Thursday, September 29, 2011

Vài trí thức nổi tiếng Việt Nam(2)

http://chimviet.free.fr/37/gioithieu37/vyen066d.jpgNGUYỄN ĐẠT XƯỜNG (1914-2006)
ông Nguyễn Đạt Xường, nhà nghiên cứu khoa học về hoá dược, đã từ trần ngày 18.12.2006 vừa qua tại Antony (ngoại ô phía nam Paris, Pháp), thọ 92 tuổi.
Ông Nguyễn Đạt Xường sinh ngày 2 tháng 6.1914 tại Trà Vinh. Sau khi theo học trường trung học Pétrus Ký (Sài Gòn), ông sang Pháp du học (trong Hồi kí của mình, bác sĩ Trần Hữu Nghiệp kể lại đã gặp "anh Nguyễn Đạt Xường làm hầu bàn để được bao ăn và khỏi trả tiền" tại trụ sở "Ái hữu người An Nam", phố Jean de Beauvais (quận 5, Paris) trong những năm 1930). Trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhì, ông tự nguyện tham gia quân đội Pháp. Năm 1945, giải ngũ với quân hàm thiếu uý Trung đoàn 52 bộ binh thuộc địa (RIC). Năm 1954, vào quốc tịch Pháp. Ông có lập gia đình và có 3 người con.
Ông bào vệ luận án tiến sĩ khoa học năm 1947, làm việc tại Viện Hóa học các Chất Tự nhiên thuộc Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học (CNRS) tại Gif sur Yvette. Về hưu năm 1979 với chức vị nghiên cứu sư danh dự (maître de recherche honoraire). Nguyễn Đạt Xường là tác giả và đồng tác giả của khoảng 300 bài nghiên cứu và thông báo khoa học : 65 bài về hóa trị tổng quát, 50 về hóa học hữu cơ, 40 bài về điều trị bệnh lao và phong hủi và khoảng 50 bài về những chất dẫn xuất mới của hydroxy-9-ellipticin (điều trị ung thư). Sau khi về hưu, cụ thể là từ năm 1985, ông nghiên cứu về hóa trị những bệnh suy thoái màng não (lão hóa, Alzheimer, nhiễm vi-rút...). Cũng trong thời gian này, ông đã nhiều lần về thăm Việt Nam và phổ biến những sáng chế của ông về thuốc trị ung thư, thuốc tăng tuổi thọ, hoá chất chống nước phèn, tặng thiết bị thuỷ tinh cho phòng thí nghiệm hoá học (xem bài của Lâm Thành Mỹ)
Ông đã nhận được nhiều giải thưởng khoa học : giải Bariot-Faynot (1954), giải Laura Mounier de Sadirakis (1972) của Viện hàn lâm khoa học Pháp, giải Bergonié (1953), giải Marchoux (1963) của Viện hàn lâm y học Pháp, giải Rosen về ung thư học (1975). Ông được nhà nước Pháp tặng các huân chương "Hiệp sĩ Y Tế" (Chevalier de l'Ordre de la Santé Publique, 1964), "Sĩ quan" và "Tư lệnh Quốc công" (Officier et Commandeur de l'Ordre National du Mérite, 1971 và 1982).
[Trong "tri thức" truyền miệng của nhiều giới Việt Nam, tên tuổi của ông Nguyễn Đạt Xường thường gắn liền với tên tuổi của ông Bửu Hội nhất là trong việc "sáng chế ra dầu cà cuống nhân tạo". Điều này có một phần cơ sở vì trong nhiều năm, ông Nguyễn Đạt Xường là cộng tác viên thân cận của ông Bửu Hội, và trong phòng thí nghiệm của giáo sư Bửu Hội, ông Xường và các cộng tác viên đã làm tổng hợp nhân tạo các hợp chất có trong tinh dầu cà cuống : non 50 hexanyl, hexenyl, hexynyl, cyclohexanyl, cyclohexenyl ester (acetat, butyrat, propionat, hexanoat, decanoat, valerianat, benzoat, ethoxalat, theonat, furoat, nocotinat,…). Nhưng kết quả này chưa hề được công bố và không được khai thác về mặt ứng dụng, có lẽ vì các chất nhân tạo nầy thoạt xem không thấy có hương vị thơm cay, ngon lành như dầu thiên nhiên (xem bài Dầu cà cuống : hương vị độc đáo của Võ Quang Yến). Thực ra, người đầu tiên đã tìm ra một thành tố quan trọng trọng của tinh dầu cà cuống là ông Nguyễn Đăng Tâm : phân tử (E)-2-hexenol acetat (E hay trans là một trong hai thể của dấu nối đôi giữa hai carbon 2 và 3, dạng kia là Z hay cis). Trong luận án tiến sĩ dưới sự hướng dẫn của giáo sư Adolf Butenandt tại Viện Sinh vật học Max-Planck ở Tubingen-München, ông Nguyễn Đăng Tâm còn đề nghị một phương pháp nhân tạo tổng hợp phân tử ấy từ butyraldehyd và ethyl malonat trong môi trường pyridin (xem bài của Võ Quang Yến đã dẫn)].
Kiến Văn(Chúng tôi thành thực cảm ơn anh Võ Quang Yến đã cung cấp cho chúng tôi những thông tin về thân thế và sự nghiệp khoa học của ông Nguyễn Đạt Xường).

http://image.xahoi.com.vn/news/2011/9/24/18/ngxuanvinhinjpg1316828621.jpgGiáo Sư Nguyễn Xuân Vinh
Giáo sư Nguyễn Xuân Vinh sinh ngày 3 tháng Giêng năm 1930 tại Yên Bái, Bắc Việt. Ông theo học Trường Võ Bị Không Quân Pháp ở Salon de Provence và tốt nghiệp sĩ quan với bằng phi công hai động cơ và bay phi cụ năm 1954. Ông được bổ nhiệm làm Tham Mưu Trưởng Không Quân Việt Nam tháng 10 năm 1957 và từ tháng 2 năm 1958 đến tháng 8 năm 1962 ông đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Không Quân. Năm 1965 ông là người đầu tiên được cấp bằng tiến sĩ khoa học hàng không và không gian của Đại học Colorado. Ông cũng đậu bằng tiến sĩ quốc gia toán học của Đại học Paris VI vào năm 1972. Từ năm 1968 ông dậy tại Đại học Michigan và được thăng cấp giáo sư thực thụ năm 1972. Ông về hưu trí năm 1999 và được tặng tước vị "Professor Emeritus of Aerospace Engineering".
Giáo sư Vinh là tác giả ba cuốn sách chuyên môn và hơn 100 bài khảo cứu về cơ học không gian và qũy đạo tối ưu. Qua những sự đóng góp chuyên môn của ông, giáo sư Vinh được bầu làm viện sĩ ngoại quốc của Hàn Lâm Viện Hàng Không và Không Gian Pháp (Académie Nationale de l’Air et de l’Espace) vào năm 1984 và viện sĩ chính thức của Hàn Lâm Viện Không Gian Quốc Tế (International Academy of Astronautics) vào năm 1986. Ở Trường Kỹ Thuật tại Đại Học Michigan ông được tặng cả hai giải thưởng xuất sắc về giáo dục và xuất sắc về khảo cứu. Ông được tặng Huy Chương Danh Dự của Viện Hàng Không và Không Gian Hoa Kỳ (American Institute of Aeronautics and Astronautics) năm 1994 về môn Cơ Học và Điều Khiển Phi Hành. Năm 2006 giáo sư Vinh lại được chọn để nhận giải Dirk Brouwer về Cơ Học Phi Hành Không Gian của Hội Khoa Học Vũ Trụ Hoa Kỳ (American Astronautical Society) về những đóng góp xuất sắc và trường kỳ của ông về môn này. Là một chuyên gia nổi tiếng thế giới về Cơ học Phi hành Không gian (Astrodynamics) và Lý thuyết Điều khiển Tối ưu (Optimal Control Theory), giáo sư Vinh đã được mời thuyết giảng và làm giáo sư thăm viếng ở nhiều Đại học ở Hoa Kỳ và các nước Pháp, Anh, Đức, Ý, Đài Loan, Nhật Bản, và Ba Tây, … Thành tích của ông đã được trình bày tại phòng du khách thăm viếng ở Trung Tâm Không Gian Phi Hành NASA ở Houston vào tháng 9 năm 1989 và từ năm 1982 giáo sư Nguyễn Xuân Vinh là một trong số 14 nhân vật Hoa Kỳ gốc Á châu được in hình và tiểu sử vào tập tranh dùng làm tài liệu giáo dục ở các trường Tiểu và Trung học trên toàn quốc.
Đối với người Việt Nam thì giáo sư Nguyễn Xuân Vinh lại còn là một nhà văn có tài năng. Cuốn “Đời Phi Công” ông viết dưới bút hiệu Toàn Phong đã được giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc năm 1961. Cuốn "Theo Ánh Tinh Cầu" của ông do nhà xuất bản Đại Nam ấn hành năm 1991 cũng được tiêu thụ hết ngay trong năm đầu. Hiện nay, để hướng về độc giả trẻ ở hải ngoại, ông đang viết một tập truyện tình cảm đề là “Tìm Nhau Từ Thuở” dùng bút hiệu Xuân Vinh, và một tập truyện toán vui đề là “Vui Đời Toán Học” dưới tên thực, trong đó ông kể nhiều chuyện về cuộc đời học Toán của mình. Từ ba mươi năm nay, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh đã tới tiếp xúc và nói chuyện với giới trẻ Việt Nam ở khắp mọi đô thị lớn trên Hoa Kỳ mà có đông người Việt. Từ năm 1998, Hội Khuyến Học ở thành phố St Louis, thuộc tiểu bang Missouri đã đặt ra một giải thưởng lấy tên là "Giải Truyền Thống Nguyễn Xuân Vinh" để mỗi năm lại tặng cho một học sinh tốt nghiệp thật xuất sắc bậc Trung Học mà có tinh thần phục vụ cộng đồng cùng biết giữ gìn truyền thống cao đẹp của giòng giống Lạc Hồng.
Cuối tháng Chín năm 2003, hơn ba trăm đại biểu của các đoàn thể quân đội, cảnh sát quốc gia và lực lượng bán quân sự trên toàn thế giới, cùng với thế hệ hậu duệ, đã họp Đại Hội Toàn Quân ở Anaheim, California và bầu, với đa số tuyệt đối, giáo sư Nguyễn Xuân Vinh, cựu Tư Lệnh Không Quân Việt Nam, làm chủ tịch đầu tiên của Hội Đồng Đại Diện của Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hoà Hải Ngoại.
Nguyễn Phú Phong, nhà ngôn ngữ họcLê Thị Xuyến (*Ban Việt học, Trường đại học Paris 7 - Denis Diderot)
Anh Nguyễn Phú Phong, Tiến sĩ Quốc gia Ngôn ngữ học, Giám đốc Nghiên cứu thuộc Trung tâm Nghiên cứu Ngôn ngữ học Đông Á (CRLAO/EHESS-CNRS), Giáo sư phụ trách học trình đệ tam cấp Ban Việt Học, trường Đại học Paris 7 (Denis Diderot) là một gương mặt quen thuộc trong giới nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ học ở Pháp, ở Việt Nam cũng như ở nhiều nước trên thế giới.
Anh Nguyễn Phú Phong sinh năm 1934 tại Đà Nẵng. Năm 1973, anh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ về « Le syntagme verbal en vietnamien » (Ngữ đoạn động từ trong tiếng Việt) dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A.G.Haudricourt, nhà ngôn ngữ học và dân tộc học lớn của nước Pháp.
Sau nhiều năm làm việc miệt mài tìm kiếm những giá trị mới về ngữ pháp tiếng Việt, năm 1992, Anh đã bảo vệ xuất sắc luận án Tiến sĩ Quốc gia với đề tài “Le syntagme nominal en vietnamien - les classificateurs et les déictiques” (Danh ngữ trong tiếng Việt - Các loại từ và các chỉ thị từ) dưới sự hướng dẫn của Giáo sư A. Culioli, nhà ngôn ngữ học đại diện cho trường phái ngôn ngữ học hình thức (linguistique formelle) và ngôn ngữ học phát ngôn (linguistique énonciative) ở Pháp.
Chính vì vậy, các công trình nghiên cứu của anh Phong ít nhiều đều có ảnh hưởng sâu sắc từ những phương pháp, quan điểm cũng như tư tưởng học thuật của hai nhà ngôn ngữ nổi tiếng này.
Sự nghiệp nghiên cứu và giảng dạy của anh Nguyễn Phú Phong gắn bó trọn vẹn với ngành ngôn ngữ học của Trung tâm Quốc gia Nghiên cứu Khoa học Pháp, của Đại học Paris 7 suốt từ những ngày đầu thành lập Ban Việt Học (1970) đầy khó khăn về hành chính cho đến lúc Anh được nghỉ hưu (2000).
Ngoài công tác giảng dạy chuyên về các cấu trúc danh ngữ và ngữ đoạn động từ trong tiếng Việt, lí thuyết loại từ, từ láy xét theo phương diện hình thái học, sự hình thành và đối chiếu hai thứ chữ viết của tiếng Việt (chữ nôm theo mô hình chữ Hán và chữ quốc ngữ theo hệ chữ cái La Tinh), về đại từ chỉ ngôi trong tiếng Việt, anh Nguyễn Phú Phong đã công bố sáu cuốn sách và một số lượng lớn về các bài nghiên cứu được đăng trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước.
Trong các công trình của anh như : Le vietnamien fondamental (Tiếng Việt cơ bản) Klinksieck, 1975, Le vietnamien par les textes (Tiếng Việt qua văn bản), Sudestasie, Paris, 1984 và một số cuốn sách khác thì hai cuốn chuyên khảo về ngữ pháp tiếng Việt được nhắc tới nhiều nhất là :
Le syntagme verbal en vietnamien (Ngữ đoạn động từ trong tiếng Việt), do nhà xuất bản Mouton, La Haye - Paris in ra năm 1976. Cuốn sách này vốn là luận án tiến sĩ cấp 3, có sửa đổi và bổ sung.
Questions de linguistique vietnamienne - Les classificateurs et les déictiques (Những vấn đề ngôn ngữ học tiếng Việt - Các loại từ và các chỉ thị từ). Đây nguyên là luận án Tiến sĩ Quốc gia đã được tác giả hiệu chỉnh và được Trường Viễn Đông Bác cổ in ra năm 1995.
Tác phẩm này gồm hai phần: Phần thứ nhất đề cập đến “Các loại từ” (tr.9-121) và phần thứ hai đề cập đến “Các chỉ thị từ”(tr.123-268). Vấn đề định lượng (quantification) hay đúng hơn là khả năng định lượng hoá (quantifiabilisation) được tác giả phân tích, miêu tả thấu đáo trong toàn bộ phần đầu.
Phần II của tác phẩm thì tác giả đề cập tới vấn đề về các đại từ trong tiếng Việt, nghiên cứu trên phương diện tu từ học, cú pháp và ngữ dụng học.
Hầu hết các luận án được bảo vệ tại Pháp của cán bộ giảng dạy tại các trường Đại Học Hà nội, Huế, Sài gòn và thực tập sinh Việt Nam đều phải kể đến hai cuốn sách có giá trị này.
Anh Nguyễn Phú Phong là một nhà giáo và một nhà khoa học mẫu mực.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc của Diễn Đàn những công trình của G.S-T.S Nguyễn Phú Phong mà Anh đã đóng góp và cống hiến cho ngành ngôn ngữ học nói chung và ngành ngôn ngữ học Việt Nam nói riêng.
Các tác phẩm :
Le vietnamien fondamental. Klincksieck, Paris, 1975, 155p.
Le syntagme verbal en vietnamien. Mouton, La Haye, Paris, 1976, 140p.
Le vietnamien par les textes. Sudestasie, Paris, 1984, 170p.
Questions de Linguistique Vietnamienne. Les classificateurs et les déictiques. Presse de l’EFEO, Paris, 1995, 286p.
Le parler Nguồn. Introduction linguistique, Lexique et Contes. Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 13, Université Paris 7, 1997, 107p.
Việt Nam - Chữ viết, Ngôn ngữ và Xã hội. Đại học Sư Phạm TP.Hồ Chí Minh, 2005,144 tr.
Các bài báo :
La phrase interrogative en vietnamien, Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 1, Université Paris 7, 1974: 4-13.
La terminologie grammaticale en vietnamien, Travaux de linguistique japonaise, Université Paris 7 : Problèmes terminologiques, 1975: 59-65
Le problème des classificateurs en vietnamien, Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 2, Université Paris 7, 1975: 68-81.
A propos de certains homonymes en vietnamien, ASEMI, vol.VI, 4, 1975 : 57-61
Về vấn đề láy từ trong tiếng Việt (Sur le redoublement en vietnamien), Tập san Khoa Học Xã Hội (Revue des Sciences Sociales) n°1, 1976 :73-81. Paris. Repris dans Ngôn Ngữ (Revue Langages), 2, 1977: 61-68. Hanoi, Vietnam
Vietnamese literatuur, Moderne Encyclopedia Wereld-litteratuur. Belgique, Evergem, 1977
Vài chuyển biến trong phụ âm đầu tiếng Việt và các từ láy liên hệ (Quelques mutations consonantiques en vietnamien et les dérivations correspondantes), Tập san Khoa Học Xã Hội (Revue des Sciences Sociales) n°3, 1977 :73-81. Paris
A propos du Nôm, écriture démotique vietnamienne, Cahiers de linguistique Asie Orientale 4, 1978: 43-55
Deux types d’interrogatives en vietnamien, Cahiers de linguistique Asie orientale 6, 1979: 75-89
Vài nhận xét về ngữ âm lịch sử tiếng Việt (Remarques sur les mutations de quelques initiales en vietnamien), Tập san Khoa Học Xã Hội (Revue des Sciences Sociales) n°6, 1979: 87-89.Paris
Nhận xét về phủ định (Sur la négation en vietnamien), Tập san Khoa Học Xã Hội (Revue des Sciences Sociales) n°7, 1980. Paris
Vietnam : de la sculturaction china a la emancipation (Acculturation et émancipation des pays sinisés), dans Historia Universal Salvat, Tome V. Barcelone, Espagne : Salvat Editors, 1981
Division del pais y llegada de los europeos (Partition du pays entre les Nguyen et les Trinh - Arrivée des Européens), dans Historia Universal Salvat, Tome VII. Barcelone, Espagne : Salvat Editores, 1982
Le travail lexicologique au Vietnam, Sudestasie magazine 24, 1952 :42-43. Paris
Formation et standardisation du vocabulaire scientique et technique en vietnamien, in I.Fodor et C.Hagège (éds.), La réforme des langues. Histoire et avenir, Vol.III. Hamburg : Hulmut Buske Verlag, 1984 :1-21
Les questions oui-non en vietnamien, in P.Valentin (éd.), L’interrogation. Presse de l’Université de Paris-Sorbonne, 1984 : 243-256
L’avènement du quôc ngu et l’évolution de la littérature vietnamienne. Quelques considérations linguistiques, Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 9, Université Paris 7, 1988 :3-18.
Le vietnamien : un cas de romanisation inachevée, Cahiers d’ d’Etudes Vietnamiennes 10, Université Paris 7, 1989-90 :25-32
Vietnamese Démonstratives Revisited, Mon-Khmer studies 20, 1992:127-136
La deixis en vietnamien, in M.-A.Morel et L.Danon-Boileau (éds.), La deixis. Paris, PUF, 1992 : 167-176
Deux organisations de la personne en vietnamien ; Fait de Langues 3 : 1994 : 193-201
Quelques aspects de la négation en vietnamien, Cahiers de linguistique Asie Orientale, vol.23, 1994 :231-240
Le démonstratif indéfini en vietnamien, Faits de Langues 3, 1994 : 57-64
Vô định, nghi vấn và phủ định [Indéfini, interrogatif et négatif], in Ngôn ngữ (Revue Langages) 2, 1994, 8-13. Hanoi, Vietnam
(Traduction et adaptation de Vuong Huu Lê), Sur les rimes du parler vietnamien da Quang Nam à Hôi An, Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 11, Université Paris 7, 1995 : 3-7
Personal pronouns and Pluralization in Vietnamese, Mon-Khmer Studies 25, 1995: 7-14
Negation in Vietnamese and in some of the Viet-Muong languages, Pan-Asiatic Linguistics, Proceeding of the Fourth International Symposium on Languages and Linguistics, vol.II, 1996:563-8. Institute of Language and Culture for Rural Developpement, Mahidol University at Salaya, Bangkok, Thailand.
Đại từ nhân xưng tiếng Việt [Les pronoms personnels en vietnamien], Ngôn ngữ [Revue Langages] 1, 1996 : 8-19. Hanoi, Vietnam
Từ chỉ biệt trong tiếng Việt (L’article défini cái en vietnamien}, Ngôn ngữ [Revue Langages] 1, 1996 : 8-19. Hanoi, Vietnam
The Nguôn language of Quang Binh, Vietnam, Môn-Khmer Studies 26, 1997: 179-190
Reduplication and Affixation in Vietnamese, in B.Caron (éd.) Actes du 16è Congrès International des Linguistes (Paris 20-25.7.97). Oxford, Elsevier Sciences. CD Rom
Personal pronouns in Vietnamese and in Muong, Cahiers d’ d’Etudes Vietnamiennes 16, Université Paris 7, 2003 : 86-93
Aspect de morphologie vietnamienne, Cahiers d’ d’Etudes Vietnamiennes 17, Université Paris 7, 2004 : 45-59
G.S- T.S Nguyễn Phú Phong, đồng tác giả trong các bài viết về ngôn ngữ và báo cáo khoa học
với Giáo sư M.Ferlus :
Analyse de quatre articles d’ethno-linguistique Việt - Mường, Cahiers d’Etudes Vietnamiennes 3, Université Paris 7,1977 : 3-16
với hai Giáo sư M.Ferlus và Trần Trí Dõi :
Lexique Vietnamien-Rục-Français.Université Paris 7, Sudestasie,1988, 93p.
với hai Giáo sư M.C.Paris và I.Tamba-Mecz :
L’espace : sa structuration linguistique dans trois langues d’Asie Orientale, Action Interdisciplinaire Programmée, Université paris 7, 1988
A contrastive study of interrogative/indefinite forms in Vietnamese and Chinese. 12 th International Conference on Sino-Tibetan Languages and Linguistics. Paris, 1979
Colloque sur la « La deixis », Université Sorbonne 4, Paris, 1990


