Friday, February 18, 2011

VĂN HÓA TẾT

12 TẾT CỔ TRUYỀN VIỆT NAM

Nguồn gốc và ý nghĩa những từ ngữ Tết

Tết, Tết Nguyên đán, Tết Táo quân, Giao thừa... - những từ ngữ đã trở nên thân thuộc ấy lại có nguồn gốc rất thú vị, độc đáo và mang nhiều ý nghĩa phức tạp. Niềm vui năm mới của chúng ta sẽ trọn vẹn hơn khi tìm hiểu và cảm nhận những từ ngữ

Đối với người Việt Nam, tiếng Tết đã trở nên thân thuộc. Chúng ta gặp nó từ trong những câu tục ngữ, ca dao, dân ca mộc mạc đến những bài diễn văn trang trọng, từ những câu chuyện thường ngày đến lời cầu khấn trước bàn thờ linh thiêng... Không biết chính xác nó xuất hiện trong tiếng Việt từ bao giờ, chỉ biết nó vốn là một từ gốc Hán. Theo ngôn ngữ Hán, tiết có nhiều nghĩa. Nghĩa gốc của tiết là "mấu tre". Rồi nó dần chuyển nghĩa, chỉ sự tiếp nối giữa hai gióng cây, hai khúc, hai đoạn vật thể. Từ nghĩa này, nó tiếp tục mở rộng để chỉ thời điểm tiếp xúc giữa hai khoảng thời gian phân chia theo thiên văn - khí tượng trong năm, ví dụ như một năm chia làm 24 tiết (lập xuân, vũ thủy, kinh trập, xuân phân, thanh minh, cốc vũ, lập hạ, tiểu mãn, mang chủng, hạ chí, tiểu thử, đại thử, lập thu, xử thử, bạch lộ, thu phân, hàn lộ, sương giáng, lập đông, tiểu tuyết, đại tuyết, đông chí, tiểu hàn, đại hàn). Sau đó tiết chuyển thành nghĩa "ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng" - đây chính là nguồn gốc trực tiếp của Tết mà ta đang đề cập. Ngoài ra, tiết còn có nghĩa là bộ phận nhỏ của một chỉnh thể, khoảng, đoạn nhỏ, phẩm chất trong sạch, khảng khái...

Phần lớn tiếng Hán có phiên âm iê khi sang tiếng Việt biến thành ê: thiêm biến thành thêm, thiết (yến) biến thành thết (tiệc), chiết biến thành chết... Tiết cũng vậy, biến thành Tết. Ngoài nghĩa "ngày lễ, dịp cúng lễ, vui mừng" như tết Khai hạ, tết Thanh minh, tết Đoan ngọ, tết Trùng cửu..., trong tiếng Việt, Tết còn dùng để chỉ một dịp đặc biệt duy nhất đầu năm - như người ta thường nói: ăn Tết, đi Tết, chơi Tết, chúc Tết... Như vậy, từ danh từ chung, nó trở thành danh từ riêng (vì thế phải viết hoa). Nó là kết quả của sự rút gọn và biến âm từ xuân tiết trong tiếng Hán hay sự nói gọn từ Tết Nguyên đán (Tết Cả) trong tiếng Việt.

1. Tết Nguyên Đán


Một năm, người Việt có nhiều lễ, tết, riêng Tết Nguyên Đán (đúng mồng một tháng giêng âm lịch) là ngày tết lớn nhất nên còn được gọi là tất cả. Đây là thời điểm kết thúc mùa màng, mọi người rảnh rỗi nghỉ ngơi vui chơi, thăm viếng lẫn nhau... và cũng là lúc giao thời của đông tàn xuân tới.

Theo phong tục cổ truyền VN, Tết Nguyên Đán trước hết là tết của gia đình. Chiều 30 tết, nhà nhà làm lễ cúng "rước" gia tiên và gia thần, thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn. Trong 3 ngày tết diễn ra 3 cuộc gặp gỡ lớn ngay tại một nhà. Thứ nhất là cuộc "gặp gỡ" của các gia thần: Tiên sư hay Nghệ sư - vi tổ đầu tiên dạy nghề gia đình mình đang làm. Thổ công - thần giữ đất nơi mình ở và Táo quân - thần coi việc nấu ăn của mọi người trong nhà.

Thứ hai là cuộc "gặp gỡ" tổ tiên, ông bà... những người đã khuất. Nhân dân quan niệm hương hồn người đã khuất cũng về với con cháu vào dịp Tết.

Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Như một thói quen linh thiêng và bền vững nhất, mỗi năm tết đến, dù đang ở đâu làm gì... hầu như ai cũng mong muốn và cố gắng trở về đoàn tụ với gia đình.

>> Tết Nguyên Đán - Phần 1

>> Tết Nguyên Đán - Phần 2

>> Tết Nguyên Đán

>> Ngày xưa... Tết Nguyên đán

>> Tết Việt

>> Tết miệt vườn

>> Khai bút tân xuân, tranh Tết

>> Xuất hành và xin lộc đầu năm

>> Tại sao phải chọn người xông đất đầu năm

>> Lễ tổ tiên ngày Tết

>> Trồng cây nêu ngày Tết

>> Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?

>> Ngày Tết có những phong tục gì?
>> Vì sao kiêng hót rác trong ba ngày Tết?
>> Tại sao cúng giao thừa ở ngoài trời?

>> Truyền thống tết

>> Tết Nguyên Đán trên Thế Giới

2. Tết Khai hạ

Theo cách tính của người xưa, ngày mùng Một tháng Giêng ứng vào gà, mùng Hai - chó, mùng Ba - lợn mùng, Bốn - dê, mùng Năm - trâu, mùng Sáu ngựa, mùng Bảy - người, mùng Tám - lúa. Trong 8 ngày đầu năm cứ, ngày nào sáng sủa thì coi như giống thuộc về ngày ấy cả năm được tốt. Vì vậy, đến mùng Bảy, thấy trời tạnh ráo thì người ta tin cả năm mọi người sẽ gặp may mắn, hạnh phúc.

Mùng Bảy kết thúc Tết Nguyên Đán thì cũng là lúc bắt đầu Tết Khai hạ - Tết mở đầu ngày vui để chào mùa Xuân mới.

Theo tục lệ Việt Nam, ngày mồng bảy tháng giêng là ngày hạ cây nêu. Cây nêu trồng trong năm, khi sửa soạn đón tết cùng với cung tên bằng vôi trắng vẽ trước cửa nhà để "trừ ma quỷ", nay được hạ xuống.

Lễ hạ nêu còn được gọi là lễ Khai hạ. Nhân dịp này, ngoài lễ giữa trời cúng trời đất, người ta còn sửa lễ cúng Gia tiên, cúng Thổ côngvà thần tài. Thường sau ngày lễ này, mọi công việc thường xuyên mới được bắt đầu trở lại.

Tục hóa vàng và lễ khai hạ

Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

"Hoá vàng" là đốt các đồ "vàng mã" mà người ta bày cúng trên bàn thờ gia tiên trong dịp Tết.
"Vàng mã" thường là: giấy vàng, giấy bạc (là một thứ tiền giả vàng và bạc lá làm bằng giấy) vàng thoi (những thoi vàng giả làm bằng giấy), bạc thoị...Người ta tin rằng nếu đốt các đồ vàng mã này đi thì người chết ở thế giới bên kia mới nhận được những lễ vật của mình dâng cúng. Có người còn cẩn thận đổ một chén rượu cúng vào đống tro vàng mã để những đồ cúng không bị thất lạc khi chuyển cho người nhận! Cẩn thận hơn, người ta còn hơ các cây miá tươi trên ngọn lửa hóa vàng để các cụ (tức Tổ tiên) có gậy chống về .... âm phủ!

Ngày hoá vàng không nhất định mà tùy theo từng cảnh. Thường thì người ta hoá vàng vào ngày mồng 3 Tết, có nhà để đến mồng 7 hay mồng 10. Sau ngày lễ, mọi sinh hoạt trong nhà dần dần trở lại bình thường. Lễ hạ nêu thì được cử hành vào ngày khai hạ mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Sau ngày này thì xem như hết Tết.

>> Lễ hội khai hạ Mường Bi - Hòa Bình

>> Hà Nội: Tết "lại" tại những vùng ngoại thành
>> Đắk Lắk: Lễ Khai hạ đầu năm mới

>> Lễ Khai hạ tại Lăng Lê Văn Duyệt

3. Tết Thượng nguyên

Tết Thượng nguyên (Tết Nguyên tiêu) vào đúng rằm tháng Giêng-ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này phần lớn tổ chức tại chùa chiền vì Rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Thành ngữ: Lễ Phật quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng" xuất phát từ đó. Sau khi đi chùa, mọi người về nhà họp mặt cúng gia tiên và ăn cỗ.

  • Theo sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên không phải là một ngày lễ Phật. Trước đây chính là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua hội họp các ông Trạng để thết tiệc và mời vào vườn Thượng Uyển thăm hoa, ngắm cảnh, làm thơ. Tết cũng còn có một tên nữa là Tết Nguyên Tiêu.
>> Lễ dâng sao giải hạn vào ngày tết Nguyên Tiêu

>> Đi lễ dịp Tết Nguyên tiêu
>> Lễ hội dù tháng giêng và Tết Nguyên tiêu

>> Hội Tết Nguyên tiêu trên phố cổ Hội An

>> Tết Nguyên tiêu

>> Chùm ảnh Tết Nguyên tiêu ở châu Á

>> Hội Tết Nguyên tiêu trên phố cổ Hội An

>> Lễ Nguyên Tiêu (Lễ Thượng nguyên)


4. Tết Hàn thực

"Hàn thực" nghĩa là ăn đồ nguội. Tết này, vào ngày mùng Ba tháng Ba (âm lịch).

