Wednesday, October 12, 2011

Bài viết hay(187)

http://wiki-images.enotes.com/thumb/5/53/Pho-Beef-Noodles-2008.jpg/180px-Pho-Beef-Noodles-2008.jpg Phở Thiên Biên Ký Sự
Tái chín nạm giò vè, tiêu ớt rau thơm giá sống/

Sách gầu gân mỡ sụn, tương chanh nước béo hành trần.

Bác giáo lõ mắt dòm tôi với bát tái chín nạm giò vè mà tôi sắp sửa tỉ tê trên giấy trắng mực đen, bác ra ý muốn hỏi han câu mào đầu phở bò của miền Nam trên đây là của ai. Dạ, cũng xin thưa với bác rằng câu đối ấy là của Thầy Khóa Tư Trần Lam Giang, cũng là một hương sư Hán văn cùng thời với bác. Chuyện là hồi nhỏ thủ vai trà đồng, thầy khóa hóng chuyện các cụ. Nghe được thân phụ là quan đốc học tỉnh Hải Dương cám cảnh tuổi già hiu hắt lúc này của bác và tôi bây giờ nó hình thù cổ quái như thế này: “Trên thì móm mém nhai không vỡ – Dưới lại chun choăn nhét chẳng vào”.


Răng lợi bây giờ của bác và tôi cái mất cái còn, ăn quán ngủ đình đã quen thói, chỉ có bát phở không người lái, dăm sợi bánh chun choăn là xong tuốt. Nói không ngoa chứ tôi có thể khua môi múa mép với bác rằng: tôi là người tập tễnh sơi phở từ cái thuở còn mặc quần thủng đít, lại được ăn phở Hói, phố Bà Triệu. Nói cho ngay từ tấm bé, theo chân bố tôi cưỡi ngựa xem hoa đấy thôi, chứ tôi biết quái gì với nước béo hành trần. Chỉ biết rằng nghe qua bố tôi kể lại, khách vãng lai có…lai vãng đến tiệm ông đừng hòng hỏi đến chanh và tương đỏ, để rồi khách Hà Nội nghìn năm văn vật biết tiệm ông từ cái giai thọai đầy biền ngẫu ấy.

Bác gãi gãi vầng trán nhẵn bóng thầm hỏi…”ông Hói là ai?” Tôi cũng đành vay mượn môt mảng văn chương chữ nghĩa của cụ Nguyễn Tuân trong tùy bút “Phở” rằng: tên hàng phở cũng có nề nếp của nó là tên người bán phở. Trông mặt đặt tên với phở Gù, phở Lắp, phở Sứt hay địa linh nhân kiệt của ông hàng phở là phở Nam, phở Hà, phở Cầu. Tất cả bằng vào một chữ…nhất tự thiên kim. Chứ những cái tên hàng phở với Đào nương hay Thùy dương, bác chớ có dại mà lần vào, chắc như cua gạch là chỉ thấy mấy cọng hành trôi lềnh bềnh như….thuyền ra cửa biển ấy thôi.

Ấy vậy mà bát phở nhiều bánh ít thịt hao tốn chữ nghĩa của thiên hạ không phải là ít. Thảng nhắc đến hai chữ đào nương tôi lại muốn tung tẩy về thập niên 40 với truyện tiểu thuyết “Anh hàng phở lấy vợ cô đầu”. Trong truyện, cô ả đào về già than thân trách phận rằng: “Đời hồi này như một bát phở bánh chương lềnh bềnh, mỡ nguội đóng váng…”. Vay mượn cái tình của anh hàng phở, lại nữa, bác và tôi đang vật vã với cái tuổi lá vàng, nào có khác gì với nàng kỹ nữ về già. Chưa hết, trôi sông lạc chợ lại nhớ cây đa bến cũ, xin mạo muội thưa với bác rằng món ăn đương đại này, chẳng chóng thì chầy cũng nguội ngắt, chương phình theo đàn con cháu ở bên này. Vì vậy tôi rị mọ với bát phở, vẽ rết thêm chân cũng có cớ sự cả, thưa bác giáo.

***

Muốn có đầu có đũa về phở phải quang gánh trở về với những nhà văn tiền chiến một thời…toả khói trong văn chương cùng cái thú ăn phở. Các cụ đã dùng hết chữ như Thạch Lam với: “Chả có gì ngon hơn bát phở”. Nguyễn Tuân sành phở cùng nỗi nhớ của kẻ xa thổ ngơi, bản quán: “Trong cái nhớ nhà có cả một sự nhớ ăn phở”. Nhà văn Vũ Bẵng ví phở bò như: “Một chàng trai mà hào khí bốc lên vùn vụt” còn phở gà như: “Một nàng con gái thanh tân”. Qua Vũ Bằng phở có tình tự trai gái, chuyện rằng: sau xa Hà Nội vài năm, thèm phở, bèn ghé tiệm phở quen mà hai vợ chồng bạn làm chủ, thấy vợ bạn đeo khăn tang, hỏi ra mới biết bạn mình đã ra người thiên cổ. Trong lúc chờ đợi …lửa tắt nồi khô nước, lại quán vắng chiều hôm. Vì là chỗ thân quen, sẵn có máu lãng đãng trong người cùng gái đọan tang, gà mái ghẹ nên tác giả 40 năm nói láo đã…thở khẽ ra một câu đối rất tình và cũng rất…phở :

Nạc mà chi, mỡ mà chi

Sao cứ ỡm ờ không tái giá

Câu đối này lưu lạc vào trong Nam được biến thái giữa một bà hàng phở cũng là góa phụ và một ông khách đang ở cái tuổi muối tiêu mà muối nhiều hơn tiêu như sau:

Nạc mỡ nữa làm gì, em nghĩ “chín” rồi,

đừng nói với em câu “tái giá”


Muối tiêu không đáng ngại, anh còn “gân” chán,

thử nếm cùng anh miếng “gầu” dai *

Chuyện hàng quán đầy rẫy với cô hàng nước, cô hàng cà phê. Thì riêng phở chẳng kém, thừa mứa với những…gái góa đầy mùi phở, thế nên mới rách chuyện như ở trên. Chuyện thêm nữa là trong cái ngõ ngách của chữ nghĩa, về gốc gác của phở, cụ Tản Đà trong bài “Đánh bạc” viết vào khỏang 1915-1917 có đọan: “Trời chưa sáng, đêm còn dài, thời đồng tiền trong tay, nhiều cũng chưa hẳn có, hết cũng chưa chắc không. Tất cả lúc đứng dậy ra về, còn gì mới là được. Có nhẽ đánh bạc không mong được, mà chỉ thức ăn nhục pho”.


Cụ Nguyễn Tuân trong tùy bút Phở cũng bàn góp chữ nghĩa thánh hiền cho phải đạo nho gia: “Người ta bảo chữ phở xuất xứ từ chữ “ngưu nhục phấn” và ta đã Việt Nam hóa chữ “phấn” thành chữ “phở”. Chữ phở nguyên là một danh từ, còn chuyển thành hình dung từ qua cái mũ “phớt” của Tây mà ra…cái mũ phở của Ta. Mà cái mũ dạ ấy đã méo mó mất cả băng, rách cả bo, đặt lên đầu ai không chỉnh, hình như đặt lên đầu bác phở xe có một ý nghĩa biểu tượng là người nấu phở ngon, nếu không ngon cũng phải là ăn được…Chữ nghĩa của Ta hay thật ”.

Cùng 1000 năm đô hộ giặc Tầu, 100 năm đô hộ giặc Tây với tinh thần hướng ngọai thâm căn cố đế thì qua Tây, đụng bát không bằng chém thớt, có một số nguời chém to kho mặn cho rằng vì nồi “súp” của người Pháp nấu trên lửa nên được gọi là “pot au feu” qua món Bouillabaisse ở hải cảng Marsheille. Họ trộn những đồ ăn còn lại như cá, tôm, sò, hến thành một món súp nổi tiếng của miền nam nước Pháp sau này. Các bồi bếp người Việt cho Tây cũng theo cách thức “tả pí lù” ấy, thấy nước súp còn dư thừa, họ mang về chế biến đãi người thân, bằng cách thái thịt bò và bánh cuốn mỏng cho vào, để hợp với khẩu vị người Việt, họ thêm ngũ vị hương là đại hồi, tiểu hồi, nhục quế, xuyên tiêu với hành ta, gừng cho át mùi bơ béo ngậy. Theo thời gian, món súp này…bắt lửa cái tên từ “feu” ra…“phở”. Chuyện cứ như…thật ấy, thưa bác giáo.


Bác ngáo ệch dòm tôi…Dào, như trên đã thưa gửi nào tôi có hơn gì bác. Vì rằng chỉ thấy cái chuyện treo đầu dê bán thịt chó trên chẳng có…”cơ sở văn hóa” gì sất cả.

Thêm một truyền thuyết khác cùng người Tầu cho rằng món ăn này từ phương Bắc mà có, đơn thuần bằng vào ba chữ “ngưu nhục phấn” và phải đợi thêm người Nguyễn Dư, cũng qua điển tích với tranh dân gian. Ông cư ngụ tại Pháp, nghe nhiều người nói và đựợc biết bộ tranh Oger. Tình cờ ông xem được bộ tranh ấy cùng những sinh họat dân gian như buôn thúng bán mẹt thời đó. Nhất là hàng quà gánh “Ngưu nhục phấn” nên ông thích quá đến nổi da gà và phóng bút viết bài về phở. Mà quả tình có….nổi da gà thật, như ông đã đào sâu chôn chặt như ở dưới đây:

Theo tôi, tranh thứ nhất vẽ thùng nước dùng có tên là hàng nhục phấn. Tóm lại, tên ngưu nhục phấn đã có từ đầu thế kỷ 20. Kể từ năm 1943, trong văn học cũng như trong dân chúng, tên phở được tất cả mọi người dùng.


Khách đứng xếp hàng tại Quán phở Gia Truyền đường Bát Đàn – Hà Nội

Tấm tranh thứ nhì vẽ một hàng quà. Những ai đã từng sống ở Hà Nội trước 1954, chắc đều nhận ra dễ dàng đây là một hàng phở gánh. Tấm tranh vẽ một bên là thùng nước dùng lúc nào cũng sôi sùng sục, bên kia xếp những đồ cần thiết như con dao thái thịt to bản, lọ nước mắm hình dáng đặc biệt, cái xóc bánh phở bằng tre đan treo bên thành, cái liễn đựng hành, mùi. Tầng dưới là chỗ rửa bát, bên cạnh có cái giỏ đựng đũa. Con dao to bản và cái xóc bánh đủ cho chúng ta biết rằng đây là một gánh phở, có thể nói rõ hơn là phở chín. Sực tắc không dùng hai dụng cụ này. Sực tắc nhúng, trần những lọn mì bằng cái vỉ hình tròn, đan bằng giây thép. Còn hủ tiếu? Cho tới năm 1954, đường phố Hà Nội chưa biết hủ tiếu. Vả lại những xe hủ tiếu (xe đẩy chứ không phải gánh) của Sài Gòn cũng không thái thịt heo bằng con dao to bản của hàng phở chín.

Tấm tranh này xác nhận rằng vào những năm đầu thế kỷ 20, ở ngoài Bắc, đặc biệt là ở Hà Nội, phở gánh do người Tàu bán.

***

Thế nhưng từ gánh “ngưu nhục phấn” để một sớm hai sương hóa kiếp thành gánh phở cũng có tùy theo bá quan bá tính. Qua một đỏan văn của nhà báo Lê Thiệp, một “chuyên gia” về phở khi viết về phở, ông cho hay: ngưu tiếng Tầu vừa có nghĩa là bò, vừa có nghĩa là trâu nên không hiểu là…trâu hay…bò. Nhưng “có khả năng” ngưu nhục phấn là “canh thịt trâu” với bánh bột gạo ở Vân Nam. Ông luận thêm “Một đằng là bánh bột Vân Nam, một đằng là bột cán mỏng sắt thành sợi, khác nhau xa”. Đụng đến thịt bò, nhà báo chắc như bắp luộc: “Nói gì thì nói, Tầu xào nấu danh bất hư truyền với thập bát môn võ nghệ, món nào cũng “hẩu lớ”, ngay cả tả pí lù. Thế nhưng trừ món…thịt bò. Ăn cơm Tầu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật. Ở đâu có khói ở đó có một tiệm Tầu nhưng bói bẩy ngày không ra một món thịt bò nhai được trừ….bò xào. Nhà báo hỏi một đầu bếp người Việt gốc Hoa chuyện…khó nhai ấy. Ông hỏa đầu quân này ngẩn ra và gãi đầu rằng: “Bên Tầu không có…bò, chỉ có trâu và gọi trâu ta là “thủy ngưu”. Có thể từ khởi thủy, trâu là gia súc cho đồng áng, chỉ được hạ thịt khi quá già…”.

Bác là người ăn phở mẻ bát thiên hạ, bác nghĩ sao về chuyện một ông Tầu già bắt một mớ thịt trâu cũng già không kém, nghĩ…”hẩu xực”. Bèn quăng vào nồi, gánh qua ải Nam Quan cho người An Nam ta…thực bất tri kỳ vị. Ấy đấy, nào có dễ sơi như Tôn Ngộ Không, nhúm một nắm lông thổi phù ra…”phở” thì gần như chuyện…phong thần. Với món thịt trâu, người Việt ta chỉ độc có món luộc. Nước luộc trâu, vì chẳng phải là sáo vịt hay nước lèo heo, lại ngâm với bánh bột nổi lềnh bềnh, chưa ăn đã ứ lên đến tận cổ. Chém chết chẳng ai..”quởn” với chuyện ruồi bu chế biến thành phở này kia, thưa bác.

***

Cầm cái ống vố, bác bập bập dăm hơi, ra cái điều chuyện gì mà xơ như nhộng xác như vờ và chỉ có vậy thôi ư. Dạ, thưa không, ngoài câu đối phở đã góp phần đưa phở vào văn học nước nhà, “thơ phở” qua Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu:

Phở là đại bổ, tốt bằng mười thuốc Bắc

Quế, phụ, sâm…nhưng chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm dương, phế, thận, can, tì

Bổ cả ngũ tạng, tứ chi, bát mạch…

Với “văn phở” của Vũ Bằng: “Nước dùng nóng lắm đấy, nóng bỏng rẫy lên, nhưng ăn phở như thế mới ngon. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cay cái cay của gừng, cay cái cay của hạt tiêu, cay cái cay của ớt. Thỉnh thoảng lại thấy thơm nhè nhẹ cái thơm của hành hoa, thơm hăng hắc cái thơm của rau thơm, thơm dìu dịu cái thơm của thịt bò tươi và mềm, rồi thì hòa hợp tất cả những vị đó lại, nước dùng cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành êm dịu, ngọt một cách thành thực”.

Và Thạch Lam: “Nếu là gánh phở ngon thì nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu dòn chứ không dai, chanh, ớt với hành tây đủ cả. Chả còn gì ngon hơn bát phở như thế nữa”…

Đến Nguyễn Tuân: “Mùa nắng ăn một bát, ra mồ hôi, gặp cơn gió nhẹ chạy qua mặt lưng, thấy như giời quạt cho mình. Mùa đông lạnh, ăn bát phở nóng, đôi môi tái nhợt thắm tươi lại….“.

Thêm mắm thêm muối cùng bài viết nào đó dàn dựng qua hương hồn hai cụ Nguyễn Tuân và Vũ Bằng. Hai cụ …thần phở như hai bóng ma hiện về với một đọan văn qua một hàng phở xe bên hè phố :

“…Ông hàng phở Nam Định vốn dĩ mặt mũi tóat ra cái vẻ khinh đời khinh bạc, nhận ra người muôn năm cũ, tự tay mang ra bàn một đĩa ơt mỏng, chai tương ớt hồng tươi, vài miếng chanh cốm xanh non. Đáp lại cái nhìn mời hàng, ông Vũ gọi một bát tái gầu, ít bánh, nước trong và chẳng thể thiếu đĩa hành giấm. Còn ông Nguyễn, chẳng cần phải hỏi, bao giờ ông cũng nhất bái nhất bộ với phở chín. Trước mặt hai ông khách quen, như một nghệ nhân với nghệ thuật vị nhân sinh, ông thoăn thoắt lật đi lật lại miếng thịt chín trên cái thớt gỗ đã đóng mủn và nhanh tay thái. Đúng ra là ông nhấn chứ không cắt với chiếc dao phay to bản. Thỉnh thỏang ông nhúm một tí thịt tái, trải ra rồi dùng sống dao dấn nhẹ lên làm như miếng thịt sẽ mềm ra không bằng. Sau khi ông nhúng bánh phở vào cái thùng nước sôi nghi ngút khói, dùng cái vợt hứng ru rũ những sợi bánh phở cho ráo nước. Ông bốc thịt vào bát, thuận tay ông nhởn nhơ nhúm bó hành lá xanh ngắt, đọt trắng tươi treo lủng lẳng ở thanh song bắc ngang thành xe, bó hành hoa xén lóang một cái là được một vốc và trải dài trên bát phở. Xong hai bát phở như hoàn tất một tác phẩm nghệ thuật, ông lừng khừng quơ hai đôi đũa sô lệch mà đầu đũa đã thâm xì trong cái giỏ tre treo ở cái cột xe, trong ấy lỏng chỏng những cái thìa nhôm nhếch nhác, đã lên nước nhạt thếch như…một món đồ cổ.


Phở cho hai ông phải bầy ra bát chiết yêu, miệng trên loe rộng, nhưng phần dưới thắt lại nhỏ xíu, tặc một cái là xong, một lùa đến hai lùa là nhẵn thín. Bát phở bốc khói nghi ngút, hít, nhìn, ghi nhớ và ăn, ăn mà tưởng như chưa ăn, như ăn một giấc mơ hoa. Mà như hoa thật, ông Vũ tẩn mẩn ngắm bát phở ra dáng như ngắm một bức tranh thủy mạc đầy mầu sắc, bên trong vành sứ lấp ló một tí trắng nõn của bánh, xanh đậm của hành ta, trắng ngần của hành hoa, vào cọng rau mùi làng Láng vênh lên như những nét vẽ mầu đậm nét quệt hơi quá tay, điểm một tí đỏ của ớt xăt mỏng như những nét chấm phá . Ông nhẩn nha từng miếng thịt tái ngọt lịm, từng lát gầu mầu trắng đục, những vân vàng nhạt chạy vòng vèo trông đẹp ra phết. Mà gầu luộc đúng mức thì mỡ tiết ra gần hết, trong suốt dẻo quẹo, nhai một miếng như dính vào hết kẽ răng, cái ngầy ngậy giòn giòn của miếng gầu nhưng cái vị béo thơm còn nguyên của một con bò đang sung sức.

Ông Nguyễn khẽ cúi đầu xuống hít nhẹ, cái hơi khói lởn vởn nhẹ nhàng chui vào lục phủ ngũ tạng. Khó mà tả nổi cái hương thơm lạ lùng của phở, phảng phất như hoa chanh, hoa bưởi, không có gì nổi bật lên mà trộn lẫn hài hòa giữa rau mùi, gừng, hành. Như người điểm nhãn, ông mầy mò rắc chút muối tiêu, lấy cái thìa nhôm, từ từ trang trọng ông gạn chút nước dùng trong veo và nếm…Tiếp, ông dùng đũa lắc nhẹ những cọng bánh phở lơi ra với những thứ khác, bánh phở trong cái bát chiêt yêu bé con con ấy được thái bằng tay, dẻo mà không dai, thoang thỏang mùi thơm của hương gạo, làm bật lên cái thơm tho đậm đà quyến rũ của những lát thịt chín thái mỏng nhưng to bản, mầu nâu sẫm của lát thịt chín, khác với bát phở của ông Vũ, nổi bật lên trong bánh phở, cái nõn nà của củ hành trần, hành hoa, át hẳn những lát ớt đang dấu mặt ẩn nấp.

Ông lặng lẽ cúi đầu xuống bát phở, kính cẩn và trang nghiêm như người hành lễ, như một thiền sư đi tìm chân như trong đạo giáo vô thường của…đạo phở.

Chẳng thế mà khi ông Nguyễn và ông Vũ đang đắm chìm trong hương khói nhang đèn của bát phở, bỗng một người khách sớm khác xuất hiện. Thọat nhìn, có thể biết ngay là người ăn xin. Người này dừng lại bên hàng phở xe và giữ một khỏang cách không quá xa, nhưng cũng không quá gần để làm phiền lòng hai ông. Đang lúc cao hứng, ông Nguyễn vui vẻ gọi ông hàng phở: “Hỏi ông ta ăn gì, bác làm cho ông ta một bát”. Ông hàng phở chưa kịp mở miệng, người ăn xin đã chắp tay: “Dạ thưa cám ơn hai cụ. Thưa con đủ rồi ạ”. Nhòm bát phở, người ăn xin tiếp: “Đứng ngược gió mà ngửi thấy mùi phở, ấy là phở ngon đấy thưa hai cụ”. Vừa nghe giọng nói, ông Nguyễn giật mình súyt đánh rơi đôi đũa. Ông nhận ra giọng nói quen quen, như thể lão ăn mày năm xưa đến xin một bình trà. Ông Vũ thật thà hỏi: “Đã ăn lúc nào mà đủ, mà đứng ngược gió ngửi được mùi thơm thì ông quả là…”. Người ăn xin đáp: “Dạ thưa cụ nói hơi quá..” và tiếp: “Dạ thưa con nói khí không phải, xin hai cụ xá tội cho. Như xưa kia hai cụ là bậc thầy về phở, nhưng…”. Ông Nguyễn xong bữa, cầm đũa quẹt ngang miệng để chùi và gắt nho nhỏ: “Cái nhà anh này hay chửa, cứ nói đi, có chết thằng Tây đen nào đâu ”.


Người ăn xin chậm rãi: “Như con đã thưa với hai cụ vừa rồi, trên đời không ai hiểu phở bằng hai cụ. Nhưng hai cụ có ăn mới biết ngon dở. Còn con chỉ ngửi mùi cũng biết. Đó là cái mùi gây bò, cái mùi nồng nồng và gây gây một chút như điểm sương của sá sùng. Thưa hai cụ, phở mà không có sá sùng, không thảo quả thì có khác gì canh thịt trâu của ngưoi Tầu. Dạ, có phải thế không ạ. Có anh hàng phở dối khách dùng mực nướng thay cho sá sùng, chỉ lừa được kẻ thực bất tri kỳ vị. Lại có anh dùng su su để tăng thêm độ ngọt, thưa cũng chỉ qua mặt được người trần mắt thịt ăn cốt lấy no.

Hướng về cụ Nguyễn, người ăn xin chậm rãi: “Đến chuyện chữ phở, cụ cho biết có người nói chữ ấy từ ngưu nhục phấn mà ra. Hóa ra phở có nguồn gốc Tầu hay sao? Hòan tòan không phải thế, thưa cụ! Tỉ như cái củ gừng kia, con đọc thấy có can khương sinh khương, nhưng tuyêt nhiên chẳng tìm thấy gừng nướng. Thưa, cái củ gừng nướng, cái con sá sùng nó khẳng định là phở dứt khóat là của Ta đấy ạ”.

Người ăn xin ngập ngừng: “Ấy thưa hai cụ, nước dùng của hai cụ bữa nay, đã kém một tí sá sùng, lại thêm cái củ gừng nướng hơi bị non, thưa hai cụ”.

Chắp tay xá môt cái, người ăn xin khua gậy đi về phía cuối phố. Người xin trà. Người xin phở. Thời nào mà chẳng có kỳ nhân, ông Vũ và ông Nguyễn bảo nhau thế. Ông hàng phở đưa cái đèn 60 watt tới bên thùng phở, săm soi lây cái môi vớt lên mấy củ gừng, hóa ra quả là gừng có non thật. Trời đã sáng, hai ông lặng lẽ rời xe phở.

Khách kẻ trước người sau lục tục kéo tới, họ xúyt xoa với bát phở nóng hổi trong tay, họ chẳng biết chuyện gì sẩy ra trong một ngày thiên địa tù mù …”

***

Thiên địa tù mù thì những bài viết về phở cứ ối ra cả đấy, so bì vơi những món ăn cổ truyền khác, phở sinh sau đẻ muộn nhưng núp bóng nhà thơ, nhà văn, phở đã khật khưỡng đi vào văn học sử nước nhà. Vì vậy trong những giây phút yên sĩ phi lý thuần, thi nhân nhìn bát phở như một người tình và nhả ra thơ cùng cũng chỉ là chuyện tất nhiên của đất trời. Rồi con đường tình ta đi, rồi ra phở cũng đã len lỏi đi vào ngõ ngách văn học dân gian trong chuyện đời thường, cùng những người dở hơi dở hám, chán cơm nhà quà vợ như chán như cơm nguội, để có câu chán ăn cơm nguội thì ăn…phở. Chẳng nhờn môi nói chữ, bác cũng biết thừa mứa là “phở” đây hiểu theo nghĩa là rồi ra “Vợ cả, vợ hai – Cả hai đều là…vợ cả”. Hay lang thang với chữ nghĩa, dựa hơi theo cụ Nguyễn Tuân thì quả tình, chữ nghĩa của Ta hay thật, thưa bác…


Bác bụng bảo dạ, chán mớ đời, chuyện chẳng ra chuyện, lại quàng xiên qua phở Nam Định với phở xe. Chả ai biết là phở từ Tây hay Tầu. Mà nói dại chứ, cứ theo như người ăn xin trong truyện thì lạng quạng dám của Ta lắm ạ…Cũng đâu đó thưa bác, nhưng tất cả phải nhờ vả đến cụ Cổ Cừ và ông Võ Phiến đang ngồi đợi ở hồi sau.