http://hoa-hao.com/hinh/LinhMuc00.jpgTưởng nhớ Nguyễn Ngọc Lan
Có nhiều người đọc tên anh, tưởng đang gọi tên một người con gái: Nguyễn Ngọc Lan. Nhưng với tôi, hình hài anh mỏng manh thua cả một người con gái, anh đích thực là một bậc nam nhi. Từ hôm anh mất đến nay, đã đọc hơn mười bài viết đây đó nhắc đến tên anh với những nhận xét khác nhau, tôi thấy ý kiến sau đây dường như thích hợp với anh hơn hết: dù khi là linh mục hay đã hoàn tục, lấy vợ, có con, suốt đời, lúc nào anh cũng một mực trung thành với đức tin riêng biệt mà anh đã chọn, dám sống chết cho đức tin ấy, do vậy đã dựa vào đó không ngừng dấn thân tìm cách thay đổi cuộc sống, bằng lời nói, chữ viết và việc làm, thách thức tất cả, bất chấp tất cả những gì thiệt thòi và không hay mang đến cho bản thân.Tôi không có được lòng tin đó, cũng không chia sẻ hoàn toàn thái độ sống nhiều khi quá “cực đoan” của anh (như nhiều người đã nhận xét), nhưng qua suốt quãng thời gian hơn 30 năm gần gũi anh trong những hoạt động có mục tiêu chung (nhất là trong viết lách, làm báo sau 30.4.1975), tôi thật lòng kính trọng nhân cách của anh và có ý muốn bắt chước cách nói của anh, trong một bài báo bằng tiếng Pháp hồi anh còn ở bên Pháp, xem anh như một người anh em của mình, một người anh em theo cái nghĩa mà anh đã viết về những Phật tử trong nước bấy giờ đang bị chế độ độ Ngô Đình Diệm truy lùng, bắt bớ: “Phật tử, người anh em của tôi – Bouddhiste, mon prochain” (Témoignage Chrétien, 29.8.1963).
Có một lúc tôi cũng là người đi theo mấy “người anh em” đó, nhưng lại không phải là một Phật tử thuần thành lắm: kính Phật nhưng vẫn cúng Ông Bà và thắp nhang trước bàn thờ Ông Địa, có vẻ linh tinh và nghiêng về phần vô thần nhiều hơn. Đến khi ngả sang cộng sản, bỏ mọi thứ qua một bên, một cách rất xác tín và khoái trá, tự cho mình là đồ đệ của Marx, tưởng rằng như vậy mới là “vô thần khoa học” nhưng về sau do tìm hiểu kỹ mà biết được cái gọi là “chủ nghĩa Mác-Lênin” chỉ là một thứ “tôn giáo trần tục” chẳng có gì khoa học cả, tôi liền nhận ra mình đã trở thành một kẻ vô thần thứ thiệt: càng ngày càng bớt đi những cám dỗ mộng ảo, nhưng có lẽ vì vậy mà lòng ngày càng chai cứng trước những hứa hẹn về một thế giới bên kia.
Một thứ vô thần như vậy thì quả thật vô phương cứu chữa. Bởi thế, do quý trọng anh mà tìm đọc những gì anh viết về Kitô giáo – Đường hay pháo đài ? (1969), Chủ nhật hồng giữa mùa tím (1997) – sau đó cố gắng tìm hiểu thêm bằng cách đọc cả Kinh Thánh cùng với Sách giáo lý của Giáo hội Công giáo anh gửi cho (soạn sau Công đồng Vatican II, do cựu linh mục Trần Thái Đỉnh dịch), dù thành tâm cách mấy, tôi vẫn chỉ có thể coi là biểu tượng những gì anh nói về Huyền nhiệm Con người, về Tội tổ tông, Phục sinh, Tin mừng, Cứu rỗi… – những biểu tượng ấy với tôi không khác gì với những biểu tượng đã có và đang có trên thế giới này.
Tuy vậy khi đọc những đoạn anh nói về Đức Yêsu của anh, tôi thấy thú vị và có lúc nao nao. Có vẻ như ông ấy hơi giống anh: gầy gò nhưng quá xác tín và hay nổi giận, nhiều khi thốt ra những lời lẽ mà anh gọi là “loạn”, “quá đáng”, chẳng kiêng nể ai cả! Có một chút kinh nghiệm để dị ứng với cái thế giới quan phương lúc nào cũng làm ra long trọng, quen thói lê la đầu đường xó chợ, tôi thấy ông ấy rất đỗi bình dân và cũng hơi luộm thuộm giống tôi, nhưng lại có một điều tệ hơn tôi rất xa: suốt đời ông không có nhà cửa, suốt đời ông chỉ miên man trên đường, cuối cùng bị đóng đinh trên đường một cách thảm thương. Về mặt này thì tôi hiểu được tại sao anh nói đạo của anh là “đạo ngoài đường”.
Những con đường nhân sinh bụi mù, hỗn tạp. Trên những con đường ấy, ông Yêsu của anh gặp mọi hạng người. Có những đám quan quân đế quốc hằm hè, để bị thẩm vấn và đối phó. Có những kẻ giả hình kênh kiệu (những kẻ mà Sartre gọi là lâches hoặc salauds), để phải mắng mỏ họ. Nhưng nhiều nhất vẫn là những ngưởi nghèo khổ, những người bất hạnh, bị hắt hủi, những người ngoại đạo, để nói chuyện với họ, giúp đỡ, an ủi họ… Chúa của anh, như vậy, cũng theo anh diễn tả, suốt đời là một kẻ thuyết pháp “không có chỗ trụ trì”, một người lữ hành “không có chỗ ngả đầu”, người lữ hành ấy chưa hề có ý định dừng chân lại ở một trú sở yên hàn nào, dù đó là một nhà thờ nguy nga hay một giảng đường hoành tráng.
Một ông Chúa lang thang như vậy không khác gì thái tử Tất Đạt Đa, bỏ cung vàng điện ngọc đi tìm sự thật, và khi sự thật đã tìm ra để thành Phật (định nghĩa như người giác ngộ) thì ông Phật ấy căn cốt vẫn chỉ là một “ngón tay trỏ” chỉ đường. Nhận xét ấy của anh quả thật đã làm tôi hết sức bất ngờ, do tôi đã đọc Phép giảng tám ngày của De Rhodes nói rất tệ về Phật. Nhưng tôi hiểu ý anh: một đạo Phật như vậy không khác gì đạo Chúa vì chỉ tìm được lý do tồn tại trong cõi nhân gian ta bà, như một nỗ lực tìm kiếm và đối thoại khó khăn với một chúng sinh hỗn tạp, một mời gọi về một viễn cảnh mênh mông, chỉ có thể khẳng định bằng một lòng tin… chứ không hề là những xác quyết chắc nịch trong kinh kệ, bày biện trong những cung miếu xây dựng đâu vào đó, kiên cố như những pháo đài.
Anh có viết mấy dòng làm tôi không bao giờ quên được: người theo đạo không phải là người có đạo, hiểu theo nghĩa là một chủ nhân ông sở hữu một cái gì đó để làm mình “có phước” hơn người khác (giống như có nhà rộng, có xe chiến, có vợ đẹp, con ngoan…), sau này được lên thiên đường, ngon lành hơn những kẻ trầm luân trong địa ngục, mà chính là người biết cảm thông những đau khổ, mất mát của người khác nhiều hơn, biết thương yêu người khác nhiều hơn, từ đó biết trách nhiệm với người khác nhiều hơn. Anh gọi một người theo đạo như vậy là người đi đạo – anh thường nói đi nói lại: “đạo là đường” – định nghĩa như một tín hữu không có gì trong hành trang ngoài một lòng tin để mang tới cho đời sống một ý nghĩa, hoàn toàn xa lạ với những kẻ muốn núp vào một định chế tinh thần nào đó được bảo vệ bằng những thứ quyền uy trần tục, dễ dãi, tầm thường.
Một tinh thần tôn giáo như vậy không thể nào tách khỏi những môi trường quy định đời sống con người; nhưng do lẽ những con người bấy lâu nay vẫn lầm than trong các địa ngục cho nên hãy quan tâm, tìm đến với những con người đang lặn ngụp trong những địa ngục ấy trước khi nói đến Thiên đàng. Với một tinh thần tôn giáo như vậy, một nước Thiên đàng trừu tượng, yên ấm, đối lập với Địa ngục chỉ là sản phẩm viễn mơ của những gã trọc phú giả hình. Và một quan niệm về đi đạo như vậy rõ ràng không thể chỉ hướng về cứu rỗi linh hồn mai sau mà còn phải đảm nhiệm nhiều hơn cuộc đấu tranh làm cho tốt đẹp hơn cái đời sống hiện thực hôm nay. Có thể nghĩ rằng những người đi đạo theo cách của anh đã muốn men theo triền dốc của những “linh mục đỏ” – chủ trì một Thần học Giải phóng đối lập với Thần học Vâng phục – bắt nguồn từ một số nước Mỹ La Tinh trong những năm 60, 70 của thế kỷ trước. Đọc anh tôi thấy anh không công khai trực tiếp ủng hộ xu hướng này, nhưng ẩn chìm dưới những dòng chữ và trong hành động của anh, tôi thấy ảnh hưởng của xu hướng đó là có thật, nhưng chỉ biểu hiện như một nguồn cảm hứng kín đáo, dựa vào đó anh bổ sung và tác động thêm vào đường lối canh tân của Giáo hội thời kỳ Công đồng Vatican II (1962-1965), “cấu trúc lại” hình ảnh của Chúa trong diễn đạt và chưng cất lại ý nghĩa của Kinh Thánh theo quan điểm của anh.
Tôi đã nghe người ta nói đến những phản ứng gay gắt của nhiều người (chủ yếu là những đồng đạo của anh) với cái quan điểm mang tính “phản chứng” hoặc “nổi loạn” mà người ta thường cho là quá “cấp tiến” đó. Nhưng với những người ngoại đạo như tôi, vật vờ trong trong cái bầu khí tù hãm về tư tưởng của những “phố thị đìu hiu”, anh đã xuất hiện như một cuộc hội tụ thật là mới mẻ về mặt tinh thần: tất cả những khác biệt về niềm tin hay không tin, hữu thần hay vô thần đều có thể gặp nhau và đối thoại trong cuộc tranh đấu thay đổi vận mệnh con người trên thế gian này. Nhất là vận mệnh một dân tộc nhược tiểu, bị trị triền miên, nghèo đói triền miên, đang bị lôi vào một cuộc chiến tranh khốc liệt chưa từng có trong lịch sử của mình.
Như nhiều thanh niên khác, tôi đã nhìn về anh chăm chú, sau nhiều cuộc “xuống đường” mệt mỏi từ 1963 trở đi. Sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm kéo theo sự sụp đổ của cái huyền thoại về một miền Nam “tự do dân chủ” đã trở thành điều hiển nhiên không cần bàn cãi nữa. Những nỗ lực ồn ào của nhữrng chính khách mong tìm ra một thứ chính nghĩa mới lôi kéo được chúng tôi đi theo để tiếp nối chế độ Ngô Đình Diệm trên con đường chống bọn “quỷ đỏ vô thần” đã không mang đến gì ngoài những năm tháng xáo trộn, rã rời. Cuộc “cách mạng xã hội” mệnh danh “không cộng sản” do một số trí thức đề xuất từng làm chúng tôi bâng khuâng lãng mạn vì tính chất táo bạo của nó cuối cùng đã trở thành những khẩu hiệu tặng không cho những cán bộ bình định nông thôn có trụ sở ở Vũng Tàu do Mỹ lập ra và tài trợ.
Anh đã về nước vào đúng cái thời điểm chuyển động gay gắt đó trong tâm tư cả một thế hệ thanh niên lớn lên ở miền Nam sau 1954, giờ đây đã không còn có sự phân biệt giữa Phật giáo hay Công giáo, Nam kỳ hay Bắc kỳ, di cư hay không di cư nữa. Tất cả mọi toan tính về cuộc sống tương lai yên lành của chúng tôi đều trở nên bèo bọt không khác gì những ảo tưởng tinh thần từng ấp ủ đã vỡ tan trước cái thực tại chiến tranh ngày càng đụng chạm trực tiếp đến bản thân mỗi người đàn ông: đi lính hay không đi lính, nếu không muốn đi lính thì làm sao để trốn lính, để khỏi chết, còn đã đi lính rồi, nếu phải chết thì sẽ chết cho ai, chẳng lẽ thí mạng mình cho một nhúm những kẻ thối nát đang hô hào chống cộng chỉ với mục đích duy trì sự tồn tại thối nát của họ?
Tâm trạng xao xuyến ấy đã được phản ảnh rất rõ rệt trên những trang viết trong những tác phẩm của những tác giả quen biết bấy giờ như Thế Uyên, Nguyên Vũ, Phan Nhật Nam, Dương Nghiễm Mậu, Nguỵ Ngữ, Thế Vũ v.v… đặc biệt phát triển mạnh mẽ khi cuộc chiến tranh lan tràn ra khắp nước, mở rộng ra cả toàn cõi Đông Dương. Máu lửa, thây người ngã gục, què cụt, đui mù, goá phụ, khăn tang, nhà cửa, núi rừng, đồng ruộng tan hoang, hoài nghi, buồn nản lảng vảng khắp nơi. Cái hình tượng người lính Cộng hoà “bảo quốc an dân” mà bây giờ có người còn luyến tiếc nói đến, nếu nhớ lại cho chính xác trong những ngày máu lửa cũ thì phải cố mà thành thật để nhận ra rằng hình tượng đó chỉ tồn tại trong cái dòng văn chương mà Nguyên Sa gọi là “văn hoá tâm lý chiến” thôi. Và cũng chỉ là một thứ “vòng hoa nguỵ tín” như cái tựa một truyện ngắn của Thế Vũ thôi.
Anh về nước trong tình thế đó, anh đã hoà nhập ngay vào nỗi hoang mang của thế hệ chúng tôi. Nhưng với cái tâm thức và lý luận phản kháng có sẵn trong người từ những ngày du học, anh đã mang đến cho chúng tôi – những người anh em của anh đồng thời cũng là đồng bào của anh – một lời giải đáp hiện thực, minh bạch hơn những gì chúng tôi đã cảm thấy: chính sự hiện diện của hơn nửa triệu quân viễn chinh Mỹ cùng với bộ máy chiến tranh khủng khiếp của họ đã là nguyên nhân trực tiếp gây nên tang thương cho toàn thể dân tộc chúng ta, cho toàn thể đất nước chúng ta vào lúc bấy giờ. Thật sự thì trong sự lí giải của anh mọi việc không đơn giản là như vậy nhưng xét đến cùng thì chủ đạo chính là như vậy. Luận đề này anh đã tập trung triển khai trong một loạt bài viết trên Tin Sáng và một số báo khác từ những năm 1970 trở đi, tập hợp lại trong Cho cây rừng còn xanh lá (1971) và Nước ta còn đó (1973).
Tôi đã đọc lại những tác phẩm này của anh, vẫn thấy bồi hồi như mấy chục năm về trước. Chỉ là những bút ký ngắn viết cho các nhật báo, nhưng ở đó đã bộc lộ toàn diện con người của anh: từ những kiến thức sâu rộng về lịch sử thế giới và dân tộc đến những hiểu biết uyên thâm về tôn giáo (hiển nhiên đầy đủ nhất vẫn là tôn giáo của anh), từ cái lôgích chặt chẽ, nhất quán khó bề bắt bẻ trong lập luận và bố cục, đến cái hơi văn lúc nào cũng tha thiết nồng nàn khi nói đến nỗi đau của những người bất hạnh, bên cạnh những lời lẽ châm biếm độc địa của anh với những kẻ ăn trên ngồi trốc, hể hả với tư thế thống trị và nô lệ ngoại bang của mình… – tất cả đã giới thiệu đầy đủ phẩm chất lý tưởng trong sáng và tài năng luận chiến của một người trí thức Công giáo có xu hướng thiên tả xuất hiện cùng với những trí thức thiên tả khác trong hậu bán thế kỷ 20.
Lớn lên trong cái không khí văn hoá những năm 1960 đó (sự chọn lựa tự do của Sartre, tư tưởng nổi loạn của Camus, Marx-Mao-Marcuse và Mai (tháng 5) 1968…), tôi đã nhìn thấy qua cái ý hướng tôn giáo riêng biệt của anh hình ảnh tiêu biểu của một lớp người tạo nên một phong trào dấn thân có nguồn gốc từ một hoàn cảnh lịch sử đặc thù nay đã trở thành hoài niệm. Nhìn trong viễn cảnh tổng thể ấy, tôi đã cảm nhận được qua anh một phần cái hơi thở phản kháng của thời kỳ đó, từ các nước Âu, Mỹ lan toả ra khắp nơi, xuất phát từ cuộc phủ định triệt để của những sinh viên, trí thức, tôn giáo chống lại những guồng máy quan liêu thống trị hiện tồn, bộc lộ tập trung trong sự phủ định cuộc chiến tranh can thiệp của Mỹ vào Việt Nam, từ cuộc tự thiêu của N. Morrison đến toà án Bertrand Russell, từ J.-P. Sartre, N. Chomsky đến Thích Nhất Hạnh, từ Daniel Ellsberg với Hồ sơ mật Ngũ giác Đài đến “Chết mới được ra lời” của Nhất Chi Mai…
Anh đã thể hiện sự phản kháng phổ biến đó ở nơi quê hương riêng biệt của anh, trên những đường phố nồng nặc mùi lựu đạn cay do Mỹ viện trợ, trên cả một đất nước từ Nam chí Bắc bị B52 và thuốc khai quang của Mỹ làm cho tan hoang, thương tật. Có thể nói một cách thật đơn giản: dù cho cội nguồn của cuộc chiến như thế nào, dù với một nhân danh nào đi nữa thì hành vi can thiệp viễn chinh của Mỹ vào Việt Nam cũng đã trở thành một cuộc diệt chủng bằng những phương tiện giết người hiện đại nhất, độc ác nhất, và chính vì cuộc diệt chủng khốc hại ấy mới có sự dấn thân quyết liệt của cá nhân anh. Và cũng là điều kiện để hình thành ra cái quan niệm “sống đạo” của cả một lớp người “Việt-Nam-Công-giáo” đi đạo như anh. Cả các cuộc đấu tranh kiên cường của những Phật tử, người anh em của anh. Và của cả những kẻ vô thần bơ vơ như tôi, cũng có thể gọi là anh em của anh. Bởi vì như anh nói: giữa tất cả chúng ta, dù khác nhau như thế nào đi nữa thì vẫn còn có một rừng sầu riêng đề gìn giữ cho nhau. Vì nước ta còn đó. Ca ngợi những người “dám sống chết cho lòng tin” của mình, anh có nhắc đến Camilo Torres như một nhân chứng đã từng đi trên con đường có “những vết chân quảng đại và chan hoà ánh sáng”, nhưng lại không nói rõ việc vị linh mục này đã thể hiện lòng tin đó bằng cách vào bưng gia nhập Đội quân Du kích Giải phóng Quốc gia, chống lại những ngưởi cầm quyền Colombia thối nát, và đã tử đạo như một chiến binh. Anh không nói rõ điều đó nhưng chúng tôi biết anh đã thầm lặng muốn noi theo: tháng 4 năm 1968, là một linh mục nhưng không xin phép ai, anh đã đồng ý ra bưng, sống mấy ngày liền ở một vùng ven dưới những tiếng gầm rú khủng khiếp của máy bay và bom pháo trong một trận càn của quân đội Sài Gòn. Không phải để trở thành một “giải phóng quân” như Camilo Torres mà là để gặp một lĩnh tụ cộng sản bàn tính một giải pháp hoà bình cho cuộc chiến đã kéo quá dài trên đất nước.
Đúng vào những ngày hôm đó, bằng một đầu mối khác, tôi cũng đã vào bưng như anh, đúng cái nơi mà anh đã vào và cũng đã phải đi “chém vè” thục mạng dưới bom pháo dữ dội trong trận càn mà anh đã gặp. Sau đó cùng một số anh em khác (có Châu Tâm Luân, Thiếu Sơn…) anh trở về Sài Gòn, còn tôi thì ở lại, đội bom, nằm hầm bí mật mấy tháng, suýt chết mấy lần mới được chuyển lên R rồi ở lại đó mãi cho đến khi chiến tranh chấm dứt. Cũng như anh, lúc đó tôi cũng đồng ý ra bưng gặp những người cộng sản để tìm hoà bình cho đất nước (tôi được cấu tạo như thành viên của một tổ chức có cái tên lòng thòng là “Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hoà bình Việt Nam, khu Sài Gòn Chợ Lớn, Gia Định”), tưởng hoà bình đã đến trong tầm tay, nhưng rồi đã phải đợi chờ đến 7 năm sau mới có được nhưng với một nội dung ngoài sự hình dung của anh và tôi vào những ngày Mậu Thân năm ấy.
Từ một kẻ vô thần, trong thời gian ở lại trong chiến khu, tôi đã trở thành cộng sản. Còn anh thì trở về để làm một linh mục thân cộng. Cùng với nhiều trí thức Công giáo khác anh bị chính quyền Sài Gòn kết tội là “nguỵ hoà”, viết lách, hành động “sặc mùi cộng sản”. Nhưng với anh điều đó không có gì quan trọng. Chuyện hoà bình và ngay cả chuyện “xã hội chủ nghĩa” nữa, Giáo hoàng Paul VI, dù tỏ ra thận trọng, bấy giờ cũng đã có định hướng không hoàn toàn tiêu cực. Còn chuyện “chống Mỹ cứu nước” mà anh công khai cổ vũ thì lại chẳng cần nói thêm. Anh đã trình bày minh bạch trong những bài viết của mình rồi: cộng sản hay không cộng sản, Công giáo hay không Công giáo thì chúng ta đều là những người anh em của một đất nước có chung một lịch sử và văn hoá, đều là những nạn nhân trong một cộng đồng đang bị bom đạn Mỹ làm cho tuyệt giống nếu chiến tranh cứ như thế mà kéo dài, và như vậy thì “chống Mỹ như người Việt cộng sản” (US go home!) có gì sai trái để phải hoạnh hoẹ nhau, trừ phi người ta cứ nhất định muốn làm lơ lái xe tăng cho Mỹ để tiếp tục bắn giết anh em mình!
Những người chống cộng cuồng tín ngày nay, không cần biết đến cái hoàn cảnh thực tế khắc nghiệt nào đã đẩy những người như anh vào con đường hợp tác với cộng sản, nên sau 30.4.1975 thấy anh lên tiếng phê bình quyết liệt cái thực thể chính trị mà anh đã ủng hộ một thời, họ đã khơi lại những ngày đã qua của anh, buộc anh phải “sám hối” cái tội lỗi mà họ cho là anh đã phạm phải trước đây, như là “đâm sau lưng chiến sĩ”, “khuấy rối hậu phương” hoặc “giúp cộng sản cưỡng chiếm miền Nam”… – giả định cái thực thể miền Nam ấy là một địa đàng chỉ có sữa và mật tồn tại bên ngoài biên cương của tổ quốc, một ốc đảo tự do hết cỡ, không hề có thối nát, độc tài, không hề bị nửa triệu quân Mỹ giày xéo, không cùng chung số phận của một dân tộc được Mỹ ban tặng cho 6 triệu tấn bom trong khoảng 5 năm (từ 1965 đến 1970) từ Nam chí Bắc, tính trung bình một đầu người hưởng được 200 kílô chất nổ “viện trợ”, chưa kể 200 kílô chất nổ linh tinh khác! Trong những buổi nói chuyện với anh, anh cho biết anh không quan tâm đến những thứ lý lẽ ngang phè của những người đó, cho rằng đó chỉ là nỗi oán hận của những người theo Mỹ bị Mỹ bỏ rơi, mất tất cả nên cần một thứ bung xung nào đó để chửi bới cho đỡ buồn.
Còn với những người cộng sản đã nhân danh một nhu cầu an ninh nào đó mà họ cho là cần thiết để quản chế anh trong ba năm (1990-1993) thì trước các đợt thẩm vấn và hỏi cung truy bức của họ, anh cho biết anh đã nhất quyết không trả lời: tất cả những gì cần nói anh đã nói hết trong các bài viết của anh, đặc biệt nhất là trong mấy ngàn trang nhật ký mà họ đã tịch thu không hề trả lại cho anh. Tôi đã đọc qua những cuốn nhật ký ấy cùng với tập hợp những bài anh đã viết từ 1975 đến 2000 mang tên Hẹn thắp lên (Trình bày, 2000) và nhận ra được ý nghĩa bao hàm trong thái độ ấy của anh thật rõ ràng, đơn giản. Từ ngày thống nhất đất nước đến nay, những người cộng sản các anh đã suy thoái hoàn toàn trong quyền lực, đã trở nên đối lập hoàn toàn với cuộc sống của nhân dân, các anh đã trở thành chai sạn, không thể hiểu nổi lý do những người theo các anh bây giờ đã phải chống các anh. Tôi không lập ra một tổ chức nào để lật đổ các anh vì tôi không phải là người làm chính trị, nhưng là người hoạt động trong lĩnh vực tinh thần, tôi không thể nào im lặng được trước những sai lầm không thể nào biện minh được của các anh từ đó đến nay.
Thái độ của anh với những người cộng sản cầm quyền sau ngày 30.4.1975 như vậy vẫn nhất quán với tinh thần dấn thân trước đây của anh: không thoả hiệp với bất cứ định chế nào tự biến thành những lô cốt xa rời những khổ đau của con người, nhất là sơn lên đó một màu ý thức hệ độc tôn để áp bức. Sự phản kháng của anh thật gay gắt, nghiêm khắc, nhưng anh không phủ nhận những gì đã làm trong quá khứ để chạy theo một thứ chủ nghĩa chống cộng cực đoan đang nhen nhúm lại ở Việt Nam, nhất là sau khi Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Về Hồ Chí Minh, chính anh đã thiết kế bìa, cho in và phổ biến 3 đợt hơn 300 cuốn Từ Nguyễn Tất Thành đến Hồ Chí Minh của tôi (2002, 2005), nhưng trong thâm tâm vẫn kính trọng Hồ Chí Minh như một nhà yêu nước, nếu cần phê phán những sai lầm của ông, anh khuyến khích một thái độ nghiêm chỉnh và thận trọng. Về chủ nghĩa Marx, là người Công giáo anh hiểu rõ ý nghĩa của nó, nhưng cũng là người dạy triết học anh không chấp nhận được sự liều lĩnh của một số cây bút lên tiếng phủ định, chửi bới một cách hồ đồ, hàng tôm hàng cá. Tính chất thực tế của cái chế độ mệnh danh là “xã hội chủ nghĩa” ở Việt Nam là điều được anh quan tâm nhiều hơn để phê phán, qua những biểu hiện hằng ngày trong đời sống: với anh, đó chỉ là một thứ pháo đài ý thức hệ do những kẻ cuồng ngạo, thống trị tạo ra để giam hãm ý thức con người, không khác bao nhiêu những pháo đài khác đã xuất hiện trong lịch sử.