Thời Xuân Thu ở Trung Quốc, Công tử Trung Nhĩ (về sau là vua Tấn Văn Công) khi gặp cảnh loạn lạc, đói quá, được Giới Tử Thôi cắt thịt đùi mình nấu dâng cho ăn. Sau 19 năm phiêu bạt, Trung Nhĩ lại trở về nắm giữ vương quyền nước Tần. Vua ban thưởng cho tất cả những người đã cùng mình nếm mật nằm gai, nhưng lại quên mất Tử Thôi! Tử Thôi đưa mẹ vào sống ở núi Điền. Lúc vua nhớ ra, cho người tới mời mà không được. Vua sai đốt rừng để Tử Thôi phải ra. Nhưng Tử Thôi không chịu và hai mẹ con cùng chết cháy! Đau xót, vua sai lập miếu thờ trên núi. Hôm ấy đúng ngày mùng Ba tháng Ba.

Người đời thương Tử Thôi nên mỗi năm, đến ngày đó thì kiêng đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn.

Từ thời Lý (1010 - 1225) nhân dân ta đã tiếp nhập Tết này và thường làm bánh trôi, bánh chay để thay cho đồ nguội. Nhưng mục đích chủ yếu là để cúng gia tiên chứ ít ai rõ chuyện Giới Tử Thôi! Hiện nay, Tết này vẫn còn đậm nét ở miền Bắc, nhất là tại các vùng thuộc tỉnh Hà Tây.

>> Tại sao có "Tết Hàn Thực?"

>> Tết Hàn thực - "nhớ" bánh trôi bánh chay!

>> Tết Hàn Thực (Ngày Mồng 3 Tháng 3)

>> Bánh trôi “thời vụ”… Tết Hàn thực

>> Tết Hàn thực, bánh trôi, chay tưng bừng "xuống phố"

>> Tháng 3 mong chờ...

>> Chuyện ảnh: Ngày Tết Hàn thực

>> Tết Hàn thực và niềm nhớ...

5. Tết Thanh Minh

"Thanh Minh trong tiết tháng Ba
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh"
(truyện Kiều)

"Thanh Minh" có nghĩa là trời trong sáng. Nhân có người ta đi thăm mồ mả của những người thân. Tết Thanh minh - thường vào tháng Ba âm lịch - trở thành lễ tảo mộ. Đi thăm mộ, nếu thấy cỏ rậm thì phát quang, đất khuyết lở thì đắp lại cho đầy... rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.

>> Thanh minh

>> Tết Thanh Minh
>> Tết Thanh Minh của người Trung Quốc

>> Tiết Thanh minh (Từ mồng 5 Đến Mồng 10 Tháng Ba)


6. Tết Đoan ngọ

Tết Đoan ngọ (Tết Đoan dương) vào mùng Năm tháng Năm (âm lịch).

Khuất Nguyên - nhà thơ, một vị trung thần - do can ngăn vua Hoài Vương không được, đã uất ức gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy đúng là mùng Năm tháng Năm. Thương tiếc người trung nghĩa, mỗi năm cứ đến ngày đó, dân Trung Quốc xưa lại làm bánh, quấn chỉ ngũ sắc bên ngoài (ý làm cho cá sợ, khỏi đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa sông, ném bánh xuống cúng Khuất Nguyên. Ơở Việt Nam, ít người biết chuyện Khuất Nguyên, mà chỉ coi mùng Năm tháng Năm là "Tết giết sâu bọ"- vì trong giai đoạn chuyển mùa, chuyển tiết, dịch bệnh dễ phát sinh. Vào ngày này, dân gian có nhiều tục trừ trùng phòng bệnh. Lấy lá ngải cứu (một vị thuốc Nam), năm nào thì kết hình con vật tượng trưng năm đó (năm Thân - kết con khỉ và gọi là Hầu Tử, năm Dần - kết con cọp và gọi là Ngài Hổ...) treo lên giữa nhà để trừ tà. Về sau, khi có bệnh, lấy lá đó sắc làm thuốc. Lại có tục đi hái lá thuốc mồng năm (ích mẫu, mâm xôi, cối xay, vối) sắc uống vào giờ Ngọ, còn để dành nấu uống quanh năm.

>> Tết Đoan ngọ
>> Tết Đoan Ngọ bắt đầu từ giữa trưa

>> Tết Đoan Ngọ, Ý Nghĩa Và Tập Tục

>> Tết Đoan Ngọ (Ngày Mồng 5 Tháng 5)

>> Nhớ Tết Đoan Ngọ quê xa

>> Trung Quốc: Tết Đoan Ngọ trở thành lễ pháp định

>> Tết Đoan Ngọ và bánh Ú tro

>> Tết Đoan Ngọ cần có bánh tro, vì sao?

>> Tết Đoan Ngọ ý nghĩa và tập tục

>> Tết Đoan Ngọ ăn bánh bá trạng

>> Tết Đoan Ngọ có những tục gì?
>> Người dân Sài Gòn ăn Tết Đoan Ngọ

7. Tết Trung nguyên

Tết Trung nguyên vào Rằm tháng Bảy. Người xưa tin theo sách Phật, coi hôm ấy là ngày vong nhân được xá tội, ngày báo hiếu cha mẹ... nên tại các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu lan. Vào ngày Rằm tháng 7 âm lịch có 2 ngày lễ cúng:

- Lễ cúng được truyền tụng lâu đời trong dân gian: "Tháng 7, ngày rằm xá tội vong nhân" (tha tội cho tất cả người chết), nhiều người gọi là cúng cô hồn các đẳng. Quan niệm dân gian cho rằng đây là lễ cúng những linh hồn vật vờ lang thang không nơi nương tựa, không còn người thân ở trần gian để thờ phụng hoặc thất lạc, hoặc vì một oan khiên nào đó...

- Cũng ngày Rằm tháng Bảy còn có lễ Vu lan, xuất phát từ tích truyện Đại Mục Kiều Liên. Vu lan được coi là lễ cầu siêu giải thoát cho ông bà cha mẹ bảy đời, xuất phát từ lòng báo hiếu. Trong những năm gần đây, trong lễ Vu lan còn có tục "Bông Hồng cài áo" thể hiện lòng hiếu thảo của con đối với cha mẹ.

>> Rằm tháng 7: Nét văn hóa Việt

8. Tết Trung thu

Tết Trung thu vào Rằm tháng Tám. Trung thu là tết của trẻ con nhưng người lớn cũng nhân đây mà họp mặt, uống rượu, uống trà, ngắm trăng... Thường ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối mới bày hoa quả, bánh kẹo, chè cháo để trẻ con vui chơi, phá cỗ, trông trăng, rước đèn...

>> Tết Trung thu
>> Tet trung thu
>> Tết Trung Thu (Ngày Rằm Tháng 8)

>> nguồn gốc và ý nghĩa tết trung thu

>> Các sự tích về tết Trung thu

>> Tết Trung Thu Việt và các phong tục

>> Nguồn gốc và ý nghĩa ( Tết Trung Thu)
>> Chưa biết về Tết Trung thu?

>> Tết Trung thu: Mùa trăng đôi lứa

>> Tìm hiểu về Tết và bánh Trung thu

>> Tết trung thu ở một số nước Châu Á!

>> Tết Trung Thu với Thằng cuội
>> Chơi Trung thu
>> Tết Trung Thu và các phong tục

>> Rộn ràng tết trung thu

9. Tết Trùng cửu

Mùng Chín tháng Chín (âm lịch) là Tết Trùng cửu. Tết này bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Thời Hán, có người tên gọi là Hoàn Cảnh, đi học phép tiên. Một hôm thầy bào Hoàn Cảnh khuyên mỗi người trong nhà nên may một túi lụa đựng hoa cúc, rồi lên chỗ cao mà trú ngụ. Quả nhiên, ngày Chín tháng Chín có lụt to, ngập hết làng mạc. Nhờ làm theo lời thầy, Hoàn Cảnh và gia đình thoát nạn.

Từ xưa, nho sĩ nước ta đã theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn núi non, uống rượu cúc - gọi là thưởng Tết Trùng dương.

>> Tết Trùng cửu
>> Điển hay tích lạ - Tết Trùng Cửu

>> Bách khoa toàn thư Việt Nam

10. Tết Trùng thập


Đây là Tết của các thầy thuốc. Theo sách Dược lễ thì đến ngày Mười tháng Mười, cây thuốc mới tụ được khí âm dương, mới kết được sắc tứ thời, trở nên tốt nhất. Ở nông thôn Việt Nam, đến ngày đó người ta thường làm bánh dày, nấu chè kho để cúng gia tiên rồi đem biếu những người thân thuộc chứ không quan tâm mấy đến chuyện cây thuốc, thầy thuốc!

>> Bách khoa toàn thư Việt Nam
>> giới thiệu văn hoá phong tục Việt, Tết Trùng Thập

11. Tết Hạ nguyên

Tết Hạ nguyên (Tết Cơm mới) vào Rằm hay mùng Một tháng Mười. Ơở nông thôn, Tết này được tổ chức rất lớn vì đây là dịp nấu cơm gạo mới - trước để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cấy.

>> Tết Hạ Nguyên (Tết Cơm mới)

12. Tết Táo quân

Tết Táo quân vào ngày 23 tháng Chạp - người ta coi đây là ngày "vua bếp" lên chầu Trời để tâu lại việc bếp núc, làm ăn, cư xử của gia đình trong năm qua.

Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau đó, người vợ lấy được chồng giàu. Một hôm, đang đốt vàng mã ngoài sân, thấy một người vào ăn xin, nhận ra chính là chồng cũ nên người vợ động lòng, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng mới biết chuyện, nghi ngờ vợ. Người vợ đâm khó xử, lao vào bếp lửa tự vẫn. Người chồng cũ nặng tình, cũng nhảy vào lửa chết thao. Người chồng mới ân hận, đâm đầu vào lửa nốt! Trời thấy ba người đều có nghĩa nên phong cho họ làm "vua bếp". Từ tích đó mới có tục thờ cúng "Táo quân" và trong dân gian có câu: "Thế gian một vợ một chồng, không như vua bếp hai ông một ba"õ. Ngày nay cứ đến phiên chợ 23 tháng Chạp hàng năm, mỗi gia đình thường mua hai mũ ông, một mũ bà bằng giấy và 3 con cá làm "ngựa" (cá chép hóa rồng) để Táo quân lên chầu trời. Sau khi cúng trong bếp, mũ được đốt và 3 con cá chép được mang thả ở ao, hồ, sông...