Vốn dĩ bác là người khăn gói quả mướp ri cư từ Bắc vào Nam, lại đi Tây, đi Tầu, rạch ròi thâm nho cùng những cái tên của những món ăn. Nói rách miệng thời các cụ ta xưa cũng không ngòai xem mặt đặt tên đầy gợi hình, gợi cảm. Ai cũng có thể hình dung ra là món gì thức nấy như bún riêu ốc, cơm hến, cá kho tộ. Là người hòai cổ, bác hòai cố hương về những ngày tháng cũ, tiếng rao của các hàng quà rong. Còn tiếng rao nào buồn thảm bằng “Bánh dầy, bánh g..i..ò..” vỗ vào không gian ắng lặng. Đầu phố cuối ngõ u hòai thêm tiếng “tục tắc” của hai mảnh tre già khô cứng, nôm na là “mì gõ”. Hòa lẫn trong đêm khuya, vẳng lên thảm thiết một tiếng dài, hai tiếng ngắn…“phơ…ơ…ơ…” chả nghĩa lý gì sất, chẳng hình dung từ nào cả. Lại mè nheo theo mũ “feutre” là mũ phở, dám từ cái của nợ này nên món súp ấy được gọi là phở chăng. Trước hay sau, sử xanh chẳng hề ghi chép, nên kẻ hậu sinh cứ như thầy bói mù sờ voi.

Bác nhăn mặt, miệng lâm râm như muốn góp chuyện: Thế đấy, lắm chữ như cụ Nguyễn Tuân đã dậy “Chữ phở xuất xứ từ chữ “ngưu nhục phấn” và ta đã Việt Nam hóa chữ “phấn” thành chữ “phở “. À tôi ngộ ra cái thâm nho của bác rồi, mớ chữ ngưu nhục phấn với sợi tóc chẻ làm tư…Bác luận chứng rằng theo cuốn Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức vào năm 1920 thì chữ phở được giải nghĩa là “Phở do chữ phấn mà ra. Món đó ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò như phở xào, phở tái”. Thế nhưng theo Hán-Việt tự điển của cụ Đào Duy Anh thì chữ “phấn” (với dấu sắc), người Tầu đọc là “phẩn” (với dấu hỏi), người Nam ta gọi là “phân”. Đều có hai nghĩa là “bột” hay là… “cứt”. Vậy theo tôn ý bác, tao nhân mặc khách của cái đất nghìn năm văn học có ăn gan giời, trứng trâu, có ngộ chữ chẳng thể nhái chữ, nhái âm, như cóc nhái kêu ồm ộp từ…“ phẩn ” hay …“ phân ” để gọi là…” phở ” được! Dạ, thưa bác giáo.

Bác dậy chả là cứt trâu hóa bùn là vậy đấy. Chữ nghĩa gì khó nhai vậy, thưa bác?

Lại vẫn con ruồi hồi nãy, vẫn còn đang đang vo ve như trêu ngươi…Bác cầm tập biên khảo về phở của ông Nguyễn Dư, ngỡ bác đuổi ruồi…Nhưng không, bác sửa lại gọng kính, chằm bằm nhìn tấm hình có ba chữ Tầu ngưu nhục phấn đen như mực tầu. Ủa, sao mặt bác hâm hâm như miếng thịt bò tái vậy kìa. Bác nhấp nhổm như gái ngồi phải cọc, miệng bác lầu bầu : “Lạ chửa kìa”. Bác dậy sao? Bác nói ba chữ này không phải là chữ “ngưu nhục phấn” ư?. “Lạ nhẩy”…Giời ạ, sao có chuyện gánh bùn sang ao vậy kìa, hay là bác quáng gà, thưa bác.

Bác chỉ trỏ, rằng nào bác đâu có thấy chữ nào diễn âm, diễn nghĩa là thịt trâu với bánh bột? Bác nặn, véo chữ nghĩa và đằng hắng tiếp :

Với ba cái chữ Tầu trong cái thùng giống cái chậu sứ Giang Tây, theo thứ tự từ trên xuống dưới thì: Chữ thứ nhất nghĩa là “hàng gánh ” chứ chẳng phái là “ngưu”. Chữ thứ hai là “ở trong ”, chứ không phải là “nhục ”. Riêng chữ thứ ba vì nhòe nhoẹt, những nét chữ ngang sổ dọc chẳng hẳn là “phấn” mà hình tượng nửa như là “cái điã” , nửa như “tên một món ăn” nào đó mà bác chịu chết nhìn không ra.

Bác nhướng mắt nhìn tôi…Tôi nhìn con ruồi bay qua như một cơn gió thỏang…Giời ạ! Tôi như gà nghẹn thóc, trăm sự cũng chỉ vì cái tội che đóm ăn tàn theo cụ Tản Đà, cụ Nguyễn Tuân. Nay bị ông Nguyễn Dư bắt cóc bỏ đĩa lúc nào không hay…

***

Con ruồi bỏ đi rồi như…người tình bỏ ta đi với mùa thu chết, tôi mới hú hồn thóat nạn với ba mớ chữ chi, hồ, giả, dã. Mà chuyện ăn uống gì cũng phải có đầu có đũa, hay là bác và tôi hãy lang thang một thời, một cõi với Hà Nội 36 phố phường, với Thạch Lam, người có tâm hồn ăn uống, mới biết rằng đầu năm 1928 ở Phố Mới đã có một hàng phở thành Nam. Bây giờ Hà Nội tràn ngập phở gia truyền Nam Định tức phở Nam. Người ta có thể tìm thấy phở ấy ở mọi ngõ ngách, Hàng Thiếc có Cổ Cừ, Hàng Đồng có Cổ Chát, Lương Ngọc Quyến có Cổ Bình, Trương Định có Cổ Trình, Khâm Thiên có Cổ Chiêu, ngõ Tạm Thương có Cổ Hùng. Theo dăm ba người viết, ngược thời gian cách đây cả trăm năm, sau khi nhà máy dệt Cotonkin Nam Định được dựng lên, những gánh phở rong vỉa hè biến thái từ gánh canh bánh đa cua. Những gánh phở bánh đa sau biến hóa thành bánh cuốn qua Tú Mỡ “Này bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ” từ làng Vân Cù phục vụ cho công nhân dệt thời đó. Cũng lại với Hồ Trọng Hiếu “Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả – Phở sơi no cũng đỡ nhọc nhằn”.

Theo cụ Cổ Cừ, cụ bán phở từ năm 12 tuổi và dòng họ cụ có đến ba, bốn đời bán phở gánh, lên Hà Nội mở hiệu phở cũng cả mấy đời. Cụ kể lể làng Vân Cù ở huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định là chính gốc của họ Cù, nhưng vì kỵ húy với ông Thành Hòang nên phải đổi từ Cù qua Cồ. Theo già làng, chẳng ai biết người nẩy sinh ra nghề phở ở đây, chỉ biết rằng từ ông Cổ Hữu Vặng. Vì làng đất chật người đông, nên cụ Vặng là người tiên phong mang theo cái nghề dao thớt bỏ làng nước mà thế thiên hành đạo và kẽo kẹt gánh cái thùng tôn bằng thiếc tây, là nồi nước dùng đun bằng củi, lên Hà Thành vào khỏang năm 1918-1919.

Phở Vân Cù có mặt với 36 phố phường, từ phở gánh sang phở xe lâu năm một thời ấy đã âm thầm trở thành những hàng phở, tiệm phở khang trang. Có thể nói tiệm phở đầu tiên ở Hà Nội nằm tại phố Hàng Quạt, ngồi trên phản gỗ trải chiếu rồi qua phố Hàng Đồng mới có bàn, có ghế. Sau lan qua phố Cầu Gỗ, Cầu Giấy, như cụ Cổ Chiêm, ngòai 80 tuổi, người từng bán phở ở phố Hàng Trống từ năm 1942, cụ Cổ Viên từ năm 1954, nay 72 tuổi với đàn con cháu, ai ai cũng có bốn, hay năm mặt hàng trở lên.

Này bác giáo, dẫu rằng cái mũi ở ngay trước mắt, mấy ai đã nhìn thấy…Nhưng không dấu gì bác, tôi cũng có ý hồ nghi với dăm ba người viết về phở gia truyền Nam Định. Ai chả biết tận tín thư bất như vô thư, thế nhưng có đọc, mới thấy lớp lang thời gian như…phở ký cương mục với bao đời truyền tử lưu tôn đời đời kế thế từ Nam Định với cua đồng, bánh đa, bánh cuốn. Lên Hà Nội với thịt bò, bánh phở. Được thể Tú Mỡ vung vẩy “Khách làng thơ, đêm thức viết văn – Ðược bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí…”.

Thêm nữa, qua cách nói chuyện của cụ Cổ Cừ, tôi thấy cụ là người mấy đời uống nước máy Hà Nội, cởi mở nhưng chừng mực, cụ “cù không cười” chẳng dấu diếm bí quyết nghề nhà, rằng cùng với bếp củi cùng một gia vị, không sai một ly, không thiếu một thứ gì, nhưng mỗi tay nghề mỗi khác, một phần ăn thua ở bánh phở. Từ đấy, bây giờ ai chẳng biết qua cầu Đò Quan, rẽ phải 14 cây số là đến làng Giao Cù, Tây Lạc, sát với làng Nghĩa Hưng, Ninh Cơ cùng họ Cồ, họ Vũ. Tất cả 4 làng, 2 họ chuyên làm bánh phở, có thể nói nơi đây là cái nôi của nghề làm bánh phở.

Cụ phân bua, không có lửa sao có khói, làng nghề bánh phở có từ đời tám hoánh nào rồi!. Vậy mà chẳng ai chịu khua môi múa mép lên một tiếng!

Hỏi về “ngưu nhục phấn”, cụ tủm tỉm cười:

“Theo các cụ ngày xưa kể, phở không phải xuất sứ từ người Tầu. Nó từ các gánh quà bán bánh đa cua, thịt lợn, dần dần là thịt bò để thành phở nào ai biết”.

Như để khẳng định điều đó, cụ nói thêm:

“Các ông có thấy Hà Nội từ xưa đến nay, có hàng phở nào người Trung Quốc không? Nói cho ngay thì cũng có đấy, có duy nhất một tiệm của người Trung Quốc tên Nghi Xuân ở phố Mã Vũ nay là phố Hàng Quạt nối dài nhưng là…phở áp chảo.

Cụ đủng đỉnh tiếp:

“Phở là món ăn do người Việt chế ra, hay du nhập từ Trung Quốc? Câu trả lời đã rõ ràng: Phở là món ăn hoàn toàn Việt Nam. Vì nếu từ Trung Quốc thì tại sao giờ này Trung Quốc không có món phở?

Được giới săn tin hỏi han, an nhiên tự tại, cụ đối đáp vung tán tàn:

“Này xin lỗi ông nhà báo nhá, nói ông bỏ qua chứ cái thùng phở của chúng tôi đâu phải là cái thùng rác đâu mà cái gì vớ được gì mấy ông cũng nhét vào. Như các ông phang lên báo là hồi tản cư…”chạy tóe phở” ra hậu phương, không có bò nên mới có phở gà thì nghe đã bố lếu bố láo rồi. Nay các ông dậy thêm rằng cụ Tản Đà mang phở vào Nam Kỳ qua giai thoại…cụ tự nấu phở là nông tọet, nghe chả ra “nước xuýt” gì sất. Thật ra phở chỉ mới có mặt ở Sài Gòn từ thập kỷ 40, và chỉ gần đây người ta mới tìm ra một chứng nhân của phở. Đó là bà cụ Trần Thị Năm, nay mới….ngoài 80 tuổi xuân, lưng còng, tóc bạc phơ, ở số 63/5 trong Hẻm Pasteur, sau rạp hát Vinh Quang”.

Các ông nhà báo vểnh tai lên mà nghe chuyện bà ấy kể lể nhá:

“Từ năm 1942, ông bác của tôi là cụ Kỉnh từ làng Vân Đình, Hà Đông vào Sài Gòn lập nghiệp. Ông bán gánh phở Bắc trên đường Lagrandière tức Gia Long cũ, nay là Lý Tự Trọng. Mãi đến năm 1949 mới chuyển về đây mở xe phở, tôi còn nhớ lúc đó mỗi tô chỉ có 2 xu, tô đặc biệt 3 xu. Sau đó cụ Kỉnh truyền nghề cho cụ Minh, là anh ruột tôi”.


Cụ nhởn nha tiếp:

Làng nước ạ, các ông biết một mà chả biết hai, ngay như câu đối của cụ Nguyễn Khuyến khóc cụ Tú Xương : “Kìa ai chín suối xương không nát – Có lẽ nghìn thu tiếng vẫn còn”. Vậy mà các ông cũng quơ cào, đổ vấy cho bằng được là có cụ Nghè nào đó viết để phúng điếu cho cụ tổ nghề phở làng Vân Cù chúng tôi. Nói dối phải tội, cho đến bây giờ chúng tôi cũng chẳng biết cụ là ai để mà ma chay, cúng kiếng… “.

***

Này, bác lóng chóng như ngóng đợi ai đấy? Ắt hẳn là bác nhắc khéo tôi so bát so đũa với ông Võ Phiến chăng? Ừ, nói cho ngay chuyện chẳng có gì. Vì có thể nói, ông Võ Phiến với phong thái cũng như văn phong riêng, viết về những món ăn từng địa phương cùng tình tự dân tộc qua thổ ngơi, nơi chốn, đào sâu chôn chặt với gốc rễ của từng vùng đất cùng bản phố, cố quận. Nào là từ bánh đa Bình Định, xuất xứ từ vua Quang Trung đem quân ra Bắc, đến cơm muối Huế có từ ruộng muối Diêm Trường. Ông nặng về…thâm cứu cùng dân tộc tính nên đã không ngại ngùng phóng bút:

“Ta có thể chịu ảnh hưởng của Tầu về văn hóa, tập tục. Nhưng món ăn thì tuyệt đối không, mỏi mắt tìm không ra một món ăn truyền thống của Ta mà có gốc từ Tầu”.

Ông kết luận chắc như đinh đóng cột là: “ Tầu ăn xì dầu. Ta ăn nước mắm”.

Thêm dị biệt giữa món Tàu và món Ta là món Ta thường ăn với các loại rau thơm. Món nào ăn với rau nấy, chẳng thể bất khả phân ly. Ngửi mùi rau tía tô tự nhiên thấy thèm món bún ốc, ngắt rau kinh giới nghĩ đến bún riêu, nhìn rau mùi, ngò gai bèn nghĩ ngay đến…phở. Đồng tình với xì dầu, nước mắm, thêm nhà báo Lê Thiệp viết rằng:

“Việt Nam chống lại nỗ lực Hán hóa của Tầu từ nghìn năm trước, từ chữ Nho qua chữ Nôm, từ cách ăn mặc đến đầu tóc trong cái nỗ lực đối kháng bền bỉ đó có món thịt bò. Món bún bò Huế không xài xì dầu, bò nướng mỡ chài là một khám phá mới của người miền Nam, bò lụi chẳng được coi là “phó sản” của Tầu. Ngay cả thịt kho tầu cũng vậy, ấy là chẳng phải món Tầu mà là tên xuất sứ từ con kinh có tên kinh Tầu Hũ”.

Nhà báo Lê Thiệp cho rằng trong các món nước phổ thông của người Tầu có hủ tiếu và mì. Như mì vịt tiềm, mì cá, mì Triều Châu, mì Quảng Đông, nước lèo căn bản vẫn là nước lèo heo. Có người vặn vẹo hỏi vậy còn hủ tiếu Mỹ Tho thì sao, phải chăng là “âm bản” của Tầu? Nhà báo lắc đầu với luận cứ: gốc gác của hủ tiếu Mỹ Tho là từ hủ tiếu Nam Vang bên….Nam Vang chứ chẳng phải là ở bên…Tầu.

Qua hai nhà báo, nhà văn trên, bác lặng lờ ra cái dáng trầm tư với cây có gốc, người có cội cùng “Ta về tắm lại dòng sông cũ – Truy tầm mê mỏi lý sơ nguyên ” một cái tên từ đâu mà ra, bởi đâu mà có…Thú thực với bác, tôi cũng ngọng, nhiều khi có những…cái tên không đâu tự trên giời rớt xuống, ông giời cũng chả biết nữa là…

Là xin thưa với bác rằng: Bác là nhà giáo chữ nghĩa đầy người, có bao giờ bác vén đầu gối để nói chuyện và tự hỏi tại sao người trong Nam, heo mẹ, heo con nuôi lôm côm đầy đàn, làm bánh nhét bụng ăn chơi lại nhè kêu…thiệt tình là…bánh da lợn. Để chẳng thể bỏ qua chuyện người Bắc như ông giời, bộ hết chữ đặt tên cho cây hay sao lại lớ ngớ gọi là…cây cơm nguội. Quơ cào qua bếp núc củi lửa, hiểu theo nghĩa là ăn uống thì mắc mớ chi cái bát to trong Nam kêu là cái tô, ngoài Bắc gọi là cái liễn. Đến cái bát nhỏ, trong Nam kêu là cái chén, ngoài Bắc mắc chứng gì gọi là…bát đàn. Thế nên tôi không dám quàng xiên qua chuyện ở…phố Bát Đàn, Hà Nội có…phở Bát Đàn.

Thôi thì bới bèo tìm bọ cho lắm cũng hao tốn nhiều giấy mực…Nghĩ cho cùng, các cụ ta xưa cũng có lúc há miệng mắc quai với ngôn từ nên gọi một chữ…”phở” cho xong bữa. Liệu cơm gắp mắm, người đi sau cứ tương Bắc tương bần như vậy cho nhẹ mình nhẹ mẩy. Chẳng qua tên phở là như thế đấy! Phải chăng thưa bác giáo?

Thạch trúc gia trang

Phí Ngọc Hùng

Phụ đính:

Phở đức tụng

Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu

Trong các món ăn “quân tử vị”

Phở là quà đáng quí trên đời

Một vài xu, nào đắt đỏ mấy mươi

Mà đủ vị: ngọt, bùi, thơm, béo, bổ

Này bánh cuốn, này thịt bò, này nước dùng sao nhánh mỡ

Ngọn rau thơm, hành củ thái trên,

Nước mắm, hồ tiêu cùng chanh, ớt điểm thêm

Khói nghi ngút đưa lên thơm điếc mũi…

Như xúc động tới ruột gan bàn phổi…

Như giục khơi cái đói của con tì

Dẫu sơn hào, hải vị khôn bì

Xơi một bát, thường khi chưa thích miệng

Kẻ phú quí cho chí người bần tiện

Hỏi ai là đã nếm chẳng ưa

Thầy thông, thầy phán đi sớm về trưa

Ðiểm tâm phở ngon ơ và chắc dạ

Cánh thuyền thợ làm ăn vất vả

Phở sơi no cũng đỡ nhọc nhằn

Khách làng thơ, đêm thức viết văn

Ðược bát phở cũng đỡ băn khoăn óc bí…

Bọn đào kép, con nhà ca kỹ

Lấy phở làm đầu vị giải lao

Chúng chị em sớm mận tối đào

Nhờ có phở cũng đỡ hao nhan sắc

Phở là đại bổ, tốt bằng mười thuốc bắc

Quế phụ sâm nhung chưa chắc đã hơn gì

Phở bổ âm dương phế thận can tì

Bổ cả ngũ tạng tứ chi bát mạch

Anh em lao động đồng tiền không rúc rích

Coi phở là môn thuốc ích vô song

Các bậc vương tôn thường chả phụng nem công

Chưa chén phở vẫn còn không đủ món

Chớ khen phở là đồ ăn hèn mọn

Dẫu sao thành Ba-Lê còn phải đón phở sang

Cùng các cao lương vạn quốc phô trương

Ngon lại rẻ phở thường tranh quán giải

Sống trên đời, phở không ăn cũng dại

Lúc buông tay ắt phải cúng kem

Ai ơi, nếm thử kẻo thèm.

*Chú thích : Theo một góp ý của độc gỉa Hùynh Trung Trực nhân đọc bài phóng sự “PHỞ SÀI GÒN XƯA VÀ NAY “ của cố ký gỉa Phan Nghị đăng trên : Văn Hóa Việt Nam – http://son-trung.blogspot.com/2011/01/phan-nghi-pho-sai-gon-xua-va-nay.html ngày January 4, 2011 thì để đáp lại câu đối “phở” (“Nạc, mỡ nữa làm chi, em nghĩ chín rồi không tái giá ” ) “ . . . Đã có ít ra là khoảng 5 vế đáp và từ hàng chục năm nay, nếu ai có dịp đến ăn ở tiệm Phở Xe Lửa của ông Nguyễn Đình Toàn ở Khu Thương Mại Eden, tiểu-bang Virginia thì đều dễ-dàng nhìn thấy hai câu đối này đuợc trang-trọng treo trên tường:

Nạc mỡ nữa làm chi, em nghĩ đã chín rồi, đừng nói với em câu tái giá

Muối tiêu không đáng ngại, lão thấy còn gân chán, hãy vui cùng lão miếng gầu dai .

Ông Toàn cho biết thêm rằng câu đáp trên là của Cụ Bùi Văn Bảo (đã từ-trần 03/1998).”

(Chúng tôi ghi lại ở đây để độc gỉa có thêm chi tiết tham khảo. NK/PNH)

**Nhà văn Khuất Đẩu, đọc xong “Phở Thiên Biên Ký Sự”, hứng khởi đưa ra câu “thách đối “:

Đã hết gân rồi còn tái gía

Ông ước mong nhận được những câu đối lại của độc gỉa khắp nơi. Tất nhiên, câu đối phải dùng những từ chỉ món phở ( như chữ Gân hay Tái Giá trong câu thách ). Ngộ Không
Ra đi tìm đường cứu nhà

Bến Nhà Rồng ngày nay, nơi Nguyễn Tất Thành "đi tìm đường cứu nước"
Ngày 31-5-2011, tại Sài Gòn mà nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam (CSVN) đổi tên là Thành phố Hồ Chí Minh, diễn ra cuộc Hội thảo với chủ đề “Chủ tịch Hồ Chí Minh – Hành trình tìm đường cứu nước”. Cuộc hội thảo do các cơ quan sau đây đứng ra tổ chức: Thành ủy đảng CSVN TpHCM, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Hành chánh Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch. Những cơ quan trong ban tổ chức cuộc hội thảo đều tầm cỡ khá cao trong nước, nên cuộc hội thảo quy tụ nhiều nhân vật quan trọng của CSVN, kể cả cựu tổng bí thư Lê Khả Phiêu, thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Phải nói ngay rằng đề tài nầy quá cũ, nhưng được CSVN cố tình đem ra hâm nóng trở lại, may ra để vớt vát lại uy tín cho đảng CSVN đang càng ngày càng tuột dốc. Cứ mỗi lần gặp khó khăn về chính trị, CSVN kiếm cách cầu cứu Hồ Chí Minh để lòe thiên hạ, nhất là giới trẻ tuổi mới lớn lên. Vì vậy, từ ngày 26-5, họp báo giới thiệu cuộc hội thảo, cho đến 139 bài tham luận đưa ra trong cuộc hội thảo, đều là một bản đồng ca ồn ào chói tai giống như ếch nhái đồng ruộng kêu ồm oàm sau một trận mưa lớn (Sài Gòn hiện đang vào mùa mưa), đều đặn đúng như những tài liệu cổ điển của CSVN. Tốt nhất, chúng ta trở lại với những tài liệu nầy.
Đầu tiên là nguyên văn lời trong sách Lịch sử Việt Nam của các tác giả cộng sản viết về sự kiện thanh niên Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ngày 5-6-1911 để ra đi:
Sự thất bại của các phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục của cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở các tỉnh Trung Kỳ mà Người [Hồ Chí Minh] từng tham gia khi đang học ở trường Quốc Học Huế, đã thôi thúc Người [HCM] hướng về các nước Tây Âu, mong muốn được đến “tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những Tự do, Bình đẳng, Bác ái”. Sau khi rời Huế vào Phan Thiết … Được ít lâu, lấy tên là Văn Ba, Người [HCM] xin làm phụ bếp trên chiếc tàu thủy Đô đốc La Tusơ Tơrêvin (La Touche Tréville)[Latouche-Tréville], thuộc hãng vận tải hợp nhất của Pháp, để đi ra nước ngoài “xem nước Pháp và các nước khác làm như thế nào rồi sẽ trở về giúp đồng bào…” ( Nguyễn Khánh Toàn và một nhóm tác giả, Lịch sử Việt Nam, tập 2, Hà Nội: Nxb. Khoa học Xã hội, 1985, tr. 145).
Sách Chủ Tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp của nhà xuất bản Sự Thật giải thích sự ra đi của Hồ Chí Minh cũng gần giống như thế: “… Ít lâu sau, Hồ Chủ tịch vào Sài Gòn. Nam Kỳ dưới chế độ thuộc địa cũng chẳng khác gì Trung Kỳ dưới chế độ bảo hộ và Bắc kỳ dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa bảo hộ. Ở đâu nhân dân cũng bị áp bức, bóc lột, đồng bào cũng bị đọa đày, khổ nhục. Điều đó càng thôi thúc Hồ Chủ tịch đi sang các nước Âu tây để xem nhân dân các nước ấy làm như thế nào mà trở nên độc lập, hùng cường, rồi sẽ trở về “giúp đỡ đồng bào” đánh đuổi thực dân Pháp. Ý định ấy của Người [HCM] đã dẫn Người từng bước đi tới tìm một phương hướng mới cho sự nghiệp cứu nước của nhân dân ta.” (Ban Nghiên cứu Lịch sử đảng trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiểu sử và sự nghiệp, in lần thứ tư (có xem lại và bổ sung), Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1975, tr. 15).
Trong sách Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, cũng do nhà xuất bản Sự Thật ấn hành, trả lời phỏng vấn của tác giả Trần Dân Tiên, Hồ Chí Minh nói về lý do ra đi như sau: “…Tôi muốn đi ra nước ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta…” (Trần Dân Tiên, Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Hà Nội: Nxb. Sự Thật, 1976, tr. 13).
Trần Dân Tiên chính lại là Hồ Chí Minh. Ông dùng một tên khác viết sách tự ca tụng mình. Tại Việt Nam cũng như trên thế giới, có nhiều người viết sách về hoạt động của mình, đôi khi để tự khen mình, hoặc để biện hộ cho những việc làm của mình, nhưng họ đều đề tên thật, chịu trách nhiệm về những điều họ viết. Hồ Chí Minh dùng một tên khác tự ca tụng mình là một sáng kiến kỳ lạ chưa một người tự trọng nào dám nghĩ đến một hành động thật quá trơ trẽn.
Như thế, qua các sách của nhà cầm quyền cộng sản và qua chính những lời viết của Hồ Chí Minh, ông ta đi ra nước ngoài nhắm mục đích tìm đường cứu nước. Tuy nhiên nhiều tài liệu cụ thể cho thấy rằng Hồ Chí Minh ra đi không phải để tìm đường cứu nước, mà chỉ vì lý do kinh tế gia đình, ra đi để tìm đường cứu nhà.
Trong bài “Từ mộng làm quan đến đường cách mạng Hồ Chí Minh và Trường Thuộc Địa”, hai tác giả Nguyễn Thế Anh và Vũ Ngự Chiêu đã phổ biến ảnh sao (photocopy) hai lá thư của Nguyễn Tất Thành đề ngày 15-9-1911 gởi cho tổng thống Pháp và bộ trưởng bộ Thuộc Địa Pháp, xin hai nhà lãnh đạo Pháp ban ân huệ cho Thành được đặc cách vào học Trường Thuộc Địa Paris, nơi đào tạo quan lại cho các thuộc địa Pháp trong đó có Đông Dương. Phần chính trong nội dung của hai lá thư nầy hoàn toàn giống nhau. Đó là:
Tôi xin trân trọng thỉnh nguyện lòng hảo tâm của ông ban cho tôi đặc ân được nhận vào học nội trú Trường Thuộc Địa. Tôi hiện đang làm công trong công ty Chargeurs Réunis để sinh sống (trên tàu Amiral Latouche-Tréville). Tôi hoàn toàn không có chút tài sản nào, nhưng rất khao khát học hỏi. Tôi ước mong trở nên hữu ích cho nước Pháp đối với đồng bào tôi, đồng thời làm thế nào cho họ hưởng được ích lợi của nền học vấn…” (Đặc san Đường Mới, số 1, Paris, tt. 8-25)

