tranh thủ được những cơ hội do toàn cầu hóa mang lại, dù là toàn cầu hóa do chủ nghĩa tư bản chi phối nhu ngày nay, thì chúng ta không thể xây dựng chủ nghĩa xã hội được”. Cơ hội đó đã xảy ra ngày 13/7/2000 sau khi Hoa Kỳ và Việt Nam ký kết hiệp ước thương mại giữa hai nước.

Mãi cho đến nay, cơ hội trên chỉ thể hiện ”cuộc tranh thủ của Việt Nam qua việc thực hiện “toàn cầu hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Và hiện tại, Việt Nam đã có quá nhiều thay đổi theo chiều nghịch. Quả thật vậy, sau hơn 20 năm áp dụng hiệp ước thương mại Mỹ-Việt, hiện tại vẫn còn quá nhiều phức tạp và rào cản trong thủ tục, nguyên tắc, luật lệ mà phía Việt Nam phải còn mất nhiều thời gian mới có thể thẩm thấu được “cuộc chơi của thế giới”.

Với cung cách suy nghĩ trên cộng thêm tâm khảm của một não trạng nghi ngờ, mặc cảm phải tỏ ra chủ động và hội chứng chếch choáng hơi khói chiến tranh vẫn còn đâu đây, làm sao Việt Nam có thể hội nhập vào cộng đồng thế giới và tạo được một sự thông cảm toàn diện và đồng thuận ở cả hai mặt chính quyền và người dân như trường hợp của nước Đức được.

Làm sao có thể chấp nhận được khi Việt Nam qua báo Sàigòn Giải phóng ngày 30/8/2002 đã nhận định về Hội nghị Thượng đỉnh về sự Phát triển Bền vững tại Johennesburg (Nam Phi) qua tuyên bố sau:”Các nước phương Tây định dùng viện trợ để trốn tránh trách nhiệm”. Qua nhận định trên, các quốc gia đã phát triển là nguyên nhân và phải có trách nhiệm cho việc suy thoái môi trường trên thế giới và phải có bổn phận “viện trợ” cho các quốc gia đang phát triển. Sự đổ lỗi nầy thể hiện não trạng bệnh hoạn của một lớp người không còn đủ trí tuệ và lương tri để quản lý một đất nước đứng trước xu hướng toàn cầu hóa đang tiếp tục xảy ra hàng ngày.

Trách nhiệm thuộc về ai?

Tất cả những bất ổn, nghịch lý phân tích trên đây cho chúng ta nhận thức được một cách rõ ràng ai là người chịu trách nhiệm trong vấn đề quản lý đất nước. Đương nhiên, nhà cầm quyền hiện tại phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về tình trạng môi trường ngày càng đi xung hiện nay. Hơn một phần tư thế kỷ sống trong hòa bình, thiết nghĩ thời gian cũng đủ dài để thiết lập một xã hội ổn định cho Việt Nam. Nhưng tiếc thay, điều đó không xảy ra.

Hiện tại, trong nhiều cảnh vực kinh tế-khoa học-kỹ thuật-môi sinh, thế giới đanh chuyển mình để biến thành một quốc gia lớn, một trật tự mới đang thành hình. Trong bối cảnh đó, ngày càng thấy rõ ràng mọi người đều có trách nhiệm. Những gì xảy ra tại Tây Tạng, Vân Nam đều trực tiếp ảnh hưởng đến ĐBSCL. Rốt ráo hơn nữa, mọi người Việt đều có trách nhiệm về tình trạng tụt hậu của Việt Nam.

Càng thiết tha, càng gắn bó với quê cha đất tổ càng thấy mình có trách nhiệm. Trách nhiệm không là than thân trách phận, trách ông Trời không cho mình gặp thời. Trách nhiệm không là thái độ đời đục ta trong, ẩn thân trong chùa, trong câu kinh tiếng kệ, trong nhà thờ, trong những thành trì luân lý, hoặc sớm tối trải lòng mình trong thi tửu. Trách nhiệm là một nhận thức thực tiễn, và trên căn bản đó có những thái độ và hành động tích cực hơn cho Đất và Nước. Nói lên tiếng nói, tạo một âm vang, khuếch đại một xu hướng, tạo dựng sức ép, nhưng nhất thiết, không đổ lỗi cho người khác để tự dối mình, hoặc trốn tránh thách nhiệm của mình.

