Wednesday, October 12, 2011

Bài viết hay(189)

QUÊ TÔI, NGÀY BÉ THƠ LỚN LÊN


Hồi còn trai trẻ thời Trung học, thầy Thuận dạy Pháp văn cứ nói hoài: “Il ne faut jamais remettre au lendemain ce qu’on peut fair le jour même” để nhắc nhở tính không ham học của tôi, nhưng thế nào vẫn nấy, đã hơn bốn chục năm rồi, có gì thay đổi đâu, vẫn cứ để đến ngày mai những gì có thể làm ngày hôm nay. Từ rất lâu trong tâm, kỷ niệm cứ thôi thúc ký ức hãy nghĩ về, ít nhất một lần sống lại thời niên thiếu xa xôi mộng mị. Rồi thời gian âm thầm qua đi như bóng câu, như nước chảy dưới cầu. Bây giờ ngồi lại đây mò mẫm đường về năm xửa năm xưa mà cứ an ủi “thà có còn hơn không”. Vẫn biết “không đâu đẹp bằng quê hương”, bây giờ đã đan mờ dây thời gian và bụi cát phong trần còn đó, mà tuổi hoa niên vàng son thì đâu rồi, còn chăng huyễn hoặc, hồng hoang!?. Cha mẹ già đã người thiên cổ, vẫn còn bên tai lời giáo huấn “ sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, không bao giờ quên “ thờ lúc đã chết cũng giống như thờ lúc còn sống”. Bà con, bè bạn…phong ba kẻ còn người mất. Cảnh cũ tích xưa gom lại còn bao nhiêu vết rêu phong mờ mờ nhân ảnh!?. Thôi thì, về nhặt nhạnh những vụn vỡ thuở xưa hiễn hiện trong từng tế bào não bộ khi mà, chưa tay rờ, chưa chân đạp lại “dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo” xa rồi thời học trò quần xanh áo trắng.

Tôi sống trong thành phố Phan thiết, theo tí tách kim đồng hồ trưởng thành. Thời Phan thiết dần mất đi tên những con đường Pháp là lạ: “Rue des Pêcheurs”, “Quai de la Saumure”, “Rue de cá Nục”, “Rue de cá Mòi”… và một Nhà hàng ông Tây cụt tay thích săn voi, ngay ngã năm chân đầu cầu Quan, có phải “Marceau” không? rồi thành vườn bông thời Tỉnh trưởng Lưu Bá Châm để, có nơi cho những thằng nhỏ chúng tôi mệt chân dạo phố đêm, ngồi tâm sự chuyện đời bá láp. Thời mà những ông Tây đen, Tây trắng nhậu nhẹt la hét om sòm trong ngày lễ Ðộc lập “Cắt-to Ruy-dzê” ( Quartoze Juillet ) của Pháp, lính Lê dương bắn lộn với lính Partisan, làm khiếp đãm khắp phố, đến hồi thị xã nầy giữa thập niên 1970, dân số xấp xỉ 80 ngàn. Phan thiết cách Sài Gòn 198 cây số về hướng Ðông-bắc, có chiều dài 7 cây số, trước có tên Chàm là “Hamu Lithit”, theo nghĩa: hamu là xóm ruộng bằng phẳng và lithit là ở gần bờ biển. Phan thiết trở thành thị xã chưa minh định ranh giới từ năm 1898, thời vua Thành Thái, nằm trong tỉnh Bình thuận đặt tại Phú tài. Năm 1910, Toàn quyền Ðông dương A.Khobukowski mới định hình địa lý và năm 1918, Khâm sứ Trung kỳ Charles tách Phú hài ra khỏi Phan thiết. Thành phố có con sông Cà ty chảy qua làm Phan Thiết đẹp, hữu tình, thơ mộng. Khúc tiếp biển Thương chánh gọi là sông Mường mán. Trên sông có cây cầu Quan làm từ thời Pháp năm 1928, cây cầu đúc Trần Hưng Ðạo, do công binh thời Ðệ nhị Việt nam Cộng hòa làm và cây cầu Mỹ, loại cầu gổ dã chiến, nối liền hai đường Võ Tánh bên Ðức nghĩa và Trần Cao Vân bên Phú trinh lại với nhau, do Mỹ làm. Tôi còn nhớ, thầy tướng số Huỳnh Liên nói: “chừng nào Phan thiết có ba cầu, thì dân Phan thiết phát giàu phát sang”. Chẳng thấy giàu cũng chẳng thấy sang gì hết. Mấy ông tướng số, nói dzậy mà không phải dzậy!. Phải nói thêm về cây “Cầu Quan”, cây cầu gần như hằng ngày, hằng đêm, tôi bên hữu ngạn phải qua bên tả ngạn đi học, đi chơi, đi làm, đầy vơi kỷ niệm. Người Phan thiết sẽ không bao giờ quên nạn lụt quá hãi hùng năm Nhâm thìn 1952. Cầu dẫu trên cao vẫn bị trôi ra biển như thường và thành phố là biển nước cuồn cuộn cuốn người, tài sản, nhà cửa vào chốn tiêu tán, tang hoang!. Như là chưa đủ, một lần nữa, người yêu của bạn tôi, không biết tại làm sao, thân gái nhẹ dạ vậy mà cả gan tự tử, đứng trên thành cầu “plonger” xuống giòng nước thăm thẳm đang lừng khừng ra biển xa sóng động!. Ngày xưa, đâu cuối thế kỷ XVIII, nó chỉ là một cây cầu gổ dài 161 mét có tên là Thắng kiều, do những tráng đinh xã Ðức thắng làm nên, nối liền hai bờ Nam-bắc con đường cái quan. Có phải vậy không, cầu có tên là cầu Thắng rồi là cầu Quan?. Bên bờ sông tả ngạn, lừng lững là “Tháp nước”, chúng tôi cứ gọi theo tiếng Tây là “Sa-tô-đô“ ( Château d’eau ) cao đến 32 mét, là một biểu tượng đặc trưng và hãnh diện của người dân Phan thiết. Tháp được thiết kế bởi Hoàng thân Xouphanouvong, thời làm cho sở Công chánh Trung kỳ ( Travaux publics ) ở Nha trang?, sinh năm 1909 và mất năm 1995, tốt nghiệp Kỹ sư cầu cống từ trường Pháp “École National Des Ponts Et Chaussées” năm 1937, Chủ tịch nuớc Cộng hòa Nhân dân Lào từ năm1975 đến1997, có một người vợ Việt nam là bà Nguyễn thị Kỳ Nam, sau đổi tên Lào là Vienkham. Tháp được xây dựng bởi nhà thầu Ưng Du, một Hoàng tộc nhà Nguyễn, khởi công từ năm 1928 và đến năm 1934 thì xong. Ngang đây, tôi cũng thắc mắc là, làm sao tháp nước đã xúc tiến và hoàn thành từ 1928 đến 1934, trước khi ông Xuphanuvong tốt nghiệp bằng kỹ sư năm 1937 và làm việc cho sở Công chánh Trung kỳ tại Nha trang?. Nhìn quanh “Château d’eau”, chúng ta thấy bốn chữ vòng tròn “U.E.PT” bao quanh bồn nước trên cao, ghép bằng mẽng sành, mẽng sứ cổ, viết tắt từ chữ “Usine Des Eaux De Phan Thiết “. Phan thiết là tỉnh lỵ nhưng mang đặc trưng hầu hết tính cách của con người, của đất đai tỉnh Bình thuận, cho nên nói hết những gì của Bình thuận là nói cho Phan thiết. Nói hết những gì của Phan thiết là nói cho Bình thuận. Không lạ gì, khi người hỏi: “anh chị ở đâu?”, người trả lời: “tôi ở Hòa đa”, “tôi ở sông Lũy” hay “tôi ở Ma lâm”, “tôi ở Ðức thắng”…Chúng tôi đều xuề xòa: “cùng dân Phan thiết cả”. Thân thương là chỗ đó!. Lạ lùng là chỗ đó!. Cũng như, tôi sẽ nói tới những địa danh nổi tiếng của Bình thuận như Lầu Ông Hoàng, Tà cú, Mủi né, Phú quý…có phải của Phan thiết đâu, nhưng là của Phan thiết đó quý vị ạ. Người ta biết Phan thiết hơn là biết Bình thuận mà. Ðiều tôi muốn nhắc đến đầu tiên là ngôi trường cũ Trung học Phan Bội Châu Phan thiết. Ngôi trường mà học sinh được vào ngồi ghế không dễ chút nào. Niên khóa 1956-1957, sau kỳ thi tuyển vô cùng cam go mà, cả một phần phường Lạc đạo, cả phường Ðức long, cả thôn Phú phong, cả Gò bồi, cả Văn phong, Văn lâm và có thể là cả Mương mán nữa, chỉ có hai người thi đậu. Nhà trường được thành lập theo lệnh Thủ hiến Phan Văn Giáo năm 1950 với tên là trường Trung học Bình thuận. Những niên khóa đầu tiên từ năm 1951 đến 1953 phải học nhờ trong các trường Tiểu học Ðức thắng, Nam Tiểu học Phan thiết. Ðến niên khóa 1954-1955, có cơ sở tạm trên đường Trần Hưng Ðạo, sau khi mướn được căn nhà của ông bà Hồng Hưng, trường mới có tên là trường Trung học Phan Bội Châu. Năm 1956, trường dời về địa điểm chính thức nằm trên đường Nguyễn Hoàng thuộc phường Phú trinh, một khu đất hoang, mua rẻ của bà Hồ Thị Liệt. Vài lớp vẫn còn ở lại học năm chót trường cũ, trong đó có lớp mới vào của tôi. Hiệu trưởng đầu tiên là thầy Lê Tá, từ 1956 đến 1963 , kế theo là các thầy Hiệu trưởng Ðào Trữ, từ 1963 đến1966, Nguyễn Tiến Thành, từ 1966 đến 1968, Nguyễn Thanh Tùng từ 1968 đến 1973, Lê Khắc Anh-Vũ từ 1973 đến 1975. Tôi nhớ năm đầu vào Phan Bội Châu có cô Nhâm dạy Anh văn, thầy Thủy dạy cả Việt ( tân văn ) lẫn Pháp văn, vì là niên khóa cuối cùng Ðệ thất còn 2 sinh ngữ I và II (?), thầy Tiến Thành dạy Việt ( cổ văn ), thầy Vĩnh Giên dạy Sử địa, thầy Ru dạy Lý hóa,…Bạn bè trong lớp, tôi còn nhớ vài tên: Khoa, Công, anh em Hùng-Hào, Huỳnh, Nhơn, Lòng, Thoại, Toại, Hải, Hai, Hiền, Cảnh, Bảy, Dũng, Thái, Biên, Phi, Sự, Phúc, Báu, Minh, Triều, Mộng, hình như Nguyễn Quang Mộng, tôi nhớ mãi tên nầy, nhân ngày cắm trại trên lầu Ông Hoàng năm 1957 đi mua một con gà trống to hết cở, ôm không nổi cho nên, cứ sẩy bắt, sẩy bắt hoài, mệt hết sức, cằn nhằn nhau quá trời. Triều, anh chàng nho nhả, giỏi văn mà những bài luận của anh được thầy Thành, thầy Thủy khen và đọc cho toàn lớp nghe hoài. Phi, cháu bác Ðợi ở Ðức long, đẹp trai “như Tây lai”, phá, nghịch hơn là học. Tôi, ngồi bàn đầu với Khoa, Công…cũng lì lợm, không thua, bị hết thẩy thầy cô “chê”. Khởi đầu, nhà trường có 2 lớp Ðệ thất 110 học sinh, đến niên khóa 1956-1957 tôi học, đã lên 540 và trong niên khóa 1974-1975 có đến 72 lớp học Ðệ nhất cấp với 4092 học sinh và 25 lớp học Ðệ nhị cấp với 1337 học sinh. Những năm dài từ Ðệ nhất đến Ðệ nhị cấp, biết bao kỷ niệm “đời-học-sinh-phấn-trắng-bảng-xanh-hoa-phượng-đỏ”. Có những lần ngồi trong quán nước đá của ông bà Chương người Huế bên kia đường, học đòi “phì phèo điếu thuốc tàn, tàng tàng ly cà phê đá”…mê mệt những bộ áo dài trắng bay bay của các nữ sinh mưa phà, gió phủi…cũng đủ là những nguồn thơ vô tận: “áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc, áo nàng xanh anh mến lá sân trường”, cũng đủ là những thọt lét tình lãng mạn trai gái và tính nghình nghịch bọn “nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”: “tháng Bảy trời mưa, trời mưa không dứt, trời không mưa anh cũng lạy trơì mưa”. Phan thiết có các trường Trung học Tư thục Bạch vân, trước nằm trong khuôn viên chùa Bà, góc đường Triệu Quang Phục và Ngô Sĩ Liên, dưới những tàn cây bàng mát bóng, phường Ðức thắng, thời tôi còn mài đũng quần ở trường Nam Tiểu học Phan thiết gần đó, thường chia phe đá banh, sau trường dời qua phường Phú trinh, trên đường Hải Thượng Lãn Ông, sát bệnh viện và sân vận động Quang trung Phan thiết. Trường Trung học Tư thục Tiến đức của thầy Ðặng Vũ Tiễn, ban đầu ở đường Ðồng Khánh, nơi có hai cây nhãn bị “bọn quỷ, bọn yêu” phá quá, chưa bao giờ thấy có trái ăn, nằm trước mặt nhà ông bà Trần Thiện Hải, song thân các ca sĩ Nhật Trường và Như Thủy, sau dời về nơi tạm của trường Phan Bội Châu ngày trước, nằm giữa ty Thông tin và ty Tiểu học vụ. Trường Trung học Tư thục Bồ đề, nằm bên kia đường với trường Nam Tiểu học Phan thiết, trên đường Nguyễn Du, trước mặt là đường Triệu Quang Phục với chợ than, chợ mía, khu cỏ hoang, sau lập thành dãy phố lầu khang trang, có rạp hát “Lilas” lớn nhất Phan thiết của ông bà Hứa Văn. Trường Trung học Tư thục Chính tâm của cha Nguyễn Viết Khai, được đổi tên từ trường Trung học Tư thục Ngô Ðình Khôi sau năm 1963, thầy Nguyễn Quốc Biền làm Hiệu trưởng. Trường nằm trên đường Huyền Trân Công chúa hướng xuống bải tắm Thương chánh, đầu địa phận phường Bình hưng. Trước mặt trường là nhà người anh em bạn tên Tấn, Trung úy Biệt Ðộng quân, người sĩ quan năm xưa phải để lại chiến trường sắt máu cái giò làm kỷ niệm, bây giờ ngồì đây rung rung cái đùi cụt, nhâm nhi sự đời, men rượu, câu thơ: “ngày xưa xả thân vì nước, ngày nay bán nước nuôi thân!.”. Trường Trung học Bán công Phan Chu Trinh, bên kia đường và kế cận trường Phan Bội Châu, cùng trên đường Nguyễn Hoàng, những năm đầu, các thầy Bùi Hữu Huân, Ðào Trữ làm Hiệu trưởng. Nơi mà, một lần thi Tú tài I, tôi phải chạy xe đạp bán mạng về nhà lấy cho kịp căn cước bỏ quên, đến nơi sắp khui đề thi. May năm đó đậu, tiếp tục con đường học vấn lên Ðại học, không thì toi mạng, Ðồng đế là chắc. Tất cả các trường Trung học trong thị xã đã tạo cho thành phố một khuôn mặt thật dễ thương chi lạ, nhất là vào những giờ tan trường, bay bay những tà áo trắng nữ sinh qua cầu Quan, bên kia, “Châtaux d’eau” cao vòi vọi, lấp lánh bóng dưới nước trong xanh, lững lờ ra biển. Ði xa ra hướng Mũi né là lầu Ông Hoàng của Công tước De Montpensier, cháu nội vua cuối cùng nước Pháp nằm trong địa phận Phú hài, cách Phan thiết chừng 7 cây số hướng Ðông bắc. Lầu xây ngày 21/2/1911, có diện tích khoảng 500 mét vuông trên đồi Bà nài có độ cao chừng 15 mét so với mặt biển, kế bên có tháp Chàm Pôsahnư là con của vua Parachanh và hoàng hậu Pônagar ở vào thế kỷ XIV, có mộ Nguyễn Thông xây năm 1884, chùa cổ Bửu sơn xây năm 1900, núi Cố…và biển xanh, cát trắng. Lầu nguy nga với tất cả tiện nghi, văn minh Pháp thời bấy giờ: có tháp nước, có máy phát điện, có phòng ốc sang trọng và khung cảnh hữu tình khoáng đạt, được đạt tên là “Nid d’Aigle”-“Tổ Ó”-. Về sau có thêm hotel Ngọc lâm bên cạnh của một người Pháp tên Bell. Cả lầu Ông Hoàng và hotel Ngọc lâm được chính phủ Pháp mua lại để cho công chức cao cấp nghỉ mát, đến tháng 12 năm 1933, biếu lại hay bán lại? cho vua Bảo Ðại. Lầu bị phá hủy bởi Việt minh vào ngày 14/6/1947 và trở nên điêu tàn, hoang phế từ đó. Nơi đây để lại một mối tình vừa rất đẹp lại vừa rất buồn của Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm làm ta ai không khỏi ngậm ngùi những câu thơ sầu bi ai: “Lầu Ông Hoàng, người thiên hạ đồn vang, nơi đã khóc, đã yêu thương da diết. Ôi trời ơi! là Phan thiết! Phan thiết!...Hởi Phan thiết! Phan thiết!, Mi là nơi ta chôn hận nghìn thu. Mi là nơi ta sầu muộn ngất ngư”. Ðố cặp trai gái yêu đương buổi đầu nào sống trong Phan thiết lại không tới đây một lần để lại dấu vết một thời. Tôi cũng vậy, đến đây vài lần với nàng, rồi cũng chia tay. “Say thôi lại muốn Nàng nâng đỡ, nhưng Nàng xa từ thuở vu qui. Nhớ thôi lòng những sầu bi, lệ rơi vào rượu, hàng mi lờ đờ”. Bên kia, cụ Nguyễn Thông nằm đó, chắc cũng thương cho sấp nhỏ, không nói một lời. Ông sinh năm 1927 tại Long an, đậu Cữ nhân năm 1849, làm Ðốc học Vĩnh Long, rồi Ðốc học Bình thuận năm 1881, sống và mất năm 1884 tại Phan thiết, thọ 57 tuổi. Con ông, ông Nguyễn Trọng Nội tham gia Phong trào Ðông du của cụ Phan Bội Châu, lập ra trường Dục thanh, nơi có “Ngọa Du Sào” của thân phụ làm chỗ đọc sách, ngâm thơ lúc còn sống. Trường mà Hồ Chí Minh đến sống nhờ như thể anh cai trường quét rác mà nói là dạy học, làm tang thương biết bao gia đình sau nầy, vì chính ở nơi đây làm “khu di tích bác Hồ” và đuổi đi cư dân cố cựu hằng nhiều chục năm. Gia phả Nguyễn Thông, cứ theo tên lót thì biết vai vế gia tộc : trọng, quý, minh…, theo như anh bạn tôi thuộc giòng họ Nguyễn Thông nói lại. Con của ông là Nguyễn Trọng Nội, cháu của ông là Nguyễn Quý Phầu, Nguyễn Quý Môi mà Phan thiết thời đó không ai là không biết, ngay cả chúng tôi còn bé tí tẹo. Chắt của ông là Nguyễn Minh Luật, rể nhà văn Bình Nguyên Lộc, bạn tôi, tù từ Yên bái, Lào cai, Hoàng liên sơn ngoài Bắc. Phan thiết là một hội nhập hữu duyên của những người miền Trung: từ Quảng Bình, Quảng trị, người của chúa Trịnh, chúa Nguyễn Phúc Lan bắt được, đến Quảng nam, Quảng ngãi, Phú yên, người của nhà Tây sơn, vua Gia Long bắt được đem hết vào đây khai phá vùng đất mới với dân Chàm địa phương. Sau Hiệp định Genève năm 1954, dân Hà tỉnh, Nghệ an sống nghề biển vào vùng cồn cát Thương chánh, Ðầm, lập ra ấp Vĩnh thủy, Vĩnh phú và sống nghề trồng trọt, ruộng nương thì khai hoang vùng Hàm thuận lập ra ấp Văn phong ở Mương mán và Văn lâm ở Phú lâm. Dân Ba làng, Thanh hóa ở cầu Ké lập ra xã Thanh hải. Thanh hải xưa là một vùng “động”, “sở thùng” hoang liêu những cây mù u, bồn bồn, xương rồng, lưởi long, cây keo, dây gai…cát và cát. Những năm Ðệ thất, Ðệ lục…chúng tôi thường năm, bảy đứa đèo xe đạp ra đây bắn chim , tắm sông, bắt dòm. Như một phép màu, vài thập niên sau, tính cần cù, thông minh, đoàn kết…người dân Ba làng đã lập ra một Thanh hải, phố phường giàu có, sầm uất, những “xóm đạo” thuần túy và tiêu biểu. Ðã một lần được theo trường Phan Bội Châu leo dốc lên cắm trại ở lầu Ông Hoàng và xuống dốc, đi qua “Ðá Ông Ðịa” cắm trại ở Rạng, cách Mủi né chừng 5 cây số và Phan thiết 17 cây số. Ðồi cát, rặng dừa, biển xanh...khiến lòng ai cũng cảm thấy nhè nhẹ, chơi vơi, mênh mông!. Bắt “dông”, ăn mãn cầu dai, uống nước dừa, tắm biển, tuột cát…với bạn gái mới chớm tình yêu đương đầu đời thì thần tiên quá chừng!. Làm người mộng du về tìm dĩ vãng những nơi một thời dấu chân kỷ niệm, không phải nhà biên khảo ngúy ngoáy hết những “cái có”, “cái của” Phan thiết, Bình thuận. Tôi mò mẩm về vạn Khánh Long trong phường Ðức long, nơi ê a lớp Tư với thầy Thính, lớp Ba với thầy Lê năm 1953,1954 ngay trong vạn và sống gần cả thời son trẻ. Trưa hè theo bạn, đong đu qua lại hai cây bông sứ màu vàng trắng, chơi “năm mười mười lăm”, đánh “đáo lạc”, làm “Hoa kỳ anh Hoa kỳ em” và nhất là, coi lễ “Ông lụy”, xem “múa bóng”, xem hát bội đêm ngày 15, 16, 17 tháng 6 Âm lịch hằng năm trong kỳ lễ “Thần Nam Hải”, còn gọi là “Lệnh Sanh Ông” mà người thường gọi là cá voi. . Làm sao mà quên cho đành, vào niên khóa 1954-1955 học lớp Ba, nhờ đứng nhất toàn trường Tiểu học Ðức long về học lực và hạnh kiểm mà phần thưởng được Trung tá Tỉnh trưởng Thái Quang Hoàng phát cho quá nhiều đến nổi, tôi và ba tôi phải đi xích lô mang về. Vạn là làng của những người sống nghề đánh cá ven biển, ven sông, có tính cách nghề nghiệp. Vạn Nam nghĩa thuộc phường Ðức nghĩa. Vạn Nam hải thuộc phường Hưng long. Vạn Khánh long thuộc phường Ðức long…Lớn nhất và có tính lịch sử nhất là Vạn Thủy tú nằm trong địa phận phường Ðức thắng, trên đường Ngư ông có nhiều ổ gà, mặt hướng ra biển gần đó, xây dựng từ năm 1762, cổ nhất Phan thiết. Vạn Thủy tú vẫn còn những di chỉ, sắc phong thời Tự Ðức, Ðồng Khánh, Duy Tân…và bộ xương cá voi lớn nhất nước. Vì là xóm biển, bên cạnh vạn còn có làng. Làng tôi có khi kêu là Hộ Ðức long, có khi là Ấp Ðức long, có khi là Phường Ðức long với mái đình là đình Ðức long, xưa thường gọi là đình Tú long, cũng gần nhà nhưng không thân. Vạn Khánh long là làng của những ngư dân xóm Câu, phường Ðức long và xóm Ghẹ, phường Lạc đạo hợp lại. Nhà tôi trọn lỏn trong thẻo đất chưa đầy một cây số giữa biển Ðức long và sông Cà ty. Chuyện xấp nhỏ chết đuối là thường. Một lần cả đời không quên, may nhờ anh bạn Bé bơi ra cứu, không thì chết đuối tại khúc sông “Mả lở” từ năm xửa, năm xưa. Hồi đó khoảng những năm 1950, ở đây kín mít những mả vôi to lớn, chắc chắn của ngưòi Hời xa xưa, xen lẫn mả đất, mả xây sau nầy của người Việt và một ít của người Tàu trên động cát ngà ngà, chạy dài lên tới đồn chữ Y, tới Mả lạn, tới Căn, đầy những hang ổ rắn, chuột, chồn, mèo, chó hoang, cây gai lưởi long, xương rồng, cây keo, cây me và cây mù u xanh lơ, cây bồn bồn bạc thếch, dây leo, cỏ dại chằng chịt, cô liêu vài chục gia đình lơ thơ, quạnh quẻ. Nơi cho chúng tôi thả giàn dang nắng bắn chim sẻ, bắt dế đá, bẩy “dông thềm”, đôi khi đánh lộn nhau rồi ôm bụng cười huề và có lúc thì, bị “chó đẻ” rượt chạy trối chết. “Dế lửa mạnh càng, dế than mạnh thúc, dế hang chịu húc, dế trục không thua ai”, chúng tôi thường kháo nhau như vậy và khoái dế tại đây lắm, đá thắng hết cả dế Lạc đạo, dế Ðức nghĩa, dế Ðức thắng, có lẻ “tụi nó” quen “chiến đấu” trong vòng “lửa đạn”. “Dông thềm” con nào con nấy đỏ ối, to lớn dềnh dàng, có thua gì dông ở Mủi né, ở Lương sơn?. Nói thì nói, gia đình tôi chưa ai “dám” ăn thịt dông bao giờ. Ở đây, vào những ngày tháng Chạp, lễ Thanh minh, người ta đi dẫy mả, cúng mộ, đông hơn ngày hội, từ ba bốn giớ sáng đến chiều tối, cũng là nơi hằng ngày tôi phải chứng kiến tận mắt những đám tang hiu hắt buồn và người ta than khóc thảm thiết. Ðêm đổ xuống như lãng đãng đâu đây hồn ma bóng quế nhát người yếu bóng vía. Lũ trẻ chúng tôi lỡ chơi khuya về, phải hai tay nắm thật chắc, vừa chạy thật nhanh vừa hét thật to “án ma ni bát nhị hồng”, mà không biết ý nghĩa gì ráo. Sau được nghe nói: “Án Ma ni Bát nhị Hồng” là câu chú “Lục tự Ðại minh Chân ngôn” tiếng Phạn của người Tây tạng thuở xưa, cầu Quán Thế Âm Bồ Tát, viết theo âm chữ La tinh là “Om Mani Padme Hum”. Trong làng thôn hiu hắt nầy thuở đó, nổi tiếng nhiều ma, nào là “ma Gáo”, “ma Hời”, “ma Trơi”, “ma Chó”, ngán nhất là “Ó Ma Lai” nửa đêm rút đầu ra khỏi thân người, mang theo khúc ruột lòng thòng tìm ăn phân người. Ai chẳng may “ịn” cái của mình ra đó bị nó ăn, trước sau gì cũng chết. Ai cũng kể, mỗi người khác nhau thêu dệt có có không không đến hãi hùng. Tôi chưa bao giờ thấy hay “bị nhát. Trừ nhà ông Cữu Mạnh bán thuốc Bắc thuốc Nam văn minh giàu có, thời đó dám đúc 3 cột đèn “béton armé” dẫn điện từ đường cái quan vào tận nhà trong xóm xa gần biển, còn lại hết thảy nơi đó là, những bạn chài, những dân vùng Việt minh về, những lao động tay chưng, những thợ mộc, thợ hồ, thợ cưa lặt vặt…sống cơ cầu. Trách gì già trẻ trai gái, cứ tự nhiên không mắc cở chút nào, ra bờ sông thoải mái xả “cái nợ đời” dưới hàng cây bần, cây mắm đang reo cười trong gió. Và không tránh khỏi chúng tôi, có khi phải tắm trên giòng sông lềnh bềnh “cái nợ đời” của ai đó. Trong khu phố nhỏ nhoi, nghèo nàn nầy vào những năm khai thiên lập địa như vậy đó, không thể không có “Thím Bảy Bánh Căn”, má của anh bạn Sáu ngoẻo. Tôi cứ phải ngồi trên cái “đòn” bệt sát đất trước nhà ông Tửng mỗi sáng, chờ bánh căn nóng hổi ra khuôn. Thím vừa quạt lò, vừa múc bột đổ vào khuôn, đậy, dở nắp “dung”, cạy bánh ra, một cái chấm hành mở, một cái không, kẹp vào nhau thành cặp, để vào tô, chang nước mắm hay nước cá kho, nhanh như máy cho tôi ăn kịp đi học. Nước mắm đo đỏ, mằn mặn, chua chua, cay cay…và nước cá nục hay cá ngừ kho mía lau đen đen, lạt lạt, beo béo, ngòn ngọt, thơm thơm mùi tỏi ớt. Bây giờ nhớ lại mà thèm. Nhà tôi không giàu nhưng ngon lành hơn ai trong “Xóm Ngũ Hành” nầy, có cái máy hát lên dây thiều và gắn kim, hiệu Columbia mà bà con quen gọi là “Cô lum da, con chó có cái loa” và cây đèn “măng sông” đọc theo tiếng “manchon” của Tây do ông Carl Auer von Welsback, người Áo sáng chế từ năm1887. Nhờ hai bửu bối nầy mà tôi còn nhỏ xíu và anh kế cũng chẳng lớn hơn bao nhiêu, được mời hết đám cưới nầy đến đám hỏi kia để “hát cho vui” và “sáng cửa sáng nhà” giùm cho người ta “xôm tụ”. Anh tôi canh lên dây thiều cho đúng, đừng yếu, đừng đứt; Canh cây manchon cháy sáng cho ngon lành, đừng tối, đừng tắt. Tôi mài kim cũ, lau dĩa, đừng để ông Út Trà Ôn, cô Lệ Liễu… “hát cà lăm” hay “kéo nhựa”: “Ôi!, nhìn trời hiu quạnh, màn đêm sương gió lạnh, hướng quê nhà, lòng thêm chạnh tủi niềm riêng. Em Lan ơi, muôn dặm xa xăm, xin em giữ trọn hương nguyền, để cho người cô lữ khỏi phải mang niềm tủi hận…” hay là “Chính giữa cái mả cao, hai bên cái mả thấp, chú ấy đem chôn lấp xác bướm với cành lan…”. Cũng thời đó, an cư lạc nghiệp lắm, chưa thấy chiến tranh, đi chỗ nào cũng nghe Ngọc Cẩm-Nguyễn Hữu Thiết giọng lờ lợ Huế-Quãng trị qua cái “radio ấp chiến lược”: “trong đêm trăng, tiếng chày khua, ta hát vang trong đêm trường mênh mang. Ai đang xay, chày buông rơi nghe tiếng vơi tiếng đầy…” hay “đêm nay bao con thuyền về đậu xuôi mái. Ai ca dưới trăng ngà, gần xa vắn dài, mái chèo khoan thai, trên sông hai màu, con thuyền về đâu. Ô hay!, sao trăng rụng xuống cầu?...”, mà thương cho thời tuổi trẻ qua mau quá!, đất nước thanh bình ngắn ngủi quá!..Hồi đó, tôi cứ áo thun, quần xà loỏng, cái nạn thun lội khắp Xà khòm, chùa Ông Rau, cầu Bốn mươi, Lò tỉn, Mả lạn, Căn, Phú long, Phú hội, Phú hài, Xung phong, Ðại nẫm, Vĩnh phú, Vĩnh thủy, Thanh hải… “người đen thủi đen thui như Hời” - má tôi thường nói vậy -. Lũ chúng tôi: Hùng cận, Tăng dịt, Cẩm ná…và tôi, thường được sư bà chùa Mã lạn, còn gọi là chùa Long hải, nằm trên những bậc thềm cao, đối diện là chùa Bảy đầu rồng mới làm, do ông Biện Thành Nhơn người Phú yên đứng coi cất năm 1960, thầy Giác Thạnh trụ trì. Gần như lúc nào cũng vậy, Sư bà vừa phơi bông sứ làm nước uống vừa lấy chè, xôi, chuối…cho chúng tôi mà nói: “ăn no đi các con” và khuyên thật nhiều rằng:” đừng bắn chim, tội lắm!”. Dạ dạ, rồi lại đi bắn. Chúng tôi chưa làm theo lời dạy một lần. Tội nghiệp Sư bà!. Dễ ghét và lạ đời mấy thằng nhỏ !?. Từ năm Ðệ ngũ trở đi, mới biết chút “mèo mỡ”, ngâm nga thư tình, rong chơi những cuộc hẹn hò, lang thang những đường phố vắng!. Từ Phú hài theo hương lộ, băng qua Xóm lụa, nơi hợp lưu của các con sông Cạn, sông Cái, sông Quao, cũng là nơi người ta họp thành xóm, vừa mua tơ, mua tằm ở “Xóm tằm” ngoài vùng “Chợ lầu”, lại trồng thêm dâu, nuôi tằm, ươm tơ đủ để dệt lụa bán tứ xứ. Dẫu bây giờ tên gọi chinh thức là Phú long, nhưng ai ai cũng còn quen gọi tên xưa kỷ niệm “Xóm lụa”. Phú long, nổi tiếng lòng heo bánh hỏi, “Ai về Phan thiết cho theo, Phú long bánh hỏi lòng heo, nhớ hoài”. Nơi khi xưa gia đình tôi tản cư đến, trong một lần chạy trốn Tây đi “patrouille”, ba má tôi đã bỏ quên tôi đang ngủ trên “đòn bào” giữa nhà. Nơi hồi nhỏ thấy ông thầy ngãi đạp, bóp, nhai vỏ chai beer lớn mà trị “bịnh đàng dưới” cho bà chị họ. Nơi vẽ vời phơi phới kỷ niệm với người bạn gái từ Sài gòn ra. Mỗi khi ra chơi vùng nầy, có lên, xuống dốc lầu Ông Hoàng thì, chúng tôi nhất thiết cũng phải ghé vào chợ Phú hài làm một ly đá chanh muối dưới tàng me già kín nắng, rồi mới tiếp tục lên đạp xe đạp, chứ không nổ máy Mobylette, Candy, Sach, Goebel hay Puch như mấy bạn con nhà khá giả thời bấy giờ. Trên đường băng qua Phú long, có lúc chúng tôi chạy vào thăm, thắp nhang “Mộ Thần Thái Giám” xa xa bên kia đường trên hương lộ Phước Thiện Xuân nầy. Mộ to, lùm lùm tròn, rêu phong, nứt nẻ, bên cạnh có con ngựa đúc, sụp quì như tỏ lòng tôn kính và trung thành. Nghe kể: “ngài đi ngựa xuôi Nam, đem theo hài cốt vua Quang Trung trốn cuộc truy sát của quan quân vua Gia Long vào năm 1802, bị tử thương, mất đầu. Con ngựa cứ mang xác ngài chạy mãi, chạy mãi đến đây, ngày xưa gọi là Sơn Thủy, đuối sức, chết. Lịch sử là sự phơi trần xương, máu, chết chốc, nước mắt, điêu linh…mà nơi đây, Phan thiết, Bình thuận ngày xưa là những bãi chiến trường khốc liệt Việt-Chiêm, Gia long-Nguyễn Huệ người giết người ghê gớm!. Oan hồn, uổng tử vật vờ làm “…ma Bình thuận”. Qua cầu Phú long về hướng Phan thiết là Kim ngọc. Ở đây có nhà thờ cổ Kim ngọc, được cha Pháp Bennattat dựng sơ sài năm 1748, là một trong bốn nhà thờ đầu tiên, xưa nhất ở Bình thuận: nhà thờ Lạc đạo, nhà thờ Kim ngọc, nhà thờ Tầm hưng và một nhà nguyện ở sông Lũy. Ðến những năm 1833-1890 bị đốt, phá nhiều lần bởi lệnh cấm đạo, bởi Phong trào Văn thân, bởi “Bình Tây Sát Tả”…Sau do cha Nguyễn Thông Lý cất lại năm 1919 cũng bị chiến tranh Việt Pháp, Tết Mậu thân của Việt cộng phá hoại...Qua bao lần hưng phế, “Nhà Thờ Mới” khang trang, kiểu cách giống nhà thờ Ðức bà Sài gòn được hoàn thành ngày 09/11/2006 sau hơn bảy, tám lần trùng tu, dời đổi, làm mới. Ở đây lại nhớ anh em thằng Chà, thằng Lưới. Mỗi lần tụi tui xích mích với nhau, thì y như là “Ông Phật trật cu”, “Ông Chúa múa ở truồng”, mà chẳng giận nhau bao giờ?.. Nghe nói hai đứa đi TQLC và BÐQ đã chết từ đời nào!. Năm 1985, tù Z.30C ra, tôi đến thăm Nhã ở đây- cùng là bạn tù ngoài Bắc-. Nó cũng ra người thiên cổ vì mang “nỗi- ngất- ngư- tù” Hoàng liên sơn về. Nhưng nói về kỷ niệm thì, nhà thờ Lạc đạo mới là nơi để lại trong tôi sâu đậm nhất dấu vết một thời. Nhà thờ cất lại năm 1890, bên kia khu Mã tây trên đường Trần Quý Cáp, từ một nhà nguyện vách tre mái tranh, khoảng những năm 1875-1880 cố Sáng, một người Pháp tên Việt đã xây thành nhà gạch mái ngói. Các cố Mossard, Masseron mở thêm nhà xứ cho các vị Thừa sai, sau sẽ là Chánh xứ lần lượt là cố Henrisson, cố Hiền, cố Ba đều là những người Pháp lấy tên Việt, cố Brugidou…cho đến cố Victor Caillon là vị Thừa sai sau cùng. Linh mục đầu tiên làm Chánh xứ là Cha Giuse Nguyễn Minh Chiến. Năm 1992, Cha Giuse Nguyễn Tiến Hinh đại tu giáo đường, ngôi nhà giáo lý, trường học giáo lý…Ngày 17/1/1975 giáo phận Phan thiết được thành lập dưới sự cai quản của Ðức Giám mục Nicolas Huỳnh Văn Nghi. Nhà thờ giáo xứ Lạc đạo được nâng lên thành Giáo Xứ Chánh Tòa và bên kia đường là Tòa Giám Mục Phan thiết. Ở đây có cây keo cao lớn nhất Phan thiết, đến mùa trái chín đỏ, vòng cong trên cành cao là lúc các chim sáo sậu, cưởng trâu, cưởng bông.. ở đâu về thả giàn vui thú mà thiện nghệ ná thun như chúng tôi chưa bao giờ bắn được con nào. Lạ thật!. Cũng tại đây có cây me già sum sê nằm bên kia đường trong khuôn viên ngôi nhà cổ trở thành tòa nhà Giám mục. Me dốt đầy cành mà không làm sao vào được. Các cô chịu chảy nước miếng!. Cây me, cây keo, nhà thờ nầy chứng kiến từng ngày tôi qua lại, lớn lên và những đêm về một mình với nỗi sợ ma Bình thuận, khi mà xe phở bắc của anh Bắc Kỳ trước nhà thờ đợi khách khuya về bán “xúi quách” và vài “chuyện trời ơi” không được nữa, đã dọn về. Ngày đó Noel vui lắm, thánh lễ, rước kiệu, Chúa sinh và đặc biệt chờ ăn “réveillon” với bồ. Rẻ trái đường Ðồng Khánh, đi một chút là chùa Phật Học mới xây năm 1940 với tên An Nam Phật Học Hội. Năm 1950, chùa thành lập Gia Ðình Phật Tử đầu tiên ở Phan thiết cũng là trụ sở Tăng Già Bình Thuận từ những năm 1951 đến 1964. Dù không cổ kính như các chùa Phật Quang, còn gọi là chùa Cát xây năm 1736 ở Bình hưng, chùa Liên Trì xây năm 1756 ở Ðức nghĩa, chùa Bửu Quang xây năm 1762 ở Phong nẩm, chùa Bửu Sơn xây năm 1800 ở Phú hài, cạnh lầu Ông Hoàng,…nhưng chùa Phật Học được xem là chùa Tỉnh Hội của Phật giáo toàn tỉnh Bình thuận. Là một Phật tử nhưng tôi ít đi chùa, đọc kinh và sám hối, nhưng rõ ràng là, trong tâm khảm tôi, chùa để lại biết bao kỷ niệm thời trai trẻ. Nhớ những đêm thuyết pháp của các thầy Thích Tâm Châu, Thích Hộ Giác, Thích Giác Ðức thời biểu tình chống Ngô đình Diệm, người là người. Nhớ những đêm văn nghệ ngày Phật đản, ngày Vu Lan…thuở còn nhỏ, đông quá là đông người, phải leo cây, leo rào, leo tường…bị la, bị rượt, bị đuổi làm sao mà quên!?.Phan thiết không ai không biết “Lễ Nghinh Ông” cứ 2 năm một lần của các bang người Hoa tại chùa Ông thờ quan Thánh đế quân trong ba ngày: lễ Thỉnh kiệu bà Thiên hậu ( bên chùa Bà ), lễ Thỉnh nước , lễ Thỉnh kinh, lễ Quan thánh xuất du và “hè nia”, “xô giàn”, cả thành phố như trẩy hội tưng bừng, rồng, lân, phèn la, chập chả…và người y như thể tuồng hết ra ngoài đường chen lấn mà tôi không thấy ở đâu có. Chùa Ông còn gọi là “Quan Ðế Miếu” thờ Quan công, do người Tàu lập ra từ năm 1770. Chùa có hình chữ Kim, còn lưu giữ những chuông cổ giá tri thời nhà Thanh. Hồi đâu 17, 18 tuổi, chúng tôi khác gì những thằng a dua đến chùa ngộp thở khói nhang, khói pháo Giao thừa, bày đặt xin xăm, coi quẻ, đoán vận mạng với vài thằng bạn, đôi khi với một cô bạn, cũng hay hay, vui vui, khó quên!. Năm nào ngày mồng hai Tết, chúng tôi trai gái y như hẹn, rủ nhau đi “Chùa Núi”, thắp nhang lạy Phật là phụ, chính là để rong chơi những cuộc hẹn hò. Dù leo đèo, leo đồi dài hơn 2 cây số, có lúc dốc đứng 45 độ và ngoắt ngoéo như cùi chỏ mà vui, không mệt. Bây giờ nghe nói có dây cáp, chắc mất thú vị nhiều lắm, nhất là đâu còn nắm tay bồ nóng hổi mà dắt, mà dìu, mà kéo, mà lôi, mà…có khi ôm nữa. Chùa ở độ cao 400 mét trên núi Tà cú, cao khoảng 650 mét, cách Phan thiết chừng 28 cây số về phía Nam. Năm 1872, thầy Thông Ấn, thế danh là Trần Hữu Ðức, người Phú yên, sinh năm 1812 và mất năm1887, lên tu trong một hang đá, sau gọi Ià Hang Tổ. Năm 1880 thầy có công trị lành bệnh cho Hoàng Thái hậu Từ Dũ, được vua Tự Ðức ban danh là “Ðại Lão Hòa Thượng” và chùa là “Linh Sơn Trường Thọ Tư”. Ngày 5/10 Âm lịch năm 1887, Ðại lão Hòa thượng Thông Ấn viên tịch, ngày nầy trở thành ngày Giổ Tổ. Thầy Tâm Hiền kế vị, lập thêm chùa phía dưới là chùa Long Ðoàn theo mẫn ý của Ðại lão Hòa thượng lúc sinh tiền. Linh Sơn Trường Thọ Tư có tượng Phật nằm, dài 49 mét và cao 7 mét bê tông cốt sắt, sơn trắng, do điêu khắc gia Trương Ðình Ý, tốt nghiệp khóa điêu khắc trường Mỹ thuật Ðông dương năm 1935, đang ở Sài gòn, năm 1960 tự nguyện “bỏ phố lên rừng”, trần ai hơn 3 năm trời mới làm xong pho tượng nổi tiếng khắp vùng Ðông nam Á nầy vào thời thầy Thích Vĩnh Thọ trụ trì. Phía dưới là các tôn tượng “tam thế Phật”: A di đà, Quán thế âm và Ðại thế chí. Hồi còn nhỏ, nghe mấy bà mẹ ru con “cô kia tóc bới đuôi tiên, ghe bầu đi cưới một thiên cá mòi, không tin giở hộp ra coi, rau răm ở dưới, cá mòi ở trên”. Ngày đó, cá mòi dầu ở Phan thiết sao mà nhiều thế!?. Cá mòi dầu kho măng, cá mòi dầu kho hành ớt…ai không ăn, không thèm, không nhớ…đến nỗi “văn chương không bằng xương cá mòi”. Bây giờ đâu còn nữa!. Thời bấy giờ, thỉnh thoảng văn nghệ trong thị xã nghe Chí Tòng ,Trần Công Khai, Thu Nhi, Trang Mỹ Hạnh, Lâm Minh Văn, Trần Thiện Thanh…hát, vợ chồng La Tú Mỹ- Ngọc Thu, đờn Accordion và Violon, lúc mà hai người là Trưởng ban nhạc ty Thông tin Bình thuận. Trần Công Khai tức ca sĩ Anh Khoa, sinh năm 1948 tại Ðức thắng, Phan thiết trong một gia đình đông anh chị em. Năm 1962, mới 14 tuổi với bài “biệt kinh kỳ” đã đoạt giải nhất toàn quốc nam ca sĩ mầm non, cuộc sống lang bạt Nha trang, Ban mê thuột, Phan thiết… , sau đó nhiều năm, theo Jo Marcel chơi nhạc và trở thành ca sĩ nổi tiếng trong các phòng trà Tự do, Queen bee ở Sài gòn với những “bài không tên…” của Vũ Thành An. Bạn tôi rất thân, Trần Khánh Thiện là anh cả của Anh Khoa, dạy Anh văn trường bán công Phan Chu Trinh Phan thiết, đẹp trai, thanh nhả, phong lưu một thời trước năm 1975. Chúng tôi cùng tháng năm sinh, cùng Biên Tập Viên Cảnh Sát Quốc Gia, cùng khóa 2 Học viện CSQG, cùng làm việc một thời và sống cả đời ở Phan thiết, cùng qua Mỹ theo chương trình HO, cùng tù Việt cộng trong các trại suối Máu trong Nam, trại Yên bái ngoài Bắc. Làm sao tôi quên được từng lời nói bi quan muôn thuở của anh ta sau gần một năm Vĩnh Mỹ, tức nhạc sĩ Minh Kỳ chết và anh bạn Ung Văn Giàu, anh cả của Ung Văn Ðức, cùng làng quê của tôi bị cưa cụt một chân ở Biên hòa!?. Ðầu tháng 8/1976, giận đời làm sao, anh ta tiên tri: “chắc mình ra Bắc”. “Miệng ăn mắm, ăn muối”, y chang cuối tháng, những thằng tù chúng tôi được chúng nó bảo : “để tạo điều kiện thuận lợi cho các anh cải tạo tốt…các anh đang đứng trên mảnh đất Xã hội Chủ nghĩa”, 6 năm. Nhưng Thiện không cùng học trường Bộ binh Thủ đức như tôi, không cùng ra Quảng ngãi, Ðà nẳng, Nha trang, Phan thiết, Quãng đức như tôi, ảnh may mắn chỉ ở Phan thiết và sống đời với Phan thiết yêu thương của mình. Nói đến Phan thiết, làm sao không nhắc tới Trần Thiện Thanh, sinh năm 1942 tại Phú trinh, một nhạc sĩ tài ba cũng là một ca sĩ danh tiếng. Tôi biết sơ về ảnh từ ngày lảnh giải nhất ca sĩ toàn tỉnh đâu khoảng năm 1958,1959 gì đó, tại vườn bông thị xã, nhưng biết nhiều trên sân cỏ Quang Trung và Lạc đạo, dáng gầy, nhỏ con, thường với cái áo thun đỏ dài tay, luôn đứng trong khung thành giữ gôn, bị “dzô” 1 trái là nước măt chảy dài. Anh ta chơi trong đội những người lớn, còn tôi với những anh em nhỏ hơn, cho nên tôi cứ nghĩ, ảnh phải sinh trước năm 1942 Nhâm ngọ của tôi. Dẫu sao, lời nhạc Trần Thiện Thanh và giọng ca Nhật Trường cũng làm tôi cảm xúc thật nhiều thuở học trò cũng như thời chinh chiến: “thôi em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé, để anh buồn như anh chàng làm thơ. Em có hay trời buồn, trời chuyển mưa đó không. Biết yêu em là biết nghe chờ mong…”, làm thơm lây tôi người Phan thiết. Thời mà Trần Thiện Thanh ôm banh ra sân, thường là sân Lạc đạo. Nói là sân, thật ra chỉ là khu đất không còn cỏ, bao quanh là nhà người ta ở, cũng là lúc mà những thằng nhỏ chúng tôi 14, 15 tuổi ở Ðức long lập ra đội banh Thiếu niên Ngôi Sao Sáng. Ðội banh có anh em thằng Lê Ðinh Bính, Lê ÐìnhThường, Ung Văn Ðức, Nguyễn Văn Sáu, Nguyễn Văn Hà…mỗi tuần xin ba má 3 đồng, đậu cho ông thủ quỷ Bính. Vậy mà, mua được trái banh hiệu Hungary và 2 con vịt, nải chuối, nhang đèn…cúng ra quân. Trận đầu tiên đấu với bọn thằng Trúc, thằng Tùng…bên Văn thánh trên sông Cà ty, thua 0-7, tất cả đều khóc, to nhất vẫn là Ung Văn Ðức. Trái banh được anh em thằng Bính giữ kỷ lắm, không cho ai ngoài hội đá, bị mang tiếng “đem để bàn thờ mà cúng” là vậy đó. Ðầu năm 1992, tôi gặp Nguyễn Bắc Sơn ngang phòng răng Nha sĩ Quãng bên Phú trinh, sau phòng ngủ Trần Nam Hưong, có khác đi nhiều hồi đó. Chúng tôi cùng học trường Phan Bội Châu, quen biết nhau, không thân nhau từ những năm 1958 khi Nguyễn Văn Hải ( tên thật của Nguyễn Bắc Sơn ) học bên Pháp văn, tôi bên Anh văn. Hải, chúng tôi thường gọi là “Hải móm”, nhỏ hơn tôi 2 tuổi, dáng nhỏ thó mà lanh lợi, thường lên xóm Ghẹ tập võ với Sáu Lựu, với Thời…Bẵng vài chục năm tao loạn mới gặp lại, thì ra Nguyễn Văn Hải mạnh dạn ngày xưa bây giờ là thi sĩ Nguyễn Bắc Sơn tóc dài biếng chải, lừ đừ, thích rượu, làm thơ. Không hiểu làm sao, anh ta lại làm được thông dịch viên tiếng Anh cho Lực lượng Ðặc biệt ở trại Phi hổ chợ Lầu, Bình thuận đến lúc đóng cửa vào háng 3 năm 1964 để nhập vào Tiểu khu Bình thuận, khi mà anh ta học tiếng Pháp cả thời Ðệ nhất cấp ở trường Phan Bội Châu Phan thiết... Dù không phải là một quân nhân thuần túy, nhưng anh thực sự là một người lính “chiếng” , từ đó ta có những vần thơ Nguyễn Bắc Sơn “bất cần đời”, “xã láng”, “bạc mạng” thật hay và dễ thưong…:”Mai ta đụng trận, ta còn sống. Về ghé sông Mao phá phách chơi. Tiêu hết nỗi sầu cùng gái điếm. Ðốt tiền mua vội một ngày vui” hay “Khi tao đi lấy khẩu phần. Mầy đi mua rượu đế Nùng cho tao. Chúng mình nhậu để trừ hao. Bảy ngày sắp đến nghêu ngao trong rừng “ ( “Chiến tranh Việt nam và tôi” năm 1962 ). Ngang đây cũng không thể không nhắc đến tên một nhạc sĩ lính tài ba của Phan thiết mà bản nhạc của anh đúng thời tôi thi Tú tài I ở Nha trang vào Hè 1963, nhạc sĩ Dzũng Chinh với “Những đồi hoa Sim”. Anh tên thật là Nguyễn Bá Chính, người Bình hưng, Phan thiết, con ông Trưởng ty Bưu điện Phan thiết Nguyễn Xuân Hước, sinh hoạt văn nghệ trong Gia đình Phật tử Tỉnh hội Phật học Bình thuận. Ðại đội trưởng ( ? ), thuộc Trung đoàn 45 Sư đoàn 23 Bộ binh, tử thương tại An phước, Ninh thuận, táng tại Nghĩa trang Quân đội Nha trang, Khánh hòa. Những bản “hận Tha la”, “Tha la xóm Ðạo” của anh không sắc nét nỗi niềm éo le, u uất như “Những đồi hoa Sim” đã “mê hoặc” tấc lòng trai gái thời binh lửa, nghe buồn tê tái, thúi ruột!. Chúng tôi, những thằng trai vài ba đứa đời lính trước mắt, lang thang hết ngõ phố đêm Phan thiết nghêu ngao “những đồi hoa sim, ôi những đồi hoa sim tím chiều hoang biền biệt…” vào những quán kem Khánh long, Liên hưng và nhất là Mỹ wũ… bắt chước đốt môi điếu thuốc tàn, kéo đời tháng ngày héo hắt!. Không làm sao quên đuợc thằng Ðặng Văn Nghê ở Ðức long, thi rớt Tú tài I cứ tự nhiên lên học Ðệ nhất với người ta, đi Ðồng đế sống dai, mà chết mau theo lon Chuẩn úy, khi nỗi nhọc nhằn nơi trường Bộ binh Thủ đức chưa hết và chưa mòn lệnh “đứng dậy các tân Sĩ quan”. Không làm sao quên đuợc thằng Nguyễn Văn Hùng ở Tầm hưng đậu Tú tài I, đã ghi danh học khóa Sĩ quan Trừ bị Thủ đức, lại từ bỏ bồ Cao Thị Minh Tâm, chun đầu vô rừng chết mất tiêu theo “ông già tao làm Huyện ủy Phan rang” bởi có thể rừng thiêng nước độc mà cũng có thể từ một viên đạn của thằng bạn học nào đó!. Ôi!, những con đường Phan thiết nhỏ đến nỗi đứng phố nầy gọi “ới” thì phố kia “ơi” mà chất ngất kỷ niệm trùng trùng. Con đường Gia long, con đường có “ngã tư quốc tế” mà bên hông “Vạn Quần Trà Gia” là mái hiên che làm “tiêm chè không tên” của người Tàu bán chè đậu trắng, chè đậu đỏ, chè đậu xanh ngon lắm, cho chúng tôi, những thằng Trúc, thằng Hải, thằng Nghĩa, thằng Hùng tàng tàng phố đêm, được ngồi đỡ chân mệt, lại còn được thưởng thức món “giải nhiệt” đặc sắc, đả cái miệng hết sức!. Con đường nầy hồi đó làm sao quên được những đêm chợ Tết đi “quậy” những đứa con gái nhà ai với mấy thằng cúng cơm: Tài nhỏng, Hùng cận, Hòa thợ hồ, Nghê nhà quê…vui quá chừng và thử hỏi ai người Phan thiết không nhớ những chiều ông Huyền Vũ trực tiếp truyền thanh các trận túc cầu Việt nam đấu với Nam hoa, Hương cảng…hay A.J.S đấu với Tổng tham mưu, Quan thuế đấu với Ngôi sao Gia định…làm cho người, xe đạp, xe gắn máy, ngay cả xe hơi, cả quang gánh nữa, bu kín mít hết khu phố, đâu còn đường xe chạy. Ông Huyền Vũ, tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, sinh tại Phan thiết, nghe nói ở Mũi né (? ) năm 1915 và mất vào tháng 8 năm 2005 tại Hoa kỳ, thọ 90 tuổi. Ông viết báo từ năm 1936, năm 1951 làm ký giả thể thao lần lượt cho Ðài Phát Thanh Pháp-Á ( Radio France-Asie ) rồi Ðài Phát Thanh Sài Gon cho đến 1975, tròn 24 năm. Ông có giọng phóng sự thật hào sảng, linh hoạt, kích động…mê hoặc người nghe, ngay cả khi ngồi coi trận đấu trực tiếp trên sân Cộng hòa, trong túi tôi cũng có cái radio transistor nhỏ xíu mở hết volume nghe ông truyền thanh. Bên kia cầu Quan, những cây vông to lớn, gốc bộng, sù sì quanh “Château d’eau” cao ngất có từ thuở tôi chưa sinh, đỏ rực bông với bông không một cái lá, sau những ngày cuối tháng Hai đầu tháng Ba, dịp tiết Nguyên tiêu rồi chim hót, ve sầu vang vang, rộn ràng những ngày Hè nắng nóng… và tôi thẩn thờ làm thơ với thẩn. Ðã có anh bạn nào, có lẻ người Phan thiết, chạnh lòng: “thương hàng cây cũ vườn bông, mùa hoa vông nở rực hồng bình minh. Thương em gái nhỏ vô tình, đạp lên hoa đỏ, lặng thinh tới trường”. Ðêm qua cầu, văng vẳng câu hát xưa: “trên Mường giang, nắng đẹp một chiều, nào thuyền ai lướt trôi. Lắng không gian theo nhịp chèo êm êm nhạc khúc yêu đời …”, mà nhớ Ðoan Thanh, người cho tôi bài hát để đời thời niên thiếu. Nghe Thanh Thúy ca giọng liêu trai, muốn “giả từ vũ khí”. Chiều Thưong chánh, đếm từng con sóng vỗ lao xao, ngóng Ðiệp ở “Hòn” về, thấy lòng nhớ thương vời vợi. Nầy những công viên chiều xuống, chờ bước chân rã rượi những thằng lãng tử đi tới đi lui hết phố phường nhỏ chút xíu, ngồi phiếm chuyện trên trời dưới đất. Mùa Hè, mưa thì xối xã, nắng thì chang chang. Ðông đến, những ngọn gió Bấc ngang tàng thốc cát vào mặt đau rát, “bét” cả mắt, mịt mùng đường đi và xe đạp thì hết đạp nổi.. Có phải vì nắng mưa khắc nghiệt mà thành phố chỉ có bốn rạp hát mà ba cứ phải thay tên đổi dạng luôn?: Rạp Modern lâu đời nhất nằm trên đường Gia Long của bà Bảy Ðẹt, vợ ông cựu Thị trưởng Phạm Ngọc Thìn, sửa sang lại đổi ra Ngọc Thúy. Rạp Bình thuận nằm ngay ngã bảy của ông Thất Ngàn làm lớn lên, đẹp hơn đổi ra Ánh Sáng. Rạp Hồng Kim trên đường Trần Hưng Ðạo, giống nhà kho của ông Hóa mập, con ông Thất Ngàn, chỉnh lại cho có vẻ rạp Ciné một chút và bề thế một chút , thay tên là Hồng Lợi. Chỉ rạp Lilas quá trẻ, chưa cần trau chuốt mới còn chữ trinh Lilas?. Có ai thời học sinh lai không ít nhất một lần “coupe course”, trốn học với bồ, hú hí trong các rạp ciné Modern, Bình thuận hay Hồng kim, Ánh sáng…,coi xuất “permanent” để bị “consigne” một mình rồi bị người yêu “quịt tình”, đau chết điếng!. Các rạp Ciné hồi đó, dù chiếu xuất hay chiếu permanent cũng phải “nghiêm chỉnh” chào cờ: “Nầy công dân ơi!, Quốc gia đến ngày giải phóng, đồng lòng cùng đi, hy sinh tiếc gì thân sống…”, trên màn ảnh tung bay lá cờ vàng ba sọc đỏ, tiếp theo sau, bài suy tôn Ngô Tổng tống: “Ai bao năm từng lê gót nơi quê người. Cứu đất nước, thề tranh đấu cho tự do. Người cương quyết chống cộng, bài phong kiến bốc lột, diệt thực dân đang rắc gieo tàn phá…”. Những lần ngang qua trường Nam Tiểu học, trường Trung học Tiến đức, ty Thông tin, trường Tiểu học Ðức thắng…đang chào cờ, làm sao tôi không dừng lại, giở nón, yên lặng, đứng nghiêm. Quốc kỳ, Quốc ca, Quốc thiều thẩm thấu vào lòng tôi từ hồi nào tấm bé như vậy đó, đố bây giờ làm sao nhạt phai?. Cây phượng vĩ trồng năm 1952, ngày mình bắt đầu đi học trường làng ở xóm Bánh tráng Lạc đao, bây giờ cao quá, xum xuê quá, xanh biếc lá mùa Xuân, đỏ rực, tươi thắm ngày tháng Hè cả một góc đường vào sân banh Lạc đạo, mới biết mình gần đất xa trời!. Nỗi buồn kỷ niệm xa xăm bay về, lòng bỗng ngẩn ngơ: “nhật mộ hưong quan hà xứ thị. Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. “Quê hương khuất bóng tà dương, trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!?”.