*Cũng giống nhiều anh em khác, sự thức tỉnh dẫn đến phản kháng của anh với chế độ cộng sản mà trước đây anh từng ủng hộ là một quá trình không đơn giản. Trong mấy năm đầu khi đất nước mới hoà bình, cùng vớí bao nhiêu người khác, anh đã tiếp đón những người cộng sản chiến thắng với niềm hân hoan: cuộc chiến tranh đã chấm dứt, Nam Bắc một nhà, từ đây chúng ta có quyền hy vọng cùng nhau xây dựng một cuộc đời mới tốt đẹp hơn (biểu hiện rõ nhất trong thời anh làm tổng biên tập tờ Đứng Dậy). Nhưng niềm hy vọng ấy đã dần dà nhạt nhoà trong tâm thức của anh và của rất nhiều bằng hữu từng đã cùng anh tranh đấu thời trước. Cái thực thể cộng sản của miền Nam với những đặc trưng của một miền đất có truyền thống cởi mở đã bị xoá bỏ nhanh chóng trong cuộc hiệp thương thống nhất để thay vào đó là một lối quản lý mang từ miền Bắc vào vô cùng lạc hậu, độc tài, tự tôn ngang ngược. Sự rạn nứt văn hoá bắt đầu dần dần trở nên căng thẳng hơn về chính trị, qua những cuộc cải tạo tư sản thành thị, hợp tác hoá nông thôn, với những kết quả cực kỳ tệ hại, làm cho một miền đất dư thừa lúa gạo phải sống trong đói kém, khốn khổ như chưa bao giờ như thế. Người ta bắt đầu bỏ nước ra đi bất chấp tù đày, nguy hiểm, trong số đó có không ít những bạn bè thân thuộc của anh. Nhưng anh vẫn ở lại, tiếp tục con đường đã chọn: quê hương của mình là nơi nào còn lầm than, áp bức; giàu có, dân chủ là những thứ do mình tạo ra chứ không phải do người khác ban cho.
Tôi bắt đầu hợp tác với anh trong cuộc chơi mới này bằng một bài xã luận ký tên tạp chí Đứng Dậy (số Xuân 1978), do anh đề nghị, phê phán sự hồ đồ của một số cây bút miền Bắc nhìn Sài Gòn đâu cũng thấy “nọc độc của văn hoá thực dân mới”, coi thường những nỗ lực của một miền đất biết bảo vệ nhân phẩm của mình trong những tình thế khắc nghiệt. Bài viết này đã gây phản ứng của Viện Văn học lúc bấy giờ với những hăm he trả đũa nghe rất ghê, nhưng cuối cùng mọi việc đã chìm xuồng sau một bữa rượu anh em tiếp đón viện trưởng Hoàng Trung Thông tại nhà tôi. Thái độ của Đứng Dậy không phải riêng lẻ. Trong những cuộc hội thảo tại Hội Trí thức bấy giờ cũng có những phản ứng tương tự, đặc biệt với sự thách thức rất ngoạn mục của Nguyễn Trọng Văn. Nhưng tất cả rồi cứ dần dần xẹp xuống vì bị trấn áp. Nguyễn Trọng Văn bị kiểm điểm nặng nề. Hai bài viết của tôi trên Tin Sáng năm 1979 (“Bản chất của Đảng” và “Sức mạnh của đất”) bị Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh đem ra đả kích trong các lớp học tập chính trị: tôi bị hài tên ra như một thứ “Nhân văn-Giai phẩm chống Đảng tinh vi”!
Cuối cùng thì Đứng Dậy đóng cửa, Tin Sáng “hoàn thành nhiệm vụ”. Nhiều anh em chúng tôi phân tán đi kiếm ăn linh tinh. Lúc này anh đã hoàn tục, lập gia đình, cũng tập tễnh làm ăn bằng một nghề mới học: bán đồ gỗ cẩn xa cừ, nghe nói cũng chẳng khấm khá gì. Diễm Châu thất nghiệp, đi bộ lang thang trên đường phố vì mất xe đạp, trông thật nhếch nhác. Trần Tuấn Nhậm đi về miền Tây vượt biên không thoát và chết trong tù. Châu Tâm Luân vuợt biên thoát. Thế Nguyên mở quán nhậu sau chết vì tétanos. Hoàng Ngọc Biên bán cà phê, tụ họp anh em tán dóc cho vui. Sau khi giao bản thảo cuốn sách có cái tên lòng thòng Cuộc xâm lăng văn hoá tư tưởng của đế quốc Mỹ tại miền Nam Việt Nam (1981) cho nhà xuất bản Văn hoá đã hợp đồng mấy năm trước, tôi khuân tủ sách do vợ giữ được từ trước 1975 ra chợ trời bán lấy tiền đi nuôi heo, nuôi cá, trồng nghệ, cuối cùng thì tự giam mình vào phòng tối, kiếm sống bằng nghề rửa ảnh màu theo phương pháp thủ công, mặt mày tái mét, mắt mờ đi vì hoá chất. Mặc dù đã bỏ Đảng mấy năm rồi, nhưng lòng vẫn chưa dứt nợ: đêm nào cũng thức thật khuya đọc lại tác phẩm của các ông… Karl Marx và Lenin!
Lâu lâu tôi cũng gặp anh và bạn bè, chẳng có việc gì để nói với nhau ngoài những chuyện bâng quơ. Nhưng sau đó không lâu chúng tôi đã có những ngày thật vui, từ khi Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí thư của Đại hội 6 (1986), theo luồng gió perestroika của Liên Xô, tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ sĩ và trí thức. Tôi có gặp ông Linh mấy lần trong rừng hồi chiến tranh, rất có cảm tình với ông; sau 1975 nghe ông lận đận, nay lên giữ vị trí chủ chốt quyết tâm theo đường lối đổi mới, tôi từ giã phòng tối rọi ảnh, đem những điều tự mình suy ngẫm được sau mười năm diện bích, “tái xuất giang hồ” phấn đấu cho một thứ chủ nghĩa Marx “đích thực” mà lúc đó tôi vẫn còn tin tưởng vào tính khả thi của nó (biểu hiện nơi những bài tranh luận bênh vực Lê Ngọc Trà, Lại Nguyên Ân… về đổi mới lý luận văn nghệ trên các báo Văn Nghệ, Sông Hương, Cửa Việt).
Tôi gặp anh nhiều hơn trong những dịp tiếp xúc với những văn nghệ sĩ ngoài Trung, Bắc vào Nam chơi và cũng thường rủ nhau tới lui Câu lạc bộ những người Kháng chiến cũ chỗ ông Nguyễn Hộ mua tài liệu, tụ tập nhau bàn tán những tác phẩm trên báo Văn Nghệ (lúc bấy giờ do Nguyên Ngọc làm tổng biên tập, đứng sau lưng là Trần Độ), chuyền tay nhau đọc những bản photocopy có nội dung “nhìn lại” từ căn bản những sai lầm về lý luận của cả một thời đen tối đã qua. Bài viết chuyền tay mang tên “Chủ nghĩa xã hội Việt Nam: di sản và đổi mới” của tôi xuất hiện 1990 đã được vài tờ báo trong trong nước đăng lại (đầy đủ nhất trên tờ Phát triển Kinh tế do Đào Công Tiến, hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, làm tổng biên tập), từ đó lưu chuyển ra nước ngoài trên một số báo của Việt kiều. Cùng nhịp với những hoạt động của phong trào, đặc biệt của Câu lạc bộ những người Kháng chiến cũ trong Nam, anh cũng sát cánh với linh mục Chân Tín vận động cho đổi mới trong phạm vi tôn giáo của anh: ngoài bức thư của một số trí thức Công giáo gửi Giáo hội đề nghị giữ thái độ độc lập hơn với Nhà nước, anh có phụ giúp linh mục Chân Tín, từ nhà thờ Chúa Cứu thế, phát ra mấy bài giảng kêu gọi Đảng Cộng sản Việt Nam “sám hối”, từ bỏ đường lối giáo điều khắc nghiệt cũ, tạo dựng lại một đất nước dân chủ, nhân đạo cho nhân dân…
Nhưng rồi mọi việc đã bị chặn lại theo lệnh của Nguyễn Văn Linh khi ông này nhận ra cái nguy cơ đi theo đường lối kiểu Liên Xô: bức tường Berlin sụp đổ, phong trào dân chủ ở Đông Âu phát khởi… đang có xu thế lan tràn làm sụp độ toàn bộ “phe ta”. Từ chỗ thúc đẩy đám lính tráng của ông tấn công vào những vùng cấm tạo ra trì trệ, suy đồi, ông quay ngoắt lại dập tắt khí thế của họ bằng những biện pháp trấn áp thô bạo. Hàng loạt tổng biên tập theo đường lối của ông trước đây (Nguyên Ngọc, Tô Hoà, Kim Hạnh, Bùi Minh Quốc, Tô Nhuận Vĩ, Hoàng Phủ Ngọc Tường…) bị cách chức, chuyển công tác. Tạp chí Phát triển kinh tế của Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh bị đình bản một thời gian, Đào Công Tiến phải viết tường trình. Dương Thu Hương (bấy giờ sắc sảo nhưng không ngoa ngoắt như bây giờ) sau khi vào Sài Gòn gặp gỡ hàng loạt những văn nghệ sĩ trí thức để vận động đa nguyên, khi trở ra Hà Nội một thời gian thì bị bắt. Câu lạc bộ những người Kháng chiến cũ bị thanh lọc. Tờ báo của Câu lạc bộ bị đình bản tiếp theo việc Nguyễn Hộ bị bắt cùng với mấy anh em cộng sự như Tạ Bá Tòng, Hồ Hiếu, Đỗ Trung Hiếu… Việc anh bị quản chế tại nhà, linh mục Chân Tín bị đưa đi cô lập ở Cần Giờ vào thời gian này cũng nằm trong không khí trấn áp chung đó.
Sự đột ngột chuyển đổi đường lối của Đảng Cộng sản lúc bấy giờ (từ Liên xô sang Trung quốc) đã làm phân liệt xu hướng “đổi mới” ra đời từ Đại hội 6. Bên cạnh một số nghe lời Đảng trở cờ đấm đá bạn bè là khá đông những người quay về im lặng, chờ thời. Nhưng cũng có một số tiếp tục con đường đã mở ra và đi cho đến cùng, không quay đầu trở lại, trong Nam có những Nguyễn Ngọc Lan, Chân Tín, Nguyễn Văn Trấn, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc và một số anh em khác. Cuộc chơi mới đã được đẩy mạnh hơn lên khi mọi chuyện trong quá khứ đã được nhìn lại từ nền móng. Bài viết chuyền tay của tôi “Đàm thoại về chủ nghĩa xã hội mácxít” xuất hiện năm 1994 đặt lại tính chất không tưởng của học thuyết Marx, cùng với sự bất toàn của việc du nhập chủ nghĩa Lenin vào Việt Nam, đã đi theo xu thế lý luận đó. Một chiến dịch phản kích được Ban Văn hoá Tư tưởng của Đảng mở ra, liệt bài viết ấy vào loại dao động, “phủ nhận con đường do Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn”. Nhưng tác dụng chẳng đi đến đâu: khác với cánh cửa nhà tù, khi cánh cửa tư tưởng đã mở ra rồi thì không bao giờ có thể khép lại được nữa. Đối với chúng tôi, từ đó trở đi chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam đã mất hoàn toàn tính chính đáng để tồn tại.
Sau những ngày bị quản chế ẩn nhẫn trong việc viết nhật ký, anh đã tìm được công việc mới của mình: hợp tác chặt chẽ hơn với tạp chí Tin Nhà của Đỗ Mạnh Tri là người bạn cũ của anh ở bên Pháp. Trong khi viết bài và rủ thân hữu cùng viết bài, anh còn tổ chức nhân bản lại Tin Nhà để phổ biến cho anh em quen biết trong nước. Sau khi Tin Nhà đóng cửa, để duy trì cho được một tiếng nói phản kháng tồn tại ngay trong lòng Sài Gòn, anh đã vận động cho sự ra đời của Thư Nhà để tiếp tục (do linh mục Chân Tín, sau đó là linh mục Hồ Đỉnh làm Tổng biên tập). Tôi hợp tác chặt chẽ với anh nhiều hơn: một số bài viết được xem là “nặng đô” của tôi đã xuất trên hai tờ báo này, trong đó có những bài gây nhiều phiền phức cho anh là những tiểu luận viết về Hồ Chí Minh như một huyền thoại. Một số bạn bè thân cận đến nhà anh nhận những tờ báo có những bài viết nói trên đã bị công an chặn đường tịch thu rồi sau đó bị giải đi “làm việc” dài dài. Anh cặm cụi vào công việc không nghỉ ngơi, vì thế đã theo tuổi tác mà dần dần kiệt sức. Anh bị bệnh chai phổi, ăn uống không được, sút cân trầm trọng, cả năm trời phải thở bằng oxy, cuối cùng chịu đựng không nổi anh đã thiếp dần…
Đám tang của anh tổ chức tại căn phố nhỏ của anh tại Sài Gòn, lặng lẽ nhưng sum vầy đầy đủ những người thân yêu, học trò, bằng hữu, chiến hữu, thuộc đủ thế hệ và tín ngưỡng, trong đó tôi thấy có nhiều người đồng đạo một thời đã xa lánh anh vì nhiều lý do, và cùng với họ là những đảng viên cộng sản đương quyền lẫn mất quyền.
Tôi không biết những người đi theo cái xe tang màu xám nhỏ trên đó đặt cái quan tài nhẹ tênh của anh đã nghĩ ngợi gì về những dấu vết anh để lại trên những con đường anh đã đi khi còn sống – thương yêu, kính phục, oán giận, hoà giải, xin anh tha lỗi hay tha lỗi cho anh – nhưng trên con đường dẫn về nơi có một chỗ “gối đầu” vĩnh viễn cho anh, tôi biết chắc một điều này khi nói chuyện với họ: mọi cái có thể qua đi nhưng cái còn lại đích thực là sự trung chính của một con người.
Một người chuyên lo chuyện đời sau cho người khác, trong chuyện đời này lại gây ra không biết bao nhiêu tranh cãi, vậy mà tất cả đều chấm dứt trong điều đơn giản như vậy, và như vậy thì cũng quá đủ cho anh để anh khỏi cần tranh cãi nữa khi ra đi, người anh em của tôi !
Lữ Phương,Sài Gòn tháng 3.2007
MỪNG GIÁO SƯ TIẾN SĨ ĐẶNG ĐÌNH ÁNG 80 TUỔI-NHÀ TOÁN HỌC LỚN,NGƯỜI THẦY TẬN TUỴ, MỘT NHẠC SĨ SAY MÊ
"Trong sự nghiệp của tôi, tình thương là tinh thần dẫn dắt."
http://images1.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/191/120191.jpgGS Đặng Đình Áng
Vào những ngày giữa tháng Ba năm 2006 có một sự kiện mà chắc nhiều người trong giới toán học Thành phố đã cảm nhận: Giáo Sư Đặng Đình Áng tròn 80 tuổi! Đó là một sự kiện rất đáng vui mừng. Đáng vui mừng vì GS Áng vẫn còn khoẻ mạnh, vẫn còn tự chạy xe Honda, tiếp tục làm toán và thổi sáo, rất hăng say với công việc, như một dòng sông lúc sắp đổ ra biển: chảy càng mạnh, càng rộng lớn ra và càng mang nặng phù sa. GS là người đã đóng góp đúng 46 năm liền không mệt mỏi cho ngành toán học nước nhà, không phải chỉ căn cứ trên số lượng lớn trên 130 bài báo được đăng trên các tạp chí quốc tế về nhiều đề tài nghiên cứu trong toán học và có nhiều đầu sách chuyên đề, trong đó có một chuyên đề được xuất bản bởi nhà xuất bản nổi tiếng Đức Springer, mà chính ở ý nghĩa GS là người được giới toán học thế giới công nhận như một nhà toán học uy tín của Việt nam, đã từng làm vị khách được mời phát biểu ở nhiều hội nghị quốc tế, được mời làm giáo sư thỉnh giảng ở nhiều đại học quốc tế như đại học Utah, Orléans, viện nghiên cứu Mauro Picone (Ý), đại học Paris, mời đọc bài giảng tại đại học Cambridge…; từng được học bổng nghiên cứu DFG (Deutsche Forschungsgesellschaft) của Đức nghiên cứu Toán tại đại học (tự do) Berlin, một học bổng nghiên cứu dành cho những nhà nghiên cứu có tiếng; học bổng nghiên cứu tại đại học Tokyo; GS là người kết nối Việt Nam với năm châu, hướng dẫn và cùng hướng dẫn chung với giáo sư nước ngoài cho nghiên cứu sinh Việt Nam; nhiều giáo sư nước ngoài quen biết với GS đã vào Việt Nam tham dự nhiều hội nghị toán tại Việt Nam; GS đã đào tạo được rất nhiều nghiên cứu sinh thành đạt đang làm việc trong và ngoài nước; vui mừng vì chúng ta vẫn còn một người thầy khả kính mạnh khoẻ với chúng ta và là người rất yêu âm nhạc với chiếc sáo bạc đã 50 mươi năm đi theo GS.
Phải nhìn lại nền toán học non trẻ Việt Nam những năm 60 ở thế kỷ trước. Ở phía Nam có thể nói nó mới manh nha cũng vào lúc GS Áng sau khi tốt nghiệp tiến sĩ ở Hoa Kỳ về nước được giao ngay trọng trách làm trưởng ban toán của Đại học Khoa học Sài Gòn năm 1960, lúc đó GS mới 34 tuổi, vào lúc đại học đang cần chuyển ngữ và chuyển quyền. GS tham gia vào việc cải tổ chương trình đào tạo đại học. Chứng chỉ Toán Đại Cương là cái cửa ải khó lọt “rùng rợn” nhất đối với hàng trăm sinh viên lính mới, mỗi năm chỉ có vài người lọt qua được thôi! GS Áng đã giúp thay đổi tình hình thi “thách đố” đó, kéo nó về tình trạng bình thường. GS cũng là người đã đầu tiên mang toán học hiện đại vào như một luồng gió mới, đào tạo ngay những lớp sinh viên đầu tiên cho sinh viên toán và sư phạm trong các môn toán hiện đại. Không khí học toán trong sinh viên lúc bấy giờ rất hồ hởi, sôi động. Toán học đại học khác hẳn với toán học đã từng được học ở trung học hàng chục năm liền, nó gây bỡ ngỡ, nhưng cũng gây thích thú, mở rộng tư duy và tầm nhìn của sinh viên. Toán học cũ như toán học của Euclide, Pythagore, còn toán học mới như toán học của Cantor, Weierstrasse, Hilbert. Toán học đại học như một “đền thờ” riêng của nó mà người sinh viên phải biết tự tìm đường vào. Có một sự đứt khoảng thực sự về trình độ, khái niệm, phương pháp, nhãn quan.
Toán học phía Nam đã nhanh chóng có tính chất hiện đại của thế giới, lan dần ra như một đóm lửa nhóm lên xung quanh GS Áng và các học trò. Các sinh viên của GS sau khi tốt nghiệp đi nước ngoài không bị bỡ ngỡ. Đặc biệt mặt bằng trình độ cũng được nâng cao hẳn lên bằng các chứng chỉ “toán thâm cứu” I và II nhằm đưa sinh viên sau cử nhân đến gần với nghiên cứu và sáng tạo. Sinh viên không phải học để trở thành “ông cử” mà có thể bước vào con đường khám phá cái mới. Có những sinh viên qua đó đã có ngay những bài nghiên cứu đầu tay được đăng trên báo nước ngoài, nhờ đó mà tìm được học bổng du học. Còn gì khích lệ bằng! Toán học đã có một người thầy dẫn đường “hội nhập” vào quốc tế, một hạt giống của những hạt giống tương lai. GS như cái cổng để sinh viên bước vào các trường đại học quốc tế. “Cả sự nghiệp của đời tôi là đào tạo. Muốn dạy giỏi, người thầy phải nắm vững những kiến thức mới mẻ nhất. Muốn nắm vững, bản thân ông thầy phải có đóng góp chứ không thể nhắc lại kiến thức của người khác” và “Tôi rất thích học, thời Pháp học, thời gian vào Sài gòn, ở CalTech học, về đây tiếp tục học, bây giờ cũng còn học, học những bậc thầy đi trước”, như GS khiêm tốn nói. Đó chính là tinh thần nghiên cứu kết hợp giảng dạy của nhà cải cách đại học Đức Wilhelm Humboldt đầu thế kỷ 19, một cải cách đã đem lại cho nền đại học Đức một thời kỳ phát triển vô cùng rực rỡ.
Ba mươi năm qua GS đã chọn con đường ở lại để tiếp tục đóng góp cho ngành toán học TP và đào tạo các lớp sinh viên trẻ có năng khiếu, một quyết định cũng không phải là đương nhiên đối với một nhà khoa học được đào tạo theo Tây học từ nhỏ, đã từng du học và sống ở nước ngoài, từng được mời ở lại giảng dạy ở đó, có đủ điều kiện để có một cuộc sống thăng hoa và dễ dãi ở nước ngoài. Cuộc đời xung quanh là một chuỗi đứt gãy, nhưng GS vẫn giữ mình không bị cảm ứng tiêu cực, mà vẫn lành lặn, trong sáng, và luôn luôn vững bước tiến lên trong sự nghiệp khoa học của mình, mặc cho những khó khăn trước mặt. Dường như đối với GS chỉ có phương trình mới có giá trị vĩnh cửu như một cái đích đi tới không gì làm lệch hướng được. Vì sao GS vẫn lưu luyến nơi này, nhận đại học Sài gòn làm mái trường hoạt động với tất cả thiếu thốn của nó? Nó có là một đại học đầy đủ ý nghĩa không? Nó có tên tuổi trên thế giới không? Hay nó chỉ giống như một túp lều nghèo, hẻo lánh xa xôi trên bản đồ thế giới? Tài liệu khoa học không có, thư viện thiếu thốn muôn bề. Sự đầu tư vào cơ sở hạ tầng thông tin hầu như không có. Người làm nghiên cứu phải luôn nhờ cậy vào nguồn yểm trợ tư liệu từ nước ngoài một cách vất vả. Ngày xưa thế, bây giờ cũng không khá hơn bao nhiêu. Cái có lẽ cái duy nhất và cũng là lớn nhất đã níu kéo GS ở lại chính là quê hương. Ông đã tìm thấy ở quê hương miếng đất để mình bám rễ cho sức sống, và giúp vượt qua mọi khó khăn thử thách. Ông đã sống với tất cả mệnh lệnh của trái tim, của tình yêu quê hương, không phải bằng mệnh lệnh nào khác. Ông luôn tin vào tài năng của con người, mảnh đất Việt Nam: “Đây là mảnh đất tốt, rất màu mỡ, rất nhiều hạt giống tài năng” và “Tôi tin tưởng rất nhiều vào tiềm năng của người Việt Nam ta, đặc biệt là của lớp trẻ. Tuy nhiên, muốn biến tiềm năng thành hiện thực thì phải biết tổ chức, phải có thầy. Thầy là những người có khả năng chuyên môn cao, có đạo đức nghề nghiệp và quan tâm đến học trò”. Những cái bắt tay đầy sự hiểu biết và cảm thông với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng giáo dục Tạ Quang Bửu và GS Trần Đại Nghĩa đã làm GS vững thêm niềm tin cho sự chọn lựa của mình. Phải nói đó là sự chọn lựa của một người bản lãnh. Năm 1980 GS được nhà nước phong danh hiệu giáo sư trong đợt phong giáo sư đầu tiên sau ngày giải phóng như một sự công nhận trân trọng và khích lệ đối với GS.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp, giáo sư Đặng Đình Áng tại hội nghị toán học 1977 tại Hà Nội
Vì những đóng góp và lý do trên, GS Áng đáng là người đáng để được chúng ta cám ơn và trân trọng. Cám ơn GS đã là một “ngọn đèn” để khêu lên những tài năng trẻ khác, một viên ngọc quý của nền toán học nói chung của Việt Nam. Chúng ta cám ơn một người con của đất nước suốt đời tận tuỵ với nghề nghiệp, có tình cảm gắn bó sâu sắc với quê hương, với xã hội, với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ để vươn lên với thế giới, đã đưa giới toán học quốc tế trong ngành mình đến gần Việt Nam, cũng như đưa toán học Việt Nam vươn ra quốc tế. Đó là một tấm gương sáng để các thế hệ sau học hỏi, vừa là một nhà toán học, vừa là một nhân cách.
“Mỗi lần về thăm làng, tôi lại ra tắm ở cái hồ lớn, rồi nhìn về núi Trầm và tôi lại nhớ da diết những ngày còn bé, tôi cùng anh (Đặng Đình) Hưng thường ra đó. Chúng tôi cùng nhìn lên núi, mỗi người theo đuổi một ước mơ. Về sau, tôi thường tự hỏi: có phải chính ngọn núi này đã khơi gợi cho anh em tôi những khát vọng trong đời?” và
“Tôi mê sáo tre từ nhỏ, sang Mỹ thì mua được cây sáo bạc. Âm nhạc có tác dụng rất quan trọng với việc học tập và nghiên cứu toán của tôi. Cũng như âm nhạc, toán là một nghệ thuật”.
Hai câu nói cho thấy GS đã có một sự định hướng, một khao khát trong thế giới nội tâm từ thuở nhỏ mà ngọn núi Trầm chỉ là cái sự thể hiện bên ngoài và cũng là để đánh thức thêm sự định hướng vươn lên đó bên trong. Thứ hai, tiếng sáo tre cũng là âm thanh đánh thức cái sở thích âm nhạc đã tiềm tàng trong GS.
Trong Ngần Bóng Gương
là tập kỉ yếu mừng giáo sư Đặng Đình Áng thượng thọ 80, do Nhà xuất bản TRI THỨC phát hành tháng 12.2006. Sách do Nguyễn Dũng và Nguyễn Xuân Xanh chủ biên, với sự tham gia của 35 tác giả, 384 tr.
Bạn đọc ở xa, tìm mua, có thể liên lạc với Nguyễn Xuân Xanh : diemxanh@vnn.vn
Âm nhạc có tác dụng sâu xa đến sự sáng tạo con người mà khoa học chưa hiểu hết. Nó muốn diễn tả cái gì mà con người chưa diễn tả được. Người ta thường thấy GS xuất hiện với chiếc sáo bạc, làm liên tưởng đến hình ảnh Einstein với cây đàn vĩ cầm, ngay cả khi vào họp trong hàn lâm viện. “ Chơi sáo hàng ngày là làm tiêu tan căng thẳng, làm cho tâm trí sáng sủa hơn, người khoẻ mạnh hơn. Chơi nhạc là một cách dưỡng sinh, một cách thiền” như giáo sư nói. …”Âm nhạc mà nhất là nhạc cổ điển như một phép dưỡng sinh, giúp tôi thấy thanh thản, tĩnh tâm, yêu đời”. Âm nhạc đưa tâm hồn con người về cội nguồn của từ thuở nào không ai biết. Đó là cội nguồn của của sự sáng tạo, trực giác, của tình thương, niềm tin, sự thánh thiện, hy vọng và cả sự chịu đựng nữa. Tiếng sáo tre của tuổi thơ là sự báo hiệu của cội nguồn được đánh thức. Mỗi lần chơi sáo hay nghe nhạc là trở về cội nguồn đó để xua tan đi những sự chối tai của xã hội và tiếp sức cho cuộc hành trình sáng tạo. Âm nhạc đã giải phóng con người khỏi sự hạn hẹp của không gian, thời gian của cuộc sống thường nhật, bằng cách làm cho con người cảm nhận được một vương quốc bình yên, vĩnh cửu. Pythagoras được xem là ông tổ đã khám phá ra quan hệ giữa âm thanh và con số. Khoa học của người Hy lạp luôn luôn là khoa học của sự hài hoà. Sự hài hoà chiếm một vị trí trung tâm trong giáo dục của Hy lạp. Cái đẹp cũng là cái hài hoà. Kepler là người khám phá ra “quy luật âm nhạc của vũ trụ” ở các định lý thiên văn của ông. Đặc biệt nhạc của Mozart, như một nhà khoa học Đức nói, “đẹp và tinh khiết” đến độ có thể được xem như “vẻ đẹp nội tâm của vũ trụ”. Đó cũng là âm nhạc GS thích nhất. Âm nhạc cộng với sở thích văn học của GS, đó là miếng đất văn hoá đem lại sức sống và nuôi dưỡng sự sáng tạo không ngừng, làm cho GS tuy tuổi cao nhưng không già, tuy tóc bạc nhưng tâm hồn vẫn xanh tươi, tuy sức khoẻ phải được gìn giữ nhưng những ngọn sóng của tư duy và cảm hứng yêu đời vẫn dạt dào trong trái tim như xuất phát từ một đại dương không bờ bến.