Có một đảng mạnh có kỷ luật, có những cán bộ tiên phong, có một quá trình thử thách nhiều thập niên, có 2.479.717 đảng viên là một điều tốt (thống kê Đại hội đảng kỳ IX)(Hiện tại ước tính trên 3 triệu đảng viên, và đang chuẩn bị cho đại hội đảng vào năm 2011). Những đảng viên ấy đã biến thành một số quan lại của một triều đình vua chúa, đứng ngoài luật pháp, tham ô và lạm quyền, nhất nhất một chiều làm thui chột ý chí và lòng phấn đấu vươn lên của mọi tầng lớp dân chúng. Cả nước chỉ có hơn ba triệu người có quyền dám nghĩ, nhưng nhưng chỉ một thiểu số nhỏ trên đây có quyền dám nói.

Trong hơn ba triệu người nầy, đa số vì miếng đỉnh chung, vì sự tiến thân và an ninh bản thân và gia đình đã trở thành a dua, nương thời, nương lúc. Cho nên cuối cùng rồi, cũng không dám nghĩ, không cần nghĩ và nói xuôi chiều cho khỏe thân. Chỉ còn lại một thiểu số hiếm hoi, 1170 đại biểu, 160 ủy viên trung ương đảng và 15 ủy viên chính trị bộ, dầu có thông minh tuyệt đỉnh, dầu có trí tuệ tuyệt vời, thì đương nhiên quốc gia phải èo ọt mà thôi.

Nhìn lại đất nước, với hơn 50% lực lượng lao động thuộc thành phần trẻ tuổi, chúng ta đã có một trợ lực lớn có khả năng đưa đất nước lên cao. Tuổi trẻ Việt Nam, sau một giai đoạn ngắn tiếp cận với phong cách hành xử và giao thương quốc tế đã hiểu thêm và hiểu cặn kẽ về tư do dân chủ. Từ đó tinh thần quốc gia dân tộc sẽ tăng trưởng nhanh chóng trong thành phần nầy.

Tuổi trẻ Việt Nam mong mỏi có một đời sống kinh tế-tinh thần-tâm linh tương xứng với các đóng góp của chính mình. Những rào cản ngăn cách trong tôn giáo hay địa phương sẽ không còn là một chướng ngại để rồi cùng ngồi lại với nhau, không như các thế hệ cha ông trước kia. Những cảm xúc trong tư tưởng, vết hằn trong quá khứ sau cuộc qua phân của đất nước phải nhường bước cho lối nhìn tích cực về triển vọng tương lai của quê hương. Do đó, các mỹ từ “vì thế hệ mai sau, vi chủ nghĩa anh hùng” không còn là một xúc tác tốt để hấp dẫn tuổi trẻ Việt Nam nữa.

Tuổi trẻ Việt Nam trân trọng 4000 năm văn hiến của tiền nhân, nhưng tuổi trẻ hôm nay không vì niềm tự hào đó mà dừng chân lại để chiêm ngưỡng quá khứ. Tuổi trẻ Việt Nam đang lên đường. Đừng cho đó là một cản ngại lớn cho sự bền vững của chế độ mà nên cùng nhau thay đổi đường lối và chính sách thích hợp với xu hướng toàn cầu. Để rồi cùng nhau tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường làm việc thích ứng với tính năng động và hiếu học của tuổi trẻ. Có như thế, cơ hội phát triển và triển vọng tương lai sẽ giao thoa cùng đời sống kinh tế-tinh thần và từ đó, tuổi trẻ sẽ mạnh bước tiến lên. Cũng xin đừng rập khuôn tin tưởng vào văn hóa “coca cola” của Hoa Kỳ để mong được phát triển nhanh và đổi lấy một xã hội bất ổn về tinh thần.

