Wednesday, October 12, 2011

Bài viết hay188)

image


image

Chưa đi chưa biết Sài Gòn
Đi ri mi biết chng còn mt xu

image

V nhà mi biết mình ngu
Thng ln ăn ít mà thng cu "ăn"thì nhiu .

image

Thu đi , đ li lá vàng
Anh đi đ li cho nàng thng cu .

image

Hi trường yên vng ng say
Thuyết trình va dt … v tay ra v .

image

Nh quá kh bun rơi nước mt .
Nhìn tương lai lnh toát m hôi .

image

Bánh mì phi có patê ,
Làm trai phi có máu dê trong người .

image

Biết chng mun cưới v hai ,
Em v mua sn quan tài ch anh .

image

Cam sành lt v còn chua ,
Thương em còn nh anh cua đ dành .

image

Chn xoài đng đ xoài chua ,
Chn bn đng đ bn cua b mình .

image

Ch chê em xu , em già ,
Em đi sa li , đp ra bây gi .

image

Còn thi lên nga bn cung ,
Hết thi xung nga ly thun bn rui .

image

Đêm nm dưới bóng trăng ,
Thương cha nh m không bng nh em .

image

Đường v đêm ti canh thâu ,
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười .

image

Gió đưa bi chui sau hè ,
Gin chơi mt chút , ai dè có con .

image

Hc mà không chơi : đánh rơi tui tr .
Chơi mà không hc : bán r tương lai .

image

Thôi thì ta chn c hai ,
Va chơi va hc , tương lai huy hoàng .


image

Khôn ba năm di mt gi .
Biết vy di sm , khi ch ba năm .

image

M ơi con mun có chng .
Con ơi m cũng mt lòng như con .

image

Mt chng không đ tin tiêu ,
Mười chng góp li , sáng chiu shopping .

image

Người đi mt na hn tôi mt .
Mt na hn kia đng chi th .

image

Tình ch đp khi còn dang d ,
Cưới nhau v tt th càng nhanh .

image

Tóc th em xoã ngang vai ,
Anh mà đng ti , bt tai bây gi !

image

Trách người quân t vô tình ,
Chơi hoa xong li ... hái cành kế bên .

image

Uc gì em hoá thành trâu ,
Đ anh là đa anh bâu ly đùi .