Lá đơn Nguyễn Tất Thành xin học trường Thuộc địa Pháp
Hai lá đơn trên đều bị bác, Nguyễn Tất Thành tiếp tục hành nghề trên các tàu biển. Ngày 15-12-1912, từ New York, Hoa Kỳ, Nguyễn Tất Thành gởi đến viên khâm sứ Pháp tại Huế một lá thư rất thống thiết xin một đặc ân là ban cho cha Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Sinh Sắc, một chức việc nhỏ như giáo thụ hay huấn đạo, để ông nầy có điều kiện sinh sống.
Nguyên phụ thân của Nguyễn Tất Thành (Hồ Chí Minh) là Nguyễn Sinh Sắc (còn có tên là Huy) đỗ phó bảng trong kỳ thi Hội và thi Đình năm 1901 tại Thừa Thiên, và được triều đình Huế bổ làm thừa biện bộ Lễ (tại Huế) từ 1902 đến 1909, rồi đi tri huyện Bình Khê (thuộc tỉnh Bình Định) tháng 5 năm đó. Từ thừa biện lên tri huyện là thăng quan chứ không phải xuống chức.
Nguyễn Sinh Sắc vốn nghiện rượu. Trong một cơn say rượu, tri huyện Nguyễn Sinh Sắc cho thuộc hạ dùng roi mây trừng phạt và đánh chết một người tù vào tháng 1-1910. Gia đình người nầy kiện lên cấp trên. Dù tri huyện Nguyễn Sinh Sắc đã chối cãi rằng không phải vì trận đòn của ông mà người kia chết, ông vẫn bị triều đình ra sắc chỉ ngày 17-9-1910 phạt đánh 100 trượng. Hình phạt nầy được chuyển đổi qua hạ bốn cấp quan lại và sa thải. (Daniel Hémery, Ho Chi Minh, de l ‘Indochine au Vietnam [Hồ Chí Minh, từ Đông Dương đến Việt Nam], Paris: Nxb. Gallimard, 1990, tr. 133). Lý do chuyển đổi hình phạt để Nguyễn Sinh Sắc khỏi bị đánh đòn có thể nhắm giữ thể diện của một quan chức triều đình, và nhất là vị nầy lại là người có học vị cao.
Ngày 26-2-1911, Nguyễn Sinh Sắc xuống tàu từ Đà Nẵng vào Sài Gòn. Ông ở lại Sài Gòn một thời gian, rồi đi Lộc Ninh làm giám thị đồn điền. Từ đó, ông không bao giờ trở ra Nghệ An. Ông sống lang thang ở miền Nam bằng nghề đông y, và nghề viết liễn đối cho dân chúng. Gần cuối đời, ông đến định cư tại làng Hội Hòa An, Sa Đéc, và từ trần ngày 29-11-1929.
Trước cảnh nghèo túng của cha, Nguyễn Tất Thành viết thư từ New York cho khâm sứ Pháp tại Huế ngày 15-12-1912, có những đoạn như “… cầu mong Ngài [chỉ khâm sứ Pháp] vui lòng cho cha tôi [cha của Thành tức Nguyễn Sinh Sắc] được nhận một công việc như thừa biện ở các bộ, hoặc huấn đạo, hay giáo thụ để cha tôi sinh sống dưới sự quan tâm cao quý của Ngài…” ( Thành Tín [tức Bùi Tín], Mặt thật, California: Nxb. Saigon Press, 1993, tt. 95-96).
Đây là một việc làm hiếu đễ đáng khen của thanh niên Nguyễn Tất Thành, nhưng rất tiếc khi gia nhập đảng Cộng Sản, thì Nguyễn Tất Thành từ bỏ luân lý truyền thống dân tộc, chuyển lòng trung hiếu thành lý tưởng phục vụ đảng và chủ nghĩa cộng sản, đến nỗi sau đó chính Nguyễn Sinh Sắc, phụ thân Nguyễn Tất Thành, rất bực mình “không muốn nghe nói đến “đứa con hư” của mình [...] mà các chủ thuyết chẳng những đả phá uy quyền của nhà vua, mà còn đả phá luôn cả uy quyền của người gia trưởng.” (Daniel Hémery, sđd. tr. 134).
Hai lá đơn trên cùng với lá thư gởi năn nỉ viên khâm sứ Pháp tại Huế cho thấy lúc mới ra đi, Nguyễn Tất Thành chỉ nhắm mục đích sinh nhai. Vì sinh kế gia đình, lúc đó Nguyễn Tất Thành sẵn sàng thỏa hiệp với người Pháp để kiếm một chức quan cho cá nhân ông (bằng cách xin vào học Trường Thuộc Địa), hoặc cho phụ thân ông, chứ Nguyễn Tất Thành không chống lại nhà cầm quyền thực dân Pháp.
Giải quyết sinh kế cho gia đình là chuyện bình thường của đời sống con người. Lớn lên, ai ai cũng phải kiếm cách mưu sinh để tự nuôi sống mình và nuôi sống gia đình. Ngày 5-6-1911 Nguyễn Tất Thành xuống tàu Amiral Latouche-Tréville ra đi không phải để tìm đường cứu nước mà để TÌM ĐƯỜNG CỨU NHÀ. Đơn giản chỉ có thế.
Việc ra đi tìm đường cứu nước chỉ là sản phẩm tưởng tượng sau nầy của Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản, nhắm “anh hùng hóa” và làm đẹp cho việc ra đi của họ Hồ để lôi cuốn quần chúng trên đường hoạt động chính trị. Cuộc hội thảo ngày 31-5-2011 vừa qua tại Sài Gòn cũng không ngoài mục đích đó.
(Toronto, 2-6-2011)
© Trần Gia Phụng

Bài phát biểu của tổng thống Barack Obama nhân dịp năm học mới
Phạm Nguyên Trường dịch
Lời người dịch: Từ ba năm nay, trước thềm mỗi năm học mới tổng thống Obama đều đến thăm một trường trung học và có bài nói chuyện với học sinh. Năm nay ông đến trường phổ thông trung học mang tên Benjamin Banneker ở Washington, D.C. Người dịch đưa vào phần phụ lục hai bức thư gửi học sinh nhân dịp năm học mới (2010 – 2011 và 2011- 2012) của hai ông chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội chủ nghĩa Việt Nam để thấy thuật ngữ “lưỡi gỗ” thực sự có nghĩa như thế nào.


Obama trong một lần tới thăm lớp học. Ảnh minh họa từ On the net
Xin cám ơn. (Vỗ tay). Xin cám ơn rất nhiều. Xin mời các vị an tọa. Xin cám ơn chủ tịch (ý nói cô Donae, có lẽ là chủ tịch hội học sinh -ND), đây là bài giới thiệu rất hay. (Cười). Chúng ta rất tự hào về Donae vì cô đã có một bài giới thiệu rất hay về trường học này.
Ngoài ta, tôi muốn cám ơn bà hiệu trưởng nổi tiếng của các cháu, bà đã làm việc ở đây 20 năm – ban đầu là cô giáo và bây giờ là một hiệu trưởng nổi tiếng – đấy là bà Anita Berger. Xin một tràng pháo tay nồng nhiệt để chúc mừng bà. (Vỗ tay). Tôi cũng muốn cám ơn ông Gray, thị trưởng Washington, D.C. cũng có mặt ở đây. Xin một tràng pháo tay nồng nhiệt để chào mừng ông. (Vỗ tay). Và tôi muốn được cám ơn người sẽ đi vào lịch sử như là một trong những vị bộ trưởng giáo dục tuyệt vời nhất của chúng ta, đấy là ông Arne Duncan, cũng có mặt ở đây. (Vỗ tay).
Tôi rất vui mừng được có mặt tại trường phổ thông trung học Benjamin Banneker, một trong những trường phổ thông trung học tốt nhất, không chỉ của Washington D.C mà còn trên phạm vi toàn quốc nữa. Học sinh cũng đến từ mọi miền đất nước. Vì vậy mà tôi muốn chúc mừng tất cả các cháu nhân dịp năm học mới mặc dù tôi biết rằng nhiều cháu đã tựu trường một thời gian rồi. Tôi biết rằng ở Banneker các cháu đã tựu trường được vài tuần rồi. Bởi vậy mọi thứ đều dần dần ổn định, giống như tất cả những người bạn cùng trang lứa với các cháu trên tất cả các địa phương trong nước. Kì thể thao mùa thu đã được khởi động. Những buổi biểu diễn âm nhạc và diễu hành cũng sắp bắt đầu, tôi tin là như thế. Những bài kiểm tra và những dự án lớn đầu tiên cũng có thể sẽ diễn ra trong nay mai.
Tôi biết rằng các cháu còn có nhiều hoạt động ở bên ngoài trường học. Bạn bè của các cháu có thể cũng thay đổi ít nhiều. Những vấn đề trước đây thường bị bó hẹp trong những sảnh đường hoặc phòng thay đồ tập thể thao hiện đang tìm đường vào Facebook và Twitter. (Cười). Một số gia đình của các cháu chắc cũng cảm thấy sự khó khăn của nền kinh tế. Nhiều cháu cũng đã biết, chúng ta đang phải trải qua một trong những giai đoạn kinh tế khó khăn nhất trong cuộc đời của chúng ta – trong cuộc đời của tôi. Các cháu đang còn trẻ. Và kết quả là các cháu có thể phải làm thêm sau giờ học để giúp đỡ gia đình hoặc có thể phải trông em khi bố hoặc mẹ các cháu đi làm thêm.
Nghĩa là các cháu có nhiều việc phải làm. Các cháu trưởng thành nhanh hơn và tương tác với một thế giới rộng lớn hơn theo cách mà các thế hệ những người có tuổi như tôi, thành thật mà nói, đã không phải làm. Bởi vậy, ngày hôm nay, tôi không muốn sắm vai một người trưởng thành đứng lên và rao giảng như thể các cháu chỉ là trẻ con – bởi vì các cháu không còn là trẻ con nữa. Các cháu là tương lai của đất nước này. Các cháu là những nhà lãnh đạo trẻ. Và đất nước của chúng ta thụt lùi hay tiến lên phụ thuộc một phần lớn vào các cháu. Vì vậy tôi muốn nói với các cháu một chút về trách nhiệm đó.
Rõ ràng là trách nhiệm đó bắt đầu bằng việc trở thành học trò giỏi nhất theo khả năng của các cháu. Điều đó không có nghĩa là các cháu phải có điểm số cao nhất trong mọi bài tập. Điều đó không có nghĩa là lúc nào chúng cháu cũng là học sinh suất sắc (dịch thoát ý thuật ngữ straight A’s – ND), dù đó không phải là một mục đích tồi. Điều đó có nghĩa là các cháu phải cố gắng. Các cháu phải quyết tâm và kiên nhẫn. Điều đó có nghĩa là các cháu phải làm việc chăm chỉ như thể các cháu biết phải làm việc như thế nào. Và điều đó có nghĩa là đôi khi các cháu phải liều lĩnh. Các cháu không nên né tránh những môn học mà các cháu thấy khó vì sợ rằng không thể giành được điểm tốt, nếu đó là môn học mà các cháu nghĩ là sẽ cần đối với việc chuẩn bị cho tương lai của các cháu. Các cháu phải biết ngạc nhiên. Phải biết chất vấn. Phải khám phá. Và đôi khi các cháu phải vượt ra ngoài các khuôn sáo cũ.
Đấy chính là mục đích của trường học: khám phá những niềm đam mê mới, học những kĩ năng mới, sử dụng thời gian quý giá này để chuẩn bị cho bản thân và rèn luyện những kĩ năng mà các cháu cần để theo đuổi sự nghiệp mà các cháu thích. Và đó là lí do tại sao khi còn là một học sinh các cháu có thể thăm dò những khả năng rất khác nhau. Giờ này các cháu có thể trở thành một họa sĩ; giờ sau, cháu là một nhà văn; giờ sau nữa, là một nhà khoa học, một nhà sử học hay một người thợ mộc. Đây là khoảng thời gian để các cháu tìm kiếm những mối quan tâm mới và kiểm tra những ý tưởng mới. Và càng tìm kiếm nhiều các cháu càng sớm tìm ra những điều làm cho các cháu trở nên sống động, những điều làm các cháu đứng ngồi không yên, làm các cháu phấn khích – tìm ra nghề nghiệp mà cháu muốn theo đuổi.
Bây giờ, nếu các cháu hứa không nói với ai thì tôi sẽ kể cho các cháu nghe một bí mật: khi còn học phổ thông, cũng như trung học, không phải lúc nào tôi cũng là học sinh giỏi nhất theo khả năng của mình. Không phải môn nào tôi cũng thích. Không phải lúc nào tôi cũng chú tâm vào học hành như đáng lẽ phải thế. Tôi nhớ khi tôi học lớp tám, tôi phải học một môn gọi là đức dục. Đức dục là về những điều đúng sai, nhưng nếu các cháu hỏi tôi lúc học lớp 8 tôi thích môn gì thì tôi sẽ trả lời là bóng rổ. Tôi không nghĩ đức dục lại nằm trong danh mục những môn học yêu thích của tôi.
Nhưng đây mới là điều thú vị. Sau đó, lúc nào tôi cũng nhớ cái môn đức dục này. Tôi vẫn nhớ cách nó khiến tôi phải suy nghĩ. Tôi vẫn nhớ khi bị hỏi những câu đại loại như: Trong cuộc sống, cái gì là quan trọng? Hoặc như thế nào là coi trọng nhân phẩm và tôn trọng người khác? Sống trong một quốc gia đa sắc tộc – nơi không phải ai cũng trông giống như các cháu, suy nghĩ giống cháu hoặc xuất thân từ những vùng lân cận với các cháu – nghĩa là thế nào? Chúng ta tìm cách sống chung với mọi người như thế nào?
Mỗi một câu hỏi như thế lại dẫn tới những câu hỏi mới. Và không phải lúc nào tôi cũng trả lời đúng, nhưng những cuộc thảo luận và quá trình khám phá đó là những gì còn lại mãi. Hôm nay tôi vẫn còn nhớ những chuyện đó. Mỗi ngày tôi đều nghĩ về những vấn đề đó khi tôi tìm cách lãnh đạo đất nước này. Tôi vẫn hỏi những câu hỏi tương tự về việc chúng ta, một quốc gia đa sắc tộc, phải chung sống với nhau như thế nào để giành lấy những điều chúng ta cần phải giành? Làm thế nào để bảo đảm rằng mỗi người đều được đối xử với sự tôn trọng và nhân phẩm? Chúng ta phải có những trách nhiệm gì đối với những người kém may mắn hơn chúng ta? Làm sao để tất cả đồng bào của chúng ta đều là con em một nhà của nước Mĩ?
Đó là tất cả những câu hỏi bắt nguồn từ môn học hồi lớp tám đó của tôi. Và xin nói một điều như thế này: ngay cả tới bây giờ, không phải lúc nào tôi cũng biết được những câu trả lời cho tất cả những câu hỏi đó. Nhưng, nếu lúc đó tôi bỏ môn học nghe có vẻ chán ngắt này thì chắc hẳn là tôi đã bỏ lỡ một điều gì đó, đã lỡ chính cái điều không chỉ đã làm tôi vui mà còn rất có ích trong phần còn lại của cuộc đời mình.
Vì vậy, trách nhiệm của các cháu là phải thử. Chấp nhận rủi ro. Thử nghiệm những điều mới mẻ. Làm việc chăm chỉ. Đừng thất vọng nếu các cháu không giỏi ngay lập tức. Các cháu không thể giỏi mọi thứ ngay lập tức được. Đó chính là lí do tại sao cháu phải đi học. Tuy nhiên, vấn đề là các cháu cần tiếp tục mở rộng những chân trời và ý thức được khả năng của mình. Đây chính là lúc các cháu làm điều đó. Hơn nữa, đấy cũng chính là những điều khiến trường học thêm thú vị.
Trong tương lai, điều đó sẽ trở thành những phẩm chất giúp các cháu thành công, và đồng thời, cũng là những phẩm chất sẽ đưa các cháu tới việc phát minh ra một thiết bị làm cho iPad trông chẳng khác gì một phiến đá. Hoặc nó sẽ giúp các cháu tìm ra cách thức sử dụng nắng và gió để cung cấp năng lượng cho thành phố và đem đến cho chúng ta những nguồn năng lượng mới, ít ô nhiễm hơn. Hoặc các cháu sẽ viết cuốn tiểu thuyết vĩ đại tiếp theo của nước Mĩ.
Để làm hầu như bất kì việc gì trong số những công việc tôi vừa nói, các cháu không chỉ cần học hết phổ thông – và tôi biết là tôi có lí, tôi đang đứng cạnh bà hiệu trưởng Berger ở đây – các cháu không chỉ phải học hết phổ thông mà còn phải tiếp tục học lên cao nữa, sau khi rời khỏi ngôi trường này. Các cháu không chỉ phải tốt nghiệp, mà các cháu phải tiếp tục học sau khi đã ra trường.
Và với nhiều người trong số các cháu, điều đó có nghĩa là học bốn năm đại học. Tôi vừa nói chuyện với Donae, cô ấy muốn trở thành kiến trúc sư. Hiện tại, cô đang thực tập tại một công ty kiến trúc, và cô đã chấm được trường cô sẽ theo học rồi. Đối với một vài người khác, đó có thể là một trường cao đẳng cộng đồng, một chứng chỉ nghề hoặc một khóa đào tạo. Nhưng vấn đề là hơn 60 % công việc trong thập kỉ tới sẽ đòi hỏi nhiều hơn là bằng tốt nghiệp phổ thông – hơn 60 %. Đó chính là thế giới mà các cháu sắp bước chân vào.
Vì vậy, tôi muốn tất cả các cháu sẽ đặt ra mục tiêu cho mình là tiếp tục học tập sau khi đã ra trường. Và nều điều đó đối với các cháu có nghĩa là trường đại học, thì vào trường thôi cũng chưa đủ. Các cháu còn phải tốt nghiệp. Một trong những thử thách lớn nhất mà chúng ta gặp lúc này là có quá nhiều thanh niên ghi danh vào các trường đại học nhưng cuối cùng lại không tốt nghiệp và hệ quả là đất nước của chúng ta, đất nước đã từng có tỉ lệ những thanh niên có bằng đại học cao nhất thế giới, hiện tại đang tụt xuống vị trí thứ 16. Tôi không thích vị trí số 16. Tôi thích là số một. Nhưng thế cũng chưa đủ. Chúng ta phải làm sao để đảm bảo rằng thế hệ của các cháu sẽ đưa đất nước này trở lại vị trí đứng đầu về số lượng những người tốt nghiệp đại học, tính theo đầu người, so với bất kì nước nào khác trên trái đất này.
Nếu chúng ta làm được điều đó, các cháu sẽ có một tương lai tươi sáng hơn. Và nước Mĩ cũng vậy. Chúng ta có thể đảm bảo rằng những phát minh mới nhất và những đột phá mới nhất sẽ diễn ra ở đây, ở nước Mĩ này. Điều đó cũng có nghĩa là công việc tốt hơn, cuộc sống đầy đủ hơn và nhiều cơ hội hơn, không chỉ cho các cháu, mà còn cho con cháu của các cháu nữa.
Bởi vậy tôi không muốn ai đó đang nghe ở đây ngày hôm nay nghĩ rằng tốt nghiệp phổ thông là các cháu đã hoàn thành trách nhiệm rồi. Các cháu vẫn chưa hoàn thành. Trên thực tế, những điều đang diễn ra trong nền kinh tế ngày hôm nay đòi hỏi chúng ta phải học tập suốt đời. Các cháu phải tiếp tục nâng cao những kĩ năng và tìm ra những cách làm việc mới. Kể cả khi các cháu không vào được đại học, kể cả khi các cháu không được học bốn năm trong trường đại học, các cháu vẫn sẽ phải nỗ lực học tập sau khi rời trường phổ thông. Các cháu sẽ phải bắt đầu kì vọng những điều lớn lao từ chính bản thân ngay từ bây giờ.
Tôi biết rằng điều này có thể làm các cháu sợ. Một vài người trong số các cháu băn khoăn làm sao các cháu có thể trả nổi tiền học phí đại học, hoặc vẫn chưa biết các cháu muốn làm gì với chính cuộc đời của mình. Không sao hết. Không ai nghĩ rằng tại thời điểm này các cháu đã có kế hoạch cho toàn bộ cuộc đời mình. Và chúng tôi không nghĩ rằng các cháu phải làm việc đó một mình. Trước hết, các cháu có những ông bố bà mẹ tuyệt vời, họ là những người yêu thương các cháu vô cùng và muốn các cháu có nhiều cơ hội hơn họ – nhân tiện, điều đó có nghĩa là đừng khiến họ phiền lòng khi họ yêu cầu các cháu ngừng chơi game, tắt tivi và làm bài tập về nhà. Các cháu cần phải lắng nghe họ. Tôi nói điều này từ kinh nghiệm của chính mình, bởi vì đó cũng là những điều tôi thường nói với Malia và Sasha (hai cô con gái của tổng thống Obama -ND). Đừng nổi cáu vì điều đó, tất cả chúng tôi đều suy nghĩ về tương lai của các cháu.
Các cháu còn có đồng bào trên khắp đất nước này – trong có có tôi và Arne, cũng như mọi người ở mọi cấp của chính phủ – những người đang làm việc vì các cháu. Chúng tôi đang tiến hành từng bước trong khả năng của mình để bảo đảm rằng các cháu được hưởng một hệ thống giáo dục xứng đáng với tiềm năng của các cháu. Chúng tôi đang làm việc để bảo đảm rằng các cháu sẽ có những trường đại học hiện đại nhất với những phương tiện học tập tiên tiến nhất. Chúng tôi bảo đảm rằng các cháu có đủ sức thanh toán và có thể theo học được trong những trường cao đẳng và đại học trên đất nước này. Chúng tôi đang làm việc để có được những lớp học tốt nhất – giáo viên cũng tốt nhất, để họ có thể giúp các cháu chuẩn bị cho việc học ở đại học và một nghề nghiệp trong tương lai.
Nhân đây, xin được nói đôi điều về giáo viên. Ngày nay, giáo viên là những người phải lao động vất vả hơn bất kì ai. (Vỗ tay). Dù các cháu đi đến một trường học lớn hay nhỏ, dù các cháu theo học một trường công hay trường tư – thày, cô giáo của các cháu đều không có ngày nghỉ cuối tuần; họ thường dậy từ sáng sớm, suốt ngày phải lên lớp và tham gia các hoạt động ngoại khóa. Và sau đó, họ trở về nhà, ăn tối, rồi tiếp tục làm việc cho tới khuya, chấm bài cho các cháu, chữa cú pháp cho các cháu và kiểm tra xem các cháu đã tìm ra công thức đại số chính xác hay chưa.
Và họ không làm việc đó vì một chức vụ cao sang nào đó. Họ không, chắc chắn họ không làm việc đó vì đồng lương cao. Họ làm vì các cháu. Họ làm bởi vì không gì làm họ hài lòng hơn là nhìn thấy các cháu học tập. Họ sống vì những khoảnh khắc khi các cháu thành công; khi các cháu làm họ ngạc nhiên bằng trí tuệ hoặc bằng vốn từ vựng của mình, hoặc khi họ nhìn thấy con người tương lai của các cháu. Họ tự hào vì các cháu. Và họ nói, tôi đã từng làm việc để chàng trai hay cô gái tuyệt vời này có được thành công. Họ tin rằng các cháu sẽ trở thành những công dân và những nhà lãnh đạo sẽ dẫn dắt đất nước này đi tới tương lai. Họ biết rằng các cháu là tương lai của tất cả chúng ta. Vì vậy mà các thày cô giáo của các cháu đang truyền đạt cho các cháu tất cả những hiểu biết của họ, và họ không hề đơn độc.
Nhưng, tôi muốn nhấn mạnh điều này: Với tất cả những thách thức mà đất nước chúng ta đang gặp hiện nay, chúng tôi không chỉ cần các cháu cho tương lai, chúng tôi thực sự cần các cháu ngay lúc này. Nước Mĩ cần lòng đam mê và ý tưởng của tuổi trẻ. Chúng tôi cần lòng nhiệt tình của các cháu ngay từ bây giờ. Tôi biết là các cháu đáp ứng được vì tôi đã nhìn thấy nó. Không có gì làm tôi hứng thú hơn là biết rằng thanh niên trên khắp đất nước này đang tạo ra dấu ấn riêng của họ. Họ không chờ đợi. Họ đang tạo ra sự khác biệt ngay từ bây giờ.
Đó là những học sinh như Will Kim ở Fremont, California, người đã thành lập một tổ chức phi lợi nhuận để cung cấp những khoản vay cho sinh viên từ những trường dành cho học sinh nghèo, nhưng muốn khởi sự việc làm ăn riêng của mình. Hãy cùng suy nghĩ về điều này. Cậu ấy đã cho những học sinh khác vay. Cậu ấy đã xây dựng một tổ chức phi lợi nhuận. Cậu ấy kiếm tiền để làm công việc mà cậu ấy yêu thích – thông qua những giải đấu bóng ném và trò chơi cướp cờ. Cậu ấy là người sáng tạo. Cậu đã thực hiện một sáng kiến. Và bây giờ cậu ấy đang giúp đỡ những thanh niên khác để họ có thể theo học những gì họ cần.
Một thanh niên khác là Jake Bernstein, 17 tuổi, xuất thân trong một gia đình quân nhân ở St. Louis, đã cùng với chị gái tạo ra một trang web giúp thanh niên cơ hội phục vụ cộng đồng. Và họ đã tổ chức những hội chợ tình nguyện và thiết lập một sơ sở dữ liệu trực tuyến, giúp đỡ hàng ngàn gia đình tìm kiếm những cơ hội trở thành tình nguyện viên, từ việc sửa sang những con đường mòn cho tới việc phục vụ tại những bệnh viện địa phương.
Và năm ngoái tôi đã gặp một cô gái trẻ tên là Amy Chyao đến từ Richardson, Texas. Cô ấy 16 tuổi, cùng tuổi với một số cháu ở đây. Trong suốt mùa hè, tôi nghĩ vì có người trong gia đình cô ấy đã mắc bệnh nên cô đã quyết định sẽ quan tâm tới việc nghiên cứu về bệnh ung thư. Nhưng Amy Chyao lại chưa học hóa học nên cô ấy đã tự học môn này trong suốt mùa hè. Sau đó, cô đã áp dụng những điều đã học được và khám phá ra một quá trình mang tính đột phá là sử dụng ánh sáng để tiêu diệt các tế bào ung thư. Mười sáu tuổi. Không thể tin được. Một số bác sĩ và nhà nghiên cứu đã tiếp xúc với cô sấy, họ muốn làm việc cùng với cô để giúp cô khai thác khám phá này.
Điều này chứng tỏ rằng các cháu không cần phải chờ đợi, có thể tạo ra khác biệt ngay từ bây giờ. Nghĩa vụ đầu tiên của các cháu là học cho giỏi. Nghĩa vụ đầu tiên của các cháu là phải bảo đảm rằng các cháu đang chuẩn bị cho đại học và nghề nghiệp của chính các cháu. Nhưng các cháu có thể bắt đầu tạo ra dấu ấn của mình ngay từ bây giờ. Nhiều khi thanh niên lại có những ý tưởng hay hơn là những người có tuổi chúng tôi. Chúng tôi cần các cháu thể hiện những ý tưởng đó, cả bên trong lẫn bên ngoài lớp học.
Khi tôi gặp gỡ những thanh niên như các cháu, khi tôi ngồi nói chuyện với Donae, tôi không nghi ngờ gì rằng những ngày tốt đẹp nhất của nước Mĩ vẫn đang ở phía trước, vì tôi biết tiềm năng của các cháu. Chẳng bao lâu nữa các cháu sẽ trở thành những người đứng đầu các doanh nghiệp và các nhà lãnh đạo chính phủ của chúng ta. Các cháu sẽ trở thành những người đảm bảo rằng thế hệ tiếp theo sẽ nhận được những điều họ cần để thành công. Các cháu sẽ trở thành những người làm nên các trang sử mới. Và tất cả đều được bắt đầu ngay bây giờ – bắt đầu ngay trong năm nay.
Cho nên tôi muốn tất cả các cháu, những người đang nghe, cũng như tất cả những người đang có mặt ở Banneker, tôi muốn các cháu làm được nhiều việc nhất trong năm học mới này. Tôi muốn các cháu nghĩ về thời gian này như là khoảng thời gian mà trong đó cháu tiếp nhận thông tin và kĩ năng, các cháu thử nghiệm những điều mới mẻ, các cháu thực hành và ao ước – tất cả những điều mà các cháu sẽ cần để làm nên những điều vĩ đại sau khi các cháu ra trường.
Đất nước của các cháu phụ thuộc vào chính các cháu. Vì vậy hãy ngẩng cao đầu lên. Chúc các cháu có một năm học tuyệt vời. Xin cùng bắt tay làm việc.
Xin cảm ơn các cháu. Xin Chúa phù hộ cho các cháu, xin Chúa phù hộ cho nước Mĩ. (Vỗ tay).
Theo Blog Phạm Nguyên Trường
————————————————
Phụ lục 1.
Chủ tịch nước gửi thư chúc mừng nhân dịp khai giảng năm học mới (2011-2012)
Viettinnhanh – Nhân dịp khai giảng năm học mới 2011-2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã có thư gửi các thầy, cô giáo, cán bộ công nhân viên chức ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và học sinh, sinh viên cả nước. Toàn văn như sau:
“Các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên thân mến,
Nhân dịp khai giảng năm học mới 2011-2012 và ngày “Toàn dân đưa trẻ tới trường”, tôi thân ái gửi tới các thế hệ nhà giáo, cán bộ, công chức, viên chức, ngành giáo dục, các bậc phụ huynh và các em học sinh, sinh viên trong cả nước lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
Năm học 2010-2011, ngành giáo dục đã có nhiều cố gắng, tiến bộ. Quy mô và mạng lưới giáo dục tiếp tục được mở rộng; chất lượng giáo dục ở các cấp học được nâng lên; giáo dục đạo đức, pháp luật, lý tưởng sống cho học sinh, sinh viên được chú trọng; công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đạt kết quả tốt; cơ sở vật chất của nhà trường được tăng cường.
Tôi nhiệt liệt biểu dương sự nỗ lực cố gắng và những kết quả của ngành giáo dục, nhất là các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến, các thầy giáo, cô giáo tâm huyết, tận tụy với công việc, các em học sinh nghèo, ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo đã vượt khó vươn lên trong học tập.
Năm học 2011-2012, có ý nghĩa rất quan trọng, là năm học đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI.
Để thực hiện tốt sứ mệnh “nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam,” cùng với sự góp sức của toàn xã hội, ngành giáo dục cần đổi mới căn bản, toàn diện, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục; đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp, bậc học; đẩy mạnh thi đua “dạy tốt, học tốt;” nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lịch sử, đạo đức lối sống, ý thức trách nhiệm xã hội, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường với gia đình và xã hội; huy động các nguồn lực tăng cường đầu tư phát triển giáo dục, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với học sinh sinh viên giỏi, nghèo, khuyết tật, con em gia đình có công với cách mạng, dân tộc thiểu số, giáo viên công tác ở vùng khó khăn.
Tôi mong muốn và tin tưởng các em học sinh, sinh viên phát huy truyền thống hiếu học của dân tộc ta, nỗ lực phấn đấu vươn lên, rèn luyện tốt, đạt nhiều thành tích cao trong học tập, nghiên cứu khoa học.
Tôi đề nghị các cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức, đoàn thể và toàn xã hội tiếp tục quan tâm, chăm lo nhiều hơn nữa cho sự nghiệp “trồng người,” tạo mọi điều kiện thuận lợi để con em chúng ta được học tập, rèn luyện đạt kết quả tốt.
Chúc các thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục và toàn thể các em học sinh, sinh viên đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong năm học mới. Chúc sự nghiệp giáo dục ngày càng phát triển, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thân ái”.
Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Trương Tấn Sang