Thật, “không nơi nào đẹp bằng quê hương”. Quê hương ở đây của tôi không phải nơi chôn nhau cắt rún ở tận ngoài Huế. Khi tôi chưa biết gì đã theo cha mẹ gồng gánh vào đây, đến bây giờ cũng đã mấy chục năm, thời mà Phan thiết đìu hiu, rồi từng ngày khác đi và tôi lớn lên. Tất cả đổi dời “thương hải tang điền” mới có Phan thiết bấy giờ mà tôi nhận làm quê hưong, mà thưong nhớ. Nước sông, sóng biển, vườn bông, rạp hát, chùa chiềng, nhà thờ, mồ mả, con đường, trường lớp, chợ búa, đồng ruộng, xóm làng, bà con, bạn bè, bồ bich, chớp bể, mưa nguồn, gió cát, rong chơi…không giống ở đâu đâu, đó là quê hương. Quê hương không đơn giản và chung chung là chùm khế ngọt. Chùm khế ngot ở đâu cũng có. Ở đâu cũng không có “Château d’eau”, cũng không có giòng Mường giang, cũng không có cây Cầu Quan…chỉ có quê tôi Phan thiết. Quê hương là nơi ta tắm cả một đời người mưa nắng, muôn vạn buồn vui, sống chết từng thời khắc đi qua như mây bay, mây bay vẽ tranh “Vân Cẩu” trên cõi trời cao vô cùng, không nơi nào có được!. Bây giờ ngồi ngậm ngùi nhớ cảnh cũ, người xưa, vương vấn mong manh đâu đây, thèm thời nhật ký lưu niệm cho nhau. Người ta chỉ có một quê hương đời người một lần. Người ta không có quê hương thứ hai, thứ ba…. Quê hương của tôi là Phan thiết mà Huế là nguyên quán và Mỹ là đất tạm cư, dù đã sống ở đây gần hai mươi năm và còn lâu bao nhiêu đi nữa mãn đời phù sinh./.

Kansas City, Missouri, ngày 16 tháng 8 năm 2009
NGUYỄN THỪA BÌNH

Chuyện Tình Khoai Lang

Tình yêu là gì?

Ai cũng hiểu, ai cũng biết. Thế nhưng không có một định nghĩa nào được cho là đúng khi giải thích về tình yêu cả. Lý do là, mỗi người hiểu tình yêu theo một nghĩa khác nhau.