GS là một nhà toán học, nhưng trước hết là con người văn hoá, nhân văn. GS tuy được đào tạo với một nền văn hoá Tây học, bảy năm sống ở nước ngoài, nhưng tầm hồn luôn luôn đầy ấp những tình cảm Việt Nam. “Tôi thổi Mozart bằng tâm hồn Việt. Thổi để không quên dân ca mình. Tôi ăn món ăn nước ngoài cũng bằng dạ dày Việt. Ăn để thấy các cụ nhà ta thật sành…ẩm thực”. Miếng đất văn hoá đã giúp cho GS dù sống ở đâu tinh thần vẫn rộng mở và sáng sủa. Trong những giai đoạn khó khăn, GS cũng vẫn hoạt động toán học không ngừng nghỉ, trong giai đoạn biến động, GS luôn luôn vững vàng như một tảng đá.
Triết lý sống ở đời của GS? Là nhân hậu, vị tha, có trước có sau. Là thương yêu xã hội, thương yêu con người, thiên nhiên. “Phải có tình thương mới làm được việc lớn”. Ông đã vượt lên mọi cái chối tai của xã hội để tâm mình vẫn luôn trong sáng và nhân hậu.
Hạnh phúc là gì? Hãy xem căn phòng đơn sơ cũ kỹ tĩnh lặng bên cạnh tiếng xe ồn ào của GS ở 162 Điện Biên Phủ. Hạnh phúc không nằm ở vật chất mà ở thế giới tinh thần, ở cái vô cực cũng như những cái hữu hạn, hay những số epsilon vô cùng nhỏ của toán học, ở lao động sáng tạo, ở những bản sonate, giao hưởng, các buổi hoà nhạc, sinh hoạt văn hoá, ở sự hài hoà với xã hội, với vũ trụ, ở đào tạo và dẫn dắt học trò.
Lời khuyên của GS đối với thanh niên trẻ? Đó là: “Đừng háo thắng mà không đi xa được, việc học cũng giống như chạy marathon 42 km, phải biết giữ sức, những cây số đầu không mấy quan trọng, không học nhồi học nhét, không ham ánh hào quang hão huyền, làm sao để càng về sau càng khổng lồ, đó mới là kết quả thực sự”. GS là một con người thực say mê trải rộng cả cuộc đời, say mê không bao giờ dứt, say mê toán học cũng như âm nhạc. Cuộc chạy Marathon của GS không phải 42 cây số, mà là 50 năm!
Tôn giáo? Không có, GS chỉ sống với “đạo làm người”, muốn gieo cái tốt, cái thiện và tránh xa cái xấu, cái dữ. Nhưng có lẽ nói như Einstein, “Trong xã hội phổ biến nhuốm màu vật chất chủ nghĩa thì những người nghiên cứu (khoa học) nghiêm túc là những người duy nhất có tín ngưỡng sâu xa”. Họ như những người đi tìm cái “Đạo” trong thế giới khoa học vậy.
Tháng 12 năm nay sẽ có một hội nghị toán học quốc tế tại TP để mừng GS 80 tuổi. Đó cũng là cái mốc mới kỷ niệm sự nghiệp sáng tạo của GS. Chắc người ta cũng sẽ thấy GS với chiếc sáo bạc thổi tại Hội nghị.
Trong một bài báo đăng trên báo SGGP năm 2000, GS Áng đã viết:
“Quê hương là dải đất, có núi có sông, có cây cỏ, có những con người cùng chung quyền lợi vật chất và tinh thần, nhưng không phải chỉ là thế, sâu xa hơn thế là các nấm mồ người đã khuất. “Chính tro tàn của người quá cố đã tạo ra quê hương”, một văn hào Pháp, trong một bài thơ bất hủ về tình yêu quê hương, đã thốt ra như vậy”.
Thưa GS, Quê hương cũng còn được tạo ra bởi những người vẫn còn sống yêu quê hương và miệt mài lao động để cho đất nước mau chóng vươn lên giành một chỗ đứng xứng đáng trong cộng đồng thế giới, ngẩng nhìn mặt trời như đất nước ta bao đời nhìn mặt trời hừng đông trên biển cả nhưng chưa được toại nguyện giấc mơ. Trong những người còn sống làm nên quê hương đó, có GS.
Xin chúc GS nhiều sức khoẻ để sống hạnh phúc với gia đình, học trò, bè bạn và để chứng kiến đất nước ngày càng đổi mới, tài năng trẻ ngày càng phát triển, cùng vươn lên, lột xác để thực hiện giấc mơ của cha ông, và cũng là mơ ước của những người tâm huyết đi trước dẫn dắt như GS đã làm nửa thế kỷ qua. Xin chúc sức khỏe của Cô Minh Thi, người vợ hiền thục của GS không thể thiếu được trong sự nghiệp và hạnh phúc của GS. Chúc tiếng sáo của GS tiếp tục ngân lên hoà quyện với những giai điệu mới của toán học.
Nguyễn Xuân Xanh
TP Hồ Chí Minh ngày tháng 3/2006
http://images1.tuoitre.vn/Tianyon/Cache/Image/209/165209.jpgCố nhân
Toàn văn bài về Nguyễn Đình Ngọc (1932-2006), nhà toán học, chiến sĩ tình báo, thiếu tướng công an ; của tác giả Bùi Trọng Liễu đã đăng trong Diễn Đàn số 164.
Bùi Trọng Liễu (*Nguyên giáo sư Đại học Paris - Pháp)
Trả lời một phỏng vấn (xem http://vietnam.vnagency.com.vn/VNP), Thiếu tướng Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc đã nói : « Tôi không muốn nói về tôi mà đơn giản chỉ là tâm sự của một thế hệ. Thế hệ những người như tôi đã đi trọn cuộc kháng chiến trong đó không ít người đã vĩnh viễn nằm xuống ». Anh Ngọc đã nói thế, tôi cũng nghĩ rằng khi kể chuyện về anh, tôi không chỉ kể về một cá nhân, một « cố nhân », mà kể rộng hơn thế ; không phải là tôi vô tình lạc đề. Anh Ngọc là ai : điệp viên với bí danh «Ziệp Sơn », người cán bộ công an, nhà khoa học?
Tối 2/5/2006, vợ chồng tôi đang ăn cơm, thì có chuông gọi cổng : chị T. vợ anh, lại tìm chúng tôi, báo tin cho biết là anh Ngọc vừa mất sáng hôm đó, và chị và cháu H. (con trai duy nhất của anh chị) sửa soạn lên đường về dự đám tang. (Xin nói ngay là ở đây, tôi nói tới chị T., vợ có cưới hỏi chính thức và còn định cư ở Pháp, chứ tôi không nói tới người khác, cụ thể là người mà có nhà báo viết là « người bạn đời » của anh Ngọc mà tôi không biết). Mấy ngày sau, tôi được đọc một số bài báo trên mạng do bạn bè gửi cho. Có những tin đưa chính xác, có những tin đúng nhưng khó hiểu, có những tin đưa không đúng, qua những gì tôi đã được biết hoặc chứng kiến.
Bản tin của Ban chấp hành Hội Tin học Việt Nam, các Hội Tin học thành viên và gia đình, đăng 5/5/2006 trên http://www.tinhoc-doisong.net viết như sau :
Thiếu tướng, Giáo sư, Tiến sĩ khoa học: NGUYỄN ĐÌNH NGỌC, Nguyên Phó Chủ tịch Hội Tin học Việt Nam, Trưởng Ban Kiểm tra Hội Tin học Việt Nam, sinh ngày 13 tháng 8 năm 1932, quê quán xã Phượng Dực, huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây, thường trú tại Phòng 402, nhà D3, Tập thể Trung Tự, Đống Đa, Hà Nội; nguyên Bí thư Đảng uỷ, Cục trưởng Cục Khoa học Viễn thông – Tin học, Bộ Công An, Phó trưởng ban chỉ đạo chương trình quốc gia về công nghệ thông tin (BCĐ49), Bí thư Chi bộ Trường Đại học dân lập Thăng Long; Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến – Điện tử Việt Nam, Hiệu trưởng Trường Đại học Dân Lập Tây Đô - Cần Thơ; Huân chương Quân công hạng Ba, Huân chương chiến công hạng Nhì, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất, Huy chương Vì An Ninh Tổ Quốc, Huy chương vì sự nghiệp các hội KHKT, Huy chương vì thế hệ trẻ; sau một thời gian lâm bệnh, […] đã từ trần hồi 8 giờ 56 phút ngày 2 tháng 5 năm 2006 (tức ngày 5 tháng 4 Bính Tuất) tại Bệnh viện 198 - Bộ Công an. Lễ viếng đã tổ chức từ 9 giờ 30 ngày 8 tháng 5 năm 2006 tại Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. Lễ truy điệu hồi 12 giờ 30 cùng ngày. Điện táng tại Đài hoá thân hoàn vũ, Hà Nội.
Điều quan trọng nhất đáng biết về anh Ngọc, tất nhiên là kết quả công tác điệp báo của anh, dưới bí danh « Ziệp Sơn », nhưng tiếc thay, các bản tin đều chỉ nói lướt qua. Thí dụ như có bản tin viết : « Trong vai trò một điệp báo viên, những tin tức ông cung cấp luôn chính xác, kịp thời và vô cùng quan trọng – thông tin về cuộc tập kích vào Trung ương cục Miền Nam, về việc năm 1975 Mỹ sẽ không quay lại… chỉ là một vài trong số rất nhiều những chiến công thầm lặng của điệp viên tài ba này ». « Vô cùng quan trọng » mà chỉ vọn vẹn được mấy dòng đó sao ? Hay là vì thời điểm hiện nay còn quá sớm để công bố chi tiết toàn bộ ? Hay là những chi tiết này nằm trong các bản tuyên dương mà tôi không được đọc? Biết bao câu hỏi còn chưa được trả lời. Hẳn là vào tháng 4 năm 1975, đã có nhiều nguồn tin trái ngược về khả năng Mỹ quay lại can thiệp hay không ; và những người chuyển những loại tin này gánh một trách nhiệm rất nặng vì nó ít nhiều liên quan đến quyết định cuối cùng của Bộ Chính trị mở chiến dịch Hồ Chí Minh. Tôi tò mò và mong một ngày nào được biết hết …
Trong khi chờ đợi, tôi xin được kể những gì tôi được biết về anh : vì ở anh, sau người điệp viên còn có người công an, sau người công an còn có nhà khoa học; khi người điệp viên đã chấm dứt công tác, người công an ở anh vẫn còn tiếp tục nhiệm vụ – như có người phóng viên đã viết về anh : «Có ai đó đã từng nói, bộ đội còn thời chiến thời bình chứ công an chẳng lúc nào ngơi nghỉ » – và khi người công an đã nghỉ hưu, nhà khoa học vẫn còn đeo đuổi công việc.
Về việc anh đam mê học hành, nghiên cứu khoa học, cũng trong cuộc phỏng vấn dẫn trên (http://vietnam.vnagency.com.vn/VNP), anh nói: « Năm đó [1947] tôi còn rất nhỏ, cả hai bố con cùng bị giặc Pháp bắt. Biết mình sẽ bị đem đi hành hình, thay vì nói con trả thù cho bố, ông nói: “Con cố học và giúp người khác học, còn thiếu tri thức dân mình khổ đừng trách ai, chỉ nên tự trách mình”. Khi đất nước cho phép ngơi nghỉ thì tôi lại làm điều cha tôi đã dạy. Dạy học, nghiên cứu khoa học... tôi hiểu rằng, cuộc chiến giành lấy hạnh phúc, phồn vinh không thể thiếu tri thức» . Rồi với câu hỏi của phóng viên: « Phải chăng thế hệ ông còn nhiều nỗi lo khi đã làm tròn sứ mệnh của mình với đất nước? », anh đã trả lời: «Phải. Nó như cuộc chạy tiếp sức, thế hệ bố tôi đã làm tốt trọng trách đầu tiên tức là cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng để lại trên vai chúng tôi cả một gánh nặng. Và tất cả vẫn chưa kết thúc, sau 1975 tất cả những ai may mắn còn sống phải đi tiếp cuộc kháng chiến mới: cuộc kháng chiến chống sự tụt hậu về khoa học và công nghệ đòi hỏi các bạn trẻ cũng phải ghé vai gánh vác ».Tôi không biết người phóng viên khi kể lại mấy lời này có lý tưởng hóa khung cảnh không, nhưng rõ ràng là nội dung của mấy câu trả lời của anh Ngọc là chí lý, và tôi hoàn toàn tâm đắc: mất nước ở thế kỉ 19, cũng vì thiếu tri thức; những năm đói rách, cùng cực, cũng vì thiếu tri thức; những đợt làm khổ nhau, cũng vì thiếu tri thức; giáo dục đào tạo bê bối, cũng vì thiếu tri thức; tham nhũng và để tham nhũng, cũng vì thiếu tri thức, vv. và vv.
Tôi đã có dịp kể trong cuốn sách « Tự sự của người xa quê hương » (1) : tôi bị bệnh lao ngay mấy tháng sau khi đến Pháp, nên tôi « lê la » gần 7 năm trong các sanatoria và dưỡng đường cho các sinh viên ở Pháp. Vào khoảng năm 1955-56, trong lúc tôi ở dưỡng đường ở Sceaux, thì anh Nguyễn Đình Ngọc cũng ở đó, và vì thế nên quen biết. Những điều như : về ông thân sinh anh ấy bị quân viễn chinh Pháp bắt và giết (1947), tôi có nghe anh kể thuở đó. Nhưng tất nhiên, việc anh làm điệp viên thì sau ngày giải phóng, tôi mới được biết .
Ở đây, chủ yếu tôi chỉ nói đến những gì tôi đã nghe kể và/hoặc chứng kiến:
Lúc sang Pháp, thì anh Ngọc đã có vợ, chị T., và ở Pháp anh chị ấy sinh một con trai, cháu H. Theo như tôi được biết, chị T. thuộc một vọng tộc : mẹ chị T. là cháu nội hoàng giáp Đặng Văn Thụy, con gái phó bảng Đặng Văn Hướng – quan to của triều đình Huế, sau đi kháng chiến và một thời là bộ trưởng của chính phủ cụ Hồ trong kháng chiến, nhưng chết trong đợt Cải cách ruộng đất. Như vậy là chị T. là cháu gọi ông Đặng Văn Việt bằng cậu – ông Đặng Văn Việt người chỉ huy bộ đội vùng biên giới, người của con « đường số 4 anh hùng », và của chiến dịch biên giới phá các binh đoàn Lepage và Charton vv. Mẹ chị T. lại là cháu ngoại của cử nhân Hoàng Đạo Phương, là một thương gia giàu có ở Hà Nội thuở xưa; ông Phương lại đồng thời là anh của ông Hoàng Đạo Thúy (người anh cả của Hướng đạo Việt Nam, một lúc là giám đốc trường võ bị Trần Quốc Tuấn thời Dân chủ Cộng hòa, rồi chủ nhiệm Truyền tin, quân hàm đại tá quân đội nhân dân) (2). Mẹ chị T. mất sớm, bố chị T. đi kháng chiến – trước ông là công chức bưu điện thời Pháp thuộc, sau Cách mạng là cán bộ cao cấp ngành công an – sáu chị em chị T. sống với ông bà nội Trịnh Hữu Thăng, tiến sĩ tại gia (không ra làm quan) ở quê, vùng Nam Định ; đến khoảng năm 1951 quân viễn chinh Pháp càn quét dữ quá, gia đình mới gửi chị em chị T. vào Hà Nội sống với một bà dì (em mẹ chị T.), bà này là vợ ông Phan Huy Quát. Ông Quát từng làm tổng trưởng giáo dục (1949), quốc phòng (1950, 1954), ngoại giao (1964) của chính quyền Bảo Đại trong vùng tạm chiếm (3), thủ tướng mấy tháng năm 1965 ..., sau 1975 chết trong trại cải tạo.
Anh Ngọc học trường trung học Chu Văn An ở Hà Nội, là học sinh giỏi, cùng học với ông Phan Huy Lương và do đó quen với gia đình ông Phan Huy Quát (ông Lương là em ông Quát). Vào giai đoạn từ cuối năm 1951 đến 1954, do tướng De Lattre de Tassigny, tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp, kiêm cao ủy Pháp ở Đông Dương, bắt đầu có lệnh động viên trong vùng tạm chiếm (4). Anh Ngọc tránh quân dịch, nên ra vùng kháng chiến, rồi tại đó, năm 1952, anh học lớp «điệp báo ở sở công an Liên khu IV» (như chính anh viết trong bài đăng trong cuốn sách «Giáo sư Lê Văn Thiêm », nxb Đại học Quốc gia , Hà Nội 2003), rồi : « […] Bắt đầu từ Giám đốc Công an Liên khu 4, Nguyễn Hữu Khiếu, [anh] được [Bộ trưởng Bộ Công an sau này] Trần Quốc Hoàn để mắt tới và quyết định đào tạo "đánh" anh vào lòng địch tại miền Nam dưới sự điều khiển đơn tuyến từ miền Bắc tới Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam », như một đoạn bài báo «Thiếu tướng, GS, TSKH Nguyễn Đình Ngọc : Vinh quang là lặng lẽ » đăng trên báo Công An Nhân Dân trên mạng, viết ngày 9/5/2006. Anh vào Nam, theo học ở Đại học Sài Gòn và cưới chị T. vào năm 1955. Anh sang Pháp cuối 1955 vì có được học bổng để sang học về Khí tượng, rồi chị T. cũng sang Pháp đầu 1956; cuối năm chị sinh cháu H. ở Pháp.
Ở Pháp, anh Ngọc học lấy được 3 bằng kỹ sư và bằng tiến sỹ cấp ba (doctorat 3ème cycle) về Khí tượng. Mấy năm sau, anh và tôi soạn luận án tiến sĩ nhà nước về Toán, ở Đại học Paris cùng thời, nhưng không cùng ngành. Anh bảo vệ luận án dưới sự hướng dẫn của giáo sư C.Ehresmann, dưới đề tài « Sur les espaces fibrés et les prolongements » (Về không gian phân thớ và thác triển), thuộc ngành tô-pô và hình học vi phân. Tôi bảo vệ luận án năm 1962, anh Ngọc bảo vệ năm 1963 và anh có làm giáo sư ở Đại học Poitiers, rồi ở Đại học Brest ở Pháp một thời gian. Cái thuở còn soạn luận án, rồi đi dạy ấy, chúng tôi khá thân, nhưng tất nhiên tôi không biết anh là điệp viên. Anh chị Ngọc và vợ chồng tôi thời ấy cùng sống ở Antony, ngoại ô nam Paris, nhà ở chỉ cách nhau nửa cây số, gặp nhau luôn. Đi dạy ở địa phương xa hàng mấy trăm cây số – tôi dạy ở Lille cách Paris 200 km, anh ấy dạy ở Brest cách Paris 600 km – nhưng nhà vẫn ở vùng Paris, vì thuở ấy sinh hoạt khoa học phần lớn tập trung ở thủ đô Paris; các giáo sư đại học lại chỉ phải giảng bài 3 giờ/một tuần ; lèo tèo hướng dẫn vài ba nghiên cứu sinh đồng thời lại là phụ giảng viên của mình ở đại học địa phương ; ngành Toán lại không có phòng thí nghiệm, mình chỉ cần tập trung có mặt ở đó độ hai, ba ngày là đủ. Cho nên thuở đó có cái tên gọi các giáo sư không cư ngụ tại chỗ là « turbo-prof » – (anh KV. đề nghị tôi dịch là « giáo sư vù » : chợt đến rồi lại «vù» đi nhanh). Ai không sống trong khung cảnh đó thì dễ bị lẫn lộn và hiểu lầm : anh Ngọc không hề giảng dạy ở những nơi mà anh ấy học ở Pháp (trường Viễn thông, trường Hải công, Đại học Paris) như có phóng viên khẳng định. Về cái việc anh Ngọc học « dàn hàng ngang », chuyên môn này rồi chuyên môn nọ, tôi muốn nói một cách công bằng : theo tôi, không phải tại anh mắc cái tật của một số người Việt Nam, ưa học lấy càng nhiều bằng « là là » lại càng tự cho là oai, chứ không chịu (hay không có khả năng) học cao học sâu. Anh Ngọc có chủ ý khác. Có lần anh tâm sự với tôi là : nước mình lạc hậu, thay vì cá nhân mình bỏ hết hơi sức « rặn » ra thêm được vài định lý để đăng nhiều bài báo, chẳng có ích gì thực sự ; mình nên để công sức « nhập » những môn mới vào nước mình để giúp cho thế hệ sau mình có điều kiện tiến lên, còn tốt hơn. Về lý luận này, tôi có phần chia sẻ.
Phóng viên tác giả của bài báo trên Công An Nhân Dân trên mạng 9/5/2006 đã dẫn trên, còn viết : « Có lần ông kể với tôi, vì ông tự ái, tại sao người Việt Nam lại không thể giảng bài ở Pháp mà không nhìn vào giáo án. Thế là suốt nhiều đêm ông đã đọc và thuộc lòng giáo án đại học. Sáng hôm sau vào lớp, ông chỉ cầm một chiếc bút và thao giảng những kiến thức cao siêu trước sự ngạc nhiên của sinh viên nước ngoài ». Xuất phát câu chuyện chi tiết là như thế này : Vốn là thuở anh Ngọc và tôi còn học và soạn luận án, thì có một ông giáo sư ở Đại học Paris tên là ông G. Choquet, là một trong những « tổ sư » của ngành tô-pô. Xin nói qua về ông Choquet này. Ông ta vốn là bạn đồng khóa với ông L. Schwartz – người bạn thân thiết của Việt Nam mà tôi có dịp nói tới trong cuốn sách (5)thuở trẻ ông Choquet học rất giỏi, thi vào thi ra, đều đỗ thủ khoa còn ông Schwartz thì lần nào cũng đỗ á nguyên, thứ nhì sau ông này ; điều này ông Schwartz có kể trong cuốn hồi ký của ông (6). Nhưng ông Schwartz thì được huy chương Fields, còn ông Choquet thì không, tuy ông cũng là một cự phách trong làng Toán. Ông Choquet có một cách giảng bài khá đặc biệt, đó là vào giảng đường « tay không », không có giấy tờ, hồ sơ sách vở, tay trái bỏ vào túi quần, tay phải cầm phấn viết trên bảng, cả buổi không cần nhìn giáo án gì cả, rất gây ấn tượng cho sinh viên. Theo tôi, thì vị cũng có ý « trộ » thiên hạ. Bởi vì trí nhớ dù tốt đến đâu, cũng có giới hạn của nó, và tất nhiên đã nhiều lần vị nhớ lộn, giảng bài không trôi, phải xin lỗi lần sau giảng lại… Ông Ngọc nhà ta cũng muốn làm như vậy, và tất nhiên « đi đêm có ngày gặp ma »; một bữa, cũng giảng bài lộn, bí không tìm ra đầu đuôi, phải khất sinh viên lần sau giảng lại. Nếu vì ngành điệp viên cần luyện trí nhớ – và đó là một cách luyện trí nhớ – thì tôi thông cảm, chứ coi đó là cách giảng dạy có tính thuyết phục, thì tôi không tin. Thuở ấy, cái lần giảng lộn bài phải khất sinh viên, anh Ngọc có thú thật khi kể lại cho tôi nghe, và chúng tôi cười với nhau mãi. Thời đó, tôi chưa biết anh là điệp viên, nên chúng tôi có thảo luận về cách giảng dạy. Tôi thì cho rằng mình có bổn phận tôn trọng và nâng đỡ sinh viên – nhất là thời đó sinh viên còn chưa có phụ đạo, ít sách vở tài liệu, ít người có học bổng, một phần không nhỏ sinh viên lại là những người đã đi làm kiếm sống (giáo viên tiểu học, trung học, viên chức, vv.) tới học thêm để tiến thân, mình không nên vì lòng tự ái cá nhân mà gây thiệt thòi cho họ. Bởi vì, theo tôi, có bài giảng soạn sẵn kỹ càng, đánh số thứ tự, định nghĩa hay định lý đọc ra phải chính xác từng chữ, từng ký hiệu, thì sinh viên mới tiếp thu dễ dàng, và như vậy họ dành được nhiều thì giờ để tham khảo thêm ngoài bài giảng. Nhưng đó là lý luận của người giảng dạy, không phải là lý luận trong khung cảnh của một … điệp viên.
Trở lại chuyện anh Ngọc và cái sứ mạng điệp viên của anh ấy ; tôi chỉ nhớ là anh ấy thỉnh thoảng đi Thụy Sĩ « thăm bạn » (anh chị có một cặp bạn thân ở Thụy Sĩ ; mãi sau này, khi gặp lại anh ấy ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1977, anh ấy mới kể cho tôi là Thụy Sĩ là đường dây liên lạc của anh ấy). Kể ra thuở ấy, tôi ngay thật không nghi ngờ gì, tuy bao nhiêu bài nhạc, bài hát miền Bắc mà tôi có được là do anh ấy cho mượn để thu vào máy, vv. Nhưng tôi đoán, thời ở Pháp là cái thời sửa soạn cho anh một cái vỏ, một địa vị cao để sau đó dễ lọt sâu ; công tác của anh có lẽ chỉ thực sự bắt đầu khi anh đã trở về Sài Gòn, chứ ở Pháp có gì đâu mà tìm hiểu, có lẽ ngoại trừ việc anh tìm ra tung tích của người sĩ quan Pháp đã hạ lệnh giết cha anh.
Lại nhớ đã có lần (vào khoảng cuối 1959, đầu 1960) tôi hỏi anh ấy là tại sao anh ấy lại tham gia cái « hội ông Quân » mà không tham gia « hội ông Quế », anh chỉ cuời lảng mà không trả lời. Đầu đuôi câu chuyện như sau, tuy tôi không nhớ hết chi tiết, và có hỏi thăm những người cùng thời, nhưng cũng không ai nhớ rõ hết. Trước hết xin nói vài lời về hai ông này, đều là nhà toán học. Ông Phạm Mậu Quân bảo vệ luận án tiến sĩ nhà nước năm 1954 ở Đại học Paris. Ông Ngô Văn Quế, bảo vệ luận án tiến sĩ nhà nước năm 1966 cũng ở Đại học Paris. Ông Quế thì tôi có quen sơ sơ, ông Quân thì tôi biết nhiều hơn vì có lúc là đồng nghiệp ở Đại học Lille trong vài năm. Hội ông Quân lập ra – lâu ngày tôi không nhớ, nay hỏi thăm, có người bảo là hội đó mang tên « Science et Culture pour le Vietnam » (Hội Khoa học và Văn hóa cho Việt Nam) – thuở ấy bị/được coi là một hội phái hữu, một phần vì ông Quân lúc đó không ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một phần có lẽ tại ông lấy em gái ông Phạm Khắc Hy, đại sứ của của chính quyền ông Diệm ở Pháp (sau này ông bà ly dị). Hội do ông Quế làm hội trưởng, mang tên là « Association des Etudiants Vietnamiens en Science et Technique », (Hội sinh viên Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam tại Pháp), gần phong trào Việt kiều – nghĩa là nếu dùng đúng ngôn ngữ một thời, đó là một « tổ chức quần chúng » của Nhóm Việt Ngữ – được thành lập khoảng cuối năm 59, đầu năm 60, sau khi hội Liên hiệp Việt kiều bị chính phủ Pháp của ông De Gaulle cấm (7) . Còn Nhóm Việt Ngữ (sau này đã giải tán), là nhóm cốt cán của phong trào Việt kiều ở Pháp ; tôi không tham gia nhóm này, nhưng có được nghe nói tới ; sự tích của nhóm này có được kể trong cuốn hồi ký của đại sứ Võ Văn Sung (8). Vì thế « Hội ông Quế » được coi là hội phái tả. Tôi không tham gia hội ông Quân vì tôi coi chính quyền Bảo Đại do Pháp dựng nên và chính quyền ông Diệm nối theo là không « chính thống/đáng » (légitime) (9) ; tôi cũng không tham gia hội ông Quế vì lúc đó tôi nghĩ rằng tôi đã đi làm, không phải là sinh viên. Tôi hỏi anh Ngọc tại sao anh chọn tham gia hội ông Quân mà không tham gia hội ông Quế, vì lúc đó vấn đề ý thức hệ đặt ra rất nặng. Sau này tôi mới biết là anh Ngọc cần củng cố cái vỏ cho công tác của anh ấy sau này.