Bộ trưởng khác không nên học anh Thăng

Bộ trưởng Đinh La Thăng đi thăm công trình xây dựng
Xem báo vi en ếch phét thấy đưa tin: anh Thăng bộ trưởng giao thông trong lần thăm dự án cảng hàng không Đà nẵng vừa rồi đã “cách chức tại chỗ ” chỉ huy trưởng dự án!
Về khía cạnh chuyên môn thì mình xin tham gia vài điều bởi mình đã có kinh nghiệm trên dưới hai chục năm làm dự án, chỉ huy trưởng cũng ngót chục năm. Việc anh Thăng trước khi ra quyết định om tỏi như báo đã đăng thế kia liệu sau khi quay về Hà nội thì anh có nghĩ lại hay không?
Trước khi anh “trảm” tướng tại trận, chả biết anh đã đọc các hợp đồng ký tá giữa các bên hay chưa, điều khoản nào cho phép đích danh anh cách chức chỉ huy trưởng, khoản nào cho phép anh yêu cầu điều cán bộ có kinh nghiệm từ dự án sân bay Cần thơ hay gì đó nữa tập trung ra Đà nẵng …? khi các dự án sân bay này khởi công thì anh Thăng đang làm gì, ai đang điều hành ở vị trí anh Thăng lúc ấy?
Mình làm dự án xây dựng lâu năm nên biết: đa số các nhà thầu xây dựng Việt Nam thời trước 2007 chỉ ký hợp đồng xây lắp theo kiểu …Việt Nam, tức là không theo mẫu Quốc tế, chỉ vài trang giấy cho cả gói thầu hàng vài trăm thậm chí vài ngàn tỷ. Các điều khoản chi tiết để xử lý khi xảy ra các vấn đề tương tự như chậm, chất lượng kém, biện pháp không đúng như đã duyệt, công nhân không có bảo hộ, chưa học an toàn, chỉ huy trưởng chưa đủ các điều kiện như qui định của ND 16, thông tư 12 -Luật xây dựng - hướng dẫn về quản lý dự án nói chung, quản lý chất lượng nói riêng.
Việc chậm tiến độ chưa biết là do ai gây ra, nếu đúng là phía Construcxim thì đương nhiên phải có các văn bản xác nhận của các bên: nhà thầu, ban quản lý, tư vấn, sau đó phải căn cứ vào các điều khoản ghi trong hợp đồng kinh tế để xử lý. Thưởng phạt đều theo hợp đồng cả, ngay cả ai là người có quyền chém gió chém bão trong cuộc họp cũng đều phải qui định trong hợp đồng đã.
Chưa biết sự thể thế nào nhưng thấy chỉ huy trưởng của dự án bị trảm ngay tại trận thì mình thấy cần có sự đồng cảm với cá nhân anh nào làm chỉ huy trưởng kia. Dù sao cũng là anh em trong nghề nên hiểu: ở Việt Nam chả có cái dự án nào liên quan đến vốn nhà nước mà đúng tiến độ. Ai biết công trình nào thì xin cho biết để học hỏi.
Thế nên việc anh Thăng làm theo mình chỉ gây ra tác dụng ngược về cách PR hình ảnh. Nếu anh Thăng vẫn cho việc anh ta trong lúc đó do đang bực bội việc gia đình, đang bị bà con chém gió trên mạng chê vì anh định tư vấn cấm xe máy, cấm này cấm nọ, đòi được trao gươm ra trận…vv nên giận cá chém thớt ? theo mình rất không nên.
Người có năng lực thực sự không cần PR theo cách đó, ví dụ khi anh đi thăm dự án xong, yêu cầu các bên liên quan gửi văn bản chính thức của cuộc họp giữa các bên tại dự án, nêu rõ nội dung chậm tiến độ, công nhân thiếu bảo hộ, chất lượng, khối lượng hoàn thành không đạt như hợp đồng …vv và có ký xác nhận của các bên. Sau đó trưởng ban quản lý có văn bản đối chiếu với hợp đồng để xem xét các điều khoản nào áp cho việc xử lý chậm nếu do nhà thầu gây ra để gửi cho anh Thăng. Nếu nhà thầu không có biên bản giải trình việc chậm tiến độ, các nguyên nhân gây chậm quả thực do nhà thầu thì khi ấy anh Thăng mới xem xét và ra quyết định. Chưa nói là anh Thăng có thẩm quyền ra quyết định hay không?
Tóm lại việc chém gió chém bão như vậy của anh Thăng theo mình là hơi ẩu, thiếu kiềm chế tình cảm, thiếu kinh nghiệm trong lĩnh vực quản lý dự án và chỉ thể hiện cái oai của cái ghế mới nhận. Nó khẳng định thêm việc ở Việt Nam cái kiểu: “mày biết tao là ai không” vẫn đang ngày càng nở hoa trăm miền.
Nếu anh Thăng làm thế thì liệu các anh khác có học theo hay không?
Chỉ việc làm thế nào để Hà nội khỏi tắc đường mà bao đời bộ trưởng cũng chỉ loanh quanh cấm xe máy, hạn chế ô tô, cho đi xe biển chẵn lẻ, phân làn, ngăn ngã tư, chặn chỗ rẽ, nhấc đèn xanh đỏ chỗ này ra chỗ kia…vv cứ như thày bói dọn cưới.
Đơn giản ai cũng hiểu là để hết tắc đường chỉ có mỗi cách là : dân không đi nữa. Dân không đi có nghĩa là dân vẫn đi ở nơi khác, dân đi ở nơi khác có nghĩa là dân làm ăn ở nơi khác, dân học hành và chữa bệnh ở nơi khác, mua sắm ở nơi khác và tóm lại là dân sống ở nơi khác chứ không phải là chỉ ở nội thành. Xử lý mỗi vẫn đề gì thì cũng cần phải tỉnh táo, với cái đầu lạnh, không phải cứ nóng lên là được đâu, bác Trọng đã bảo rồi.
Hai vấn đề dân số và tranh chấp giao thông nó có liên quan rất biện chứng với nhau, lý luận thế nào cũng sẽ quay về thực tế, thực tế là nếu các anh vẫn cho xây nhà chung cư nêm vào phố, vẫn để các trường đại học và bệnh viện trong phố như hiện nay thì đố cả bảy đời nhà anh nào sống lại làm sao cho hết tắc đường.
Còn chuyện trảm chỉ huy trưởng dự án ngay trong lúc thăm dự án thì không nên tái diễn nữa bởi vì sao thì các anh hãy học và làm theo lời của bác Sinh Hùng nói trước Quốc hội. Trảm hết thì lấy ai làm?
PS: Anh Thăng cũng là người đề xuất việc “Tịch thu xe đua, mang tiêu hủy” ! tuy nhiên chưa được chấp thuận. Chắc phải cho anh Thăng bơi cùng các em qua suối sâu thì việc có cây cầu treo hay cầu khỉ chỉ bằng tiền một cái xe đua nó giá trị ra sao.
Nếu anh Thăng thích người nói thẳng để làm việc thì nên gọi anh Tạch kỹ sư ô tô về làm cho bộ mảng công nghiệp ô tô, gọi tôi về làm cho mảng quản lý đầu tư xây dựng. Tôi làm thẳng lắm, thằng nào làm ăn léng phéng hay tham nhũng, chạy dự án kiểu tượng đài là tôi trảm liền.
Theo Blog Lê Dũng