Thay lời kết

Các chuyển hướng phát triển và thành quả của Chí Lợi qua việc giải quyết các vấn nạn môi trường trong những năm gần đây thật đáng cho chúng ta suy gẫm. Từ các biện pháp bảo vệ nguồn không khí, nước, rừng, đất, và nhất là việc quản lý phế thải kỹ nghệ. Tất cả đều đi theo đúng tiến trình phát triển phải có và đang được áp dụng cho những quốc gia hậu kỹ nghệ. Độc đáo nhất là bài học dân chủ của Chí Lợi: Để cho nhân dân trực tiếp tham gia và góp tiếng nói vào công cuộc phát triển quốc gia.

Chí Lợi đã nhận thức được thế mạnh của người dân và đủ can đảm mở rộng cửa để cho người dân có điều kiện tiếp tay với lãnh đạo trong công cuộc phát triển quốc gia. Thêm nữa, Chí Lợi đã xây dựng được một hệ thống tư pháp độc lập, do đó tòa án có toàn quyền và có uy tín để đứng ra điều giải những mâu thuẫn hay bất đồng giữa chính phủ và người dân. Lãnh đạo Chí Lợi vô hình chung đã đứng về phía dân chúng. Làm được như thế, Chí Lợi sẽ có trên thuận Thiên, dưới thuận Nhân, và không sớm thì muộn, Chí Lợi sẽ có những bước tiến nhảy vọt để rồi hòa mình theo cung cách toàn cầu hóa của thế giới.

Việt Nam cần có những gương soi như Chí Lợi. Lãnh đạo Việt Nam cần có đủ đm lược để tiếp nhận ý kiến đóng góp của người dân trong việc quản lý đất nước nhất là phải biết chấp nhận lỗi lầm để dứt khoát có những thay đổi thích hợp và đúng lúc, hợp với lòng người, hợp với bối cảnh, và hợp với thiên nhiên. Nên nhớ Phát triển (Nhân) và Ô nhiễm môi trường (Quả) phải được cân bằng. Nếu tạo được Nhân lành như phát triển có kế hoạch, có kiểm soát, và sử dụng công nghệ sạch, thì chắc chắn sẽ gặt hái được Quả lành do môi trường ít bị ô nhiễm. Đây là cái lý đương nhiên mà con người không thể nào làm khác hơn được.

Thời gian đã quá dài để cho dân tộc Việt phải chịu nhiều can qua qua các vấn nạn trong đời sống kinh tế, xã hội, và tâm linh rồi. Đã đến lúc cần phải chấm dứt tình trạng trên. Muốn tìm câu giải đáp cho bài toán phát triển Việt Nam, không cần phải có một trí tuệ ưu việt mà chỉ cần những trí tuệ bình thường với một tấm lòng thủy chung với đất nước.

Mọi chế độ độc tài trên thế giới sớm muộn gì cũng phải cáo chung dù chúng thể hiện dưới bất cứ hình thức nào: quân phiệt, cá nhân, tập đoàn hay đảng phái. Đây là một chắc chắn nếu không nói là chân lý. Vấn đề đặt ra nơi đây chỉ là thời gian: chậm hay mau tùy theo sức chịu đựng của người dân và trình độ dân trí của từng quốc gia.

Nếu muốn còn được tồn tại, các chế độ độc tài phải thay đổi theo xu hướng của thời đại, ứng xử hợp với chiều hướng tiến bộ của nhân loại. Bưng bít, đóng cửa không còn là rào chắn an toàn, che chở cho chế độ được nữa trong thế kỷ 21 nầy, kỷ nguyên của tin học. Đòi hỏi một sự thay đổi quả thật khó cho các nhà độc tài, một khi cơn đói quyền lực đã ăn sâu vào tận xương tủy. Đã đến lúc quyền lực cần phải nhường chỗ cho đối thoại và hợp tác hài hòa với dân chúng. Sự thay đổi sẽ càng khó hơn nữa nếu sẽ phải đến từ mọi tầng lớp nhân dân, nhất là người dân Việt Nam vốn đã phải chịu triền miên nhiều áp lực khắc nghiệt của chế độ.