TỤC THỜ CÚNG ÔNG CÔNG ÔNG TÁO Ở VIỆT NAM

Một trong những ngày Tết quan trọng nhất trong năm của người Việt là Tết ông Công, ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp (Tháng Mười Hai). Lễ cúng Táo quân cũng mang tính chất chuyển giao năm cũ với năm mới, kể từ ngày cúng Táo Quân, người dân đã bắt tay chuẩn bị kỹ lưỡng cho một năm mới đang đến.
Táo quân
Táo quân báo cáo với Ngọc Hoàng
Theo tín ngưỡng cổ truyền, đây là ngày Táo Quân cưỡi cá chép vàng lên trời báo cáo với Ngọc Hoàng Thượng đế những điều tai nghe mắt thấy ở trần gian; tất cả những việc tốt, việc xấu, những gì làm được và chưa làm được của người ở dưới hạ giới một cách khách quan, trung thực.
Táo Quân, theo truyền thuyết, là vua bếp, gồm táo bà và hai táo ông. Việc thờ thần bếp ở mỗi gia đình là tín ngưỡng có từ xa xưa, ý mong muốn một cuộc sống luôn đầm ấm, hạnh phúc, mọi người luôn thương yêu, quý trọng nhau.
Cưỡi cá chép
Táo quân cưỡi cá chép lên trời
Lễ vật cúng Táo Quân gồm có ba bộ mã, hai bộ đàn ông tượng trưng cho hai Táo ông và một bộ đàn bà tượng trưng cho Táo bà. Ngoài ra còn có vàng mã khác, hương, hoa, oản, quả, cau, trầu. Một mâm cỗ được chuẩn bị cẩn thận, đầy đủ. Những đồ "vàng mã" sẽ được đốt đi sau lễ cúng ông Táo vào ngày 23 tháng Chạp cùng với bài vị cũ. Sau đó người ta lập bài vị mới cho Táo Quân.
Bộ mã cúng ông Táo
Bộ mã cúng ông Táo
Trong ngày cúng ông Táo, người dân còn chuẩn bị một đôi hoặc 3 con cá chép sống, thả trong chậu nước, cúng cùng các đồ lễ khác. Sau khi cúng xong sẽ đem thả ở sông, ao, hồ, nghĩa là "phóng sinh" để đưa ông Táo về trời. Tục cúng cá chép chỉ người miền Bắc hay làm.
Tết Táo Quân là một lễ quan trọng, cận kề với Tết Nguyên Đán, và đó cũng là một dịp để mọi người trong gia đình sum họp, chuẩn bị đón năm mới.

>> Nhộn nhịp ngày tết Táo quân

>> Tết Táo Quân (Vua Bếp)

>> Táo quân

>> Phong tục ngày Tết: đưa tiễn Táo quân

>> Nhớ ngày thay ông Đầu Rau

>> Hình ảnh ngày Táo quân chầu trời

>> Người dân tiễn Táo quân chầu trời

>> Ảnh lễ tiễn ông Táo chầu trời

>> Chùm ảnh mua cá cúng Táo quân

>> Chùm ảnh thả cá tiễn ông Táo về trời

CÚNG TẤT NIÊN

Sau một năm làm ăn vất vả, ngày cuối cùng của năm âm lịch là ngày để tổng kết và nhìn lại những thăng trầm của những ngày đã qua. Ngày này được gọi là ngày tất niên. Trong ngày tất niên, mọi người trong gia đình sẽ sửa soạn, quét dọn, trang trí lại nhà cửa, đón năm mới. Cùng với đó, mỗi gia đình người Việt sẽ chuẩn bị một mâm cơm cúng tất niên.
Ngày tất niên, mọi việc quan trọng chuẩn bị cho lễ Tết Nguyên Đán gần như đã hoàn tất nhưng thường thì ai cũng tất bật với rất nhiều công việc nhỏ, cố gắng chuẩn bị cho một năm mới trọn vẹn, chu đáo. Tuy vậy, những người chủ chốt trong gia đình vẫn không bao giờ sao nhãng việc cúng tất niên.
Từ sáng sớm, người phụ nữ trong gia đình lo làm cơm cúng. Mâm cơm thường phải đầy đủ các vị, các hàng đại diện mặn, chay, thể hiện được sự phong phú trong đời sống hàng ngày của nhân dân ta. Người đàn ông trụ cột trong gia đình sửa soạn nơi thờ tự, thăm mộ rồi trở về làm lễ cúng tất niên.
Lễ cúng tất niên. Ảnh: wikimedia.org
Bữa cơm tất niên làm thịnh soạn hơn ngày thường. Trong bữa cơm tất niên, tất cả mọi thành viên trong gia đình đều phải có mặt đông đủ, người ta nói nhiều chuyện vui vẻ đã qua, động viên nhau cố gắng, tạo nên một không khí gia đình đầm ấm trong những ngày se se lạnh.
Ngày nay, không chỉ trong gia đình mới cúng tất niên và ăn tất niên. Rất nhiều các cơ quan, các nhóm hội cũng tổ chức cúng tất niên và mở tiệc tất niên, tổng kết năm cũ. Tất niên cũng được hiểu rộng rãi hơn, ngày ăn tất niên cũng không chỉ là ngày cuối cùng của năm nữa, mà là những ngày giáp Tết, khi các cơ quan bắt đầu được nghỉ lễ.
Lưu Hải