Đôi điều về văn hóa quan chức
Tôi thường có thói quen điểm báo vào buổi sáng. Lúc vội thì 15, 20 phút, đủng đỉnh có khi cả giờ. Thói quen đó thường được bắt đầu bằng mấy trang web hải ngoại và kết thúc sau khi điểm qua vài trang mạng trong nước.
Không ít lần, thói quen đó đã đem lại cho tôi rặt sự bực mình. Cảm giác bực bội đó bám riết lấy suốt cả ngày làm hỏng lây sang những công việc khác. Bữa “điểm tâm” hôm đầu năm mới 2/1/2010 là một ví dụ.
Lướt qua vài trang mạng, tôi dừng lại ở Dân Trí và đọc bài báo có cái tít khá lạ: “Một Phó Chủ tịch huyện bị tố hành hung người già”.
Bản tin khoảng 300 chữ kể lại câu chuyện một bà già cùng 2 cháu nhỏ tới một khu chơi đu quay dành cho trẻ em nhưng bà không thể mua vé vì trên tay phải bồng 2 đứa cháu. Khi thấy một người đàn ông bước tới, bà liền nhờ người này mua vé giúp. Không ngờ ông này quát lại: “Bà có biết tôi là ai không?”. Sau đó ông ta còn dùng nhiều lời lẽ thiếu văn hóa xúc phạm bà. Khi bà phản ứng lại thì bị tung ngay một cú đấm vào mặt. Lời qua tiếng lại, người dân xung quanh mới biết, thì ra ông đây là phó chủ tịch huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
Bà Chiến – tên người đàn bà mà tờ báo mô tả là đáng tuổi mẹ ông phó chủ tịch – phải tới bệnh viện đa khoa gần đó chữa trị vết thương do ông phó chủ tịch nọ gây ra.
Nhớ lại một lần ra nước ngoài du lịch, khi tôi còn đang loay hoay với con nhỏ và 2 cái vali, một người nước ngoài đã nhanh tay đẩy giúp xe hành lý. Khi xếp hàng để làm thủ tục ở sân bay hay ở các điểm tham quan đông người, tôi và con nhỏ đều được ưu tiên trước dù không yêu cầu. Cháu bé con tôi đánh rơi món đồ chơi, chưa kịp nhặt lên, người đi bên cạnh đã nhặt giúp. Có lẽ nào, như nhiều người vẫn hay nói khi không thể giải thích được rằng: “cái nước mình nó thế”! Điều đáng buồn là những hành động côn đồ, mất dậy đó không chỉ do đám lưu manh gây ra mà còn từ những quan chức nhà nước.
Không biết từ khi nào, trong ngôn ngữ Việt hình thành từ “quan chức”. Có lẽ chưa quá lâu, mới chừng đôi mươi năm trở lại đây thôi. Và cũng không biết từ bao giờ, những người khi cách mạng mới thành công còn xưng là “đầy tớ của dân” lại trở thành một đám người hống hách, thô bạo và vô văn hóa như thế.
Ở Việt Nam hiện có cả một tầng lớp quan chức. Người ta thường nghe tới nhiều loại văn hóa như “văn hóa học đường”, “văn hóa ứng xử”, “văn hóa giao thông”, “văn hóa công sở”, “văn hóa công nhân”, “văn hóa công chức”.v.v. nhưng chưa thấy ai (dám) bàn tới văn hóa của tầng lớp quan chức này. Mà xem ra, văn hóa của họ mới đáng bị đem ra mổ xẻ hơn cả.
Mới cách đây ít hôm, một số tờ báo đưa tin về một bà chủ tịch hội Liên hiệp Phụ nữ xã đã “sáng kiến” dùng ngón chân để hướng dẫn thủ tục cho người dân khi họ tới xin vay vốn xóa đói giảm nghèo. Khi người dân phản đối thái độ hách dịch đó thì bà ta đã ném tung hồ sơ của họ xuống đất để họ phải tự nhặt lên!
Trong năm qua, những vụ như chủ tịch phường dùng báo đập vào mặt dân hay mày tao với dân, đánh dân ngay tại cơ quan “tiếp dân” không phải là hiếm, nó diễn ra từ Bắc tới Nam, từ thủ đô tới những vùng hẻo lánh.
Có vụ kì quặc như ông Bí thư Chủ tịch Hội đồng nhân dân thị trấn Hoài Đức (Hà Nội) đấm thẳng vào mặt dân chỉ vì bị gọi là “anh”. Theo ông chủ tịch này thì “mày láo, tao là anh bố mày chứ anh gì mày”?
Ông Thể – nạn nhân – sau đó phải tới bệnh viện với một mắt xưng húp còn ngài Chủ tịch nọ thì thanh minh với báo chí rằng “Tôi chỉ tát thôi chứ không đấm…”!?
Nhưng nhiều nhất, tệ hại nhất phải kể tới các vụ công an đánh dân với đủ các lý do. Riêng chuyện bị đánh vì tham gia giao thông mà không đội mũ bảo hiểm có thể kể ra đây hàng chục trường hợp như sinh viên Tùng ở Thanh Hóa, anh Huỳnh Thanh Liêm ở Bạc Liêu, Nguyễn Thế Phương 16 tuổi bị rượt đuổi và đánh chết vì quên mũ bảo hiểm trong khi 2 người khác đi cùng xe máy với em bị thương nặng.v.v. Hay kì lạ hơn nữa, có người bị công an đánh chỉ vì có bộ râu đẹp!? Nhưng nghiêm trọng hơn cả là khá nhiều vụ công an đánh trẻ em như ở Cần Thơ vì nghi các em chơi bài ăn tiền, hay 3 em nhỏ ở Đồng Nai bị công an đánh tới ngất xỉu…
Chỉ cần tìm từ khóa “chết tại trụ sở công an” trên Google, bạn đọc sẽ thấy vô số các thông tin liên quan tới việc công an “lỡ tay” gây chết người, hoặc họ chết vì lý do nào đó, chỉ có trời mới biết ở trụ sở công an phường nơi họ bị gọi tới thẩm vấn hay bị tạm giữ qua đêm.v.v.
Trong những năm gần đây, báo chí nói nhiều tới sự suy đồi đạo đức của giới trẻ, việc sử dụng bạo lực giải quyết mâu thuẫn ở trường học cũng như ngoài xã hội. Thử hỏi khi những người có chức có quyền, những người nhân danh nhân dân, bảo vệ nhân dân mà hành xử như vậy thì trách sao được lớp trẻ?
Có lẽ cũng ý thức được sự xuống cấp của đạo đức xã hội mà trong mấy năm gần đây đảng và nhà nước Việt nam đã phát động một phong trào học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh rầm rộ trong mọi tầng lớp nhân dân, ở các địa phương từ Bắc tới Nam. Những cuộc thi vẽ, viết, kể chuyện, những luận văn, luận án về đề tài này nở rộ khắp nơi. Sau khi đọc xong bản tin nọ và tra cứu thêm các vụ quan chức dùng bạo lực với dân, đầu óc tôi cứ “lăn tăn” mấy câu hỏi: Không biết mấy quan chức này có được học tập đạo dức Hồ Chí Minh không mà cư xử với dân như đám lưu manh vậy? Tại sao ở các nước, người ta không có đảng quang vinh, không có bác Hồ vĩ đại người ta văn minh thế, cư xử với nhau nhân ái thế?
Câu trả lời xin dành cho bạn đọc nhất là những bạn đang sinh sống ở nước ngoài hẳn các bạn có nhiều kinh nghiệm hơn vì có cơ hội tiếp xúc, cọ xát với nhiều nền văn hóa khác nhau.
© Đàn Chim Việt Online
Người Quân Tử
Theo quan niệm Nho giáo của người Trung Hoa – được du nhập vào Việt Nam dưới thời phong kiến xa xưa: Người Quân Tử – có thể hiểu một cách đơn giản nhất: Là con người ngay thẳng, luôn hành động theo lẽ phải, không ích kỉ vụ lợi , quang minh chính đại, thể hiện đầy đủ các đức tính trong ngũ thường: Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín.
Người Quân Tử được chế độ phong kiến xem là đứng trên ’’quan cao, chức trong’’, họ coi các đối tượng bên dưới là Tiểu Nhân – Kẻ (thấp kém về mọi mặt) – so với họ. NQT, còn có phẩm chất cao quý:
’Giầu sang không thể lung lạc,
Gian khó không thể chuyển lay,
Uy vũ không thể khuất phục’’!
Đối nghịch với Quân Tử là Tiểu Nhân (TN)!
Khi kẻ TN tha hóa đến tột cùng sẽ biến thành ’’Tiểu Nhân bỉ ổi’’(TNBÔ) – là kẻ xấu xa, đê tiện , gây cho bạn bè, đồng đạo, người lương thiện và xã hội – tai họa khôn lường.Đặc điểm nổi bật của TNBÔ: Hành động nhằm thoả mãn ham muốn tột độ của cá nhân mình, bất chấp thiệt hại do hắn gây ra cho người xung quanh và xã hội , bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được ham muốn, ich kỉ của hắn. Nếu sự ham muốn có phạm vi rộng lớn, nghiêm trọng, kẻ TNBÔ cũng sẽ biến thành Đại Ma Đầu! (cặp nhân vật này sẽ được khảo sát ở bài viết khác).
Nằm giữa Quân Tử và Tiểu Nhân là Ngụy Quân Tử.
Ngụy là – ngụy tạo ra cái mà đối tượng không có để lừa bịp thiên hạ bằng cách lấy cái ’’đẹp đẽ’’ che bên ngoài, đậy cái ’’xấu xa’’ nằm bên trong, khiến mọi người mới nhìn thấy, tiếp cận,– lầm tưởng kẻ Tiểu Nhân Bỉ Ổi là Người Quân Tử!
Loại người này chính là NGỤY QUÂN TỬ!
Khi Ngụy Quân Tử tha hóa , ích kỉ , tàn ác, (có thể do bệnh thần kinh hoặc chứng cuồng vĩ) … hắn có sự ’’bứt phá’’ từ trong đầu, trong tim – sẽ trở thành Đại Ma Đầu!
Trong các tác phẩm của nhà văn Kim Dung, hầu như bộ sách nào, ông cũng xây dựng, khắc hoạ ít nhất một nhân vật NQT . Thế nhưng, Ngụy Quân Tử Nhạc Bất Quần trong tiểu thuyết Tiếu ngạo giang hồ có thể xem là ’’cụ tổ’’ của các NQT khác.
Quân tử kiếm NBQ là chưởng môn phái Hoa Sơn. Gã có bộ mặt đạo mạo, phương phi, phong thái chững chạc. Khoản ăn nói diễn thuyết NBQ đạt đến cảnh giới tột cùng của sự thuyết phục đối tượng bằng ngôn từ. Khi rao giảng đạo đức, luân lí cho các đệ tử, giọng nói lúc âm nhu, khi hùng hồn, bi tráng, đanh thép . Học trò nghe như nuốt lấy từng lời…
Cần tranh thủ võ lâm đồng đạo, NBQ nắm vững các yếu điểm của từng đối tượng, xoáy sâu vào đó: Thuyết phục, lôi kéo, vỗ về, tâng bốc, nhử mồi, đe dọa hoặc lúc cần thì thẳng tay trấn áp… người tiếp xúc bị cái uy bề ngoài, cái thế tiềm ẩn thể hiện qua giọng nói ma quái lúc diễn đạt ý đồ, các đối tượng cả tin, yếu bóng vía nhanh chóng bị thu phục.
Khi thấy mối lợi có thể chiếm đoạt – (bắu vật bí kíp Tịch tà kiếm phổ – Qùy hoa bảo điển), NBQ không từ thủ đoạn bỉ ổi nào, tìm cách đoạt lấy ’’’ăn tươi, nuốt sống’’, nhưng lại che đậy rất kĩ khiến bên ngoài cứ tưởng gã là chính nhân quân tử . Điển hình của bi kịch lừa bịp này là sự đấu trí, đấu lực giữa NBQ và Tả Lãnh Thiền – chưởng môn phái Tung Sơn, đương kim minh chủ võ lậm – người ’’có chí của kẻ thất phu, cái tâm của kẻ tiểu nhân’’. Do hợm mình, hoa mắt trước danh xưng hão huyền ’’Thiên hạ vô địch’’, cho tay sai Nao Đức Nặc làm gián điệp, đoạt được kiếm phổ Tịch tà, nhưng là đồ ‚’’rởm’’ do NBQ gài bẫy, TLT không biết bị lừa , NBQ dùng Tịch tà kiếm phổ ’’thật’’ cướp được của học trò – đâm mù mắt TLT rồi cho nổ tan xác trong hang. Đến nỗi lúc nửa sống nửa chết, khi sắp tan xác, Tả Lãnh Thiền mới biết vì sao mình chết?!
Để đạt được mục đích, NBQ bất chấp thủ đoạn: Lừa bạn bè, đồng đạo võ lâm, ăn cướp, ăn cắp bắu vật của đệ tử này (Lâm Bỉnh Chi) rồi vu vạ cho đệ tử kia (Lệnh Hồ Xung) . Tệ hại hơn: Lưà dối người vợ yêu , đứa con gái thương lúc nào họ cũng coi gã như thánh thần.
Ngụy Quân Tử Nhạc Bất Quần tác yêu tác quái trên võ lâm… Cuối cùng ’Tà không thể thắng chính’’, gã Đại Ma Đầu đã phải lãnh nhận sự trừng phạt: Cơ đồ do sư phụ giao cho xụp đổ , gia đình đang hạnh phúc giờ tan nát, vợ và con gái đều chết thảm thương, võ lâm đồng đạo phỉ nhổ… Bịp danh Quân Tử Kiếm phải đền tội dưới tay của một ni cô võ nghệ bình thường – nhưng chân truyền – dưới sự dẫn dắt của chưởng môn Lệnh Hồ Xung – người học trò yêu của gã khi xưa!
Ngụy Quân Tử Tầu – NBQ – có thể xem là nhân vât Ngụy Quân Tử lớn nhất mọi thời đại. Y là điển hình xấu xa trong việc đội lốt danh xưng Người Quân Tử. Hậu duệ của Y sinh sôi nẩy nở, phát triển ngày một đông, từ đời này sang đời khác trên chính ngay đất nước đã sản sinh ra y. Điều rất nguy hiẻm: Hình bóng Quân Tử Kiếm Nhạc Bất Quần đang hiện diẹn, lởn vởn trong bộ máy chóp bu của giới lãnh đạo không chỉ ở đất nước sinh ra gã…. Với lối hành xử y trang NBQ trong tiểu thuyết của Kim tiên sinh, ’’Nhạc Bất Quần thời hiện đại’’ còn nâng nghệ thuật lừa dảo lên cao hơn tổ sư một bậc: Lừa dối dư luận, đe doạ bạn bè ’’đồng đạo’’, cướp của, giết người, tống tiền, cướp địa bàn (đất), biển đảo (…) của anh em, trong khi vẫn xoen xoét với ngôn từ mĩ miều đầy hình tưuợng để tung hoả mù. Nào là:’’… Quan hệ hai bên như anh em một nhà, như môi với răng, môi hở răng lạnh’’ . Nào là: ’’Huynh đệ như thủ túc’’. Nhưng ’’thằng em dại’’ chưa kịp định thần đã được ông anh cho biến thành ’’Huynh đệ như y phục’’ (1) thậm chí ’’đại huynh’’ chỉ chầu hẫu, chờ ’’thằng em dại’’ hở ra… là: Cắn – Ngoạm – Đợp ngay!
Điều nguy hại khác: Các ’’Chưởng môn nhân – đồng đạo’’ không hề nhận ra mà cảnh gíac, lại, bắt – cưỡng bức – các đệ tử cùng biến thành mù mở, quáng gà – đi theo , tôn sùng’’võ lâm minh chủ’’.
Ngụy Quân Tử Nhạc Bất Quần của Trung Hoa nhanh chóng du nhập vào Việt Nam ta. Điều kì lạ: Bản sao nhân vật này ở ta ’’được nhân giống’’ hơi… bị… nhanh – nhiều! Tuy hình tượng Ngụy Quân Tử NBQ ở VN có chút biến tướng cho phù hợp với’’điều kiện của Việt Nam’’, nhưng vẫn mang đầy đủ bản chất NQT quốc tế: Nói và làm không đi đôi với nhau. Nói một đằng, làm một nẻo. Nói nhiều, làm ít thậm chí không làm, có ít xít ra nhiều. Khi cần bảo vệ hình tượng của mình trước đồng đạo , ’’NBQ Việt Nam’’ cũng xuống tay với đối tương không e dè, ngần ngại, kiêng nể…
Điều quan trọng nhất, bao trùm lên tất cả: Bản chất của đám NQT này là :Lừa dối tất cả đẻ đoạt lợi . Nếu có thể ’’ăn’’ được là tìm mọi cách chiếm hoặc bày mưu tính kế cùng nhau thực hiện ăn theo – ăn chia, bất chấp kỉ cương, phép nước, đạo lí , đạo nghĩa. Nếu kể ra không thể xiết. Chỉ xin đưa 2 thí dụ điển hình được nhân dân, trí thức, văn nghệ sĩ tổng kết, góp phần chứng minh:
Thứ nhất:
Nhân dân ta đã chú ý đến giai tầng Ngụy Quân Tử, xếp họ vào loại người Trung Gian – nghĩa là : Cái vỏ ’’Trung’’ nhưng cái ruột lại là ’’Gian’’. Chúng đứng giữa , làm gạch nối’’Vua, quan’’ với ’’Nhân dân’’. Nhận định này được giới trí thức văn nghệ sĩ phản ảnh thông qua các tác phẩm văn nghệ: Truyện Người không đi cùng chuyến tầu của nhà văn Nguyễn Quang Thân (được Tổng biên tập Nguyên Ngọc cho in trên báo Văn Nghệ), Hà Nội trong mắt ai và Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn Thủy… Đặc biệt nhân dân tổng kết bằng 4 câu thơ , trở thành ca dao mới , lan truyền rộng rãi trong dân gian – một thời:
Tôn Đản là chợ vua quan (2)
Nhà Thờ – chợ của trung gian nịnh thần
Đồng Xuân – chợ của thương nhân
Vỉa hè – chợ của nhân dân anh hùng!
4 câu ca dao này đã làm đề tài để đạo diễn Trần Văn Thủy sáng tạo ra tác phẩm Điện ảnh Hà Nội trong mắt ai và Chuyện tử tế, làm chói sáng lịch sử Điện ảnh Việt Nam đương đai… (3)
Thứ 2: Hồi những năm cuối 70 của thế kỉ trước. Một tết năm kia (khoảng đầu những năm 1980)… Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội số xuân, ở trang cuối có bức tranh đố vui của Hoạ sĩ Bùi Phan Hồng. Bức tranh chia làm 3 cảnh:
Cảnh một: Tác giả vẽ hình chiếc đầu rồng trông dữ tơn. Hai mắt lồi ra, há miệng, nước từ bên dưới (mặt biển) bốc lên chui hết vào cái miệng rộng đầy răng nanh tông gớm ghiếc…
Cảnh thứ hai: Vẽ chiếc cột đình, trên đó con rồng quấn quanh từng khúc – đầu rồng bị mái nhà che khuất một đoạn (dường như con rồng đang leo lên trên xà nhà).
Cảnh thứ ba: Vẽ hình con mèo, đang cong người, há mồm khạc ra những tia nước bọt cùng đầu cá, xương cá – chất đống dưới đất!
Bên dười bức vẽ Họa Sĩ viết:
Bức tranh minh họa cho một câu tục ngữ của dân ta, đố các bạn biết đây là câu tục ngữ gì?
Người đọc, người xem tranh suy nghĩ một chút rồi phá lên cười, cười sảng khoái, đoạn gật gù: Hay, hay…Đúng, đúng quá… ha… ha… ha – rồi ai nấy đều đọc vanh vách:
Ăn như Rồng cuốn
Nói như Rồng leo
Làm như Mèo mửa!
Thiết nghĩ : Gía trị của tác phẩm hội họa kia đến nay – sau hơn 30 năm – vẫn còn tươi rói, chưa mất tính thời sự…
Viết đến đây, tự dưng trong lòng tôi vang lên lời bài hát của Liên Xô (cũ) với lời phỏng dịch của một nhạc sĩ nào đó mà tôi không nhớ tên:
’’… Giờ nay anh về đâu, hỡi người bạn cũ cùng binh đoàn, đã dấn bước cùng ta trên đường chinh chiến…’’
Vâng, giờ này Họa sĩ Bùi Phan Hồng đang ở đâu? Vì từ sau sự kiện ’’Rồng – Mào’’ kia, độc giả Việt Nam hầu như không còn được thưởng thức tranh vui của Ông nữa!
30.4.2010
© Nhiếp Vĩnh Trang
© Đàn Chim Việt
TT Nguyễn Tấn Dũng hứa nhưng thất hứa, không nghe, không biết, và cũng không từ chức
(Bức tâm thư gửi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và 14 vị Bộ Chính trị đứng đầu là Tổng bí thư Nông Đức Mạnh và Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng)
1. Lời hứa “kiên quyết và quyết liệt” nhưng lại… không thực hiện
Tháng 10/2006, ông Nguyễn Tấn Dũng nhậm chức Thủ tưởng thay ông Phan Văn Khải về hưu, tuyên bố: “Tôi kiên quyết và quyết liệt chống tham nhũng. Nếu tôi không chống được tham nhũng, tôi xin từ chức ngay”.
Gần 5 năm nay, nạn tham nhũng chẳng những không chống được mà ngày càng phát triển, từ các cơ quan Trung ương xuống tận xã, phường, thôn ấp. Điển hình theo Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa mới kết luận, tạm xử lý 45 trường hợp nổi cộm khắp toàn quốc khiến dư luận xã hội rất bất bình. Tôi thử thống kê theo thông báo này thì thấy có 12 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, 4 Tập đoàn công ty trực thuộc Chính phủ quản lý, đối tượng toàn là Bí thư, Phó bí thư, Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự, Chủ tịch, Phó chủ tịch UBND tỉnh, lãnh đạo Tập đoàn từ Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT, Tổng và Phó tổng giám đốc. Đây là những vụ việc động trời có nguy cơ làm mất hết uy tín của Đảng và Nhà nước ta. Thật khiến cho những đảng viên suốt đời đi theo Đảng như tôi nhỏ máu trong tim.
Riêng trường hợp chưa từng xảy ra trong Đảng và Nhà nước từ khi thành lập Đảng và chính quyền đến nay (65 năm) là việc ông Phó bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang suốt mấy năm liên tục xâm hại tình dục các em bé học sinh đáng bậc con, cháu của mình, là hành động dã man thua cả loài cầm thú, lại còn tổ chức dâm dục tập thể, mơn trớn cười đùa trên thân xác của trẻ thơ, chụp ảnh toàn thân lõa lồ đủ mọi động tác. Ông Bí thư Tỉnh ủy và Giám đốc Sở Công an tỉnh Hà Giang đã nhận nhiều đơn tố cáo, phản ánh nhưng cũng đồng tình để cho ông Chủ tịch cứ liên tục tung hoành. Thế mà thật lạ, UBKTTW chỉ đề nghị cách các chức vụ trong Đảng và chính quyền của ông ta thôi. Tại sao không khai trừ tên đó ra khỏi Đảng ngay? Tại sao không bỏ tù nó ngay đi (Vi phạm luật hình sự hiếp dâm trẻ chưa đến tuổi vị thành niên kia mà?). Tình trạng ở thôn xã thì từ Bí thư, Chủ tịch, cán bộ xã và thôn lấy tiền hỗ trợ của Nhà nước cho người nghèo chia nhau ăn nhậu hầu như sờ đâu cũng thấy trong khi dân chúng khắp nơi khốn quẫn, kiếm cái ăn không ra.
Những bằng chứng như thế rõ ràng khẳng định ông Nguyễn Tấn Dũng đã không hoàn thành nhiệm vụ trong suốt 5 năm qua. Ông Dũng và toàn bộ 14 Ủy viên Bộ Chính trị khác đã hoàn toàn không chống được tham nhũng. Vậy tại sao ông Nguyễn Tấn Dũng không tự nguyện làm đơn xin từ chức ngay như lời ông đã đoan quyết trước dân?
Ông Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng Chính phủ của một chế độ cộng sản tốt đẹp nhất nhưng lại thua xa ông Thủ tướng Nhật Bản: khi ra ứng cử Thủ tướng ông này đã hứa với nhân dân Nhật rằng mình sẽ dời bằng được căn cứ của Mỹ đi khỏi Okinawa. Sau 8 tháng lên làm Thủ tướng thấy không có cách gì thực hiện được lời hứa đó vì những lý do khách quan là tàu hải quân Trung Quốc tăng cường đe dọa an ninh vùng biển Nhật Bản, ông liền tuyên bố với nhân dân, Quốc hội, Nhật hoàng kiên quyết xin từ chức. Và ông từ chức thật. Nhật Bản là chế độ quân chủ lập hiến mà sao họ tự giác cao đến như thế? Còn ông Nguyễn Tấn Dũng, đường đường một vị Thủ tướng của nước Việt Nam cộng hòa xã hội chủ nghĩa lại thất hứa với nhân dân, mà thất hứa về một nhiệm vụ hết sức lớn lao quyết định tồn vong của Tổ quốc, của dân tộc và của Đảng ta, đó là “Quốc nạn tham nhũng”, thế thì phải tính thế nào đây?
Xin nêu một ví dụ thứ hai, Thủ tướng Hàn Quốc cách đây mấy ngày cũng đã tuyên bố từ chức vì một đề án quan trọng do bản thân Thủ tướng và Chính phủ Hàn quốc đưa ra Quốc hội, kết quả bị Quốc hội bác bỏ. Liên hệ đến nước ta, ông Nguyễn Tấn Dũng là Thủ tướng đã cùng toàn thể Chính phủ của ông kiên quyết đưa ra Quốc hội để gần như bắt buộc thông qua dự án tầm cỡ quốc gia về xây dựng “Đường sắt cao tốc Bắc Nam”. Nhưng 493 đại biểu trong đó có 92% là đảng viên cộng sản đã thấy rõ sự cần thiết phải phát huy quyền dân chủ thực sự của mình, không muốn nằm mãi trong “vòng kim cô” của Bộ Chính trị và Chính phủ của ông Nguyễn Tấn Dũng như trước đây nữa, nên cuối cùng đã bác bỏ dự án hết sức phiêu lưu và nguy hiểm cho tương lai của dân tộc này.
65 năm kể từ khi Đảng ta và Bác Hồ tổ chức bầu cử, tổ chức ra Quốc hội và Quốc hội chính thức bầu Chính phủ cho đến nay đã qua 12 kỳ Quốc hội, đây là lần đầu tiên đa số ĐBQH không thông qua một đại chủ trương mà cả bộ máy Chính phủ từ ông Thủ tướng đến ông Phó thủ tướng, cho đến ông Bộ trưởng chuyên trách ông nào cũng hăm hở muốn làm bằng được, chứng tỏ một cái nhìn vô cùng sáng suốt, tất cả đều vì lợi ích thiết thực của nhân dân, không muốn đất nước gánh lấy một khoản nợ khổng lồ 56 tỷ đô la Mỹ (mà khi thực hiện chắc chắn còn tăng lên gấp đôi là ít) chỉ để cho một tầng lớp giàu có ngao du bằng tàu cao tốc, trong khi cuộc sống tối thiểu thì đại đa số nhân dân trên khắp mọi miền chưa biết bao giờ mới đạt được: nào những chuyện ăn, mặc nông thôn nhìn đâu cũng đầy những người không có đất để cày, lang thang ra thành phố kiếm cơm không có; chuyện ốm đau 5, 6 người chen chúc trên một giường bệnh bẩn thỉu hôi hám; chuyện học hành ở ngay Hà Nội mà phụ huynh phải sắp hàng suốt đêm vẫn không kiếm ra chỗ cho con mình vào trường mầm non, miền núi thì các em học sinh suốt năm trời qua sông đi học bằng cách đu dây… Những chuyện ấy Quốc hội đã hiểu là chuyện trọng đại hơn rất nhiều những mơ tưởng viển vông mà Chính phủ “của dân do dân vì dân” đưa ra. Xin hỏi ông Nguyễn Tấn Dũng sao không học lấy hành động cao cả của ông Thủ tướng Hàn quốc từ chức luôn sau khi dự án của mình không được chấp thuận?
2. Toàn những chuyện tày trời mà “không nghe không biết”
1. 18 tỉnh cho nước ngoài thuê rừng, riêng Trung Quốc đại lục và Đài Loan thuê đến 2/3 trong số 160.000 ha rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng bảo vệ an ninh Quốc phòng, chuyện tày trời này lẽ ra Nhà nước phải tỉnh táo nắm bắt thông tin trước tiên và xử lý từ trong trứng nước thì hóa ra một cụ già hưu trí lại phát hiện ra trước và báo lên Chính phủ, lúc ấy Chính phủ mới hớt hơ hớt hải cho người đi kiểm tra. Thế mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng NN-PTNT Cao Đức Phát là một cánh tay quyền lực của Thủ tướng trả lời Quốc hội vẫn ấm ớ nói chỉ 10 tỉnh cho thuê rừng thôi. Đúng là họ thực hiện khẩu hiệu: Không nghe không biết.
2. Tập đoàn Điện lực xây dựng 2 nhà máy nhiệt điện tốn hàng ngàn tỷ đồng rồi bỏ hoang đắp chiếu mấy năm nay, gây tình trạng thiếu điện, cắt điện luân phiên làm khổ sở cho dân, điêu đứng các ngành kinh doanh sản xuất. Thế mà ông Thủ tướng Dũng cũng không biết, không nghe.
3. Tập đoàn Vinashin trong vòng bốn năm hoạt động thua lỗ liên tiếp đến mức cụt vốn trong số 90 nghìn tỷ đồng chỉ còn lại vỏn vẹn 10 nghìn tỷ đồng, mua hai chiếc tàu thủy của Italy mỗi chiếc đều trên nghìn tỷ đồng rồi về đắp chiếu nằm đấy để chờ bán sắt vụn, vậy mà ông Nguyễn Tấn Dũng vẫn hà hơi tiếp sức cho cái tập đoàn đó, mọi sự lộng hành của nó ông vẫn không hay không biết, thực oái oăm vô cùng.
Với bấy nhiêu việc ngổn ngang, rối loạn trong vòng hơn một nhiệm kỳ điều hành Chính phủ của mình, đến nay đã đủ độ lùi để tự kiểm mình làm được hay không làm được, vậy tại sao ông Dũng không tự giác nộp đơn xin Quốc hội từ chức và loan báo cho toàn dân biết:
Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, làm Thủ tướng gần 5 năm nay, đã thất lời hứa với nhân dân là không chống được tham nhũng mà bọn tham nhũng ngày càng hoành hành khắp mọi nơi, mọi ngõ từ trung ương đến khắp xã phường thôn ấp;Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, đã cùng bộ sậu Chính phủ kiên quyết đưa dự án có tầm cỡ Quốc gia xây dựng đường sắt cao tốc Bắc Nam từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh cốt vay nước ngoài 56 tỷ đô la Mỹ, nhưng đã bị Quốc hội bác bỏ vì không sát thực tế, không hợp lòng dân;
Tôi, Nguyễn Tấn Dũng, trong suốt thời gian làm Thủ tướng đã để xảy ra những chuyện phá nước hại dân như chuyện 18 tỉnh bán rừng, như vụ Vinashin thất thoát đến 80 nghìn tỷ đồng, như chuyện một kẻ sa đọa chui được vào lãnh đạo cơ quan cấp tỉnh làm những hành vi đồi bại trái luân thường đạo lý khiến cho cả nước phải tím mặt.
Bây giờ xin noi gương các vị Thủ tướng đạo cao đức trọng Nhật Bản và Hàn quốc, tôi tự nguyện rời khỏi chiếc ghế mà trong thâm tâm tôi vẫn thiết tha với nó lắm.
Làm được thế, ông Nguyễn Tấn Dũng nhất định sẽ được toàn dân nhiệt liệt hoan hô, trong đó có bản thân tôi.
Để kết thúc, tôi xin kể lại một câu chuyện phim về chống tham nhũng do KTV truyền hình Khánh Hòa chiếu lúc 11-12h ngày 04/07/2010 cho các vị lãnh đạo tối cao nghe chơi. Cuốn phim nhan đề: “Chàng trai Hông Di Đông” của Hàn Quốc. Dưới triều nhà Vua Hàn Quốc nọ, quan lại tham nhũng cướp bóc của dân không biết bao nhiêu mà kể, dân đen uất ức không biết kêu ai. Bấy giờ có một chàng thanh niên tên là Hông Di Đông đứng lên thành lập Hội người nghèo đi giết bọn tham quan lại nhũng của nhà vua, đem của cải cướp được từ tay bọn chúng chia cho dân nghèo. Vua ra lệnh quân lính truy lùng, bắt được một số người trong Hội định đưa ra pháp trường xử trảm thì chàng thanh niên Hông Di Đông tình nguyện đến nói với nhà vua rằng: “Tôi là thủ lãnh Hội người nghèo làm việc đó, yêu cầu nhà vua thả số người nghèo kia, một mình tôi xin chịu tử hình”. Nhà vua nghe vậy đồng ý thả tất cả chỉ đem Hông Di Đông ra pháp trường. Trước khi chết, chàng Hông Di Đông xin phép được nói một lời trực tiếp với nhà vua: “Chính ngài là vua đã đẻ ra quan tham. Quần thần ở trên làm mọi điều tàn ngược, bóc lột dân chúng đến xơ xác nên tôi phải đứng ra tổ chức Hội người nghèo để chống lại. Mục đích của chúng tôi là giết bọn đệ tử tham nhũng của ngài, cướp tài sản của họ chia cho dân chúng. Chính ngài, nhà vua là kẻ đẻ ra tham nhũng”. Xem xong phim này tôi tự hỏi: bọn tham quan mà chúng ta vừa phát hiện là lãnh đạo ở 12 tỉnh và bốn Tập đoàn của Nhà nước do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ chính trị quản lý. Như thế có phải Bộ chính trị đẻ ra tham nhũng hay không? Tại sao Đảng ta, Nhà nước ta mấy năm không chống được bọn tham nhũng này mà lực lượng chúng ngày càng phình lớn?
Trên đây là ý kiến chân thành của tôi, một lão già cách mạng. Khẩn thiết kính mong quý vị sớm trả lời cho tôi và nhân dân được biết.
Kính chúc quý vị dồi dào sức khỏe.
Nha Trang, ngày 07-7-2010
Ký tên Nguyễn Văn Bé
Lão thành cách mạng tiền khởi nghĩa – Cán bộ tiền bối công an Khánh Hòa – Chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mỹ 1965-1968 – Huy chương vì sự nghiệp Đại đoàn kết dân tộc và nhiều huân chương khác.
Theo Bauxite
Quan điểm mới về thế giới của Trung quốc

Lời người dịch: Đó là nhan đề của một bài báo “China unveils its new worldview” đăng trên Asia Times on line ngày 11 /12/2009 của giáo sư Willy Wo-Lap Lam, chuyên viên nghiên cứu tại The Jamestown Foundation, và từng viết bình luận cho Asiaweek, South China Morning Post và là đại diện của đài CNN tại Á châu-Thái Bình Dương. Giáo sư Willy Lam là tác gi ả của 5 cuốn sách viết về Trung quốc, cuốn mới nhất là cuốn “Chính trị của Trung quốc thời đại Hồ Cẩm Đào” (Chinese Politicộng sản in the Hu Jintao Era: New Leaders, New Challenges), và hiện là giáo sư chuyên về Trung quốc tại đại học Akita của Nhật Bản và đại học Trung quốc tại Hồng Kông.