Tình yêu, ai cũng có một lần nghe qua, ai cũng đã có ít ra một lần yêu (thử hay thật cũng được), thế nhưng, khi nào thì được phép yêu? Khi nào thì nên... chấm dứt? Không ai dám trả lời cả! Người lính chiến quanh năm với bưng biền, tròn ba tuổi lính, chưa hề có bạn tâm tình, cũng không thể kết luận rằng anh ta không biết gì về tình yêu. Ngay cả ông lão đầu tóc còn vài cọng không đủ làm thuốc, răng cỏ theo nhau rụng xuống cầu hết trơn rồi, cũng không dám nói là mình có đủ kinh nghiệm về tình yêu. Tôi cũng như bạn vậy, cũng đã nghe nói về tình yêu, cũng đã làm thử một lần. Chỉ có một điều đặc biệt là tôi đã đuợc nghe kể lại một chuyện tình thời hậu chiến. Chuyện tình này có thật, rất là cảm động, đã được nhiều anh em biết tới. Theo đúng như những kết luận về chuyện tình thời cổ tích, hai vai chính tới nay vẫn còn sống, vẫn thương yêu nhau, gia đình thật là đầm ấm.

Chuyện tình yêu này thật là đẹp, thật là đáng ghi nhớ, hay hơn tất cả những chuyện tình yêu trên thế giới. Love Story của Mỹ cũng thua xa! Một câu chuyện tình yêu kéo dài cả ba năm trời, trong đó hai vai chính, một nam một nữ không hề quen biết nhau, không hề tiếp xúc với nhau, nhưng kết cục lại lấy được nhau thật là ngọt ngào. Câu chuyện tình yêu này đã được đặt tên là... Chuyện Tình Khoai Lang, theo lời kể của một chịến hữu Nhẩy Dù của tôi, như sau:

***

Ngày đó, vào khoảng năm 1977, tôi đang bị bọn VC bắt đi tù vì tội có ông Tổng Thống đầu hàng. Cả bọn tôi, đa số là các Sĩ Quan trẻ (cấp bậc từ Thiếu Úy tới Đại Úy) được tập trung ở trại Suối Máu, sau đổi qua Trảng Bom (Biên Hòa). Bọn VC độc ác bắt chúng tôi làm việc cật lực nhưng không cho ăn uống tử tế, thuốc men hoàn toàn không có . Ai sống được thì sống, ai về chầu ông bà ông vải thì cứ việc đi. Phương cách giết người này thật là độc ác, giết nguời mà không cần gươm súng. Mỗi ngày đi lao động bên ngoài, anh em cố gắng kiếm được thêm cái gì thì ráng mà kiếm để sống cho qua ngày. Có người lượm được cái trứng chim, bắt được con thằn lằn, rắn mối...cũng đã cho rằng mình có số sung sướng lắm rồi. Dân làng thì ở ngoài xa, thỉnh thoảng mới gặp một vài người. Bọn VC quái ác không cho dân tiếp xúc với anh em chúng tôi và cũng cấm tuyệt anh em chúng tôi không được lân la tới khu dân chúng. Đói, đói lắm, đói thê thảm, đói lả người ra! Nhưng anh em còn trẻ, sức chịu đựng cao, tinh thần càng cao hơn, nên ráng sống đợi một ngày mai tươi sáng.

Bọn VC khoe với chúng tôi: ' Đảng ta đã . . . Đại Thắng Lợi'

Thì chúng tôi lại vui mừng nhìn nhau, nói trong ý nghĩ: 'Anh em ta . . . Đợi Thắng Lại!'

Ruộng mía, khoai lang, khoai mì của đồng bào ở chung quanh rất nhiều, nhưng chúng tôi không đụng tới, vì đó là của dân, mồ hôi nước mắt của họ. Họ cũng đói như chúng tôi vậy, đâu thể nào lấy của dân được. Ngày xưa, chúng tôi bảo vệ họ, ngày nay không làm gì được nữa nhưng không vì đói mà mất tư cách. Đồng bào biết chúng tôi đang bị đầy đọa, họ cũng thương cảm lắm, họ cũng đã tìm đủ mọi cách mà giúp đỡ chúng tôi. Bọn VC cũng biết như vậy, cho nên mỗi lần phải đưa chúng tôi di chuyển ngang khu dân cư, bọn chúng đi kè kè sát bên, không cho ai tiếp xúc với ai. Muốn mua thêm ít đường, ít muối cũng khó lòng mà làm được!

Thế nhưng trời cao còn có mắt mà, không sao! Miễn được thấy dân là lòng người lính thấy ấm lại rồi! Buổi sáng hôm đó, chúng tôi đang trên đường đi lao động. Từ xa, chúng tôi đã thấy khu dân cư ở đằng trước, và thấy bóng dáng những trẻ em, những cô gái đang tung lúa, thẩy khoai lang ra trước nhà để phơi. Khi tới gần khoảng chừng chục thước, chúng tôi thấy một bóng dáng phụ nữ cầm thúng thẩy khoai lang ra ngoài đường đi, chỗ chúng tôi đang bước thấp bước cao. Chúng tôi tuyệt đối không đụng tới tài sản của dân, dù là mấy củ khoai lang nhỏ bé, nên vẫn cứ thế mà bước đều. Mấy hôm sau, khi đi ngang qua xóm nhà này, chúng tôi lại thấy bóng dáng người phụ nữ này. Cô cũng dáng điệu như cũ, cầm thúng khoai lang thẩy ra đường đi. Lần này cô nói bâng quơ:

- Má à, mấy đám khoai lang hư này, mình đâu có bán cho ai được! Thôi, dục bỏ, nha Má!

Cô vừa nói vừa thẩy khoai lang ra chỗ chúng tôi.

Cô đứng ở xa nói tới, chúng tôi cũng không đi gần nên chỉ nghe cô nói như vậy thôi. Nói là cô gái thì cũng là nói vậy thôi, chứ không thấy rõ hình dáng, nói chi tới mặt mày.

Mấy hôm sau nữa, chúng tôi lại có dịp đi lao động ngang qua khu dân cư này. Chúng tôi lại thấy cô gái hôm trước. Cô vẫn đứng xa xa, nhưng lần này cô cố tình cầm khoai lang thẩy vào chúng tôi rồi bỏ đi, dáng vẻ rất là bình thường.

Tối về khu trại, chúng tôi bàn tán về cô gái, về những củ khoai lang mà cô thẩy ra ngoài. Chúng tôi cùng đồng ý là thái độ của cô rất lạ: Không có ai phơi khoai lang ở chỗ đường đi đó, mà cũng không có ai dục khoai lang trên đường đi như vậy cả.

Một người bạn - tên Phúc - đã nói với tôi:

- Tao nghĩ rằng cô gái này muốn cho mình những củ khoai lang đó. Chứ nếu cô muốn dục đi, thì thiếu gì chỗ dục. Hơn nữa, khoai lang dù là hư, không cho người ăn được thì để cho heo ăn, dễ gì mà dục bỏ!

Lần sau nữa, khi đi ngang khu nhà dân đó, chúng tôi lại thấy cô. Lần này chúng tôi không thấy cô thẩy khoai lang ra nữa, mà đứng yên ở phía xa xa chỉ trỏ chỗ này, chỗ kia, ý như muốn chỉ cho chúng tôi những củ khoai lang mà cô đã thẩy ra trước đó.

Tối về, chúng tôi lại có dịp bàn tán. Phúc nói với tôi:

- Tao có nhìn thấy mấy củ khoai lang ngay trên đường mình đi. Tao thấy khoai lang kỳ này cũ rồi, không tươi như bữa trước nữa. Tao nghĩ rằng, cô thẩy ra cho tụi mình lượm, nhưng không ai lấy, nên cô lại thâu lại để dành, bữa nay thẩy ra nữa. Chắc chắn là cô cho tụi mình đó, tụi mày đồng ý không?

Tất cả cùng có ý nghĩ đó! Chắc là cô còn có lòng thương những người lính sa cơ đói khổ, mà tặng những củ khoai lang ăn lót lòng. Củ khoai lang nhỏ nhoi không đáng là bao, nhưng tấm lòng của cô thật đáng quý! Chẳng có ai ở không mà chờ anh em chúng tôi đi gần tới mới thẩy khoai lang ra. Cũng chẳng có ai có nhiều khoai lang để mà thẩy chơi như vậy. Chắc chắn là khi chúng tôi đi khỏi, cô lại thâu lại những củ khoai đó mà để dành thẩy lại cho chúng tôi vào ngày hôm sau. Anh em chúng tôi cùng đồng ý là kỳ tới, nếu có đi ngang khu nhà dân, nếu cô còn có lòng hảo tâm mà thẩy khoai lang ra, chúng tôi sẽ chia nhau lượm.

Dịp may đã tới, chúng tôi lại có dịp đi ngang khu nhà dân cũ, và lại thấy bóng dáng cô từ xa. Cô lại thẩy khoai lang ra rồi bỏ đi. Chúng tôi đã bàn với nhau trước rồi, nên chia ra làm nhiều toán nhỏ: Toán đi trước bao chung quanh đám quản giáo để chúng khỏi nhìn thấy phía sau, toán thì đi chậm chậm lượm thật lẹ những củ khoai lang bỏ vào giỏ xách thật nhanh. Lính mà! Chúng tôi thanh toán chiến trường khoai lang lẹ lắm, không thua gì những lúc thanh toán bọn quỷ đỏ trên chiến trường trước đây.

Buổi trưa hôm đó, chúng tôi lại chia ra nhiều toán để dắt bọn quản giáo đi ra xa, trên đầu gió, để đám còn lại lo nướng khoai . Đói lòng ăn được củ khoai lang. Ôi, sung sướng nào hơn!

Đám này ăn xong thì lại ra canh bọn VC để đám kia trở lại ăn những củ khoai lang tình nghĩa đó. Lần sau đi ngang khu nhà dân, đến phiên Phúc lo lượm những củ khoai lang của cô gái hảo tâm. Buổi trưa, Phúc nói nhỏ với tôi:

- Đúng như tao dự đoán, mày ạ! Kỳ này cô ta cho mình toàn là khoai mới, bự và ngon hơn khoai bữa trước nhiều lắm! Chắc cô đã núp đâu đó, thấy mình đã lượm hết khoai kỳ trước nên mới đưa khoai lang mới ra đó!

Nhờ những củ khoai lang đó mà anh em chúng tôi có thêm sức khỏe. Nhờ ở cảm tình mà người dân đã dành cho chúng tôi qua củ khoai lang mà chúng tôi thêm được sức mạnh để chịu đựng cực khổ, chờ đợi ngày mai trời lại sáng. Chúng tôi ăn những củ khoai lang đó của cô gái tốt bụng, nhưng chỉ nhìn thấy dáng của cô từ phía xa xa mà thôi, chứ chưa bao giờ được nhìn thấy mặt cô cả. Cũng chỉ duy nhất có một lần được nghe giọng nói của cô mà thôi.

Thời gian cứ thế trôi qua, chúng tôi vẫn sống, vẫn hiên ngang với đời.

Rồi ngày mai đã tới, ngày tôi và Phúc được bọn VC trả về nguyên quán. Chúng nói là chúng tôi đã... học tập tốt. Nhưng đối với chúng tôi, với riêng tôi và Phúc, chúng tôi vẫn vậy. Muôn đời chúng tôi vẫn là người lính VNCH và càng căm thù bọn Việt Cộng hơn bao giờ hết. Tôi được gia đình lo liệu sẵn, một thời gian ngắn sau khi về lại nhà, tôi đã may mắn vượt biên trót lọt và qua định cư ở Melbourne xứ Úc Đại Lợi.

Tôi cũng có nghe bạn bè nói, Phúc cũng đã vượt biên và hiện ở Sydney, cùng xứ Úc với tôi.

Một ngày đẹp trời vào năm 1990, vợ chồng tôi có dịp đi Sydney và đã ghé thăm Phúc.

Bạn bè ngày xưa gập nhau mừng mừng tủi tủi, nói chuyện huyên thuyên - Chuyện xưa còn đó, nhưng bạn bè nay đâu? Thằng nào còn sống? Thằng nào chết trong trại tù? Thằng nào vượt trại? Thằng nào vượt biên? Đi đâu?

Cuối cùng mới tới chuyện đời sống hiện tại.

Mày lấy vợ hồi nào? Lấy từ hồi ở VN hay qua đây mới lấy? Bao nhiêu đứa con rồi? Đứa lớn bao nhiêu? Đứa nhỏ mấy tuổi. Chúng tôi nói như chưa bao giờ được nói.

Phúc kể, đã lấy vợ từ hồi ở VN, hai vợ chồng cùng vượt biên qua đây. Vợ của Phúc chỉ cười cười khi nghe chồng giới thiệu là tôi ở cùng trại tù với anh từ năm 1977.

Một lúc sau, vợ Phúc bưng ra một đĩa mà Phúc nói rằng rất đặc biệt: Khoai lang Dương Ngọc!

- Ăn đi mày, ăn để nhớ lại cái thời bị tù đầy, bị bọn VC vo tròn bóp méo!

Tôi sáng mắt lên, vồ lấy củ khoai lang, ăn không kịp bóc. Tại sao lại phải bóc vỏ? Vỏ khoai cũng là khoai vậy! Tại sao lại vứt bỏ đi?

Bao nhiêu kỷ niệm xưa quay trở lại. Tôi cũng đã kể chuyện khoai lang cho vợ tôi nghe nên tất cả đều cùng nhau góp lại chuyện xưa. Tôi vừa ăn vừa ngậm ngùi:

- Không biết cô gái đã cho mình những củ khoai lang đó, bây giờ ra sao? Có ai biết cô đó là ai không? Cô ta còn ở đó hay đã trôi nổi đi phương trời biền biệt nào rồi?

Phúc trầm ngâm một lúc rồi trả lời tôi:

- Cô gái cứu sống mình bằng những củ khoai lang... đang ở trước mặt mày đó! Tao cưới cổ rồi!

Thật là không ngờ! Vợ chồng tôi ngạc nhiên tới há hốc miệng, rớt cả củ khoai lang ra ngoài:

- Mày... mày nói cái gì? Cô này đây... vợ mày đây... là... là cô gái cho tụi mình khoai lang ở Trảng Bom? Mày... nói chơi hay... nói dỡn vậy? Thiệt không? Làm sao mà mày kiếm ra cổ ? Mà... phải thiệt là cổ không? Làm sao mày biết là cổ mà dám nói là cổ ? Dám lấy cổ?

Vợ Phúc (Dung) mỉm cười giải thích cho chúng tôi:

- Em đâu có gueng, đâu có biết ảnh là ai đâu! Tự dưng ảnh tới kiếm em rồi... hỏi cứ (cưới) em đó chớ!

Phúc giải thích rõ ràng hơn:

- Khi còn ở trong trại tù, mình đã nói chuyện với nhau thật nhiều về cô gái đó, tao thầm cám ơn cô đã còn nghĩ đến những người lính VNCH đang mắc nạn. Tao đã nghĩ trong đầu rằng, nếu có dịp trở về, thế nào cũng đi tìm cô gái đó mà cảm ơn. Nếu cô ta còn độc thân, tao sẽ cưới cô ta làm vợ. Mặc dù chỉ với một hành động nhỏ nhoi tặng những củ khoai lang cho chúng ta, nhưng cô đã chứng minh được rằng, cô là người chống lại bọn VC, cô là người đã còn nhớ đến người lính VNCH xưa. 'Miếng khi đói bằng gói khi no' mà! Mình đang sa cơ mà còn có người dám nghĩ tới mình, thì làm sao mà không cảm động cho được? Đến khi được thả về, tao trở ra Phan Thiết ở với cha mẹ anh em một tuần, thì nói với ba má là tao kiếm đường làm ăn. Tao quay trở lại Biên Hòa, đi vào khu Trảng Bom, nói với Tổ Trưởng vùng đó là tao ở Biên Hòa, muốn về làm rẫy, mua đất trồng khoai lang. Ông này dẫn tao đi giới thiệu với những gia đình đang trồng khoai lang, có dư đất muốn bán. Nhà nào tao cũng vào làm quen để hỏi mua đất, hỏi kỹ thuật trồng khoai, nhưng mục đích chính là kiếm cho ra cô gái đó. Tao cũng như mày, như những anh em trong trại, đâu có ai biết mặt mũi cô ra làm sao? Ngay cả dáng người cũng không nhìn được, nên khó kiếm hết sức. Nhưng tao còn nhớ được giọng nói của cô ta khi nói: 'Má à, khoai lang của mình hư hết rồi, không bán được đâu, dục đi nha Má!' T ao nhớ có nhiêu đó thôi. Rồi duyên số cũng giúp cho tao kiếm ra bả. Buổi chiều hôm đó, khi tao đã hết hy vọng kiểm cổ rồi, đang trên đường đi tới nhà Tổ Trưởng chào từ giã. Chợt tao đi ngang qua một căn nhà ở cuối xóm, thấy một cô gái đang gom khoai lang bỏ vô thúng. Tao ngừng lại hỏi bâng quơ:

- Cô lựa khoai lang đem bán hả?

Cô này không quay lại, vừa tiếp tục lựa khoai, vừa trả lời:

- Tui lựa khoai lang dư đặng mai đem thẩy cho mấy người lính 'học tập cải tạo'.

Tao thấy coi bộ trúng mối rồi, bèn hỏi tới:

- Khoai lang trồng cực khổ mới có. Bộ cô có bà con đang học tập trong đó hay sao mà lại cho họ khoai lang?

- Tui đâu có gueng ai ở trỏng đâu! Bị tui thấy họ tội nghiệp thì tui giúp đở chúc ít dzậy mà! Hồi xưa, mấy người này đi lính để giữ cho làng xóm được yên, khỏi bị bọn VC phá đám giết hại người ta. Nay những người này bị bắt ở tù, mình phải nhớ ơn họ, phải giúp họ chớ! Hổng giúp được nhiều thì có mấy củ khoai lang cũng giúp họ chút đỉnh dzậy mà!

Mới nghe bả nói là tao nhớ lại liền. Đúng y là giọng nói 'Má à, đám khoai lang này hư rồi . . .' mà tao nhớ không bao giờ quên. Tao lại còn kỹ càng hỏi cho ra lẽ tại sao bả lại giúp mấy đám tù cải tạo như mình? Nghe bả trả lời ngon lành như vậy là tao chịu quá đi, nhất định giá nào cũng phải làm quen, nếu được, sẽ cưới bả làm vợ. Lính mà! Dễ lắm! Giản dị lắm: 'Hễ ai thương lính là lính thương lại liền'.

Tao lại đang trong tình trạng độc thân... 'Tròn năm năm lính, chưa hề có bạn tâm tình'. Tới luôn! Tao đi tới đi lui nhiều lần làm quen với bả, với gia đình bả, nói là xin học làm rẫy. Khi biết rõ gia đình bả, và biết bả còn đang độc thân, chưa có đám nào, tao mới trở về Phan Thiết kể lại chuyện của bả cho ông bà già tao nghe và nói ý định muốn cưới cô gái quê, nhưng có lòng thương lính đó. Ba má tao đồng ý tao muốn lấy ai thì lấy, miễn là hai vợ chồng hạp với nhau là được rồi. Nhưng mà cô đó có lấy tao hay không thì lại là chuyện khác nữa. Tao trở lại nhà Dung phụ làm rẫy tiếp. Trong một bữa nghỉ trưa ở ngoài ruộng, chỉ có một mình tao với bả, tao mới nói rõ tao là ai? Đã cảm cái tấm lòng của bả và muốn được cưới bả làm vợ. Bả rất ngạc nhiên mà nói với tao, y như bả vừa mới nói với mày vậy: - Tui đâu có gueng biếc gì anh đâu? Tui cho mấy anh khoai lang là cho nguyên đám đó chớ đâu phải cho một mình anh! Bị tui nhớ hồi xưa mấy anh đã đi lính giữ làng xóm tụi tui, chứ tui đâu có biết anh ở trỏng đâu? Mà anh . . . cứ (cưới) tui làm chi?

Làm chi thì tao không biết làm chi, nhưng tao nói tao cảm tấm lòng của bả mà cưới bả, vậy thôi. Tao nói:

- Ít ra thì anh với em cũng còn giống nhau ở một điểm là 'THƯƠNG LÍNH'.

Nói ba điều bẩy chuyện một hồi, bả cũng không biết nói sao nữa, kêu tao muốn gì thì về nói chuyện với ba má cổ, chứ cổ... hổng biết. Vậy là chịu rồi! Tao mừng quá, cả hai đưa nhau về gập ông già bà già của bả, tao lại kể rõ lai lịch của tao ra và xin đưa cha mẹ tới xin cưới Dung. Hai ông bà ngạc nhiên hết sức, cuối cùng nói là:

- Nếu vậy đúng là duyên số rồi. Con Dung nhà tui nó đâu có gueng biếc gì ông đâu. Nó xin tui ít phai lang, nói là để cho mấy ông bị tù cải tạo, tội nghiệp mấy ổng quá. Ai dè có ông ở trỏng, ông thương nó, ông được dzìa rồi thì ráng lội bộ đi cùng khắp chốn kiếm cho ra nó đặng xin 'cứ' nó! Đó là do Ông Tơ Bà Nguyệt cột đó, chứ hổng có ai bầy ra được đâu!

Tụi tao định ngày, đưa cha mẹ tao tới làm đám hỏi, xong rồi mới mời ổng bả và Dung về nhà tao chơi. Tới Phan Thiết, thấy nhà cửa của ba má tao thì ổng bả và Dung hoảng hồn, vì nhà tao hồi đó cha mẹ cũng còn nhà cửa, cơ sở làm ăn khá lắm! Dung đã nghéo tao ra sân mà nói:

- Nhà anh giào như zậy, mà anh cứ tui là gái guê làm chi? Thôi, thả tui zìa Trảng Bom tui làm rẫy sướng hơn!

Tao phải nói khó với bả:

- Mấy thứ đó là của cha mẹ anh, chứ anh... 'Trên Răng Dưới . . . Dế ', đâu có cái gì nữa đâu! Có cái mạng cùi cũng nhờ em cho mấy củ khoai lang mới còn sống tới ngày nay. Mà em đừng có lo, mình còn đủ chân đủ tay, mình tự làm mà nuôi thân, chịu không?'

- Anh nói dzậy thì tui chịu!

Chịu hay không chịu thì cũng trễ rồi! Lính đã nói là Lính làm:

- Em có ý kiến nhiêu đó là đủ rồi, mọi thứ còn lại để anh lo, đừng có lộn xộn gì hết nữa!

Rồi tụi tao làm đám cưới. Cưới xong, tao lo đường vượt biên. Ông bà già vợ thẩy một mớ khoai lang lên tàu, vậy là tụi tao dông. May mắn cho tụi tao, trời yên bể lặng. Sau bốn ngày lênh đênh trên biển, tàu tụi tao cặp được tới Bidong. Tao chọn đi Úc cho nó lẹ và an toàn. Khoảng hai tháng sau tụi tao tới Sydney, gởi điện tín cấp tốc về cho ông bà già tao hay. Hai ổng bả mừng quá, lập tức mướn xe chạy tới Trảng Bom cho ba má Dung hay. Ba Má Dung cũng mừng quá, xá trời xá đất cám ơn lia chia. Ba của Dung cười lớn:
- Dzậy là thằng rể tui khỏi sợ bị Diệc cộng bắt cải tạo nữa rồi ha!
Má của Dung hỏi thêm:
- Ở bển có đất cho tụi nó trồng khoai lang hông dzậy, anh chị sui?
Tụi tao ở bên đây thì cũng giống như tụi bay vậy, ra sức làm mà lo cho gia đình, con cái, lo cho cha mẹ bên Việt Nam. Tụi tao có hai con rồi. Bây giờ bả hết dám hỏi:
- Anh ' cứ ' tui làm chi, nữa rồi.
Tụi tao lo làm nuôi con ná thở, đâu còn thì giờ mà hỏi nữa! Hỏi nữa tao để ........ đẻ nữa!

TẢN MẠN NHỮNG GIAI THOẠI VĂN CHƯƠNG

Giai thoại ( beautiful story, anecdote ) là sự việc, là câu chuyện lạ, vui, hay… ít nhiều có liên quan đến nhân vật có thật . Văn chương ( literature ) là văn tự tốt đẹp viết ra thành câu văn, thành tác phẩm văn học nói chung. Như vậy, Giai thoại văn chương là chuyện kể lại những văn thi sĩ với những câu chuyện, những thơ, văn hay, đẹp, mới lạ, độc đáo, thâm trầm, ý nhị, châm chích, trêu cợt… biểu thị được qua sự cọ xát thế giới ngoại tại, khác với huyền thoại ( legendary story ) là những sự thể, và con người mù mờ huyễn hoặc có có, không không. Cùng với chuyện cổ tích ( legend ), ca dao ( popular song ), tục ngữ ( proverb ), phong dao ( local folk song ), đồng giao ( children’s song ), tiếu lâm ( funny story )…, giai thoại văn chương ( literary beautiful story ) là sản phẩm nghệ thuật văn học, tô điểm kho tàng văn hóa nước nhà, phản ảnh được đặc trưng vốn liếng tình tự dân tộc. Ðọc Tam quốc chí, chúng ta thấy Tào Thực là, một cự phách thi ca, đi bảy bước làm xong bài thơ. Chuyện kể, Tào Phi nối ngôi Tào Tháo, băt em là Tào Thực phải ứng khẩu bài thơ ( nhưng không được dùng hai chữ anh em ), không xong sẽ bị tội chết. Tào Thực đọc ngay : “Chử đậu nhiên đậu cơ. Ðậu tại phủ trung khấp. Bản thị đồng căn sinh. Tương tiểu hà thái cấp” ( lấy củi đậu mà nấu đậu. Ðậu trong nồi xót đau. Bởi cùng gốc rể mà ra. Sao hại nhau quá quắc ). Tào Phi động lòng, ôm Tào Thực mà khóc, không còn ghét bỏ nữa. Ðó là chuyện bên Tàu. Bài viết nầy nhằm “tản mạn những giai thoại văn chương” Việt Nam mà thôi. Những giaì thoại văn chương Việt Nam quá đổi dồi dào, trác tuyệt, không dễ kể hết được, nên chỉ có thể tản mạn phần nào thô lậu có tính cách tượng trưng mà người viết như muốn nhắn nhủ với bà con rằng “ nguồn văn hóa của người Việt chúng ta vô cùng to lớn đáng tự hào và trân quý”, chứ không dám ôm đồm mà khảo với luận bởi làm sao nói cho cùng, kể cho hết, viết cho đủ mà phê với phán, hơn nữa, khả năng người viết hạn hẹp, thô thiển thì có muốn cũng không kham nổi.
Bắt đầu, xin được nói đến Ông Nguyễn hàm Ninh ( mà chúng tôi đươc thân phụ kể lại từ hồi còn tấm bé ). Ông Ninh đỗ Giải nguyên năm Tân mão ( năm 1831), cùng năm với nhà thơ Cao bá Quát, làm quan trong triều đình Tự Ðức ( 1847- 1883 ). Vì dư luận cho là, vua Tự Ðức đã giết anh là Hồng Bảo ( nguyên Hồng Bảo không được vua Thiệu Trị truyền ngôi, nổi loạn, bị bắt nhốt và chết trong ngục tù ). Một hôm, nhà vua ngự thiện (ăn cơm ), cắn phải lưởi, bảo các quan làm bài thơ “răng cắn lưởi” nhưng không được dùng chữ “răng” và chữ “lưởi”. Ông Nguyễn hàm Ninh ứng khẩu :
“Ngã sinh chi sơ, nhữ vị sinh
Nhữ sinh chi hậu, ngã vi huynh
Bất tư cộng hưởng chân cam vị
Hà nhẫn tương vong cốt nhục tình”.
Tạm dịch :
Thời tao sinh ra, mầy chưa sinh
Mầy sinh ra sau, tao là anh
Chưa cùng nhau chia sẻ ngọt bùi
Sao đành tâm dứt tình cốt nhục ).
Nhà vua khen hay, ban cho mỗi chữ một nén vàng và phạt mỗi chữ đánh một trương vì có ý châm chích, xỏ xiêng.
Ông Cao bá Quát ( 1809 – 1854 ), đậu Á Nguyên năm Tân mão ( năm 1831, đậu thứ nhì, sau ông Nguyễn hàm Ninh ). Năm 1841 vua Thiệu Trị ( 1847-1883 ) cho ông làm Hành tẩu bộ Lễ ( một chức quan nhỏ ). Năm 1854 ông bị đầy lên Sơn tây làm Giáo thụ Quốc oai, bất mãn, ông theo Lê duy Cự ( Giặc Châu Chấu ) nổi loạn, thất bại vụ khởi nghĩa ở Mỹ lương, ông bị bắt và bị xử chết cùng năm ( 1854 ). Khi làm loạn cùng Lê Duy Cự ở Sơn tây thì, nêu chính nghĩa “Bình dương, Bồ bản vô Nghiêu Thuấn; Mục dã, Minh điền hữu Võ Thang”. Khi bị tù thì, “Một chiếc cùm lim, chân có đế. Ba vòng xích sắt, bước thì vương”. Khi chờ máy chém chặt đầu thì,“Ba hồi trống giục đù cha kiếp. Một nhát gươm đưa đéo mẹ đời”. Tục có tục “đù” với “đéo”. Sá gì người cao ngạo, bất phùng thởi, sắp chết! Người ta không cùng tâm trạng ngút trời u uất đã sửa lại “đù” với “bỏ” cho dễ nghe chăng? Có lần, Vua Tự Ðức ( 1847-1883 ), biết Cao Bá Ðạt và Cao Bá Quát là anh em sinh đôi bèn ra câu đối :
“Nhất bào song sinh, nan vi huynh, nan vi đê”
( Một bọc sinh đôi, khó biết ai là anh, khó biết ai là em )
Ông trả lời đầy vẻ tự đắc, trịch thượng:
“Thiên tải nhất ngộ, hữu thị quân, hữu thị thần”
( Nghìn năm gặp một lần, có vua ấy, có tôi ấy )
Và một câu đối của vua Tự Ðức, các quan trầm trồ khen hay hết sức là hay (có thể là hay mà cũng có thể là nịnh ):
“Tử năng thừa sự nghiệp ( Con nối nghiệp cha )
Thần khả báo thiên ân” ( Tôi đền ơn chúa )
Nhưng Cao Bá Quát đã chê :
“Hảo hề! Hảo hề! Phụ tử quân thần điên đảo” ( Hay thiệt! Hay thiệt! Cha con vua tôi đão ngược ). Ý ông ta cho rằng, theo đạo thần tử : vua trước, tôi sau mới phải và sửa lại :
“Quân ân thần khả báo ( Ân vua tôi phải trả )
Phụ nghiệp tử năng thừa” ( Nghiệp cha con phải theo ).
Không ai lạ gì “ Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán…” mà vua Tự Ðức đã thốt lời ban khen cộng vào tính khí cuồng ngạo, coi đời không ai bằng mình của ông đã làm cho Cao bá Quát hư cả một đời tài danh .. Khi đang làm tại Viện hàn lâm, một hôm vua Tự Ðức đến bảo, đêm qua được hai câu thơ chữ Hán lại kèm theo tiếng Nôm rất hay : “Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ, dã ngoại đào hoa lấm tấm khai”. Ông trả lời rằng: “Hai câu thơ đó, nằm trong bài thơ mà hạ thần đã đọc từ lâu lắm rồi, không còn nhớ hồi nào, hạ thần xin đọc cho bệ hạ nghe”
“Bảo mã Tây phong huếch hoác lai
Huênh hoang nhân tự thác đề hồi.
Viên trung oanh chuyển khề khà ngữ
Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai
Xuân nhật bất văn sương lộp bộp.
Thu thiên chỉ kiến vũ bài nhài
Khù khờ thi tứ đa nhân thức.
Khệnh khạng tương lai vấn tú tài”.
Tạm dịch :
( Ngựa hay huếch hoác theo gió Tây về
Huênh hoang người cũng theo về
Trong vườn , chim oanh giọng khề khà.
Ngoài đồng, hoa đào nở lấm tấm.
Ngày Xuân không thấy sương rơi lộp bộp
Trời Thu chỉ thấy mưa bài nhài
Khù khờ, câu thơ ai cũng biết.
Ðem hỏi chi những người học thức.
Vua Tự Ðức biết Cao bá Quát đã bịa ra, hàm ý chê bai, dè biễu mình, nhưng rõ ràng ràng là có căn có cớ …cho nên nhà vua đã không chấp nê gì mà còn khen thưởng, trọng vọng. Hiếm hoi biết mấy đức độ một quân vương thi nhân biết thương tài một nhà thơ ngông. Tưởng cũng nên nói thêm rằng, thời còn bé thơ, một lần Cao bá Quát đang tắm, xịch kiệu vua Minh Mạng ngang qua không kịp chạy trốn, bị quan quân bắt trói, dẫn đến trước mặt nhà vua để tra hỏi. Sau khi ngọn ngành và được biết là kẻ học trò. Nhìn xuống nước hồ trong vắt, có đàn cá lớn đang đuổi bắt đàn cá con, nhà Vua liền ra câu đối như sau bảo rằng, đối được thì tha, không thì bị đánh đòn :
“Nước trong leo lẻo, cá đớp cá”
Ðang khi mình bị trói thúc ké, nóng nực, nhanh nhẩu ông đáp ngay:
“Trời nắng chang chang, người trói người”
Nhà vua ngợi khen tài năng của một cậu bé và như đã hứa, ông được thả ra. Có lần, nhân đọc những bài thơ xướng họa của Thi xã Mặc vân ( một thi đàn nổi danh “thi đáo Tùng,Tuy thất thịnh Ðường” do Tùng quốc công Miên Thẩm làm chủ súy gồm những ông Hoàng bà Chúa: Tuy quốc công Miên Trinh, Công chúa Mai Am, Công chúa Diệu Liên…và những quan chức đầu triều uyên bác, giỏi thi phú: Phan thanh Giản, Trương đăng Quế, Hà tôn Quyền… ), ông đã lắc đầu, bịt mũi chê bai :
“Ngán cho cái mũi vô duyên
Câu thơ Thi xã, con thuyền Nghệ an”.
Ông đã cho thơ Thi xã cũng khăm khắm mùi như con thuyền bán nước mắm Nghệ an. Rất may, Tùng thiện Vương và Tuy lý Vương đã không bắt tội, vì thương mến thiên tài mà còn cho vào Thi xã. Lúc là quan nhỏ Hành tẩu bộ Lễ trong viện Hàn lâm chuyên lo việc biên soạn thơ văn, ngự chế cho triều đình, vì nghĩ là bất xứng với tài và chức cùng bản chất nghêng ngang rần rần trong huyết quản, sôi máu cuồng giận, ông tỏ vẻ ngạo mạn, khinh đời, khinh người ( bất kể là ai ). Khi vua Tự Ðức hỏi cớ sự hai quan trong triều cãi vã nhau, đánh lộn nhau, Cao bá Quát không e dè, tâu :
“Bất tri ý hà ?
Lưỡng tương đấu khẩu.
Bỉ viết cẩu,
Thử diệc viết cẩu.
Bỉ thử giai cẩu.
Dĩ tương đấu ẩu.
Nguy tai, nguy tai
Thần cụ thần tẩu”
Tạm dịch :
( Không biết tại làm sao?
Hai ổng cãi nhau.
Ông nầy bảo chó
Ông kia bảo chó
Hai bên đều chó
Rồi hai ổng đánh nhau
Nguy quá nguy quá
Thần sợ thần chạy ).
Có lần ông Nguyễn văn Siêu ngồi trên cái chõng xiêu vẹo dạy học. Cao bá Quát lấm lét muốn vào thụ giáo. Ðể thử sức, thầy Nguyễn văn Siêu ra đối:
“Tiên sinh tọa tịch thượng, cót chi két, két chi cót, cót cót két két”
( Ông thầy ngồi trên chõng, ( chõng kêu ) cót két, két cót, cót cót két két )
Ông Cao bá Quát đáp ngay:
“Tiểu tử nhập đình trung, thẩn chi thơ, thơ chi thẩn, thẩn thẩn thơ thơ”
( Thằng nhỏ vào trong đình, thẩn thơ, thơ thẩn, thẩn thẩn thơ thơ )
Ông Nguyễn văn Siêu đậu Phó bảng kỳ thi Mậu tuất ( 1854 ), làm đến Án sát, sau về dạy học, có công xây dựng các cộng trình kiến trúc ở Hà nội. Ông nổi tiếng về thơ văn ( “Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán. Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Ðường” )