Cũng có một câu chuyện tình cờ xảy ra, làm anh chị ấy bị nghi oan. Có một lần, anh ấy để chị và cháu đi « trại hè » do phong trào Việt kiều ở Pháp tổ chức. Chẳng may vào dịp đó, có mấy sinh viên du học ở Pháp bị chính quyền ông Diệm cắt chuyển ngân. Từ đó, có sự suy luận là anh chị ấy làm «chỉ điểm cho địch ». Thực ra đó chỉ là một sự trùng khớp ngẫu nhiên, nó không nằm trong sự cố tình tạo ra cái vỏ chống cộng, bởi vì có cái đạo lý « không gây hại cho cá nhân người khác ». Còn tôi thì đã có một lần tới sứ quán ông Diệm ở Paris để … phản đối việc cắt chuyển ngân của sinh viên du học (10).
Đến năm 1963, sau cuộc đảo chính lật ông Diệm, ông Phạm Hoàng Hộ (11) làm tổng trưởng (bộ trưởng) Giáo dục trong chính phủ Nguyễn Ngọc Thơ ở Sài Gòn ; ông có lời kêu gọi sự hợp tác của trí thức Việt kiều. Nhân chuyến công du sang Pháp của ông Hộ, có một buổi gặp gỡ (một bữa ăn) với một số trí thức Việt kiều, tôi không nhớ anh Ngọc có dự hay không, có thể là có. Riêng tôi có được ông Phạm Mậu Quân rủ đi – lúc đó tôi đang là đồng nghiệp của ông Quân ở Đại học Lille – nhưng tôi từ chối vì lẽ đã kể trên, vả lại thêm vào đó, ông Quân còn bảo tôi là buổi dự chỉ có những người « ở trên », nên tôi thấy « không ổn », vì tôi không nghĩ rằng có bằng cấp và có địa vị xã hội nào đó, là « ở trên » người khác. Ông Quân vốn là người Việt Nam đầu tiên làm luận án dưới sự hướng dẫn của ông A.Lichnérowicz, giáo sư ở Collège de France (12), nên ông ấy cho cảm tưởng là ông muốn đóng một vai trò « trưởng tràng » nào đó đối với những người Việt Nam làm luận án với nhóm ông Lichnérowicz. Anh Ngọc và tôi là ngoại đạo, nên không liên quan.
Thời còn ở Pháp, anh Ngọc cũng quen biết nhiều người Việt Nam, và anh cũng có cái tài nhẫn nhục làm quen. Vào khoảng 1965-66 có ông NVH ở Huế cũng sang Paris soạn luận án tiến sĩ nhà nước dưới trướng ông Lichnérowicz kể trên. Ông NVH này cũng là một nhân vật đặc biệt, không gây thiện cảm, nên trong đám những người Việt Nam làm Toán, ít ai làm quen với ông ta, trừ anh Ngọc, làm thân được với ông này. Khoảng cuối 1968, sang 1969 (tôi không nhớ kỹ thời điểm) có một lá thư kêu gọi trí thức Việt kiều về hợp tác ở miền Nam do ông NVH viết ; và để gây tính thuyết phục hơn, ông ấy kể trong thư rằng ông ấy có được sự nhận lời của giáo sư R. Thom, sẽ sang thỉnh giảng ở Đại học Huế, « mà không nhận thù lao ». (Ông Thom, huy chương Fields, giáo sư ở Institut des Hautes Etudes Scientifiques, Pháp). Lúc đó tôi lấy làm lạ, vì hầu hết các nhà khoa học đặc biệt là các nhà toán học ở Pháp nói chung đều ủng hộ miền Bắc ; tôi hỏi ông Thom là có đúng là ông nhận lời đi Huế thỉnh giảng không, thì ông ta cười trả lời tôi rằng : « Tôi có biết người này là ai đâu, mà bảo rằng tôi nhận lời đi dạy Huế ! ». Có những người Việt Nam « bạo » khiếp, dám khẳng định những điều nghe tưởng như thật.
Tháng 2 năm 1966, bỗng nhiên anh Ngọc lấy quyết định về Sài Gòn (sau này mới biết là anh ấy được trao nhiệm vụ như vậy). Tôi thì hết sức can, lại nhân dịp có cậu họ tôi là người trong ngành ngoại giao của chính quyền Sài Gòn đi qua Pháp, tôi có mời cơm để cậu tôi khuyên anh ấy đừng về ; anh ấy chỉ cười và cảm ơn. Bài báo Công An Nhân Dân trên mạng 9/5/2006 đã dẫn, cũng là bài báo duy nhất trong nước mà tôi đọc thấy, viết lướt về vợ con anh Ngọc : « Chiến tranh và nhiệm vụ cách mạng vô cùng cam go, có thể hy sinh bất cứ lúc nào, ông cũng không ngờ chuyến trở về tạm biệt vợ con ngày đó... trở nên xa vời mãi mãi... », nhưng bài báo không nói tại sao lại xa vời mãi mãi – trong khi một vài bài báo khác lại chỉ viết về một « người bạn đời » của anh. Tôi thấy cần công bằng nên xin nói thêm những điều tôi biết. Thuở anh Ngọc rời Pháp về Sài Gòn, tôi không hiểu vì lý do gì chị ấy và cháu không về, mà ở lại Pháp ; sau này tôi mới nghe kể là – trái với lời đồn một thuở – chị T. biết công tác điệp viên của anh ấy ngay từ ngày vợ chồng mới lấy nhau. Anh Ngọc lấy quyết định về một mình, vì sợ nguy hiểm cho chị T. và cháu, có thể bị bắt làm con tin, nếu công tác bí mật của anh ấy bị lộ. Rồi anh ấy về giảng dạy ở Đại học Sài Gòn. Có những điệp viên đóng vai thượng lưu, chơi chim chơi chó, cà-phê, sâm banh; còn anh Ngọc đóng vai một ông trí thức gàn dở, vốn đã có sẵn có khi còn ở Pháp, nhưng lại càng lộ cái gàn dở hơn nữa khi về Sài Gòn. Đôi khi tôi cũng tự hỏi : khi phải đóng một vai trò gàn dở, con người dần dần có thể biến thành cái nhân vật mình đóng, tựa hồ như luôn luôn phải « tự quất » mình (autoflagellation ) không ? Anh thường để lại hình ảnh một con người khắc khổ, ít hưởng thụ, không thích ăn ngon mặc đẹp, ngày ăn một bữa, làm việc đến kiệt sức té xỉu, rất chặt chẽ trong việc chấm điểm bài vở cho sinh viên, vv. Ngó anh, tôi không khỏi nghĩ tới hai câu thơ Nguyễn Khuyến trong bài « Mẹ Mốc » : « Ngoại mạo bất cầu như mỹ ngọc. Tâm trung thường thủ tự kiên kim », (nghĩa là : mặt ngoài không cần đẹp như ngọc ; nhưng trong lòng hằng giữ bền như vàng). Nhưng, theo tôi nghĩ, ngoài cái vỏ cứng nhắc ấy, thực ra anh là một con người tận tụy, khắc nghiệt với chính mình mà khoan dung hơn với người khác, và tôi nghe đồn là anh đã che chở, nâng đỡ cho nhiều người trong phạm vi có thể, trong những ngày khó khăn nào đó. Hơn thế nữa, trong anh là một tâm hồn lãng mạn : không chỉ « lãng mạn cách mạng », mà còn lãng mạn theo nghĩa… thông thường. Không quen biết thì khó hình dung được con người ấy lại rất mê nhạc lãng mạn phương tây. Tôi còn nhớ một kỷ niệm nhỏ : vào dịp cưới vợ chồng tôi, trong mớ quà mừng của anh chị, anh chọn tặng tôi đĩa bản concerto pour piano của Grieg, và đĩa bản nhạc concerto pour violon của Brahms, trong khi tôi lại ưa nhạc baroque hay xưa hơn nữa. Có điều nữa là anh Ngọc rất ghét nhạc Offenbach ; lý do là theo anh, nhạc Offenbach dính liền với French Cancan (13), với vui chơi đùa giỡn. Nhưng thực ra, nhạc Offenbach đâu chỉ có vậy : tính nhạo báng, giễu cợt và « bất kính » cũng không loại trừ vẻ đẹp của âm điệu. Nhưng vào thời điểm mà nước nhà đang khói lửa, thái độ của anh cũng dễ hiểu.
Bên gia đình chị T. ở Sài Gòn có những người có địa vị cao cấp, ngay cả trong quân đội, mà anh Ngọc rất thân thiết. Anh ấy về Sài Gòn rồi, chị T. ở lại lo việc làm ăn, nuôi con và tiếp tế cho gia đình của chị và của anh còn ở miền Bắc. Có một khoảng thời gian, chị T. nhờ vợ tôi dạy học thêm cho cháu H. chủ yếu là về Toán vì chị không có khả năng ấy. Rồi sau đó đến lượt ông A. Grothendieck, thay vợ tôi, đảm nhiệm việc này. Ông Grothendieck, huy chương Fields, thuở ấy là giáo sư tại Institut des Hautes Etudes scientifiques, tổ sư của ngành Hình học Đại số, được đa số giới toán học coi là một nhà toán học lớn nhất của thế kỉ 20. Thuở ấy cũng là chỗ quen biết thân thiết. Nhà ông bà Grothendieck cũng gần, ông bà rất có cảm tình với Việt Nam, đã có lúc chứa những người Mỹ trốn lính ; ông là một trong những nhà khoa học tích cực ủng hộ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tôi đã có dịp nói lướt về ông, trong bài tôi viết về ông L. Schwartz trong cuốn sách (5) đã dẫn. Năm 1967, ông có sang Hà Nội, giảng dạy làm xê-mi-na trong vùng sơ tán. Nhưng ông cũng là người khá kỳ dị, từ cách ăn mặc, đến cách cư xử, rất ngay thật, tận tụy, nhưng hoàn toàn không nhân nhượng, làm cho nhiều người không hiểu được. Sau này, ông ta dứt bỏ Toán học – có giả thuyết cho rằng tại ông thất vọng không giải được mấy bài Toán khó còn đang mở – cắt đứt quan hệ với mọi người kể cả gia đình, ở ẩn nơi nào, không ai biết điạ chỉ nữa.
Trở lại câu chuyện anh Ngọc về Sài Gòn, tôi không có dịp liên lạc. Sau Tết Mậu Thân 1968, ông Phạm Mậu Quân có về thỉnh giảng ở Đại học Sài Gòn ; lúc trở lại Pháp – lúc đó ông ấy và tôi còn cùng đang dạy ở Đại học Lille – ông kể cho tôi biết là ông ấy giận anh Ngọc lắm. Lý do ông nêu là đúng vào bữa ông thuyết trình, anh Ngọc cũng làm một buổi thuyết trình cùng ngày cùng giờ cùng đề tài, làm giảm số người đến nghe ông ấy. Thêm vào đó, ông lại càng giận vì bà khoa trưởng (có lẽ là bà giáo sư Trần Ngọc Tiến) bữa đó có con ốm không tới giới thiệu ông ấy với cử tọa được. Thời đó, mấy người giáo sư đại học đều ở trong cái tòa nhà, số 274 đường Công Lý (sau gọi là Nam Kỳ Khởi nghĩa), chả biết ông Quân có nghi sự trùng khớp đó là « không ngẫu nhiên » không (14).
Về Sài Gòn rồi, tôi có nghe kể là anh Ngọc quay ra « nghiên cứu » chiêm tinh, và có lời đồn đại về tài nghệ bói tử vi của anh, điều mà tôi không thấy anh nói tới khi còn ở Pháp. Một trong những lý do được giải thích sau này là anh sử dụng cái vỏ đó để làm công tác điệp viên, như bài báo trên Công An Nhân Dân trên mạng 9/5/2006 đã dẫn, viết : « Nghe đâu, Giáo sư, TSKH Nguyễn Đình Ngọc là người được giới chính trị cấp cao chính quyền Sài Gòn [chú thích của BTL : có lẽ là gia đình họ] hay cậy nhờ xem về hậu vận, ở một vị trí với uy tín vỏ bọc thuận lợi như thế, những tin tức tình báo chuyển về An ninh Trung ương Cục sẽ vô cùng có giá trị ». Có điều là sau ngày thống nhất, rồi ngay cả khi đã trở ra Hà Nội nhận công tác mới, anh còn tiếp tục bói tử vi ; có người còn khen tài nghệ của anh là « quỷ khốc thần sầu » (anh HTB cho biết rằng ở Hà Nội thuở ấy có dư luận cho là có 3 vị xem tử vi hay: nhạc sĩ Hồng Đăng, ông Trần Quốc Vượng, và anh Nguyễn Đình Ngọc). Anh muốn gây ảnh hưởng với ai, hay là chính anh cũng đâm ra tin ? Đọc trong cuốn sổ lưu niệm đám tang anh, tôi thấy có một ông thiếu tướng, tiến sĩ KHKT quân sự, chủ nhiệm Bộ môn Cận Tâm lý thuộc Trung tâm nghiên cứu tài năng con người, khi nhắc đến sự trao đổi với anh, viết : «[...] cố gắng tìm hiểu một số vấn đề bí ẩn mà chính chúng ta cũng chưa giải thích ». Nhưng xem chừng như « Bụt chùa nhà không thiêng », nghe nói anh quyết anh sẽ còn sống thêm mấy tháng nữa, nhưng bệnh tật đã làm cho lời đoán không nghiệm. Nhưng đó là chuyện phụ.
Sau chiến tranh, năm 1977, nhân một dịp về nước, tôi vào Thành phố Hồ Chí Minh, mới gặp lại anh trong một bữa cơm riêng tại nhà người bà con, ở ngôi nhà 274 Nam Kỳ Khởi nghĩa đã kể trên. Khi ấy anh chưa ra Bắc nhận công tác mới. Lại nghe nói là anh còn trong đợt « chờ đợi kiểm tra ». Điều này, bài báo trên Công An Nhân Dân trên mạng 9/5/2006, cũng có viết lướt : « Càng leo cao, người tình báo như ông càng cô đơn trong thực hiện nhiệm vụ, đó sẽ là điều dường như Giáo sư Nguyễn Đình Ngọc muốn gửi gắm cho đồng nghiệp trẻ. Bởi có thời gian, do hoạt động đơn tuyến, ông cũng bị đặt nhiều dấu hỏi; thậm chí đến sau giải phóng miền Nam năm 1975, nhiều người trong lực lượng Công an còn chưa biết Nguyễn Đình Ngọc là ai, cả khi năm 1988, ông được bổ nhiệm chức vụ Phó Cục trưởng Cục Khoa học và Kỹ thuật và tháng 10/1994 được phong hàm Thiếu tướng ». Tối hôm đó, khi chở tôi về khách sạn Bông Sen đường Đồng Khởi bằng xe đạp, tôi có hỏi anh về chuyện gia đình, anh có tâm sự một số điều. Về những lý do gì để cặp vợ chồng anh bị rạn nứt, anh có lời giải thích riêng. Tôi cũng đã nghe chị T. giải thích và tôi biết là sau 1975, Bộ Nội vụ nhiều lần cố gắng tạo điều kiện để chắp nối lại, nhưng việc không thành. Tôi biết nói gì hơn, khi tôi biết chị đã khóc cạn nước mắt trong nhiều năm, và dường như từ lâu nước mắt của anh đã chỉ « chảy vào bên trong ». Lời đồn và sự thật ? Anh và tôi vốn đều không ưa để lộ tình cảm, nhưng tối hôm đó hình như anh nhận thấy tôi lén chùi khóe mắt, anh im lặng nắm vai tôi hồi lâu trước khi chia tay.
Rồi đến năm 1981, lần cuối cùng tôi về nước, trong buổi « Đoàn trí thức » tụi tôi trình bày về « hồ sơ Việt kiều : tiềm năng trí thức, kinh tế, vv. » (15) ở Ủy Ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước, anh có lại nghe, nhưng bữa đó đông người và tôi rất bận, nên chỉ kịp nói với nhau mấy câu chào hỏi. Rồi giữa anh và tôi cũng không có dịp liên lạc gì trực tiếp.
Mấy năm sau (tôi không nhớ kỹ thời điểm), tình cờ trong một buổi chiêu đãi ở Sứ quán ta ở Paris, vợ chồng tôi thấy anh Ngọc lại tìm tụi tôi : anh đi trong phái đoàn ông Bùi Thiện Ngộ (Bộ trưởng bộ Nội vụ, thuở ấy hình như chưa tách ra bộ Công An) sang hợp tác với Pháp về Interpol, và mua trang bị cho Bộ Nội vụ. Nhìn thấy anh mặc bộ « đồ lớn » complet-veston có cả gilet, tôi cười hỏi rằng có phải là bộ đồ của ông thân sinh anh thuở xưa không ? Anh cũng cười và ngạc nhiên là tôi vẫn còn nhớ : vốn là thuở còn ở trong dưỡng đường ở Sceaux, một buổi tối, tôi ghé qua phòng anh, thấy anh đang dùng bút mực xanh để « chấm » các sợi chỉ đỏ trên bộ quần áo của ông thân sinh anh, thuở ông còn làm y sĩ trước thời cách mạng, bộ quần áo mà anh mang theo sang Pháp thời còn là sinh viên – anh không ưa các sợi chỉ đỏ trên bộ áo mầu xanh đậm, nên phải bỏ ra mấy đêm mới « chấm » hết các sợi chỉ đỏ đó trên bộ áo. Kể vậy để thấy tính con người anh như thế nào. Lần đó, tôi có nhắc nhở đến chuyện gia đình, nhưng anh vẫn không muốn gặp lại vợ con. Lúc ấy có tin đồn anh đã có « người bạn đời » từ một thời gian.
Anh Ngọc có lẽ cũng do nghề nghiệp điệp viên, ít khi nhắc kỹ đến gốc gác thời mình còn học ở Pháp. Tôi nhớ câu chuyện sau đây : Giới khoa học Pháp – trong đó có các nhà Toán học – thuở chiến tranh và ngay sau chiến tranh, có nhiều cảm tình với Việt Nam, nên nhiều người tự nguyện đi Việt Nam giảng bài, làm xêmina, vv. Có một lần ông F. Bruhat, giáo sư Đại học Paris 7, cũng là nhà toán học có tiếng, đi Việt Nam về, bảo tôi : « Lúc làm thuyết trình, tôi có được một người phiên dịch tuyệt vời, rất uyên bác, tên là Ngọc, anh có quen không ? ». Tôi hỏi lại: « Anh ta không nói gì với anh về những năm anh ta ở Pháp à ? Và anh cũng quên hết về anh ta rồi sao ? Chính anh là thành viên của ban giám khảo luận án của anh ta, và chính anh là người đã ra cái đầu đề « luận án thứ hai » cho anh ấy đấy mà ! ». Cần nói thêm cho dễ hiểu : thời đó, khi bảo vệ luận án tiến sĩ nhà nước ở Pháp, ngoài việc bảo vệ cái luận án « chính », có lệ là ban giám khảo còn buộc thí sinh phải trình bày một giáo án trên một đề tài mà ban giám khảo trao cho, trong một lĩnh vực xa lạ với đề tài của cái luận án « chính », và chỉ được soạn giáo án này trong một thời gian giới hạn (vài ba tháng), để kiểm tra khả năng tiếp thu của thí sinh. Không nói gì với ông Bruhat là cố nhân, phải chăng cũng là một thứ méo mó nghề nghiệp điệp viên ? Ngay cả năm ngoái, khi con nhớn của tôi cùng đồng nghiệp ở nước ngoài về tổ chức Hội nghị về Tin học RIVF'05 (Research, Innovation and Vision for the Future) ở Cần Thơ, anh có lại dự, và tự giới thiệu mình nay là « phóng viên khoa học ».
Tôi cũng nghe anh HTB kể : Tháng 2/2006 sau hội nghị RIVF'06 ở Thành phố Hồ Chí Minh có cuộc họp mấy người phụ trách RIVF bàn làm sao đưa Việt Nam và RIVF vào thành một section của IEEE (Institute of Electrical and Electronics Engineers). Bữa đó anh Ngọc cũng dự, rất yếu nhưng vẫn góp ý say sưa, nhanh lẹ như thường lệ.
Thuở xưa có ông Phan Kế Bính viết cuốn « Nam Hải dị nhân », kể sự tích về những nhân vật như Hai Bà Trưng, Bố Cái đại vương, Lý thường Kiệt, …, và Lê Như Hổ ngày ăn nổi một nồi ba mươi cơm, vv. Sau này, nếu ai có ý định viết một cuốn « Nam Hải dị nhân » mới, xin đừng quên nhân vật Nguyễn Đình Ngọc …
Trở lại chuyện gia đình, mãi những năm gần đây, mới có sự « liên lạc » trở lại giữa anh ấy và chị T. và cháu H. (từ lâu đã trưởng thành), sau mấy chục năm gián đoạn, có lẽ vì chị T. kiên trì tìm nối lại, nhưng sự hàn gắn thì không có. Chuyện đời tư của một « thường nhân » thì không nên nói tới, nhưng khi một nhân vật đã có danh (tôi muốn nói : « homme public ») , thì trái lại cũng cần biết thêm để soi rõ hoàn cảnh của thời cuộc. Về anh Ngọc thì công lao tất nhiên là nhiều ; nhưng hy sinh và đau đớn thì cũng rất lớn, có thể nói là anh ít may mắn hơn một số người khác. Người ta đồn đại nhiều về anh ấy, nhưng mấy ai biết được sự thật ở chỗ nào ? Anh đã có lời phát biểu với một phóng viên : « […] người cán bộ điệp báo như một ngọn đèn dù công suất có lớn đến đâu thì cũng không có giá trị tự thân. Phải có một sợi dây liên lạc, một cách thức để truyền thông tin, không có điều này thông tin mà người điệp báo thu thập được không có giá trị gì cả ». Tôi đoán rằng tuy anh không nói tiếp ý của anh, có thể anh cũng đã không quên rằng có những người khác đã góp phần tạo điều kiện cho anh thực hiện được sứ mạng của anh. Chị T. bảo tôi rằng nếu vào những giai đoạn cuối, chị và cháu nhiều lần về thăm anh những ngày bệnh anh đã nguy kịch – anh như « sống lại » mỗi lần gặp lại cháu – là vì chị nhớ tới lời ước mong của anh thuở công tác tính mạng còn như treo sợi tóc (sợ chị và cháu bị kẻ địch bắt làm làm con tin vì công tác của anh) : ước mong có chị và cháu ngồi cạnh anh khi anh nhắm mắt. Điều mong ước ấy, có thể giờ chót anh còn nhớ chăng.
Tôi có được chị T. cho xem mấy tấm hình đám tang anh, do Bộ Công An tổ chức. Thấy có tấm trướng đề « Vô cùng thương tiếc … », linh cữu phủ quốc kỳ, có hàng chữ « vì an ninh tổ quốc », có đội túc trực danh dự, có dàn nhạc mặc binh lễ phục trắng, có hàng trăm vòng hoa, có hình ảnh mấy ông tướng công an tới viếng … Thấy bà « bạn đời » chít khăn đen cùng anh em bà và « cậu con nuôi » đứng ở đầu linh cữu, rồi đến cháu H. và chị T. cùng thân quyến chít khăn trắng, thấy cháu H. mang bát cơm có cắm hai chiếc đũa « chẻ » – một tập quán từ thuở xa xưa mà tôi đã bẵng quên – thấy cậu con nuôi mang bát nhang. Rồi lại thấy lọ tro sau hỏa táng ; nghe nói anh mong được chôn cạnh mộ cha mẹ anh. Lại đọc cuốn sổ tang, thấy ghi lời lưu niệm của bạn đồng học thuở trường trung học Chu Văn An, của đồng nghiệp sau này, của học trò anh, … ; cũng thấy có lời ghi nhắc đến một vài sĩ quan cao cấp của chính quyền Sài Gòn, lại thấy có cả lời ghi của một người nước ngoài bằng tiếng Pháp mà cảm tình chắc là phải lớn : « Chào tạm biệt và hẹn tái ngộ một ngày sắp tới » (Au revoir et à bientôt).
Những người thuộc thế hệ anh Ngọc đã phải trải qua những cảnh éo le, có thể nói là rất đau khổ. Có người tham gia cuộc chiến vì lý tưởng, vì bổn phận, có người vì thời cuộc đẩy đưa , chắc chẳng có mấy ai vì công danh như lời thơ « Chinh phụ ngâm » :
Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt,Xếp bút nghiên theo việc đao cung …
Nhiều hoàn cảnh cũng không hẳn như lời bài ca « Quand un soldat » (« Khi người lính ») – có lẽ phải gọi là bài thơ tự phổ nhạc – của Francis Lemarque, năm 1952, ở Pháp. Thuở ấy, tôi nghe mà thấy dửng dưng ; nay đọc lại lời thơ, cũng thấy rung cảm. Tất nhiên, tác giả chỉ nói cảnh người lính đi chiến đấu không lý tưởng, nằm ngoài khuôn khổ của những lý do « chính đáng » vv. Tôi không phải là « dịch giả », mà là « dịch dở », nên xin chỉ tạm tóm lược đại ý vài câu, rồi chép nguyên văn bài thơ tiếng Pháp trong chú thích (16) dưới đây:
Chàng đi chiến chinh ; trở thành nguyên soái, đó là mong ước.Trên đường về, quần áo bẩn đeo vai, chân chàng bước.Ra đi lúc tuổi đôi mươi ; chiến tranh đếm xỉa gì đến tình yêu, đến lời thề ước.Hết chiến tranh, may sống trở về ; thôi, tạm coi là được!
Theo cuốn « Từ điển của Quỉ » (Dictionnaire du Diable) của Ambrose Bierce (1842-1914), dẫn trong cuốn « Les Miscellanées de Mr. Schott », nxb Allia 2005, « sự khâm phục [của mình đối với một người] » được định nghĩa là « cách lịch sự để công nhận sự giống nhau giữa mình và người đó ». Vì tôi hiểu như thế nên tôi không biết tán dương ; tôi chỉ biết kể những điều tôi được biết, với cảm tình và lòng thân ái.
Và tôi nhớ tới câu chuyện : thuở trước ngày Tổng khởi nghĩa tháng tám 1945, trong rừng Việt Bắc, cụ Hồ ốm nặng, nghĩ mình không sống được, có dặn dò ông Giáp : « Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh đến đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn, cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập » . Vì phải giành cho được độc lập thống nhất, những đau khổ chồng chất trong mấy chục năm, trải qua ngoại xâm, giết chóc, càn quét, chia lìa, ý thức hệ, cải cách ruộng đất, cuộc chiến Nam Bắc, vv. cộng lại, xem ra cũng xứng với cái hình ảnh tượng trưng « đốt cháy Trường Sơn » đấy chăng ?