\image
V mà không đánh thì thôi ,
Ch ông đánh v là đi ông tiêu !
CHỒNG NAM VỢ BẮC
Tôi lấy vacation nghỉ ở nhà 3 ngày để dưỡng sức vì bị cảm từ mấy ngày trước. Ba ngày ở nhà tôi tha hồ ngủ muộn dậy trễ và lên net vui chơi với bạn bè. Có nhóm bạn bè cùng lớp thời trung học là thân nhất, chúng tôi gặp nhau hàng ngày, ngoài thông tin liên hệ tới trường cũ bạn xưa nếu có, hầu hết chúng tôi hỏi thăm nhau, kể chuyện mình, chuyện đời và vui đùa qua lại. Thời buổi thông tin điện tử vừa nhanh vừa tiện lợi.
Sáng hôm nay chúng tôi có đề tài “Kiếp sau tôi sẽ thay chồng, đổi vợ không?” nhiều bạn hăng hái trả lời sẽ lấy chồng khác, vợ khác để …thay đổi không khí, bạn Nguyễn Trung Trực đã xuất thần làm ngay 2 câu thơ dù cả đời chẳng làm thơ bao giờ:
“Một kiếp đã oải lắm rồi,
Lấy thêm kiếp nữa đời tôi còn gì?”
Và một bạn khác cũng đồng tình:
“ Một kiếp đã chán thấy bà,
Lấy thêm kiếp nữa chắc là tiêu luôn”
Nhưng vài người quyết chí kiếp sau sẽ lấy lại người phối ngẫu hiện tại của mình. Tôi cũng thế, sẽ lấy lại người chồng Nam Kỳ hiền lành đã dám kết duyên cùng tôi cô em Bắc Kỳ chanh chua đanh đá.
Ngày xưa anh Bông quen tôi đúng là duyên kỳ ngộ, không tìm nhau mà gặp nhau. Anh hay đến thăm một người bạn ở cùng xóm tôi, lần nào anh cũng gặp tôi đang ngồi ăn bún riêu xì xụp ở đầu con hẻm. Nhờ tật ăn hàng thường xuyên ấy mà anh nhớ mặt tôi và tò mò làm quen. Khi đã quen nhau anh chọc quê tôi:
- Xóm này có nhiều con hẻm giống nhau, nhưng nhờ có em ngồi ăn bún riêu nên anh biết chắc mình không lộn.
Tôi đã bẻn lẻn và chọc lại anh:
- Tại em thích ăn bún riêu cua với rau kinh giới, nên thành ghiền luôn. Hôm nào em nghỉ ăn bún riêu cho anh đi lạc sang ngõ hẻm khác cho biết thân..
Quê anh Bông ở Cần Thơ gạo trắng nước trong, ruộng vườn bát ngát, cây trái xum xuê, anh là công tử miệt vườn của xứ Tây Đô.
Mẹ tôi không tán thành cho tôi kết duyên với anh, bà thành kiến với trai miền Nam, chỉ thích ăn nhậu, sinh ra đánh vợ đánh con và nhất là tiêu xài hoang phí, không biết phòng xa cho tương lai, lấy nó thì đời con nghèo mạt rệp, hạnh phúc chẳng dài lâu. Thà tôi lấy người miền Trung, xứ khô cằn sỏi đá nhưng sản xuất ra nhiều nhân tài, chịu thương chịu khó làm ăn và căn cơ tằn tiện …cao tay hơn cả dân miền Bắc thì bà yên chí đời tôi ấm no, hay tôi lấy đồng hương miền Bắc thì tốt nhất vì giống nhau mọi thứ, sẽ thông cảm nhau.
Nhưng mẹ tôi đâu biết rằng tôi đã “kết” anh Bông rồi, nghe anh tả vườn trái cây nhà anh tôi đã mê tơi, chỉ mong được về quê anh trèo hái trái cây và ăn cho thỏa thích, những trái mận, trái soài ngọt lịm ngon lành, mà dù có chua thì chấm muối ớt cũng ngon luôn.. Còn chuyện tính tình thì tùy từng người, chứ đâu phải trai miền Nam nào cũng hư như mẹ tôi nghĩ.
Tôi đã hứa với mẹ:
- Mẹ yên tâm, anh ấy là dân Cần Thơ hay bất cứ vùng Nam Kỳ Lục tỉnh nào, hay dân miệt vườn Nam bộ Hốc Môn Bà Điểm 18 thôn vườn trầu đi chăng nữa mà vào tay con, con sẽ huấn luyện thành Bắc Kỳ nhà mình ngay.
Cuối cùng mẹ tôi cũng phải đồng ý, bà lo âu dặn dò:
- Vậy con phải học làm ruộng, làm vườn mà gánh vác giang sơn nhà chồng.
Tôi yêu vườn ruộng nhà anh, tôi yêu anh, dù trước đó những đồng hương Cần Thơ của anh đã lừa đảo tôi hai cú thật đẹp..
Sau năm 1975 có lần mẹ tôi sai tôi đi Cần Thơ thăm một gia đình họ hàng làm ăn ở đó. Khi về tôi có ghé chợ tại bến Ninh Kiều để mua trái cây về Sài Gòn làm qùa. Tôi đã chọn lựa kỹ từng qủa soài, một chục soài 14 qủa, ( người miền Nam hào phóng thế đấy, đã gọi là “một chục” đáng lẽ ra là 10 mà thành 14) Bà bán hàng để vào túi giấy ngay trước mắt tôi. Vậy mà bà phù phép sao đó về nhà đếm lại chỉ có 12 qủa mà lại có mấy qủa soài hư. Tôi vừa tức giận vừa…kinh ngạc bái phục bà bán hàng soài sát đất. Hay là bà đã tốt nghiệp nghề ảo thuật trước khi ra chợ bán hàng ?
Chưa hết, khi ra bến xe đò về Saì Gòn, thấy phòng bán vé đông nghẹt người, tôi biết sức mình không chen lấn nổi với người ta, đành tìm mua vé chợ đen, thì có một anh lơ xe túm áo tôi mời mọc lên xe với gía cả đắt gấp đôi gía chính thức. Tôi đồng ý miễn là khỏi bon chen và được về sớm, anh hướng dẫn tôi lên xe ngồi xong đòi tôi trả tiền để anh còn chạy đi kiếm thêm những khách khác cho mau đủ chuyến.
Tôi trả tiền và thong thả ngồi ngắm thiên hạ đang lu bu ngoài bến xe mà thương cho họ, thà chịu hi sinh tốn thêm tiền như tôi cho khỏe tấm thân.
Khi hành khách đã đầy và xe bắt đầu chạy thì một anh lơ xe khác đến thu tiền từng người. Tô mới giật mình biết mình đã bị lừa, anh lơ xe lúc nãy là tên lưu manh lường gạt nào đó, anh lơ xe này mới là thật. Thế là tôi lại phải trả tiền xe gía chợ đen thêm một lần nữa.
Mẹ tôi qúa lo xa, vì vợ chồng tôi sống ở Sài Gòn, tôi không phải làm ruộng làm vườn, nhưng quản lý một anh chồng Nam Kỳ theo …truyền thống Bắc Kỳ nhà mình, theo đúng ý mình cũng vất vả lắm.
Mẹ tôi nói linh qúa, anh Bông vừa ăn xài rộng rãi vừa thích nhậu nhẹt lu bù.
Mới lấy nhau tôi đã thấy làn ranh Nam Bắc ngay trong nhà mình, trong cách ăn uống, cách suy nghĩ và trong từng lời ăn tiếng nói của hai vợ chồng. Bố mẹ tôi người Bắc, di cư vào Nam lại sống trong khu xóm toàn người Bắc, nên tôi vẫn nguyên vẹn là con gái Bắc cả từ ăn nói đến cách sống ở đời.
Bài học vỡ lòng tôi dậy anh là dẫn anh vào bếp chỉ từng món một:
- Anh ơi, đây là cái “ bát” và cái “thìa”, anh đừng gọi là cái “chén” và cái “muỗng” nữa nhé.
Anh nhanh nhẩu:
- Biết rồi, còn cái “gía” múc canh kia kêu là cái “môi” chứ gì?
Tôi không hài lòng:
- Đấy, sao anh lại nói tiếng Nam “kêu là” phải “gọi là” như tiếng Bắc em chứ. Em đã nói rồi, hai vợ chồng sống chung cả đời với nhau dưới một mái nhà thì phải cùng một thứ ngôn ngữ cho đồng điệu mà, đơn giản chỉ vì thế thôi, chứ em không ghét bỏ gì tiếng miền Nam của anh đâu. Nhưng dù sao tiếng miền Bắc cũng …dễ thương hơn, thí dụ chiếc thuyền còn được đưa vào thơ vào nhạc, “thuyền tình” chứ ai nói “ghe tình” bao giờ. “Đi về” mà anh nói “Đi dìa” hay “tấm màn cửa” anh nói “tấm màng cửa” là sai lỗi chính tả đấy.
Anh Bông khiêm nhường chịu thua:
- Anh đồng ý là anh và em sẽ xài chung, à quên…sẽ dùng chung tiếng Bắc cho hoà hợp như tình yêu của chúng mình đã hòa hợp, cho dù em có thiên vị tiếng Bắc của em rõ ràng.
Ngoài việc dậy tiếng Bắc cho chồng, tôi còn sửa đổi anh bản tính ăn tiêu phong lưu, rộng rãi như đa số những người miền Nam sinh ra ở nơi chốn vốn được đất trời ưu đãi, ruộng vườn tươi tốt, nhiều sông rạch, nhiều cá nhiều tôm, huống chi anh lại là con nhà giàu được cha mẹ cưng chiều từ nhỏ.
Dần dần công tử Tây Đô của tôi cũng đã dùng quen nhiều từ miền Bắc và ăn được những món Bắc, tôi khỏi phải làm thực đơn phân loại hai miền Bắc Nam như hồi mới lấy nhau nữa.
Cái màn “cai rượu” cho anh mới là khó. Ban đầu tôi ra chỉ thị:
- Anh chỉ được phép uống rượu bia khi xã giao thôi nhé. Em không thích đàn ông có mùi rượu đâu.
Rồi tôi lườm, tôi nguýt mỗi khi thấy anh uống rượu, nên anh cũng giảm được đôi chút. Để nhắc nhở chồng, tôi dán một tờ giấy với hàng chữ viết to bằng mực đỏ: “ Uống rượu vợ bớt yêu”, nhưng anh vẫn chứng nào tật nấy.
Tôi tăng cường thêm một khẩu hiệu khác mạnh mẽ hơn:
“ Uống rượu sẽ mất vợ”
Lần này anh Bông tức tốc hỏi tôi ngay:
- Em sẽ bỏ anh hả?
- Không bao giờ, em vẫn yêu anh suốt đời. Anh bỏ em thì có, vì nếu anh không nghe em bỏ rượu thì một ngày nào đó anh say xỉn không trúng gío ở ngoài quán hay lề đường chết bất tử thì cũng sơ gan, ung thư gan mà chết sớm, em sẽ ôm trọn gia tài anh để lại và đi lấy chồng khác ráng chịu.
Thế là anh Bông bớt rượu .
Khi gia đình tôi được bảo lãnh sang định cư ở Mỹ, dòng máu Nam kỳ xả láng của anh Bông lại ngóc dậy, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ.
Anh đi shopping trong mall mua quần áo, đồ dùng toàn là đồ hiệu đắt tiền, còn đi làm anh cũng lười không muốn mang gỉo đồ ăn theo, sáng sớm anh ghé tiệm mua điểm tâm cà phê trước khi vào hãng, trưa thì anh chạy xe ra ăn ngoài v..v…
Một lần nữa tôi lại phải uốn nắn, sửa đổi cho anh. Tôi ra kế hoạch:
- Anh ơi, mình phải sống tiết kiệm để dành tiền mua nhà.
Anh cằn nhằn:
- Mới xong kế hoạch mua xe bây giờ đến mua nhà…
Tôi kế hoạch tiếp:
- Còn nữa, xong mua nhà tới để dành tiền cho hai con vào đại học.
Anh thảng thốt đến nỗi quên phéng tiếng miền Bắc của vợ, mà xổ nguyên một câu miền Nam quen thuộc:
- Trời đất qủy thần thiên địa ơi, hết kế hoạch này tới kế hoạch kia, em giống cộng sản Việt Nam y chang hà, lúc nào cũng chỉ tiêu và kế hoạch làm cho dân tình lầm than. Lấy vợ Bắc Kỳ cứ tưởng mãi mãi là cô em Bắc Kỳ dễ thương, ai dè em lo xa, tằn tiện, bóc lột đời anh không ngừng nghỉ.
Đợi anh nguôi ngoai cơn “sốc” tôi “khiếu nại” anh đã dùng tiếng miền Nam, là đi sai đường hướng thuận hòa của hai vợ chồng, và anh đã phải học thuộc câu thảng thốt bằng tiếng miền Bắc là: “Ối giời cao đất dầy ôi” thay vì “ Trời đất qủy thần thiên địa ơi”.
Anh hứa lần sau nếu đụng chuyện anh sẽ xử dụng câu này.
Đấy, anh chồng Nam kỳ của tôi hiền lành và dễ bảo như thế, kiếp sau tôi không lấy anh thì cũng phí. Chỉ lo là kiếp sau anh Bông …có chịu lấy tôi nữa hay không mà thôi.
Buổi trưa tôi lại vào email của nhóm bạn học, lần này đọc được hai hung tin một lúc.
Một người bạn bên Việt Nam mới bị đụng xe chết tốt, và một người bạn ở Mỹ thì bị stroke đang nằm hôn mê trong bệnh viện.
Chúng tôi nhào nháo hỏi thăm nhau những tin tức liên quan đến hai người bạn đồng môn bất hạnh này và bàn xa tán gần đến cuộc sống vô thường ngắn ngủi, chẳng biết sống chết lúc nào.
Người nọ khuyên người kia hãy lo hưởng thụ cuộc đời, của cải vật chất chỉ là bọt bèo, hãy thương yêu vợ, chồng mình thêm nữa. Ai cũng biết thế, nhưng cuộc sống luôn có những điều để người ta phải lo toan, tính toán.
Hôm nọ tôi mới bị cảm mà đã thấy mệt mỏi chán đời. Lúc ấy tiền bạc, món ăn ngon, niềm vui thú nào cũng đều vô nghĩa. Vậy tại sao tôi không hưởng những thứ ấy khi đang khỏe mạnh, yêu đời.
Tôi nhớ mãi câu chồng tôi đã thảng thốt kêu lên “ Trời đất qủy thần thiên địa ơi” suốt nhiều năm nay, bỗng thấy ân hận và thương anh Bông qúa. Hai con đã học đại học xong rồi, tôi lại đề ra chỉ tiêu chắt chiu để dành tiền mai mốt…cho cháu nội cháu ngoại. Lo toan như tôi thì kéo dài đến cả kiếp sau cũng chưa hết.
Hôm nay tôi sẽ thay đổi chính mình, một cuộc thay đổi quy mô và bất ngờ cho chồng tôi ngạc nhiên và sung sướng.
Ngay chiều nay tôi sẽ không thèm nấu cơm, chốc anh đi làm về tôi sẽ rủ anh đi nhà hàng, chiêu đãi anh những món ngon và đắt tiền nhất để đánh dấu một cách sống khác, một bước ngoặt trên con đường đời của một đôi vợ chồng hạnh phúc.
Anh vừa bước chân vào cửa tôi đã hớn hở xông ra ôm chầm lấy anh, nũng nịu:
- Welcome anh đã đi làm “dìa”.
Anh Bông ngạc nhiên chất vấn và chỉnh tôi:
- Sao em lại nói tiếng miền Nam sai lỗi chính tả thế? Ừ, anh đã đi làm về.
Tôi dịu dàng hơn bao giờ:
- Hôm nay em thích tiếng miền Nam của anh mà. Em biết là tiếng miền nào cũng có cái dễ thương của nó, ngay cả tiếng miền Trung nặng nề khó nghe, khó hiểu.
- Nhưng sao em lại welcome anh? Em lịch sự bất ngờ thế? một ngày anh đi làm về như mọi ngày.
Tôi nghiêm chỉnh nói:
- Em chờ anh về để thông báo một tin rất vui là bắt đầu từ hôm nay trở đi chúng ta sẽ chi tiêu thoải mái, không phải hà tiện để dành tiền theo bất cứ kế hoạch nào nữa. Nhân dịp em vừa nghe tin hai người bạn gặp nạn, em sợ cuộc đời bất trắc, kiếp người còn phù du nói chi là tiền bạc. Chúng ta hãy vui hưởng cuộc sống ngay khi còn khỏe mạnh anh ạ, nhà cửa, xe cộ trả hết sạch sẽ rồi, tiền bạc trong 401K và trong bank của hai vợ chồng mình khá nhiều vì dành dụm suốt nhiều năm nay. Chúng ta sẽ mua xe đẹp, loại đắt tiền, sẽ sắm quần áo xịn, sẽ đi du lịch đó đây mỗi năm, và chốc nữa đây vợ chồng mình sẽ đi ăn tiệm anh nhé. Mai sau về gìa chúng mình đều có tiền retire, lo gì.
Nói xong tôi nhìn anh với vẻ ban ơn huệ, như một cai tù độ lượng vừa phóng thích cho một tù nhân mang án tù vô hạn định, tưởng anh sẽ mừng vui và hét lên thỏa thích khi được trở về bản chất Nam Kỳ của chính mình vì bao nhiêu năm nay anh đã sống theo cách sống Bắc Kỳ của tôi, theo sự quản lý của tôi. Nhưng tôi kinh ngạc qúa, anh thảng thốt lên một tràng với những từ miền Bắc rất chuẩn:
- Ối giời cao đất dầy ôi, em đang tỉnh hay mê? sao em liều và to gan thế? Sao bỗng dưng em rửng mỡ đòi tiêu xài hoang phí thế? Khi mà trước đây anh tiêu xài hoang phí em đã điên tiết lên cấm cản anh. Em có biết là nước Mỹ đang nợ ngập đầu ngập cổ không? ngân sách chính phủ Mỹ càng ngày càng eo hẹp, đang phải cắt xén bớt tiền phúc lợi của người gìa, người về hưu không? Người ta còn tiên đoán rằng chẳng bao lâu nữa chính phủ sẽ không có đủ tiền trả cho những người hưu trí nữa đấy. Nên dù chúng ta không phải lo cho con cái nữa, nhưng vẫn phải sống căn cơ, dành dụm tiền để sau này về gìa có mà chi tiêu, ở Mỹ điều kiện khoa học, y tế cao chúng ta sẽ sống lâu, sống thọ lắm. Không ai thương mình bằng chính mình đâu em.
Thì ra suốt mấy chục năm sống bên nhau, bây giờ anh đã lo xa, tính toán hơn cả dân Bắc Kỳ thứ thật là tôi đang đứng trước mặt anh. Mẹ tôi ở dưới suối vàng chắc cũng đang mỉm cười mãn nguyện?
Tôi còn đang ngẩn ngơ không ngờ người chồng Nam Kỳ của tôi đã bị tôi Bắc Kỳ hóa nhuần nhuyễn đến thế thì anh ân cần và rất rành rẽ nói:
- Em ra nấu cơm đi trong lúc anh tắm rửa thay quần áo. Hôm qua món cà pháo om với bì lợn, với đậu phụ rắc tía tô anh thích lắm, ăn được mấy bát cơm. Hôm nay em làm món cá rán và món nộm rau muống trộn với thịt ba chỉ, tôm, khế, rau răm và vừng em nhé. Việc gì đi ăn nhà hàng cho tốn tiền và làm sao có món Bắc Kỳ ngon như của em cơ chứ.
Nguyễn Thị Thanh Dương( March- 2011 )
Một phụ nữ Tây 'cô đơn' ở Hà Nội
Tác giả nay viết một cuốn sách kể về thời gian sống ở Việt Nam.
Một phụ nữ nước ngoài tại Hà Nội tiết lộ cảm giác chán chường khi không thể lọt vào mắt xanh của đàn ông Việt - đến nỗi cô phải viết một cuốn sách về vấn đề này.
Sau một năm rưỡi nỗ lực kiếm bạn trai người Việt, Carolyn Shine, một phụ nữ Úc tới Hà Nội sống và làm việc, đã chấp nhận bỏ cuộc.
Thất bại trong con đường tình duyên với đấng mày râu Việt đã tạo cho cô nguồn cảm hứng cho ra cuốn sách với tựa “Single White Female in Hanoi”.
Theo tác giả, phụ nữ Âu ở mọi lứa tuổi tới các nước như Indonesia, Nepal, Nhật và thậm chí Lào chẳng mấy khó khăn khi tìm bạn trai người bản xứ.
“Để lãng mạn với đàn ông Hà Nội ư? Hơi bị khó – nhất là với một phụ nữ phương Tây. Tôi thấy đàn ông đồng tính phương Tây lại may mắn hơn mình,” Caroline viết trên trang CNNGo.
“Tại sao đàn ông Việt, đặc biệt là trai Hà Nội, lại không muốn, hoặc không thể làm rung động con tim phụ nữ phương Tây?” cô tự hỏi.
Tuy nhiên Carolyn cũng thừa nhận một thực tế là phụ nữ châu Á hấp dẫn hơn với đàn ông phương Tây hơn là đàn ông Á với phụ nữ phương Tây.
Nho giáo với truyền thống gia đình là nền tảng có thể là yếu tố nếu muốn đi tìm cách giải thích dài dòng.
Hầu hết đàn ông đều có chung quan điểm với cha mình rằng nên lấy vợ có cùng văn hóa.
Cô dâu thì sẽ trẻ hơn chú rể, và điều này thì nằm ngay trong tiếng Việt bởi không có đại từ nào để nói “I love you” với phụ nữ lớn tuổi hơn.
Để biểu lộ tình cảm nhưng tôn trọng tuổi tác thì trong trường hợp này sẽ phải là “Chị yêu em” hoặc người nam sẽ phải nói “Em yêu chị”.
"Chính thức bỏ cuộc"
Tác giả nhận xét phụ nữ tại Việt Nam khó tìm bạn trai khi quá 30 tuổi.
Xét về Nho giáo thì phụ nữ muốn lấy chồng thì phải là trinh nữ, một điều kiện nghe khó lọt tai đối với một phụ nữ phương Tây, mặc dù người đàn ông lại không cần phải “giữ gìn” cho tới ngày lên xe hoa.
Nếu mọi chuyện suôn sẻ thì cô dâu sẽ phải sẵn lòng gánh vác bổn phận nội trợ, thường là cả việc nhà của bố mẹ chồng, và tất nhiên là nhanh chóng muốn có bầu.
Vậy thì “Tôi chính thức bỏ cuộc”, Carolyn giãi bày trong bài viết.
Carolyn nhận xét rằng nhiều người ở Việt Nam xem phụ nữ ở tuổi 30 đã quá ngưỡng để kết hôn, và cuộc sống kể như không còn ý nghĩa nữa.
Phụ nữ ở tuổi ấy khó tìm được đàn ông lớn tuổi hơn mình mà đang tự do, và đàn ông trẻ hơn thì lại không quan tâm rượt đuổi họ.
"Chắc là cô trông rất hấp dẫn lúc 12 hoặc 15 tuổi"
Cậu bán cà phê gần nhà
Tác giả kể lại chuyện gần nhà có quán cà phê có một cậu làm ở đó trông dễ thương.
“Cậu ấy trẻ hơn tôi vài tuổi và có vẻ như thèm của lạ”,
“Tôi thấy khá hồi hộp khi cậu ấy có lần tiếp cận mình một cách khá lẳng lơ để trò chuyện. Thế nhưng sau đó thì cậu ấy dội cho tôi một gáo nước lạnh”.
Cậu ấy nói rằng “Tôi và bạn bè của tôi nói về cô đấy! Chúng tôi nói rằng chắc là cô trông rất hấp dẫn lúc 12 hoặc 15 tuổi”.
Carolyn Shine đến sống ở Hà Nội năm 2002 và nay đã trở về Sydney, nơi cô sẽ cho ra mắt cuốn sách " Single White Female in Hanoi" (Người phụ nữ Da trắng Độc thân ở Hà Nội).
Phiếm Luận về Con gái Hải Phòng