Trong những lễ lược khánh hỷ, người xưa thường chúc nhau chữ nghĩa, thi, phú, liễng, đối hoặc đại tự…Ðại tự biểu thị chữ viết lớn, ít chữ ( có khi chỉ hai, ba, bốn…thậm chí chỉ có một chữ nhưng, hàm ý thì bao la, quãng diễn. Trường hợp các nhân sĩ Bắc hà tặng bức hoành phi sơn son thếp vàng bốn chữ “Ðại Ðiểm Quần Thần” cho Thủ tướng Nguyễn văn Tâm vào năm 1952, có nghĩa là, “bầy tôi lớn nhất”. Nhưng ở đây có ý chửi xéo, lăng nhục Thủ tướng Tâm như là kẻ gian tà, phản quốc ( vì theo Tây ). Nghĩa các chữ “đại điểm” là “chấm to”; “quần thần” là “bầy tôi” Ðơn giản là, “chấm to bầy tôi”. Ðọc lái ra, nghĩa rất độc địa : “chó Tâm bồi Tây”. Ai bảo các cụ ta ngày xưa hiền? Một trường hợp khác, nhân dịp Xuân về, ông có nhận được một bức đại tự rất đẹp đề bốn chữ “hồ hải quy tâm” do thân hào nhân sĩ đất Sài gòn-Chợ lớn biếu tặng. Ai cũng trầm trồ khen ngợi cả nội dung lẫn hình thức. “Hồ hải quy tâm” rõ ràng là, “sông hồ biển cả thuộc về tâm” hay “thiên hạ dốc tâm theo về”. Chữ tâm cũng là tên Thủ tướng Nguyễn văn Tâm. Nhưng không, bức đại tự nầy nhằm kết án, buộc tội một đời Nguyễn văn Tâm theo Pháp, rõ ràng là, chửi chứ không khen chút nào. “Hồ hải quy tâm” xuất sứ từ câu nói của nhà sư Từ Ðạo Hạnh ( 1072-1116, đời nhà Lý ): “Hồ hải tích ác đồng quy vu tâm”, có nghĩa là, tội ác trong sông hồ biển cả cũng do cái tâm mà ra”. Ở đây, được hiểu theo nghĩa thâm độc, sâu sắc của những bậc thâm nho: “ Tội ác đầy khắp trong sông hồ biển cả thẩy đều do tên Tâm nầy mà ra”
Chúng ta, không ai không nghe nhắc đến ông Lê quý Ðôn, từ còn bé đã nổi tiếng là thần đồng, đỗ Bảng nhãn thời vua Lê hiến Tông ( 1497-1504 ) lúc mới 19 tuổi, tính khí cao ngạo . Trước cửa nhà, ông huyênh hoang treo một tấm bảng: “Thiên hạ nghi nhất tự lai vấn” ( Người nào có một chữ gì không biết, cứ việc đến mà hỏi ) Vào một ngày ông đang bận bịu lo đám ma thân sinh, có một cụ già bước vào nói là, bạn của ông Tiến sĩ Lê phú Thứ ( là th6an phụ của ông ) vì thi cử hoài không đỗ đạt gì cả, nhà lại nghèo, đường thì xa xôi, phải tội tình đến trể. Ông cụ bảo ông Lê quý Ðôn đem bút, nghiêng ra ông đọc cho viết hai câu đối phúng bạn.
Cụ già chậm rải đọc:
- “Chi”
Ông Lê quý Ðôn ngần ngừ, không biết chữ “chi” nằm trong nghĩa nào. “Chi” là tay chân? “Chi” là cành cây? “Chi” là chưng? “Chi” là một vì sao trong nhị thập bát tú? “Chi” là nhánh sông? v..v…nên, chờ chữ sau biết nghĩa mà viết. Cụ gìà thung dung lại đọc tiếp:
- “Chi”
Ông Lê quý Ðôn suy nghĩ, lúng túng, không biết sao mà viết ra được chữ chi. Thắc mắc, hơi thẹn, ông bèn hỏi :
- Bẩm cụ, thưa “chi” gì ạ ?.
Cụ già tỏ vẻ thất vọng, nói;
- Cháu đỗ đến Bảng nhãn, chữ “chi” cũng không biết viết, liệu có ai đến hỏi, cháu làm sao mà trả lới!?. Quan viên hiện diện lăng thinh, ông Lê quý Ðôn tái cả mặt, trong lúc cụ già từ từ đọc :
- “Chi chi tam thâp niên dư, Xích huyện Hồng châu kim thượng tại. Tại tại sổ thiên lý ngoại, Ðào hoa Lưu thủy tử hà chi?”
Tạm dịch :
( Ðã hơn ba chục năm qua đi rồi, Xích huyện, Hồng châu nay vẫn còn đây
Ơi hởi ngoài xa ngàn dặm kia, Ðào hoa, Lưu thủy, bác thác về đâu? )
Ðọc xong, cụ già van vái trước linh sàng mà than: “Anh ơi là anh, sao con anh đỗ đến Bảng nhãn, Thám hoa mà chữ “chi” là “chưng” nó cũng không viết được! Xong, cụ già chống gậy ra về mặc cho ai hỏi han, mời mọc. Tương tự, nhân một buổi hội làng, một cụ lão nho nhờ ông viết giùm một câu. Ông cụ đọc “tri”. Bảng nhãn Lê quý Ðôn chờ. Cụ lão đọc tiếp “tri”. Người hay chữ Lê quý Ðôn cắn bút chờ nữa. Chữ “tri” rất nhiều đồng âm dị nghĩa mà viết thì lại không giống nhau. Ông già chơi ác, phạng thêm một chữ “tri” nữa. Thần đồng Lê quý Ðôn ngẩn tò te. Lão nho đọc; “tri chi dĩ vi tri, bất tri dĩ bất tri, thị tri” ( biết thì nói là biết, không biết thì nói là không biết, như vậy mới là biết ). Rõ ràng, đây là những bài học cho riêng thần đồng Lê quý Ðôn và cho chung những ai tự đắc, hợm hĩnh vậy. Ngang đây cũng xin nêu ra trường hợp hai câu thơ của Vương an Thạch, Tể tướng đời Tống thần tông ( 1066-1078 ) bên Tàu: “Minh nguyệt sơn đầu khiếu, Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”. Nhà thơ nức tiếng đương thời là Tô đông Pha giải lý như sau: “Minh nguyệt” là “trăng sáng”, “sơn đầu khiếu” là “kêu trên đầu núi”, “Hoàng khuyễn” là “con Chó vàng” và “ngọa hoa tâm” là “nằm trong ruột cái hoa”. Ông cho rằng, trăng làm sao kêu, chó làm sao nằm được trong ruột cái hoa. Thấy vô lý quá và cho rằng Tể tướng Vương an Thạch kiến thức hẹp hòi, rồi sửa lại như sau: “Minh nguyệt sơn đầu chiếu. Hoàng khuyển ngọa hoa âm”, có nghĩa là, “Trăng sáng soi đầu núi. Chó vàng nằm ở dưới bông hoa”. Sau vì phạm tội, Tô đông Pha bị đầy ra vùng đất mà Vương an Thạch cảm ứng làm thơ, Tô đông Pha mới biết mình đã lầm và nông nổi quá sức. Ở nơi đây, có con chim Minh nguyệt và con sâu Hoàng khuyển. Ðâu đó cũng là một bài học để đơi cho những người có tài mà tự phụ, khoác lác, khoe khoang.
Bà Sương nguyệt Ánh, con cụ đồ Nguyễn đình Chiểu ở Ba tri, nổi tiếng văn thơ, thủ tiết thờ chồng. Một hôm, có ông cử Phạm đình Chi, người Mỹ tho đến chơi, hậu ý chọc ghẹo, đề nghị bà ra câu đối. Không thể từ chối được, Bà đọc:
“Ðình làng tôi không dám phạm, thưa ông tôi phạm đình chi ?”
Câu nầy giải theo lối văn xuôi là, tôi không dám phạm đến cái đình của làng, vậy thì thưa ông, tôi phạm vào cái đình gì đây? Cái lắc léo của người ra đối nầy ở chỗ, cả họ và tên của ông cử Phạm đình Chi đều gọn lỏn ở trong đó. Cắc cớ đến thế, oái oăm đến thế là cùng, làm sao cụ Cử chúng ta đối lại cho được!? Thua. Rút êm.
Ðến đây xin nói đến bà Huyện Thanh quan ( có lẻ sinh năm 1805 và mất 1848 ), tên Nguyễn thị Hinh, người Hà đông, vợ ông Lưu nguyên Ổn ( Lưu Nghi ) làm Tri huyện Thanh quan, nên người ta gọi bà là bà Huyện Thanh quan. Bà được mời vào cung giữ chức Cung Trung Giáo Tập để dạy các công chúa và những hậu phi. Bà để lại những bài thơ hay như : Qua Ðèo Ngang, Thăng Long Thành Hoài Cổ, Cảnh Chiều Hôm…Người ta không quên những giai thoại rất là thơ của bà. Bà phán cho người đàn bà Nguyễn thị Ðào được bỏ chồng:
“Phê cho con Nguyễn thị Ðào
Nước trong leo lẻo cắm sào đợi ai?
Chữ rằng: “Xuân bất tái lai”
Cho về kiếm chút kẻo mai nữa già”

Một trường hợp khác, một ông Hương cống xin mổ trâu giỗ cha vào thời có lệnh cấm giết trâu, bà thản nhiên phê mà nghĩa lời phê, ai nghĩ sao thì nghĩ:
“Người ta thì chẳng được đâu
“Ừ”. Thì ông Cống làm trâu thì làm”.
Câu nầy vừa có nghĩa cho phép ông Cống được giết trâu mà cũng có nghĩa “thâm” là, “:Ừ!, thì ông muốn làm ( thân ) con trâu thì cứ mà làm ( thân ) con trâu”. Có lần vua Minh Mạng phóng bút đề hai chữ “Phúc, Thọ” để khen thưởng một đại thần và hỏi bà Huyện Thanh quan. Bà “bẩm: phúc tối hậu. Thọ tối trường” ( viết chữ phúc quá to béo mà chữ thọ quá dài, ốm. Ý chê vua viết chữ xấu quá. Nhà vua không nói gì, có vẻ giận lắm.
Chúng ta ai cũng biết, bộ môn “Hát Bội” ( mà người ta thường gọi là Hát Bộ ) nổi tiếng ở Qui nhơn, Bình định là do công xây dựng và vun trồng của cụ Ðào Tấn ( còn gọi là cụ Ðào vĩnh Thạnh ). Cụ học cao, đỗ đạt thành tài ( làm đến chức quan Tổng đốc Nghệ tĩnh ), vẫn bị các nhà Nho thủ cựu chê bai “xướng ca vô loại”, bất phục như thường. Chuyện kể lại rằng, khi còn làm quan Tri huyện Quãng ngãi, vào một sáng nọ, nhàn cư ngắm cảnh trời mây, bổng cụ thấy trên hai cột cổng ngoài, ai đề bốn chữ “hát hay”, “học dỡ”. Bình tỉnh cụ bảo kẻ mang bút nghiên đến, mĩm cười, thong dong viết hai câu đối treo lên:
-“Hát hay vốn kép Qui nhơn thật
- Học dỡ làm quan Quãng ngãi chơi”.
Ai trót dại hàm hồ, tưởng để “chơi” cụ, không dè bị “đá giò lái”, cụ “chơi” lại cả làng nước Quãng ngãi ( hai câu đối trên, có người cho là của con cụ là, Ðào vĩnh Thuyên )
Chúng ta cũng biết, Hồ quý Ly vốn dòng dõi Hồ hưng Dật, người Chiết giang bên Tàu. Năm 1400, phế Trần thiếu Ðế, tự xưng làm vua, lập nên nhà Hồ, cai trị được 7 năm (1400-1407 ). Ở đây, xin không nói về thủ đoạn gian hùng của bầy tôi phản nghịch Hồ quý Ly mà, kể về cách Hồ quý Ly nhường ngôi lại cho con. Rằng, ông ta đã không chọn con trai trưởng Hồ nguyên Trừng ( nghĩ rằng kém tài, thiếu đức ) mà lập trai thứ Hồ hán Thương ( cho là văn võ song toàn ) lên làm vua ( 1401-1407 ). Sợ con bất phục mà làm loạn, Ông Hồ quý Ly bèn ra câu đối cho Hồ nguyên Trừng, nhằm dọ ý:
“Thử nhất quyền kỳ thạch, hữu thời vi vân vi vũ, dĩ nhuận sinh dân”
( Một nắm đá lạ nầy, có lúc làm mây làm mưa, đem tưới sinh dân )
Hồ nguyên Trừng biết ý cha, không buồn, đáp ngay:
“Giá tam thốn tiểu tùng, tha nhật tác đống tác lương phò trì xã tắc”
( Ba tấc gổ thông kia, ngày sau làm cột làm nhà, phò trì xã tắc )
Ai trong chúng ta lại không biết nữ thi sĩ Hồ xuân Hương, người Nghệ an, sống cuối đời nhà Lê đầu triều Nguyễn, con cụ Tú nghèo Ðỗ phi Diễn, hai lần làm vợ bé cho hai ông Tổng Cốc và Phủ vĩnh Tường. Bà được biết như nhà thơ Nôm thông minh, tài tình, nổi tiếng về cách dùng chữ thơ và ý thơ lắc léo, ỡm ờ vừa thanh, vừa tục đến nỗi người đời cho rằng “bất khả vi huấn” ( không thể đem ra dạy đời được ). Xin chép ra đây một bài tiêu biểu, bài “Đánh đu”
“Bốn cột khen ai khéo khéo trồng
Người thì lên đánh, kẻ ngồi trông
Trai đu gối hạc khom khom cật
Gái uốn lưng ong ngửa ngửa lòng
Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Hai hàng chân ngọc duỗi song song
Chơi xuân đã biết xuân chăng tá?
Cọc nhổ đi rồi, lổ bỏ không!”

Và Bài “Cái quạt”
“Một lổ xâu xâu mấy cũng vừa
Duyên em dính dán tự ngàn xưa
Chành ra ba góc, da còn thiếu
Khép lại đôi bên, thịt vẫn thừa
Mát mặt anh hùng khi tắt gió
Che đầu quân tử lúc sa mưa
Nâng niu ướm hỏi người trong trướng
Phì phạch trong lòng đã sướng chưa?”
Lỗ xâu : Cái lỗ để xâu các nan quạt lại với nhau, không phải sâu
Dính dán: Cái chốt đóng ( dán ) các nan quạt lại không cho rớt ra, không phải dính dáng.
Ngoài tài thơ tả chân súc tích, thời bấy giờ không ai mà không công nhận khả năng ứng biến vô cùng linh hoạt của bà. Một lần bị trợt chân sảy té, bà ứng xử tài tình bằng hai câu thơ hết sức dí dỏm :
“Giơ tay với thử trời cao thấp
xoạc cẳng đo xem đất vắn dài”
Xướng , họa, đối, đáp…Bà cũng là một nữ tài nhân vô tiền khoáng hậu. Xin ghi lại đây vài bài xướng họa với thi sĩ Chiêu Hồ ( lý lịch chưa được xác minh ).
Hồ xuân Hương :
“Anh đồ tỉnh, anh đồ say
Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?
Nầy nầy chị bảo cho mà biết
Chốn ấy hang hùm chớ mó tay”

Chiêu Hồ :
“Nầy ông tỉnh,nầy ông say
Nầy ông ghẹo nguyệt giữa ban ngày
Hang hùm ví bẵng không ai mó
Sao có hùm con bỗng tróc tay?”

Hồ xuân Hương :
“Sao nói rằng năm lại có ba
Trách người quân tử hẹn sai ra
Bao giờ thông thả lên chơi nguyệt
Nhớ hái cho xin nắm lá đa”

Chiêu Hổ :
“Rằng gián thì năm, quý có ba
Bởi người thục nữ tính không ra
Ừ rồi thông thả lên chơi nguyệt
Cho cả cành đa lẫn củ đa”
Ðồng tiền gián: = 36 đồng tiền kẽm. Ðồng tiền quý: = 60 đồng tiền kẽm
Vậy thì, gián có năm = quý có ba = 180 đồng tiền kẽm
Một giai thoại về nhị vị đại quan, trước là bạn thân, sau là tử thù : Ngô thì Nhiệm giúp vua Quang Trung ( 1788- 1892 ), làm Lại bộ Tả thị lang và Ðặng trần Thường phò vua Gia Long ( 1802-1819 ), làm Binh bộ Thượng thư. Ngô thì Nhiệm khinh Ðặng trần Thường kém cỏi, ương hèn, không tiến cử về giúp Nguyễn Huệ. Ðặng trần Thường trốn vào Nam theo Nguyễn Ánh. Chuyện kể khi hai người còn là bạn bè thuở hàn vi, một hôm Ðặng trần Thường lè nhè đến nhà Ngô thì Nhiệm làm thơ mượn tiền:
“Ngất ngưỡng đồ Thường đã đến đây
Có tiền xin mượn lấy năm chầy
Năm chầy không được, ba chầy vậy.
Phiếu Mẫu đền ơn cũng có ngày”
Cung cách “ngất ngưỡng” của kẻ cầu cạnh không làm Ngô thì Nhiệm cám cảnh, đã bị từ chối. Sau khi vua Quang Trung mất, Triều chính vào tay Bùi đắc Tuyên và suy vi, tạo thời cơ Nguyễn Ánh phục quốc, lên ngôi vua năm 1802 và giao cho Ðặng trần Thường xử tôi những cựu thần Tây sơn tại Văn miếu. Trước khi đàn hịch, là kẻ thắng trận đầy tâm cao khí ngạo, Ðặng trần Thường mỉa mai ra câu đối cho kẻ thua trận Ngô thì Nhiệm đang bị căng nọc :
“Ai công hầu, ai khanh tướng, trong trần ai, ai dễ biết ai?”
“Thế Chiến quốc, thế Xuân thu, gặp thời thế, thế thời phải thế”
Ngô thì Nhiệm cay đắng trả lời như vậy và đã bị Ðặng trần Thường quyết tâm đánh chết ( 1803 ) vì tư thù. Về sau, Ðặng trần Thường lại bị hiềm nhân Lê Chất cáo “ẩn lậu dinh điền”, tố chiếm đoạt ao hồ lúc coi việc “tào binh” ở Bắc thành, nên bị tội “xử giảo” ( thắt cổ chết ).
Một giai thoại văn chương khác, vừa đẹp lại vừa bi ai: Nguyễn Trãi và Nguyễn thị Lô. Nguyễn Trãi ( 1380-1442 ), đỗ Thái học sinh năm 1400, là đại thần Hậu Lê và Nguyễn thị Lộ ( 1390-1442 ), người làng chiếu Hải triều, Ngự thiên, Thái bình, có tài lại có sắc, vợ thứ của Nguyễn Trãi. Chuyện kể rằng, vào năm 1406 lúc Nguyễn Trãi mới 26 tuổi đang làm quan nhà Hồ thì gặp thị Lộ mới 16 tuổi ở Vũ lăng. Ông liền ỡm ờ ứng khẩu:
“Ả ở đâu mà bán chiếu gon
Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn
Xuân xanh nay được bao nhiêu tuổi
Ðã có chồng chưa được mấy con?”
Bà Nguyễn thị Lộ vốn con nhà có học lại có tài thơ, liền đáp lại:
“Tôi ở Tây hồ bán chiếu gon
Can chi ông hỏi hết hay còn?
Xuân xanh nay được trăng tròn bóng
Chồng còn chưa có, có chi con!”
Rồi hai người lấy nhau và vụ án “Lệ Chi Viên” xẩy ra, khiến người đời bàng hoàng thương cảm. Một cách vắn tắt vụ án như sau: năm 1442 nhân ngự kiến duyệt binh ở Chí linh, vua Lê Thái tông ghé thăm cựu thần Nguyễn Trãi lúc bấy giờ đã về trí sĩ ở Côn sơn, thuộc huyện Chí linh, gặp bà Nguyễn thị Lộ và bắt theo hầu. Ðến huyện Gia bình, Bắc ninh thì vua băng hà. Triều đình bắt tội bà cùng chồng rắp tâm ám hại nhà vua nên phải tội “tru di tam tộc”.
Một câu đối hay giữa hai thầy trò Ðàm thuận Huy và Nguyễn giản Thanh ( lúc còn bé ). Trời mưa to, Nguyễn giản Thanh không về được, thầy Ðàm thuận Huy bèn ra câu đối thử trò :
“Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách”
( Mưa không then khóa mà có thể giữ được khách )
Ông Nguyễn giản Thanh bèn trả lời ngay :
“Sắc bất ba đào dị nịch nhân”
( Cái sắc đẹp của phụ nữ không phải là làn sóng lớn nhưng dễ nhận chìm người )
Nguyễn giản Thanh đỗ Trạng nguyên khoa thi Ðoan Khánh thứ tư ( 1508 ) đời vua Lê Uy Mục. Làm Hàn lâm viện Thị thư kiêm Ðông các Ðại học sĩ ( đời nhà Lê ) và Thượng thư Bộ Lễ ( đời nhà Mạc ).
Ông Lê văn Hưu ( 1230-1322 ), người Ðông sơn, Thanh hóa, đỗ Bảng nhãn năm 17 tuổi ( 1247 ), làm đến Binh bộ Thượng thơ. Ông viết quyển “Ðại Việt Sử Ký” ghi lại những sự kiện lịch sử từ thời Triệu Ðà ( 207-136 trước Tây lịch ) cho tới Lý chiêu Hoàng ( 1224-1115 ), làm cơ sở cho ông Ngô sĩ Liên đời Hậu Lê ( đỗ Tiến sĩ khoa Nhâm tuất 1442 ) viết quyển “Ðại Việt Sử Ký Toàn Thư”. Ông nổi tiếng thông minh, một hôm thuở thiếu thời, nhân ngang qua một lò rèn, thấy bác thợ rèn đang rèn những dùi sắt ( để dùi lổ sách, vở… ), ông tò mò đứng xem, muốn xin một cái. Bác thợ rèn biết vậy, bèn ra vế đối, nếu “đối” thông, bác sẽ cho một cái. Bác đọc:
“Than trong lò, sắt trong lò, lửa trong lò, thổi phì phò đúc nên dùi sắt”.
Rất nhanh nhẹn, cậu học trò còn măng sửa “đối” ngay:
“Nghiên ở túi, bút ở túi, giấy ở túi, viết lúi húi mà đậu Khôi nguyên”.
Cũng nên biết, năm Ðinh Mùi ( 1247 ) là năm đầu tiên ở Việt Nam có danh hiệu Tam Khôi ( Trạng Nguyên, Thám Hoa, Bảng Nhãn . Năm thi đó toàn những thần đồng: ông Nguyễn Hiền 12 tuổi đậu Trạng Nguyên; Ông Ðặng ma La 14 tuổi đậu Thám Hoa và ông Lê văn Hưu 17 tuổi đậu Bảng Nhãn ).
Một giai thoại khá ly kỳ: Nguyễn hữu Cầu và Phạm đình Trọng, nguyên là bạn học cùng thầy nhưng thù nghịch “ bất cộng đái thiên” với nhau. Về sau, Phạm đình Trọng làm quan đi bắt giặc Nguyễn hữu Cầu. Sơ lược : Nguyễn hữu Cầu ( ? - 1751 ), người Thanh hà, Hải dương, có lúc nhà nghèo làm cướp, năm 1731 theo Nguyễn Tuyến, Nguyễn Cừ nổi lên chống Triều đình, bị Phạm đình Trọng bắt ở Nghệ an và tử hình vào tháng 3 năm 1751 cùng với loạn quân Nguyễn danh Phương ( Quân Hẻo ). Ông giỏi võ, có sức mạnh, được mệnh danh Hạng Võ Việt Nam và có tài bơi lội giỏi, người đương thời gọi ông là Quận He ( He là tên một loại cá ngoài biển ). Phạm đình Trọng ( 1714 – 1754 ) làm đến chức Binh bộ Thượng thư, gốc Kim môn Hải dương, đỗ Tiến sĩ năm 1739, đánh và bắt được giặc Nguyễn hữu Cầu. Ông mất năm 1754 ( vừa tròn 40 tuổi ). Lúc nhỏ, thầy ra vế đối cho Nguyễn hữu Cầu và đã đoán biết được rằng, sau nầy Nguyễn hữu Cầu sẽ làm loạn :
“Túng sử như Bình tác tể”
( Giả như Trần Bình được làm Tể tướng ). Túng: phỏng như, giả khiến
Ông đáp:
“Năng ninh cấm Tín tự vương “
( Cấm sao được Hàn Tín tự xưng vương ). Ninh: sao?.
Tương truyền, khi đối chiến ngoài mặt trận, ông Phạm đình Trọng có đưa thư dụ hàng cho ông Nguyễn hữu Cầu, trong đó có ra câu đối :
“Thổ triệt bán hoành, thuận giả thượng, nghịch giả hạ”
( Chữ thổ cắt đi nửa nét ngang, trông xuôi là chữ thượng, trông ngược là chữ hạ ). Ông Phạm Ðình Trọng nhận được thâm ý của người bạn đồng song mà ân oán ngút trời:
“Ngọc tàng nhất điểm, xuất vi chúa, nhập vi vương”
( Chữ ngọc có một nét chấm, đem lên thì thành chữ chúa, mà dấu đi thì thành chữ vương ).
Bài thơ “Chim trong lồng” nói lên khí phách một nhà văn, một nhà võ tham vọng, ngang tàng, chí lớn của ông Nguyễn hữu Cầu, dù trong phút giây chờ hành hình nhưng vẫn khẳng khái, bất khuất, bình tĩnh mà làm thơ. Có mấy ai?:
“Nhất lung thiên địa tàn thân tiểu
Vạn lý phong vân cử mục tần
Hỏi sao sao lụy cơ trần?
Bận tài bay nhảy, xót thân tang bồng
Nào khi vỗ cánh rỉa lông
Hót câu thiên túng trong vòng lao lung
Chim oanh nọ vẫy vùng giậu Bắc
Ðàn loan kia túc tắc cành Nam
Mặc bay đông ngữ tây đàm
Chờ khi phong tiện dứt dàm vân lung
Bay thẳng cánh muôn trùng Tiêu Hán
Phá vòng vây làm bạn kim ô
Giang san khách diệc tri hồ?”
Riêng trường hợp của hai nhà thơ cũng trước bạn sau thù nhưng, không sắt máu như trường hợp của các ông Ðặng trần Thường - Ngô thời Nhiệm hay Phạm đình Trọng - Nguyễn hữu Cầu ở trên nhưng, bút chiến cũng nặng lời qua lại. Một người theo Pháp; Một người theo Triều đình. Hai ông bênh vực thái độ của mình qua thơ văn một cách tài tình, hy hữu.
Ông Tôn thọ Tường ( 1825 – 1877 ), người Tân bình, Gia định. Học ở Huế, nổi tiếng văn hay chữ tốt.Vì túng thiếu, làm bài thi mướn bị bắt nhưng được tha. Buồn thân, bèn về quê chờ thời. Ông lập ra “Bạch mai Thi xã” xướng, vịnh với bạn thơ, có Phan văn Trị, Bùi hữu Nghĩa, Nguyễn Thông, Huỳnh mẫn Ðạt…Năm 1862 theo Pháp, làm Tri phủ Tân bình. Năm 1871 thăng chức Ðốc phủ sứ và sau về dạy Hán văn trường Hâu bổ ( Collège des Stagiaires ) ở Nam kỳ. Năm 1877 theo Tổng lảnh sự Pháp de Kergaradec thị sát vùng thượng du Băc kỳ, bị sốt rét mà chết.
Ông Phan văn Trị ( 1830 – 1910 ), người Giồng trôm, Bến tre, đỗ Cử nhân năm 1849, không ra làm quan, ở nhà dạy học, làm thầy thuốc và làm thơ. Như nói ở trên, ông trong nhóm “Bạch mai Thi xã” với ông Tôn thọ Tường những lúc ban đầu. Từ khi ông Tôn thọ Tường ra làm quan cho Pháp, hai ông trở nên thâm thù và những trận bút chiến kịch liệt, gây gắt. Cũng từ đó, văn học sử của chúng ta còn để lại vết tích những giai thoại hiếm hoi quý giá và những bài thơ liên hoàn tuyệt tác: xướng ( Tôn thọ Tường ), họa ( Phan văn Trị ). Xin được chép ra một bài tiêu biểu :
Tôn phu nhân quy Thục ( của Tôn thọ Tường, nhằm giải bày tâm sự, nỗi lòng phải đành lòng hợp tác với Pháp )
“Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
Nghìn thu rạng tiết gái Giang đông
Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc
Về Hán trau tria mãnh má hồng
Son phấn thà đem dày gió bụi
Ðá vàng chi để thẹn non sông
Ai về nhắn với Chu công Cẩn
Thà mất lòng anh, đặng bụng chồng”
Bài họa ( của Phan văn Tri, để đả kích hành động hợp tác với Pháp của Tôn thọ Tường )
“Cài trâm, sửa áo vẹn câu tòng
Mặt ngả trời chiều biệt cõi Ðông
Ngút tỏa đồi ngô un sắc trắng
Duyên về đất Thục đượm màu hồng
Hai vai tơ tóc bền trời đất
Một gánh cương thường nặng núi sông
Anh hởi Tôn Quyền, anh có biết!?
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng”
Hai bài thơ trên của hai ông Tôn thọ Tường và Phan văn Trị dựa trên câu chuyện tình có tính cách chính trị thời “Tam Quốc” ( Bắc Nguỵ, Ðông Ngô, Tây Thục ) cách đây gần 1800 năm ( 220 – 280 ). Tôn phu Nhân là con gái Tôn Kiên (cùng cha khác mẹ với Tôn Quyền, Tôn Sách ), theo kế hoạch của Chu Du, tự là Công Cẩn ( 175 – 210 ), một danh tướng cũng là một quân sư ( Ðông Ngô ), giả gả Tôn phu Nhân ( còn gọi là Tôn thượng Hương, Tôn Nhân ) cho Lưu Bị ( Tây Thục ), mà thật tình là tìm cách khử đi. Ðược bảo vệ bởi dõng tướng Triệu Vân theo sự sắp xếp của Gia cát Lượng, tự là Khổng Minh ( 181 –231 ), Chu công Cẩn đã không thành. Lưu Bị thoát hiểm, được vợ. Ông Tôn thọ Tường đã ví mình vì bắt buộc phải ra làm quan cho Pháp như Tôn phu Nhân trong tình thế chẳng đặng đừng lấy chồng thì phải theo chồng “…Ai về nhắn với Chu công Cẩn, thà mất lòng anh, đặng bụng chồng”. Nhưng ông Phan văn Trị cho rằng, đó là thói ngụy biện. Ừ, thì cho, “tam tòng” là đạo đàn bà đi, nhưng ông Tôn thọ Tường quên mình là một sĩ phu mà “tam cương” là giềng mối “…Anh hởi Tôn Quyền, anh có biết!?, trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng”.
Chúng ta, ai lại không nghe nói đến Trạng Trình Nguyễn bỉnh Khiêm ( 1491 – 1585 ). Câu sấm thường bàn bạc rất nhiều “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh. Can qua xứ xứ khổ đao binh. Mã đề dương cước, anh hùng tận. Thân dậu niên lai kiến thái bình” ( câu 185-188 trong “Cảm Ðề” ). Ông đậu Trạng nguyên năm 44 tuổi ( 1535 ), được bổ làm Tả thị lang Ðông các Học sĩ, tước Trình tuyền hầu ( nên gọi là Trạng Trình ). Vì dâng sớ hạch tội 18 lộng thần không thành ( 1542 ), ông cáo quan, về dạy học. Học trò của ông có Trạng Bùng Phùng khắc Khoan, Nguyễn Dữ ( tác giả “Truyền kỳ mạn lục” ), Lương hữu Khánh ( Thượng thư ). Ông để lại “Bạch vân thi tập”, “Trình quốc công Nguyễn bỉnh Khiêm thi tập”. Ông giỏi về thuật số, được người đời ca tụng là “nhà tiên tri” và người Tàu khen ông là “An nam lý số hữu Trình tuyền” ( Chu Xán, sứ giả nhà Thanh ). Giai thoại cho rằng, ông đã khuyên Nguyễn Hoàng lập nên cơ nghiệp nhà Nguyễn với câu: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” ( một dãi Hoành sơn, dung thân đời đời ). Và đương những ngày sắp lâm chung ( 1585 ) còn cho Mạc mậu Hợp ý kiến, rằng: “Cao bằng tuy tiểu, khả dung sổ thế ( Cao bằng tuy nhỏ, cũng được vài đời ), đã giúp nhà Mạc trị vì thêm gần 80 năm nữa. Khi Lê trung tông mất, Trịnh Kiểm muốn tiếm ngôi nhưng còn e, ông đã chỉ: “giữ chùa thờ Phật thì ăn oản” hay “nên tìm thóc cũ mà gieo thì tốt” ( ý rằng, giữ phận bề tôi thì hay hơn ). Biết ý, Trịnh Kiểm đã lập Lê duy Bang ( giòng giỏi nhà Lê ) lên làm vua là vua Lê anh Tôn, từ đó vua Lê, chúa Trịnh đã tồn tại được gần 200 năm ( “Lê tồn Trịnh tại” ). Tiếng đồn mẹ ông là bà Nhữ thị Thục ( con Thượng thư Nhữ văn Lân ) có hoài bảo rất to tát là, mong ông sau nầy sẽ làm vua: “bồng bồng bang bang, ngày sau con lớn, con tựa ngai vàng”. Dĩ nhiên là không thành cũng như đứa con chồng sau là Trạng Bùng Phùng khắc Khoan. Bà nhìn ra, nhìn thấy anh làng chài Mạc đăng Dung sẽ là vua tương lai, tiếc rằng mình đã luống tuổi.
Bây giờ xin đến ông Mạc đỉnh Chi ( 1280 – 1346 ) có tướng mạo xấu xí, người Nam sách, Hải dương, đỗ Trạng nguyên năm 1304 ( đời Trần anh Tông ), làm đến chức Thượng thư. Ông có tài ứng xử, đối đáp tài tình, sắc bén, được người Tàu xưng tụng và mệnh danh là “Lưỡng quốc Trạng nguyên”. Năm 1308 đi sứ nhà Nguyên trể, bị quan giữ thành giữ lại không cho vào. Họ đòi ra câu đối, đối thông mới mở cửa thành cho vào:
“Quá quan trì, quan quan bế, nguyện quá khách quá quan”
( Tới cửa ải trể, cửa quan đóng, xin mời khách qua đường cứ qua ). Trì: trể. Quá khách: khách qua đường. Câu đối ra khó, ông đối lại như kiểu đối “chạy làng” thật tài tình:
“Tiên đối dị, đối đối nan, thỉnh tiên sinh tiên đối”
( Ra đối dễ, đối câu đối khó, xin mời tiên sinh đối trước )
Ðối hay, quan giữ thành mở cửa cho vào. Ðến kinh thành, vua Nguyên vừa muốn thử tài quan trạng phía nước Nam vừa có vẻ tự đắc kẻ cả:
“Nhật: hỏa; Vân: yên; Bạch đán thiêu tàn ngọc thỏ”
( Mặt trời là lửa; mây là khói; ban ngày đốt cháy vầng trăng )
Thông thả, không chịu thua, ông ứng ngay:
“Nguyệt: cung; tinh: đạn; hoàng hôn xạ lạc kim ô”
( Trăng là cung; sao là tên; chiều tối bắn rơi mặt trời ). Ðạn: hòn đạn, nghĩa ở đây là mũi tên. Khi vào phủ Thừa tướng nhà Nguyên, có bức trướng thêu hình con chim sẻ đậu trên cành trúc y như thật, quan trạng nhà ta chạy tới định bắt, mọi người cười ồ chế diễu, ông bình tỉnh, vừa xé bức trướng đi, vừa nói là, mình chỉ thấy người ta vẽ cành mai với chim sẻ, chứ ai đời vẽ chim sẻ đậu trên cành trúc !? Trúc biểu tượng quân tử. Chim sẻ tượng trưng tiểu nhân. Tại sao tiểu nhân lại trên quân tử, e là đạo tiểu nhân mạnh, đạo quân tử yếu, vì thánh triều mà ta phải trừ đi. Dù biết là gượng gạo nhưng người nhà Nguyên cũng “chịu” cái lý của ông ta. Một lần đi dạo với phái bộ nhà Nguyên, qua cầu bị sa hố, để đùa vui,một người họ ra câu đối:
“Can mộc, hoành cừ, lục giả tương như tư đạo”
( Gỗ thẳng, cầu ngay, đường đi ngỡ là đất thẳng ).
Khó câu nầy ở chỗ, người ra đối dùng toàn tên người nổi tiêng ghép lại: can mộc là Ðoàn can Mộc đời Chiến quốc; hoành cừ là hiệu của Trương Tải, một triết gia thời Bắc Tống; Lục Giả là một lý luận gia giúp Hán cao tổ; tương như là Lạn tương Như, người nước Triệu, thời Chiến quốc; tự đạo là Giả tự Ðạo, người nước Tống. Ðang khi đó, ông nhìn thấy cái đình dưới chân núbên sông, ông Mạc đỉnh Chi nghĩ ra và đáp ngay:
“Ðại đình, an thạch vọng chi nghiễm nhược Thai sơn”
( Ðình to, đá vững, nhác trông như thể Thiên thai ). Ðại đình là biệt hiệu của Thần nông. An thạch là Vương an Thạch, Tể tướng và nhà thơ nổi tiếng thời bắc Tống. Vọng chí làm Phụ chính cho Hán nguyên đế. “Nghiễm nhược” và “Thai sơn” chưa ai tìm ra là ai.
Nói làm sao cho hết, viết làm sao cho đủ một kho tàng văn chương của cha ông để lại. Người viết chỉ dám xin hầu quý độc giả chút chút chừng đó, mong “mua vui cũng được một vài trống canh” cũng là mãn nguyện rồi. Ðiều quan trọng, “văn hóa là những gì còn lại sau khi đã mất” như Giám mục Bromley Oxnam nói “Culture is what is left after everything we have learned has been forgotten”. Viết lại một phần nhỏ nhoi mà dẫu có muốn lớn đi nữa cũng không đủ tài, không đủ sức để bà con thường lãm một chút thảnh thơi nỗi cơ cầu cuộc sống như theo lời chúc Tết ngày xưa của cụ Nguyễn công Trứ lúc còn thanh bần, rằng :
“Chiều Ba Mươi nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng Mùng Một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà”.
Hoặc như nhà văn Khái Hưng trong “Tự lực Văn đoàn” cuối năm phải chắc lưởi than thân “Tết tiết túng tiền tiêu, tính toán toan tìm tay tử tế” mà làm sao cho mùa Xuân tràn trề khắp đất trời và lòng người “bách hoa tề phóng, bách gia tranh minh” ( trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng ). Bây giờ là mùa Thu, một mùa Thu nữa đi qua đời lưu vong. Cây đổi màu lá, màu lá vàng vàng, đo đỏ, xanh xanh nhuộm buồn tha thiết như không vui chút nào nỗi đau trơ trụi mùa Ðông gió lạnh, tuyết rơi, đìu hiu...sắp đến nơi rồi. Nhưng sao đi nữa, mùa Thu ở đây thành phố Kansas City, Missouri nó buồn cũng lắm mà đẹp thì cũng lắm. Gió heo hút từng cơn nhè nhẹ gợn mây xám bay lững lờ giữa không gian mịt mùng lá vàng óng ánh phầt phơ, dập dìu, đìu hiu...dễ làm tê tái tâm hồn ngưòi cô lữ tha huơng! Cũng may, chúng ta còn bạn còn bè, còn vợ còn con, còn báo, còn đài tv, radio...và còn sinh hoạt cộng đồng người Việt nói tiếng Việt mà không bị khô héo, buồn, tức tưởi... Cám ơn Trời. Cám ơn người. Ðời còn đáng sống./.
Kansas City, Missouri , ngày 21 tháng 9 năm 2011
NGUYỄN THỪA BÌNH