Nữ bác sĩ Việt đầu tiên tại Pháp - Henriette Bùi Quang Chiêu
http://1.bp.blogspot.com/-LXNHIzabq_g/Tjs8ZH-hkCI/AAAAAAAAFQk/pu7eEGXgSrg/s1600/bqc.jpgBà Henriette Bùi Quang Chiêu, ở tuổi 105. Hình chụp tại Paris nhân chuyến viếng thăm của đoàn bác sĩ từ Hoa Kỳ. (Hình: Tác giả cung cấp)

Không ai có thể phủ nhận, rằng Paris là thủ đô ánh sáng, nhưng ở đây chúng tôi muốn đưa ra những “ánh sáng” ít khi được nêu lên, có liên quan đến cộng đồng gốc Việt chúng ta. Ðó là những sinh viên Việt Nam xuất sắc, xuất thân từ các đại học ở Paris nói riêng và ở xứ Pháp nói chung, từ những thập niên 1920s, 1930s xa xôi. Thời gian ấy, người Việt Nam chúng ta vẫn còn rất “mù mờ” về nền văn minh Âu Tây!

Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ - “Vietnamese American Medical Research Foundation” - được thành lập trên 15 năm qua. Ngoài việc nghiên cứu trong ngành y khoa, hội thường khuyến khích và vinh danh người Việt Nam tài ba, xuất sắc, làm rạng danh cộng đồng người Việt hải ngoại bởi những đóng góp của họ trong các ngành nghề vào cộng đồng thế giới. Chuyến đi tháng 6, 2011 vừa qua không ngoài mục tiêu vừa nêu ra.