VĂN HÓA TẾT

Ảnh minh họa: M.G
Văn hóa có thể hiểu nôm na là tất cả các sinh hoạt vật chất và tinh thần của con người, mang tính đặc trưng truyền thống tốt đẹp của một dân tộc. Hiểu văn hóa theo nghĩa rộng như thế sẽ giúp cho chúng ta xác định được cái gọi là bản sắc văn hóa một cách tương đối dễ dàng hơn.
Theo đó thì, mọi nhịp độ sống của con người đều mang tính văn hóa, từ cách ăn ở, cách cư xử, cách đi đứng, nói năng… đến các lễ hội, tết nhất đều mang yếu tố văn hóa.
Đi đường một cách nghiêm túc, không trái luật, không xả rác bừa bãi dọc đường người ta gọi là có văn hóa.
Một khu phố mà trong đó có những người sống với nhau hòa thuận, giúp đỡ lẫn nhau, không có trộm cướp, mại dâm, ma túy… thì người ta gọi là một khu phố văn hóa.
Một con người nói năng lịch thiệp, lúc nào cũng hòa nhã với mọi người, ăn mặc chỉnh tề, tác phong nghiêm túc, cư xử tốt với mọi người xung quanh thì người ta gọi là người có văn hóa…
Rồi đến các dịp lễ hội, tết nhất, cúng quảy ông bà… tất cả đó người ta cũng gọi là văn hóa. Nhưng cũng tùy theo bản chất, loại hình, đặc điểm của từng sự vật, sự việc cụ thể mà người ta chia ra văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, văn hóa tâm linh…
Văn hóa ở một chừng mực nào đó nó gần nghĩa với cái đẹp, sự hoàn thiện, sức sống, cho nên từ bao đời nay, con người luôn phấn đấu để làm đẹp cho mình, làm đẹp cho đời cũng nhằm hướng tới cái văn hóa vậy. Nhưng tại sao lại phải phấn đấu? Bởi vì cuộc sống vốn dĩ rất phức tạp và luôn biến động. Có những cái ở thời này cho là tốt, là đẹp nhưng sang thời kỳ khác thì không còn tốt, không còn đẹp nữa. Và trong cuộc sống khi đã xác định được một giá trị, tạo lập được một khái niệm thì lúc nào cũng có cái đối nghịch với nó: có tốt phải có xấu, có hiền phải có dữ, có thiện phải có ác, có người trung thì cũng có kẻ phản bội, có người học thật thì cũng có người học giả…
Và văn hóa cũng thế, có văn hóa ắt cũng có cái phản văn hóa. Nhưng có một điều hết sức biện chứng là, chính do những cái phản văn hóa đó mới làm tôn thêm giá trị của văn hóa. Vì vậy, trong cuộc sống, con người luôn hoạt động vì cái văn hóa, cố gắng đè nén hay xua đi cái phản văn hóa. Xã hội lúc nào cũng muốn xua đi, hoặc ngăn chặn lại các tệ nạn xã hội, như: mại dâm, ma túy, bạo lực… để làm cho xã hội đẹp hơn lên. Trong mỗi con người, từ trong sâu thẳm ai cũng muốn mình sống đẹp hơn, có nhân cách hơn và người hơn. Ai cũng muốn mình có cơm ăn, áo mặc, có sức khỏe dồi dào, xã hội ổn định, mọi người cư xử với nhau tốt hơn. Nhưng vì lý do này, lý do khác mà những cái phản văn hóa không bao giờ mất đi, nó lúc nào cũng đồng hành với cái văn hóa. Suy cho cùng thì nó không thể nào tan biến đi được.
Cái văn hóa và phản văn hóa như là hai mặt của một tấm huân chương, là hai mặt của một vấn đề mà trong từng thời điểm, từng hoàn cảnh, từng điều kiện mà mặt này nổi trội hơn mặt kia. Và đó chính là cái mà con người đang kiếm tìm, đang muốn vươn tới, đó là, cái văn hóa sẽ át cái phản văn hóa, cái thiện sẽ lấn cái ác…
Và trong chừng mực nào đó, ngày Tết cổ truyền Việt Nam đã đạt đến “chân lý” này. Ngày Tết, bản thân nó vốn dĩ đã là văn hóa, là nét đẹp, là bản sắc dân tộc. Nhưng cũng chính trong ngày Tết là môi trường lý tưởng nhất cho việc biểu hiện cái đẹp.
Ngày Tết, có thể nói là ngày lý tưởng nhất trong năm. Ở đó, mọi lý tưởng, mọi biểu hiện tốt nhất của con người đều được thể hiện. Người ta cư xử với nhau tốt hơn, ân cần hơn. Có thể hôm qua họ là hai đối thủ, tranh giành bán buôn, lời qua tiếng lại, rồi không thèm nhìn mặt nhau. Nhưng Tết đến thì dù muốn dù không, khi đụng mặt, họ vẫn chào nhau một tiếng, chúc cho nhau những lời tốt đẹp.
Rồi những gia đình có cuộc sống khó khăn, thiếu trước hụt sau, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng Tết đến, họ cũng cố gắng sắm được chiếc áo lành lặn dù là không mới, có được bữa cơm tươm tất hơn dù là đạm bạc. Và ngày Tết chính là ước mơ của họ, là điều mà họ muốn vươn tới. Đó là có được cơm ăn áo mặc, có được cuộc sống yên bình, hạnh phúc…
Trong những ngày thường thì trẻ con đi học, làm lụng nhưng Tết đến thì chúng được nghỉ ngơi, lại vừa có tiền, có thức ăn ngon, có quần áo đẹp, trẻ con nào không thích.
Trong ngày Tết, các cơ quan công quyền cũng nghỉ ngơi, gác lại mọi việc để ăn Tết trước đã. Đặc biệt, các cơ quan thực thi pháp luật thì không ai nỡ đem người phạm tội ra xử án, mà phải gác lại để xử sau. Bởi ngày Tết là ngày rất thiêng liêng.
Không khí mùa xuân là khí thiêng của đất trời, của hồn núi sông và hồn dân tộc mà trong đó mọi sinh linh đều có quyền được hưởng. Nên khi mùa xuân đến, đất trời khoe sắc, các mầm non đâm chồi nẩy lộc, sự sống lại hồi sinh, tất cả cùng chung hưởng một mùa xuân ấm nồng và tươi đẹp.
Mùa Xuân muôn hoa khoe sắc - Ảnh: M.G
Về phía gia đình, chuyện ngày Tết cũng là chuyện gia phong. Gia đình có dịp quây quần, đoàn tụ sau những ngày làm ăn xa cách. Không khí gia đình đầm ấm hơn khi cùng ăn chung mâm, uống chung với nhau một ngụm trà. Con cháu cũng có dịp bộc lộ tấm lòng thơm thảo của mình với ông bà, cha mẹ. Anh chị em chăm sóc nhau, thương yêu nhau hơn…
Và cao hơn nữa là sự sum họp, sự hiếu để của cháu con đối với tổ tiên ông bà, mà biểu hiện là ở bàn thờ gia tiên. Con cháu dâng những mầm xanh của lộc trời, những thành quả lao động của mình lên tổ tiên, ông bà để tỏ lòng thành kính của cháu con luôn nhớ về nguồn cội. Thể hiện lòng tri ân của cháu con đối với tổ tiên dòng họ đã tạo lập cho mình một cuộc sống tốt đẹp như ngày nay. Và đồng thời kèm theo đó là một ước mơ, mong muốn tổ tiên, ông bà lúc nào cũng hiển linh phù hộ cho gia đình có được cuộc sống ấm no, bình an vô sự…
Ngày Tết là ngày lí tưởng, ngày của những ước mơ, ngày của cuộc sống tâm linh cao đẹp, hướng về tổ tông dòng họ, nguồn cội tổ tiên, tri ân những người có công với nước, với dân, thể hiện một ước mơ vĩnh hằng mà trong cuộc sống đời thường con người nhiều khi không có được: mọi người đều có cơm ăn áo mặc, có cuộc sống bình an, con người thương yêu nhau hơn, không có chiến tranh, không có hận thù, không có những hiềm tị nhỏ nhen, gia đình được sum vầy, hạnh phúc… Cho nên, nói ngày Tết là cái đẹp, là truyền thống văn hóa của dân tộc, có tính nhân văn và nhân đạo là vậy.
Như trên đã nói, cái xấu và cái tốt luôn cùng nhau tồn tại trong cuộc sống. Nên ngày Tết là truyền thống văn hóa cao đẹp của dân tộc cũng không tránh khỏi những hạn chế. Trước đây, người ta ăn Tết bảy ngày, mười bữa thì nay chỉ còn có ba ngày, và chủ yếu là đêm giao thừa và mồng một; Trước kia đốt pháo quá nhiều gây lãng phí tiền của, nguy hiểm đến tính mạng con người thì nay không còn nữa. Một số việc có tính chất mê tín cũng không mấy còn tồn tại… Giá trị văn hóa không phải là cái bất biến, mỗi thời có một quan niệm khác nhau. Không hẳn là cái sau hay hơn cái trước. Nên tốt nhất là xem giá trị văn hóa như là một quan niệm, đừng phẩm bình. Nhưng chắc chắn có một điều: đánh bạc đến tán gia bại sản trong ngày Tết; tết nhất mà say sưa tối ngày, đánh vợ chửi con; đặt điều bói toán dị đoan… thì không thời nào xem là tốt cả. Nó chính là cái phản văn hóa đích thực, phản lại bản sắc văn hóa truyền thống tốt đẹp về ngày Tết của dân tộc.
Chừng nào mỗi cá nhân chưa ý thức được ý nghĩa của ngày Tết là thiêng liêng, là hướng về cội nguồn, hướng về tổ tiên ông bà, thể hiện một ước vọng của con người về cuộc sống ấm no hạnh phúc… thì chừng ấy, những cá nhân đó chưa hưởng được hương vị Tết một cách đích thực, đúng nghĩa…!
Trần Kiều Quang
NGUỒN GỐC TẾT NGUYÊN ĐÁN VÀ NHỮNG ĐIỀU KIÊNG KỴ

Trong một năm Việt Nam có rất nhiều lễ Tết, ứng với tiết trời và mùa vụ khác nhau, nhưng lớn nhất, trọng đại nhất vẫn là Tết Nguyên đán.

Cái Tết bắt đầu cho năm mới, hy vọng về mọi sự may mắn tốt lành của mùa xuân nảy lộc đâm chồi, đồng thời cũng bỏ lại tất cả những rủi ro, đen đủi của năm cũ.

Lẽ trời đất có thuỷ phải có chung, có bắt đầu thì phải có kết thúc, cho nên trong Tết Nguyên đán, đón lễ Giao thừa chính là thời khắc thiêng liêng nhất, giao lại cái cũ, đón nhận cái mới.

Vì vậy lễ Giao thừa còn gọi là Lễ Trừ tịch. Tết Nguyên đán của ta tiến hành vào phút cuối cùng của năm cũ, phút đầu tiên bước sang năm mới, tức là giữa giờ Hợi ngày 30 hoặc nếu tháng thiếu thì ngày 29 tháng Chạp năm trước và Giờ Tý ngày mùng 1 tháng Giêng năm sau.

Mâm cỗ của ngày tết

Xưa kia, ở các triều đại phong kiến, ông vua nào cũng tự xưng mình là “Thiên tử” (con trời) thay trời trị dân. Vì thế vua nào tối tăm, hôn ám, trời sẽ gieo tai hoạ để trừng trị.

Điều này đã được ghi rõ trong những bộ Chính sử của Nhà nước phong kiến để giải thích những hiện tượng như sao Chổi (điềm chiến tranh), mất mùa, lụt lội… Và tất nhiên các ông Vua đều phải trai giới lập đàn sám hối…

Cũng với quan niệm trên, người xưa cho rằng trên thiên đình có 12 vị Đại vương hành khiển, mỗi người phụ trách một năm, hết một giáp tức 12 năm lại trở lại từ đầu, vì vậy các vị Đại vương này còn được gọi là Đương niên chi thần.

Trách nhiệm của mỗi vị là theo dõi nhân gian trong cả năm, xem xét việc hay, dở của từng người, từng gia đình, từng địa phương trong cả nước để định công, luận tội, tâu lên Thượng đế.

Mỗi vị hành khiển có một vị phán quan giúp việc ghi chép sổ sách cho rành mạch. Lễ giao thừa ngoài ý nghĩa “tiễn năm cũ đón năm mới” còn là lễ tiễn Đại vương hành khiển cũ và đón vị Đại vương mới, cho nên nghi thức lễ giao thừa vừa linh thiêng vừa trọng đại. Lễ được làm ở đình làng, ở thôn xóm, ở nhà thờ họ và mỗi gia đình.

Hiện trong thư tịch Hán nôm còn lưu lại khá nhiều bài văn khấn trong lễ giao thừa ngoài phần niên tuế, tính danh chủ lễ, địa chỉ… Cuối cùng bao giờ cũng phải vọng bái.

- Đương niên đương cảnh Đại vương hành khiển

- Lâm tào phán quan

- Bản địa Thổ địa thần kỳ

- Bản cảnh Thành Hoàng

Sở dĩ phải khấn như trên bởi khi đức Đại Vương hành khiển đại diện cho Thượng đế đã giáng trần thì Thổ thần và Thành Hoàng phải nghênh tiếp, do đó cũng được phối hưởng.

Chắc chắn quan niệm “Thiên địa vạn vật nhất thể” hay “Thiên nhân tương dữ” trong dân gian chẳng mấy ai để tâm nghiên cứu hay tìm hiểu về “lý nọ”, “sự kia”, mà người ta làm theo lệ tục từ một lẽ rất đơn giản: "Có thờ có thiêng, có kiêng có lành”. Ở đây chúng tôi muốn đề cập đến một số kiêng kị trong Tết Nguyên đán xưa.

Kiêng quét nhà trong 3 ngày Tết

Họ sợ rằng sẽ quét hết vận đỏ đi. Vì thế ai cũng quét dọn nhà cửa, vườn tược, bao sái đồ thờ tự trước lúc giao thừa. Ở Nam Bộ sau khi quét dọn phải cất hết chổi, nếu trong ngày Tết bị mất chổi có nghĩa là năm đó nhà sẽ bị trộm quét sạch của cải.