Tờ tuần báo Outlook Weekly (cơ quan ngôn luận của đảng cộng sản Trung quốc) số cuối tháng 11 vừa qua có bài nói về “Quan điểm của Chủ Tịch nước Hồ Cẩm Đào trong thời đại mới” (Hu Jintao’s Viewpoints about the Times) gồm 5 điểm do Zhang Xiaotong, một lý thuyết gia của đảng viết:

1. Sự thay đổi sâu rộng của thế giới
2. Xây dựng một thế giới hài hòa
3. Cùng nhau phát triển
4. Chia xẻ trách nhiệm
5. Nhiệt tình hợp tác vào công việc thế giới

Lý thuyết gia Zhang Xiaotong cho rằng quan điểm của Chủ tịch Hồ Cẩm Đào là một sáng kiến lý thuyết quan trọng dựa vào sự phán đóan một cách khoa học sự phát triển của thế giới qua thời gian.
Sáng kiến này đưọc đưa ra sau chuyến thăm viếng của tổng thống Obama và trước thượng đỉnh về thời tiết tại Copenhagen. Hai biến chuyển này sẽ đánh dấu thời điểm Trung quốc chuyển mình để trở thành một siêu cường.
Theo giáo sư Wang Yukai, thuộc Trường Quốc gia Hành chính Trung quốc (National College of Administration – NCOA), sách lược ngoại giao mới của ông Hồ Cẩm Đào cho thấy đây là lần đầu tiên một nhà lãnh đạo Trung Quốc hình thành một hệ thống lý thuyết có tầm vóc quốc tế.
Giáo sư Wang Yukai nói quan điểm này là một học thuyết toàn diện với tầm nhìn hướng về quốc tế. Ông nhấn mạnh rằng quan điểm này sẽ là kim chỉ nam của chính sách đối ngoại của Trung quốc trong tương lai.
Người ta nghĩ rằng quan điểm mới của Trung quốc đối với các vấn đề thế giới là một cách trả lời điều tổng thống Obama nêu ra trong chuyến thăm viếng Trung quốc vừa qua rằng Hoa Kỳ “chào đón sự đóng góp lớn hơn của Trung quốc như một quốc gia hùng mạnh, phồn thịnh và thành công vào các vấn đề của thế giới.” Mặc dù thủ tướng Ôn Gia Bảo chối bỏ sự gán ghép của thế giới xem Trung quốc như một trong hai nước của khối G2 (trong dịp ông gặp tổng thống Obama trước đây) Trung quốc vẫn có vẻ thích làm các công tác lớn trên thế giới.
Ông Zhang, một biên tập viên của Trung tâm Nghiên cứu Văn học thuộc Trung ương đảng, đã thu thập các bài phát biểu công khai cũng như tại các buổi sinh hoạt nội bộ đảng nói về chính sách đối ngoại của Hồ Cẩm Đào trong một tài liệu dài 7.000 chữ. Ông dẫn lời ông Hồ Cẩm Đào nói rằng thế giới hiện đang trải qua những thay đổi lịch sử và quan hệ của Trung quốc đối với thế giới cũng phải thay đổi theo.
Nêu cao những thành tựu lớn lao của Trung Quốc trong lĩnh vực kỹ nghệ và kỹ thuật ông Hồ Cẩm Đào nói rằng Trung Quốc đang trải qua “một thời đại đầy cơ hội và thách thức” và rằng “cơ hội nhiều hơn thách thức”. Sự thành công kinh tế thần kỳ của Trung Quốc đã cho phép thế hệ lãnh đạo thứ tư của đảng cộng sản Trung quốc dưới lãnh đạo của Hồ Cẩm Đào có thể chấm dứt nền ngoại giao nổi tiếng của Đặng Tiểu Bình là “cúi mình thật thấp và đừng bao giờ đi trước” trong các vấn đề quốc tế.
Các sáng kiến đối ngoại của Hồ Cẩm Đào không phải hoàn toàn mới mẻ. Hai sáng kiến số 2 (xây dựng một thế giới hài hòa) và số 3 (cùng nhau phát triển) và đặc biệt với các nước láng giềng đã được ông Giang Trạch Dân nêu vào cuối thập niên 1990.
Theo đó, khái niệm hài hòa, xuất phát từ đạo Khổng có nghĩa là sự trỗi dậy của Trung Quốc sẽ không dẫn tới xung đột với các nước khác. Hài hòa có nghĩa là giảm thiểu quân lực và xung đột. Và cùng phát triển có nghĩa là cùng khai thác thiên nhiên, một giải pháp ưa thích của Trung quốc để giải quyết các cuộc tranh chấp về chủ quyền đối với các nước châu Á từ Nhật Bản tới Việt Nam và Philippines.
Trong chính sách 5 điểm của Hồ Cẩm Đào, điểm 4 (chia xẻ trách nhiệm) và điểm 5 (nhiệt tình hợp tác vào công việc thế giới) l à hai điểm có ý nghĩa nhất. Việc Bắc Kinh sẵn sàng gánh vác trách nhiệm chung đối với những nghĩa vụ toàn cầu cho thấy giới lãnh đạo Trung quốc sẵn sàng trở thành một thành viên có trách nhiệm (responsible stakeholder), như cựu Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, ông Robert Zeollick, miêu tả .
Nhiệt tình hợp tác (vào công việc thế giới) có nghĩa Bắc Kinh sẽ làm nghĩa vụ quốc tế với cung cách một cường quốc. Zhang trích dẫn một phát biểu của ông Hồ Cẩm Đào tháng 12/2008 nhân kỷ niệm 30 năm đổi mới (1986-2008) rằng: “Tương lai và số phận của Trung quốc sẽ gắn bó với tương lai và số phận của toàn thế giới”. Ông cũng kêu gọi đảng viên và cán bộ nhà nước biết cách dung hòa “sự bảo vệ độc lập và chủ quyền” với sự toàn cầu hóa sao cho Trung quốc đóng góp đúng mức cho nền hòa bình và phát triển của thế giới.
Năm 2009 Trung quốc đã dẫn đầu nhiều vấn đề của thế giới. Tại hội nghị G20 ở London và Pittsburgh, Trung Quốc kêu gọi nên dần dần thay thế đồng mỹ kim như là “đồng tiền trao đổi của thế giới.” Trung quốc cũng thành công trong cuộc vận động quyền bỏ phiếu rộng rãi hơn cho các quốc gia đang phát triển tại Ngân hàng Thế giới và Quỹ tiền tệ Quốc tế. Và khi gặp gỡ các nhà lãnh đạo Phi châu và Đông Nam Á, Hồ Cẩm Đào và thủ tướng Ôn Gia Bảo đã hứa chi viện hằng chục tỉ mỹ kim.
Quan trọng nhất là thủ tướng Ôn Gia Bảo hứa rằng tại hội nghị thời tiết ở Copenhagen Trung quốc sẽ làm yên lòng cộng đồng quốc tế bằng cách cam kết sẽ đấu tranh chống sự làm nóng bầu khí quyển.
Trung quốc hứa vào năm 2020, Trung Quốc sẽ cắt giảm khí thải các bon để sản xuất một đơn vị GDP xuống 40-45% mức của năm 2005. Đồng thời, Bắc Kinh cũng phối hợp với Ấn Độ và Brazil đòi hỏi các nước đã phát triển phải đóng góp ít nhất 0,5% GDP để giúp các nước nghèo, đặc biệt giúp phát huy khả năng về “kỹ thuật xanh” (TBN: kỹ thuật xanh – Green Technology- là kỹ thuật sản xuất mà không làm tiết ra nhiều khí thải các bon).
Còn nữa, Trung quốc dường như đã thay đổi chút ít nguyên tắc “không can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác”. Cho đến nay Trung quốc đã tham gia vào hơn 20 công tác gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, và đã giúp giải quyết vấn nạn hạt nhân của Bắc hàn, Iran và các cuộc xung đột sắc tộc ở Sudan.
Trung quốc đã thể theo lời yêu cầu của tổng thống Obama trong cuộc thăm viếng vừa qua dùng ảnh hưởng vốn có đối với Teheran để kiềm chế chương trình hạt nhân của Iran. Cuối tháng trước, Trung Quốc cùng với Liên bang Nga và 25 nước khác ủng hộ một nghị quyết của Cơ quan Nguyên tử năng Quốc tế (IAEA) kêu gọi Iran ngừng ngay nhà máy tinh chế uranium ở Qom. Nghị quyết của IAEA tỏ ý hết sức lo ngại rằng các cơ sở nguyên tử của Iran nói là phục vụ hoà bình có thể được dùng cho những ứng dụng quân sự.
Lẽ dĩ nhiên Trung quốc, một nước có 2.200 tỷ mỹ kim dự trữ và một dân số 1,3 tỷ người chỉ đóng góp “xây dựng một thế giới hài hòa” và “cùng nhau phát triển” với điều kiện. Theo Hồ Cẩm Đào điều kiện đó là các nước trên thế giới phải cùng chia xẻ trách nhiệm, nhất là Hoa Kỳ và Liên hiệp Âu châu. Thêm nữa, Hồ Cẩm Đào lưu ý cán bộ đảng viên cần biết làm cân đối một bên là sự phát triển và quyền lợi quốc gia, một bên là nhu cầu toàn cầu hóa.
Vì vậy, Trung quốc quan niệm rằng những đóng góp quốc tế của mình sẽ không làm thiệt hại cho các “quyền lợi thiết yếu” trên hai mặt kinh tế và ngoại giao. Ví dụ, vì nền kinh tế của Trung quốc còn dựa vào nhiên liệu (TBN: nhả nhiều khí thãi các bon) cho nên Trung quốc chỉ có thể cam kết chừng mực. Hơn nữa, nền kinh tế Trung quốc là nền kinh tế xuất khẩu nên không hy vọng Trung quốc sẽ định giá lại đồng nhân dân tệ trong một tương lai gần.
Và đó cũng là những giới hạn của cam kết của Trung quốc đối với vấn đề Iran và Bắc Hàn. Trung quốc vốn có quan hệ tốt với Iran và đầu tư nhiều vốn liếng vào các giếng dầu tại Iran, cho nên sẽ không thực tế chờ đợi Trung quốc sẽ cùng với các nước Tây phương áp lực Iran bỏ cho kỳ được chương trình nguyên tử. Vào đầu năm 2010 khi Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thảo luận các biện pháp trừng phát Iran chúng ta sẽ thấy Hồ Cẩm Đào giải quyết vấn nạn này như thế nào.
Bắc Kinh cũng từ chối thẳng thừng đề nghị của Mỹ, Nhật Bản, Nam Hàn và các nước khác áp lực Bắc Hàn liên quan đến chương trình nguyên tử. Tháng 11 vừa qua Bộ trưởng Quốc phòng Trung quốc Liang Guanglie đi thăm Bắc Hàn ngay sau chuyến thăm của Thủ tướng Ôn Gia Bảo cho thấy quan hệ khắng khít giữa hai nước.

Qua các phát biểu trong những năm gần đây, ông Hồ Cẩm Đào nhấn mạnh rằng sự tham gia nhiệt tình hơn của Trung Quốc vào các vấn đề quốc tế sẽ không được ảnh hưởng tới mô hình phát triển đặc của Trung quốc. Luận điểm ông Hồ Cẩm Đào thường nêu là toàn cầu hóa có nghĩa là các nước cần tôn trọng và học hỏi lẫn nhau để “bảo vệ tính đa nguyên của thế giới và các mô hình phát triển khác nhau”.
Ông Hồ Cẩm Đào cũng thường nói rằng Trung quốc sẽ “không ngừng tìm tòi để hoàn thiện một lộ trình phát triển phù hợp với điều kiện quốc gia Trung Quốc”. Nói cách khác, ông Hồ Cẩm Đào và các đồng chí của ông cảnh báo những người chỉ trích Trung quốc tại Hoa Kỳ và Âu châu rằng dù đi theo con đường toàn cầu hóa Trung quốc cũng sẽ không chấp nhận những khái niệm của “phương Tây” về quyền tự do ngôn luận và hệ thống chính trị đa đảng.
Đi ều này giải thích tại sao trong khi các cán bộ cao cấp và các nhà ngoại giao Trung quốc đang gieo ảnh hưởng trên thế giới thì bộ máy an ninh của đảng làm việc ngày đêm để đe dọa và bắt bớ những người bất đồng chính kiến, các luật sư tích cực đấu tranh và đàn áp các tổ chức bất vụ lợi.
Giáo sư Wang thuộc Trường Quốc gia Hành chánh Trung quốc tiên đóan rằng quan điểm mới của Hồ Cẩm Đào có thể sẽ được đưa vào Cương Lĩnh của đảng vào đại hội đảng cộng sản Trung quốc thứ 18 trong năm 2012 và Hồ Cẩm Đào sẽ đi vào lịch sử Trung quốc như là vị chủ tịch nước đã có công đưa Trung quốc vào vị thế siêu cường.
Tuy nhiên không phải ai cũng tán thưởng sự hợp tác của Trung quốc. Một lý thuyết rất phổ biến cho rằng Trung quốc là một mối đe doạ tiềm tang cho thế giới, và rằng các nhà lãnh đạo Trung quốc có thể dùng sức mạnh mới có được để thoả mãn sự đòi hỏi của những thành phần có tinh thần quốc gia quá khích. Thành phần này càng ngày càng trở nên đông đảo tại Trung quốc.
Mối quan hệ qúa thân mật của Trung quốc với Bắc Hàn và Iran làm người ta nghi ngờ rằng Trung quốc sẽ đặt lợi ích quốc gia lên trên nhu cầu hòa bình và phát triển của thế giới.
Cho nên cái gánh nặng của ông Hồ Cẩm Đào lúc này là thuyết phục thế giới rằng trong lúc Bắc Kinh phải vật lộn giữa “quyền lợi thiết yếu” của quốc gia với “cam kết quốc tế”, sự tham gia của Trung quốc vào các vấn đề quốc tế ít nhất cũng phù hợp các tiêu chuẩn của Liên hợp quốc.
Dec. 16, 2009
Tại sao chế độ Trung Quốc vẫn vững?

Andrew G. Walder, Nguyễn Ước dịch
Ba thập niên trước, khi Trung Quốc (TQ) bắt đầu cải cách kinh tế thì đang có khoảng 34 quốc gia độc lập trên thế giới hôm nay bị chế độ độc tài cộng sản cai trị. Giờ đây chỉ tồn tại bốn nhà nước cộng sản. Hai trong số đó là chế độ nhà nước xã hội chủ nghĩa không cải cách, bị trì trệ sa lầy trong nghèo khó, là Bắc Hàn và Cuba. Trung Quốc và Việt Nam là hai nước duy nhất tiến hành những cải cách rộng lớn mang tính thị trường mà không thay đổi chế độ. Ba mươi chế độ còn lại đi theo con đường khác. Họ là nhà nước “hậu cộng sản” với nền kinh tế thị trường và một cấp độ rộng rãi các hệ thống chính trị, từ chế độ độc tài khắc nghiệt tới thể chế dân chủ tự do.
Thành tích kinh tế của TQ thật khác thường, và ở đây nó không đòi hỏi nhiều ý kiến. Nhưng trong thập niên vừa qua, một đợt sóng phản đối về các chủ đề kinh tế và sự tái trỗi dậy mới đây về bất ổn sắc tộc tại các khu vực phía Tây của TQ, đã và đang thêm phần gây nên nhận thức rằng có thể chế độ ấy đang đi vào thời kỳ bất ổn tăng cao, một thời kỳ mà cuộc chạy đua hai thập niên tiến bộ nhanh chóng cùng trật tự chính trị có thể đang đi tới kết thúc.
Chắc chắn TQ hôm nay là một xã hội lủng củng, có thể gây ra bất hòa, một cách tương đối, và dường như nhà nước bị ám ảnh bởi các biện pháp bảo đảm trật tự chính trị. Cũng quả thật đã có tiến bộ rất ít trong việc cải cách các định chế chính trị cốt lõi của TQ mà về mặt cốt yếu, chúng cũng là những cái hiện hữu kể từ khi bắt đầu cuộc cải cách kinh tế 30 năm trước. Tuy nhiên, tình hình chính trị tổng thể tại TQ có nhiều thuận lợi cho chế độ hơn trước đây, khi nó ở trong một thập niên xung đột xâu xé và tương đối hỗn độn của cuộc cải cách kinh tế.
Chính xác là 20 năm trước, lúc ấy TQ chắc chắn đang ở trong trạng thái kinh hoàng. Thiết quân luật áp dụng tại Bắc Kinh sau khi quân đội đột kích phong trào phản đối Thiên An Môn, liên minh cải cách trong hàng ngũ lãnh đạo Ðảng Cộng sản bị sụp đổ, đất nước bị cô lập về mặt quốc tế và bị chỉ trích dữ dội vì ngược đãi thô bạo nhân quyền, và nền kinh tế đang ở giữa khúc quặt đi xuống rõ rệt và sẽ kéo dài tình trạng sa sút trong vài năm.