Đã đẹp còn giỏi
Cái đó thì đương nhiên rồi! Chẳng riêng thi sĩ mà cả nước cũng nhận thấy hoa khôi, hoa hậu Hải Phòng nhiều như thế nào trong các cuộc thi sắc đẹp. Người Hải Phòng thường sáng tác những giai thoại vui ca ngợi sắc đẹp của các cô gái Hải Phòng. Đại loại: Có một đại gia lấy được cô vợ Hải Phòng và từ đó thường xuyên đi làm muộn. Lý do vì cô Hải Phòng đẹp quá, đến nỗi cái đồng hồ treo trên tường cũng sững người không chịu chạy! Hoặc: Một hoa hậu thế giới(!) trả lời phỏng vấn báo chí: “Ngoài tài năng, sắc đẹp ra, còn có điều may mắn gì khiến em trở thành hoa hậu?”. Trả lời: “Điều may mắn nhất của em là hôm đó chị Hồng Mơ ở Hải Phòng không đi thi”(!). Không biết có phải nhờ đẹp mà các cô gái Hải Phòng có tỉ lệ lấy chồng ngoại xếp vào hàng cao ngất ngưởng trong nước!
Con gái Hải Phòng không đẹp theo kiểu liễu yếu đào tơ. Ở vùng biển cửa ngõ của miền Bắc vóc dáng người “dây” là không phù hợp với điều kiện thời tiết biển. Khác những cô gái Hà Nội da mịn như men sứ Tàu, đôi khi có một vẻ đẹp xanh xao, não nùng, cô gái Hải Phòng như một sợi dây điện nóng, bắn ra tia lửa. Đấy là cái đẹp hồng hào, khỏe mạnh, không cần trang điểm. Cho nên, khá nhiều cô gái Hải Phòng dù mặc áo mưa trông vẫn cứ đẹp.
Có những nơi ở Hải Phòng tỉ lệ người đẹp là “trăm phần trăm”. Ví dụ ở phòng Mầm non của Sở Giáo dục - Đào tạo 5 cô đều đẹp cả 5. Không biết có phải bị vẻ đẹp của cô gái Hải Phòng chinh phục mà một trại chủ cá sấu Hải Phòng đã sáng tác slogan (khẩu hiệu) nổi tiếng: “Không có phụ nữ (Hải Phòng) nào xấu, chỉ sợ không có đủ thịt cá sấu cho phụ nữ ăn”.
Con gái Hải Phòng thông minh, nhiều người đầu óc sắc như dao cạo, giỏi toán hơn là giỏi văn, giỏi tính nhẩm hơn phân tích ngữ pháp. Giữa hoa và sôcôla họ sẽ chọn sôcôla, vì còn trẻ nên họ không sợ ngọt! Hơn nữa, sôcôla để tủ lạnh được lâu. Tuy vậy, họ đủ lãng mạn để thích nhạc của Duy Thái, thơ Đồng Đức Bốn. Hội họa thì họ mù tịt vì nó trừu tượng. Hơn nữa, ngày nay đôi lúc cũng thật khó phân biệt một tác phẩm hội họa với một hành vi phá phách!
Con gái Hải Phòng thích sự rõ ràng. Họ đọc báo nhiều hơn đọc tiểu thuyết. Nhà báo họ thích nhất là T.N (Báo Hải Phòng) vì anh này luôn khẳng định Hải Phòng là thành phố lớn thứ ba sau Hà Nội và TPHCM. Họ không khoái những tin bài kiểu cướp, giết, hiếp, hoặc những chuyện về các người nổi tiếng tự nấu bữa ăn tối như thế nào trên các tờ báo lá thời thượng (họ biết nấu cơm từ khi 7 tuổi!).
Con gái Hải Phòng có máu làm giàu. Họ thích đại gia, nhưng phải là các đại gia “sạch sẽ”. Tuy nhiên, họ muốn được đánh giá bằng những thứ họ đoạt được, chứ không phải bằng những thứ họ xin được. Bởi thế, họ thích tự làm ra tiền hơn sống nhờ chồng. Các tay chơi kiểu cậu ấm chỉ biết dùng thời gian để tiêu cho sạch sẽ gia tài bố mẹ không giành được sự tôn trọng của họ. Thương mại, tài chính (chứ không phải làm cô giáo) là công việc họ khoái nhất. Họ cũng thích chơi chứng khoán vì hợp với sở thích ưa mạo hiểm. Họ hãnh diện nhất là tự lái xe ôtô đi làm. Thế nhưng họ cũng chấp nhận làm đủ mọi việc ở nơi đầu sông bãi sú (đội than, vét dầu cặn dưới hầm tàu), hay bán nước ngoài vỉa hè.
Cuộc sống hiện đại luôn tạo ra những áp lực. Thế nhưng, như những người dân miền biển, con gái Hải Phòng chấp nhận thách thức. Tần tảo, cần cù, đảm đang, nhạy bén, là đặc trưng của phụ nữ Hải Phòng. Bởi vậy, họ thành công (và giúp chồng thành công) trong nhiều lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, giáo dục... Mỗi năm, con gái Hải Phòng được T.Ư và địa phương tặng hàng trăm chiếc bằng khen.
Mạnh mẽ và nồng nàn
Con gái Hải Phòng chất phác “biết nói là biết, không biết nói là không biết”. Họ rất dị ứng với sự “dẻo mỏ”, từ ngữ mịn màng mà nội dung thì trống rỗng. Họ không hứng thú với quan niệm rằng đôi lúc con gái phải đóng giả “nai” cho có nữ tính. Đã thế, nhiều khi họ thích thể hiện cá tính mạnh mẽ: Thích lái xe nhanh, uống bia hơi bằng cốc vại, nói chuyện thời sự. Họ đề cao sự thượng võ (chắc gien từ bà Lê Chân) mà coi thường sự yếu đuối. Con trai chớ có dại khóc trước mặt cô gái Hải Phòng. Đấu vật là môn thể thao có nhiều fan nữ.
Đàn ông “galăng” theo kiểu nịnh đầm không phải thần tượng của họ. Họ thích đàn ông có sức hấp dẫn hoang dã của những bắp thịt nổi cuộn hơn đàn ông được nâng cấp bên ngoài bằng bộ đồ mang nhãn hiệu Versace. Con gái Hải Phòng là sự tinh tế tỉnh thành trộn lẫn với cái duyên dáng nhà quê, tính tình vui nhộn, nói hơi bị to. Họ không câu nệ tiểu tiết, không cần phân biệt giữa “n” với “l”. Mặc dù họ dễ bị nhân nhượng trước sự lấn tới của thời trang, nhưng họ không thích phục sức cám dỗ lộ liễu. Họ có “gu” khỏe, giản dị. Thích mặc quần bò hơn là mặc váy. Màu sắc họ ưa là đỏ và đen.
Họ thích ồn ào và chốn đông người, thích cuộc sống bên ngoài khung cửa sổ. Phần lớn họ sống hướng ngoại. Hứng thú của họ tập trung ở nơi đường phố, nhiều khi không xuống đến bếp gia đình. Thông thường họ thích ra ngoài ăn lẩu thập cẩm hơn ngồi nhà chế biến những đồ ăn cầu kỳ. Họ không đánh giá cao sự tinh tế: Cua biển đem nấu rau muống, cá song nấu kiểu thuyền chài! Trong chuyện ẩm thực họ rất thoải mái. Ăn cái gì cũng thích nấu cả con, thà thừa mứa còn hơn là thòm thèm. Người Hải Phòng thích chơi đẹp, “nhịn miệng đãi khách đường xa”, đi ăn thường tranh trả tiền. Họ sòng phẳng trong tình bạn. Ai giúp được họ thì họ trả ơn đầy đủ, nhưng họ ghét sự mặc cả.
Tiền bạc không có rất nhiều ý nghĩa trong chuyện yêu đương của họ. Họ rất ghét kẻ đào mỏ. Họ cười nhạo những tình yêu kiểu Lan và Điệp, vì thích tình yêu ở nơi dương thế có nắng mặt trời, ngày “Phụ nữ” (8.3) được tặng hoa, ngày “Tình nhân” Valentin được tặng quà, hơn chốn âm u địa phủ có 2 nấm mồ cô đơn.
Cô gái Hải Phòng đã yêu là yêu nồng nàn, cháy bỏng. Họ không sợ bộc lộ mình ở chốn đông người. Giữa sân Lạch Tray với 2 vạn người hò hét, có cô gái chẳng ngại ngần viết lên ngực áo: “Hãy cưới em đi, Leonardo!” - thần tượng bóng đá của mình. Bình thường họ cũng dịu dàng, dù chưa đến độ không nỡ đập con muỗi đốt. Song thật phiền phức khi có ai đó định giành người yêu của họ. Những lúc nhạt miệng, họ cũng nói tục. Khi bị chọc giận, họ cũng dễ khóc và cũng dễ phản ứng ngay ra mặt, đôi khi là sự quyết liệt. Nhưng họ lại không thù lâu, những cơn giận như bão biển!
Con gái Hải Phòng thích đi siêu thị, họ tiêu tiền như đánh rơi. Nhưng họ sẵn sàng nhịn ăn, thậm chí bán nhà để dành tiền cho con học. Con gái Hải Phòng không thích tự nhận mình người... Hà Nội! ngay cả khi họ đã chuyển về thủ đô để sinh sống, làm việc. Họ thích về quê vì họ còn nhiều họ hàng ở đó. Người họ yêu nhất là... chồng. Quan niệm nho giáo “xuất giá tòng phu” của người con gái Hải Phòng thời nay cũng có nhạt phai, nhưng trong những cuộc ly hôn, đa số là chồng bỏ họ chứ không phải họ bỏ chồng.
Người Hải Phòng có lý tưởng, có khát vọng và tinh thần tập thể. Họ rất thông minh sáng tạo. Thành phố Hải Phòng đang đẹp từng ngày nhờ sự đóng góp của những cô gái Hải Phòng đáng yêu. Tản mạn về những đặc điểm, tính cách của họ chỉ là một nghiên cứu xã hội học vui, đọc trong ngày Tết Phụ nữ, nếu có thiếu sót xin các bạn trẻ lượng thứ!
Kính thưa các cô gái trên toàn quốc. Con gái Hải Phòng là con cháu bà Lê Chân. Bà Lê Chân chỉ là tướng của Hai Bà Trưng. Các cô là con cháu Hai Bà Trưng, vậy thì các cô phải đẹp, phải giỏi hơn con gái Hải Phòng rồi, có phải không ạ! (Hà Linh Quân)
http://3.bp.blogspot.com/_qpc_uIJ8u1k/TN33WABXI7I/AAAAAAAAAKs/4fcJot03Do0/s320/v.jpg ĐƯỜNG VỀ QUÊ VỢ
Khi gặp nhà tôi, câu thơ đầu tiên tặng nàng, không phải câu thơ tình lãng mạn, cũng không phải câu thơ tình lẩm cẩm mà là câu ca dao cải biên. Khi nghe tôi đọc nàng chỉ cười, không tỏ vẻ vui, cũng chẳng lộ buồn, nhưng với tôi thì nó là câu thơ thú vị. Thơ rằng:
Người ta câu biển câu sông,
Nay tôi câu lấy con ông Nam Kỳ.
Tôi là dân Bắc, Bắc Kỳ thứ thiệt, loại Bắc nhìn đâu cũng có “rau muống”. Bắc đến nỗi sau này “nhà tôi” bị lây cũng thích ăn rau muống luôn. Nói cho các bạn nghe, lấy được nhà tôi là diễm phúc tám đời nhà tôi. Gặp nhà tôi coi như “số Chúa định”.
Khi nghe tôi lấy vợ “Nam Kỳ”, tụi bạn tôi than thở
Ai ơi chớ lấy Nam Kỳ,
Nó ăn, nó ngủ, nằm lỳ ngày đêm.
Kiếp trước có lẽ tôi đầu quân dưới trướng Chúa Nguyễn, nhân dịp đi qua miền Tiền Giang, gieo gió, gieo bão gì đó. Nên kiếp này gặp gái miền Nam là bị bắt trả nợ. Ôi thôi cũng kiếp trâu cày. Hy vọng kiếp sau sẽ khá hơn. Trong cuộc sống “có trăm lần vui, có vạn lần sầu”. nếu có ai hỏi tôi “kiếp sau nếu gặp gái Nam, bạn có nhào vô không”. Tôi trả lời rằng “kiếp sau nếu tôi gặp gái Nam, tôi nghĩ là tôi chạy luôn ”.
Tôi sinh ra lớn lên trong môi trường người Bắc, nên từ cách ăn, cách ở, sự giao tiếp, cách đối xử hoàn toàn ảnh hưởng bởi phong tục miền Bắc. Mặc dù di cư vào Nam từ năm 54, nhưng gia đình tôi vẫn sống trong vùng đa số là dân Bắc di cư. Nên những nề nếp “Bắc” được giữ và truyền cho con cháu nguyên vẹn. Nhưng chính cái “Bắc” ấy làm tôi nhiều khi luống cuống, không biết giải quyết sao cho “hợp thời trang”.
Nhớ lại “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, ngàn năm nào dễ mấy ai quên.”. Mỗi lần nghĩ lại, tôi toát mồ hôi. Ngày đó tôi thật “liều mạng”. Giả thử lúc ấy, Ông bà nhạc gia nhìn thấy tướng tá tôi “say No” ngay, thì bây giờ đỡ biết mấy: “đường mây rộng thênh thang cử bộ”. Chính vì ông bà thấy tôi:“rể hiền” nên “say Yes” thế là đời tôi bị khoanh tròn.
Tôi quyết định lên xe theo người đẹp về Mỹ Tho vào buổi sáng mưa to và gió lạnh. Ngay từ 4 giờ sáng tôi được phân công xếp hàng mua vé. Mặc dù có vé ưu tiên theo diện công nhân viên nhà nước. Nhưng cho chắc ăn tôi ra trước dành chỗ. Khi tới nơi, tôi cứ tưởng mình tới sớm, nhưng nhiều người đã có mặt sớm hơn tôi. Tôi nối đuôi đứng xếp hàng. Nhìn theo thứ tự xếp hàng kiểu này, có lẽ đến lượt tôi mua được vé, thì ít nhất cũng phải 2 tiếng chờ đợi. Tôi lặng lẽ nhìn lại, giòng người cứ thế nối đuôi dài đến vô tận. Một vài tên cò mồi tới dụ bán chỗ đứng trước, tôi lắc đầu từ chối. Phía đầu hàng ngắn dần, nhưng đuôi dài mãi tít xa. Lúc tôi cầm được vé trên tay cũng là lúc trời mưa nặng hạt. Khu nhà bán vé lợp tôn, mưa đập vào mái, át đi mọi tiếng động. Nói chuyện với nhau, cứ phải gào lên như cãi lộn. Đã vậy mái tôn cũ, nước theo những chỗ lỗ hổng chảy xuống lung tung. Hành khách chen lấn tìm chỗ tránh nước. Hàng người xếp thành con rắn khổng lổ di chuyển không còn theo thứ tự. Nhiều kẻ lợi dụng cơ hội chen lấn tìm chỗ tốt. Tôi chạy tới chỗ hẹn tìm người đẹp. Người đẹp của tôi như con sâu đang co người nép dưới mái hiên. Tôi chạy dưới làn mưa, những hạt mưa đập vào mặt như bị ném cát, tôi phóng thẳng tới chỗ nàng, tay vuốt nước mưa, miệng báo cáo tình hình “anh mua được vé rồi”. Nàng mở giỏ lấy khăn lau những hạt mưa còn đọng trên tóc cho tôi. Tôi cúi xuống xách giỏ dắt nàng vào quán kiếm chút gì ăn cho đỡ đói.
Lên được xe, đồng hồ chỉ 10 giờ sáng. Chiếc xe đò “cải tiến“ chất đầy người như nêm cối. Dưới chế độ CS, những danh từ thường đi ngược lại sự việc. Cải tiến có nghĩa là làm cho xấu đi, còn tiến bộ có nghĩa là đi thụt lùi. Có văn hóa, có nghĩa vô văn hóa. Tôi nhớ tới tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có nói câu bất hủ “đừng nghe những gì CS nói, mà hãy nhìn kỹ những gì CS làm”. Chiếc xe cải tiến đã chuyển từ chiếc xe ghế ngồi có nệm, thành xe ngồi ghế gỗ. Những hàng ghế được sắp xếp hẹp lại cho tăng thêm hàng. Khoảng cách để chân hẹp, đến nỗi không thể đễ chân được. Nếu bạn có cặp chân ngắn chưa chắc đã gặp may mắn. Trên đường đi bạn hàng sẽ nhồi nhét, không bao nọ, thì cũng bao kia, có nghĩa là “tận dụng mọi khoảng trống và kẽ hở” để cuối cùng mọi người đều ngồi trên ghế với thế “nước lụt” như nhau. Kẻ chân dài cũng như người chân ngắn đều rút chân lên.. và bình đẳng, không giai cấp, để tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa.
Hai đứa chúng tôi cùng chung số phận với những hành khách khác. Một vài người kêu ca, thì anh chàng lơ xe nói “yên tâm đi, chút xíu xe chạy qua ổ gà tự nhiên lọt vô hết”. Trời vẫn mưa tuy không mưa lớn như lúc xếp hàng mua vé, nhưng những hạt mưa tạt vào trong xe cũng đủ làm cho hành khách trong xe ướt nhẹp, vì cửa xe cải tiến không có kiếng. Hành khách trong xe phải mặc áo mưa hay dùng những tấm nylon để chắn mưa. Thế rồi xe rồ máy lăn bánh lên đường, bác tài tuổi trẻ tốt nghiệp trường lái xe cấp tốc, nghe đâu bác được “Đảng và nhà nước” điều lên từ chú lơ xe, quá khóa học cấp tốc 4 tuần lễ về cơ bản nghề nghiệp. Sau khi tốt nghiệp chú lơ được phân công về công ty vận chuyển, đương nhiên trở thành “bác tài”. Để chứng minh cho mọi người thấy tài lái xe của mình. Những khúc đường tốt, bác cho xe chạy hết tốc lực, tới khu đường xấu bác cũng không giảm vận tốc. Chiếc xe quẹo qua, quẹo lại để tránh ổ gà. Chính vì vậy chiếc xe cứ nghiêng bên nọ, ngả bên kia, như con tàu gặp sóng lớn. Những lúc ấy hai tay tôi nắn chặt băng ghế trước, cố giữ cho người cân bằng, không đổ qua, đổ lại. Người đẹp của tôi thì ôi thôi, tóc tai bù xù, cứ hết đè bà hành khách bên cạnh lại quay sang dí tôi, nàng như người say rượu, mặt mũi tái mét. Tôi vội vàng ôm chặt lấy nàng cố giữ nàng bình tĩnh, nhưng khi tôi vừa buông không vịn tay vào băng ghế trước, chiếc xe lách qua bên trái, cả hai chúng tôi đổ về bên phải. Bà hành khách bị hai chúng tôi đè, tuột khỏi băng ghế rớt xuống sàn xe. Hai chúng tôi theo đà tuột theo. Tôi nghe thấy mọi người la lên, thì ra không phải chỉ có chúng tôi bị, nhiều người cũng bị xô đẩy như vậy. Nhìn qua hàng ghế bên phải, tôi thấy mọi người như mất hồn. Mặt không còn giọt máu, một vài người chịu không nổi ói mửa lung tung. Mùi hôi nồng nặc tràn ngập trong xe, tôi kêu lên “yêu cầu bác tài chạy chậm lại” Thấy mọi người la lối, bác tài đành cho xe giảm tốc độ, mọi người trở về vị trí cũ. Chú lơ xe lên tiếng trấn an “quí vị đi cho quen, khi xuống tàu không bị say sóng…”. Để làm cho không khí bớt căng thẳng, chú lơ quay lại kể chuyện vui. Chú kể rằng: lần trước trên chuyến xe đò này có một ông khách sồn sồn, ngồi bên cạnh là một cô ăn mặc rất sexy, mỗi lần xe nghiêng qua, nghiêng lại, ông khách lợi dụng lấy tay đè lên đùi cô gái, cô gái để ý nhiều lần mới nói với ông khách: “yêu cầu ông thận trọng không được lấy tay bóp đùi tôi”. Ông khách quay qua cô gái, nhìn xuống đùi cô rồi nói “xin lỗi cô, tôi cứ tưởng xe cải tiến, có gắn thêm phần để tay, không trách tôi thấy nó êm quá” ..Nghe chú lơ vui tính kể chuyện ai cũng cười. Áp lực trong xe giảm thấy rõ sau câu chuyện vui của chú.