Ở nông thôn ngày Tết nhà nào cũng rắc vôi bột ở bốn góc vườn, rồi vẽ mũi tên hướng ra cổng để xua đuổi ma quỷ, hung thần bốn phương kéo đến gieo tai hoạ. Còn thành thị thường hay treo “quả bùa gỗ” để trấn ma quỷ.

Tranh Tết

Kiêng không treo những tranh “xui xẻo” như đánh ghen, kiện tụng mà phải tìm bằng được những tranh lợn, gà, cậu bé, vinh hoa phú quý… hy vọng năm mới sẽ có nhiều điều tốt lành, trâu bò chật ních, thóc lúa đầy bồ. Ngày Tết nhà nào cũng có lọ hoa, tuỳ theo gia cảnh mà trang trí bày biện.

Ở nông thôn thì phần nhiều là những cành hoa giấy, hoa lông gà lông vịt màu sắc rực rỡ mua ở những phiên chợ Tết hàng tổng, hàng huyện.

Song ở thành thị nhiều nhà cầu kì và kĩ tính, kén chọn những cành đào bích không những đầy hoa mà còn phải có nhiều nụ, nhiều lộc. Hoặc những cây sung thế lúc lỉu quả.

Hình như trong sâu thẳm đáy lòng ta vẫn tin vào một sự huyền bí, siêu nhiên nào đó sẽ đáp ứng được mong mỏi và nguyện vọng của mỗi người.

Xông nhà

Xông nhà ngày Tết là một việc hết sức trọng đại vì thế hầu như nhà nào cũng kiêng kị rất cẩn thận. Bởi nếu không những điều xấu sẽ vận vào bản thân, gia đình mình. Vì sợ “dông” nên phải chọn người xông nhà, tuổi tính theo hàng can không xung với năm đó và không xung tuổi với chủ nhà.

Người ta thường chọn những người gia cảnh song toàn, con cháu đông đàn dài lũ, làm ăn thịnh vượng, vì thế mới có lệ “hẹn trước”, mời đến xông nhà.

Người Nam Bộ còn có thói quen chọn người có tên đẹp như Phúc, Lộc, Thọ, Tài, Lợi… mời đến xông nhà để cả năm sẽ thuận lợi, may mắn.

Thật không may cho nhà ai bị những người nặng vía xông nhà, hoặc mùng một Tết có người đến nhà xin lửa, xin nước. Thường thì trước khi bước sang năm mới ở nông thôn nhà nào cũng lo đổ đầy nước vào bể, vào chum hoặc vại.

Từ trong tâm thức người ta tin rằng năm mới đến sẽ đem theo của cải nhiều như nước. Chẳng thế mà sáng mùng một Tết rất nhiều nhà, nhất là ở phố phường xưa kia hay thuê người gánh nước đến. Họ được mừng tuổi đôi ba hào, thế là cả chủ nhà lẫn người quẩy thuê cả năm sẽ đều may mắn.

Một điều nữa cần nói đến là trong ngày Tết mọi người đặc biệt quan tâm đến cách ứng xử với hàng xóm láng giềng, bạn bè và những người trong gia đình.

Mâm Ngũ Quả

Bài chi tiết: Mâm ngũ quả

Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có chừng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.

Cây nêu

Cây nêu

Bài chi tiết: Cây nêu

Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai... Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Đến hết ngày mùng Bảy thì cây nêu được hạ xuống.

Bớ lũ quỷ kia, tớ dựng cây nêu ngán chửa?
Hỡi bầy trẻ nọ, bay nghe tiếng pháo mừng không?

Tranh tết

Tranh Đông Hồ trang trí ngày Tết Nguyên Đán

Phía trên bàn thờ thường treo một tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư... có khi là một chữ Nho (chữ Tâm, Phúc, Đức...).

Câu đối tết

Bài chi tiết: Câu đối

Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo "câu đối đỏ" nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ. Bản thân chữ "câu đối đỏ" cũng xuất hiện trong câu đối Tết sau:


Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Hoa tết

Hoa đào Nhật Tân ngày càng hiếm hoi

Cây mai ngày Tết

Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân.

Miền Trung và miền Nam lại hay dùng cành mai vàng hơn, màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua (thời phong kiến). Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống. Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ...; hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thuỷ tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet...

  • Cây quất: Thường được trang trí tại phòng khách, cây quất với lộc xanh mơn mởn, hoa trắng lốm đốm, quả chín vàng ươm, tròn trịa, sum suê tượng trưng cho sự sinh sôi, thịnh vượng, tràn đầy, viên mãn kết quả.

Ẩm thực ngày Tết

Thành ngữ Việt Nam có câu "Đói giỗ cha, no ba ngày Tết". Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay giật, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết. Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người mà nhất là trẻ em, được ăn uống no nê, không những thức ăn ngon mà lại rất nhiều. Vì vậy mà người ta đã gọi là "ăn Tết". Ngoài cơm, ngày Tết còn có:

Những tập tục, sinh hoạt ngày tết

  • Áo quần mới: Ngày xưa, trước Tết một thời gian ngắn, các bà các mẹ trong nhà phải thức khuya quay tơ, dệt vải, may áo quần mới cho cả nhà. Công việc này thường kết thúc vào ngày cuối năm. Đến sáng mùng Một Tết, cả nhà dậy sớm, thay quần áo mới để làm lễ gia tiên. Người ta cho rằng cần phải rũ bỏ những cái cũ, cái không may mắn đi theo quần áo cũ và đón một năm mới với nhiều hi vọng và niềm vui mới từ bộ quần áo mới đó.
  • Dọn dẹp nhà cửa trước Tết, do tục kiêng cữ quét nhà trong ngày Tết. Theo quan niệm dân gian, việc quét nhà trong ngày Tết sẽ quét đi theo cả lộc xuân (xác pháo đốt trong đêm giao thừa), người quét nhà sẽ bị rông cả năm.
  • Sêu Tết, miền Nam gọi là "đi tết", là nghĩa vụ phải làm trước Tết của chàng trai sau lễ hỏi và trước lễ cưới. Sau lễ hỏi chàng trai chính thức là rể chưa cưới và có bổn phận đối với nhà gái. Bổn phận này bao gồm phải có "sêu tết" và đôi khi có việc đi làm rể. "Sêu" có nghĩa là mùa nào thức ấy, chàng trai phải mang lễ vật sang biếu bố mẹ vợ chưa cưới.
  • Đối với nhiều người Việt, dịp tất niên là dịp trả nợ cũ, xóa bỏ xích mích của năm cũ, để hướng tới năm mới vui vẻ hòa thuận hơn.
  • Vào ngày 30 Tết, người Hà Nội còn có thói quen đi mua lá mùi già về để tắm tất niên đón chào năm mới. Đó là loại cây lá và thân ngào ngạt mùi hương rất thơm, thường có nhiều vào dịp Tết, mùi thơm của cây mùi già luôn gợi nhớ tới ngày Tết.
  • Đầu Xuân, người có chức tước khai ấn; học trò, sĩ phu khai bút; nhà nông khai canh; người buôn bán mở hàng lấy ngày... Sau ngày mùng Một, dù có mải vui cũng chọn ngày để "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.
  • Các trò chơi dân gian như, bịt mắt bắt dê, múa võ, hát bội, hát cải lương, hát chèo, đánh đu, thi leo cột mỡ; bài chòi và nhiều loại bài bạc cổ truyền khác.
  • Các lễ hội truyền thống khác như thi đấu cờ người; đua thuyền, đấu vật, đánh còn, múa lân, múa rồng, thi thả chim bồ câu... tuỳ theo mỗi địa phương các lễ hội này có thể được tổ chức hay không.
  • Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm...hoặc đốt luôn hoá vàng.
  • Cúng đưa, hạ nêu: Trong những ngày Tết, người Việt quan niệm rằng có sự hiện diện của Ông Bà tổ tiên nên bàn thờ luôn được thắp hương và cúng cơm mỗi ngày. Thường thì chiều mồng Ba cúng tiễn đưa Ông Bà, chiều mồng Bảy cúng hạ nêu.
  • Đi viếng lễ chùa xin xăm: Không ai biết chắc chắn phong tục này có từ bao giờ và tại sao nhưng trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm nhất là vào buổi sáng mồng một, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc. Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm.
  • Đốt pháo:thường hay có trong dịp cúng tất niên hay thời khắc giao thừa ngày tết cổ truyền. Nay gần như không còn vì pháo đã bị cấm do tính chất nguy hiểm dễ gây sát thương của nó. Xem thêm Bánh pháo.

Tín ngưỡng

Điềm lành

  • Hoa mai: sau Giao thừa, nếu hoa mai (loại 5 cánh) nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh.
  • Chó lạ vào nhà: Tục ngữ "Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang".
  • Cây đào: Nếu có nhiều cánh kép (hoa kép) 3 lớp (hàng) trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc.
  • Cây quất: Nếu cây có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: Quả chín, quả xanh, hoa và lộc thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.

Kiêng kỵ

Theo quan niệm trong ngày đầu năm (Nguyên Đán) mà có nhiều điều tốt đẹp thì cả năm đó chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến cho mọi người, do đó, người Việt có một số kiêng kỵ như sau:

  • Kỵ mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh.

    Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng chạp mà gia đình có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó, đa số các gia đình kiêng để sang ngày mùng Một đầu năm. Trường hợp chết đúng ngày mùng Một Tết thì chưa phát tang vội nhưng phải chuẩn bị mọi thứ để sáng mùng Hai làm lễ phát tang.

  • Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió v.v.
  • Trong ngày này, người ta kiêng quét nhà vì theo một điển tích của Trung Quốc, nếu quét nhà thì năm đó gia cảnh sẽ nghèo túng, khánh kiệt. Khi hốt rác trong nhà đổ đi thì thần Tài sẽ đi mất.
  • Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay.
  • Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chó, cá mè, thịt vịt... Nếu ăn những thứ này bào dịp đầu năm hay đầu tháng sẽ xúi quẩy
  • Ngoài ra, người già cũng khuyên con cháu trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.
  • Người ta thường kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
  • Ngày mồng 5 tháng giêng Âm lịch là ngày nguyệt kỵ, người Việt thường tin rằng ngày này không thích hợp cho xuất hành. (Ca dao: "Mồng năm, mười bốn hăm ba. Đi chơi cũng lỗ lọ là đi buôn.")