Quản lý môi trường đúng đắn thích hợp với điều kiện Việt Nam là một bước chuyển đổi để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân. Điều nầy có thể giải tỏa được những đối kháng bất khả phân giữa hai đối cực: bạo quyền và dân chúng trong nước. Những tấm gương của Nam Dương, Phi luật Tân, Tiệp Khắc cách đây không lâu đã chứng minh rằng sức mạnh của nhân dân có thể một sớm một chiều thay đổi cả một chế độ. Theo lời ông Lê khả Phiêu phát biểu trong cuộc hội thảo quốc tế về Việt Nam tại Hà Nội (9/2000) thì giải quyết vấn nạn phát triển/môi trường phải là “tri thức hóa dân tộc”, “nắm ngọn cờ khoa học như nắm ngọn cờ dân tộc”.

Thiết nghĩ tri thức hóa chắc chắn không phải là gắn học vị, học hàm cho các ủy viên, cán bộ đảng, ban ngành, chức sắc địa phương. Nắm ngọn cờ khoa học chắc chắn không là thu lượm một vài kiến thức khoa học, có khi xưa cổ lỗi thời, rồi tóm lược vào một vài khẩu hiệu, lấy đó làm cơ sở để “dám nghĩ bậy, và dám làm bậy”, buộc dân làm, để dân đói.

Nắm ngọn cờ dân tộc không có nghĩa là “nhà nhà là tử sĩ”, “con mất cha, vợ mất chồng”, đất nước điêu tàn, gia đình tan nát, càng không có nghĩa là cầm tù hàng triệu người, đưa hàng triệu người ra biển cả, công khai bán nô lệ, bán phụ nữ (dưới hình thức nầy hay hình thức khác), kỳ thị trẻ con, kỳ thi đạo giáo...

Tri thức là thật sống, là biết mình, hiểu người, là cách nghĩ suy, là thấy người mà nhìn lại mình. Hãy học gương Chí Lợi: thời nào và nơi nào có độc tài, chuyên chế, áp đặt, là có nghèo đói, hỗn loạn và trì trệ trong phát triển. Trái lại, thời nào, nơi nào có dân chủ và tự do, nơi đó có sự đồng thuận của đa số người dân, nơi đó có tiến bộ, có phát triển, cuộc sống mỗi lúc mỗi tốt hơn. Khi người dân thấy mình mật thiết với đất nước, với làng mạc của mình, khi người dân thấy mình có một vai trò, có quyền và trách nhiệm tham gia vào việc xóm làng công cộng, việc quốc gia, thì họ đương nhiên sẽ giữ cho môi trường sống của họ được tốt đẹp, họ gắn bó với chế độ, với đất nước làng mạc của họ.

Mỗi người mỗi vẻ, mỗi nước mỗi khác. Tuy nhiên, trong cái riêng có những nét chung, bài học Chí Lợi là một bài học quí giá cho người có trách nhiệm suy gẫm trong bối cảnh bế tắc hiện nay của Việt Nam.

Phát triển quốc gia mà không đi kèm với quản lý và kiểm soát môi trường sẽ đưa đất nước đến tình trạng kiệt quệ về tài nguyên và môi trường thoái hóa. Phát triển quốc gia mà không đi kèm với dân chủ hóa và nhân quyền hóa xã hội sẽ đưa đất nước kề cận với nạn diệt vong. Vì khi cánh cửa dân chủ chưa mở ra được thì tất cả tài nguyên, tài sản quốc gia sẽ tích lũy trong tay của một nhóm thiểu số; do đó phúc lợi nầy sẽ không được chia xẻ đồng đều và công bằng theo nhu cầu của xã hội. Và đây cũng là bế tắc cần phải tháo gở của Việt Nam hiện tại.