Andrew G. Walder, PhD
Thế nhưng chúng ta thường quên rằng cuộc khủng hoảng sâu rộng năm 1989 đơn giản chỉ là kết quả của những tình huống chính trị và xã hội hiện hữu suốt thập niên 1980, những tình huống tương phản một cách sắc nét với hiện tại hôm nay. Nếu chúng ta ngoảnh lại nhìn thập niên 1980 thì thấy TQ lúc ấy có vẻ là một đất nước khác. Tăng trưởng kinh tế và hồi sinh quốc gia hai chục năm qua cùng các biến cố trong phần còn lại của thế giới trong thời kỳ quá độ, đặt chế độ TQ vào một vị trí rất khác và tạo ra một quan hệ rất khác giữa chế độ và xã hội mà nó cai trị.
Nói cụ thể, TQ hôm nay là một nơi chốn khác, theo bốn cách thức.
Thứ nhất, lúc này rõ ràng tiếp cận tiệm tiến của TQ vào cuộc cải cách kinh tế đã hữu hiệu. Suốt thập niên 1980, không chút nào rõ ràng rằng sách lược ấy sẽ thành công, ít nhất bên ngoài nông nghiệp.
Thứ hai, đường đi chính trị tổng thể (overall political trajectory) của TQ giờ đây trông hoàn toàn thuận lợi dưới ánh sáng của những vấn đề nghiêm trọng được trải nghiệm bởi nhiều nhà nước kế thừa hậu cộng sản. Vào cuối thập niên 1980, chế độ TQ có vẻ bị bế tắc và phản động so với các chế độ cộng sản khác đang bắt đầu công cuộc cải cách chính trị của họ.
Thứ ba, giới trẻ và người dân có học của TQ giờ đây cho thấy một cảm giác mạnh mẽ tinh thần tự hào dân tộc và thỉnh thoảng, lòng yêu nước mang tính vệ quốc. Ngược lại, hai thập niên trước đây, đặt vấn đề sâu xa về Ðảng Cộng sản và tính chính thống (legitimacy) của chế độ là một việc phổ biến hơn rất nhiều.
Cuối cùng, hàng ngũ lãnh đạo Đảng của TQ hôm nay, một cách căn bản, thống nhất quan điểm của họ về đường hướng đất nước nên đi. Suốt thập niên 1980, họ chia rẽ sâu xa cả về cải cách kinh tế lẫn sự tự do hóa.
Các thời kỳ bất định.
Ngày nay, chúng ta quen với sự trỗi dậy kinh tế của TQ nên khó nhớ lại thái độ hoài nghi đáng kể liên quan tới những viễn cảnh của các cải cách kinh tế, từng hiện hữu trong thập niên đầu của chúng. Tới cuối thập niên 1980, các cải cách kinh tế của TQ không thật sự tiến hành sâu rộng bên ngoài nông nghiệp, nơi xứ sở đó sớm đạt những thành quả đầy ấn tượng, đơn giản nhờ vào việc buông bỏ những nông trường tập thể kiểu Sô-viết. Lợi tức ở nông thôn tăng nhanh, việc cung cấp thực phẩm cho thành thị cũng thế. Vào thời điểm đó, các cải cách của TQ trong nông nghiệp là tiến bộ nhất trong thế giới xã hội chủ nghĩa. Tuy thế, cũng vào thời điểm đó, người ta nhận xét một cách đại thể rằng đó là phần dễ dàng và mới chỉ là bước đầu.
Công tác khó khăn nhất của cuộc cải cách chưa được phát biểu theo cách thức mang ý nghĩa quan trọng nào – làm thế nào đảo ngược một khu vực kỹ nghệ quốc doanh khổng lồ và rõ ràng không hiệu quả. Hiển nhiên là các công ty kỹ nghệ cần tinh giản, tái tổ chức và bắt phải chịu sức ép cạnh tranh thật sự, nhưng công tác ấy liên quan tới sự đánh mất quyền kiểm soát của nhà nước trên những bộ phận chủ yếu của nền kinh tế. Nó cũng có nguy cơ gây bất ổn và đối lập chính trị vì phải sa thải nhân viên và vi phạm các nguyên lý (tenet) chính của chủ nghĩa xã hội. Suốt thập niên 1980, không rõ ràng việc các lãnh đạo Đảng thậm chí có thể tập hợp được ý chí chính trị để toan tính cuộc chuyển thể chưa có tiền lệ ấy, và nếu họ cố thử một cách nghiêm chỉnh, thì không rõ ràng việc Ðảng Cộng sản Trung quốc có thể tồn tại lâu hơn các hệ quả chính trị có thể có hay không.
Ðó cũng là một vấn đề hiểm nghèo của cải cách giá cả. Việc giải phóng giá cả tiêu thụ và sản xuất trong một nền kỹ nghệ khan hiếm nghiêm trọng mang theo nguy cơ thật sự lạm phát nhanh chóng và tác động gây bất ổn của lạm phát được thấy rõ tại các thành phố TQ năm 1988 và đầu năm 1989. Như các lãnh đạo TQ đã nhận thức một cách đau đớn, những gia tăng quá quắt trong giá cả tiêu thụ tại Ba Lan khiến phát sinh Phong trào Ðoàn kết vào lúc bắt đầu thập niên đó. Chúng ta nên nhớ rằng ở thời điểm ấy, trong lịch sử chưa từng có một chế độ xã hội chủ nghĩa nào tính chuyện chuyển dịch tới một nền kinh tế có định hướng thị trường, và chưa có gì rõ ràng cho thấy việc đó có vẻ hợp lý, hoặc một đảng cộng sản đang nắm quyền có thể sống sót trong một cuộc chuyển tiếp như thế.
Người ta cũng dễ quên rằng đường đi chính trị của TQ vào cuối thập niên 1980 dường như rất tụt hậu so với sự thay đổi mang tính tiến bộ trong khối Sô-viết, phần lớn đối với sự thất vọng chán nản của nhiều sinh viên, trí thức và đảng viên có đầu óc phóng khoáng. Phản ứng dữ dội của Đảng chống lại “sự tự do hóa trưởng giả” theo sau phong trào dân chủ của sinh viên vào cuối năm 1986, và tiếp đó, việc thanh trừng Hồ Diệu Bang, Tổng Bí thư có đầu óc phóng khoáng, khiến hàng ngũ lãnh đạo của TQ dường như lạc hậu và phản động. Khuynh hướng tự do báo chí, dân chủ hóa và thậm chí bầu cử có tranh đua mà vào năm 1988, đã thấy rất rõ tại Ba Lan, Hungary, và quan trọng nhất, tại Liên bang Sô-viết. Nhiều thành phố ở TQ, và thậm chí bản thân Đảng và chính quyền, đã nhìn những phát triển ấy với lòng ganh tị.
Chúng ta cũng nên nhớ rằng đây chính xác là thời điểm các chế độ Ðông Á thoát ra khỏi những thời kỳ dài của độc tài chuyên chế. Philippines năm 1986, Nam Hàn năm 1987 và Ðài Loan năm 1988. Ðối với nhiều người tại TQ vào thời điểm ấy, những sắp xếp chính trị của xứ sở đang ngày càng lỗi thời, lệch lạc và phản động – và không tương hợp với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng theo định hướng thị trường mà rõ ràng lãnh đạo Đảng đang thiết tha mong mỏi.
Giới trẻ khủng hoảng
Một dấu hiệu đặc trưng của thập niên 1980 là sự tách xa (alienation) của nhiều thanh niên thiếu nữ và trí thức TQ. Một thập niên bắt đầu với “khủng hoảng sự tin cậy” công khai và rầm rộ vào Ðảng Cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Trong các đại học, nở rộ một bầu không khí tự do đặt vấn đề, cũng như sự hiếu kỳ đối với các triết thuyết dân chủ và các định chế của văn minh phương Tây. Xuất hiện một thế hệ người TQ trong độ tuổi 20 và 30 từ một nền giáo dục bị gián đoạn, và nhiều người trong bọn họ vừa trải qua thời gian như “tuổi trẻ bị phái xuống” vùng nông thôn, trong một tâm trạng tra vấn và nổi loạn. Nhiều trí thức cấp tiến cũng tham gia cuộc náo nhiệt tổng quát ấy.
Ðó là một xã hội vẫn đang phục hồi từ những hãi hùng của cuộc Cánh mạng Văn hóa và vẫn cố sức giải thích căn nguyên của đại thảm họa toàn quốc dài ngày ấy. Vào lúc đó, nhiều người bất đồng ý kiến với đường lối tự phục vụ thấy rõ của Đảng – rằng những tai họa ấy do một nhóm nhỏ lãnh tụ độc ác gây ra và những kẻ đó bị xỉ vả là bè lũ “Tứ nhân bang”. Nhiều người tin rằng nguyên nhân gốc của đại thảm hoạ toàn quốc của TQ đan quyện một cách sâu xa trong các định chế chính trị đơn nguyên (unitary) và hệ tư tưởng đang thống trị.
Sau cùng, giới lãnh đạo của TQ vào thập niên 1980 bị chia rẽ sâu xa và thường cũng rất cay đắng, về cải cách kinh tế cùng sự tự do hóa chính trị. Nhiều lãnh tụ nhìn các cải cách kinh tế như một đe dọa cho chế độ và vi phạm các nguyên lý căn bản của xã hội chủ nghĩa. Những kẻ bảo thủ ấy không thể hiểu tại sao TQ không đơn giản quay trở lại phiên bản đã được cập nhật của những thực hành theo kế hoạch và được khởi hứng mang tính Sô-viết từng thao tác tương đối tốt trong thập niên 1950, trước ngày mọi sự bị ném vào tình trạng hỗn loạn do bởi chủ nghĩa cực đoan đầy khinh suất của Mao Trạch Ðông. Và các nỗ lực từ những người chủ trương cải cách trong hàng ngũ lãnh đạo nhằm thúc đẩy sự tự do hóa chính trị và cởi mở đã dẫn tới cuộc chiến tranh bè phái trong hàng ngũ thượng đỉnh của Đảng.
Kết quả của cuộc đấu đá đầy thủ đoạn và triền miên ấy là kiểu mẫu của tình trạng biến đổi chính trị đột ngột, khi các chuyển dịch hướng tới tự do hóa và cải cách bị theo sau bởi các giai đoạn thụt lùi và đắp ụ. Lãnh tụ Ðặng Tiểu Bình làm trọng tài cho cuộc tranh đua bè phái, khi chuyển theo bên này khi ngã về bên kia, với hy vọng lèo lái giới lãnh đạo ngang bướng tới đường lối ở giữa của cuộc cải cách mang tính thị trường dưới sự cai trị nghiêm khắc của Đảng. Giới trẻ, trí thức và đảng viên, về mặt chính trị, nhận biết rất rõ những xung khắc ấy.
Bão tố hoàn hảo
Mùa Xuân 1989, cả bốn đặc điểm có từ lâu ấy của thập niên 1980 tại TQ hội tụ thành một cuộc khủng hoảng chính trị có thể sánh ngang một cơn bão hoàn hảo. Văn hóa giới trẻ xa lạ của thập niên 1980 phô diễn trọn vẹn trong các phản đối của sinh viên vào tháng Tư và tháng Năm. Sinh viên lấy cái chết của Hồ Diệu Bang phóng khoáng như một cơ hội bày tỏ lòng bất mãn của họ đối với phản ứng sau năm 1986 chống lại những phản kháng mang tính dân chủ của sinh viên vốn lên tới cực điểm khi Hồ Diệu Bang bị loại khỏi vị trí đứng đầu đảng. Lối tu từ và cách dùng các biểu tượng của sinh viên cho thấy sự quen thuộc sắc nét với các kiểu mẫu của thể chế dân chủ phương Tây cùng đức tin gần như ngây thơ vào tính hiệu năng của những kiểu mẫu đó và sự hiệu nghiệm của chúng như câu trả lời cho các vấn đề của TQ. Sinh viên trình bày nhận thức rằng TQ đang tụt lại đằng sau một thế giới có khuynh hướng dân chủ và rằng sở dĩ như thế là vì những quan điểm phản động một các cố định của lãnh đạo Đảng. Họ hy vọng ảnh hưởng lên sự cân bằng chính trị trong hàng ngũ lãnh đạo theo chiều hướng tự do hóa và dân chủ hóa lớn lao hơn.
Các trí thức, nhà báo, biên tập viên, thậm chí công chức chính quyền cuối cùng phản ứng đầy thiện cảm với vở kịch đang mở ra tại Quảng trường Thiên An Môn. Trong bọn họ, nhiều người cảm thấy nản lòng với nhịp bước chậm chạp của tự do hóa chính trị. Họ tham gia các cuộc phản đối, kêu gọi đối thoại ôn hòa với lãnh tụ sinh viên, và nhiều người đưa ra đòi hỏi tự do báo chí cùng các quyền dân chủ khác liên quan tới lãnh vực của mình. Họ nhận biết rằng tự do báo chí đã hoàn toàn rộng rãi tại Ba Lan, Hungary và ngay cả tại Liên bang Sô-viết, và những cuộc bầu cử có tranh đua đã nằm trong nghị trình của các nước đó. Họ nghĩ thật tự nhiên rằng TQ nên bước cùng một nhịp với các khuynh hướng khắp thế giới ấy.
Các công dân bình thường ùa ra đường phố, ủng hộ các sinh viên đang phản đối và khi họ ngăn không cho binh sĩ vào Bắc Kinh áp dụng thiết quân luật thì phản ứng đó làm cho cuộc phản đối leo thang. Những phản đối ấy phản ánh trạng thái bức bối công khai và lan rộng về tác động của cải cách kinh tế lên cuộc sinh kế tại đô thị. Tỉ lệ lạm phát chính thức vượt quá 25 phần trăm năm 1988 và đầu năm 1989, và những tình tiết của tình trạng mua sắm hoang mang xuất hiện khi có tin đồn lan rộng về việc sắp sửa xảy ra việc thả lỏng mọi giá cả. Các bước thử nghiệm đầu tiên sa thải công nhân tại các công ty thừa nhân viên ở thành thị cũng làm phát sinh tâm trạng âu lo trong khi dân chúng bị kích động, nổi giận bởi tình trạng tham nhũng gia tăng rõ rệt và việc các viên chức chính quyền và của Đảng đang tìm kiếm ưu quyền. Những quan tâm ấy cộng hưởng sâu xa khi sinh viên hô khẩu hiệu kêu gọi cởi mở, đối thoại và chấm dứt tình trạng tham nhũng của viên chức.
Sức ép do các biến cố ấy tạo ra làm vỡ từng mảnh bộ phận lãnh đạo Đảng mang tính bè phái và ngăn không cho nó đề ra một đáp ứng nhất quán và chặt chẽ. Khả năng lãnh đạo tê liệt, và dường như có bằng chứng rằng đang phát triển một sự bế tắc giữa hai phe tách biệt nhau – một kêu gọi đối thoại và một đòi hỏi phải trấn áp. Kết quả là hệ thống truyền thông chính thức của nhà nước bắt đầu tường thuật rộng rãi, và thậm chí có thiện cảm với phong trào phản đối đang mở ra, với nhiều viên chức cấp thấp hoặc về hưu phát biểu công khai hướng tới sự tiết chế.
Sự bế tắc lãnh đạo thấy rõ cùng tường thuật của truyền thông chính thức chỉ khích lệ người chống đối và dân chúng nói chung nghĩ rằng có thể đang có cơ hội thành công cho các hành động của họ. Giải pháp tối hậu dành cho cuộc khủng hoảng ấy là cuộc hành quân tàn bạo ngày 3 và 4 tháng Sáu năm 1989. Rạng sáng ngày 4 tháng Sáu, khi đường phố Bắc Kinh chìm ngập trong ánh lửa và súng nổ thì Ba Lan tổ chức cuộc bầu cử toàn quốc đa đảng lần đầu tiên mà chẳng bao lâu nữa, dẫn tới kết thúc sự cai trị của Đảng Cộng sản.
“Thế hệ Reagan” của TQ
Nếu bấm cho quay nhanh cuộn băng 20 năm tới thập niên hiện nay, chúng ta thấy một TQ rất khác. Văn hóa tuổi trẻ xa lạ không còn, và dư vị chính trị từ cuộc Cách mạng Văn hóa là hai thế hệ trong dĩ vãng. Ngày nay, tư cách đảng viên trở nên hợp thời trong thanh niên, đặc biệt đối với những kẻ năng động, học vấn cao và muốn tiến thân. Trong môi trường cạnh tranh cao độ, địa vị đảng viên là một thứ chứng minh thư để mở ra những cánh cửa cơ hội lớn lao hơn. Các chỗ làm trong công quyền thường được ưa thích so với rủi ro lớn lao hơn của các nghề nghiệp trong khu vực tư nhân năng động và rộng lớn của TQ. Nếu thế hệ xa lạ thập niên 1980 của TQ, về nhiều mặt, tương tự “Thế hệ thập niên 1960” của Hoa Kỳ, thì thế hệ trẻ hiện nay của TQ, về nhiều mặt, giống với “Thế hệ Reagan” thập niên 1980.
Giới trẻ TQ hôm nay có tính thực dụng chủ nghĩa, có định hướng nghề nghiệp và đang yêu nước theo những cách thức hiếm thấy trong giới trẻ thập niên 1980. Hầu hết chào đời sau các biến cố năm 1989, họ chỉ hiểu biết mơ hồ – và rất ít quan tâm – tới những xung khắc trong các năm ấy. Suốt thập niên vừa qua, họ tích cực về mặt chính trị, nhưng chủ yếu là những phản đối về sách giáo khoa có thành kiến của Nhật Bản, cuộc bỏ bom của NATO vào đại sứ quán TQ tại Belgrade, yêu sách tranh chấp chủ quyền quốc gia ở hòn đảo tí hon Ðiếu Ngư (Diaoyu), hoặc sự chỉ trích của các chính phủ và truyền thông nước ngoài về cách thức TQ xử lý những cuộc biểu tình Tây Tạng nhân sự cố Thế vận hội Bắc Kinh. Ðây là một thế hệ cảm giác sự trỗi dậy của TQ và đi cùng với nó là lòng tự hào dân tộc.
Sức mạnh trong ổn định
Ðối với các trí thức và những thị dân có học khác của TQ thì thật không còn rõ ràng về đường đi chính trị của quốc gia hiện nay so sánh một cách không thiên vị với đường đi của các nước anh em xã hội chủ nghĩa trước đây của nó. Vào cuối thập niên 1980, thế giới xã hội chủ nghĩa dường như đang trên bờ của cuộc xuyên phá dân chủ gay cấn và đầy hứa hẹn với giới lãnh đạo thủ cựu của TQ đang lưỡng lự việc liều mình lao vào. Lịch sử của những chuyển tiếp trong hai thập niên vừa qua thúc giục một chủ nghĩa duy thực (realism) điềm đạm hơn vào hôm nay.
Trong 30 chế độ hậu cộng sản trên thế giới, có chưa tới một nửa giờ đây là các chế độ dân chủ đa đảng đang ổn định vừa phải. Hết thảy những câu chuyện thành công thuộc về các nước nhỏ và đồng nhất về mặt sắc tộc, nhưng tất cả – trừ một nước là Mông Cổ – đều ở bên bờ đông của Liên hiệp châu Âu. Những nước còn lại đều hoặc độc tài chuyên chế khắc nghiệt hoặc là các chế độ hẹp hòi thối nát sâu xa mà các nỗ lực chuyển động tới thế giới dân chủ, trên một qui mô lớn, đều thất bại lẹ làng. Trong một số trường hợp, nỗ lực dân chủ dẫn tới sự sụp đổ nhà nước cấp quốc gia. Liên bang Sô-viết và Nam Tư (Yugoslavia) là hai thí dụ hàng đầu. Trong một số trường hợp khác, sự chuyển tiếp gây ra nhiều năm trời bạo động mang tính dân tộc chủ nghĩa hoặc nội chiến.
Và trong thực tế, mọi trường hợp nỗ lực chuyển động tới nền kinh tế thị trường trong khi diễn ra cách mạng chính trị đều mở ra cuộc khủng hoảng kinh tế sâu xa, kéo dài gần một thế hệ. Trong các nền kinh tế như thế, nhiều cái mới trồi ra khỏi những năm gian nan của mình. Ngược lại, hai nước trong nhóm này đã bứt xa với những gia tăng kéo dài và lớn nhất trong tổng sản phẩm nội địa (GDP), mỉa mai thay, lại vẫn tiếp tục bị cai trị bởi các đảng cộng sản của chúng, đó là TQ và Việt Nam.
Phương trình ổn định chính trị cân bằng với tiến bộ xã hội và kinh tế là một luận cứ ngày nay có sức quyến rũ hơn hồi thập niên 1980. Bất cứ nhiệt tình nào xem nền dân chủ đa đảng như một phương thuốc trị bá bệnh cho các vấn đề TQ đều đang ở xa trong quá khứ. Nó đã được thay thế bằng một nhận thức điềm đạm hơn về những cái giá có khả năng phải trả cho một bước nhảy thất bại tới một kiểu thức của hệ thống chính trị khác.
Hôm nay, nhiều người biết tới thành tích của TQ về phát triển kinh tế nhanh chóng mà không lạm phát từ đầu thập niên 1990. Tuy thế, cũng không kém phần quan trọng là: cái từng có thời bị xem là trở ngại độc nhất và lớn nhất cho sách lược cải cách tiệm tiến, trên một qui mô lớn, đã là cái thuộc về quá khứ. Vì từ giữa thập niên 1990, TQ tinh giản một cách có hệ thống và tái cấu trúc khu vực nhà nước trương phình của nó. Vào lúc cao điểm năm 1997, nó thu dụng hơn 110 triệu người, giờ đây, khu vực đó chỉ còn thu dụng dưới 60 triệu người.
Trong chiều hướng tái cấu trúc ấy, hơn 40 triệu nhân công thường trực bị sa thải hay cho về hưu non. Ðiều đó quả thật gây ra một đợt sóng phản đối nhưng giờ đây, đã xong công tác tinh giản ấy. Giới lãnh đạo TQ không chỉ có khả năng triệu tập ý chí chính trị để làm những điều bị rất nhiều nhà quan sát trong thập niên 1980 nghĩ là bất khả thi, họ còn vượt qua các hậu quả mà tương đối ít có những tranh cãi chính trị.
Một cái nhìn đoàn kết
Rõ ràng những chia rẽ sâu xa trong giới lãnh đạo chính trị quốc gia từng nổi bật vào thập niên 1980 nay không còn hiện hữu. Các lãnh tụ TQ đoàn kết một cách đặc biệt quanh kiểu mẫu phát triển quốc gia, kết hợp việc cai trị độc đảng cùng sự tự do hóa chính trị hữu hạn với một phiên bản trung ương tập quyền cao độ bao gồm cải cách thị trường, tư nhân hóa tiệm tiến và dấn mình sâu xa vào kinh tế quốc tế.
Những phản đối Thiên An Môn và sự sụp đổ tiếp đó của các chế độ cộng sản chỉ làm vững mạnh thêm cảm giác đoàn kết ấy. Quả thật ngày nay, khó tìm thấy những bất đồng nghiêm trọng mang tính sách lược ở cấp thượng đỉnh, và suốt thập niên này không thấy có những đảo ngược sách lược sắc nét cùng kiểu mẫu “bắt đầu và chấm hết” của thập niên 1980. Ðây là một tập thể lãnh đạo quốc gia đoàn kết và nhiều tự tin tuy vẫn rất cảnh giác về vấn đề bảo đảm trật tự chính trị.
Ðó là những thay đổi cơ bản củng cố địa vị của một chế độ đảng trị, nhưng việc chú ý tới chúng không nhằm khẳng định rằng mọi sự tại TQ đang tốt đẹp hoặc rằng chế độ ấy sẽ kéo dài vô tận trong hình thức hiện nay của nó. Trong thực tế, ngày nay có những lực xã hội đang thao tác tại TQ báo trước sự thay đổi chính trị trong tương lai. Tuy thế, đó là những lực thao tác khác với những lực từng thao tác trong thập niên 1980, và chúng cũng là những lực rất khác với những lực đã làm các chế độ cộng sản sụp đổ ồ ạt hai chục năm trước đây.
Có thể nhận ra những lực ấy trong làn sóng rộng lớn những phản đối của người dân, được tường thuật rộng rãi và cũng bị thông giải rộng rãi trong những năm gần đây. Thực tế, trong thập niên hiện nay, TQ là một xã hội lủng củng hơn nhiều so với thập niên 1980, và những cuộc phản đối hôm nay có gốc rễ sâu xa hơn nhiều trong dân chúng thành thị và nông thôn.
Hồi thập niên 1980, các phong trào phản đối có địa bàn hoạt động tại những thành phố lớn; chúng liên quan tới sinh viên, thanh niên có học và một mức nào đó, tới trí thức. Tới năm 1989, những người phản đối mới lôi kéo rộng rãi các mảng thị dân đi với họ và ủng hộ họ. Nông dân thôn quê đang hưởng thành quả của nông nghiệp trên đất đai của hộ mình, không đóng vai trò nào trong các phong trào ấy và dường như họ cảm thấy bối rối khó xử về các nguyên cớ của chúng. Và hầu như trong mọi trường hợp, các đòi hỏi của thị dân năng động về mặt chính trị đều nhắm tới, một cách thẳng thắn, vào vấn đề lãnh đạo và chính sách quốc gia – đối với sự tự do hóa chính trị, tự do báo chí và tính vô tư trong những cuộc bầu cử địa phương.
Những phản đối ngày nay
Làn sóng phản đối tác động TQ suốt 10 tới 15 năm nay thì rất khác. Nó ít tập trung tại các thành phố lớn nhất. Sinh viên, giới trẻ có học và các nhà trí thức rất ít tích cực. Sinh viên thường xuống đường nhất, nhưng trên qui mô lớn là để biểu lộ lòng yêu nước và giận dữ các sức mạnh của nước ngoài. Ðợt sóng phản đối của giới cổ xanh (công nhân viên không lao động chân tay) là hậu quả của việc tinh giản khu vực nhà nước không đặt trọng tâm vào các thành phố chính. Thay vào đó, nó rải rác khắp đất nước, tập trung rộng lớn vào vòng đai han rỉ đang suy sụp – quanh các công ti Sô-viết già nua từ thập niên 1950, các công ti “mặt trận thứ ba” trong nội địa hoặc các vùng đông bắc TQ.
Phản đối ở nông thôn lan rộng không kém, rải rác khắp những vùng làng mạc ngoại ô cũng như tại các vùng xa xôi hẻo lánh. Những phản đối ấy được khởi hứng bởi các vấn đề kinh tế địa phương bức xúc: việc không trả tiền bồi hoàn đã hứa hoặc tiền trợ cấp công nhân bị sa thải trong thời kỳ tái cấu trúc hoặc bán công ty quốc doanh; lệ phí hoặc thuế chính quyền xã ấp đánh vào nông dân; việc chiếm đoạt bất công đất đai hoặc nhà của nông dân hay cư dân thành thị cho các dự án phát triển kỹ nghệ hay thương mại.
Chúng là những phản đối hoàn toàn chống lại viên chức địa phương, và chúng cầu viện luật pháp quốc gia cùng cáo buộc chính quyền địa phương tham nhũng và bất lương. Thủ lãnh các cuộc phản đối xem những cấp cao hơn của chính quyền như một giải pháp cho các vấn đề của họ, và những phản đối của họ, trên qui mô lớn, nhắm vào việc bảo đảm sự áp dụng vô tư luật pháp quốc gia mà họ cho là đã bị vi phạm thô bạo ở địa phương. Những cuộc tranh đấu đó thông thường là có tính cách thỉnh nguyện sự giúp đỡ của các cấp chính quyền cao hơn.
Những tranh cãi không thể tránh
Bộc phát những phản đối địa phương – được tường trình gần 80.000 vụ trong năm 2005, theo các nhân vật chính thức – là kết quả của những thay đổi sâu xa trong xã hội và kinh tế của TQ trong hơn 20 năm qua. Thời nông nghiệp tập thể, viên chức địa phương kiểm soát việc thu hoạch, quản lý đất đai và phân phối lợi tức. Với sự chuyển dịch tới việc canh tác theo hộ gia đình, nông dân kiểm soát và canh tác đất đai của mình và viên chức nông thôn phải trích lệ phí và thuế từ nông dân để có ngân khoản cho các hoạt động của chính quyền. Không thể tránh sự xung khắc đương nhiên của việc trích thu và quyền về đất đai, đặc biệt trong một xứ sở hoàn toàn không có luật pháp quản lý việc trích thu hoặc những định chế được thiết kế để phân xử công bằng những tranh cãi loại đó.
Cũng thế, trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cũ, quyền làm việc và hưu bổng cùng phúc lợi liên đới được bảo đảm. Khi công nhân bị tước quyền trong làn sóng tinh giản, việc tái cấu trúc và tư nhân hóa được qui định một cách thô sơ và thường đem lại lợi lộc cho viên chức và các nhà quản lý theo những cách thức lộ liễu, thì không thể tránh khỏi xung khắc. Và trên một qui mô lớn, TQ thiếu khung luật pháp hoặc nghiệp đoàn cùng những định chế chính quyền trong đó các nền kinh tế thị trường vận hành qua nhiều thế hệ đã góp phần điều chỉnh những xung khắc thuộc loại đó.
Trong lúc ấy kiểu mẫu phát triển của TQ dồn ép viên chức địa phương khắp nước lâm vào thế liên minh bền vững với các lợi ích của doanh nghiệp dù công hay tư, và tình thế ấy biến họ thành mục tiêu của những cuộc phản đối tập thể với những cáo buộc tham nhũng và câu kết nhằm chống lại họ.
Ðây là một quang cảnh chính trị xã hội rất khác với cái từng hiện hữu hồi thập niên 1980. Nông dân hồi thập niên đó hưởng lợi tức gia tăng từ việc canh tác nông nghiệp theo hộ gia đình, và ở nông thôn hiếm khi có phản đối. Các công nhân thành thị trúng đòn lạm phát và sợ sẽ bị sa thải, nhưng vẫn được bảo đảm quyền làm việc. Những phản đối hồi thập niên 1980 tập trung tại các thành phố chính và nhắm vào chính quyền trung ương. Ngày nay, những phản đối phân tán khắp quang cảnh đó nhưng nhắm vào viên chức địa phương và các quản trị viên công ty.
Những tháng gần đây, người ta thấy bùng lên trở lại cuộc xung đột sắc tộc tại Tây Tạng và Tân Cương. Tuy thế, trong chừng mực cắm rễ sâu xa và nghiêm trọng mà các vấn đề ấy có thể có, chúng hiện hữu tại những khu vực xa xôi. Và chúng biểu thị một sự hăm dọa nhỏ bé và tức thời, hoặc đối với chế độ khiến dường như nó đã quyết định trấn áp cuộc xung đột đó, và đối với công chúng thành thị TQ khiến họ biểu lộ ít thiện cảm đối với các nhóm can dự. Những xung khắc xã hội ấy tạo ra cho chính phủ trung ương các vấn đề mang tính sách lược nhưng chúng hầu như không là thách đố chính trị hay nguy cơ chính trị, từng được phô diễn bởi các phong trào chính trị tập trung tại Bắc Kinh và các thành phố rộng lớn khác hồi thập niên 1980 – các phong trào từng liên tục đe dọa làm vỡ từng mảnh giới lãnh đạo TQ thành các tuyến bè phái.
Trong ghế người cầm lái
Một số người quan sát nhìn khối tổng thể của những phản đối hiện nay là điềm báo hiệu sự khủng hoảng chế độ, làm như thể số lượng mỏng manh những hoạt động phản đối ấy quyết định tác động của sự phản kháng trên qui mô toàn quốc. Thỉnh thoảng người ta đọc thấy lời phỏng đoán rằng bất mãn đang lan rộng tại vùng nông thôn báo trước cơn đau ốm của chế độ tới độ làm phát sinh một cuộc nổi dậy du kích chiến ở nông thôn; một cảnh báo nào đó mang ý nghĩa rằng số phận của chế độ dân tộc chủ nghĩa trước đây có thể là kết quả xảy đến cho người cộng sản chủ nghĩa. Ðây là một suy tưởng đúng mực về lịch sử hiện thời của TQ nhưng chúng ta cần nhớ lại rằng đã phải cần một cuộc nổi dậy chiến tranh du kích cách mạng, sự xâm lăng của nước ngoài và sự chiếm đóng quân sự trước khi có thể huy động nông dân thành sức mạnh chính trị.
Một số nhà quan sát khác nối kết làn sóng các phản đối với các cấp độ bất bình đẳng đang gia tăng tại TQ – tất nhiên tới các cấp độ chưa từng thấy kể từ thập niên 1940 – và lúc này, người ta thường nghe những khẳng định rằng TQ là một trong những xã hội bất bình đẳng nhất thế giới. Quả thật các đo lường tổng thể về sự bất bình đẳng tại TQ gia tăng từ cuối thập niên 1970 khi các chỉ số bất bình đẳng toàn quốc – như được đo bằng hệ số Gini về phân phối lợi tức – ở khoảng .32, đại thể giống như ở Ðài Loan vào thời điểm đó. Chỉ số của TQ tăng nhanh tới giữa 40 vào cuối thập niên 1990, và ngày nay, trụ lại tại cấp độ đó.
Tuy thế, cũng quả thật rằng các cấp độ đó không cao một cách bất thường. Châu Mỹ La-tinh nằm dài ngày ở cấp độ cao hơn một cách có ý nghĩa về sự bất bình đẳng lợi tức (Brazil và Columbia cả hai ở .58) và nhiều quốc gia châu Phi có số đo lường cao hơn nhiều so với số đo đó. Các dữ liệu gần đây gợi cho thấy rằng sự bất bình đẳng lợi tức tại TQ lên tới tột đỉnh vào cuối những năm 1990 và giảm nhẹ kể từ lúc đó. Dù sao đi nữa, bất bình đẳng tự nó không nối kết trực tiếp với bất mãn chính trị – những nghiên cứu mới đây tại TQ chỉ dấu cho thấy rằng các công dân phán xét những cấp độ bất bình đẳng hiện thời ít khắc nghiệt hơn so với các công dân tại các nước khác như Ba Lan vốn có sự phân phối lợi tức bình đẳng khá hơn nhiều. Lý do là hầu hết công dân TQ trải nghiệm sự cải tiến kinh tế trong những năm gần đây và kỳ vọng hưởng cơ hội thêm nữa trong tương lai.
Những điềm báo chung chung vừa kể về sự bất ổn chính trị đang hiện ra lờ mờ không phải là những gì mà đôi khi chúng khẳng định phải là như thế. Chúng là những hội chứng của các xung khắc kinh tế trong một xã hội biến động một cách rộng lớn và trong bối cảnh một chế độ ổn định hơn và hưởng sự ủng hộ lớn lao hơn của đại chúng so với thập niên thứ nhất của công cuộc cải cách kinh tế. Thay đổi chính trị tại TQ sẽ tiếp tục là một sự vụ kéo dài, được lèo lái tới phía trước bởi những lực khác một cách căn bản với những lực từng xô ngã rất nhiều chế độ cộng sản phi chính thống và trì trệ kinh tế khoảng hai thập niên trước – và rằng nó đã hăm dọa ngắn ngủi chế độ TQ vào năm 1989.
Chắc chắn những cải cách 30 năm qua đã làm phát sinh những xung đột kinh tế nghiêm trọng. Một sự thất bại kéo dài trong việc phát biểu về những xung khắc này với bất cứ đánh giá nào khác với áp bức có thể cuối cùng làm tăng lên thật cao những đòi hỏi của đại chúng, được làm mới lại và nhắm một cách thẳng thắn hơn vào hàng ngũ lãnh đạo trung ương. Tuy thế, trong khoảng thời gian này, phản ứng của đại chúng dường như đang tạo sức ép lên chính quyền TQ nhằm tạo ra những định chế mới để phân xử công bằng hơn những xung khắc.
© Nguyễn Ước: Bản tiếng Việt
NGÒI NỔI DẬY ĐẾN TỪ PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC VIỆT NAM
Đã mấy tháng nay, chúng tôi đợi cái tin PHÁ GIÁ ĐỒNG BẠC VN, nghĩa là LẠM PHÁT TIỀN TỆ ĐỘC TÀI hay VỤ CƯỚP TRỐC TAY tiết kiệm của dân. Những bản tin gần đây nhất cho thấy việc phá giá đang được thi hành và nó chắc chắn đưa đến NỔI DẬY một là của quần chúng nghèo, hai là của chính đảng viên quân-cán-chính.
Chúng tôi đề cập tới những điểm sau đây:
=> Những Bản Tin mới đây nhất
=> Phá giá đồng bạc hay Lạm phát Tiền tệ là hành động cướp giựt
=> Quân-Cán-Chính nhà nước NỔI DẬY hay Dân nghèo ĐỨNG LÊN
Những Bản Tin mới đây nhất
Ngày 6 tháng 9 năm 2011, Bản Tin từ Bà NGUYỄN MỸ-LINH như sau:
“Đúng như dự đoán của nhiều người, khi Nguyễn Tấn Dũng in tiền thêm 300.000 tỉ tiền Hồ đổ vào thị trường tài chánh để mua ngoại tệ trong quần chúng rồi châm vào sự khiếm hụt mậu dịch. Đây thật sự là số tiền ăn cướp của Nguyễn Tấn Dũng đối với nhân dân Việt Nam. Sự việc này đã dẫn đến đồng tiền Hồ càng mất gía thêm và nhân dân đã kéo nhau mua vàng, tiền tệ, hoặc hàng hóa dự trử. Theo tin trong nước, nhiều người đã chở một xe tiền Hồ đến những tiệm vàng để mua vàng.”
Ngày 26 tháng 9 năm 2011--Mylinhng@aol.com
Ngày 30.09.2011, Bản Tin của FreeVietNews đi vào chi tiết hơn:
“Vì Tiền VN Mất Giá, Lạm Phát, Dân VN Ào Ạt Đi Mua Vàng; Dân mua vàng trữ, ngoaị tệ ra nước ngoàì, đồng bạc mất giá thêm...
HANOI/SAIGON -- Dân chúng kinh hoàng với tình hình lạm phát, khi đồng bạc ngày càng mất giá... đó là lý do người có tiền liên tục rủ nhau đi mua vàng, bất kể là giá vàng có tăng bao nhiêu đi nữa, hy vọng trị giá tài sản không bị bốc hơi.
Báo Pháp Luật hôm 29-9-2011 có bản tin nhan đề “Chen nhau mua vàng: Dân mình liều thật!” Báo Pháp Luật nói, thị trường vàng luôn là điểm nóng trong mấy ngày gần đây. Nhất là khi giá vàng trong nước cao hơn giá thế giới tới 4,4 triệu đồng/lượng vào ngày 26-9.
Báo naỳ kể:“Ngân hàng Nhà nước cho hay đó là do bị đầu cơ. Vàng trong nước đang bị làm giá và đã khuyến cáo người dân thận trọng khi mua vàng. Nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới, Ngân hàng Nhà nước cũng đã cho phép nhập khẩu vàng. Song đến ngày 28-9, giá vàng trong nước vẫn đắt hơn giá thế giới đến 2,5 triệu đồng/lượng. “Posted on 30 Sep 2011--FreeVietNews
Vàng luôn luôn có Giá trị Tỵ nạn an toàn khi Tiền tệ trôi nổi mất giá. Việc Nhà Nước độc tài Tiền tệ phá giá đồng bạc VN khiến dân thấy tài sản mình cất giữ dưới dạng đồng bạc VN đang bị Nhà Nước cướp giựt lấy.
Phá giá đồng bạc hay Lạm phát Tiền tệ là hành động cướp giựt
Những quý độc giả đọc những bài tôi viết trước đây về Phá giá Tiền tệ đều nhận thấy rằng tôi luôn luôn trích dẫn lời của Giáo sư Florin AFTALION. Giáo sư là người quan sát và kinh nghiệm về những nước bắt đầu phát triển vào những năm 1980, thời kỳ mà Lạm phát Tiền tệ ở Phi Châu và Nam Mỹ lên tới 1000%. Về phương diện Nhà Nước độc tài ra lệnh cho phá giá Tiền tệ để xẩy ra Lạm phát phi mã, Giáo sư Florin AFTALION đã quá kinh nghiệm với những chính quyền tại các nước đang phát triển, nhất là những chế độ độc tài:
”... dans les pays en développement le controle de la création monétaire est le plus souvent entre les mains du pouvoir politique, et non de banques centrales indépendantes. L’inflation est un moyen de fiancement très commode. Elle est apprécìee par les hommes politiques dans la mesure òu elle permet à court terme d’accorder les hausses de salaires et des subventions, de mettre de l’huile dans les rouages.” (LE MONDE Mercredi 31.10.2007, page 2)
(... tại những nước đang phát triển, việc kiểm soát phát hành tiền tệ thường nằm trong tay của quyền lực chính trị, và không ở những ngân hàng trung ương độc lập. Lạm phát là một cách thế tài trợ rất thuận tiện. Nó được ưa chuộng bởi những người làm chính trị ở phương diện nó cho phép trong ngắn hạn tăng lương và trợ cấp các Công ty, cho phép bỏ dầu vào guồng máy)
Tại sao Lạm phát Tiền tệ là hành động cướp giựt Tiết kiệm ? Chúng tôi xin cắt nghĩa như sau:
Trước hết Lạm phát là gì ?
Trong Chế độ Bản vị tương đương Hàng hóa, Dịch vụ với đồng Tiền, Lạm phát hiện ra khi so sánh một Lượng Tiền nhất định đối với tương đương Hàng hóa hay Dịch vụ ở hai thời điểm khác nhau. Nếu cùng một Lượng Tiền mà tương đương Hàng hoá hay Dịch vụ ít đi, người ta gọi là Lạm phát hay vật giá tăng. Cũng vậy, nếu cùng một Lượng Hàng hóa hay Dịch vụ mà phải dùng một Lượng Tiền cao hơn mới mua được, người ta gọi là Lạm phát hay vật giá tăng.
Tỉ dụ trong tháng 12.2010, để có mộ tô phở gà, phải có lượng tiền là 2’000 Đồng VN. Ở thời điểm đầu tháng 4.2011 này, muốn có một tô phở gà giống hệt, phải cần lượng tiền là 2’500 Đồng VN. Lạm phát là (500/2000) x 100 = 25% hay vật giá tô phở tăng 25%. Nếu một người chỉ có lượng tiền cố định 2’000 Đồng VN. Tháng 2.2010, người đó ăn được một tô phở gà cho no bụng. Đầu tháng 4.2011, người đó cũng chỉ có 2’000 Đồng VN, họ chỉ ăn được 2/3 tô phở và bụng đói. Đây cũng là Lạm phát, vật giá tăng, nhưng là do tương đương hàng hóa kém đi.
Đâu là những lý do chính yếu gây Lạm phát ?
Lý do của Lạm phát có nhiều, như lý do kinh tế vì giá nguyên vật liệu hay linh kiện nước ngoài tăng tác động lên Giá thành sản xuất, như lý do việc sản xuất của trong nước mang hiệu năng tụt dốc. Xin quý vị đọc thêm những bài tôi viết về Lạm phát đăng trong số báo này, ở phần Kinh tế/ Tài chánh. Trong phạm vị của bài Nhận định Thời sự về Phá giá đồng bạc VN, chúng tôi chỉ nói đến Lý do độc đoán thuộc hẳn về lãnh vực Tiền tệ.
Chúng tôi dùng Công thức đơn giản nhất của FISCHER về việc so sánh Lượng Tiền lưu hành và Lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi:
M.V
------ = P
T
M là Lượng Tiền cho vào lưu hành. V là tốc độ vận hành của đồng Tiền. Nếu V quy nhanh, thì lượng Tiền lưu hành tăng khối lượng lên. T là tổng lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi trong một khoảng thời gian. P là Chỉ số giá cả tiêu dùng.
T bao gồm những lý do tác động lên Lượng Hàng hóa và Dịch vụ tăng lên hay giảm xuống. M.V bao gồm những lý do tác động lên Lượng Tiền lưu hành. Cứ theo Công thức trên đây, nếu P tăng, tức là Lạm phát: (i) một là do T Lượng Hàng hóa, Dịch vụ sản xuất và trao đổi yếu kém đi; (ii) hai là do M.V Lượng Tiền lưu hành tăng lên. Nếu T giảm đồng lúc với MV.tăng, thì Lạm phát phi mã hai tốc độ.
Theo Công thức đơn giản này, Lượng Tiền cho vào lưu hành (M.V) được so sánh với Lượng hàng hóa và Dịch vụ (T) để có thể biết Giá trị của đồng Tiền tương đương với hàng hóa và dịch vụ như thế nào. Đồng tiền trong trường hợp này được gọi là đồng tiền đã được hội nhập vào Kinh tế (Intégration économique de la monnaie). Việc Tiền tệ hội nhập vào Kinh tế phải có một thời gian kéo dài của những Chu trình sản xuất Kinh tế. Đồng Tiền mới in ra chưa có giá trị Kinh tế bởi vì nó chưa qua Chu trình sản xuất Kinh tế. Những tác nhân Kinh tế, qua đồng Lương, qua Lợi nhuận, tích lũy lại một phần đồng tiền đã được hội nhập Kinh tế để làm Tiết kiệm. Tiền Tiết kiệm này là đồng Tiền “thật“ đã được hội nhập vào Kinh tế.
Tiền mới in ra ăn cướp Tiết kiệm như thế nào ?
Đồng Tiền mới in ra chưa có tương đương hàng hóa và dịch vụ. Nếu Nhà Nước độc tài thả tắt nó vào lưu hành chung với đồng Tiền đã được hội nhập Kinh tế trong suốt một Chu trình sản xuất dài, thì đó là hành động ăn cươp, làm giảm giá trị đồng Tiền “thật“ mà những tác nhân Kinh tế đang giữ. Nhà Nước trả lương cho công chức bằng đồng Tiền mới chưa hội nhập Kinh tế, rồi những công chức này đưa tiêu những đồng Tiền mới in ra để đánh lận với đồng Tiền “thật“ đang mang giá trị tương đương hàng hóa và dịch vụ, đó là hành động cướp giựt vậy.
Quân-Cán-Chính nhà nước NỔI DẬY
hay Dân nghèo ĐỨNG LÊN
Bản Tin của FreeVietNews ngày 30.09.2011 viết như sau:
“98% CÔNG CHỨC VIỆT NAM THAN LƯƠNG KHÔNG ĐỦ SỐNG
Tin Hà Nội - 98% công chức của 3 bộ và 15 tỉnh tại Việt Nam xác nhận trong một cuộc khảo sát mới đây rằng tiền lương được lãnh hàng tháng không đủ sống. Điều xác nhận này không hề gây ngạc nhiên trong dư luận mặc dù mức lương tối thiểu đã 7 lần được điều chỉnh tăng suốt 8 năm qua từ 210,000 đồng, tương đương với 10 đô lên 830,000 đồng, tương đương với 40 đô. Trong khi đó Bộ Nội vụ Cộng sản Việt Nam đã tổ chức một cuộc hội thảo hô hào cải cách tiền lương một cách có thực chất. Tại cuộc hội thảo này, một số viên chức các tỉnh Cần Thơ và Sóc Trăng báo động về việc đã mất cả tiền và cán bộ sau khi đưa họ đi du học về.”
Số lượng quân-cán-chính mà Nhà nước sử dụng thì đông lắm. Bộ máy Hành chánh phải tạo ra những rườm ra, cồng kềnh, nhiều chức vụ để xếp chỗ cho những đảng viên của mình. Vào đảng để có chỗ làm việc mà !
Với Vật giá leo phi mã mà 98% Công chức thiếu lương, tì làm sao sống nổi. Còn 2% đảng viên cao cao cấp thì lại sống tiêu xài như nước vì vơ được nhiều tham nhũng. Làm thế nào 98% quân-cán-chính nhà nước sống nổi với Lạm phát phi mã ? Chỉ có hai con đường sống với Lạm phát phi mã:
* Một là: 98% quân-cán-chính phải NỔI DẬY để dành lại miếng ăn với 2% đảng viên lãnh đạo đang tiêu xài hoang phí kia.
* Hai là: 98% quân-cán-chính đói ăn phải đi vào con đường tham nhũng giống như 2% đảng viên lãnh đạo kia. Phạm vị tham nhũng của 98% quân-cán-chính này là nơi quần chúng nghèo. Dân nghèo cũng đang đói ăn vì Lạm phát phi mã. Nếu bây giờ 98% quân-cán-chính nhào vô cướp miếng cháo nữa, thì quần chúng nghèo hết cả cháo tất nhiên phải NỔI DÂY.
Tóm lại Phá giá đồng bạc để cướp giựt trốc tay, làm Vật giá tăng phi mã sẽ đưa đến hai trường hợp NỔI DẬY:
- 98% quân-cán-chính thiếu ăn NỔI DẬY vì thiếu hụt đồng lương nếu không làm tham nhũng. Lê Duẫn thường nói lương của công chức là tham nhũng.
- Quần chúng nghèo đã đói ăn, còn phải chịu tham những của khối 98% quân-cán-chính để đi đến gần hết hơi thở, thì lúc ấy trước khi chết, sẽ NỔI DẬY dứt bỏ cái Cơ chế CSVN nuôi dưỡng cả đám 98% quân-cán-chính và 2% lãnh đạo CSVN.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Geneva, 06.10.2011