Một thời con gái

Qua khung cửa sổ, mặt trời mới ló lên khỏi ngọn đồi phía xa. Những vạt nắng vàng nhẹ như tơ, dịu dàng như thì thầm với hoa, với lá rồi êm ả lướt nhẹ, mỉm cười với những cảnh vật nắng đi qua. Sau những tháng đông lạnh giá, qua vài cơn mưa xuân, trời đất như chuyển mình. Những đồi cỏ úa như được thay áo mới, đổi sang màu xanh mướt cỏ non. Cây cối bắt đầu đâm chồi, nảy lộc và những nụ trên cành đã chúm chím nở hoa.
Khuê vươn vai, nhìn sang ông chồng vẫn còn ngủ say, tiếng ngáy đều đều, mệt nhọc. Khuê chợt mỉm cười nhớ lại hồi mới lấy nhau nàng thường trêu chọc Thiên, ví tiếng ngáy cuả chàng như tiếng đàn Violin du dương trầm bổng. Cây đàn đã chuyển thành xưởng cưa gỗ hồi nào Khuê chẳng rõ và bây giờ những cỗ máy cưa già thỉnh thoảng lại lọc sọc như sắp rớt bù loong!
Sống với nhau gần bốn mươi năm, đã có ba mặt con, một bầy cháu nội ngoại ríu rít. Khuê đã ngoài sáu mươi và Thiên đã quá tuổi cổ lai hi còn gì.
Không dám động mạnh sợ phá giấc ngủ của chàng, Khuê rón rén bước ra khỏi phòng. Khuê ngồi lọt thỏm trong chiếc ghế mây ở vườn sau, hai tay ủ tách cà phê nóng. Buổi sáng thật êm đềm, đồi cỏ mênh mông, những đường cong của sườn đồi uốn lượn nhẹ nhàng in trên bầu trời xanh trong, những cụm mây trắng nhẹ như bông lững lờ trôi làm hồn Khuê chơi vơi trở về những ngày tháng cũ, nhớ lại hình ảnh Đồi Cù và Thung Lũng Tình Yêu của Đà Lạt xa xưa. Ngày đó nàng yêu Đà Lạt vô cùng, cứ đợi đến dịp nghỉ hè là lên thành phố thần tiên ấy. Ngày ngày lang thang trong rừng thông nghe tiếng reo vi vu. Lăn mình trên những thảm cỏ xanh, tắm mình trong nắng. Buổi chiều dạo quanh bờ hồ rồi thả bộ dọc theo những con đường nhỏ hai bên bao bọc bởi những ngôi biệt thự kiến trúc kiểu tây phương, ẩn mình sau những vườn hoa đẹp đẽ đủ màu. Những đêm khuya Khuê đứng tựa vào thành lan can ngoài ban công, đắm chìm trong ánh trăng lung linh huyền ảo, nhìn xuống con đường dốc dưới kia để mơ chàng Hoàng Tử. Juliet chờ đợi Romeo.
Ngày ấy, những người con gái vẫn còn rụt rè, e lệ trước người khác phái và phạm vi giao thiệp chỉ trong vòng những quen biết họ hàng, hoặc cùng lắm là bạn của anh hay anh của bạn. Người thiếu nữ chỉ được quyền chọn lựa trong số những người đã chọn mình, hiếm hoi lắm mới có người dám phá luật làm kẻ tiến trước trong cuộc tình lứa đôi. Tuổi dậy thì Khuê cũng mơ một hình bóng, tưởng đến người trong mộng và mong tìm thần tượng để tôn thờ. Thả hồn theo mây, theo gió không biết người ấy đang ở đâu. Nghe những chuyện mối mai nàng hờ hững, nàng muốn được nếm mùi vị của tình yêu và kết duyên với người vì yêu nàng mà tới.
Ngày mới đậu tú tài hai, các bạn tổ chức ăn khao ở nhà Khuê, nàng đã nhận được một bó hồng nhung từ một giáo sư, anh họ của Mai Trâm, bạn cùng lớp. Chàng không dạy Trưng Vương nhưng được Trâm nhờ xem điểm giùm cho cả nhóm vì chàng có chân trong ban giám khảo kỳ thi đó. Bó hoa đỏ thắm đầu đời kèm một dòng chữ nắn nót trang trọng: “Mong cuộc vui hôm nay của Khuê chỉ là mở đầu của những ngày vui bất tận”.
Tuổi mười tám, lòng rưng rưng, hồn chao đảo… Khuê nhớ lại hôm thi Triết, ông thầy coi thi cứ nhìn mình đăm đăm rồi tủm tỉm cười và cuối giờ khi nộp bài chàng đã tự giới thiệu là Thiên, anh của Mai Trâm. Đầu óc còn rối bù vì bài vở, Khuê không tâm trí nào nghĩ ngợi lôi thôi và hôm nay, bó hoa và những lời nửa vời làm lòng nàng xao xuyến.
Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò, các bạn cuả Khuê rúc rích trêu cợt, bông đùa. Thiên cũng vui vui, lòng lâng lâng khi nghĩ đến cô bé học trò mà lần đầu tiên đã thấy quyến luyến, nhưng với khoảng cách tuổi tác quá xa, chênh nhau mười hai tuổi, chàng không khỏi ngại ngùng. Chàng đã lái xe qua nhà Khuê nhiều lần mà rụt rè không dám nhấn chuông cửa. Thẫn thờ sang nhà người bạn gần đấy ngồi chơi rồi lại đi ngang và cuối cùng cũng chỉ dám ghé vào quán ăn xế cửa nhà nàng ngồi nhìn vọng lên sân thượng trên cao mà tưởng nhớ. Cứ như thế thời gian trôi… Khuê thi đậu vào trường Dược, vui với khung cảnh mới, lại tung tăng chân sáo. Tuổi trẻ dễ nhớ, mau quên và hình ảnh anh giáo phai mờ dần trong ký ức.
Tuổi sinh viên hoa mộng, quanh năm ngoài giờ đến giảng đường và những giờ đi làm thực tập, các nàng con gái vẫn rong chơi, vẫn rủ nhau lang thang bát phố, lái xe chầm chậm trên những con đường đẹp như Tú Xương, Lê Qúy Đôn hoặc những con đường ngập lá me bay như Trần Quý Cáp. Chiều mát tung tăng bơi lội ở hồ bơi hoặc đến nhà nhau ngồi tâm sự vụn. Kể cho nhau chuyện chàng nọ, chàng kia… Để rồi đến mùa thi vùi đầu vào sách vở, đóng cửa học đến xanh xao, vàng vọt, nhan sắc tả tơi.
Khuê là chị lớn trong một gia đình đông anh em, đặc biệt là có một bầy con gái. Cha mẹ Khuê còn trẻ nên gần gũi các con và đầu óc không thủ cựu. Mẹ lo chăn dắt, dạy bảo con gái về công dung ngôn hạnh, không tiếc tiền sắm sửa dụng cụ bếp núc để các con tha hồ tập tành nấu nướng, vẽ vời bánh trái. Phòng khách lúc nào cũng gọn ghẽ với chiếc đèn chùm trên trần toả ánh sáng ấm áp, bộ ghế sa lông bọc vải đỏ sẫm, một bộ máy quay đĩa và chiếc máy cassette ngay góc phòng, trên bức tường màu xanh ngọc mấy con hạc trắng múa lượn trên nền đen của bức tranh sơn mài lớn… Sau khi đã vào đại học, cha mẹ Khuê không cấm các con có bạn trai nhưng phải mời về nhà đàng hoàng và tuyệt đối không được hẹn hò lén lút. Buổi tối mẹ thường chui vào giường các con thủ thỉ tâm tình, nhắc nhở con không được đi đâu chỉ có hai người và không được đến nơi vắng vẻ!
Một lần tưởng như là đã gặp tình yêu. Khuê tình cờ gặp Hiếu ở chợ hoa và mùng hai tết Hiếu xuất hiện ở ngưỡng cửa với phong bao đỏ lì xì. Khuê đã xiêu lòng vì giọng nói Bắc Kỳ, ánh mắt tha thiết và những cử chỉ ngọt ngào của Hiếu. Tưởng như bơi lội trong vùng trời bát ngát yêu thương. Khuê từ chối hết những người giới thiệu, những người tìm đến làm quen và lạnh lùng với những cơ hội mà dưới mắt mẹ đó là những bến bờ hạnh phúc. Khuê tưởng như mình đã gặp đối tượng, nhưng người ấy đã không hiểu những trân quý Khuê dành cho chàng và có những điều xảy ra khiến Khuê nhìn lại để thấy rằng Hiếu không phải là người nàng đang tìm kiếm… rồi một “Đêm Màu Hồng” của sinh nhật hai mươi bốn, tiếng hát nỉ non của Thái Thanh với “ Nghìn Trùng Xa Cách”, Khuê đã quyết định chấm dứt. Thần tượng rớt xuống thật bẽ bàng. Thật ra cũng chẳng có gì để trách Hiếu, hai người chỉ ngồi chuyện trò trong phòng khách, chưa một lần sàm sỡ, ngay cả chưa một lần nắm lấy tay nhau. Tuổi trẻ ngây thơ, mơ mộng khiến nàng đã ngu ngơ cảm động trước những lời nói ngọt ngào, ánh mắt thiết tha, cử chỉ trìu mến mà nàng tưởng chỉ dành cho riêng mình. Sự thật đã không như Khuê nghĩ. Mới đầu bạn bè đưa chuyện đến tai sau đó những chứng cớ khám phá của chính nàng khiến Khuê càng thêm cương quyết tránh thật xa.
Khuê đang ở cuối năm thứ tư, còn hơn năm nữa là ra trường, bài vở chất chồng khiến Khuê mệt nhoài. Thỉnh thoảng gặp Hiếu ở hồ bơi, vẫn nói chuyện nhưng với tâm trạng khác. Khuê tự soi lòng mình thấy tâm hồn thật thanh thản. Khó và khổ ở giai đoạn lửng lơ. Giờ đây quyết định rồi thì coi nhau như bạn. Các bạn bè cũng ngạc nhiên về sự dứt khoát, minh bạch của Khuê và lại tiếp tục đùa giỡn: "Thôi, bây giờ mày bằng lòng làm chị của tao đi…”
Những buổi tiệc tất niên trường Y, trường Dược, cũng có những cái đuôi theo Khuê. Vài lần đi phù dâu cũng có chàng phù rể theo sau bén gót. Sao lòng nàng dửng dưng không mảy may rung động. Nàng Dược, chàng Y, đẹp đôi qúa còn muốn gì nữa. Khuê tự hỏi mình tại sao và nàng cũng không hiểu nổi chính nàng. Có thể ánh mắt chưa đủ đắm say. Có thể người đó tự tin quá, coi như chấm ai thì cô nàng đó trúng số. Có thể những lối tán tỉnh không hợp với Khuê, không có sự nâng niu, trân quý. Có thể những đối tượng đó chưa đúng hình ảnh chàng của nàng. Chưa đúng con người của định mệnh.
Các bà mối cũng mon men đến với mẹ Khuê nhưng lại kể thêm là chủ tiệm vàng nọ, chủ hãng xuất nhập cảng kia ra giá hễ được chàng rể bác sĩ thì hồi môn vài triệu và nhà cửa, xe pháo, phòng mạch… nhạc gia sẽ lo hết. Khuê phì cười và nói với mẹ rằng cho các chàng đó đi mà ẵm của hồi môn. Những cuộc hôn nhân cân đo, đong đếm như vậy liệu có bền vững không!
Một buổi chiều thứ Bảy sau tuần lễ thi thực tập, Khuê đến đón Trâm đi dạo phố. Dù hai người hai phân khoa khác nhau nhưng Khuê và Trâm vẫn thân như hồi trung học.
- Anh Thiên hỏi thăm mi hoài.
-?
- Anh bị động viên, đi lính mấy năm, mới được biệt phái đi dạy học lại.
- Vậy à.
Chợt mưa ào xuống, mưa rào của miền Nam, mưa nặng hạt.
- Nhà anh Thiên ở đây này, mi dám vào không?
Bản tính ương ngạnh của con bé cứng đầu:
- Dám? Sao không dám!
Thiên không ngờ hai cô gái ướt lướt thướt xuất hiện ngay ngưỡng cửa, vội lấy khăn cho các nàng lau tóc và châm lại bình trà.
- Chiều thứ Bảy anh không đi chơi à? Trâm hỏi.
- Anh đang sửa soạn bài vở vì sắp nhận dạy thêm ở một trường tư. Cô Khuê bao giờ mở tiệm thuốc đây?
Trời ơi, lại cái giọng Bắc Kỳ nhưng hình như giọng chàng mạnh mẽ hơn, trầm ấm hơn. Khuê vân vê tà áo:
- Thưa anh, em còn hơn năm nữa mới ra trường. Anh vẫn khoẻ?
Đã lâu không gặp, có thể sau mấy năm chàng đi lính, có thể cặp mắt của thiếu nữ hăm bốn nhìn khác cái nhìn của con bé mười tám, chàng trông rắn giỏi, mạnh mẽ, đầy nam tính và… không thấy già.
Trời càng lúc càng mưa nặng hạt hơn như giữ chân hai người con gái. Lối nói chuyện ngọt ngào và thật thà như đếm. Có những chuyện không ai khảo lại cứ ngồi mà khai. Khuê ngồi trầm ngâm mặc cho hai anh em Trâm chuyện trò. Rồi trời cũng quang, mây cũng tạnh, cũng đến lúc phải ra về.
- Cô Khuê cho phép tôi thỉnh thoảng ghé thăm được không?
Ngay chiều hôm sau chàng đã quần áo tề chỉnh bấm chuông cửa với bó hoa, hộp kẹo và một túi nhỏ có mấy cục xí mụi. Hoa cho chị, kẹo cho các em và xí mụi để nhắc cô học trò dám ngang nhiên nhấm nháp ô mai trong phòng thi làm ông thầy chảy nước miếng.
Từ đó gần như mỗi ngày chàng đến, ngày nào cũng có kẹo có bánh. Hoa vừa héo là có hoa tươi cho đến gần ngày thi thì theo thông lệ nàng đóng cửa, toạ thiền.
Không được phép vào nhà, chàng lang thang trước cửa và trên lầu cao nhìn xuống, mỗi ngày chiếc vespa qua lại đôi ba lần. Đêm đến, khi đi ngủ Khuê hỏi cái đình màn: Có phải chàng là nửa kia của ta không?
Vừa thi xong, chưa đợi kết qủa Khuê quăng ngay sách vở lên Đà lạt nghỉ hè. Ngồi một mình bên gốc thông già Khuê băn khoăn tự hỏi lòng mình phải chăng đây thật sự là tình yêu hay chỉ là một sự lấp chỗ trống vắng của con tim khi vừa chấm dứt với Hiếu. Nếu vậy thì quả là bất công cho Thiên. Luẩn quẩn loanh quanh trên đồi vắng và Khuê thấy nhớ Thiên thật nhiều. Mỗi buổi tối ngồi cời than trong chiếc lò sưởi, đầu óc lại mông lung. Có phải chăng hai con sông sẽ nhập lại chung dòng? Có phải vùng ngực bình yên mình chờ đợi? Có phải vòng tay rắn chắc ấy sẽ che chở cho nhau suốt cuộc đời?
Trong khi đó Thiên ra Huế chấm thi. Ngoài giờ làm việc chàng lên núi Ngự Bình, ra bờ sông Hương và lên chuà Thiên Mụ, chỗ nào chàng cũng thấy hình dáng của Khuê, khuôn mặt của Khuê, nỗi nhớ nhung khiến chàng mong ngày chấm thi mau hết để quay về.
Ngày lại ngày, vẫn chỉ ngồi đối diện nhau trong phòng khách nhưng câu chuyện dễ dàng, cởi mở hơn, thân thiện hơn cho đến cái ngày trọng đại của đời Khuê, Thiên đã quỳ xuống ngỏ lời cầu hôn. Nước mắt lăn dài trên má người thiếu nữ. Chuyện tưởng như trong tiểu thuyết đã xảy ra. Khuê không trả lời trực tiếp mà hỏi lại rằng:
- Anh có yêu em thật không? Có suốt đời lo lắng, bao bọc em không?
Từng câu hỏi tiếp theo câu hỏi và cuối cùng hai bàn tay xiết chặt hai bàn tay. Một rung động nhẹ nhàng, một luồng điện êm ả. Thiên kể lại cho Khuê những lao đao từ ngày gặp Khuê. Thiên không thể quên mà không dám lại gần. Những lúc tưởng như sắp mất người yêu lòng chàng quặn đau. Mặc cảm một anh giáo, đi lính ra trường với chức vụ chuẩn uý quèn, Thiên thấy Khuê như thật xa, thật cao tầm tay với.
- Sao hồi đó anh không đến chơi?
- Anh đến để bị đá ra đường à?
- Em tệ vậy sao? Thế sao bây giờ lại đến?
- Ờ như định mệnh đẩy đưa, anh uống thuốc liều, không gì cản trở anh được nữa.
***
- Bà uống thuốc buổi sáng chưa?
Tiếng Thiên lôi Khuê về thực tại.
- Thấy Ông ngủ ngon qúa nên Bà không nỡ đánh thức Ông.
Gọi nhau từ tiếng Anh, Em đến Bố, Mẹ rồi bây giờ quen xưng hô Ông với Bà theo lũ trẻ.
- Trời đẹp quá, Bà mặc thêm áo ấm, mình đi bộ đi!
Trên con đường nhỏ dành cho khách bộ hành, một bên là đồi cỏ xanh một bên là rặng hoa đào, ông già tóc bạc trông còn tráng kiện và lưng còn thẳng, người đàn bà đi bên cạnh dáng đi chậm chạp. Ông khẽ nắm tay bà, tay trong tay vẫn ấm và hai người thong dong, khoan thai đi bên nhau trong buổi sáng muà xuân, nắng vàng đẹp, gió nhẹ hây hây, hoa reo vui, lá reo vui trong không gian thật êm đềm. Tiếng chim ríu rít trên cành, nhìn lên bầu trời xanh trong, nhìn sang khuôn mặt thanh thản của Thiên, Khuê cảm tạ Phật Trời đã cho Khuê một lựa chọn đúng, cho Khuê một nương tựa bình yên suốt cuộc đời. Đỗ DungĐỌC THƠ TRẠCH GẦM
Tôi yêu Trạch Gầm cả Thơ lẫn con Người. Những gì anh viết, chính là niềm đau của một người lính phải tức tưởi buông súng đầu hàng, chính là uất hận của một kẻ phải bỏ nước ra đi sau những năm tháng tù đày và cũng chính là nỗi xót xa đối với đồng đội đã một thời gắn bó với anh. Tôi yêu con người, vì anh thật xứng đáng một cấp chỉ huy, tuy sống dưới chế độ tự do nhưng không bao giờ anh quên những người bạn sống chết với nhau đã nằm xuống hay còn kẹt lại ở quê nhà. Đời binh nghiệp của anh thật khiêm nhượng với vài ba ‘mai vàng’ dừng lại trên vai, nhưng trong lồng ngực của anh, mãi mãi là một trái tim vĩ đại mà anh đã trân trọng dành cho đồng đội đã hy sinh cho màu cờ tổ quốc và những phế nhân còn sống sót dưới chế độ cộng sản. Anh xứng đáng ngửng mặt lên khi nhìn lại những cấp chỉ huy lớn, những ‘vì sao’ đã rụng xuống ‘boong’ tàu của hạm đội Mỹ trước giờ mất nước ! Rồi 34 năm nay họ đã làm được gì cho đồng đội, thương binh, cô nhi quả phụ cũng như cho quê hương và dân tộc ? Và cứ mỗi năm, vẫn áo mũ chỉnh tề nhắc lại chiến công một thời vang bóng. Nhưng có mấy vị nhớ đến thuộc cấp của mình là những người đã hy sinh xương máu để đem lại những huy chương hiển hách trước ngực cũng như những ngôi sao lấp lánh trên cổ áo !