Thi ca

Hoa mai

Tết, và các tục lệ, được nhắc đến rất nhiều trong ca dao Việt Nam:

Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy
Mùng Một tết cha,
Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh

Tết cũng là đề tài cho nhiều văn, thi sĩ:

Ông đồ
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người qua
...
(Vũ Đình Liên)
Tết Nguyên Đán
Hết một năm rồi, tiếng pháo đưa
Gió xuân thổi ấm chén đồ tô
Ngàn cửa muôn nhà vừa rạng sáng
Đều đem đào mới đổi bùa xưa.
(Trần Trọng San)

Người ta còn nghe thấy cả tiếng reo chào đón mùa xuân của Thế Lữ

Xuân đến rồi kia
Xuân đến rồi!
Hèn nào hoa nở rộ trong tôi
Đào?
Mai?
không, chỉ bừng hoa Lựu
Gốc tự miền Nam, đất bỏng sôi!...

...Om sòm trên vách bức tranh gà

Câu thơ của Tú Xương:

Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột
Om sòm trên vách bức tranh gà

Hay câu đối Tết như:

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ)
Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới.
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào.
(Lưu truyền là của Hồ Xuân Hương)

Chữ "Tết" trong ngoại ngữ

Hội chợ Tết tại Little Saigon, Quận Cam, California

Do ảnh hưởng của sự kiện Tết Mậu Thân, "Tết" đã được du nhập vào Anh ngữ, dưới các dạng Tet, Têt hay Tet Offensive, để chỉ sự kiện này. Ngoài ra, Tet hay Têt còn được dùng trong Anh ngữ hay Pháp ngữ khi nói đến lễ hội năm mới này của người Việt.

Tham khảo

Nhạc xuân trực tuyến

  • Xuân đã về – Minh Kỳ
  • Xuân Đến-Nhạc nước ngoài
  • Một số bài hát về xuân
  • Tết Nguyên Đán - Thanh Thảo

    Xem thêm

  • Tết nguyên đán - Dịp nhớ về cội nguồn, tổ tiên
  • Tết nguyên đán - Một giá trị tâm linh của người Hà Nội
  • Nguồn gốc Tết Nguyên đán và những điều kiêng kị
  • Tết nguyên đán - Dịp nhớ về cội nguồn, tổ tiên
  • Tết Nguyên Đán
  • Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?
  • Ngày Tết có những phong tục gì?
  • Tại sao cúng giao thừa ở ngoài trời?
  • Vì sao kiêng hót rác trong ba ngày Tết?
  • Phong tục ngày Tết: Khai bút tân xuân, tranh Tết
  • Ngày xưa... Tết Nguyên đánÝ NGHĨA NGÀY TẾT NGUYÊN ĐÁN
    Tết Nguyên Đán là ngày hội cổ truyền lớn nhất, lâu đời nhất, có phạm vi phổ biến rộng nhất từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau và là ngày lễ tưng bừng, nhộn nhịp của cả dân tộc. Từ những thế kỷ trước, từ đời Lý - Trần – Lê, ông cha ta đã cử hành lễ Tết hàng năm một cách trang trọng.
    Tết Nguyên Đán là khâu đầu tiên và quan trọng nhất trong hệ thống lễ hội Việt Nam, nó mang đậm nét văn hóa dân tộc sâu sắc và độc đáo, phản ánh tinh thần hòa điệu giữa con người và thiên nhiên theo chu kỳ vận hành của vũ trụ.
    Chữ Nguyên có nghĩa là bắt đầu, chữ đán có nghĩa là buổi ban mai, là khởi điểm của năm mới. Đồng thời, tết cũng là dịp để gia đình, họ hàng, làng xóm, người thân xa gần sum họp, đoàn tụ thăm hỏi, cầu chúc nhau và tưởng nhớ, tri ân ông bà tổ tiên.
    Xét ở góc độ mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, Tết là do xuất xứ từ “tiết” (thời tiết) thuận theo sự vận hành của vũ trụ, biểu hiện ở sự chu chuyển lần lượt các mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, điều đó có ý nghĩa rất đặc biệt đối với một nước thuần nông như nước ta.

    Theo tín ngưỡng dân gian, bắt đầu từ quan niệm “Ơn trời mưa nắng phải thì” người nông dân còn cho đây là dịp để tưởng nhớ các vị thần linh có liên quan đến nông nghiệp như thần Đất, thần Mưa, thần Sấm, thần Nước… Người nông dân cũng không quên ơn các loài vật đã cùng họ sớm hôm vất vả như trâu, bò, gia súc, gia cầm và các loại cây lương thực, thực phẩm đã nuôi sống họ.
    Mừng tuổi
    Về ý nghĩa nhân sinh của Tết Nguyên Đán, đó là Tết của gia đình, Tết của mọi nhà. Người Việt Nam có phong tục hằng năm, mỗi khi năm hết, Tết đến dù làm bất cứ nghề gì, ở bất cứ nơi đâu, kể cả người xa xứ cách hàng ngàn ki-lô-mét vẫn mong được về sum họp dưới mái ấm gia đình trong ba ngày Tết, được khấn vái dưới bàn thờ tổ tiên, nhìn lại ngôi nhà, ngôi mộ, nhìn lại nơi mà một thời bàn chân bé dại đã tung tăng và mong được sống lại với những kỷ niệm đầy ắp yêu thương nơi chúng ta cất tiếng khóc chào đời. Mấy tiếng “Về quê ăn Tết” không chỉ là khái niệm đi về, mà đằng sau nó là cả một quá trình hành hương về với cội nguồn, về nơi chôn nhau cắt rốn. Không thế thì làm sao huỳnh Văn Nghệ có cảm hứng để lưu truyền cho hậu thế hai câu thơ bất hủ “Từ thuở mang gươm đi mở cõi, ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long”.
    Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, ngày Tết xuân là ngày đoàn tụ, đoàn viên, mối quan hệ họ hàng làng xóm được mở rộng ra, ràng buộc lẫn nhau thành đạo lý chung cho xã hội; tình thầy trò, bè bạn cố tri, ông mai bà mối đã tác thành cho đôi lứa.. Tết cũng là dịp đúc kết mọi hoạt động liên quan đến một năm qua, chào đón một năm mới với hy vọng tốt lành cho cá nhân và cho cả cộng đồng.
    Tết Nguyên Đán là lễ hội truyền thống mang tính toàn dân. Vì vậy vào những ngày cuối năm, mọi hoạt động đều hướng vào Tết, chuẩn bị cho Tết. Các ngành, các cấp đều có kế hoạch cho ngày hội đặc biệt này. Từ thương nghiệp đến giao thông vận tải, văn hóa đến an ninh công cộng, nhất là các ngành dịch vụ thì cứ là “bận như Tết”. Các công sở, xí nghiệp, trường học cũng đều có kế hoạch tham gia Tết, đồng thời giải quyết những nhu cầu đặt ra trong nội bộ đơn vị.
    Sắm Tết
    Rõ nét nhất là không khí chuẩn bị nhộn nhịp khẩn trương, từ việc mua sắm, may mặc đến việc trang trí nhà cửa, chuẩn bị bánh trái, cỗ bàn, đón tiếp người thân ở xa về…
    Theo tập tục, đến ngày 23 tháng Chạp là ngày đưa tiễn ông Táo về Trời tâu việc trần gian thì không khí Tết bắt đầu rõ nét. Ngày xưa, dưới thời phong kiến, từ triều đình đến quan chức hàng tỉnh, hàng huyện đều nghỉ lễ từ ngày 23 tháng Chạp đến ngày khai hạ (từ 7 tháng Giêng).
    Ngày nay, trong thời kỳ hiện địa, việc tổ chức nghỉ Tết, vui Tết được quy định hợp lý, khoa học hơn – Vừa văn minh, lịch sự, không lãng phí thời gian, phù hợp nếp sống công nghiệp vừa bảo lưu được bản sắc văn hóa dân tộc và ý nghĩa nhân sinh của ngày Tết thì không có gì thay đổi. Đó cũng là nét đẹp truyền thống văn hóa dân gian cần được giữ gìn và phát huy.
XUẤT HÀNH VÀ XIN LỘC ĐẦU NĂM

Đầu năm mới, người Việt có tục xuất hành. Xuất hành là đi ra khỏi nhà trong ngày đầu năm để đi tìm cái may mắn cho mình và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày, giờ và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần...

Thường thường, người ta theo các hướng tốt, xuất hành đi lễ chùa, đền hoặc đi chúc Tết các bậc huynh trưởng, thân quyến hay bằng hữu. Đối với nhà nông ngày xưa, đầu năm mới xuất hành còn để chiêm nghiệm thời tiết. Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi, người ta có thể đoán được năm mới hên hay xui, chẳng hạn:

- Gió Nam: chỉ đại hạn

- Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc

- Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả

- Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải

- Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu

- Gió Đông: chỉ có lụt lớn....

Nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi làm lễ bái, người ta hái một “cành lộc” nhỏ (thường là cành đa, cành si… - những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc), đem về cắm ở bàn thờ tổ tiên. Người ta có thể đi lễ chùa, xin lộc ngay sau khi làm lễ cúng giao thừa, hoặc để đến sáng hôm sau, hoặc các ngày khác trong 3 ngày tết.

Có nhiều người trong lúc xuất hành đi lễ, thay vì hái lộc cành cây, lại xin lộc tại các đình, đền, chùa, miếu bằng cách đốt một nắm hương hoặc một cây hương lớn, đứng khấn vái trước bàn thờ, rồi mang hương đó cắm tại bình hương bàn thờ Tổ tiên hoặc bàn thờ Thổ công ở nhà.