.

Tập thể nhậu chúng tôi lâu nay xem chừng có vẻ mất khí thế… nhậu, không phải vì thiếu mồi thiếu Bia. Lẩu dê , Bia két đầy ra làm sao mà thiếu, chỉ tội thiếu đề tài nói dóc trong bàn nhậu. Thật sự mà nói đề tài thì đầy ra đó chỉ tội là không dám nói thẳng nói to mà thôi – nhậu mà không nói thẳng nói to thì đừng nhậu cho nó khỏe- Cứ như chuyện mất đất mất đảo đó, tha hồ mà nói nhưng vừa uống vừa bàn vừa lấm la lấm lét nhìn có ai nghe lén không thì cũng hết hứng. Cứ như Trường Sa-Hoàng Sa là của Việt Nam mà cứ to nhỏ TS-HS-VN vì sợ thì thôi đi về nhà ngủ sướng hơn.

May mắn là tuần này tập thể nhậu nói dóc của chúng tôi lại có đề tài mới tha hồ vừa uống vừa bàn. Số là có Ngài nào đó đi tham quan nước ngoài về, Ngài „nổ“:

„Các nước có tàu cao tốc là các nước có IQ cao…“. Đang hớp ngụm Bia nghe Ngài nói như vậy tôi nín thở vì không hiểu, bia bọt tràn lên lỗ mũi sặc sụa một hồi.

„Tôi từng đi nước ngoài, từng đi tàu cao tốc, sướng lắm êm lắm. Bà mẹ đi làm, em bé đi học bằng tàu cao tốc…“. Đang hớp ngụm Bia nghe Ngài nói như vậy tôi cười thắt ruột, bia bọt phun đầy bàn.

„Nước ta giàu… trên đã nói thì ta phải quyết tâm chính trị là làm được thôi…“. Chưa hết, lại thêm có Ngài nào đó vung vít: „Ta nghèo nhưng đánh văng đế quốc Mỹ nay chỉ có vài chục tỷ Đô la mà „béo“ gì mà làm không được…“ Đang hớp ngụm Bia nghe các Ngài nói như vậy tôi hết cười nổi, ôm mặt khóc ròng.

Chắc là các Ngài này có IQ cao lắm – IQ không cao làm sao lên được chức Ngài?- nên Ngài nói có vẻ khó hiểu. Các nước có IQ cao là có tàu cao tốc nhưng không hiểu làm sao mình biết được nước nào có IQ cao? Albert Einstein có IQ cao, nhậu tui có IQ thấp thì chuyện không lạ, lạ là Tàu có IQ cao hơn nước Anh vì Tàu có tàu cao tốc mà Anh quốc thì lại không? Kiểu này thì phải hỏi xin Ngài bày cho biết Ngài học ở đâu mà biết mấy chuyện hay như vậy hay những con số thống kê đó lại là chuyện bí mật quốc gia nói ra không tiện?.

Nói như Ngài thì gần hết thế giới này kể cả Việt Nam ta là có IQ thấp, nói thẳng ra là NGU, vì không có tàu cao tốc?

Nói như Ngài thì các cậu ấm con quan đang ăn chơi trác táng dần dần trở thành các cậu có IQ cao hết vì cha mẹ sẵn tiền của dân mua siêu xe cho các cậu xài? Phước nhà đã đến, dần dần nước ta sẽ đầy rẫy Albert Einstein!

Đúng là những nước hiện đang có tàu cao tốc là những nước có tiền nhưng từ chuyện anh có tiền biến thành anh có IQ cao thì lại là chuyện khác. Cũng như ngược lại cố đem thân đi xin chỗ này vay chỗ kia để có tàu cao tốc để một ngày nào đó trở thành một nước có IQ cao lại là chuyện càng khác nữa.