Nhắc đến Trạch Gầm là nói đến con người của tình cảm, luôn nặng tình với quê hương, ray rứt cho cuộc chiến và ấm ức vì đầu hàng…tất cả những trăn trở đó đều chất chứa trong thơ của anh. Đọc thơ Trạch Gầm độc giả nhận ra ngay trong con người anh là một khối tình gắn bó thiết tha với đồng đội, là ân sâu nghĩa nặng đối với bạn bè, là những người đã nằm xuống hay bị lãng quên dưới chế độ cộng sản.

Cách đây hai năm, tôi gặp Trạch Gầm trong một ngày nắng ấm tại quán café Tip-Top trên đường Westminster, Sàigòn nhỏ, Cali. Anh đọc cho nghe bài thơ ‘Lời Trước Nghĩa Trang’. Chưa dứt bốn câu đầu, anh đã bật khóc và làm tôi phải khóc theo trước ngạc nhiên của số thân hữu bạn bè. Thật khó tưởng tượng nổi, hai người đàn ông 65 và 71 tuổi đã khóc như một đứa trẻ khi nhắc đến những người bạn đã nằm xuống. Rồi hình ảnh Trạch Gầm với những giọt nước mắt bên tách càfé vẫn ngày đêm ám ảnh và gây xúc động mỗi khi tôi cầm cuốn Vụn Vặt trong tay.

Những lời thơ viết về tình đồng đội của anh đã kéo ký ức tôi trở lại quảng đời dĩ vãng mà trong thời Mậu Thân 1968, tôi đã sống trọn vẹn với những người lính thuộc trung đội tác chiến tại vùng rừng núi Quảng Đức. Những người bạn nầy đã ra đi nhưng họ vẫn sống mãi bên tôi và phù hộ cho tôi còn sót đến ngày hôm nay. Tôi xin mượn mấy câu thơ của Trạch Gầm để tưởng niệm những người lính đã nằm xuống :

Tao sống đến ngày cuối cùng cuộc chiến
Được cái hơn mầy nhìn thấy đau thương
Đành làm người ngu đổ thừa vận nước
Uổng cả tháng ngày gối đá nằm sương

(Lời trước nghĩa trang)

Cũng từ bài thơ nầy Trạch Gầm gởi đến với những người đã nằm xuống chân dung của anh trong những ngày tháng vô vị nơi quê người

Mầy đã hơn tao vì mầy đã chết
Hưởng chút lễ nghi hưởng chút ân cần
Có được người thân cho lời nuối tiếc
Còn tao bây giờ sống cũng như không

(Lời trước nghĩa trang)

Kỷ niệm để đời với Trạch Gầm là tuyển tập Vụn Vặt, cuốn thơ vừa lấy từ nhà in chưa ráo mực, anh đã biếu tôi và từ ngày đó đến nay tôi vẫn chưa đọc xong. Mỗi lần cầm cuốn thơ lên vừa nghiền ngẫm vài giòng thì tôi bị cuốn vào tâm trạng của tác giả…đau buồn cho vận nước, xót xa vì cuộc chiến và tiếc thương những người bất hạnh, rồi nước mắt tôi cũng xóa mờ những giòng chữ. Đa số thi nhân thường mượn các đề tài tình yêu nam nữ để tìm nguồn cảm hứng sáng tác nhưng trên 100 bài thơ trong tuyển tập Vụn Vặt, Trạch Gầm đã dành gần như đa số bài để nói về những gắn bó về tình huynh đệ, tình cảm của người trai thời chiến và để tưởng niệm đến đồng đội đã ra đi…

Những ai đã sống chết với đồng đội, đã cùng băng rừng lội suối, ngày đêm truy lùng địch thì mới cảm thông được tình thương gắn bó với nhau. Cuộc đời người lính chiến không có gì quý hơn ngoài chiếc ba lô độc nhất trên người, tấm ‘pông-sô’ thay mái ấm gia đình và việc kết nghĩa anh em đồng đội như tình thân ruột thịt. Họ là những người trai thời chinh chiến, hiến dâng cuộc đời cho tổ quốc non sông, thương tật, sống chết không biết sẽ đến bất chợt bao giờ. Đối với họ trên đầu là tổ quốc, trước mặt là kẻ thù, hai bên là đồng đội và sau lưng là chiếc ‘băng-ca’ hay cổ quan tài đang chờ sẵn ! Hãy nghe Trạch Gầm viết về số mệnh :

Một thoáng theo mây rơi dài nước mắt
Khóc nỗi bạn bè…lưu lạc bốn phương
Thằng mất thằng còn - Nổi trôi vận nước
Giọt ngán giọt dài ướt đẫm quê hương

(Vụn Vặt)

Những ai đã qua đoạn đường gian khổ với những lúc hành quân, lội sông, bằng rừng, vượt núi trong rét mướt, trong đói khát, trong gian khổ, ngày đuổi giặc, chiếm mục tiêu, đêm ngủ ngồi ngay tại hố cá nhân để chờ địch thì mới thấm thía được những cảnh :

‘Bi-đông’ nước bùn chia sẻ
Gói mì nhai vội chuyền tay
Chuyển nhau điếu thuốc cháy dở
Sống chết biết giờ nào hay

(Cho nhau, Thơ DinhLamThanh)

Để rồi từ đó những người con yêu quý khắp mọi nẻo đường đất nước đã trở thành anh em ruột thịt một nhà. ‘Pông-sô’cùng ngủ, cơm chung nón sắt, nước một bi-đông, miếng khô chia đôi thì việc đùm bọc sống chết với nhau vẫn là một cái gì thiêng liêng của những người khoác chiếc áo trận.

Em còn chia xẻ cùng anh
Nỗi xót xa tự ngọn ngành đau thương
Vẫy tay giã biệt chiến trường
Một ngày cũng đủ cô đơn suốt đời

(Hỏi)

Đối với bạn bè còn sống, Trach Gầm đã giải bày tâm sự về những năm tháng nơi đất khách quê người :
Mầy hỏi tao bây giờ sống ra sao
Cơm áo tha phương có phải nghẹn ngào
Gần mười năm tù còn in trong trí
Hay…cháy rồi giữa đất rộng trời cao
… Tao gởi về mầy một trang giấy trắng
Thật lao đao mầy cứ tự vẽ vời
Nơi tha phương trăm hội đoàn yêu nước
Tao ngu ngơ…không biết khóc hay cười

(Trả lời)

Rồi những đêm mưa vùng Cali, anh trăn trở như hổ nhớ rừng :
Mầy nhìn mưa mầy nhớ gì không hở ?
Tao nhìn mưa tao cứ mãi nhớ rừng
Rừng của quê hương những ngày khói lửa
Tao, bao năm dài cặm cụi hành quân
Mầy nhìn mưa…mầy nhớ gì không nhỉ
Tao nhìn mưa…Tao nhớ quá bạn bè.

(Từ cơn mưa dài)

Và cái ‘đau’ của anh vẫn vây quanh cuộc sống :
Tao bây giờ không tiềm mua rượu uống
Mà vẫn say…say ngút với nỗi buồn
Nhìn thiên hạ tranh nhau quyền yêu nước
Mấy chục năm ròng - Nước vẫn tang thương !

(Nói với bạn bè)

Mầy có tin không quê hương đã mất
Giữa lúc bọn tao nguyên vẹn hình hài
Đâu thuở quân trường đâu thời huấn nhục
Để nhận lấy ngày khốn nạn hôm nay
Một lũ đàn anh tan hàng cuốn gói
Bỏ mặc bọn tao đứng khóc dưới cờ
Món nợ tang bồng bao giờ trả nổi
Mất cả sơn hà cứ tưởng như mơ
Giờ chẳng dám nhìn ngay vào mắt Mẹ
Cũng chẳng đủ lời tâm sự cùng Cha
Đành đến thăm mày những thằng đã chết
Ngày…quê hương còn lắm nỗi thiết tha

(Lời trước nghĩa trang)

Ít thấy anh đề cập đến tình yêu đôi lứa cũng như những mộng mơ tuổi trẻ, mà nếu có, anh cũng mượn những mối tình vụn vặt để nói về thân phận đau thương đất nước cũng như những mất mát thời chiến tranh :

Anh có mẹ gì đâu mà để tặng
Một món quà sinh nhật cho em
Gặp gỡ thôi…dăm ba lần thất hẹn
Còn nhớ ngày anh còn tỉnh…chưa điên
Là thằng lính cứ rày đây mai đó
Có nhớ thương, cũng đỏ mắt phố phường
Chiếc võng tòn teng ôm đời chinh chiến
Có em vật vờ đở bớt cô đơn

(Quà sinh nhật cho người yêu)

Viết về Trạch Gầm mà không nhắc đến những chữ Đ.M. trong thơ của anh thì thật thiếu sót. Một vài người cho rằng nghe không được êm tai qua hai bài thơ :

Đọc thơ mầy…

Đ. M, tao buồn muốn khóc
Tao chẳng còn là tao, tao chẳng nên người
Mấy chục năm rồi tao lạc lỏng chơi vơi
Dù trước đó
Tao có triệu anh em chung màu áo trận
Tàn cuộc chiến…
Hình hài tao nguyên vẹn
Mười năm tù xem tựa giấc chiêm bao
Tao còn tay còn chân. Còn nỗi tự hào
Chỉ tội cái…mang ước mơ lần lựa
Cứ chờ đọi Ai cho tao nhúm lửa
Nơi tha phương tao hốt toàn tro tàn
Tro bụi từ quá khứ vinh quang
Đến nỗi đầu óc tao ung què, tao chẳng hề hay biết
Đọc thơ mầy
Đ. M. tao buồn muốn chết
Nơi quê hương mầy hào khí ngút trời
Nơi tha phương…
Tao cũng có lắm người
Yêu nước thật thà, thật thà yêu nước
Rắn không đầu, mạnh thằng nào nấy thét
Ngày cứ tàn, đất nước cứ tan thương
Hai chữ tự do sấp ngữa đoạn trường…
Tao ôm chặt lội qua ngày khốn đốn
Mầy cần súng mà tao không có súng
Nỗi nghẹn ngao nầy mới chết mẹ tao

Cám ơn mầy

…Ừ thì cũng dù sao
Nhờ mầy thét Trăm hồn sông núi thức

(Đến cùng Nguyễn Cung Thương)

Những ai đã sống đời quân ngũ, sống chết với đồng đội thì mới cảm nhận hai chữ Đ.M thoát ra từ miệng của người lính. Đối với người Miền Nam, hai chữ nầy không có nghĩa là một câu chưởi thô tục mà trong thân tình giữa bạn bè thường được xử dụng một cách thân thương. Tôi còn nhớ rõ câu nói của một đệ tử cũng như người bạn, người em theo sát tôi trong các cuộc hành quân. Một đêm trong rừng Quãng Đức, anh vén tấm ‘pông-sô’ chui vào hỏi tôi :

- Đ.M. ông thầy húp canh không ?”

Tôi hỏi lại :

- Đ.M. canh gì đó mầy ?”

- Thì Đ.M ! Canh nước mưa với bột ngọt chớ có gì nữa !”

‘Ca’ (ly bằng nhôm của lính) canh nóng thật ngon, chỉ có nước mưa pha với bột ngọt nhưng tôi thấy ấm bụng và cái mặn mà đang chạy vào tim phổi ruột gan, không biết vì bột ngọt hay chữ Đ.M. thân thương nằm trong chén canh của người lính !

Nhưng một trường hợp khác, Trạch Gầm lại xữ dụng hai chữ Đ.M, để chưởi cha bọn cộng

sản. Tôi biết anh không còn ngôn ngữ nào để diễn tả nỗi uất hận trong lòng, dù hai chữ Đ.M. nầy thật đúng nghĩa và hợp thời nhưng vẫn chưa lột hết ý nghĩa để chưởi bọn bán nước cướp của, hại dân hại nước, đem giang sơn bán cho Tàu cộng ! :

Đ.. má, cho tao chưởi mầy một tiếng
Đất của Ông Cha sao mầy cắt cho Tàu
Ngậm phải củ gì mà mầy cứng miệng
Đảng của mầy, chết mẹ… đảng tào lao
Chế độ mầy vài triệu tay cầm súng
Cầm súng làm gì… chẵng lẽ hiếp dân
Tao không tin lính lại hèn đến thế
Lại rụng rời … trước tai ách ngoại xâm
Mầy vỗ ngực. Anh hùng đầy trước ngỏ
Sao cứ luồn, cứ cúi, cứ van xin
Môi liền răng à thì ra vậy đó
Nó cạp mầy, mầy thin thít lặng thinh
Ông Cha mình bốn ngàn năm dựng nước
Một ngàn năm đánh tan tác giặc Tàu
Thân phận mầy cũng là Lê là Nguyễn
Hà cớ gì.... mầy hèn đến thế sao
Chuyện mầy làm Toàn Dân đau như thiến
Mầy chết rồi, tao nghĩ chẵng đất chôn
Hãy tỉnh lại ôm linh hồn sông núi
Cứ đà nầy... chết tiệt còn sướng hơn
Đàn gãy tai trâu.... xem chừng vô ích
Giờ mầy nghe tao chưởi còn hơn không.

(Cho tao chưởi mầy một tiếng)

Tôi tin rằng những độc giả nào đã đọc thơ Trạch Gầm cũng sẽ Yêu Trạch Gầm như tôi vậy.

Paris, Tháng Tư Đen 2009
Nguôn http: www.hvhnvtd.com

==//==

ĐỌC ‘RÁNG CHỊU’ CỦA TRẠCH GẦM


* ĐINH LÂM THANH *

Đối với Trạch Gầm, chỉ có hai cái đáng quý và đáng nhớ trong đời anh : Bạn và Rượu. Hai lãnh vực nầy tuy xa nhưng mà gần, vì uống rượu thì phải có bạn mà gặp bạn thì cần phải có rượu ! Rượu và Bạn được Trạch Gầm trang trọng nhận làm hành trang kể từ lúc anh bước chân vào quân trường Thủ Đức, rồi theo chân anh trên khắp các nẽo đường đất nước. Và cho đến ngày nay, đối với anh, vẫn còn là một cái gì trang trọng và đáng quý nhất đời. Đọc ‘Vụn Vặt’ những người yêu thơ Trạch Gầm sẽ cảm thông được thế nào là ‘tình huynh đệ’ của những ai đã một thời chiến đấu bên nhau, cũng như để tưởng nhớ những chiến hữu đã an nghỉ trong lòng đất hay đang còn lây lất dưới chế độ cộng sản ‘Vụn Vặt’ là những kỷ niệm tình người, được Trạch Gầm dệt thành thơ với lối gieo vần ân tình và giản dị.

Trạch Gầm dùng chữ ‘Vụn Vặt’ làm tựa đề cho tập thơ đầu tay, có lẽ do bản tính khiêm tốn của anh, nhưng tôi cho đó những giòng thơ lớn và chân tình phát xuất từ con tim…vì nó bộc lộ tấm lòng bao la của anh đối với tình yêu quê hương, với bạn bè đồng đội, và cũng trong đó, chính là nỗi uất ức của một người lính đã tức tưởi bỏ súng giữa đường…

Hơn một năm sau anh cho xuất bản tập thơ thứ hai. Lần nầy Trạch Gầm mượn hai chữ ‘Ráng Chịu’ để làm đề tài cho 85 bài thơ và 8 bản nhạc do Quang Lăng, Nguyễn Hữu Tân, Hoa Sông Kiên, Quốc Anh và Yên Ly phổ nhạc. Đặc biệt trong tập thơ nầy, nhiều bài anh viết từ năm 1966 (Tuổi Trẻ Bây Giờ Là Quê Hương), 1970 (Không Đề - Nói Với Người Tình Tuổi Dưới 20 – Viết Từ Lai Khê)…không ngoài mục đích ca ngợi quê hương đất nước, tình yêu thầm kín của tuổi thanh xuân đồng thời nói lên cái thân phận con người trước và sau một cuộc chiến tương tàn.

Ta có một ngày…một ngày ngồi khóc
Ta có một ngày gãy đổ ước mơ
Mười năm lính tưởng đâu là sỏi đá
Ai có ngờ lại ngồi khóc như mưa
… …

Thân lính trận, nhận lịnh gì không nhận
Nhận lịnh đầu hàng…rời rã tai ương
Hồn chinh chiến chỉ còn trơ thân xác
Thân xác không hồn…điếng ngắt cô đơn
… …

Thôi chia tay, mà về đâu đã chứ
Mất hết cả rồi…mất dễ như chơi
Lịch sử sang trang…sang trang lịch sử
Mất cả vinh quang, mất cả ngậm ngùi

Mỗi lần nhắc đến quá khứ anh đều đề cập đến rượu và những người bạn đã một thời cùng chia sẻ sống chết với nhau. Nhưng những ai quen biết đều thấy tội nghiệp cho Trạch Gầm : Rượu lúc nào vẫn còn đó nhưng anh chỉ được phép ngồi nhìn mà thôi :

Xin lỗi mầy, ừ tao xin lỗi
Một giọt bây giờ tao uống không vô
Cái gan tao đã thành gan phá lấu
Mầy không tin, cứ nhậu…ngon ơ !

Bốn câu thơ trên trong bài ‘Ngồi Nhìn Bạn Bè Uống Rượu’ mà Trạch Gầm đã đọc cho tôi nghe lúc anh vừa viết xong, trong một đêm, khi hai đứa nằm dài giữa salon tại nhà ở Anahem. Nghe đọc, tôi không can đảm nhìn vào mắt anh, dù dưới ánh đèn đỏ trên bàn thờ Cụ Bà thân mẫu của anh, tôi vẫn thấy những giọt nước mắt cứ theo lời thơ tuông xuống. Tôi rùng mình và lòng bỗng dưng chùng lại. Những hình ảnh chia sẻ ‘ngụm rượu tình nghĩa’ với đồng đội trong những lúc ngồi chờ giặc dưới giao thông hào đang hiện về trước mắt và làm tôi bật khóc…

Ngày xưa, mầy tới đâu, tao tới đó,
Nhắc lại à…mà nhắc lại làm chi
Mình rượt giặc, giặc rượt mình…tung tóe
Khi quay về lại chan chát…cụng ly
Ly mầy, ly tao, ly cho thằng chết
Thằng chết rồi mình uống thế được sao
Lính bọn mình toàn những tay hào kiệt
Xô lệch trời đất, xô lệch thương đau
Làm quan, nghèo, mình chơi bằng rượu đế
Lại cợt đùa uống nước mắt Quê Hương
Nước mắt Quê Hương, uống sao cho hết
Ngập núi, ngập rừng ngập cả gió sương
Đã chết rồi giờ tao lại muốn sống
Sống để nhìn chung cuộc một trò chơi
Mầy còn sức cứ mình ênh ngồi uống
Ly cuối, dành cho…thân phận ngậm ngùi.

Xong bài thơ, cả hai đều qua một đêm thức trắng trong tố ấm gà trống nuôi con. Chúng tôi không nói gì thêm, yên lặng và buồn cho vận nước, cho số phận con người cũng như cuộc đời nổi trôi của những kẻ tha phương không có ngày về. Rồi những lần gặp gỡ tiếp theo, anh không được phép uống nhưng ngồi nhìn bạn bè nâng ly, có thể cảnh nầy giúp anh sống lại một thời sống chết với bạn bè đồng đội :

Uống đi mầy cứ làm thêm vài chén
Nhớ đừng say, còn nghĩ đến anh em
Những thằng bạn của một thời chinh chiến
Đổi mạng mình…để lấy sự bình yên
… …

Mầy nhắc trước hay là tao kể trước
Mỗi dấu giày mình khép một mùa xuân
Bù Đăng, Phó Bình, Suối Ngô, Xóm Được
Mười ngón tay, cứ mất từng thằng
Rồi giữa đường gãy cánh, bạn bè thất lạc nhau, kẻ vô tù, người ra đi…
Súng trên tay bỏ xuống
Rõ ngu hơn người ngu
Rồi ôm nhau khóc lóc
Còn rủ nhau vô tù…

Hai chữ ‘Ráng Chịu’, có lẽ anh dùng để tự an ủi cái thân phận thiệt thòi của tuổi trẻ trước vận nước đảo điên, trước cuộc chiến khốc liệt hay để vỗ về những người bạn đã nằm xuống, chết gục trong tù, chìm sâu dưới biển hay dở sống dở chết nơi đất khách quê người…rồi hôm nay được gì hay chỉ còn lại những niềm đau bất tận :

Với Quê Hương, ta một đời ráng chịu
Người thương ta rồi…cũng ráng chịu theo
Lỡ yêu tính năm vài tuần…níu kéo
Chụp giựt không bằng mà vẫn cứ yêu
……

Ta vào lính, bài học đầu ráng chịu
Cứ thi hành, muốn khiếu nại, làm sau
Mỗi một mạng…đổi đuợc vài ba phút
Chiến trường đau, ngập lút, lút cả đầu
……

Cứ ráng chịu. Tin có ngày mai đẹp
Bỏ nụ cười người vào túi rong chơi
Ta xin cả những gì người thua thiệt
…đốt từng trang. Thắp sáng lại cuộc đời
Trang nhật ký người lại thêm nước mắt
Ráng chịu te tua, ráng chịu tận cùng
Bọn ta sống, sao Quê Hương lại mất
Xót xa nầy…còn ráng chịu nổi không
… …

Và ‘Ráng Chịu’ cũng có thể là một nuối tiếc những gì mà con tim thời loạn hằng ước mơ nhưng phải buộc lòng giã vờ làm kẻ ngây-thơ-vô-tình để chấp nhận khoác lên vai món nợ núi sông ! Rồi quả đất tròn, ước mơ trở về nhưng cuộc đời đã rẽ làm đôi, đầu tóc đổi màu…thôi thì đành ‘ráng chịu’ !

Hồi mới quen
Em bảo ta đừng bao giờ xin lỗi
Cắm đầu yêu thì làm gì nên tội…
Một trăm năm có rảnh phút nào đâu
Ta hẹn lung tung, hẹn lần hẹn lữa
Đời ta xuôi ta có lắm bạn bè
Những thằng bạn chia cả trời khói lửa
Chân đạp mòn cả vạn sơn khê…
Có lẽ vì thế mà anh đã vuột mất tình yêu…Cho đến một ngày :
Đêm ngồi nghe em hát
Rối bời sương Cali
Tóc thời gian bạc trắng
Em mang buồn…giấu đi
… …

Cứ hờn anh em nhé
Bằng gợi nhớ đau thương
Anh xa rời cuộc chiến
Như…một chuyện hoang đường
Rồi Trạch Gầm đành phải thú nhận :
Anh kể em nghe tháng ngày phiêu bạt
Đốt đuốc quạnh hiu, tìm kiếm mỏi mòn
Phân nửa mặn nồng lạc từ ký ức
Tặng cho cuộc đời…vượt suối trèo non
Cuộc sống nơi quê người và nguồn yêu thương duy nhất của anh, bây giờ chính là :
Sáng vào trường…
Con ăn hamburger, hot dog
Chiều về nhà…
Con ăn rau luộc chấm tương
Ngồi cùng cha, con ngồi tận Quê Hương
Việt Nam mình…
Một ngày bỏ đi, một đời thương nhớ
Đất Mỹ tư do, cửa đời rộng mở
Con muốn hụt hơi…
Chạy tìm kiếm tương lai
Con đủ khôn ngoan, ôm trọn tháng ngày
Như lòng con…
Vẽ vời trăm điều mơ ước
Rau luộc chấm tương
Cha mong con còn nhớ được
Con có một đoạn đời…
Rất nghiệt ngã, rất đau thương
Đầu óc chết khô
Lúc con đứng giữa thiên đường
Cái thiên đường tối thui của bọn người cộng sản
Con đủ kiến thức chưa,
Hãy soi gương thân phận
Đổi được màu da không đổi được tâm hồn
Cũng thời gian nầy, con cười
Nhưng tại Quê Hương,
Việt Nam mình, bằng tuổi con…
Có triệu người đang khóc
Cha không giải bày, nhưng con hiểu được
Ai bạn, ai thù, ai mở cửa lầm than
Tại sao cha con mình…
Thành những kẻ lưu vong

Xếp tập thơ lại vì cảm thấy đôi mắt hơi cay. Trước mắt tôi, Trạch Gầm với cái điếu cày mà giờ đây anh xem như bình rượu để an ủi trong những ngày còn lại. Đặt ‘Ráng Chịu’ lên ngực và cố dỗ giấc ngủ nhưng những lời thơ của anh vẫn ám ảnh tôi như muôn ngàn tiếng thở dài của người lính bị buộc phải buông súng giữa đường một cách nhục nhã.