http://www.dulichvietnam247.com/images/uploads/News/images1902479_vietKieu.jpgTại sao nhiều ông thích về Việt Nam cặp bồ?

WESTMINSTER (NV) - “Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn.
Trong khi mỗi lần về Việt Nam , tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”
Đó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”
http://xemphimfree.net/uploads/1231520983_Xq8O.gif
Vũ trường, bar, trung tâm mua sắm... là những nơi nhiều Việt kiều khi về Việt Nam hay lui tới và cũng gặp nhiều “cạm bẫy.” (Hình: Paula Bronstein/Getty Images)
Lý do của ông Hai Lý chỉ là một trong số những lý do mà nhiều người đàn ông lớn tuổi, như ông Nghĩa Nguyễn, ông Nguyên Phạm, đưa ra để giải thích cho câu hỏi, “Tại sao nhiều ông thích về Việt Nam cặp bồ?”

Từ cảm giác ‘không có chỗ đứng ở Mỹ’...

Thấy mình “không có chỗ đứng ở Mỹ” là cảm giác của ông Nghĩa Nguyễn, người sắp mừng thọ 75 tuổi và là cư dân thành phố Orange.
Không xuất thân là một tướng tá lên xe xuống ngựa có người săn đón, nhưng hình ảnh của người chồng, người cha trụ cột trong nhà, một viên chức hành chánh của một quận trước 1975, đã khiến ông Nghĩa Nguyễn trở nên có uy quyền đối với vợ con, một lời ông nói ra là “cả nhà ai cũng sợ.”
Như một kiểu gia đình nề nếp, gia giáo, nên dù có lúc “giận nhau bầm gan tím ruột” vợ ông cũng không bao giờ bộc lộ ra ngoài cho con cái hay người ngoài biết để mà còn “giữ thể diện gia đình.”
Năm 1995, lúc ông Nghĩa về hưu cũng là lúc vợ chồng ông sang Mỹ theo diện con cái bảo lãnh. Với ông, cuộc sống ở Mỹ khi đó “giống như địa ngục.”
Bởi, ông “không biết lái xe, không biết tiếng Anh, xin đi làm thì không ai nhận.” Những đứa con đi vượt biên ngày nào giờ đã hấp thụ văn hóa Mỹ, không còn răm rắp nghe lời ông như ngày xưa. Mấy đứa cháu nội, ngoại thì chỉ toàn nói tiếng Mỹ, và dĩ nhiên chúng cũng không muốn nghe lời ông. Vợ ông cũng vậy. Bà dường như không còn thói nín nhịn như ngày xưa. Bà sẵn sàng “đốp chát” lại với ông ngay khi có thể.
Ngột ngạt và tù túng, ông Nghĩa “chỉ muốn quay trở lại ngay Việt Nam,” nhưng các con ông không cho, vì “tụi nó nói dù gì thì đời sống ở Mỹ cũng tốt hơn vạn lần ở Việt Nam.”
Thế là việc trở về Việt Nam trở thành niềm “khao khát” đối với người đàn ông có tuổi đang sống ở thành phố Orange này. Khi dành dụm đủ tiền con cái cho, ông Nghĩa mua ngay vé máy bay về Sài Gòn.
“Về đó lúc đầu thì cũng là đi tìm gặp những ông bạn già ngày trước để hàn huyên, để nhậu nhẹt cho vui thôi,” ông Nghĩa nói lý do về nước của mình. Theo ông, dù từng nghĩ “sống ở Mỹ như địa ngục,” nhưng khi về nhìn lại những người bạn cùng lứa ngày trước, ông Nghĩa lại thấy mình “ngon lành hơn.”
Tương tự như vậy là trường hợp của ông Hai Lý, một cư dân ở Midway City, người cũng đã bước qua tuổi 70, “cổ lai hy.”
Theo lời ông Hai Lý, ông sang Mỹ từ năm 1975, “Việt cộng tấn công vô là tôi đi ngay.” Sau thời gian đi làm “assembly” ở hãng, hiện tại ông Hai đã về hưu, “ly dị lâu rồi,” và “mấy đứa con cũng đều có gia đình ở riêng.”
Ông Hai không có nhà, cũng không có xe vì ông cho rằng “già rồi đi xe bus cho tiện.” Ông không nói lương hưu của ông bao nhiêu, chỉ nói mỗi tháng ông trả $300 tiền thuê phòng, và phải ra ngoài ăn uống một cách tiết kiệm vì “chủ nhà không cho nấu ăn.”
“Ở đây, người ta nhìn tình cảnh của tôi chẳng khác gì thằng cơ hàn,” ông Hai tự đưa lời nhận xét. “Nhưng khi về Việt Nam thì tôi khác à!”

Đến 'anh' Việt kiều được chìu chuộng chăm sóc

“Ở đây, người ta nhìn một ông già 70 như tôi, không có xe, không có nhà chẳng khác nào như một thằng cơ hàn. Trong khi mỗi lần về Việt Nam , tôi thấy mình như ông vua, có thể hét ra lửa được, vì con gái Việt Nam rẻ như bèo, mình có tiền muốn làm gì mà chẳng được.”
Đó là lý do mà ông Hai Lý cứ chắt mót số lương hưu, khi thấy “vừa đủ” là bay ngay về Việt Nam để được làm người “hét ra lửa.”
Người đàn ông đậm người, tóc được nhuộm đen không thể nhìn ra một sợi trắng, nói rất tự nhiên, “Về Việt Nam , tôi ít khi ở Sài Gòn, ở đó cái gì cũng mắc mỏ. Tôi còn bạn bè ở Vĩnh Long. Mỗi lần tôi về là họ dẫn tôi đi chỗ này chỗ nọ.”
“Chỗ này chỗ nọ” của ông Hai là những quán cà phê, những tiệm massage cũng “sạch sẽ tươm tất” nhưng giá cả không quá đắt. Ông Hai nói không cần che giấu, “Mình bỏ ra có ba bốn trăm ngàn, chưa đến hai chục đô, mà có người gội đầu, người ngồi cắt móng tay, móng chân, người mát-xa mặt thì còn muốn gì nữa. Đàn ông mà.”
Ông Hai cũng nhắc đến những nơi ông thích lui tới như “cà phê vườn,” “cà phê võng” nhưng khi được hỏi ở đó có gì khiến ông thích thì ông chỉ cười không trả lời, rồi bắt qua chuyện khác.
Không nhận xét “con gái Việt Nam rẻ như bèo” như kiểu ông Hai Lý, nhưng cảm giác được “chìu chuộng chăm sóc ngọt ngào” cũng là điều ông Nghĩa Nguyễn tìm thấy trong những lần về Việt Nam sau đó.
Ông Nghĩa kể mấy lần sau về Việt Nam, nhiều bạn già, bạn nhậu của ông người thì chết, người thì bệnh bởi những chứng tiểu đường, cao máu. Buồn, thiếu người nói chuyện, ông Nghĩa “đi cắt tóc thanh nữ cho quên sầu.”
Học được cách cho tiền “tip” từ Mỹ, ông Nghĩa “bo” cho cô thợ cắt tóc một ít tiền. Thế là “cô thợ chỉ hơn 20 tuổi kêu tôi bằng anh ngọt xớt.” Ông Nghĩa kể lại mà gương mặt vẫn còn giữ nguyên nét hồ hởi, “Tôi nghe khoái quá! Bởi lâu lắm rồi người ta chỉ kêu tôi bằng chú, bằng bác, vợ tôi thì khi nói chuyện cũng kêu tôi bằng ông. Giờ nghe có người kêu mình bằng ‘anh’ thấy lạ tai và thấy mình trẻ ra.”
Cứ vậy mà ông Nghĩa mê trò “đi cắt tóc, gội đầu, mát-xa.”
Rồi ông cũng chợt nhận ra là ông chưa từng bao giờ hưởng được sự dịu ngọt, chìu chuộng như vậy từ vợ con, họ chỉ từng “sợ” ông khi ông còn là trụ cột trong nhà. Ông cảm thấy hình như đã đến lúc ông cần “phải lo cho bản thân ông nhiều hơn.”
Ông Nghĩa bắt đầu có thú vui mỗi khi về Việt Nam là đi “khám phá” những “tiệm cắt tóc gội đầu máy lạnh” và đi nhậu ngoài quán chứ không còn nhậu với mấy ông bạn già ở nhà như những lần trước.
Ông lại vui hơn nữa là mấy cô gái nơi đó đều gọi ông bằng “anh.” Mà tính ông lại “thương người” nên cứ nghe cô nào ngồi thủ thỉ chuyện gia cảnh khó khăn phải đi làm thế này là ông lại cho tiền, “mỗi lần 50 đô hay có khi cho 100 đô.”
Khi được hỏi, “Ông không nghĩ là những cô gái đó ngọt ngào với ông vì chỉ muốn tiền của ông thôi sao?” ông Nghĩa tỉnh bơ trả lời, “Sao lại không biết! Nhưng tôi cảm thấy tôi happy trong những khoảng thời gian đó thì tôi làm thôi.”

Chỉ muốn ‘ăn bánh trả tiền’ hay thực sự muốn chuyện trăm năm?

“Ăn bánh trả tiền” là điều ông Nguyên Phạm, gần 60 tuổi, chủ một business nhỏ ở Santa Ana, chọn.
Ông Nguyên xác định rất rõ, “Cuộc sống vợ chồng tôi ở đây không hạnh phúc. Nhưng cũng không ly dị vì không muốn giải quyết chuyện phân chia tài sản. Mỗi năm tôi về Việt Nam một đôi lần là để đi chơi, hưởng thụ.”
Theo lời ông Nguyên kể, mỗi lần về Việt Nam, qua lời giới thiệu của “người quen,” ông sẽ “cặp kè” với một cô. Trung bình ông sẽ trả cho cô gái $1,000 cho cuộc sống “già nhân ngãi, non vợ chồng” trong vòng một tháng. Còn những khoảng ăn ở, đi chơi nơi này nơi khác, ông Nguyên cũng là người chi trả hết.
Người đàn ông này giải thích thêm, “Mỗi lần về Việt Nam trong thời gian ngắn ngủi như vậy chỉ thấy mình được chìu chuộng, nâng niu. Không có chuyện cãi lộn, gấu ó. Không bị căng thẳng đầu óc vì công việc.”
“Cũng có lúc gặp mấy cô dễ thương, khi qua đây rồi cũng có gọi điện về nói chuyện chơi. Nhưng khi thấy cô nào bắt đầu than ‘má em bệnh, ba em đau, xe em mất’ là tôi ‘bái bai,’ cắt liên lạc luôn để khỏi phiền.” Ông Nguyên nói.
Ông Hai Lý cũng xác định chuyện muốn “hét ra lửa,” vung tay cho tiền những cô gái quê để được chăm sóc, nâng niu cũng chấm dứt khi rời khỏi Việt Nam, bởi ông không muốn có những ràng buộc, “qua đây thân tôi lo còn chưa xong nữa mà đèo bòng thêm chi.”
Riêng ông Nghĩa Nguyễn thì có hơi khác. Không chỉ có cảm giác là mình “thật sự trẻ ra” khi “bước vô quán nào người ta cũng kêu tôi bằng anh,” mà ông còn muốn nếu có ai đó chịu đứng ra bảo trợ tài chánh thì ông sẵn sàng ly dị vợ để cưới ngay một cô từ Việt Nam qua để suốt ngày nghe tiếng “anh” cho thỏa cái lỗ tai.
Ước mơ của ông Nghĩa đang lưng chừng thực hiện được “phíp-ty pờ xen” (50%) vì các con ông chia hai phe. Một phe ủng hộ, “ba già rồi hãy làm điều gì cho ba vui thì làm.” Nhưng phân nửa kia thì cật lực phản đối, “không chịu được cảnh nhìn ba tung tăng đi công viên với một đứa đáng tuổi cháu ngoại.”
Vợ ông Nghĩa đương nhiên biết chuyện “cặp bồ” của ông ở Việt Nam, nhưng bà nói, “Già từng tuổi này rồi, tui chẳng có gì để ghen tuông, mà tui chỉ thấy phát gớm!”
Ngọc Lan(NV)

No comments:

Post a Comment