Di ảnh gia đình. Từ trái: Madeleine, Henriette, ông Bùi Quang Chiêu, Louis, Camille, Helene. Hình chụp tại Phú Nhuận, Sài Gòn, năm 1921. (Hình: Tác giả cung cấp)

Cách đây năm năm, Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ ngỏ ý mời một nhân vật đặc biệt trong giới Y khoa Pháp sang Mỹ, để mừng thượng thọ 100 tuổi, và cũng để cộng đồng Việt Nam tại California được chiêm ngưỡng và vinh danh. Ðó là bác sĩ Việt Nam đầu tiên, tốt nghiệp tại “Faculté de Médecine de Paris,” Ðại Học Y Khoa Paris, từ năm 1934. Ý định này không thành, vì vị nữ bác sĩ vừa bị tai nạn và từ đó Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ không còn liên lạc được với bà nữa.

Trong những câu chuyện hàng ngày, Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh, người sáng lập Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ, từng ngỏ ý tiếc đã “để mất liên lạc với vị bác sĩ đặc biệt này.” May mắn thay, Bác Sĩ Nguyễn Tấn Phát, người sáng lập “Hiệp Hội Trường Không Biên Giới” - “École Sans Frontiere,” người thường sinh hoạt trong các trại tỵ nạn và trong cộng đồng Việt Nam ở Pháp, đã tìm được địa chỉ của nữ bác sĩ này. Ông còn xin được cái hẹn cho phái đoàn Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt Mỹ sang Pháp để gặp gỡ. Vị nữ bác sĩ tỏ ý “vui mừng đóng tiếp phái đoàn đến từ Hoa Kỳ.”


Bà Henriette Bùi, thời sinh viên y khoa tại Bordeaux. (Hình: Tác giả cung cấp)

Dùng chữ phái đoàn nghe to lớn, trên thực tế, vì chuyến đi đột ngột, “phái đoàn” chỉ có hai ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và phu nhân, bà Bác Sĩ Nguyễn T. Hoàng Lan và hai ông bà nhạc sĩ Nhật Ngân. Chỉ có ba ngày, chúng tôi phải khăn gói lên đường đến Paris cho đúng ngày hẹn với “người đặc biệt,” và phái đoàn chỉ có... 5 người.

Nhân vật đặc biệt

Người mà chúng tôi tìm kiếm cho chuyến thăm viếng này là bà Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu. Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu sinh tại Hà Nội ngày 8 tháng 9, 1906, là ái nữ của ông Bùi Quang Chiêu, người miền Nam, và bà Vương Thị Y.

Sau khi ông Bùi Quang Chiêu tốt nghiệp Kỹ Sư Canh Nông tại Pháp quốc, ông trở về Việt Nam làm việc trong ngành chuyên môn. Là người của khoa học, ông Chiêu lại nổi tiếng về lập trường chính trị. Ông sáng lập đảng Lập Hiến, sở hữu tờ báo “La Tribune Indochinoise.” Mặc dầu hoạt động trong khuôn khổ bất bạo động, theo lập hiến để đòi quyền tự trị, ông là người Tây du, đi cùng đường hướng với cụ Phan Châu Trinh, người Ðông du, dưới con mắt của người Pháp thuộc địa, ông là người có tinh thần quốc gia nguy hiểm, không khác nào người làm cách mạng.

Ðảng Cộng Sản Việt Nam thì xem ông như một chướng ngại vật có tầm vóc nên Việt Minh không ngần ngại sát hại ông cùng rất nhiều nhà yêu nước khác, đồng thời buộc tội ông là người hợp tác với chính quyền Pháp thuộc địa.


Bà Henriette Bùi, hình chụp năm 1931. (Hình: Tác giả cung cấp)

Con gái ông Bùi Quang Chiêu, là bà Henriette Bùi Quang Chiêu, thừa hưởng tính chất năng nổ, hoạt bát từ người mẹ, đồng thời được sống trong môi trường thuận lợi: gia đình khá giả, có kiến thức của hai nền văn hóa Âu Á, được thêm sự giáo dục phóng khoáng. Vì nền tảng ấy, từ rất sớm, bà đã thể hiện cá tính độc lập với năng lực khác thường. Sống ở Saigon khi còn bé, vào tiểu học năm 1915 “l'École Primaire Superieure des jeunes filles,” sau đó bà vô Lycée Marie Curie. Cô học sinh Henriette là một người thông minh, lại có tính bướng bỉnh nhưng không kém phần hoạt kê, dí dỏm. Bà đỗ bằng tiểu học Certificat d'Études với thứ hạng cao, rồi sau đó nằng nặc đòi thân phụ cho đi học ngành Y khoa ở Paris như người anh Henri của bà.

Gởi con gái đi xa gia đình, vào thời bấy giờ là chuyện hy hữu. Bà Henriette cứ tiếp tục “quấy nhiễu” thân phụ mẫu, đòi được sang Pháp du học. Cuối cùng, ông bà phải chiều ý. Cô tiểu thư Henriette Bùi ra bến tàu Sài Gòn, xuất ngoại mùa Hè 1921, khi chưa tròn tuổi 15.

Henriette vào Lycée d'Agen và Bordeau năm 1922-25, thuộc miền Tây Nam nước Pháp. Cô học sinh gốc Á hấp thụ đời sống Âu Tây một cách tự nhiên, lấy bằng tú tài năm 1926 dưới sự giám hộ của giáo sư triết Madame Meyerson, nơi bà thường gặp nữ bác học Marie Curie. Bà bắt đầu vào trường Y Khoa năm 1926. Thời bấy giờ, đại học còn rất ít sinh viên nữ, và ngành Y khoa lại càng hiếm hoi hơn. Sau mười năm “tu luyện” nội trú trong các bệnh viện, bà chọn ngành chuyên môn là Sản Phụ Khoa, với luận án bác sĩ được tưởng thưởng huy chương. Bà trở thành bác sĩ gốc Việt đầu tiên xuất thân từ Ðại Học Y Khoa Paris. Lúc ấy, bà vừa tròn 28 tuổi. Sự kiện bà hồi hương năm 1935 là một biến cố quan trọng, làm chấn động dư luận xã hội và truyền thông thời bấy giờ.
Về Việt Nam, Bác Sĩ Henriette Bùi được bổ nhiệm làm trưởng khoa Hộ Sinh ở Chợ Lớn, và là người phụ nữ Việt Nam đầu tiên có trách nhiệm chăm lo hệ thống bệnh viện thuộc địa thời ấy. Với cá tính độc lập, bướng bỉnh, bà thường gặp nhiều khó khăn với các “ông tây thuộc địa,” và sự tranh chấp, đố kỵ xảy ra gần như hàng ngày. Tương truyền, bà từ chối mặc y phục Âu Tây để người Pháp kính nể hơn. Giới bác sĩ Pháp thời ấy nói rằng, nếu bà mặc y phục Việt Nam, người ta sẽ lầm tưởng bà là một “bà mụ đỡ đẻ” hơn là một bác sĩ sản khoa. Bà cương quyết từ chối, vẫn cứ tiếp tục hãnh diện trong bộ y phục Việt Nam của mình!

Không những thế, bà không ngừng chống đối sự kỳ thị, về giới tính và chủng tộc. Trong nghề, bà để hết tâm huyết, công sức mở các lớp huấn luyện các bà mụ sản khoa. Một trong những chế độ kỳ thị trắng trợn thời ấy là, cho dầu cùng là bác sĩ, những đồng nghiệp cùng khoa bảng lãnh lương cao gấp 10 lần nữ bác sĩ bản xứ. Ðơn giản, vì các đồng nghiệp ấy là... người Pháp. Bà nhất định tranh đấu, đòi quyền bình đẳng, cho bà, cho nữ giới bản xứ, và cho cả bệnh nhân người bản xứ. Người Pháp rất bực mình về thái độ của bà; họ tố cáo bà “làm cách mạng.”

Trong cuộc sống xã hội, Bác Sĩ Henriette Bùi hành xử rất “Tây.” Bà làm những việc gần như không thể chấp nhận được cho nữ giới thời ấy: bơi lội trong các hồ bơi tập thể, lái xe hơi. Bà chỉ tiếc là đã bỏ cuộc trong việc học lái máy bay!
Cuối năm 1950, bà lại sang Nhật Bản học châm cứu, rồi trở về Pháp hành nghề trong ngành chuyên môn mới, rất thành công tại Paris.

Ðến năm 1966 bà gia nhập một tổ chức từ thiện, trước khi tổ chức “Medecins Sans Frontière” (Bác Sĩ Không Biên Giới) được thành lập. Khi chiến tranh Việt Nam bùng nổ dữ dội, bà tận tụy chữa trị mọi người, không phân biệt bạn, thù.
Bà trở về Pháp năm 1971, làm việc đến năm 1976. Về hưu, bà vẫn tiếp tục công du khắp lục địa.

Về đường gia đình, nữ Bác Sĩ Henriette Bùi thành hôn với ông Vương Quang Nhượng, luật sư nổi tiếng của Tòa Án Sài Gòn, cũng là người bạn thân của thân phụ bà. Hai người ly dị hai năm sau. Sau đó, bà sống với người bạn đời mà bà từng quen biết khi ông còn đi học ở Paris. Ðó là ông Nguyễn Ngọc Bích, người từng tốt nghiệp Kỹ Sư Cầu Cống từ trường nổi tiếng bậc nhất xứ Pháp, “École Polytechnique,” vốn chỉ dành riêng cho sinh viên uu tú nhất của nước Pháp và thế giới thời ấy. Ông Nguyễn Ngọc Bích thuộc thành phần người quốc gia, yêu nước chân chính, đáp lời tiếng gọi quê hương, gia nhập phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được các anh em đồng đội tin tưởng và ngưỡng mộ, bầu làm Khu Bộ Phó Khu 9. Ảnh hưởng của ông càng ngày rộng lớn, và vì ông từ chối gia nhập Ðảng Cộng Sản, ông bị Việt Minh gài cho quân đội Pháp bắt trong vùng tỉnh Sóc Trăng. Dù bị tra tấn, ông nhất định không tiết lộ tên thật, và bị lên án tử hình.

Những năm đau khổ nhất trong cuộc đời của bà Henriette Bùi là khi cha và anh bà bị Việt Minh ám sát tháng 9, 1945. Rồi đến 1947, người bạn đời của bà, kỹ sư Nguyễn Ngọc Bích, bị Việt Minh gài cho quân đội Pháp bắt, rồi bị lên án tử hình. Ðược tin không lành, bà Henriette Bùi ráo riết tìm các bạn học trường Polytechnique cùng chồng, là những người nay trở thành những nhân vật có ảnh hưởng quan trọng trong chính quyền Pháp, nhờ can thiệp. Kết quả, ông Nguyễn Ngọc Bích được chuyển sang danh sách trao đổi tù binh, thay vì án tử hình. Ðổi lại, ông không được trở lại Việt Nam, mà phải sang Pháp lưu trú. Tại đây, ông trở lại trường Y khoa và thành tài trong mấy năm sau. Tuy nhiên, ông không hành nghề bác sĩ và lại trở thành giáo sư dạy môn Vật Lý tại trường Y Khoa. Chuyện liên hệ ngẫu nhiên: giảng sư Nguyễn Ngọc Bích lại là thầy của Bác Sĩ Vũ Ngọc Quỳnh, người gần gũi ông nhất (Bác Sĩ Quỳnh cũng có mặt trong buổi thăm viếng với phái đoàn) và cũng là thầy của Bác Sĩ Nguyễn Tấn Phát, người bắt được liên lạc với bà Bác Sĩ Henriette Bùi.

Người 105 tuổi

Phái đoàn đến thăm viếng bà Henriette Bùi tại nhà dưỡng lão sang trọng thuộc Quận 19, Paris. Bà tiếp phái đoàn 8 người trong một phòng khách rộng lớn, trên lầu cao có cả sân thượng. Trên đường đến thăm bà, tất cả những người trong phái đoàn ai cũng hân hoan nhưng lo ngại, không biết bà sẽ như thế nào. Ðến khi gặp mặt, mọi người đều vui mừng, thán phục thấy bà tuy tuổi đã cao, nhưng vẫn khỏe mạnh, minh mẫn ở tuổi 105.

Bà vui mừng nắm tay từng người, hỏi han từ đâu đến và hành nghề gì. Bà vui mừng khi biết các bác sĩ từ Hoa Kỳ đến thăm. Bà rất thoải mái trong bầu không khí trẻ trung không gò bó, ai cũng gọi “bà Henriette,” thay vì gọi “bà cụ” hay “bác sĩ.” Khi bác sĩ Hoàng Lan xin chữ ký, bà để chức vụ “M.D. Henriette Bùi Quang Chiêu” chứ không dùng chữ Docteur vì biết Bác Sĩ Hoàng Lan đến từ Hoa Kỳ. Kể ra những chi tiết để thấy bà vẫn còn minh mẫn, và vẫn còn tính... nghịch ngợm, khôi hài.

Trong lúc trò chuyện, bà hay hỏi lại tên người này người kia vì bà hay quên những gì trong hiện tại, trái lại những gì trong quá thì bà nhớ rất rõ. Bà đọc lại bài vè thật dài, học được khi còn bé, cho mọi người hiện diện cùng nghe. Rồi bà quay qua hỏi người mà bà từng đỡ cho ông được sinh ra 75 năm trước: “Ông là ai?” Người này trả lời: “Dạ thưa, con là Nguyễn Duy Tân.” Bà thản nhiên phát ra một câu không chờ đợi: “A! ông ắt phải là một ông lớn.” Mọi người hiện diện trong phòng cười rộ lên. Bà tỏ ra phấn chấn, vì biết câu nói đùa của mình được mọi người tán thưởng.


Ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Nguyễn Thị Hoàng Lan trao “plaque” kỷ niệm chuyến viếng thăm bà Bác Sĩ Henriette Bùi Quang Chiêu ngày 6 tháng 3, 2011. (Hình: Tác giả cung cấp)

Ðộng tác của bà cụ 105 tuổi nay đã chậm, nhưng tư duy vẫn rất nhạy bén. Nói về quá khứ, bà nhớ từng chi tiết một, và khi hỏi bà có hận thù cộng sản đã giết cha và anh của bà không? Bà trả lời: “Không oán hận, vì đó là lịch sử.” Bà nói, mọi chuyện hãy “để cho lịch sử phán xét.”

Trên hai tiếng đồng hồ rộn tiếng cười, đột nhiên bầu không khí trở nên nghiêm trang khi ông bà Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Hoàng Lan trao tặng bà tấm phù điêu thủy tinh, vinh danh bà và cũng để đánh dấu ngày 3 tháng 6, 2011, ngày kỷ niệm phái đoàn của Hội Nghiên Cứu Y Khoa Việt-Mỹ đến thăm viếng. Cảm động, bà ôm lấy tặng vật vào lòng, một hình ảnh xúc động, dễ thương!

Trời đã trưa, phái đoàn ngỏ ý mời bà dùng buổi cơm trưa ngoài phố, bà đồng ý ngay. Có người đỡ bà đứng dậy, rồi bà tự động cầm lấy cán xe (walker), thong dong đi một mình đến gọi thang máy để xuống lầu. Nhà hàng ăn ngoài phố không xa nơi bà cu trú. Khi đẩy xe bà đến, tất cả nhân viên của nhà hàng niềm nở đón tiếp như thượng khách; bà là khách thường xuyên ở đây!

Sau gần năm tiếng đồng hồ được trò chuyện, sinh hoạt cùng bà, mọi người đưa bà trở lại nơi cư ngụ. Bịn rịn, cảm động, bà bắt tay từng người, bảo: “Phải trở lại thăm bà nữa nhé.” Khi chúng tôi chúc bà sức khỏe và trường thọ, bà phán: “Bà sẽ sống đến 121 tuổi để lấy giải sống lâu hơn một bà người Pháp sống đến 120 tuổi.”