Đinh Lâm Thanh
Paris, 14.01.20101.
Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ
1.Niềm vui ở Việt Nam và nỗi buồn ở nước Mĩ
Tháng tư lịch mặt trời, vẫn còn tiết xuân. Tán lá cây cơm nguội non xanh mướt dọc phố Quang Trung, Hà Nội làm xao xuyến cả mắt nhìn và rạo rực lòng người đi dưới tán cây. Hàng chò chỉ đường Nguyễn Bỉnh Khiêm cạnh Sở Thú Sài Gòn, thả những bông hoa có hai cánh xoay tít trong gió, bay la đà trên phố. Tôi rời sân bay Tân Sơn Nhất sát ngày ba mươi tháng tư khi cả nước rực màu đỏ của cờ, của khẩu hiệu, của affiche. Một cảnh sắc chính trị nhân tạo, sôi sục, nồng nực, chộn rộn, lấn át, khuấy động cả thiên nhiên thanh bình, êm ả!
Tôi đến nước Mĩ khi những cây anh đào chân đồi tượng Nữ thần Tự do ở cửa biển New York, những cây anh đào lẻ loi ở Philadelphia, hàng anh đào bên bờ sông Potomac giữa thủ đô Washington DC đang khoe sắc rực rỡ, trắng như hoa mơ chùa Hương, trắng như hoa mận Cao Bằng, tím hồng như hoa ban Điện Biên Phủ. Thời tiết ở New York phía Bắc nước Mĩ, thời tiết ở Dalas Fort Worth phía Nam nước Mĩ cũng se lạnh như tiết xuân ở Việt Nam. Lạnh vừa đủ để khoác thêm chiếc áo ấm khi bước ra khỏi nhà. Nhìn hoa anh đào nước Mĩ, tôi cứ bâng khuâng nhớ hoa mận, hoa ban quê nhà. Thiên nhiên ở đâu cũng thật thanh bình, êm ả.
Dù ngồi trong ô tô trên đường cao tốc giữa những làn ô tô nhấp nhô, cuồn cuộn như một dòng sông mải miết ruổi sóng, xe chạy với tốc độ 70 miles giờ (mile bằng 1,6 kilomet, 70 miles là 116 kilomet) suốt năm, sáu giờ tôi không thấy bóng một cảnh sát giao thông. Dù đi bộ trên đường phố New York, một bên là siêu thị, nhà hàng tấp nập người vào ra, một bên là dòng chuyển động bất tận của lớp lớp ô tô nối đuôi nhau, tôi không nghe thấy một tiếng ồn, không một tiếng động cơ ô tô, không một tiếng còi. Cuộc sống cuồn cuộn, hối hả trong tĩnh lặng, tuần tự của một xã hội được tổ chức chặt chẽ và đã có nề nếp.
Thời tiết mùa xuân, sắc hoa mùa xuân và nhịp sống náo nức mùa xuân cho tôi cảm giác bình yên, thanh thản. Nhưng một buổi chiều đến ăn cơm ở nhà hàng Việt Nam trong khu thương mại Eden của người Việt ở thị trấn Fall Church ngoại ô Washington DC, tôi lại gặp không khí chính trị nhân tạo sôi sục ở Việt Nam!
Ngày ba mươi tháng tư, ngày kết thúc cuộc chiến tranh được một phía gọi là chống Mĩ cứu nước nhưng thực chất là cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam. Ngày ba mươi tháng tư lại đến! Cả nước Việt Nam lại rầm rộ, ồn ào, hoan hỉ mừng chiến thắng thì ở thị trấn tĩnh lặng ngoại ô thủ đô Washington nước Mĩ, những người Việt Nam ở phía chiến bại phải tha hương lại ngậm ngùi làm lễ tưởng niệm những đồng đội cùng chiến hào đã bỏ mạng trong cuộc chiến tương tàn đó! Tôi lại nhớ đến câu của người lãnh đạo nhà nước Việt Nam cộng sản, cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt: Ngày ba mươi tháng tư có một triệu người vui thì cũng có một triệu người buồn! Nhưng đâu phải chỉ có những người ở phía chiến bại mới có Nỗi – buồn – ba – mươi – tháng – tư! Mĩ đổ quân vào miền Nam Việt Nam làm cho cuộc chiến tranh có sức giục giã, thôi thúc rất lớn đối với tuổi trẻ miền Bắc. Người con trai duy nhất của Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng Lê Quý Quỳnh tình nguyện nhập ngũ ra ngay mặt trận và anh đã hi sinh ở mặt trận Tây Nguyên. Ngày cả nước tưng bừng mừng chiến thắng ba mươi tháng tư, người mẹ liệt sĩ ấy nhìn pháo hoa sáng rực trời lại nhớ đến nỗi đau mất đứa con trai duy nhất, bà đã ngất xỉu rồi ít ngày sau bà cũng đi theo con trai! Những người từng trải và mẫn cảm đều hiểu rằng ngày ba mươi tháng tư chỉ có niềm vui ở cờ, hoa, ở khẩu hiệu, ở không khí chính trị nhân tạo! Còn nỗi buồn lặn vào từng gia đình, lặn vào từng số phận đã đi qua cuộc chiến tương tàn! Với những người phải tức tưởi bỏ nước ra đi vì sự kiện ba mươi tháng tư đó thì nỗi buồn còn lớn lao, sâu xa đến thế nào! Tôi đã đi từ niềm vui của những lá cờ rợp trên dải đất Việt Nam đến nỗi buồn thăm thẳm lắng sâu ở tận nước Mĩ!
2. Buổi sáng ở Philadelphia
Dặm đường nước Mĩ cho tôi nhận ra rằng, so với nhiều nước trên thế giới, lịch sử hơn hai trăm năm dựng nước của người Mĩ còn quá mỏng và nước Mĩ mênh mông nhưng thiên nhiên khá đơn điệu! Vì thế người Mĩ rất chăm chút giữ gìn, nâng niu lịch sử. Thời gian lịch sử không dày thì người Mĩ gom góp, vun đắp cho không gian lịch sử dày dặn lên. Từng con người lịch sử, từng sự kiện lịch sử đều có chỗ đứng trong không gian, có mặt trong thời gian và làm nên sự thăm thẳm của đời sống tâm linh nước Mĩ. Tạo hóa không sáng tạo cho nước Mĩ mênh mông nhiều cảnh sắc thiên nhiên kì diệu thì người Mĩ thay tạo hóa sáng tạo ra sự kì diệu đó. Bằng tài năng, trí tuệ và niềm tự hào Mĩ, người Mĩ đã sáng tạo nên sự lung linh, hoành tráng của thiên nhiên thứ hai, bổ khuyết cho sự đơn điệu của thiên nhiên thứ nhất do đất trời tạo ra.
Trung tâm chính trị ở thủ đô Washington DC bên dòng sông Potomac trong xanh như một công viên mênh mông mà dòng sông hiền hòa, thảm cỏ và rừng cây là chủ thể. Nhà Quốc hội trên đồi Capiton, nhà Trắng giữa cây xanh và những tòa nhà giầu tính nghệ thuật như tòa nhà bộ Tài chính là những tác phẩm kiến trúc điểm xuyết vào màu xanh thiên nhiên. Trong bát ngát cây xanh đó là đài tưởng niệm Washington, đài tưởng niệm Jefferson, đài tưởng niệm Lincohn, đài tưởng niệm Theodor Roosevelt, đài tưởng niệm Franklin Roosevelt, đài tưởng niệm Martin Lutherking, đài tưởng niệm Lindon B. Johnson... Tất cả những cung điện, đền đài của lịch sử, của chính trị thủ đô nước Mĩ như đều soi bóng xuống dòng sông Potomac trong xanh.
Đi trên cầu Arlington nhìn xuống mặt sông Potomac lấp lánh nắng như một mặt gương, nhìn khối nhà xám năm góc đồ sộ im lìm cạnh sông, tôi cứ ngậm ngùi nhớ đến một lương tri nước Mĩ, anh Norman Morison và tôi lại nhớ đến câu hát mà ca sĩ lừng danh Trần Khánh hát ngày nào: Hoa Thịnh Đốn chiều nay bỗng bùng lên cháy đỏ / Cháy từ thân thể anh Morison... Morison đã đến bên sông Potomac trước cổng tòa nhà Năm góc đốt mình lên thành ngọn đuốc phản đối chính phủ Mĩ tiến hành cuộc chiến tranh Việt Nam. Phản đối cuộc chiến tranh mang chết chóc, tai họa cho nước Mĩ, ngọn lửa Morison là ngọn lửa của lương tri nước Mĩ, của lịch sử nước Mĩ mà nơi ngọn lửa ấy cháy lên không có một dấu ấn ghi nhận! Hay có mà tôi không biết?
Cánh rừng rộng lớn phía bên trái dòng sông Potomac là khu tưởng niệm ba cuộc chiến tranh thế giới mà nước Mĩ đã tham chiến: Chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến tranh Korea. Chiến tranh Việt Nam. Khu tưởng niệm chiến tranh Việt Nam rộng lớn nhất, nội dung phong phú nhất và cũng gợi nhiều suy nghĩ bùi ngùi nhất. Tên tuổi hơn năm mươi tám ngàn lính Mĩ chết trong cuộc chiến tranh Việt Nam được khắc chìm trên tấm bia đá hoa cương đen nguyên khối dài 75 mét, cao hơn hai mét và được in trong tập sách dày đặt trên giá bên lối đi, trước tấm bia. Mặt trước tấm bia đá là tên những người lính xấu số. Mặt sau bia là gò đất dài xanh mướt cỏ mùa xuân như một nấm mồ lớn. Những trang sách ghi tên người lính Mĩ chết trận ở Việt Nam dù được bọc nilông cũng đã nhàu nhĩ, sờn cong vì đã có hàng triệu lượt người lật giở tìm tên người thân. Tên những người lính Mĩ khắc trên bia đá kia, in trong tập sách dày kia còn mãi với thời gian, còn mãi với lịch sử nước Mĩ, còn mãi trong lòng nước Mĩ, còn mãi trong tình yêu của lớp lớp thế hệ con cháu họ. Nhiều người xương cốt còn nằm lại đâu đó trong lòng đất Việt Nam nhưng tên của họ đã trở về khắc vào lòng nước Mĩ.
Tôi có người cậu ruột, em trai thứ ba của mẹ tôi, là bộ đội Vệ Quốc Đoàn đã hi sinh trong kháng chiến chống Pháp, cậu Nguyễn Bá Thứ. Bà ngoại tôi đã nhận được tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi nhưng đến những trận bom đánh phá miền Bắc của không quân Mĩ, bà ngoại tôi phải rời thành phố đi sơ tán. Thành phố có ngôi nhà của bà ngoại tôi bị đánh bom. Tấm bằng Tổ Quốc Ghi Công ghi tên cậu tôi không còn nữa! Đến nay nắm xương tàn của cậu tôi không biết vùi ở nơi đâu và cũng không có tấm bia nào ghi tên cậu! Cậu Thứ ơi, thôi cháu đành ghi tên cậu trong bài viết về tấm bia liệt sĩ cũa nước Mĩ vậy!
Tên thành phố Philadelphia của nước Mĩ cũng giống như tên vùng đất Lâm Thao, Phú Thọ của Việt Nam vì Philadelphia chính là thủ đô dựng nước của nước Mĩ giống như Lâm Thao là thủ đô dựng nước của Việt Nam. Thủ đô thời dựng nước của Việt Nam nay chỉ còn ngôi đền thờ Vua Hùng quanh năm hương khói, chỉ còn truyền thuyết về chín mươi chín ngọn núi là đàn voi chín mươi chín con chầu về đền Hùng. Chỉ có chín mươi chín con voi thôi vì một con quay đi hướng khác có ý phản nghịch liền bị Vua Hùng chém đầu, nay máu voi còn chảy là dòng suối ở chân núi! Chỉ còn cái tên Thậm Thình của một làng quê bên đền Hùng, nơi có tiếng chày thậm thình giã gạo từ thời Vua Hùng. Tiếng chày giã gạo của Lang Liêu làm bánh chưng, bánh dày dâng lên Vua Hùng. Ở Philadelphia còn cả không gian lịch sử, còn cả không khí lịch sử, hơi thở lịch sử, còn cả viên gạch đỏ, phiến đá xanh mang hơi ấm lịch sử thời dựng lên nước Mĩ.
Không gian lịch sử là tòa nhà chính quyền bang Pennsylvania được xây dựng từ năm 1732, đến năm 1776 sôi động trở thành nhà làm việc của năm thành viên trong hội đồng soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập của nước Mĩ và ngày 6.7.1776, George Washington, một trong năm thành viên đó đã đứng trên vỉa hè trước tòa nhà hướng ra dân chúng đông đúc trên bãi cỏ rộng bên kia đường đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Mĩ. Ba năm sau, Washington được người dân bầu làm Tổng thống Mĩ đầu tiên. Tòa nhà lịch sử được xây bằng những viên gạch đỏ từ năm 1732 nay vẫn đỏ thắm giữa ngàn xanh cổ thụ và được gọi là dinh Độc lập, Independence hall. Nay Washington vẫn đứng nơi ông đã đi vào lịch sử, không lễ đài chót vót, không khoảng cách với người dân, tượng đồng Washington đứng ngay trên hè đường trước dinh Độc lập. Đoạn đường trước mặt ông vẫn lát những phiến đá xanh cổ mà tuổi những phiến đá đó chắc chắn còn cao hơn tuổi nước Mĩ. Bên kia đường trước mặt ông vẫn là thảm cỏ rộng, nơi những người dân Mĩ đã đứng ngây ngất hít thở không khí tự do thiêng liêng đầu tiên, sung sướng uống từng lời Tuyên ngôn Độc lập rồi vươn vai đứng thẳng người lên làm công dân nước Mĩ độc lập. Hơi thở lịch sử là tiếng ngựa hí, là tiếng vó ngựa lóc cóc trên con đường lát đá phiến kéo cỗ xe bốn bánh cổ kính. Khách du lịch bỏ ra mười dollars sẽ được lên xe đi một vòng trên những đường phố yên tĩnh, vắng vẻ, ngắm nhìn thành phố Philadelphia vừa cổ kính vừa hiện đại. Không khí lịch sử là hàng người nối dài trên con đường xi măng cuối bãi cỏ rồi từng đợt, từng đợt được đón vào tòa nhà Liberty Bell chiêm ngưỡng quả chuông cùng tuổi với Tuyên ngôn Độc lập, cùng tuổi với nước Mĩ đã gióng lên tiếng chuông tự do gọi những chính khách đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập biên soạn ra các văn kiện lịch sử định hình lên nước Mĩ, gọi dân chúng Philadelphia thay mặt cho người dân mười ba bang đầu tiên của nước Mĩ đến dinh Độc lập tham dự vào những sự kiện lịch sử buổi lập nước.
Trong những vật chứng lịch sử Mĩ ở đây: Tượng đồng Washington, Dinh Độc lập, Quả chuông Tự do, Liberty Bell, tôi đánh giá cao nhất những ngọn cỏ bình dị đã xanh từ trong thăm thẳm lịch sử nước Mĩ đến hôm nay và còn xanh mãi đến mai sau. Phải có ý thức dân tộc cao, phải biết trân trọng lịch sử đất nước lắm mới biết nâng niu giữ gìn từng ngọn cỏ lịch sử. Hơn hai trăm năm rầm rộ, hối hả công nghiệp hóa, đô thị hóa mà giữa thành phố Philadelphia vẫn còn lại bãi cỏ từ ngày Độc lập năm 1776! Chỉ mấy ngọn cỏ bình dị kia cũng nói được tầm văn hóa và tấm lòng với nước, với dân của một chính quyền! Tôi lại xót xa nhớ đến những chứng tích hùng hồn của lịch sử và những tài sản vô giá của văn hóa Việt Nam đã bị những quyền lực giai cấp, bị những nghị quyết thiển cận đập phá, xóa bỏ. Phá đàn Nam Giao ở cố đô Huế! Xóa sổ hội trường Ba Đình ở thủ đô Hà Nội! Tượng đá nàng Tô Thị ôm con ngóng chồng ở Lạng Sơn bị cho vào lò nung vôi! Những viên gạch mộc của thế kỉ mười sáu xây nên thành nhà Mạc cổ kính ở Tuyên Quang bị đập bỏ để xây lại bằng vật liệu hào nhoáng của thế kỉ hai mươi!...
Với tầm văn hóa đó của quyền lực, những giá trị lịch sử, văn hóa Việt Nam sẽ còn tiếp tục bị đập phá! Rồi những gì sẽ bị phá bỏ nữa? Tôi rùng mình kinh hoàng! Để xóa đi nỗi buồn, tôi đi dạo trên con đường vắng bao quanh tòa nhà Độc lập. Ngắm những viên đá xanh lát trên đường, ngắm màu gạch đỏ trên tường nhà, nhìn những tia nắng sớm chiếu qua vòm lá như rắc hoa trắng lung linh trên đường, nghe ngọn gió cổ xưa rì rào trên vòm đại thụ, tôi tưởng như đang đi trong buổi bình minh của nước Mĩ.
3. Kỳ quan Mĩ
Lịch sử Mĩ do những trái tim người Mĩ yêu tự do viết lên. Cảnh quan nước Mĩ hôm nay cũng do những người Mĩ tự do đó xây cất lên. Bàn tay tạo hóa không tạo cho nước Mĩ những kì quan thiên nhiên, những kiệt tác của Trời thì bàn tay người Mĩ, trí tuệ người Mĩ đã thay tạo hóa làm nên những kì quan Mĩ, những kiệt tác Mĩ.
Kì quan Mĩ là những tòa nhà tháp nâng con người lên với trăng sao. Đất nước gần mười triệu cây số vuông trải rộng từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương, dân số chỉ nhỉnh trên ba trăm triệu người, mật độ dân số chỉ hơn ba mươi người sống trên một cây số vuông. Trong khi con số đó ở Việt Nam là gần ba trăm người, ở Trung Hoa là một trăm năm mươi người. Đất đai bằng phẳng, rộng rãi, dân cư thưa thoáng, vậy mà người Mĩ vẫn sáng tạo ra những tòa nhà chọc trời. Những tòa tháp kính lấp lánh như khối kim cương sừng sững vươn lên trời xanh về ban ngày. Những tòa tháp ánh sáng lung linh trong thăm thẳm vũ trụ về ban đêm. Không phải vì nước Mĩ thiếu đất, những tòa tháp đó mọc lên để tạo ra kì quan Mĩ, mang tầm vóc, tư thế nước Mĩ, mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ!
Kiến trúc Hy Lạp – La Mã cổ đại với những cột tròn cao vút uy nghi. Kiến trúc Pháp có cùng triết lí với kiến trúc cổ điển Việt Nam: Coi trọng thiên nhiên, hài hòa với thiên nhiên, thiên nhiên tham gia vào kiến trúc, là một phần không thể thiếu của kiến trúc, đường nét kiến trúc uyển chuyển, duyên dáng, tinh tế của tiết tấu cuộc sống thong thả, chậm rãi. Những tòa nhà tháp chế ngư thiên nhiên, làm chủ thiên nhiên ở các thành phố Mĩ là phong cách kiến trúc của những con người tự do, được giải phóng khỏi mọi ràng buộc, vươn vai đứng thẳng lên làm chủ vận mệnh, làm chủ thời đại, một thời đại của tốc độ cao, của tiết tấu cuộc sống công nghiệp gấp gáp, dồn dập, vì thế đường nét, hình khối kiến trúc cũng đơn giản nhất, thanh thoát, mạch lạc, dứt khoát. Những tòa tháp mang triết lí làm chủ của tư duy Mĩ, mang tâm hồn tự do Mĩ, mang í chí chinh phục Mĩ đã tạo ra không gian Mĩ, cảnh quan Mĩ, nhịp sống Mĩ.
Khi phần lớn những ngôi nhà ở châu Á, châu Phi nông nghiệp còn là tường đất, mái lá, con người vẫn còn phải ẩn trong đất, núp trong cây, châu Âu công nghiệp vẫn còn say sưa với kiến trúc dựa vào sắt thép trần trụi, say sưa dựng lên những tòa tháp ngạo nghễ sắt thép như tháp Eiffel ở Paris, cất năm 1889, những cây cầu trập trùng sắt thép như cầu Long Biên ở Hà Nội mà người Pháp gọi là cầu Doumer cất lên năm 1899 thì nước Mĩ đã đi đầu cất lên những building, những tòa tháp bê tông chất ngất. Tòa thị chính thành phố Milwaukee 30 tầng cao 107 mét xây năm 1895. Tòa nhà Park Row ở New York 30 tầng cao 119 mét xây năm 1899. Tòa tháp Singer ở New York, 47 tầng cao 187 mét xây năm 1908… còn bền vững đến hôm nay. Người từ khắp nơi trên thế giới đến tòa tháp đôi World Trade Center, WTC, Trung tâm Thương mai Thế giới ở New York, 110 tầng, cao 417 mét không phải chỉ để mua sắm những mặt hàng cao cấp nổi tiếng thế giới mà còn để chiêm ngưỡng kì quan Mĩ, ngắm nhìn không gian Mĩ, hít thở không khí Mĩ, cảm nhận nhịp đập cuộc sống Mĩ. Ngày 11.9.2001, Bin Laden đánh sập tòa tháp đôi WTC. Mười năm sau tôi đến New York đi ngang qua công trường xây dựng lại WTC chỉ thấy nghễu nghện những cần cẩu, ngổn ngang những khối máy mà rất ít bóng người và tòa tháp đã lên tầng thứ sáu.
Kì quan Mĩ là hòn đảo Nữ thần Tự do ở cửa biển New York mà người từ mọi miền trái đất tìm đến đây còn đông hơn cả số người đổ về Trung tâm Thương mại Thế giới. Dù tượng Nữ thần Tự do không phải là sáng tạo của người Mĩ. Tượng là tác phẩm của Kiến trúc sư Frederic Bartholdi, người Pháp, là quà tặng của nước Pháp tặng nước Mĩ, quà của những người mang lí tưởng Nhân quyền và Dân quyền tặng những người mang lí tưởng Tự do. Tượng đã trở thành phần hữu cơ của hòn đảo ở cửa biến New York, là phần hưu cơ của núi sông biển trời nước Mĩ. Cả hòn đảo Tự do, tên cũ là đảo Bedloe, là tác phẩm nghệ thuật kết hợp hài hòa giữa sự sáng tạo của tự nhiên và sự sáng tạo của con người. Để đặt tượng Nữ thần Tự do cao bốn mươi sáu mét, trí tuệ và bàn tay người Mĩ đã biến hòn đảo nhỏ như còn trôi dạt, còn biến đổi hình dạng trước sóng gió biển lớn phía Tây trái đất thành hòn đảo rộng rãi, vững chãi, thành một địa chỉ văn hóa của loài người. Thiên nhiên sáng tạo cho nước Mĩ biển trời lộng lẫy ở cửa biển New York, lại sáng tạo cho nước Mĩ hòn đảo nhỏ trần trụi như tòa nhà mới xây xong phần thô giữa nơi biển trời lộng lẫy đó để người Mĩ tiếp tục sáng tạo, biến ngôi nhà thô thành tòa lâu đài nguy nga. Tượng Nữ thần Tự do giơ cao ngọn đuốc soi sáng thế giới đặt ở nơi biển trời lộng lẫy như cõi thiên thai mà loài người vẫn ước vọng, vẫn khắc khoải hướng tới.
Mười lăm phút một chuyến phà đầy ắp người tách bến New York sang đảo Tự do. Tôi nhìn dòng người đủ màu da, từng cặp, từng tốp chân bước lâng lâng trên hòn đảo Tự do nhưng tôi biết cảm nhận về tự do của mỗi người sẽ rất khác nhau. Những cô gái da trắng, da đen ríu rít đi theo đoàn của một trường trung học Mĩ kia, họ chẳng cần bận tâm về tự do, vì với họ tự do là lẽ đương nhiên, bình thường của xã hội họ đang sống. Thời ông bà họ phải đấu tranh đổ máu giành tự do đã lùi xa mấy trăm năm rồi. Nhưng hai thanh niên người Trung Hoa có vẻ là sinh viên du học đang đứng lặng ngắm nhìn tượng Nữ thần Tự do kia, sao vẻ mặt họ bần thần thế? Có phải nhìn tượng Nữ thần Tự do họ lại nhớ đến sự kiện cách đây chưa lâu: Sinh viên Bắc Kinh biểu tình ở Thiên An Môn đòi tự do dân chủ bị xe tăng quân đội tràn qua, nghiến nát nhiều sinh viên? Tôi nhận ra chim biển ở đây nhiều quá. Chúng bay rợp trên trời. Nhiều con đậu thành hàng dài trên bờ kè đá mép đảo. Tôi đã đứng giữa đàn chim biển ở đảo Phan Vinh trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam ở Thái Bình Dương. Ngày ấy tôi đi với đơn vị hải quân đổ bộ lên giữ đảo. Lũ chim biển nhìn những con người lần đầu tiên xuất hiện trên đảo với vẻ bình thản, thân thiện, lính đứng gác, chim xà xuống đậu trên mũ lính. Nhưng khi mỗi con chim biển trở thành hai, ba cân thịt tươi trong bữa ăn kham khổ hàng ngày của lính đảo thì từ đó lũ chim biển hoang sơ nhìn thấy bóng con người đều hốt hoảng, tránh xa! Tượng Nữ thần Tự do khánh thành ngày 28 tháng mười, năm 1886. Từ đó hơn một thế kỉ đã trôi qua, ngày nào trên đảo cũng nườm nượp người như lễ hội mà bây giờ tôi đến sát mấy con chim biển đứng mép kè đá, chúng vẫn bình thản nhìn tôi thân thiện. Ở đây có cả luật pháp của nhà nước và tập quán của người dân bảo vệ những con chim biển hoang sơ, bảo vệ cuộc sống tự do mưu sinh của chúng nên chúng mới có phong thái ung dung, tự tin, bình đẳng với con người đến thế! Nhìn những con chim biển được sống tự do, hòa thuận bên những con người xa lạ, tôi lại chạnh nhớ đến cuộc sống mất tự do của tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ trong ngục tù Hà Nội. Bao giờ người dân Việt Nam mới được pháp luật bảo vệ như những con chim biển ở hòn đảo Tự do này nhỉ?
Kì quan Mĩ là hệ thống giao thông chiếm lĩnh cả chiều rộng và chiều cao không gian. Có tới năm, bảy con đường bê tông xi măng song song cạnh nhau cùng một hướng. Mỗi con đường lại có hàng chục làn ô tô cuồn cuộn chảy. Nơi những con đường giao nhau, mặt phẳng nằm ngang chuyển thành mặt phẳng thẳng đứng. Năm, bảy con đường thành năm, bảy tầng cầu vượt. Mỗi con đường như một dải lụa bị gió thổi tung lên, uốn lượn, đan xen vào nhau. Nơi có đường giao nhau kì vĩ nhất thế giới là ở thành phố Houston bang Texas. Mười con đường, mười dải lụa mềm mại uốn lượn lồng vào nhau, uyển chuyển, thướt tha như một màn múa, nhịp nhàng, dìu dặt như một giai điệu âm nhạc.
Các điểm du lịch kì thú nhất ở Việt Nam đều là các kì quan thiên nhiên. Sa Pa. Tam Đảo. Vịnh Hạ Long. Chùa Hương. Tam Cốc. Bích Động. Sầm Sơn. Phong Nha Kẻ Bàng. Non nước Hải Vân. Kênh rạch miền Tây Nam Bộ...
4. Lá cờ Việt Nam trên đất Mĩ
Ngược lại, làm nên sức hấp dẫn của nước Mĩ với thế giới đều là những kì quan do con người tạo ra. Tạo ra bằng trí tuệ Mĩ. Tạo ra bằng tiền thuế của người dân Mĩ nên người dân Mĩ đều có ý thức làm chủ các kì quan đó và mỗi kì quan đều có một chủ thể có trách nhiệm trước dân Mĩ và có tầm văn hóa tương xứng với giá trị văn hóa mà họ là chủ thể nên kì quan trước hết được khai thác ở giá trị văn hóa. Mỗi ngày có cả chục ngàn khách đến đảo Nữ thần Tự do nhưng ở đó không có một mẩu giấy, một bịch ni lông rác thải, không có một hàng chữ lạc lõng của những kẻ văn hóa thấp lại muốn lưu tên tuổi vào thời gian cùng kì quan! Không có một âm thanh của con người phá mất âm thanh dào dạt, mênh mang của thiên nhiên. Ở những kì quan Mĩ chỉ có nườm nượp khách viếng thăm và sự lặng lẽ, tất bật, tận tụy của những người phục vụ khách. Hoàn toàn không có những thành phần ăn theo. Không có người bán hàng rong! Không có người đeo bám, chèo kéo khách mua đồ lưu niệm! Không có một tiếng loa, một bảng hiệu. Không một bóng người ăn xin. Ở Mĩ không phải không có người ăn xin. Một tối muộn, vừa từ nhà hàng trên tòa tháp quay ở Dalas bước ra phố, tôi thấy người đàn bà da đen cao gày như mốt người mẫu một thời, bên sườn chiếc túi du lịch nhưng dáng đi vật vờ đến đứng lại trước con gái tôi. Bà ta hỏi xin tiền con gái tôi. Người ăn xin trong đêm tối, trong âm thầm, trong đơn lẻ, không kéo đàn kéo lũ, không bày biện, phô trương sự khốn cùng, không trơ tráo đeo bám!
Ngành du lịch ở ta ăn sẵn kì quan thiên nhiên. Coi kì quan của đất nước là của chùa, mọi ngành, mọi người xúm vào khai thác kì quan, kinh doanh kì quan, ăn theo kì quan chỉ vì giá trị vật chất của ngành, của cá nhân, không vì giá trị văn hóa của đất nước. Mỗi kì quan đều là một giá trị văn hóa. Không có chủ thể có tầm văn hóa tương xứng để quản lí, bảo vệ, khai thác giá trị văn hóa của kì quan, các kì quan thiên nhiên ở ta đều bị thương mại hóa, dung tục hóa, đều bị xâm hại, tàn phá nghiêm trọng và bị những thẩm mĩ thô thiển tùy tiện can thiệp, xây cất thêm làm cho méo mó, biến dạng, làm mất vẻ đẹp nguyên sơ của kì quan thiên nhiên! Nếu tầm văn hóa là ở bằng cấp, học hàm, học vị thì có lẽ công chức Việt Nam có tầm văn hóa cao nhất thế giới! Nhưng cứ nhìn vào việc quản lí các hoạt động văn hóa và quản lí các công trình văn hóa ở ta thì mới thấy tầm văn hóa ở những nhà quản lí đó thảm hại đến thế nào.
Mansfield là thành phố vệ tinh của Dalas, một trung tâm dân cư đông đúc của bang Texas và của nước Mĩ. Mansfieldcity, thành phố Mansfield, nhưng nhà cửa khá thưa thớt, không khí yên tĩnh như một thị trấn khuất nẻo ở ta. Nhà kiểu biệt thự, nhà nọ cách nhà kia cả chục mét. Mỗi nhà là một thế giới khép kín. Những con đường bê tông xi măng rộng rãi. Vỉa hè sát mép đường là một dải hẹp láng xi măng cho người đi bộ, còn lại là thảm có rộng, rồi đến những ngôi nhà một lầu hoặc chỉ có trệt. Những ngôi nhà cách biệt nhau bằng một thảm cỏ và một bờ cây xanh hoặc bức tường gỗ mỏng mảnh. Diện tích mặt bằng ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông chỉ chiếm một phần mười diện tích mảnh đất thuộc ngôi nhà. Ngôi biệt thự xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh thoáng rộng với hơn hai ngàn mét vuông đất đó giá bán ở Mansfield là gần hai trăm ngàn dollars, tính ra tiền Việt là gần bốn tỉ đồng Việt Nam, rẻ hơn giá nhà đất đô thị ở Việt Nam. So sánh giá đất đô thị ở Mĩ với Việt Nam lại phải nêu vài so sánh khác. Hàng hóa ở Mĩ, hàng công nghiệp như ô tô, laptop, máy ảnh, hàng điện tử... đều rẻ hơn ở Việt Nam. Hàng nông sản thực phẩm thì tương đương hoặc nhỉnh hơn giá ở Việt Nam chút ít. Một gallon sữa tươi, 3,78 lít, giá 4,92 dollars. Túi gạo Thái Lan 25 pound, gần 12 kg, giá từ 15 đến 20 dollars, tùy loại gạo. Một pound bắp cải, 0,45 kg, giá 0,6 dollars...
Giá dịch vụ thì vô cùng cao. Gửi trẻ 30 dollars một ngày. Cắt tóc 30 dollars. Cắt tóc ở tiệm của người Việt rẻ hơn cũng phải 10 dollars. Xén lông cho chó cảnh một con 50 dollars. Một mũi tiêm phòng dịch cho chó 50 dollars... Giá trị lao động cũng rất cao. Công lao động đơn giản thấp nhất là 8 dollars giờ. Như vậy lương tháng của một lao động đơn giản cũng gần hai ngàn dollars. Lương tháng của nhân viên hành chính trên năm ngàn dollars... Nhà cửa đó, giá sinh hoạt đó, đồng lương đó: Đời sống Mĩ đó!
Giá trị lao động cao nên người Mexico vượt biên sang Mĩ bán sức lao động rất đông. Những siêu thị nối tiếp nhau dọc con đường lớn ở trung tâm thành phố Houston. Bên trong siêu thị bày bán hàng hóa được sản xuất từ hầu hết các nước đang phát triển trên thế giới. Sản phẩm may mặc đến từ Guatemala, Nicaragua, Egypt, Gordan, India, Bangladesh, Philippines, Indonesia, Malaysia, Cambodia, Việt Nam… Sản phẩm lương thực, thực phẩm: Gạo Thái Lan. Cá Việt Nam. Bí đỏ Ấn Độ. Xoài Mexico. Dừa Costa Rica. Táo Chile. Cà phê Brazil. Chuối Guatemala…
Nhiều nhất, tràn ngập trong các siêu thị Mĩ là hàng hóa đến từ Trung Hoa. Từ những sản phẩm công nghệ cao như máy vi tính, máy ảnh, đồ điện tử, đến những sản phẩm tầm tầm: quần áo, giầy dép, vali, túi xách, đồ gốm sứ, đồ gỗ, đồ nhựa, cả đến những món hàng lưu niệm bé xíu cũng là sản phẩm Trung Hoa. Bên ngoài siêu thị là những người đàn ông Mexico lố nhố từng tốp đứng ngồi dưới bóng cây, trên hè đường bày bán mặt hàng cơ bắp, như chợ cơ bắp ở Giảng Võ, Hà Nội.
Những ngày ở Mansfield, buổi sáng tôi đều đi bộ một vòng qua những đường phố vắng vẻ, tĩnh lặng, lộng gió và se lạnh. Một buổi sáng tôi thấy trên thảm cỏ bên đường lác đác có những chiếc cọc mang tấm bìa viết hàng chữ Garage Sale hoặc Yard Sale. Trong garage ô tô, trên mảnh sân cạnh ngôi nhà có cắm tấm bìa đó người ta mang đồ cũ không dùng đến ra bày bán. Quần áo. Giầy dép. Đồ gốm sứ. Đồ điện tử. Bộ đồ câu cá… thượng vàng hạ cám, đủ cả. Có những thứ như chiếc áo lông thú, bộ váy áo, đôi giầy da cao cổ của phụ nữ nếu mua mới lúc đang là mốt thời thượng phải vài trăm đến cả ngàn dollars, bây giờ đã lạc mốt ở đây chỉ ghi giá vài chục dollars. Sáng thứ sáu hàng tuần người ta bán đồ sale trong sân nhà. Còn sáng thứ hai và thứ năm thì hè đường trước nhà nào cũng có một thùng nhựa lớn đựng rác đợi đội thu gom rác đến đổ lên ô tô. Trong những thùng rác đó tôi thấy có cả chiếc quạt máy còn nguyên vẹn, đầy đủ các chi tiết, những bộ quần áo còn khá mới và nhiều đồ dùng trong gia đình còn tốt.