Chiếc xe đang chạy ngon trớn bỗng thắng lại, mọi người đều nhào về phía trước. Tất cả chưa kịp trở về vị trí cũ, chiếc xe lại chồm lên rồi khựng lại. Hàng ghế phía trên chúng tôi, đứa bé đang bú mẹ bị nhồi bất tử, bao nhiêu sữa nó vừa bú từ mẹ, phóng ra khỏi miệng vào thẳng mặt ông khách ngồi bên cạnh. Đứa bé khóc thét lên, ông khách mặt mày đầy sữa, ông loay hoay mở túi xách tìm khăn để lau mặt. Bà mẹ cầm khăn lau miệng cho con, vừa nói lời xin lỗi với ông khách. Bà sợ con đói lại tiếp tục cho nó bú, đứa bé không chịu bú cứ khóc hoài. Chú lơ thấy vậy xen vào, “ê bú đi con, mày mà không bú, thì mẹ mày lại cho ông bên cạnh bú bay giờ.” Mọi người lại cười ầm lên. Ông khách ngồi bên cạnh lúc đó mới lên tiếng: “Bú đi con à, ông đây bú no rồi”. Đứa bé có lẽ hiểu chuyện nên nhúc đầu vào ngực mẹ nó, bú lấy bú lể, nhất quyết không chia sẻ cho ai nữa.
Một bà già ngồi bên phải phía cửa sổ nghiền trầu thuốc, mở giỏ ra lấy trầu nhai. Bà tóm tém nhai một cách hết sức khoái trá. Thỉnh thoảng bà dùng ngón tay cái và ngón trỏ vuốt hai mép cho sạch những vết trầu đỏ hoe. Bà nghiêng đầu ra ngoài cửa nhổ mạnh nước bã trầu. Xe chạy nhanh gió thổi mạnh, gặp nước miếng trầu đỏ của bà nhổ ra, gió hất ngược lại trong xe nguyên con tạt vào mặt tên cán bộ đội nói cối, đang lim dim ngủ phía sau bà. Tên cán bộ thấy mặt bị ướt, tưởng mưa tạt, vội lấy tay vuốt mặt. Hắn vô tình trét đầy mặt nước miếng trầu đỏ hoe, nhìn mắt hắn giống ác quỉ Dracula. Sau đó hắn lại tiếp tục ngủ. Người bên cạnh thấy tình thế như vậy thì giữ im lặng, mặc cho cái mặt hắn đỏ lòm như chú hề trong gánh xiếc. Bà già trầu quay lại biết chuyện đã lỡ, vội vàng nhả miếng trầu ném ra ngoài, lấy khăn lau sạch miệng như trốn tránh trách nhiệm. Bà thực hiện kế hoạch: “ăn vụng, chùi mép”. Không phải chỉ người ngồi bên cạnh biết, mà nhiều người biết, nhưng tất cả đồng tình im lặng như thể trả thù chế độ
Đến trạm kiểm soát, chú lơ xe ra lệnh cho mọi người xuống xe đi bộ qua trạm. Giờ phán xét của các bạn hàng đã đến. Những gương mặt hốc hác, lo sợ. Một bà ấn vào tay tôi một gói hành lý “anh làm ơn nhận dùm gói này, trong này chỉ có 3 mét vải, nếu tụi nó hỏi, anh nói mua về làm quà”. Không chờ tôi đồng ý hay không, bà cầm gói khác gửi người bên cạnh, rồi vội vàng xuống xe qua trạm. Tôi luống cuống, tiến thoái lưỡng nan, để gói hàng lại thì không đành, mang theo qua trạm thì phiền. Cuối cùng tôi quyết định mang gói hàng qua trạm. Tên công an nhìn tôi ôm gói hàng trong tay hỏi: “Anh mang gói gì đây?”, Tôi trả lời tỉnh bơ : “có 3 mét vải mua về làm quà”. Anh hỏi xem giấy tờ, thấy tôi là công nhân viên nhà nước, không làm khó dễ nên cho qua. Một số hàng bị tịch thu, bạn hàng phải theo vào trạm làm giấy tờ thu mua theo giá chính thức. Xe dừng lại trạm gần một giờ mới tiếp tục lên đường. Những người có hàng bị thu mua chửi thề om xòm. Một bà tuổi trạc ngũ tuần, lệnh kệnh ôm bao gạo khoảng 20kg từ trong trạm kiểm soát ra, vừa đi vừa la: “Con bà, hồi đó nó còn trong bưng, bà nuôi tụi nó, ngày nọ qua ngày kia. Bây giờ giải phóng rồi, bà mang chút gạo cho con bà nằm nhà thương, nó đòi thu mua, nó mà thu mua của bà là chết với bà.” Bà lên xe còn mang nét căm hờn. Bà khác nhanh miệng: “Nó muốn giải phóng bà luôn mà!” Những người thoát được thì mừng rỡ, những người có hàng bị tịch thu, đau khổ ra mặt. Bà chủ gói hàng gửi tôi, tới nhận lại hàng, cám ơn rối rít. Sau đó tôi được biết bà mang theo 6 gói, gửi được 4, mang theo 1, bị tịch thu 1. Như vậy chuyến buôn này bà vẫn có lời. Nếu mất 2 thì huề, mất 3 thì lỗ..
Xe chạy đến gần Láng Sen thì máy trục trặc. Máy hậm hực rồi im luôn. Bác tài cho xe tắp vào lề và nói cho bà con biết “xe nóng máy vì hết nước, nên không nổ” bác đề nghị cho xe nghỉ 20 phút để máy nguội và nói chú lơ mang thùng xuống sông lấy nước tiếp tế cho xe. Nước nôi đầy đủ, nhưng máy đề vẫn không nổ. Bác tài không có nhiều kinh nghiệm, tiếp tục đề, máy xe kêu khẹt khệt vài lần rồi ngưng hẳn. Một ông khách tuổi tứ tuần ngồi phía sau xe lên tiếng: “bình xe hết hơi, mọi ngưới xuống xe, đẩy xe sẽ nổ”. Không ai bảo ai, mọi ngưới đều xuống xe. Cánh đàn ông thanh niên túm vào đầy xe. Mọi người ráng sức đầy, chiếc xe di chuyển, bác tài vô số, xe khực khực nổ máy. Hành khách lên xe. Bác tài cho xe chạy. Xe chạy được vài chục mét, khám phá ra thiếu tên cán bộ. Người ta kêu bác tài dừng lại. Phía dưới ruộng tên cán bộ đang kéo quần chạy lên, miệng la lớn “chờ tôi với”. Cái mặt đỏ lòm vì nước bã trầu, hắn vừa chạy vừa cài dây nịt, nhìn tướng hắn không ai mà có thể nhịn cười được. Hắn lên được xe, vừa thở hổn hển, vừa chửi thề: “đ.m. bác tài chơi tớ”.
Xe chạy tới khúc đường cải tiến, từ đường trải nhựa thành trải đất. Đất gặp mưa nổi xình, mỗi lần hai xe gặp nhau, bánh xe nọ tạt xình qua xe kia. Hành khách ngồi phía tay phải coi như gặp xui, lãnh đủ. Bác tài sang số xe, cần số xút bu long. Số không sang được, cần số tuột khỏi hộp số. Bác tài ném cần số qua một bên, lái xe chạy nép vào lề. Xe không kiểm soát được hộp số, dựt dựt rồi tắt máy. Mọi ngươì lại xuống xe. Bác tài và chú lơ mở nắp máy, lắp lại cần số, siết chặt bù long. Hành khách lại được lệnh đẩy xe. Xe nổ máy, tiếp tục lên đường. Chú lơ được phân công mới, thay vì đứng cửa đón khách, chú phải phụ bác tài ngồi ôm cần số, mỗi lần sang số, chú cố kiềm chặt cần số bằng cách đè cứng cần số cho khỏi tuột.
Con đường từ Thốt Nốt về bến Bắc Cần Thơ tương đối tốt hơn, nhưng chạy tới bến bắc, đồng hồ chỉ 3 giờ chiều. Từ sáng tới chiều xe mới vượt đoạn đường dài gần 50 cây số. Nhìn dòng xe nối đuôi chờ tới lượt qua phà, tôi thấy tình hình có vẻ hẩm hiu. Hỏi thăm người qua lại bắc, được biết phà chỉ chạy có một cái, 2 cái kia máy hư đang sửa chữa. Chúng tôi xuống xe ghé vào quán ăn. Quán ăn đông người, bác tài với chú lơ cũng đang ngồi ăn. Tôi hỏi chú lơ “theo tinh hình này bao lâu mình qua được phà?” Chú trả lời “khoảng nửa tiếng, cứ bình tĩnh cơm nước thoải mái đi”. Chúng tôi yên tâm gọi đồ ăn. Xong bữa ăn xe vẫn nằm nguyên vị trí cũ. Chú lơ xuất hiện nói với mọi người “muốn qua phà ưu tiên, cần mua vé ưu tiên, đề nghị cô bác đóng mỗi người 2 đồng để mua vé. Không chờ đợi hành khách bằng lòng hay không, chú lơ đi thu tiền mỗi ngưới 2 đồng. Tới nước này không ai còn tiếc 2 đồng, mọi người đều xì tiền ra, mong được về nhà sớm. Khoảng 15 phút, sau khi thu tiền, chú lơ trở lại ra lệnh cho mọi người lên xe, vì xe đã có vé ưu tiên qua phà.
Xe qua khỏi bắc dừng lại đón khách đã qua trước. Một anh chàng mới lên xe, tay xách một giỏ đựng đầy giây lá Mơ (loại lá chuyên ăn kèm với thịt chó). Bà già trầu từ lúc nhổ nước miếng vào mặt tên cán bộ, bà không còn ăn trầu nữa, bà cố nhịn để khỏi bị bể mánh. Thấy anh chàng xách giỏ lá cây, cùng một kiểu ăn mặc như cán bộ, bà ta thắc mắc hỏi: “chú xách cái giỏ, lá chi vậy?”. Bị hỏi bất tử, anh bộ đội giơ giỏ lên nhìn vào những cái lá xanh, bên ngoài có lớp lông như trái mơ “đây là lá…..” anh ta ngập ngừng không nói nữa. Giọng nói cho biết anh là dân “Bắc 75” có thể là dân chi viện, hay mới vào lập nghiệp. Trong đầu anh chắc ngổn ngang bao nhiêu câu trả lời, không biết làm sao nói cho thuận tai, thuận miệng. Nếu nói “đây là lá Mơ” Chắc chắn bà già trầu miền Nam này không hiểu, vì bên này đâu có trái mơ, mà tưởng tượng. Ngược lại nếu nói theo kiểu miền Nam là lá Thối Địt, thì ngượng miệng chết, vì người Bắc chữ “Địt” là nói bậy, danh từ không văn hóa. Anh lại nghĩ, miền Nam nói “mắc địt”có nghĩa là khi nặng bụng, đầy hơi chướng khí, khí thoát ra cửa hậu gọi là “đánh địt”, người Bắc gọi tiếng nổ do con người phát ra mỗi khi không kìm hãm được là “đánh rắm”. Theo anh thì “địt và rắm” giống nhau. Nghĩ tới đó anh hồ hởi phấn khởi trả lời: “thưa bác đây là lá Thối Rắm”. Bà già trầu nghe anh ta trả lời, đã không biết, lại càng không biết luôn. Bà thấy đây chính là loại lá mới, loại lá có từ khi miền Nam được “giải phóng” đó là loại lá “Thối Rắm”. Bà yên tâm sẽ về hỏi lại thằng Ba Bại, thằng cháu tập kết mới về. Nghe những câu đối đáp giữa bà già trầu và anh chàng xách giỏ lá, tên cán bộ ngồi hàng ghế đằng sau bà già bực mình. Để tỏ ra mình hiểu hơn anh chàng kia, tên cán bộ lên tiếng “lá Thối Địt là lá Thối Địt, làm đ. gì có lá Thối Rắm.. bầy đặt ngượng miệng, ngượng nói”. Rồi hắn quay sang nói vói bà già trầu: “đây là lá Thối Địt, dùng để ăn với thịt chó đấy ạ”. Bà già trầu chợt hiểu: “vậy thì tôi biết lá này, nhà tôi nó mọc ở hàng rào nhiều lắm, nhưng lá nó trắng chứ không có màu tím. Tên cán bộ giải thích “đây là lá Thối Địt TamThể, nó ngon hơn loại trắng. Ngoài Bắc chúng tôi chỉ ăn loại Tam Thể, chứ loại trắng chỉ dùng cho lợn ăn, khi lợn bị “ỉa chảy” thôi ạ. Sau lời giải thích tên cán bộ tỏ vẻ kênh kiệu như ta đây hiểu nhiều.
Xe lại phải dừng lại đổ nước, bác tài để máy nồ, bác sợ phải đẩy xe. Chú lơ lo việc ôm cần số, nên việc múc nước, chuyền nước lên mui xe, đổ vào thùng phi, lại phiền đến hành khách. Đám đàn ông, thanh niên không phải huy động đẩy xe, nhưng được đề nghị chuyền nước. Ai cũng muốn về sớm, mặc dù đã 5 giờ chiều, nên mội người đều tích cực xếp hàng chuyền nước. Nhìn đám người xếp hàng từ dưới mương chuyền nhau thùng nước, người ta nghĩ đến những ngày tháng đi công tác thủy lợi vùng kinh tế mới, những ngày xếp hàng chuyền nhau những tảng đất hay thúng bùn từ con rạch lên đắp nền nhà cho dân chúng. Những ngày tháng gian khổ để thực hiện những kế hoạch ngu đốt của Đảng và nhà nước, những phí phạm nhân lực, tài lực mục đích đuổi dân chúng ra khỏi thành phố để chiếm đoạt tài sản. Khẩu hiệu “lao động là vinh quang”, chỉ dành cho đám dân được xếp vào loại có “nợ máu” hay “tư sản”.
Xe tới được bắc Mỹ Thuận thì phố đã lên đèn. Xe vào hàng chờ đợi qua phà. Phía cửa trước tên ăn xin bước lên, mặt cháy mán một bên, tay cầm nón lá, miệng hát “đi mô, rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh, nhớ núi Hồng Lĩnh, nhớ giòng sông xanh, nhớ biển rộng mênh mông..”. Hắn vừa hát vừa đưa cái nón rách xin tiền, chẳng ai thèm cho. Bà già trầu ngứa miệng “Nhớ thì về đi, ở đây làm gì mà phải đi ăn xin”.. hắn đi xuống tới cuối xe vẫn không được một đồng nào. Tên ăn xin Hà Tĩnh vừa bước xuống xe, thì một người ăn xin khác trèo lên. Cách ăn mặc rách rưới như nhau, nhưng người này bị cụt một chân. Anh chàng cầm mũ xin tiền, miệng hát “Tôi nó sinh ra nhằm chinh chiến mới quen nhau, mà thương mến, nó quê ngoài kia từ lâu lắm chưa lần về..” hành khách trong xe ai cũng móc tiền ra cho. Anh đi tới cuối xe, cầm nón tiền cúi chào cám ơn mọi người, chúc mọi người thượng lộ bình an. Trong lúc tên ăn xin Hà Tĩnh vẫn còn đứng dưới ngỡ ngàng nhìn lên suy nghĩ. Người ta thấy anh chàng ăn xin lên sau, cầm mớ tiền tiến lại gần anh chàng ăn xin Hà Tỉnh, chia cho anh này một ít và nói: “ĐM. đi ăn xin mà hát nhạc giải phóng thì không ai cho đâu em”. Những lần sau tôi đi qua lại Bắc Mỹ Thuận, tôi vẫn gặp anh chàng ăn xin Hà Tình, nhưng không thấy anh hát nhạc CS nữa mà hát nhạc Vàng, loại nhạc mà đảng cho là nhạc “Ngụy”. Nhưng chính cái nhạc “Ngụy” lại cứu anh và gia đình anh. Nhạc “Ngụy” đã cho anh mùa xuân. Anh nghĩ lại từ ngày theo Đảng cho đến khi trở thành thương binh, chưa thấy “Đảng cho anh mùa xuân” như trong ca khúc anh đã thuộc từ nhỏ, mà chỉ thấy Đảng ăn cướp của anh.
Xe vẫn không nhúc nhích. Chú lơ ngồi trên ghế nhắm măt ngủ lúc nào không hay, một số hành khách đã qua phà, trên xe còn lại vài người mệt mỏi không muốn xuống đi bộ. Chú lơ đang thả hồn theo mây gió, chú đang mơ tới một thiên đường trong đó không có cảnh “người bóc lột ngươì”. Chú thấy cái thiên đường đó xa quá, vì con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, sao thấy phiêu quá. Chú học ít, hiểu ít, nhưng thực tế lắm, chú thấy người ta đọc chữ XHCN thành Xếp Hàng Cả Ngày sao đúng quá, chí lý quá. Chú nghe thấy thằng em chú đi học về nói rằng: “ Xã hội tư bản dẫy chết, đang đứng bên bờ vực thẳm. Còn chúng ta XHCN đi trước một bước” nói rồi chúng cười với nhau. Về sau thằng em cắt nghĩa, chú lơ mới hiểu rằng: XHCN đi trước một bước, nghĩa là nhảy xuống vực thẳm trước, trong lúc xã hội tư bản con vẫn tiếp tục đứng ở trên.
Chú đang mơ màng thì nghe thấy tiếng “xì xì” phát ra trong gầm xe, chú giật mình nhảy xuống xe, chạy tới từng bánh xe vừa kiểm tra vừa la lớn “bánh xe xì, bánh xe xì.” thật là tai họa, nếu mà bánh xe xì thật trong lúc này. Từ sáng tới giờ chiếc xe chết tiệt này xảy ra biết bao chuyện, hết nước, sút cần số, nếu xì bánh xe nữa, thì coi như đại xui. Chú cẩn thận kiểm soát rất kỹ. Xe đò có 6 bánh, tất cả đều cứng hơi. Chú trở về vị trí cũ, vẫn còn nghe tiếng “xì xì”, chú lắng nghe và định được vị trí nơi phát ra tiếng động như “bánh xe trước xì hơi”. Chú nhảy xuống trở lại cúi đầu nhìn vào bên trong gầm xe, tay đấm vào bánh xe để định lượng tình hình. Chú phát hiện không phải vỏ xe xì. Một bà khách mắc bệnh “tiểu đường”, bí quá đã chui vào gầm xe giải quyết bầu tâm sự. Âm thanh phát ra làm chú lơ lầm tưởng bánh xe bị xì, chú tức quá chửi thề “Mẹ ơi! Mẹ! chui vô đó mà xì, người ta la bánh xe xì cũng không nói, nín khe à! làm người ta hết hồn”. Tội nghiệp cho chú lơ phải lo lắng .
Xe qua phà đón khách, một số khách đã bỏ xe vì không thể chờ đợi lâu được. Hành khách chỉ còn một nửa, Có lẽ thấm mệt vì cuộc hành trình có quá nhiều bất trắc, nên đa số lim dim ngủ. Chú lơ vẫn tiếp tục ngồi ôm cần số. Xe chạy tới Đồng Tâm, đang ngon trớn vì đường tốt, bỗng chao tay lái, bác tài giữ chặt vô lăng, cố gắng chạy vào lề. Mọi người bổng tỉnh giấc ngơ ngác hỏi: “Chuyện gì vậy?”. Chú lơ buồn bã trả lời: “Bể bánh xe”. Chiếc xe dừng hẳn, mọi người xuống xe. Vỏ sau xe là loại vỏ đắp, không biết thay bao lâu, nhưng đã mòn hết gai, hết bố, nên bể. Bánh sau xe thường là một cặp, một vỏ bể không đến nỗi nguy hiểm, nhưng phải thay mới chạy được. Cái lo “bánh xe xì” từ bến bắc trở thành sự thật, chú Lơ buồn, uể oải mở thùng đồ nghề lấy dụng cụ ra thay bánh xe. Từ đây về Trung Lương không còn xa lắm. Chúng tôi quyết định bỏ xe, kêu xe ôm vào Mỹ Tho.