Bác Sĩ Henriette Bùi, biểu tượng của cộng đồng người Việt hải ngoại cũng như tại Paris nói riêng, một nhân vật đặc biệt, chứng nhân của cả một thế kỷ Việt Nam đầy biến động.
Hai Khoa Học Gia Trịnh Hữu Phước và Võ Thị Diệp.http://www.viendongdaily.com/images/galary/VietNamHaiNgoai/@2011/@March11/hai-khoa-hoc-gia-Nasa-001.jpgHọ là hai nhà khoa học tại cơ quan không gian Hoa Kỳ NASA -- Võ Thị Diệp và Trịnh Hữu Phước -- và cũng là một cặp vợ chồng có duyên tiền định: họ là bạn học từ thời thơ ấu. Câu chuyện được nhà báo Trọng Minh kể lại trong Tài liệu VẺ VANG DÂN VIỆT như sau.
Họ là ai? Là hai người sanh ra ở hai thôn khác nhau tại một tỉnh lẻ thuộc cuối vùng trời đất nước Việt Nam. Biết nhau dưới một mái trường trung học của thị xã, nàng được bầu làm trưởng, còn chàng làm phó lớp. Xa nhau vì hoàn cảnh đất nước, mỗi người mỗi phương tưởng như không bao giờ còn có dịp gặp lại. Tái ngộ trong một trại tỵ nạn ở Nam Dương, trong lúc nàng đang ngồi bán những gói muối mang theo trên đường vượt biển và chàng đi làm thủ tục giấy tơ ngang qua. Dìu nhau đến vùng đất hứa. Đạt thành giấc mộng Mỹ quốc, trở thành hai tiến sĩ, khoa học gia không gian Hoa Kỳ (NASA). Sống hạnh phúc bên nhau với 3 người con gái đang tuổi trưởng thành. Điểm đặc biệt cần nói thêm ở đây là cả 3 cô con gái đều sanh ra ở Hoa Kỳ, nhưng nói và viết thông thạo tiếng Việt, và rất nặng tình yêu quê hương, truyền thống dân tộc, mỗi lần có dịp về quê thăm họ hàng nội, ngoại, sống hòa mình với mọi người, không ngủ phòng lạnh, tắm bồn mà ngủ ngoài bờ tre, tắm ao ...
Quý bạn đọc muốn biết về hai nhân vật "huyền thoại" này, xin mời theo dõi phần tiểu sử đầy đủ của họ dưới đây:
VÕ THỊ DIỆP
Họ và tên: Võ Thị Diệp.
Ngày và nơi sanh: 14 tháng 12 năm 1962 tại làng Giòng Me, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu, Việt Nam.
Học lực: Tiến Sĩ Hoá Học.
Nghiên Cứu Vật Liệu Mới Để Dùng Trong Chương Trình Thám Hiểm Không Gian: Mặt Trăng, Hoả Tinh Và Những Hành Tinh Khác
Trong cuộc đời của mỗi con người chúng ta, có những sự thành công bởi những điều kiện thuận lợi từ trong hoàn cảnh gia đình cho đến ngoài xã hội. Nhưng cũng có những sự thành công được nung đúc bởi sự đấu tranh không ngừng nghỉ của một ý chí cầu tiến vượt qua tất cả những khó khăn và trở ngaị từ trong hoàn cảnh gia đình cũng như ngoài xã hội. Sự thành công vượt bực đó, có được từ lòng mơ ước mãnh liệt và tha thiết được ấp ủ trong hoàn cảnh khó khăn của cuộc sống và lòng ao ước, mong cầu có một nền tảng văn hoá, kiến thức và học vị. Những thứ đó rất là xa vời, viển vông và ngoài tầm tay với cho những nhà nông chân lấm tay bùn. Những danh từ học vị như: Cử Nhân, Cao Học, Tiến Sĩ... thật cao xa, thật khó hiểu cho những người nông dân chất phát chỉ biết có mảnh ruộng mênh mông, đàn trâu ngậm cỏ, đàn cá trong ao. Tuy nhiên, những danh từ cao xa nhưng đầy hấp dẫn đó đã làm say mê một cô bé nhà nông chất phát chưa bao giờ được sống trong nền văn minh của đô thị. Và từ những đam mê đó đã khiến cô từ một cô bé nông thôn của một làng quê hẻo lánh trở thành một khoa học gia về ngành không gian của trung tâm nghiên cứu không gian Hoa Kỳ.
Cô bé nông thôn ham học đó chính là Tiến sĩ Hóa học Võ thị Diệp đang làm cho một trong những trung tâm nghiên cứu không gian của Hoa Kỳ tại thành phố Huntsville, thuộc tiểu bang Alabama. Cuộc đời thành đạt của nữ khoa học gia này không bình thường và đơn giản, mà nó phải trải qua nhiều giai đoạn đấu tranh không ngừng nghỉ để vượt qua mọi chướng ngại và khó khăn từ hoàn cảnh gia đình, xã hội cho đến ngôn ngữ.
Võ thị Diệp sanh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân tại làng Giòng Me, xã Vĩnh Lợi, huyện Vĩnh Lợi, tỉnh Bạc Liêu. Là đứa con thứ bảy trong gia đình có tất cả là chín người con. Gia đình cô thuộc vào hàng trung nông trước biến cố năm 1975. Ba của cô không có cơ hội đến trường. Ông tự học để biết đọc biết viết. Còn mẹ của cô được ông ngoại tuy là một tá điền thời bấy giờ (lúc đó còn vào thời Pháp thuộc) mời thầy đến nhà để dạy cho biết đọc và biết viết. Bước đầu xây dựng gia đình với nhau, hai ông bà rất nghèo nên người chị cả và người anh thứ hai của cô không có dịp may để cắp sách đến trường. Sau này người anh thứ ba học hết trung học và trở thành một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng Hoà. Phần tất cả anh chị em còn laị đều được đi học. Sau biến cố năm 1975, dầu hoàn cảnh xã hội thật khó khăn, nhưng cô vẫn tiếp tục học và phụ giúp gia đình trong công việc đồng áng. Cánh đồng nước mênh mông, cò bay thẳng cánh là nơi đã ấp ủ bao mơ ước xa vời của cô. Trên cánh đồng nước bao la, cô cứ tưởng tượng đây là trường đaị học. Tay ôm những cây mạ non để cấy mà cô mơ tưởng đến giảng đường đại học. Nghe tiếng chim hót, trâu góng, tiếng người trò chuyện gọi nhau trên cánh đồng, cô tưởng tượng lời giảng của những giáo sư đang giảng bài. Cho đến năm 1977, kinh tế càng khó khăn, cuộc sống càng khổ sở, gia đình bắt buộc cô phải nghỉ học vì học thời đó không có tương lai hoặc không có một chút hứa hẹn nào cả. Mặc dầu biết thế, cô vẫn đấu tranh với gia đình để tiếp tục được học. Mỗi buổi sáng, cô phải thức dậy thật sớm làm công việc nhà như hốt dọn chuồng heo …rồi mới được đi học. Sau khi đi học về, phải gánh nước, giặt đồ, làm tất cả những việc nhà rồi mới được học bài. Cô phải trốn mẹ trong xó vắng để được đọc những tài liệu, sách vở mà cô ưa thích. Có ai đó đọc đến đây tự hỏi tại sao có những trường hợp lạ lùng vậy? Thật là đơn giản đối với những bà mẹ quê mùa chất phát, vào thời của cô chỉ biết nghĩ rằng: "Con gái cho học nhiều biết chữ chỉ để viết thư cho bạn trai, còn đọc sách là đọc tiểu thuyết nhảm nhí, hư thân." Dưới mắt của những người lớn trong làng của cô lúc bấy giờ, cô là cô gái quá tân tiến. Taị vì trong cả làng chỉ có cô là cô gái duy nhất vẫn còn ôm sách đến trường ở tuổi mười bốn, mười lăm, thiếu ăn, thiếu mặc, cô vẫn không nản lòng ham học, ham hiểu biết. Không dám xin tiền mua sách để học, cô phải mượn tiền của bạn để mua sách, sau đó cô phải đi hái rau đắng hoặc bắt ốc ở ngoài ruộng đi bán kiếm tiền trả laị cho bạn. Có những lúc sợ mẹ không cho đi học, cô không dám xin tiền ăn quà, phải nhịn đói suốt cả ngày. Có những lúc cô phải mặc quần đen ướt đi học, cô đi bộ một tiếng đồng hồ đến trường dưới ánh nắng gay gắt của vùng nhiệt đới làm cho chiếc quần khô trước khi bước vào lớp học. Sau bao lần bắt buộc cô nghỉ học không hiệu quả, ba cô đành đem sách học của cô đốt đi. Sau khi đốt sách của cô xong, ba cô không quyết liệt bắt cô nghỉ học nữa. Sau này ba cô cho cô biết, khi đem sách cô đi đốt, ba cô tình cờ thấy được những tờ giấy khen thưởng của nhà trường về sự học tập của cô, do đó ba cô không đành lòng cho cô nghỉ học. "Vấn đề này cô không muốn thố lộ ra vì ngaị rằng nếu người đọc không hiểu rõ hoàn cảnh xã hội thời bấy giờ, và sự chất phát, mộc mạc của người nông dân không trình độ kiến thức, sẽ nghĩ không tốt về ba mẹ của cô. Hoặc nghĩ rằng cô đi khai xấu về cha mẹ mình. Thật ra ba mẹ cô là một trong những ba mẹ tiêu biểu cho tầng lớp nông dân, tận tụy hy sinh một đời cho đàn con thơ daị, tầm nhìn không xa hơn mảnh ruộng, bờ ao. Cô luôn luôn kính yêu và thông cảm cho hoàn cảnh của cha mẹ cô. Nhưng đối với cô, lúc nào cô cũng muốn vượt qua những giới hạn đó, và mong rằng thế hệ sau nay không phải đi qua những gì mà cô đã phải trải qua."
Nhưng đến năm 1979 là năm quyết liệt nhất, vào năm đó cô đang học lớp 11 và cũng là năm mà gia đình nhất quyết bắt cô phải nghỉ học khi học hết lớp 11. Đứng trước hoàn cảnh đó, có đôi lúc cô muốn bỏ nhà trốn đi. Nhưng đi đâu? Làm gì? Ngay cô cũng không biết nữa, cô chỉ biết muốn đi, muốn tiếp tục được học mà thôi. Cuộc đời thật kỳ lạ, nhiều khi Trời chỉ thử lòng người chịu đựng được bao nhiêu. Một ngày nọ, cô đi ngang qua một nhà hàng xóm, chợt nghe một người nói: "Nếu cô đi vượt biên qua Mỹ thì cô sẽ có cơ hội để được đi học." Câu nói đó như là lời Thánh, như là chiếc phao cứu giúp cô trong cơn thất vọng, lo rầu. Từ đó cô nuôi ý chí tìm đường vượt biên. Cơ may lại đến, không bao lâu sau đó, gia đình chị Hai có tàu đánh cá và đang tổ chức cuộc vượt biên. Cô có xin ba mẹ cho đi, nhưng ba mẹ cô không đồng ý vì lý do cô còn nhỏ, không người dạy dỗ sẽ dễ bị hư. Ba mẹ cô chỉ đồng ý cho người chị thứ năm và người anh thứ saú (người này không chịu đi, nhưng cả nhà laị năn nỉ anh đi) đi thôi. Nhưng cuối cùng người chị thứ năm quyết định ở laị chuyến đó. Thế là một lần nữa cô phải quyết định bỏ trốn gia đình để thực hiện mơ ước của mình. Sau bao lần trốn tránh, sau bao lần thất bại, nhưng cuối cùng con thuyền nhỏ cũng đã đưa được đoàn người rời khỏi nơi chôn nhau cắt rốn vào tháng tư năm 1979, lúc đó cô đang học nửa chừng năm lớp 11 và được 17 tuổi.
Sau hơn tám tháng tạm trú ở trại tỵ nạn thuộc đảo Indonesia, cô cùng người anh thứ sáu và đứa cháu trai lớn của người anh thứ ba được định cư tại thành phố nhỏ Alton, Illinois ngày 15 tháng 12 năm 1979. Cuộc sống mới, xã hội mới, ngôn ngữ mới, tất cả đều phải bắt đầu từ con số không. Không nhà cửa, không biết đọc, không biết viết, không biết nói, không cha mẹ, không tiền bạc, không hiểu luật lệ…. Cuộc đấu tranh mới lại bắt đầu với cô, một người sống tha hương với nỗi cô đơn, nhớ quê hương làng xóm, nhớ gia đình. Không danh từ và bút mực nào có thể diễn tả cho hết cả tâm trạng nhớ nhung, nỗi vất vả cho bước đầu của cuộc sống mới của cô. Để vượt qua hàng rào khó khăn về ngôn ngữ, cô phải ngày đêm miệt mài tự học tiếng Anh. Để chiến thắng với sự khó khăn trong đời sống kinh tế, đôi lúc cô phải đi bộ mười mấy cây số để đi làm, chắt chiu dành dụm từng đồng bạc để gởi về phụ giúp gia đình nơi quê nhà. Sau mười tháng chuyên cần tự học thêm Anh ngữ, cô thi đậu bằng bổ túc văn hoá trung học. Cô nhờ một chuyên viên lo về vấn đề người tỵ nạn ghi danh cho cô đi học đại học cộng đồng (Community College) hầu tìm một nghề để nuôi sống bản thân. Nhưng vị chuyên viên này đã từ chối với lý do là Anh ngữ của cô còn quá kém. Một lần nưã cô laị phaỉ tìm đủ moị cách tự mình tìm phương tiện ghi danh để được vào học đại học cộng đồng (college). Sau hai khoá học, cô cảm thấy rằng mình có khả năng học cao hơn, không cần phải học nghề. Cô quyết định chuyển lên đại học (university) và có ý theo học ngành y khoa. Một lần nữa, vị cố vấn đó đã ngăn cản cô chuyển lên đại học cũng vẫn là lý do Anh ngữ cô còn quá yếu. Lịch sử lại tái diễn, cô vẫn quyết tâm chuyển lên đại học. Cản cô không được, ông đành nhờ đến vị cố vấn ở trường đại học khuyên cô đừng ghi danh vào đại học. Cô vẫn kiên tâm không thối bước, vẫn ghi danh học đại học và cuối cùng cô đã được ghi vào danh sách những học sinh ưu tú của trường ngay năm đầu cô học đại học (Dean List. Cuối cùng, gia đình nhỏ gồm có ba người cách nhau khoảng ba tuổi đều học xong bậc đại học. Người anh thứ sáu hiện là kỹ sư điện tử đang làm việc và sinh sống ở FreeMont, California. Người cháu hiện nay cũng là kỹ sư điện tử và đang làm việc sinh sống tại thành phố Chicago, Illinois.
Cô đã kết hôn với người bạn học cùng chung một lớp từ lớp 8 đến lớp 11 lúc còn ở Việt Nam, đó là Tiến sĩ Kỹ sư Cơ khí Trịnh Hữu Phước hiện cũng làm tại cơ quan NASA cùng cô. Cuộc hôn nhân này cũng là một sự tình cờ thú vị. Cô gặp lại người bạn học này tại trại tỵ nạn ở Indonesia. Trước khi đi định cư, cô có hứa là sẽ giúp đỡ tìm bảo trơ cho anh. Sau khi định cư, ngoài việc giữ đúng lời hứa tìm bảo trợ, cô còn gởi tiền giúp cho anh Trịnh Hữu Phước trong hoàn cảnh khó khăn ở traị tỵ nạn. Sau khi anh Phước định cư tại Hoa Kỳ, cả hai sống cùng một thành phố Alton. Cùng chung hoàn cảnh khổ nghèo, cùng hướng về tương lai và cùng sự tương đồng trong quá khứ, cuối cùng hai người kết hôn năm 1986 và bây giờ đã có ba con gái. Cô gái lớn, tên Trịnh Tố Duyên, năm nay 19 tuổi, đang đeo đuổi ngành luật tại Đại học Alabama. Cô gái thứ hai, Trịnh Tố Như, năm nay 16 tuổi, đang học trung học và có mong ước theo ngành y khoa. Cô gái út, Trịnh Tố Phi, năm nay 10 tuổi, đang cố gắng miệt mài và chuyên tâm tập luyện với mong ước một ngày không xa sẽ đoạt huy chương vàng của thế vận hội về ngành thể thao trượt nước đá (ice skating).
Học trình:
Năm 1980, sau bao ngày miệt mài tự học (cô từ chối không chịu vào trường trung học vì sợ không đi làm được, để kiếm tiền giúp gia đình còn ở Việt Nam) cô thi đậu bằng GED (bằng bổ túc văn hoá trung học).
1985, tốt nghiệp bằng Cử nhân Hoá học hạng Danh Dự tại Southern Illinois University at Edwardville.
1987, tốt nghiệp Cao học Hoá học tại University of Missouri-Rolla.
Trong thời gian làm việc cho cơ quan NASA tại Huntsville, Alabama, cô tiếp tục đi học, năm năm sau, 1997, cô tốt nghiệp bằng Tiến sĩ Hoá học tại University of Missouri-Rolla.
Hoạt động:
Năm 1987 sau khi được thâu nhận vào cơ quan NASA Marshall Space Flight Center tại Huntsville, Alabama, cô đã được giao trách nhiệm về phần thử nghiệm, kiểm chứng và khám phá những khuyết điểm của những vật liệu dùng trong chiếc phi thuyền con thoi và hai hỏa tiễn dùng nhiên liệu đặc để đưa phi thuyền con thoi vào trong quỹ đạo. Ngoài ra, cô còn làm cho nhiều chương trình nghiên cứu không gian khác, như chương trình kết hợp chất đạm trên không gian không chịu ảnh hưởng sức hút của trái đất, chương trình AXAF-I, SXI.
Những năm sau đó cô đã giữ vai trò quan trọng trong vấn đề nghiên cứu và chọn lọc những loại nước sơn dùng cho trạm không gian (Internation Space Station Freedom). Cô cũng là trưởng toán trong vấn đề nghiên cưú về bề mặt của kim loại nhôm để chế ra viễn vọng kính bằng phương pháp mạ kền. Viễn vọng kính này dùng để khám phá những tinh tú trong vũ trụ trong chương trình Thế Hệ Mới Của Viễn Vọng Kính (The Next Generation Space Telecope). Sau chương trình này, cô cùng một số khoa học gia khác nghiên cứu về vấn đề làm sao con người có thể sống trong vũ trụ và không gian mà không bị ảnh hưởng bởi tia cực tím và những tia phóng xạ (Human Exploration and Development of Space).
Hiện nay cô là trưởng nhóm trong vấn đề nghiên cứu vật liệu nhẹ và bền để thay thế cho phần kim loại dùng trong các động cơ máy móc để có thể giảm bớt đi rất nhiều trọng lượng trong chương trình trở lại Mặt Trăng, đi lên Hỏa Tinh và nhiều hành tinh khác trong không gian. Thêm vào đó, cô là khoa học trưởng trong phần dùng vật liệu cách ly nhiệt cho phần hỏa tiễn của phi thuyền con thoi và Hỏa Tiễn ARES-I sẽ thay thế cho phi thuyền con thoi vào khoảng năm 1012.
Khen thưởng:
Bằng khen thưởng kèm theo tiền thưởng của khoa học và kỹ thuật về phần nghiên cứu tìm ra chất liệu mới chống tia cực tím dùng trong nước sơn hoặc lớp phủ bên ngoài của những con tàu vũ trụ. Cùng với bằng thưởng trên, cô còn có nhiều bằng khen cùng nhóm (group Achievement Award) trong những chương trình như: Hỏa tiễn dùng nhiên liệu đặc (Solid Rocket Booster program), Tổng hợp chất đạm trên không gian (Protein Crystal Growth Furance)….. Cô không thích nói nhiều về sự thành công của cô trên mảnh đất đầy cơ hội này. Sự thành công của cô trên đất Hoa Kỳ có thể quá vĩ đại so với hoàn cảnh và những gì mà cô đã trải qua. Nhưng thật ra sự thành công này quá nhỏ nhoi so với bao nhiêu sự thành công của đồng bào ta đã đạt được trong cuộc sống tha hương ở Hoa Kỳ nói riêng và toàn thế giới nói chung. Cô chỉ thích chia xẻ những khó khăn mà cô đã vượt qua để những ai có lòng cầu tiến, lòng mơ ước đừng bao giờ nản lòng khi gặp khó khăn, trắc trở. Để chúng ta thấy rằng không phải chỉ có "Con vua mới làm vua được, còn con sãi ở chùa chỉ quét lá đa". Khi mình đã thành công, đã vượt qua cuộc đời khổ nhọc rồi thì xin đừng quên những người cùng trong hoàn cảnh của mình ngày xưa. Hãy giúp đỡ họ, hãy cho họ một ánh sáng, một hy vọng và một cơ hội tiến thân cũng như mình đã có.
 
Trịnh Hữu ChâuTrịnh Hữu Châu (tên tiếng Anh: Eugene Trinh; sinh năm 1950) là nhà vật lý thiên văn. Là người tham gia vào chuyến bay STS-50 của NASA, ông trở thành người Mỹ gốc Việt đầu tiên bay vào vũ trụ vào ngày 25 tháng 6 năm 1992. Ông ở ngoài vũ trụ 13 ngày 19 giờ 30 phút.
Eugene Trinh sinh ngày 14 tháng 9 năm 1950 tại Sài Gòn và lớn lên ở Paris, Pháp từ năm 2 tuổi. Ông là con trai út trong gia đình kỹ sư Trịnh Ngọc Sang. Từ năm 1968, ông sang định cư tại Mỹ.
Ông tốt nghiệp Đại học Columbia năm 1972, rồi sau đó nhận học bổng và hoàn thành luận án thạc sĩ vật lýtriết học trong hai năm 1974 và 1975. Hai năm sau (1977), ông tiếp tục nhận bằng tiến sĩ vật lý ứng dụng ở Đại học Yale.
Năm 1979, ông được nhận vào làm việc tại NASA tại phòng thí nghiệm về sức đẩy phản lực. Hiện tại, ông đang làm giám đốc bộ phận khoa học tự nhiên tại trụ sở của NASA ở thủ đô Washington, D.C.Tập tin:Sts-50-crew.jpgCùng với phi hành đoàn tàu Columbia STS-50, ông đã tiến hành các thí nghiệm về động lực học chất lỏng, kỹ thuật điều khiển chất lỏng trong điều kiện không bình chứa ở trên quỹ đạo trong thời gian gần 14 ngày (từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7 năm 1992). Trong một buổi thuyết trình, khi được hỏi là ông đã nhìn thấy gì khi ở trên quỹ đạo. Trịnh Hữu Châu đã trả lời rằng: "Đó là Việt Nam! Tôi đã nhìn thấy quê hương tôi. Nó mới hiền hòa làm sao!"

No comments:

Post a Comment