Ngọn lửa tượng trưng cho sự phát đạt. Lấy lửa từ các nơi thờ tự mang về, tức là xin phật thánh phù hộ cho được phát đạt, tốt lộc quanh năm. Trong lúc mang nắm hương từ nơi thờ tự trở về, nhiều khi gặp gió, nắm hương bốc cháy, người ta tin đó là một điềm tốt báo trước sự may mắn quanh năm. Thường những người làm ăn buôn bán hay xin lộc tại các nơi thờ tự.

PHONG TỤC TRONG NGÀY TẾT
Ngày Tết có những phong tục gì?

Dân tộc ta có nhiều ngày Tết. Tết là cách nói tắt hai chữ lễ tiết. Có Tiết Thương Nguyên, Trung Nguyên, Hạ Nguyên, Thanh Minh, Đoan Ngọ, TrungThu... Ngày tết nêu ở đây tức là nói tắt Lễ tiết Nguyên Đán (ngày đầu năm).

Ngày Tết, dân tộc ta có nhiều phong tục hay, đáng được gọi là thuần phong như khai bút, khai canh, hái lộc, chúc tết, du xuân, mừng thọ... Từ trẻ đến già ai ai cũng biết, không nhắc thì thanh thiếu niên cũng mua cho được cành hoa bánh pháo, nghèo cũng có chiếc bánh chưng, chai rượu. Vì vậy xin miễn liệt kê dài dòng, để trao đổi một vài phong tục đáng được duy trì phát triển.

Tống cựu nghênh tân: cuối năm quét dọn sạch sẽ nhà cửa, sân ngõ, vứt bỏ những thứ rác rưởi, cùng làng xóm dọn dẹp nhà thờ, đình chùa, đường sá phong quang, tắm giặt, cắt tóc, may sắm quần áo mới, trang trí bàn thờ, lau chùi bàn ghế ấm chén và mọi thứ thức ăn vật dụng.

Nhiều gia đình nhắc nhở, dặn dò con cháu từ phút giao thừa trở đi không quấy khóc, không nghịch ngợm, cãi cọ nhau, không nói tục chửi bậy, không vứt rác viết vẽ bừa bãi. Cha mẹ, anh chị cũng không quở mắng, tra phạt con em, đối với ai cũng tay bắt mặt mừng, vui vẻ niềm nở dầu lạ dầu quen.

Đối với bà con xóm giềng dù trong năm cũ có điều gì không hay không phải, điều nặng tiếng nhẹ hay xích mích gì đều xúy xoá hết. Dầu có thực lòng hay không nhưng không để bụng, cũng không ai nói khích bác hoặc bóng gió, ác ý gì trong những ngày đầu năm. Dẫu mới gặp nhau ít phút trước, nhưng sau phút giao thừa coi như mới gặp, người ta chúc nhau những điều tốt lành.

Hái lộc, xông nhà, chúc tết, mừng tuổi: ai cũng hy vọng một năm mới tài lộc dồi dào, làm ăn thịnh vượng, mạnh khỏe tiến bộ, thành đạt hơn năm cũ.

Lộc tự nhiên đến, đi hai lộc (chỉ là một cành non ở đình chùa, ở chốn tôn nghiêm mang về nhà), tự mình xông nhà hoặc dặn trước người "Nhẹ vía" mà mình thích đến xông nhà. Bạn nào vinh dự được người khác mời đến xông thì nên chú ý, chớ có sai hẹn sẽ xúi quẩy cả năm đối với gia đình người ta và cả đối với bạn. ở thành thị thời trước, sáng mồng một, có một số người nghèo gánh một gánh nước đến các gia đình giầu có lân cận và chúc họ "Lộc phước dồi dào". Những người này được thưởng tiền rất hậu.

Nhiều người không tin tục xông nhà nhưng cũng phải dè dặt, chưa dám đến nhà ai sớm, sợ trong năm mới gia đình người ta xảy ra chuyện gì không hay đổ tại mình "Nặng vía". Chính vì vậy, đáng lẽ sáng mồng một đông vui lại hoá ít khách, trừ những nhà đã tự xông nhà, vì tục xông nhà chỉ tính người đầu tiên đến nhà, từ người thứ hai trở đi không tính.

Sau giao thừa có tục mừng tuổi chúc Tết. Trước hết con cháu mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà cha mẹ cùng chuẩn bị một ít tiền để mừng tuổi cho con cháu trong nhà và con cháu hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thích. Lời chúc có ca có kệ hẳn hoi nhưng xem người ta thích nhất điều gì thì chúc điều đó, chúc sức khoẻ là phổ biến nhất. Chú ý tránh phạm tên huý gia tiên, tránh nhắc tới lỗi lầm sai phạm cũ, xưng hô hợp với lứa tuổi và quan hệ thân thuộc. Chúc Tết nhưng người trong năm cũ gặp rủi ro tai hoạ thì động viên nhau "Của đi thay người", "Tai qua nạn khỏi", nghĩa là ngay trong cái hoạ cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành. Kể cả đối với người phạm tội vẫn với thái độ nhẹ nhàng, khoan dung. Nhưng, nhìn chung trong những ngày đầu năm, người ta kiêng không nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa.

Quanh năm làm ăn vất vả, ít có điều kiện qua lại thăm hỏi nhau, nhân ngày Tết đến chúc mừng nhau, gắn bó tình cảm thật là đặm đà ý vị; hoặc điếu thuốc miếng trầu, hoặc chén trà ly rượu, chẳng tốn kém là bao. Hiềm một nỗi, nhiều người còn quá câu nệ, công thức ruờm rà, không chủ động được kế hoạch. Nhiều vùng nông thôn, hễ đến chúc Tết nhau nhất thiết phải nâng ly rượu, nếm vài món thức ăn gì đó chủ mời vui lòng, năm mới từ chối sợ bị giông cả năm.

Quà Tết, lễ Tết: Bình thường qua lại hỏi thăm nhau có khi cũng có quà, biểu lộ mối ân tình, nhưng phong tục ta đi lễ Tết vẫn có ý nghĩa hơn, nhất là đi trước Tết càng quý. Loại trừ động cơ hối lộ quan trên để cầu danh cầu lợi thì việc biếu quà Tết, tổ ân nghĩa tình cảm là điều đáng quý. Học trò tết thầy giáo, bệnh nhân tết thầy thuốc, con rể tết bố mẹ vợ... quà biếu, quà Tết đó không đánh giá theo giá thị trường. Nhưng cũng đừng nên gò bó, câu nệ sẽ hạn chế tình cảm: Không có quà, ngại không dám đến. Dân tộc ta tuy nghèo nhưng vẫn trọng nghĩa tình, "Lời chào cao hơn mâm cỗ".

Lễ mừng thọ: ở các nước Tây Âu thường mừng thọ vào dịp kỷ niệm ngày sinh, ở ta ngày xưa ít ai nhớ chính xác ngày sinh tháng đẻ nên vào dịp đầu xuân thường tổ chức mừng thọ lục tuần, thấp tuần, cửu tuần... tính theo tuổi mụ. Ngày tết ngày Xuân cũng là dịp mọi người đang rảnh rỗi, con cháu tụ tập đông vui.

Cũng vào dịp đầu xuân, người có chức tước khai ẩn, học trò sĩ phu khai bút, nhà nông khai canh, thợ thủ công khai công, người buôn bán mở hàng lấy ngày: Sĩ, Nông, Công, thương "Tứ dân bách nghệ" của dân tộc ta vốn cần cù, ai cũng muốn năm mới vận hội hành thôn làm ăn suôn sẻ, đầu xuân chọn ngày tốt đẹp, bắt tay lao động sớm, tránh tình trạng cờ bạc, rượu chè, hội hè đình đám, vui chơi quá đà. Sau ngày mồng một, dù có mãi vui tết, hoặc còn kế hoạch du xuân, đón khách, cũng chọn ngày "Khai nghề", "Làm lấy ngày". Nếu như mồng một là ngày tốt thì chiều mồng một đã bắt đầu. Riêng khai bút thì giao thừa xong, chọn giờ hoàng đạo bắt đầu không kể mồng một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình mình một sản phẩm, dụng vụ gì đó (nguyên vật liệu đã chuẩn bị sẵn). Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người đi chợ phần lớn là đi chơi xuân.

Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp tết, nhất là tối 28, 29; gia đình quây quần bên nồi bánh chưng thì ông bố cho phép vui chơi, có cả trẻ con người lớn những nhà hàng xóm, những gia đình thân cận cùng vui. Tam cúc, cơ gánh, cờ nhảy, cờ tướng, kiệu, chắn, tổ tôm... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đế lế khai hạ, tiễn đưa gia tiên, coi như hết Tết thì xé bộ tam cúc, thu bàn cờ tướng, cất bộ tổ tôm hoặc đốt luôn khi hoá vàng.

Đặc biệt, nếu có tang thì không nên đi xông nhà hay đi mừng tuổi người khác (để tránh cho người khác không bị xui như mình). Cũng vậy, đàn bà có thai thường "kiêng" không đi đâu cả trong những ngày đầu năm mới vì tục ngữ có câu: "sinh dữ, tử lành!"

Ngày xưa, ở chốn thôn quê còn có tục "kiêng" để cối xay gạo trống không vào những ngày đầu năm. Bởi vậy, người ta phải đổ một ít lúa vào cối xay ngụ ý cầu mong năm mới lúc nào cũng có lúa gạo sung túc.

Trong ngày Tết người ta đặc biệt kiêng không dùng những từ hoặc hành động xấu có thể đem lại sự không may cho mình. Sự xui hay không may này sẽ làm cho mình bị "giông" cả năm.

Tóm lại, ngày Tết là ngày tiêu biểu cho truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Giá như phát huy thuần phong mỹ tục đó, từ gia đình ra xã hội, ai ai cũng đối xử với nhau trên thuận dưới hoà, kính giá yêu trẻ... thì đất nước quê hương sẽ tươi đẹp, giàu mạnh, bộ máy pháp luật bớt đi bao nhiêu khó khăn.

Vì sao có tục kiêng hót rác đổ đi trong ba ngày tết?