Bác tài xe ôm chở chúng tôi lao vút về Trung Lương. Trong đầu tôi ngổn ngang bao nhiêu câu hỏi, bao nhiêu suy tư, không biết phải nói gì với ông bà nhạc gia đây. Tôi không biết phải ứng xử ra sao khi đối diện với họ. Tôi im lặng, lòng nặng trĩu nỗi lo. Chiếc xe ôm thả chúng tôi trước cửa nhà, lấy tiền rồi biến mất. Tôi xách giỏ bước theo người đẹp. Căn nhà xây theo kiến trúc miền Nam, phía trước nhà có mái che và hành lang rộng, những cột nhà đều dán liễng chữ Tàu đỏ, có lẽ những liễng này dán vào tết vừa qua. Tôi bước chân vào nhà, hai chân cứ đá vào nhau. Cái bực thềm làm tôi suýt té, tôi chộp trúng cái khung cửa, tay nắm chặt lấy cửa giữ lại thăng bằng. Trong nhà phòng khách trang trí theo kiểu miền Nam. Giữa là bàn thờ ông bà, một bên là bộ tràng kỷ bằng gỗ trạm trổ thật tinh vi. Một bên là bộ ván “ngựa” dầy bóng láng. Trên tường treo một vài tấm tranh sơn mài, nước sơn ngả màu cho biết bức sơn mai này khá xưa.
Vừa nhìn thấy ông bà Nhạc, tôi khoanh tay cúi đầu chào “Cháu xin chào bác trai, chào bác gái”, không ai nói với tôi một lời, cứ chăm chú nhìn tôi. Tôi mất tự nhiên cúi xuống tự kiểm soát xem mình có bị dính bùn đất gì chăng. Tất cả làm như người xa lạ. Mà xa lạ thật, tôi đâu có họ hàng bà con với ai đâu. Giọng nói của tôi thì lạ hoắc và cứng ngắc. Mấy đứa em nàng lấp ló nhà sau nhỏ to, thỉnh thoảng cười rộ lên. Tôi lúc đó không biết nói gì, cứ đứng như trời trồng. Người đẹp của tôi bỏ tôi “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Nàng kéo bà má ra sau nhà tâm sự. Tôi một tay ôm túi “hành trang”, một tay xách giỏ đựng con gà mái dầu làm quà ra mắt. Thấy tôi đứng lâu quá con gà mái cục cựa kêu lên ầm ĩ. Nghe tiếng gà kêu, người đẹp của tôi mới xuất hiện: “quên, anh đưa gà cho em, ngồi xuống ghế nghỉ đi.” Mừng quá tôi thả người xuống ghế. Rồi tiếp tục ngồi. Mọi người không ai hỏi tôi, tôi cũng không biết nói chuyện với ai. Chừng nửa giờ sau cô em vợ ra gặp tôi “anh Năm ra sau tắm gửa gồi ăng cơm”.
Tôi theo cô em ra sau, cô đưa cho tôi cái khăn mới toanh và chỉ cho tôi phòng tắm.
Nhà tắm nhỏ và gọn, hồ nước được xây giữa nhà tắm và cầu tiêu. Phía trên giá đã treo sẵn sàng một bộ quần áo mới. Tôi múc nước xối lên người. Nước mát lạnh, làm tôi tỉnh lại, quên cái “bực mình” vì bị bắt ngồi tù ngoài phòng khách. Thấy tôi tắm xong bước ra, bà nhạc mẫu lên tiếng “ra ăng cơm luôn Năm”.
Bây giờ tên tôi được gán thêm số thứ tự “Năm T.” vì người đẹp của tôi là người con thứ năm trong gia đình, nên tôi cũng mang danh là Năm .. từ lúc nào không hay.
Bàn ăn chỉ có ông bà nhạc gia và người đẹp của tôi. Mọi người bắt đầu ăn, thì tôi lịch sự rón rén ngồi xuống “con xin phép” cũng không ai trả lời. Thấy tôi ngồi không cầm đũa, người đẹp bên cạnh dục tôi, “ăng đi ăng đi” tôi nâng chén cơm lên “xin mời hai bác” nhạc phụ tôi lúc đó mới lên tiếng “ăn tự nhiên đi coong”. Tôi vẫn không được tự nhiên, muốn ăn một món gì, tôi đều mời hai bác trước rồi mới gắp. Bà nhạc mẫu thấy tôi xử sự quá lễ phép, bà cầm ngay đĩa thịt gà Rôti lên, rồi dùng đũa sẻ ngay một nửa vào chén của tôi, bà nói “Năm con, ở đây ăn uống không phải mời ai, thấy có gì muốn ăn cứ gắp. Các em tụi nó ăn rồi.” Nói chung các bà mẹ vợ bao giờ cũng quí con rể. Tôi cảm động vì lời dậy chân thành đầu tiên về nhà vợ.
Người đẹp của tôi chỉ vào cái thau rau sống trộn dấm, dầu ăn với thịt, nàng phát biểu một câu xanh dờn: “Ăng đi, ăng đi, móc ở đíc lên ăng, dưới đíc có nhiều thịt lắm đó”. Úi chao ôi! sao mất vệ sinh thế. Nhưng nàng rất thật tình, có ý muốn nói, thịt nhiều ở dưới đáy thau, bớt rau lên sẽ thấy nhiều thịt. Hãy ăn nhiều thịc zô…
Mọi người đều tự nhiên “như dân Hà Nội”. Nhưng tôi vẫn thấy mình lạc lõng, giữa một phong tục khác lạ nhất là hôm nay “tôi đi hỏi vợ”.
Jo. Vĩnh & Tuấn Linh,Miệt Dưới
Người Bán Liêm Sỉ
Xin gọi ông ta là ông X. Để tránh phiền phức. Thời buổi bây giờ, con người dễ bị chụp mũ bất cứ lúc nào và bởi bất cứ ai. Ở trên chụp xuống là nhà cầm quyền – hạng này đông lắm và rất... vững tay nghề vì đã từng hành nghề này cả mấy chục năm. Ở dưới chụp lên là kẻ tiểu nhơn – hạng này thường thấy xuất hiện khi có biến cố hay khi thấy chánh quyền đa nghi như Tào Tháo; hạng này hành động theo thời cơ nên tay nghề lắm khi còn vụng; họ không đông nhưng rất nguy hiểm bởi vì họ giống như mọi người nên khó mà nhận diện ! Ở ngang với mình mà chụp mũ mình là mấy đứa mà mình thường gọi là bạn hay chiến hữu hay đồng chí – hạng... mắc dịch này mới bắt tay ôm hôn mình thấm thiết đó, vậy mà hôm sau đã “trở cờ xé lẻ” bởi vì cái đít của họ đòi cái ghế và cái mặt của họ muốn được... bự bằng cái nia ( để được thấy là … đại diện ! ) ; hạng này không cần tay nghề khéo nên cách chụp mũ thiếu... tế nhị ! Nói chung, hạng chụp mũ nào cũng chỉ chụp người có tên tuổi đàng hoàng chớ chẳng ai chụp mũ một kẻ vô danh. Cho nên, gọi nhân vật trong chuyện sau đây là ông X để ổng trở thành kẻ vô danh, khỏi bị chụp mũ ! (Xin lỗi ! Tôi hơi dài dòng ở đây tại vì tôi muốn mọi người đều thấy tôi “rõ như ban ngày”, để đừng ai... chụp mũ tôi “có ý đồ này nọ”. Đa tạ).