Nhưng biết đâu Ngài lại có lý vì các nước có „IQ cao“ như Pháp như Đức (theo lời của Ngài“) chẳng hạn họ tính toán đâu ra đó. Như Đức, Nhật chẳng hạn, là những nước thua trận bị quân đồng minh đánh cho tơi tả về sau được viện trợ rồi cũng phải vay mượn để đầu tư làm kinh tế. Trước khi có tàu cao tốc họ đổ ra không biết bao nhiêu tiền đầu tư cho cơ sở hạ tầng. Đã nói đến cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhân dân và kinh tế thì không biết bao nhiêu tiền cho đủ. Đường xá rộng rãi không có cái cảnh mới mưa giông mười lăm hai mươi phút đã ngập lụt. Đường xa lộ thênh thang hàng vạn cây số để vận tải hàng hóa chứ cái kiểu xe vận tải mà nằm kẹt cứng trong đống xe Honda bóp còi inh ỏi phun khói ngập trời hoặc là đoạn đường có trăm cây số mà cần cả hai tiếng đồng hồ chạy xe thì làm sao mà buôn bán lấy tiền trả nợ? Sang đến hệ thống xe Bus, xe điện ngầm, xe lửa bình thường – không phải cao tốc- thấy mà khiếp. Nhanh chóng tiện lợi và đúng giờ. Giờ đến giờ đi tính toán chính xác từng phút. Điện nước thì tha hồ không có cảnh hôm nay cúp điện nguyên ngày, ngày mai cúp nửa ngày, ngày mốt có điện nguyên ngày vì cúp điện như thế thì làm sao mà làm kinh tế?

Có cơ sở hạ tầng mà không có con người phục vụ thì cũng như đem của đi vất. Hệ thống giáo dục thụ hưởng biết bao nhiêu tiền của quốc gia. Người ta xem đầu tư cho con người là trọng cho nên đi học khỏi phải tốn tiền, yên tâm lo học. Không có cái chuyện con cái phải bỏ học vì cha mẹ không có tiền đóng học phí cho con…

Có con người mà không có môi trường sống trong sạch, sức khỏe yếu kém thì cũng không được vậy là người ta lại đầu tư tiền của nhằm tạo môi trường xanh sạch, bảo vệ thú vật, bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước …

Hạ tầng cơ sở vật chất nói chung và hạ tầng cơ sở giao thông nói riêng nhằm phục vụ nền kinh tế của các nước kỹ nghệ giàu có là cần thiết và bắt buộc phải có trước những con tàu cao tốc. Có hạ tầng cơ sở vật chất và con người tốt mới tạo ra một nền kinh tế độc lập vững mạnh, tạo nên của cải vật chất để phục vụ các nhu cầu cần thiết khi đó mới cần có những đoàn tàu cao tốc chứ không thể ngược lại như các Ngài phán.

Để thuyết phục Ngài còn phán „tàu cao tốc để chở các em đi học, bà mẹ đi làm…“. Đúng là Ngài „nổ như tạc đạn“. IQ thấp như dân nhậu tui đây cũng biết trẻ con ở trung tiểu học người ta đi học theo khu vực, ở đâu học đấy chứ không có cái chuyện trường chuyên trường tuyển, bỏ chỗ này đi học chỗ kia mà lại cần đến tàu cao tốc? Tàu cao tốc chạy mỗi trạm hai ba trăm cây số mà Ngài lại „lộn“ với xe điện ngầm hay là xe lửa chợ, trời ạ. Riêng sinh viên thì đi học xa nhà là chuyện có thật nhưng lấy tàu cao tốc đi học hàng ngày thì lấy giấy nhật trình cắt ra làm tiền mà mua vé xe?