Trong "Sưu thần ký" có chuyện người lái buôn tên là Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo được thủy thần cho một con hầu tên là Như Nguyệt, đem về nhà được vài năm thì giàu to. Một hôm, nhân ngày mồng một Tết, Âu Minh đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đó nhà Âu Minh lại nghèo đi. Kể từ đó kiêng không dám hót rác ngày Tết.

Tục kiêng hót rác ba ngày Tết nên ngày 30, dầu bận rộn đến đâu cũng phải dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ và những ngày Tết thì mọi người phải hết sức giữ gìn nhà cửa không vứt rác bừa bãi

Đầu năm mới, người ta tránh chửi bới, giận dữ hay cãi lộn. Người ta cũng cố tránh làm đổ vỡ những đồ vật. Vận quần áo đen hay trắng nhân năm mới là xui vì đó là màu của tang tóc, tối tăm. Người ta tránh không đòi nợ (hay bắt nợ). Ngày tết, mọi sinh hoạt thường nhật đều đình chỉ, người ta "kiêng" không quét nhà và đổ rác vì sợ sẽ đổ hay vứt bỏ mất những sự may mắn tốt lành tới nhà mình trong năm mới. Thường thường người ta phải đợi đến ngày "động thổ" mới tiếp tục đổ rác và quét nhà!
>> Tết Nguyên Đán có từ bao giờ?
Tại sao cúng giao thừa ở ngoài trời?
Tại sao có "Tết Hàn Thực?"
Tết Đoan Ngọ có những tục gì?
LỄ TỔ TIÊN NGÀY TẾT
Trong gia đình người Việt thường có một
bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vải). Tuỳ theo từng nhà, cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng, phía sau 2 cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy, với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Cũng có nhà cắm "cành vàng lá ngọc" (một thứ hàng mã) với cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc, buôn bán lãi gấp 5, gấp 10 lần năm trước. Ở giữa có trục "vũ trụ" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khuỷu, vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen giữa đèn và hương là hai cái đĩa để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó), phía trước bát hương để một bát nước trong, coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu, dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới...

Trước bàn thờ nghi lễ truyền thống, ăn mặc lễ phục chỉnh tề, cử chỉ nghiêm trang, dọn lòng trong sạch hướng tâm linh cúng lạy, nguyện sống xứng đáng với ''bề trên''. Sự tín ngưỡng ấy đã góp phần tạo thêm giá trị nhân văn, đạo đức truyền thống, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Sự thờ cúng tổ tiên mách bảo con cháu giữ gìn đạo lý, nề nếp gia phong, sống tình nghĩa thủy chung, tu thân, hướng thiện. Thực tâm cầu thị, yêu đồng loại, sâu nặng cội nguồn...

Dọn cúng mâm cao cỗ đầy. Tề tựu đông đủ. Với các món nấu nướng gia truyền, dâng cúng là những sản phẩm nông nghiệp. Hoa tươi, rượu nếp gạo nấu tinh khiết. Bánh trái, ngũ cốc, thịt gà, heo... Nấu nướng thơm ngon đặt lên cúng trên bàn thờ. Để ông bà yên lòng nhìn thấy các cháu con biết giữ gìn truyền thống ''dĩ nông vi bản'' và đem sức lao động cần cù làm ra thành quả từ lòng đất quê hương của ông cha để lại. Đây chính là nét văn hóa truyền thống góp phần bảo tồn di sản tinh thần và đạo đức trong đời sống con người lưu truyền tự ngàn xưa.

MÂM NGŨ QUẢ NGÀY TẾT

Theo thuyết duy vật cổ đại, tất cả mọi vật chất đều được tạo nên bởi 5 yếu tố ban đầu gồm: kim loại (kim), gỗ (mộc), nước (thủy), lửa (hỏa) và đất (thổ) - gọi là ngũ hành. Tư tưởng này xâm nhập sâu sắc vào đời sống văn hóa của các dân tộc phương Đông. Tục lệ chưng mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết của người Việt Nam là một trong những biểu hiện của tư tưởng này.
Mâm ngũ quả là mâm trái cây có năm loại quả khác nhau. Tùy theo đặc điểm tự nhiên, phong tục tập quán và quan niệm, người dân mỗi vùng, miền có cách chọn các loại quả đặc trưng mang ý nghĩa riêng.
Mâm quả bày theo cách của người miền Bắc, không kiêng cả trái ớt mang vị cay
Nếu căn cứ theo màu sắc trong triết lý phương Đông thì mâm ngũ quả phải có 5 loại quả với 5 màu khác nhau:
Đầu tiên là chuối xanh - ứng với mùa xuân (hành mộc). Nải chuối như bàn tay ngửa, hứng lấy những gì tinh túy nhất của mùa xuân để đọng thành quả ngọt; nó còn có ý nghĩa che chở, bảo bọc.
Chuối xanh ứng với mùa xuân Phật thủ như bàn tay Phật
Thứ hai là quả Phật thủ màu vàng – tượng trưng hành thổ nên được đặt ở giữa, trong lòng nải chuối. Phật thủ là loại quả có mười cánh múi chụm lên như 10 ngón tay nên dân gian gọi là tay Phật. Phật thủ được trưng lên bàn thờ với niềm cầu mong được bàn tay Phật trời ban phúc lộc. Nếu không tìm được Phật thủ, có thể thay bằng quả bưởi chín vàng, cũng mang ý nghĩa tương tự.
Cam đỏ ứng với mùa hạ Roi (mận) trắng ứng với mùa thu
Tiếp theo, 3 loại quả khác có các màu đỏ (ứng với mùa hạ - hành hỏa) như ớt sừng, cam - quýt chín, trứng gà, hồng…; màu trắng (ứng với mùa thu – hành kim) như roi, đào; màu đen (ứng với mùa đông – hành thủy) như mận, hồng xiêm…


Hồng xiêm tượng trưng cho hành thủy, ứng với mùa đông
Mâm ngũ quả làm cho quang cảnh Tết và không gian thờ cúng thêm ấm áp, rực rỡ mà hài hòa; thể hiện sinh động ý nghĩa triết học - tín ngưỡng - thẩm mỹ, đồng thời cũng chứa đựng ước vọng của con người…
Theo đó, mâm ngũ quả của người dân Nam Bộ thường có các loại quả mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ứng với câu “cầu vừa đủ xài sung”; thêm “chân đế” là 3 trái thơm (dứa) thể hiện sự vững vàng. Ngoài ra, không thể thiếu cặp dưa hấu. Dưa hấu ruột đỏ vỏ xanh, tượng trưng cho lòng trung nghĩa và trinh tiết của người dân phương Nam…
Tuy mỗi miền mỗi khác, nhưng tựu trung, mâm ngũ quả trên bàn thờ ngày Tết vẫn là nơi hội tụ của hồn quả, hương cây, của nếp văn hóa dân tộc và của ý nguyện cầu hòa, an, đủ của người dân Việt.
Nhiều năm gần đây, khi mức sống người dân ngày càng được nâng cao, giao lưu kinh tế, văn hóa cũng ngày càng được mở rộng, mâm ngũ quả ngày Tết không còn chỉ gồm 5 loại trái mà đã trở thành lục, thất,… thập quả, với đủ sắc màu, kiểu dạng. Song, vẫn có những điều không khác, theo quan niệm của người dân từng vùng, miền.

Mâm ngũ quả đặc trưng của Nam bộ

Nếu như ở miền Bắc, hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày lên bàn thờ, kể cả quả ớt mang vị cay đắng, miễn sao mâm ngũ quả trông đẹp mắt là được; thì người miền Nam lại có sự kiêng cữ. Mâm ngũ quả của người miền Nam không bao giờ có chuối, vì loại quả này tên gọi có âm giống từ “chúi”, thể hiện sự nguy khó. Quả cam cũng không được có mặt trong mâm ngũ quả ngày Tết, vì câu “quýt làm cam chịu”…
Những công đoạn cuối cùng cho các đường hoa đang gấp rút hoàn thiện chiều 30/12.
Mọi nẻo đường, không gian công cộng Đà Lạt tràn ngập các loài hoa.
Hoa đua nhau khoe sắc, rực rỡ giữa không gian lạnh đầy sương.
Tạo hình không gian hoa ở chùa Quan Thế Âm cạnh hồ Xuân Hương.
Các nghệ nhân từ Huế và TP HCM tham gia tạo hình cho không gian hoa.
Dùng hoa trái kết thành hình rồng với nhiều tư thế khoe dáng mạnh mẽ.
Tạo hình ly rượu vang tại "Con đường hoa và rượu vang". Dự kiến 5.500 lít rượu vang Đà Lạt sẽ mời miễn phí đến du khách tham quan.

Hình ảnh đàn cò trắng, ruộng lúa chín vàng, dòng suối nhỏ hay những chiếc xe cải tiến mang dáng dấp làng quê Việt Nam nổi bật trong lễ hội hoa Hà Nội.

Tượng đài Lý Thái Tổ sáng bừng trong đêm hội hoa.
Hoa lung linh bên tháp Rùa Hồ Gươm.
Hình ảnh Khuê Văn Các và đầm sen.
Chiếu dời đô bằng gỗ khảm trai kỷ lục với chiều cao 1,93 m, rộng 1,27 m nặng 79 kg xen giữa muôn ngàn hoa Tulip.
Chiếc áo dài được kết từ 1.000 bông hoa lụa và hoa khô, dài 10 m, nặng 30 kg được sắp đặt cùng với tiểu cảnh trống hội. Trên tà áo, những bông hoa được kết thành một bức tranh tượng trưng cho 4 mùa của Hà Nội.
Xích lô lọng vàng với các chàng trai áo the khăn xếp, các cô gái áo dài đỏ.
Hoa xung quanh những chiếc chum gốm.
Hình ảnh làng quê Việt Nam với những rặng tre xanh lung linh trong đêm, hàng lau, đàn cò trắng trên ruộng lúa, chiếc xe cải tiến và chiếc cầu tre bắc qua hồ .
Cô dâu chú rể tranh thủ chụp ảnh, còn các cô gái này thích thú chụp ảnh với biểu tượng Hà Nội được kết bằng hoa.

No comments:

Post a Comment