Bây giờ thì xin nói đến ông X.

Hồi thời trước – thời mà sau này “được” gọi là ngụy – ông X làm việc cho một hãng tư của ngoại quốc. Ông làm việc lâu năm và rất đắc lực nên ban giám đốc giao cho ông những chức vụ quan trọng với quyền hạn về tài chánh thật rộng rãi. Để thực hiện những chương trình xây dựng đồ sộ của hãng, ông thường xuyên giao dịch với chánh quyền. Nhờ vậy, ông “quen lớn” nhiều trong cả hai giới dân sự và quân sự.

Ở địa vị như của ông, con người dễ bị cám dỗ vì tư lợi. Chẳng có gì khó hết. Chỉ cần “nhắm mắt” một chút là nhà thầu sẽ biết cách đền ơn. Chỉ cần “biết phải quấy” một chút là vô “áp phe” riêng cho mình. Chỉ cần “bóp chẹt bắt bí” một chút là hất chân những đứa không theo bè cánh...

Ông X lại không thuộc hạng “biết làm ăn” như kể trên. Ông lớn lên trong một gia đình theo Khổng giáo, lấy “nhân nghĩa lễ trí tín” làm phương châm, luôn đề cao giá trị đạo đức của con người. Cho nên làm việc cho hãng gần hai mươi năm mà không thấy ông... “xơ múi” chút gì hết ! Bạn bè có đứa chê ông nhát. Ông cười: “Thà tao nhát mà tao giữ tròn liêm sỉ. Cái đó mới là cái khó. Người ta có thể chê tao như mày đã chê tao. Chớ không ai dám khi dể tao hết. Cái phách của tao là ở chỗ đó !”.

... 30 tháng tư 1975. Ông X đã không di tản. Nghĩ rằng mình làm việc cho hãng tư, lại là hãng của ngoại quốc, chắc “họ không làm gì đâu”. Chẳng dè quân mũ tai bèo (Giải phóng miền Nam) và quân nón cối (bộ đội) vào Nam tiếp thu tuốt tuột. Hãng công hãng tư gì, lớn nhỏ gì cũng “đớp” hết ráo (Trước đó, họ có tuyên bố “không đụng tới cây kim sợi chỉ của dân”, và sự thật, họ đã làm đúng như vậy, mới chết ! Bằng cớ là họ đã lấy hết, chỉ chừa có... cây kim sợi chỉ ! Cho nên, có thấy ai thưa gởi rằng bị cách mạng... cướp mất cây kim sợi chỉ đâu ? Vậy mà sao ai cũng nói họ “nói một đàng mà làm một nẻo” hết ! Oan cho họ ! Có điều là với “cây kim sợi chỉ”, người dân không biết... “làm khỉ gì ăn”. Chỉ còn có nước may cái miệng lại để khỏi phải ăn, khỏi phải nói !).

Hãng của ông X bị quân mũ tai bèo mang bí số K7 tiếp thu. May cho ổng: người dẫn đầu toán tiếp thu là người chú bà con đi khu hồi kháng chiến 1945. Nhờ ông này can thiệp nên ông X không bị đi cải tạo, nhưng bị đổi đi “hạ tầng công tác” ở một kho hóa chất (Sự che chở người thân như vậy rất hiếm thấy trong chế độ. Và có lẽ vì vậy mà chưa đầy sáu tháng sau, ông cán bộ đó bị cho “về vườn” mặc dầu chưa tới hạng tuổi !).

Bấy giờ, ông X ăn lương 80 đồng. Trong khi người tài xế cũ của ông lảnh 90 đồng ! Ông được phát lương mỗi tháng hai kỳ. Mỗi kỳ là 40 đồng nhưng bị giữ lại 2 đồng để cho vào sổ tiết kiệm (Nhà Nước lo cho dân chí tình như vậy mà vẫn có người không bằng lòng. Lạ thật !).

Bấy giờ, vì tất cả ngân hàng đều bị tịch thu, nên tiền của mà ông X để trong ngân hàng của ổng kể như đã... cúng cô hồn ! Ông X trắng tay và... trắng mắt.
Bấy giờ, vợ con ông X rã ra đi làm trong mấy tổ hợp. Hai đứa nhỏ nhứt ở nhà dán bao giấy bỏ mối cho bạn hàng ngoài chợ gói đồ. Ông X bán lần xe cộ, bàn ghế tủ...
Nhiều khi ông thầm nghĩ: “Mình đã tự hào giữ tròn liêm sỉ từ mấy mươi năm. Bây giờ... đổi lấy cái ăn cũng không được. Phải chi hồi đó mình nhắm mắt làm bậy, mánh mung chụp giựt đầy túi rồi bay ra ngoại quốc ở, thì bây giờ mình đâu có ngồi đây nhìn cái khổ cực của vợ con ! Riết rồi không biết là mình khôn hay mình dại nữa”.
Hôm nay là ngày ông đi bán chiếc xe đạp của ông. Ông đã tính kỹ: đạp xe ra chỗ thằng nhỏ sửa xe đạp ở góc đường xin nó cho đứng nhờ để bán; ở đó người qua lại cũng đông và người ghé vào bơm bánh hay sửa xe cũng thường; thế nào cũng có người hỏi mua. Sau khi lau chùi sạch sẽ chiếc xe, ông lấy một miếng bìa cứng viết lên đó “Bán xe đạp” rồi khoét lỗ xỏ sẵn dây để mang ra cột tại chỗ. Vừa làm ông vừa nghĩ đến thân phận của mình, đến cái liêm sỉ mà ông đã đeo đẳng từ bao nhiêu năm. Ông cười chua chát: “Cái liêm sỉ không giá trị bằng chiếc xe đạp !”. Bỗng ông nẩy ra một ý, vừa hài hước vừa táo bạo: “Tại sao mình không treo bảng bán cái liêm sỉ ? Cười chơi, sợ gì ?”. Vậy là ông lấy một miếng cạc-tông, nắn nót viết lên đó hàng chữ “Bán cái liêm sỉ. Bảo đảm 20 năm chưa sứt mẻ”. Khoét lỗ xỏ dây xong, ông cho hết vào túi xách, đạp xe ra ngõ.

Thằng nhỏ sửa xe tuổi độ mười hai mười ba. Ốm nhom, đen thui, cười hở lợi. Sáng nào nó cũng kéo chiếc xe hai bánh chở hai thùng gỗ nhỏ và mớ đồ nghề, ra... hành nghề cạnh trụ đèn ở góc đường. Sợ người ta không biết hay sao mà thấy nó có treo trên trụ đèn tấm bảng trắng sơn chữ đỏ “Tại đây sửa xe đạp đủ loại”.

Khi ông X xin đứng nhờ, nó vui vẻ nhận lời ngay:

- Dạ được ! Dạ được ! Ông Hai cứ dựng xe cạnh cột đèn đó, không sao hết. Chỗ này là chỗ “bá tánh” chớ phải của riêng cháu đâu mà ông Hai xin phép !

Rồi nó lấy cái thùng gỗ úp xuống, mời:

- Ông Hai ngồi. Cháu đang lỡ tay !

Nó làm như nếu nó không lỡ tay thì nó có bổn phận phải ngồi... tiếp chuyện ông X vậy ! Ông thấy có cảm tình ngay với thằng nhỏ. Ông cảm ơn rồi lấy hai miếng cạc-tông ra, treo một tấm lên sườn xe đạp, tấm thứ hai đeo lên cổ của mình một cách thích thú !

Ông ngồi xuống thùng gỗ phía sau lưng thằng nhỏ, đốt thuốc hút, ung dung. Thằng nhỏ đang ráp sợi dây sên vào chiếc xe đạp dựng ngược. Nó vừa làm vừa nói chuyện với ông X, mắt vẫn nhìn châm chú vào công việc.

- Ông Hai bán xe rồi lấy gì mà đi ?

- Thì... tôi đi chung xe với bà nhà tôi.

- Ông đèo bà hay bà đèo ông vậy ?

Ông X bật cười:

- Dĩ nhiên là tôi đèo bả chớ !

- Ý ! Bây giờ đổi đời rồi. Mấy bà chở chồng chạy bon bon thiếu gì, ông Hai.

Nói xong, nó cười hắc hắc. Ngừng một lúc, chừng như đang ngẫm nghĩ gì đó. Rồi nó nói tiếp, giọng ngang ngang:

- Bây giờ sao nhiều người bán đồ bán đạc trong nhà quá. Ở xóm của cháu, thấy có người cạy gạch bông nền nhà lên bán đặng ăn, ông Hai à !

Hình ảnh đó làm ông xúc động. Ông không biết phải nói gì. Sự bần cùng của người dân trong chế độ được gọi là ưu việt này, đã vượt quá xa tầm tưởng tượng của con người... thì còn lời gì để nói ? Im lặng, ông hít nhiều hơi thuốc dài...

Thấy sao “người đối thoại” của nó làm thinh, thằng nhỏ quay đầu nhìn lại. Bây giờ nó mới thấy tấm bảng ông đeo trước ngực. Nó ngạc nhiên:

- Ủa ! Ông còn bán cái giống gì nữa vậy ?

- Thì... cháu đọc coi.

- Cái... “liêm” ... Cái “liêm sỉ” là cái gì vậy, ông Hai ?

- Ờ... Cái liêm sỉ là... (Ông ngập ngừng tìm lời để giải nghĩa) Là ... Là cái mà thiên hạ ai cũng quí trọng hết. Người ta coi nó có giá trị như... có giá trị như...

- Như hột xoàn hả ông Hai ?

- Ờ ! Đại loại như vậy. Thiên hạ cho rằng người nào có cái liêm sỉ cũng thấy sáng ngời không kém.

Nổi tánh tò mò, thằng nhỏ chùi vội hai tay vào một miếng giẻ cũng dơ như tay của nó, rồi xoay hẳn người lại, hâm hở:

- Ông Hai cho cháu coi một chút được không ? Từ cha sanh mẹ đẻ cháu chưa nghe nói tới cái liêm sỉ bao giờ, chớ đừng nói thấy.

- À cái này không có coi được. Lớn lên rồi cháu sẽ biết.

Thằng nhỏ tiu nghỉu, quay trở về công việc mà nghĩ: “Chắc là đồ xịn lắm nên ổng sợ !”

Có hai thanh niên dừng lại bơm bánh xe. Cả hai đều đọc bảng treo trước ngực ông X. M ột anh hỏi anh kia:

- Cái liêm sỉ là cái gì vậy mậy ?

Thằng nhỏ nói hớt, vẻ sành sỏi:

- Là đồ nữ trang loại xịn. Mắc lắm đó !