Cộng thêm vào đó còn có Ngài PTT đưa ra những con số nhằm thuyết phục người dân được đánh giá là lối lạc quan tếu (Cách đây chừng hai năm khi còn là Bộ trưởng tài chánh, ông PTT này đã từng chứng minh khả năng thiên tài về dự đoán thị trường chứng khoán trong nước. Càng nghe ông dự đoán số Index của thị trường chứng khoán càng "leo" từ 1000 điểm "leo" dần xuống và nằm mãi tại chỉ số 600 điểm!): "...Theo số liệu Phó thủ tướng công bố, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm nay ước đạt 106 tỷ USD. Với đà tăng trưởng hiện nay, đến 2020, GDP sẽ đạt gần 300 tỷ USD; 2030 là 700 tỷ USD; 2040 đạt 1.200-1.400 tỷ USD và đến 2050 sẽ gấp đôi số đó. GDP bình quân đầu người đến 2050 dự kiến lên 20.000 USD, thay vì mức hơn 1.000 USD hiện nay. Nếu cứ lấy ngưỡng an toàn vay nợ là 50% GDP, đến 2020, Việt Nam có thể vay 150 tỷ mà vẫn an toàn...("theo http://www.vnexpress.net/GL/Kinh-doanh/2010/06/3BA1CDF5/). Mới phớt qua những con số của Ngài đưa ra người ta có thể cười nhưng nghiệm cho kỹ thì phải rơi nước mắt. Tối thiểu là 40 năm nữa tức là 75 năm sau khi chiến tranh hoàn toàn chấm dứt Việt Nam ta vẫn là một con nợ tốt! Nói là tối thiểu vì có ai bảo đảm là trong vòng vài chục năm nữa nước ta vẫn giữ mức tăng trưởng như hiện nay như Ngài dự đoán? Cách đây vài năm mức tăng trưởng của Việt Nam ở ngưỡng cửa hai con số nay trụt xuống chừng 6, 7%. Đừng quên rằng, một nước Đức "IQ cao" sau nữa thế kỷ phát triển mang đầy tính huyền thoại nay đang có mức phát triển 1 hoặc 2% hàng năm.

Quá trình xây dựng hạ tầng cơ sở vật chất để trở thành một nước có „IQ cao“ (theo lời của Ngài) là một quá trình cam go đầy kiên nhẫn không thể đi ngang về tắt được. Để thực hiện quá trình xây dựng này người ta thực sự phải cần đến „quyết tâm chính trị“, quyết tâm dùng tiền của của người dân để phục vụ người dân. Quyết tâm chính trị của họ được bàn cãi, thảo luận công khai. Quyết tâm chính trị của họ là làm sai thì bị phạt, bị đào thải, nó khác với „quyết tâm chính trị cứ làm, sai đâu sửa đó“, nó khác với loại „quyết tâm chính trị trên đã bảo thì dưới cứ việc làm theo“ mà các Ngài đã từng thực hiện một cách sai lầm như là những „quyết tâm chính trị“ đánh đổ tư sản mại bản, xóa giàu để cùng nghèo như nhau, đổi tiền, lập trạm ngăn sông cách chợ để cùng đói…

Quyền tự hào đánh thắng một đế quốc Mỹ to lớn là cái quyền của những người thắng trận không ai có thể ngăn cấm được nhưng tự hào đó cũng nên quên đi một khi hàng ngày phải ngửa tay xin tiền vay mượn của kẻ thua trận. Có vay thì có trả nhưng với GDP của một đất nước chừng 100 tỷ Dollar mà vay nợ đến hơn 60 tỷ làm tàu cao tốc để mong trở thành một nước có „IQ cao“, có nguy cơ bại sản để con cháu về sau phải gánh nợ mà cho đó là chuyện bình thường, cho rằng nợ đó chẳng bao nhiêu, thì chỉ có những đầu óc không bình thường mới „nổ“ lên như vậy mà thôi.

Khác với các Ngài „quan phụ mẫu“ hay chữ, ăn trên ngồi trốc, đám nhậu tụi tôi vì không có trình độ, có „IQ thấp“, khóc đó rồi cười thắt ruột cũng đó, chúng tôi có mạnh miệng lạm bàn những chuyện „quốc thái dân an“ có sai cũng không ai nỡ lòng mắng:

„Dốt mà bày đặt hay chữ“

No comments:

Post a Comment