Ông X mỉm cười, chua chát nghĩ: “Chế độ đâu có dạy con người phải có liêm sỉ. Bây giờ, chỉ thấy học đấu tranh, học hận thù, học giết chóc... chớ đâu thấy học làm người có đạo đức, trọng lễ nghĩa để mà biết liêm sỉ là gì ? ‘’

Một anh bộ đội, nón cối nghiêng nghiêng, tấp Honda vào hỏi mua “săm” xe đạp. Thằng nhỏ nói: “Sửa xe chớ không có bán đồ phụ tùng”. Chờ cho anh bộ đội đi khuất, nó quay lại cười cười nói với ông X:

- Ruột xe thì nói ruột xe. Mấy chả nói “săm”. Hồi đầu cháu đâu có biết. Cháu chỉ qua bà xẩm bán nước sâm ở bên kia đường. Thấy cười quá ! Họ nói tiếng gì đâu không, hà !

Một thanh niên chở một ông già, ngừng lại nhờ thằng nhỏ siết lại cái đầu bàn đạp. Sau khi nhìn ông X, anh thanh niên hỏi nhỏ ông già:

- Liêm sỉ là cái gì hả ông nội ?

Ông già tằng hắng rồi nói, giọng nghiêm trang:

- Là cái mà nó bắt con người ta phải cẩn thận trong suy tư trong hành động. Nó không cho con người ta làm bậy làm quấy, làm sai đạo lý. Nó bắt con người ta phải biết xấu hổ khi có ý xâm phạm thuần phong mỹ tục. Quí lắm, con thấy không ? Vậy mà thời buổi bây giờ có mấy ai biết nó là gì...
Trả tiền xong, người cháu đợi người ông ngồi đàng hoàng vững chãi trên pọt-ba-ga rồi mới đạp đi. Ông già quay đầu nhìn lại ông X, giống như nhìn một món đồ cổ !
Mặt trời đã lên cao. Cây me già cạnh đó đổ bóng mát rượi xuống chỗ “hành nghề” của thằng nhỏ. Gió thổi hiu hiu. Lá me lăng tăng rụng...
Một ông già râu tóc bạc phơ đạp xe lọc cọc ghé vô nhờ sửa cái thắng. Sau khi... “kiểm tra” lại bộ phận, thằng nhỏ gãi gãi đầu mặc dù tay nó dơ hầy:

- Cha... Vụ này hơi lâu à ông Hai. Cũng năm mười phút à !

- Không sao. Tao đợi. Tao thiếu gì thì giờ.

Nó vội vàng lật úp cái thùng gỗ còn lại, đặt gần chỗ ông X:

- Ông ngồi đây. Có ông Hai này ngồi bán xe, từ sáng giờ không thấy ai hỏi hết. Chắc cũng buồn !

Đó là cách nó giới thiệu để hai người dễ dàng bắt chuyện với nhau, nếu muốn.

Ông già ngồi xuống, gật đầu chào ông X, rồi móc bọc thuốc rê, mời:

- Ông vấn một điếu chơi.

- Cám ơn. Tôi có đem theo thuốc vấn sẵn ở nhà.

Ông X lấy trong túi ra hộp thiếc giẹp màu vàng (loại đựng thuốc điếu 555 ngày xưa) móp méo trầy trụa, mở ra mời lại:

- Ông hút thử thứ này coi.

Ông già cất bọc thuốc vào túi lấy một điếu của ông X để lên môi, đốt. Ổng hít mấy hơi thật dài rồi gật gù:

- Ùm... Một phần Lạng Sơn hai phần Gò Vấp.

- Đúng ! Ông rành quá !

- Một đời hút thuốc mà không rành sao được, ông bạn.

Hai người im lặng thở những hơi khói dài. Giờ đó, đường cũng vắng, chỉ nghe tiếng lách cách sửa xe của thằng nhỏ. Một lúc lâu sau, bỗng ông già tằng hắng rồi nheo mắt nhìn thẳng ông X, giọng ôn tồn:

- Ông bạn à. Tôi nghĩ nếu ông bạn còn chút liêm sỉ thì nên dẹp tấm bảng bán liêm sỉ của ông đi. Chỉ có phường vô liêm sỉ mới khoe khoang khoác lác rằng ta là thế này, ta là thế nọ, ta hơn thiên hạ về đủ mọi mặt vv…. Sự thật, họ không có gì hết. Bọn vô liêm sỉ đó đã chà đạp mọi giá trị tinh thần của con người, đã chối bỏ truyền thống đạo đức của ông cha để lại từ không biết mấy ngàn năm.

Ông X im lặng gật gù nghe. Ông già ngừng một chút để hít mấy hơi thuốc. Rồi tiếp:

- Ông bạn à. Tôi tin rằng ông bạn là người có liêm sỉ. Trực giác cho tôi thấy như vậy. Bây giờ, đem rao bán cái liêm sỉ, ông bạn có thấy đó là hành động thiếu suy nghĩ không ? Nói khùng mà nghe, giả dụ ông bạn có bán được cái liêm sỉ, ông bạn sẽ “trắng tay”. Không còn liêm sỉ nữa thì ông bạn sẽ thành cái gì ?

Ông già ngừng ở đó, nhìn ông X một chút rồi nói gằn từng tiếng:

- Ông bạn sẽ là thằng-vô-liêm-sỉ !

Đến đây, thằng nhỏ đã sửa xong cái thắng. Ông già đứng lên chào ông X, trả tiền rồi đạp xe đi thẳng.

Hút tàn điếu thuốc, ông X thở dài, đứng lên tháo hai miếng cạc-tông cho vào túi xách. Thằng nhỏ ngạc nhiên:

- Ủa ! Bộ ông Hai về hả ?

- Ừ !

- Sao về sớm vậy ?

- Ừ ! Về sớm.

Ông X nói bằng một giọng trống rỗng. Thằng nhỏ ân cần dặn:

- Ông Hai cẩn thận nghe ! Coi chừng tụi nó giựt cái liêm sỉ à. Mấy thằng lưu manh nó giựt bóp của người ta hoài, hà !

Ông X làm thinh đạp xe đi, bỗng nghe như cái liêm sỉ của ông nó nặng như chì. Vậy mà bao nhiêu lâu nay, ngày ngày ông vẫn còng lưng cõng nó để đi tìm một chân trời, một lối thoát, một chút ánh sáng ở cuối con đường hầm … !
Tiểu Tử

Từ Mỹ, kể chuyện Mỹ Tho

Quê hương là một nơi mà cho dù bao năm xa cách, cho dù bao nhiêu bận rộn trong cuộc sống thường nhật cũng khó làm cho người ta quên.

Hôm qua gia đình tôi vừa nhận được một số hình ảnh từ Mỹ Tho, Việt Nam gửi sang. Số là bà chị, con dì tôi, vừa lập gia đình. Chú rể là một Việt kiều về từ Canada. Hai người quen nhau qua sự giới thiệu của một người bạn của dì tôi.
Mỹ Tho, vẫn như ngày tôi ra đi, không một chút thay đổi. Thời gian dường như ngưng đọng lại ở các làng quê Việt Nam nói chung và tại Mỹ Tho, quê tôi, nói riêng. Sinh hoạt tại các làng quê vẫn như những thế kỷ trước. Người dân hầu như không biết gì đến tiến bộ khoa học của thế giới bên ngoài. Vẫn cảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau.
Vẫn những người nông dân chân lấm, tay bùn. Những người cầm quyền tại Việt Nam hiện nay cứ vỗ ngực khoe khoang, nước Việt sẽ vượt Thailand lên hàng đầu các nước xuất khẩu gạo trên thế giới, nhưng thử hỏi đời sống người nông dân có gì thay đổi sau hơn mấy chục năm dưới cái chế độ gọi là vì dân của họ, và sau những vụ mùa vất vả người nông dân còn lại được gì?


Ống kính của người thợ quay phim không biết vô tình hay hữu ý đã ngừng khá lâu khi quay lướt qua phần mộ của gia tộc. Ngoại tôi nằm ở đây đây. Mới đó mà Ngoại đã mất hơn hai năm. Tôi luôn nhớ những lần Tết đến, mấy chị em tôi quây quần lại và chúc Tết Ngoại qua điện thoại. Lần nào tôi cũng chúc "Chúc Ngoại khoẻ mạnh, sống lâu trăm tuổi để tụi con còn về thăm Ngoại nha Ngoại". Ngoại cười hiền hậu "Ừ Ngoại ráng sống 100 tuổi. Mà năm nay tụi con có về thăm Ngoại hôn?". Thế là tôi im lặng, ngập ngừng. "Ngoại nói vậy thôi, ở bển tụi con ráng mần ăn, khi nào rảnh rỗi thì về thăm Ngoại".


Ngoại tôi lưng còng lắm. Mỗi lần về Mỹ Tho thăm Ngoại, tôi lại thấy Ngoại còng hơn. Con cháu về thăm, Ngoại mừng và khỏe ra trông thấy. Ngoại lúi húi giựt mấy trái dừa tươi về bổ ra cho chúng tôi uống. "Tụi con uống đi, đi xe đò xa xôi về thăm Ngoại", Ngoại cứ lăng xăng đi tới đi lui nhắc nhở.

Nhớ hồi Ba tôi còn ở trong tù cộng sản, năm nào ba tháng hè Má tôi đều đưa mấy chị em về gửi dưới Ngoại. Ngày ngày Ngoại đi kéo tàu dừa rớt trong vườn, nuôi vài con heo, con gà, chắt chiu từng đồng lo cho con cháu và phụ đỡ Má tôi nuôi Ba tôi trong tù. Ngày nào cũng vậy, trước khi rời nhà đi thăm vườn, Ngoại cũng đều căn dặn mấy chị em tôi ở nhà chơi, đừng theo tụi con nít trong xóm đi la cà. Vậy mà bóng Ngoại vừa khuất khỏi hàng dừa ngoài ngõ là tôi với nhỏ em đã phóng biến đi mất. Có lần Ngoại bắt gặp tôi cùng lũ trẻ trong xóm đi tắm sông. Ngoại bắt về, nằm xuống phản, rồi Ngoại quất cho 3 roi đau quắn đít. Đánh xong, Ngoại quăng cây roi, rồi ngồi bệt xuống bệ cửa, mắt nhìn xa xăm. Ngoại nói run run như khóc "Cha Má bây gửi bây cho Ngoại. Cha bây người ta bắt đi không biết chừng nào về. Còn Má bây bận làm ăn trên Sàigòn. Bây cứ cãi lời Ngoại đi tắm sông. Lỡ Hà Bá nó bắt bây, chừng Cha bây về, Ngoại ăn nói làm sao với Cha bây?". Rồi Ngoại xuýt xoa khi xức dầu cù là cho tôi "Ngoại đánh bây đau, bây có giận Ngoại không?". Tôi hồi đó không được như cái thầy gì đó trong truyện Tàu, thấy Mẹ đánh không đau thì thương Mẹ hơn vì biết Mẹ đã già yếu. Tôi giận Ngoại vì Ngoại đã quất tôi tới 3 roi thay vì chỉ 1. Thấy tôi im lặng không trả lời, Ngoại lại nói "Thôi đi thay đồ đi, rồi Ngoại nấu cơm cho ăn. Mai Ngoại rảnh Ngoại nấu chè cho bây ăn".

Ngoại tôi là bà tiên nhân từ trong truyện cổ tích. Ngoại để giành từng trái xoài, từng nải chuối, vài kí gạo, rồi Ngoại theo xe đò lên Saigon tiếp tế cho gia đình tôi. Cái thời mà Việt cộng, đỉnh cao trí tuệ của nhân loại, ngăn sông cấm chợ, đời sống ở các thành phố như Saigon, vô vàn khó khăn. Quanh năm chỉ có bo bo, xếp hàng tranh nhau vài con cá ương, gạo thì mục và trước khi bán họ còn trộn thêm đá dăm. Cả một miền Nam trù phú đã tiêu điều bởi một lũ ngu đần nhưng cao ngạo sau khi chiếm được miền Nam chỉ bởi sự mặc cả, mua bán giữa các đại cường.

Ngoại tôi cả một đời ít khi rời khỏi mảnh đất quê. Lần nào lên Saigon thăm cháu, Ngoại chỉ ở chừng 1 hay 2 bữa là Ngoại đòi về. Ngoại nói "Ngoại đi vậy không ai trông nhà. Gà, vịt không ai lo." Và lần nào trước khi về, Ngoại cũng hôn từng đứa cháu một. Mấy chị em tôi cứ chọc Ngoại "Ngoại "Tây" quá há". Khái niệm quê hương với tôi rất gần gũi, mộc mạc. Quê hương là bóng Ngoại còng, là nụ cười móm mém của Ngoại tôi. Giờ Ngoại mất rồi, tôi chẳng còn mấy hứng thú mỗi khi có ai rủ tôi về thăm Việt Nam.

Xem xong cuốn băng video, tôi vừa vui vừa buồn. Vui vì mừng cho bà chị họ nên duyên vợ chồng và hy vọng chị sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn cho bản thân và cho con cái chị sau này nơi xứ xa. Vui vì được nhìn lại bà con, chòm xóm, quê hương dù chỉ qua băng đĩa. Vui vì thấy những người thân yêu vẫn bình an, mạnh giỏi. Buồn vì thấy sao quê mình vẫn còn nghèo quá. Nhìn những đứa bé mình trần trùng trục, đen đủi, khẳng khiu đứng hai bên đường làng nhìn theo đám rước dâu, tôi muốn ứa nước mắt. Các em chắc chẳng thể hàng ngày đến trường, mà phải lam lũ đi coi trâu thuê cho người hoặc theo đám mót lúa vào những ngày gặt. Các em vẫn hồn nhiên vui cười mà không hề biết tương lai sẽ ra sao. Cuộc đời các em rồi sẽ lại như cha mẹ các em hiện tại, ăn bữa sáng là phải chạy lo cho bữa chiều, quần quật quanh năm mà cuộc sống ngày càng nghèo, càng khó hơn. Có những đứa bé nét mặt rất ngây thơ, tay chân vẫn còn lấm lem bùn đất đứng ngây người ngắm nghiá những chiếc xe rước dâu bóng lộn mà không hề dám lấy tay sờ vào vì người tài xế cứ chăm chăm trông chừng chúng, như thể những con bệnh truyền nhiễm cần tránh xa.
Những người quay phim chuyên nghiệp thì cứ xua đuổi chúng vì lo sợ hình ảnh nghèo nàn, ốm yếu của chúng sẽ lọt vào ống kính. Những cụ già lưng đã còng, miệng nhai trầu, tay chống gậy nhìn theo mà cứ xuýt xoa khen sự giàu sang của chú rể. Các cụ có được hưởng nhàn khi cao tuổi, hay ngày ngày vẫn phải vất vả mót từng cọng dừa khô, nhặt từng cọng củi sót lại trong vườn người khác, hoặc lặn lội mò kiếm từng con tép hầu có thể đấp đổi qua ngày.
Đám cưới dưới quê thật là vui. Cô dâu ở cồn bên kia giàm Kỳ Hôn nên có cảnh rước dâu rất đổi nên thơ, cứ như cảnh ngày xưa, ngựa anh đi trước, võng nàng theo sau. Nhưng thay vì dùng ngựa thì người ta dùng đò. Mấy chục chiếc đò được kết hoa trông rất đẹp mắt nằm san sát nhau, nổi bật bên bờ sông. Giàm này có tên Kỳ Hôn. Theo tục truyền, ngày xưa vua Gia Long đang đi thuyền, nhìn thấy nước một bên chảy xuôi, một chiều chảy ngược, nhà vua buột miệng nói Cái giàm này kỳ hôn?. Người xưa lấy chuyện này mà đặt tên cho cái giàm.

Máy chụp hình cứ bấm nhấp nhoáng. Chú rể cho mướn đến hai nhóm quay phim như thể sợ có gì trục trặc. Đó là chưa kể ba bốn cái máy do thân nhân, gia đình chú rể đua nhau tự quay lấy. Đường làng dẫn ra bờ sông dường như quá chật, quá hẹp cho hơn một chục chiếc xe tháp tùng chú rể đi đón dâu. Mấy anh tài xế chắc được bo hậu hĩ lắm hay sao mà trông có vẻ vênh váo khác thường với những người dân quê đứng hai bên đường làng trông theo.
Đám cưới Việt kiều có khác, cô dâu thay một lúc bốn, năm cái áo dài, chú rể cũng xúng xính khăn đóng, áo dài lạy bàn thờ làm lễ gia tiên. Đúng như ông bà mình nói, có tiền sinh lễ nghĩa. Thay vì đơn giản các thủ tục cưới hỏi, người ta lại bày vẽ nọ kia làm cho đám cưới thêm phần long trọng và cầu kỳ. Chú rể không nhận tiền mừng mà còn làm tiệc đãi cả làng, không kể thân sơ, không kể giàu nghèo. Đám cưới đãi luôn ba ngày, cứ như một đám cúng đình. Ba con bò thiệt to được vật ra làm tiệc. Có những người theo tôi biết chẳng có họ hàng gì với gia đình tôi, thậm chí chẳng có quan hệ hay quen biết gì cũng có mặt trong đám cưới. Họ xông vào phụ cái này, giúp cái kia để mong được mời vào bàn. Các công việc như chăng mấy tấm bạt, sắp xếp bàn ghế, lau rửa chén bát hoặc kết lá dừa làm cổng vu qui cũng không cần thuê người làm. Họ làm một cách tự nguyện, vui vẻ, nói chuyện, bàn tán râm ran như thể đám cưới một người thân của họ. Dì tôi bữa nào cũng dành ra đến ba, bốn bàn riêng cho họ. Vui nhất là đám con nít, chúng cứ bu theo đám thợ nấu ăn ở phía nhà sau. Lâu lâu được cho cái này, cái kia là chúng nhảy lên, chạy khoe với chúng bạn. Chắc là lâu lắm rồi chúng mới được ăn ngon và nhiều như vậy. Nhìn chúng ăn mà tôi thấy tội nghiệp và thương vô cùng. Chúng cũng trạc tuổi những đứa cháu của tôi nhưng chúng hoàn toàn không có tuổi thơ hoặc một tuổi thơ quá lam lũ, cực nhọc. Nhìn những cánh tay đen đủi quệt vội nước mũi vì cái nóng hay cái cay của đồ ăn rồi tiếp tục ăn say sưa, ăn như thể sợ mất phần hoặc sợ bị đòi lại, tôi vừa buồn cười vừa muốn khóc.

Cuốn phim kết thúc đã lâu mà tôi cứ ngồi lặng yên, miên man trong suy nghĩ về quê hương, về đất nước tôi. Tương lai quê hương tôi sao vẫn mù mịt, tối tăm như tương lai của những đứa bé này.

Hơn 30 năm trước, chúng ta mất đi một nửa nước trù phú, giàu có. Một nửa nước mà mọi giá trị nhân bản còn nguyên vẹn, con người còn đối xử thật con người với nhau. Một nửa nước mà các căn bản dân chủ, dân quyền, tuy chưa trọn vẹn do hoàn cảnh chiến tranh, đã đâm chồi, nẩy lộc. Hơn 30 năm sau, chúng ta mất hoàn toàn một nước, mọi giá trị đạo đức xã hội hầu như bị đạp đổ. Đồng tiền đã và đang thay thế tình người trong quan hệ giữa người và người. Cũng vì tiền, bọn cầm quyền sẵn sàng bán mọi thứ. Chúng bán đất, bán biển cho bọn Tàu phù để mua ngày, mua tháng tiếp tục làm tay sai. Chúng nhận tiền của tư bản ngoại quốc để biến cả nước thành một bãi rác khổng lồ. Chúng bán thanh niên, thanh nữ đi làm lao nô khắp nơi. Con người Việt Nam, quốc thể Việt Nam bị rẻ rúng, bị chà đạp. Thật tội nghiệp cho mẹ Việt Nam đã sinh ra, đã cưu mang một bọn dốt nát, độc ác nhưng vỗ ngực tự xưng đỉnh cao trí tuệ của nhân loại. Nước Nhật hứng chịu 2 trái bom nguyên tử, thất bại nhục nhã trong thế chiến thứ 2, 1945. Vậy mà chỉ đến năm 1970, Nhật đã làm thế giới ngưỡng phục khi tổ chức hội chợ thế giới ở Đông Kinh. Chỉ vọn vẻn 25 năm. Ngày nay, Nhật là một đại cường kinh tế, cả thế giới bị chi phối bởi sản phẩm của Nhật. Cả thế giới ngưỡng mộ tư cách và tinh thần Nhật. Ngày trước, khi đọc cuốn "Nhật Bản ngày nay" trong tủ sách của Ba tôi, tôi thầm mơ ước "Việt Nam ngày sau" sẽ chẳng thể thua kém. Giấc mơ Việt của tôi bao giờ thành sự thật?

Tôi yêu quê tôi qua những hình ảnh giản đơn của những con người rất đỗi bình dị, khó nghèo. Tôi yêu quê tôi với bao nhọc nhằn của đời sống thường nhật. Và tôi yêu quê tôi với ước mơ một ngày quê hương sẽ thanh bình, mọi người dân được chăm lo, mọi đứa trẻ được đến trường với tuổi thơ đầy ắp tiếng cười, hạnh phúc.

Nguyễn Khánh Vũ

Tác giả tự giới thiệu: Tôi tên Nguyễn Khánh Vũ, kỹ sư điện toán cho một công ty bên Arizona. Đã tham gia với bài "Nước Mỹ và tôi" vào năm đầu tiên, và mới nhất là các bài "Không Cho Phép Mình Quên"; "Homeless tại Mỹ." "Lễ Tạ Ơn 2008". Sau đây là bài viết mới nhất.
Ở đây, chúng ta không bàn chuyện đau nhức, cao máu, tiểu đường...nữa, vì đã có quá nhiều vị bác sĩ quan tâm tới tuổi già trên đất Mỹ này. Những loại đau trên đã có thuốc và có chính phủ Mỹ trả tiền, nhưng có những thứ đau khác không có thuốc chữa và cũng không ai kê vai gánh vác giùm.

Báo OC Register thứ sáu tuần trước có đăng tin một ông già bị người ta đem bỏ trước cổng một ngôi chùa ở thành phố Westminster. Ông lặng lẽ ngồi trước hiên chùa suốt ngày. Cảnh sát đến mang ông vào bệnh viện tâm thần. Ông không có trong người bất cứ một thứ giấy tờ nào để biết được ông là ai, ở đâu. Ông không nói một lời nào, chỉ biết lặng lẽ, đôi khi cười một mình như một người mất trí. Ông là một người châu Á, Việt Nam cũng chưa chừng, như vậy ông không phải sinh ra ở đây, hay từ trên trời rơi xuống như cô bé Maika trong một tập phim Tiệp Khắc. Vậy là có người chở ông tới và bỏ ông lại đây, không ai ngoài con cái hay thân thích của ông. Lâu nay thỉnh thoảng người ta thấy có những thiếu phụ sinh con rồi đem con bỏ vào thùng rác, nhưng chưa thấy ai đem cha mẹ vứt bỏ ngoài đường. Ông già chỉ cười vu vơ, trí nhớ của ông đã suy kiệt, nếu không ông sẽ đau khổ biết chừng nào?
Trước đây người ta kể chuyện có người chở bà mẹ già bỏ ở cây xăng, tôi không tin, tưởng là chuyện đùa, nhưng bây giờ thực sự lại có người “ đem cha bỏ chùa ”.
Cũng lại câu chuyện của một người già. Tháng trước, trong một dịp đưa người thân đi Việt Nam, tại quầy vé China Airline ở phi trường Los Angeles tôi đã chứng kiến một cảnh khá đau lòng. Trong khi mọi người đang xếp hàng trình vé, cân hàng thì một bà cụ người Việt cứ loay hoay lúng túng trước quầy vé với các thứ giấy tờ vương vãi, bề bộn trên sàn nhà. Bà ngồi bệt xuống đất hết móc túi này đến túi nọ, vẻ mặt lo lắng.ï Một nhân viên an ninh phi trường thấy tôi cũng là người Á Đông, ngỏ ý muốn tôi lên giúp bà cụ. Nhân viên quầy vé cho biết bà có vé máy bay, một visa nhập cảnh Việt Nam nhưng không có passport hay thẻ xanh. Tôi giúp bà moi từ đống giấy tờ ra chỉ thấy một cái hộ chiếu của Việt Nam cấp cách đây mười mấy năm khi bà đến Mỹ đã hết hạn và một cái ID của bà do tiểu bang Florida cấp. Bà mới từ Florida đến phi trường Los mấy giờ trước đây một mình và trình giấy tờ để lên máy bay đi Việt Nam.
Cuối cùng, bà cũng lên được máy bay, nhưng bà sẽ không bao giờ có thể trở lại Florida nữa vì trong tay bà không có passport của Hoa Kỳ, không thẻ xanh, không “entry permit”. Đây là trường hợp một bà mẹ già, quê mùa bị con cái “mời khéo” về Việt Nam. Tội nghiệp cho bà đã ngồi trên máy bay năm sáu tiếng đồng hồ để đến phi trường LAX, sắp tiếp tục chặng đường về Việt Nam nhưng không biết là mình không thể trở lại Mỹ và lòng bất nhân của con cái. Hình ảnh bà già này cứ ám ảnh tôi mãi. Bà vụng về, quê mùa, có lẽ cũng chẳng giúp ích được gì cho con cái mà chỉ thêm gánh nặng. Thôi để cho bà đi, khi biết mình không trở lại Mỹ được thì chuyện đã rồi. Tuổi bà có nằm lại trên quê hương cũng phải, sống chẳng giúp ích gì được cho ai, chết ở đây bao nhiêu thứ tốn kém.
Hai vợ chồng sang Mỹ từ hai mươi năm nay, đi làm nuôi con, mua được căn nhà đã pay off. Khi các con đã có gia đình ra riêng thì ít năm sau ông cụ cũng qua đời. Thấy mẹ hiu quạnh trong một căn nhà khá 1ớn, mà giá nhà đang lên, các con bàn với mẹ bán nhà đi rồi về ở với các con. Bà mẹ bán nhà, thương con chia đều cho mỗi đứa một ít, còn dăm nghìn dắt lưng, rồi về ở với con. Bà không biết lái xe, không biết chữ nghĩa, cũng không biết trông cháu làm home work, nên cha mẹ chúng phải nhờ người đưa đón. Bà thích nấu ăn, gói bánh, kho cá, nhưng sợ nhà hôi hám, con cái không cho. Lúc đầu thì chẳng sao, lâu dần mẹ thành gánh nặng. Buổi chiều, đứa con gái xô cửa trở về nhà, thấy mẹ đang gồi xem TV, nó hất hàm hỏi: -“Có hiểu gì không mà thấy má ngồi coi suốt ngày vậy?” Có lúc chuông điện thoại reo, đứa con nhấc máy, bên kia không biết ai hỏi gì, trước mặt bà già, nó trả lời nhát gừng:-“Bả đi khỏi rồi!”
Một bà mẹ khác, ở chung nhà với một đứa con nhưng nhờ một đứa con khác đưa đi bác sĩ. Xong việc, nó đưa mẹ về rồi lẹ lẹ dọt xe đi làm. Bà già vào tới cửa, móc túi mãi không tìm ra cái chìa khóa nhà. Bà không có chìa khóa, không cell phone, cũng không có tiếng Anh, sợ sệt không dám gõ cửa hàng xóm. Bà ngồi đó, trên bục cửa cho tới chiều, khi đứa con ở chung nhà đi làm về, thì bà đã kiệt sức vì khô nước, phân và nước tiểu đầy mình.
Đời xưa, người ta kể chuyện trong một gia đình,
có hai vợ chồngï đối xử với ông cha già đã run rẩy của mình tệ bạc, cho cha ăn trong cái “mủng dừa”. Một hôm hai vợ chồng đi làm về thấy đứa con nhỏ của mình đang hì hục đẽo một cái gáo như thế, được cha mẹ hỏi, nó “thành thật khai báo” rằng “để dành cho cha mẹ lúc về già”.
Đâu phải ai nuôi con cũng nghĩ tới lòng cha mẹ, cũng như nhớ chuyện “trồng đậu có đậu, trồng dưa có dưa”.

No comments:

Post a Comment