Bà cô tôi sống ở đây có lần ôn lại thuở cơ hàn mới sang Mĩ có nhắc đến chuyện những sáng thứ hai, thứ năm phải đi lượm những đồ người ta bỏ đi ở thùng rác về dùng lại. Chú là thiếu tá quân đội Sài Gòn. Sau năm 1975, trong thời gian chú phải ở trại tập trung, cô phải bán nhà đi lấy tiền nuôi bốn đứa con. Chú ở trại tập trung về, cô sinh thêm đứa con thứ năm. Không nhà cửa! Không việc làm! Năm đứa con nheo nhóc, đứa nào học cũng giỏi nhưng nhìn tấm gương con của những người phải đi trại tập trung đều không được vào đại học, không có được chỗ đứng đàng hoàng trong xã hội thì biết rằng con cái cũng không có ngày mai! Cuộc sống đang bế tắc thì chính sách xã hội của nước Mĩ đón những người Việt Nam có hoàn cảnh như gia đình cô chú sang định cư ở Mĩ đã mở cho cô chú lối thoát.
Cô chú và năm đứa con sang Mĩ với hai bàn tay trắng. Bây giờ năm đứa con của cô chú đều đã tách ra ở riêng. Người ở thành phố Mansfield, người ở thành phố Grand Prairie, đều là thành phố vệ tinh của Dalas. Mỗi người đều có một ngôi nhà xinh xắn giữa thảm cỏ và cây xanh trên mảnh đất còn rộng hơn đất của bố mẹ. Sang Mĩ, hai con đầu đã lớn, không vào trường Mĩ được. Ba đứa con sau vào học trường Mĩ bây giờ là ba bác sĩ đều mở phòng mạch riêng. Có người có đến bốn phòng mạch. Ngôi nhà hơn hai trăm mét vuông, có bốn phòng ngủ bây giờ chỉ còn cô chú. Hai vợ chồng già. Một tòa nhà rộng tĩnh lặng. Một chiếc ô tô du lịch số miles chạy chưa nhiều nên xe còn rất mới. Đó là gia cảnh chung của tất cả những bậc làm cha mẹ ở Mĩ mà con cái đã trưởng thành. Cuộc sống đầy đủ. Không phải bận tâm về con cái. Thời gian thư nhàn rộng dài dành cả cho nỗi khắc khoải hướng về đất nước. Năm nào năm đứa con cũng dồn tiền để cô chú về Việt Nam một chuyến, mang thuốc men và tiền đến các chùa làm từ thiện, phát thuốc và tặng tiền cho người nghèo.
Trong số gần ba triệu người Việt Nam đang sống ở Mĩ có lẽ phải đến cả triệu người đến Mĩ trong hoàn cảnh như cô chú tôi. Dù sự ra đi đó có mở ra một lối thoát tốt đẹp, đưa đến một cuộc sống dễ chịu, mang lại tương lai sáng sủa cho con cháu thì vẫn là sự ra đi bất đắc dĩ! Ở lại với đất nước không có đường sống, không được nhìn nhận, không được đối xử bình đẳng thì đành phải ra đi!
Đô đốc Trần Văn Chơn của hải quân quân đội Việt Nam Cộng hòa về hưu chưa được một năm thì sự kiện ba mươi tháng tư năm 1975 xảy ra. Vào những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng hòa, Đô đốc Elmo Zum Walt Jr, tư lệnh hải quân Mĩ tại Việt Nam điều một chuyến máy bay vận tải lớn C130 từ Philippines đến sân bay Tân Sơn Nhất đón cả gia đình Đô đốc Chơn di tản nhưng Đô đốc Chơn từ chối ra đi. Đất nước đã hòa bình thống nhất, người Việt không còn chia chiến tuyến bắn giết nhau nữa, việc gì phải ra đi! Người cha già yếu như ngọn đèn sắp tắt đã chọn mảnh đất quê để về với tổ tiên. Ở lại để được sống với đất nước thanh bình. Ở lại để được sống bên người cha như chiếc lá sắp rụng về cội.
Nếu những người cộng sản chiến thắng đã thu giang sơn về một mối thực sự có cái tầm của người làm chủ giang sơn rộng lớn, thực sự xứng đáng với vị trí đại diện cho dân tộc Việt Nam thì phải có tấm lòng bao dung của người Mẹ Việt Nam mở rộng vòng tay đón vào lòng những gia đình như cô chú tôi, như Đô đốc Trần Văn Chơn để hàn gắn lại nỗi đau chia rẽ dân tộc mà cuộc chiến tranh ý thức hệ, cuộc chiến tranh Nam – Bắc tương tàn vừa qua đã gây ra. Nhưng những người cộng sản chiến thắng trong cuộc chiến đã không có được nghĩa cả của người chiến thắng, không có được tấm lòng của người Mẹ Việt Nam, không có được tư thế, tầm vóc lớn lao mà nhà nước của cả dân tộc Việt Nam phải có, không có được cái nhân nghĩa Việt Nam mà cha ông để lại: Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân!
Nhà nước Việt Nam thống nhất của những người cộng sản vẫn chỉ là nhà nước của một giai cấp bần hàn, lấy đấu tranh giai cấp để tồn tại, vẫn đố kị, nhỏ nhen, chật chội, sắt máu trong ý thức hệ giai cấp phản dân tộc! Nhà nước nhân danh dân tộc nhưng lại lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Hàng loạt trại tập trung cải tạo thực chất là trại hận thù dân tộc, chia rẽ dân tộc mọc lên để giam cầm những người Việt Nam không cùng ý thức hệ giai cấp!
Chú tôi phải ở trại bảy năm! Đô đốc Trần Văn Chơn phải ở trại mười ba năm! Cha chết, ông cũng không được về làm phận hiếu với người cha! Thực tế đó cho những người như Đô đốc Trần Văn Chơn phải nhận ra rằng đất nước Việt Nam thân yêu không còn của cả dân tộc Việt Nam nữa rồi! Đất nước Việt Nam hôm nay chỉ còn là sở hữu của một giai cấp, giai cấp vô sản! Nhưng giai cấp vô sản lại chỉ là một khái niệm ảo, không có thật! Điều có thật là một nhóm người nhân danh giai cấp vô sản đã chiếm đoạt đất nước Việt Nam! Ra khỏi trại tập trung, Đô đốc Trần Văn Chơn phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi!
Trong trái tim những người phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi như vậy, lá cờ đỏ sao vàng của nhà nước Việt Nam cộng sản chỉ là lá cờ của nhóm người đang cầm quyền, không phải là lá cờ của dân tộc Việt Nam, lá cờ của đố kị, chật chội, hẹp hòi, lá cờ của hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc, lá cờ của đấu tố man rợ, của tù đày nghiệt ngã, lá cờ chà đạp đạo lí yêu thương Việt Nam, hủy hoại văn hóa nhân nghĩa Việt Nam, không thể là lá cờ của dân tộc Việt Nam!
Vì thế hầu hết các gia đình Việt Nam ở Mĩ đều cắm ở phòng khách, ở phòng làm việc hoặc ở góc riêng tư hai lá cờ: Lá cờ Mĩ, đất nước đã cưu mang họ và lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Người ta vẫn phải trương lá cờ của một chính thể không còn tồn tại chỉ để phủ nhận lá cờ của chính thể đang tồn tại nhưng là lá cờ hận thù giai cấp, chia rẽ dân tộc! Màu cờ vàng đã trở thành màu dân tộc, màu Tổ quốc, màu tập hợp của cộng đồng người Việt Nam ở Mĩ! Cuộc tập hợp càng lớn, màu cờ vàng càng rợp trời! Đây là hậu quả hiển nhiên của nhà nước nhân danh dân tộc nhưng không có tấm lòng bao dung dân tộc! Là câu trả lời của một bộ phận máu thịt dân tộc bị ruồng bỏ, bị phân biệt đối xử. Một mẩu bánh mì vẫn là bánh mì! Dù chỉ là một bộ phận nhỏ bé, thất thế của dân tộc Việt Nam, họ vẫn là dân tộc Việt Nam, họ phải có lá cờ tập hợp bộ phận nhỏ bé bị ruồng bỏ đó! Không thể chấp nhận lá cờ đỏ đã tù đày, phân biệt, loại bỏ họ, họ phải dùng lại lá cờ của quá khứ chia rẽ dân tộc, lá cờ vàng!
Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản cực đoan ngộ độc học thuyết đấu tranh giai cấp, lấy giai cấp thống trị dân tộc đã làm cho lá cờ vàng ba sọc đỏ của chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên còn bền bỉ tồn tại đến hôm nay! Kiên trì, bạo liệt thực hiện đấu tranh giai cấp sắt máu với dân tộc Việt Nam, chính những người cộng sản Việt Nam đã làm cho lá cờ của khởi nghĩa Nam Kỳ, lá cờ của cách mạng Tháng Tám không còn là lá cờ của cả dân tộc Việt Nam nữa!
Và một vấn đề nghiêm túc, lớn lao, khẩn thiết đang đặt ra: Đã đến lúc cần có lá cờ tập hợp cả dân tộc Việt Nam! Không thể là lá cờ đỏ nhỏ nhen của một giai cấp, lá cờ lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc! Không thể là lá cờ vàng vốn xuất xứ là lá cờ của một nhà nước chỉ là công cụ của nước ngoài! Cần có lá cờ mới mẻ, tinh khôi của cả dân tộc Việt Nam, của chín mươi triệu người Việt Nam đang sống trên đất nước Việt Nam thống nhất và đang sống trên khắp thế giới! Lá cờ xanh màu rừng, xanh màu biển, xanh màu đồng ruộng Việt Nam và sáng chói tinh thần yêu nước Nguyễn Thái Học!
Tôi đã dự lễ tốt nghiệp của đứa em ở trường đại học Houston và dự lễ tốt nghiệp của con gái tôi ở trường University of Texas Arlington. Cả hai trường đều có rất nhiều sinh viên nước ngoài đến học và đông nhất là sinh viên đến từ châu Á: Trung Hoa, Hàn Quốc, Ấn Độ, Pakistan, Iran, Việt Nam… Sân khấu buổi lễ tốt nghiệp khá đơn giản nhưng buổi lễ diễn ra rất trang trọng. Những người thầy dìu dắt khóa sinh viên tốt nghiệp được mời lên ngồi những hàng ghế trên sân khấu. Trên tấm màn nhung phía sau họ chỉ có hình lớn logo nhà trường. Lá cờ nước Mĩ được cắm ở phía trước, cạnh sân khấu. Chỗ đó, ở các sân khấu của ta là nơi treo tấm pano chữ lớn trích lời vàng của lãnh tụ cộng sản hoặc lời ngọc của nghị quyết đảng! Con gái tôi nói rằng trước đây nước nào có sinh viên tốt nghiệp đều có lá cờ nước đó cắm thành hàng cùng lá cờ nước Mĩ và lá cờ đỏ sao vàng đã từng cắm cạnh lá cờ Mĩ. Nhưng từ khi có những sinh viên người Mĩ gốc Việt là con cái của những người đã phải ngậm ngùi bỏ nước ra đi, quyết liệt phản đối lá cờ đỏ sao vàng và đòi nhà trường cắm lá cờ vàng ba sọc đỏ! Nhà trường không thể trương lá cờ của một nhà nước không còn tồn tại nhưng cũng phải dung hòa đòi hỏi quyết liệt của rất đông sinh viên gốc Việt, không cắm lá cờ đỏ sao vàng! Từ đó, trong những lễ tốt nghiệp của nhà trường chỉ có một lá cờ Mĩ, không có cờ nước nào nữa! Tôi thầm cảm ơn sự ứng xử rất tinh tế, rất nhân văn của các trường đại học Mĩ. Nếu họ vẫn cắm cờ các nước có sinh viên tốt nghiệp, chỉ không cắm cờ Việt Nam thì con gái tôi sẽ trở thành bơ vơ, không có Tổ quốc! Sự hẹp hòi, chật chội, đố kị giai cấp của học thuyết đấu tranh giai cấp, sự nhẫn tâm, bạo liệt của nhà nước lấy giai cấp thống trị dân tộc, đàn áp dân tộc đã gây hậu quả chia rẽ, li tán dân tộc xa rộng đến như vậy đó!
Đáng buồn, đáng căm giận là đến nay sự nhỏ nhen, hẹp hòi, chật chội vẫn đang khoét sâu hố chia rẽ, li tán dân tộc! Ở Mĩ, tôi đã được chính người trong cuộc kể cho nghe sự nhỏ nhen, chật chội đó. Ông L.H. là sĩ quan quân đội Sài Gòn được nước Mĩ mở lòng đón sang định cư. Cuộc sống thư nhàn, ông L.H. có thú vui là đi ngắm nhìn cuộc sống đang diễn ra ở mọi góc trời trên thế giới. Hơn mười năm nay, mỗi năm ông đều đến một nước. Đến chuyến du lịch thứ mười hai, ông mới về Việt Nam. Nhưng vừa về đến sân bây Tân Sơn Nhất ông liền bị an ninh sân bay mời vào phòng làm việc. Họ báo không cho ông nhập cảnh vì ông đã có hành động chống đất nước! Ông L.H. ngơ ngác không hiểu ông đã làm gì nên tội? Viên an ninh liền nghiêm giọng kể tội ông: Ông L.H.! Ở bên Mĩ ông đã giật lá cờ của đất nước Việt Nam ném xuống đất thì ông còn về đất nước Việt Nam, về với lá cờ đó làm gì nữa? A, ông L.H. chợt nhớ ra! Việc cỏn con đó xảy ra đã lâu mà ở đây vẫn để bụng để bây giờ tính sổ thì khiếp quá! Nhưng ông đâu có làm việc đó! Sự trùng tên làm cho họ tóm nhầm người rồi! Người làm việc đó cũng có tên là L.H. và cũng ở Texas. Với ông, mọi việc đã an bài, con đường chính trị của ông đã kết thúc từ khi ông sang Mĩ và ông tránh xa mọi chuyện liên quan đến chính trị! Nhưng ông có biết việc mà an ninh Việt Nam vừa nhắc đến. Hôm đó trung tâm thương mại của người Việt ở thành phố ông sinh sống đón phái đoàn từ trong nước sang đến thăm nên nơi đón tiếp phải căng lá cờ đỏ sao vàng. Ông L.H. kia chỉ là khách ghé vào mua sắm ở trung tâm thương mại nhìn thấy lá cờ đỏ sao vàng liền xông đến giật lá cờ ném xuống đất. Đó là việc không hay, không đẹp nhưng cũng chỉ là chuyện sinh hoạt, chuyện tình cảm thường tình của con người, không phải là chuyện quốc gia đại sự, càng không phải là chuyện an ninh quốc gia! Ở phương diện quốc gia không thể nhỏ nhen chấp nhặt những chuyện vặt như vậy!
Ông L.H. kia dù trong tình cảm với nhà nước Việt Nam đương quyền có nông nổi cực đoan thì cũng chỉ là chuyện tình cảm nhất thời của một cá nhân với một thể chế. Đất nước mỗi thời một thể chế. Mỗi thể chế lại theo đuổi một học thuyết xã hội. Cuộc sống không thể chỉ có một học thuyết xã hội. Dù thể chế đương quyền có tuyệt đối hóa một học thuyết, ngăn cấm, bưng bít các học thuyết khác thì cuộc sống vẫn tồn tại nhiều học thuyết xã hội! Không phải tất cả người dân đều chấp nhận học thuyết chính thống và chấp nhận thể chế đương quyền của học thuyết chính thống đó! Khác biệt ý thức hệ là điều đương nhiên, bình thường của cuộc sống, xã hội nào cũng có sự khác biệt đó! Không thể bắt cả xã hội khuôn vào một ý thức hệ! Một thể chế đang làm chủ đất nước, đang đại diện cho dân tộc phải có tầm rộng lớn của đất nước để dung nạp chấp nhận mọi người dân với mọi khuynh hướng tư tưởng sống trên đất nước rộng lớn đó, phải có tấm lòng bao dung của dân tộc, nơi hướng về, nơi hội tụ mọi thân phận có chung cội rễ dân tộc đang sống ở mọi phương trời!
Dù không chấp nhận thể chế đương quyền, ông L.H. kia vẫn là người con của dân tộc Việt Nam, là đứa con lưu lạc của người Mẹ Việt Nam! Nếu thể chế đương quyền thực sự đại diện cho dân tộc Việt Nam phải có tấm lòng bao dung của người Mẹ Việt Nam, không thể chối bỏ bất kì đứa con nào lưu lạc trở về! Sự chối bỏ nhỏ nhen, hẹp hòi đó là từ bỏ tư cách làm chủ đất nước, từ bỏ tư thế đại diện cho cả dân tộc, thể chế đó không xứng tầm với đất nước Việt Nam rộng lớn yêu thương, không xứng tầm với dân tộc Việt Nam sâu nặng nhân nghĩa! Sự chấp nhặt nhỏ nhen của an ninh sân bay Tân Sơn Nhất còn tố cáo đội quân đông đúc của an ninh Việt Nam, có mặt trong mọi sinh hoạt của cộng đồng người Việt ở Mĩ và đội quân đông đúc tiêu tốn tiền thuế của dân đó đã gây chia rẽ, nghi ngờ, đố kị sâu sắc trong cộng đồng người Việt xa nước!
Ông L.H. giật lá cờ đỏ sao vàng ném xuống đất ở Fort Worth, Texas, Mĩ, mà an ninh Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất cũng biết là vì có Việt cộng nằm vùng trong cộng đồng người Việt ở Mĩ! Cũng vì Việt cộng nằm vùng mà một bà ở Miami bang Florida, Mĩ, vừa về Việt Nam thăm quê hôm trước thì hôm sau bà bị công an xã gọi lên nhắc nhở vì ở Mĩ bà đã nói rằng sang Mĩ bà mới được tự do đi nhà thờ, ở Việt Nam bà đâu có được đi lễ!
Việt cộng nằm vùng như một bóng ma trong sinh hoạt cộng đồng của người Việt ở Mĩ! Người nọ nghi ngờ, đề phòng người kia là Việt cộng nằm vùng! Trong tình cảm ghét ai, trong làm ăn muốn triệt đối thủ cạnh tranh nào chỉ cần gán cho họ là bóng ma Việt cộng nằm vùng là đủ làm hại họ!
Cụm từ “Việt cộng nằm vùng” có từ trong cuộc chiến tranh hận thù dân tộc, người Việt truy giết người Việt! Bộ máy cảnh sát, mật vụ Việt Nam Cộng hòa ngày đêm lùng sục Việt cộng nằm vùng trên khắp miền Nam nhưng cụm từ “Việt cộng nằm vùng’ cũng không được nhắc đến nhiều như ngày nay được nhắc đến trong lời nói, trong sách báo của cộng đồng người Việt ở Mĩ! Nước Mĩ tự do, dân chủ cho người ta được sống thật, được bộc lộ hết mình nhưng người Việt ở Mĩ khi ở giữa cộng đồng người Việt vẫn phải co lại, giấu mình đi, có khi lại phải lên gân chống cộng để khỏi bị nghi ngờ là Việt cộng nằm vùng!
Đấu tranh giai cấp đã làm bùng nổ cuộc nội chiến Nam – Bắc khốc liệt, đẫm máu, gây chia rẽ, đối kháng trong lòng dân tộc Việt Nam, gây li tán trong các gia đình Việt Nam! Đấu tranh giai cấp lại dựng lên những trại tập trung khắc nghiệt kéo dài hàng chục năm sau chiến tranh, lại làm sâu sắc thêm nỗi đau chia rẽ dân tộc, li tán lòng người!
Nhà Trần cướp ngôi vua nhà Lý, chỉ có vài chục người trong gia đình hoàng tộc nhà Lý phải bỏ nước trốn chạy. Ngày nay hàng triệu người Việt của cả trăm họ phải bỏ nước trốn chạy cuộc đấu tranh giai cấp bạo liệt của những người cộng sản! Phiêu dạt đến cùng trời cuối đất mà họ vẫn chưa được buông tha, vẫn bị rình rập, đố kị! Những người lãnh đạo cộng sản vẫn nói về hòa giải, hòa hợp dân tộc nhưng cho đến tận hôm nay, cuộc chiến kết thúc đã gần bốn mươi năm, hận thù giai cấp còn truy đuổi dân tộc Việt Nam ráo riết như vậy thì bao giờ mới có hòa hợp dân tộc?
5. Những mảnh hồn Việt
Năm 1959, những người cộng sản tại chỗ, những Việt cộng nằm vùng đã lãnh đạo người dân miền núi Trà Bồng, Quảng Ngãi cầm vũ khí nổi dậy chống lại chính quyền nhà nước Việt Nam Cộng hòa. Nhưng phải đến cuộc vũ trang nổi dậy đầu năm 1960 ở Mỏ Cày, Bến Tre giữa vựa lúa đồng bằng Nam Bộ do người cộng sản được tin cậy, chờ đợi, nữ bí thư tỉnh ủy Nguyễn Thị Định lãnh đạo thì những người lãnh đạo cộng sản ở Hà Nội mới thực sự tin rằng những người cộng sản nằm vùng ở lại miền Nam đã nhóm lên được ngọn lửa chiến tranh rồi! Những người cộng sản không muốn bị coi là người phát động chiến tranh nên từ Chiến tranh thường được chuyển thành “Đấu tranh vũ trang” và ngọn lửa bùng nổ chiến tranh ở Mỏ Cày, Bến Tre được gọi là ngọn lửa đấu tranh vũ trang!
Đang được những người lãnh đạo cộng sản nóng lòng mong đợi nên ngọn lửa đấu tranh vũ trang ở Bến Tre được phong tên Thánh là Ngọn Lửa Đồng Khởi! Có ngọn lửa khởi sự rồi, đã đến lúc phải thổi bùng ngọn lửa đó lên khắp miền Nam! Cuối năm 1960, những người lãnh đạo cộng sản Việt Nam tổ chức ra Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, thành lập quân đội Giải phóng miền Nam Việt Nam! Cuộc chiến tranh Nam - Bắc Việt Nam, cuộc chiến tranh ý thức hệ thực sự nổ ra từ đó, năm 1960!
Trước mốc bùng nổ cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam 99 năm, năm 1861, nước Mĩ cũng nổ ra cuộc chiến tranh Nam - Bắc và cũng là cuộc chiến tranh ý thức xã hội.
Miền Bắc nước Mĩ có nền công nghiệp phát triển. Những con người của nền sản xuất công nghiệp mang tinh thần Dân chủ của Tuyên ngôn Độc lập nước Mĩ, mang tư tưởng Tự do – Bình đẳng của cách mạng tư sản châu Âu. Nền sản xuất công nghiệp cũng đòi hỏi phải có những con người tự do, những con người được làm chủ cuộc đời của họ. Trong hoàn cảnh lịch sử đó, ngay sau khi nhậm chức, Tổng thống Liên bang Mĩ Abraham Lincohn liền tuyên bố xóa bỏ chế độ nô lệ. Miền Nam nước Mĩ của những chủ đất cần sử dụng nô lệ như những công cụ sản xuất, cần trói chặt nô lệ vào đất đai trang trại. Vì thế chính quyền các bang miền Nam của các chủ đất liền tuyên bố li khai khỏi chính quyền liên bang. Bảy bang miền Nam, sau tăng lên mười một bang liên minh lập Chính phủ riêng, quân đội riêng của Liên bang miền Nam và ngày 12.4.1861 quân đội miền Nam li khai nổ súng đánh đồn Sumter ở Charleston bang South Carolina thuộc liên bang miền Bắc, mở đầu cuộc nội chiến Nam – Bắc Mĩ đẫm máu. Thời đó vũ khí còn rất thô sơ, còn phải sử dụng súng thần công và cuộc chiến chỉ kéo dài bốn năm mà đã giết chết gần một triệu người Mĩ, bằng ba phần trăm dân số Mĩ, hai mươi chín triệu người lúc đó.
Bị động lôi kéo vào cuộc chiến nhưng với nền sản xuất cao hơn, với lí tưởng nhân đạo giải phóng nô lệ hợp lòng người, thuận thời đại, miền Bắc đã chiến thắng. Chiến thắng đó càng xứng đáng, lớn lao, cao cả khi tư lệnh quân chiến thắng cấm không cho những người lính miền Bắc reo hò, bắn súng mừng chiến thắng vì sự vui mừng ồn ào đó sẽ khoét sâu thêm nỗi buồn thầm lặng của những người Mĩ ở miền Nam. Người Mĩ có lương tâm không thể vui trên nỗi buồn của một nửa nước Mĩ! Không thể vui trên nỗi buồn của những người cùng dân tộc, cùng Tổ quốc với mình!
Nước Mĩ có rất nhiều ngày lễ: Ngày của Cha. Ngày của Mẹ. Ngày Gia đình. Ngày Nhớ ơn những người lính chết trận... Nhưng không có ngày Chiến thắng của cuộc nội chiến Nam - Bắc Mĩ!
Chiến thắng đó càng cao cả và những người chiến thắng càng lớn lao khi tư lệnh quân chiến thắng khẳng định không coi những người lính miền Nam thua trận là thù địch, là phản nước! Nước Mĩ của tất cả người dân Mĩ chứ nước Mĩ không phải chỉ của người thắng trong cuộc nội chiến tương tàn! Không có người lính miền Nam nào bị bắt giam, tù đày, dù chỉ một ngày! Tất cả đều được mang theo ngựa, lừa và cả vũ khí cá nhân về nhà làm ăn sinh sống! Vị tư lệnh đội quân chiến thắng đó đã thực sự mang tấm lòng bao dung rộng lớn của người Mẹ nước Mĩ ôm những người con lầm lạc ở miền Nam nước Mĩ vào lòng, xóa đi nỗi đau chia rẽ Nam – Bắc Mĩ mà cuộc chiến Nam – Bắc đã gây ra!
Ngôn ngữ Mĩ không có từ “Đồng bào”, cùng một bọc, để chỉ những người dân Mĩ. Người châu Âu di cư sang Mĩ. Người nô lệ châu Phi bị bán sang Mĩ. Người từ bốn phương trời tìm đến mảnh đất hoang sơ nước Mĩ cùng với ít ỏi người da Đỏ đã sinh sống từ xa xưa ở đây làm nên dân tộc Mĩ. Một tập hợp của những con người có cội nguồn khác nhau, có văn hóa khác biệt như vậy mà người miền Bắc nước Mĩ không thể vui trên nỗi buồn của người miền Nam nước Mĩ!
Không dân tộc nào trên thế giới có từ “Đồng bào”, cùng một bọc, để chỉ người cùng một nước như dân tộc Việt Nam. Từ thơ bé, người Việt Nam nào cũng thuộc câu chuyện bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ. Truyền thuyết của tổ tiên người Việt Nam dạy con cháu rằng nửa triệu người Việt Nam thời Vua Hùng dựng nước, hai mươi nhăm triệu người Việt Nam thời Pháp đô hộ, chín mươi triệu người Việt Nam đang sống trên dải đất Việt Nam và đang có mặt trên khắp thế giới hôm nay, hơn một trăm triệu người Việt Nam ngày mai đều có cội nguồn từ bọc trăm trứng của Mẹ Âu Cơ. Lịch sử văn hóa dạy người Việt Nam rằng dù người Việt sống trên núi cao Hoàng Liên Sơn hay người Việt sống trên những cồn cát dằng dặc ven biển miền Trung, Dù người Việt sống ở kênh rạch miệt vườn Nam Bộ hay người Việt đang phiêu dạt xứ người đều vừa là người chủ sáng tạo ra nền văn minh sông Hồng, vừa là con đẻ của nền văn minh đó. Những con người cùng một bọc sinh ra, cùng một nền văn minh sông Hồng mà suốt mấy chục năm qua, từ khi có đảng cộng sản, trước đây là đảng Cộng sản Đông Dương, nay là đảng Cộng sản Việt Nam, cứ mê mải bắn giết nhau, đấu tố, thanh trừng, loại bỏ nhau, rồi hà khắc, lạnh lùng giam cầm, đày đọa nhau, lại âm thầm, rình mò, xét nét, đố kị nhau! Chính quyền nào thực hiện những điều đó với người dân Việt Nam là chính quyền phản dân tộc Việt Nam, một chính quyền nhỏ nhen, hẹp hòi, tàn bạo, không tương xứng với văn hóa, đạo lí Việt Nam! Khi một chính quyền làm chủ đất nước Việt Nam thống nhất rộng dài mà tấm lòng hẹp hòi không bao dung được cả dân tộc Việt Nam thì dân tộc Việt Nam còn tan tác, li tán, không thể lớn mạnh được!
Cuộc nội chiến Nam – Bắc Mĩ kết thúc ngày 9.4.1865. Ngay ngày hôm đó, những người lính miền Nam thua trận được cấp lương thực trở về nhà làm ăn. Ngay ngày hôm đó, xung đột Nam – Bắc Mĩ, hận thù chia rẽ dân tộc Mĩ do cuộc nội chiến gây ra được giải quyết dứt điểm để người dân Mĩ chỉ còn tập trung tài trí, sức lực xây dựng nước Mĩ, nhanh chóng đưa nước Mĩ thành nước giàu mạnh đứng đầu thế giới!
Sau cuộc chiến tranh người Việt giết người Việt, vì sự sắt máu của những người chiến thắng với những người chiến bại và với cả dân tộc Việt Nam, hơn năm triệu người Việt Nam phải bỏ nước ra đi! Gần ba triệu người Việt đến Mĩ sau năm 1975! Sau năm 1975, số người Việt tìm đến châu Âu là hơn một triệu! Nửa triệu người bỏ xác trên biển! Những người Việt phải tức tưởi bỏ nước ra đi đều đau đáu mong có ngày được trở về mảnh đất cội nguồn! Cuộc chiến tranh tương tàn lùi vào quá khứ đã gần bốn mươi năm mà nhiều người vẫn không thể về! Có người vừa đặt chân xuống đất Mẹ Việt Nam ở sân bay Tân Sơn Nhất đang còn rưng rưng xúc động liền bị buộc phải quay trở lại, rời khỏi Việt Nam tức khắc như giáo sư Nguyễn Hưng Quốc, như nhà báo Ca Dao!
Ở Dalas tôi may mắn được gặp nhạc sĩ Phan Đình Minh quê Nam Định. Năm 1954, mới chín tuổi anh theo gia đình di cư vào miền Nam rồi thành sĩ quan lái máy bay lên thẳng trong quân đội Việt Nam Cộng hòa. Cuối tháng tư năm 1975 anh lái máy bay đưa cả gia đình ra tàu chiến Mĩ ngoài biển Đông. Ba mươi sáu năm qua anh vẫn mong được một lần về mảnh đất đã cho anh cái hồn Việt Nam. Ở Mĩ, nhạc sĩ Phan Đình Minh phụ trách chương trinh phát thanh Từ Cánh Đồng Mây nói về khát vọng tự do dân chủ của người Việt Nam nên anh biết rằng việc làm của anh khó được nhà nước Việt Nam cho anh trở về!
Một buổi tối ở Houston, tình cờ tôi được gặp nhà báo Lê Diễn Đức. Anh Lê Diễn Đức quê Văn Giang, Hưng Yên, sang Ba Lan học từ thời chiến tranh, về nước, rồi quay lại Ba Lan năm 1989 và từ đó định cư ở Ba Lan, một đất nước đã chia tay chủ nghĩa xã hội mất tính người. Anh không thể trở về với quê hương hiện còn bị chủ nghĩa xã hội tước đoạt quyền tự do dân chủ của người dân. Là nhà báo ở đất nước tự do dân chủ rộng mở, các bài viết của anh đều là sự đồng cảm, chia sẻ nhiệt thành với tiếng nói đòi tự do, dân chủ ở trong nước. Anh Lê Diễn Đức có ba đứa con sống ở Mĩ, còn những người thân yêu ruột thịt khác đều ở Việt Nam. Đường bay Ba Lan - Mĩ xa lắc anh đi lại như con thoi, nhưng đường bay Ba Lan -Việt Nam gần gũi hơn thì anh không thể đi về!
Mỗi người Việt Nam xa nước đều mang một mảnh hồn Việt Nam ra đi. Mỗi mảnh hồn đó đều có nỗi khắc khoải được trở về với cội nguồn dân tộc. Nhưng nhiều mảnh hồn Việt Nam không được nhà nước giai cấp ở Việt Nam cho trở về với dân tộc! Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Mĩ kết thúc, vấn đề tinh thần, tình cảm dân tộc do cuộc chiến tranh để lại, người Mỉ giải quyết gọn trong một ngày! Cuộc chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam kết thúc đã ba mươi sáu năm mà tình cảm dân tộc Việt Nam vẫn còn bị chia cắt, nát vụn ra từng mảnh! Ôi dân tộc Việt Nam đau thương của tôi còn li tán đến bao giờ? ■
Phạm Đình Trọng, Sài Gòn 9/20111
Phúc ấm con bạn
Tôi đến Mỹ rất trễ, đến từ một quốc gia thứ ba, nên ba mươi năm sau ngày mất nước tôi mới đặt chân lên xứ cờ hoa. Văn hóa và hệ thống xã hội nơi đây có những khác biệt so với nơi tôi đã sống, và điều dễ thấy nhất là nếp sống của xã hội Mỹ như vội vàng, cạnh tranh, và tấp nập hơn, so vơi nơi tôi đã sống, êm đềm và lặng lẽ.
Người Việt ở đó ít hơn, nếp sống và sinh hoạt của gia đình còn mang nhiều nét truyền thống của nơi chôn nhau cắt rún. Người ta rất thân tình và chân tình khi bắt gặp nhau nơi công cộng, giáo đường hay chùa chiền. Và nhất là những lúc được thông báo có người Việt từ nước khác tới định cư, là những người già, những người có phương tiện, tình nguyện đưa đón, hướng dẫn các thủ tục nhập cư, những giấy tờ cần thiết cho một đời sống mới.
Có lẽ đất Mỹ, nơi tôi đang sống, có cái khung cảnh xa lạ hơn, vì những núi đồi trùng trùng điệp điệp, đôi lúc cho tôi cái cám giác như đang đi trên đèo Ngoạn Mục, quảng đường từ Phan Rang lên Đà Lạt một thủa nào. Cảm giác êm ái đó làm tôi liên tưởng tới khu đồi mà dòng Donbosco tọa lạc, nơi có hoa Anh đào nở rộ mỗi bận Xuân về, màu hoa rực rỡ giữa núi đồi hùng vĩ đầy thơ mộng của cao nguyên.
Cũng đã mấy chục năm bỏ lại quê hương, bỏ cả những chiều lộng gió của núi rừng Đà Lạt và Di Linh, không hiểu những nơi chốn ấy bây giờ đã thay đổi ra sao, màu chè xanh của Bảo Lộc còn xanh như màu xanh ngày cũ, khu chợ Hoa Đà Lạt, hay bờ Hồ Xuân Huơng còn dương liễu rũ xuống ven bờ, mà những hồn thơ ngày đó đã ví von như mái tóc thề của mấy cô sơn nữ cao nguyên. Bao nhiêu đã mất, bao nhiêu còn giữ, bao nhiêu còn nhớ được trong tâm trí của trang lứa chúng tôi.
Cái mất mát hẳn nhiên đã làm chúng tôi đau đớn xót xa, nhưng chưa chắc đã bằng những chua chát, bẽ bàng, mà trang lứa chúng tôi phải gánh chịu trong cuộc sống tuổi già trên đất nước xứ người.
Tôi đến Mỹ như đã nói là rất muộn màng so với nhiều đồng đội, và những người bạn thân tình thủa nào cũng đã tản lạc mỗi đứa một nơi, và ở đây , trong vòng 50 dặm vuông hay vài trăm dặm dài, tôi cô đơn không bè bạn. Mỗi ngày, ngoài việc nhổ cỏ vườn sau, nhặt lá vườn trước, đưa đón bốn cô cháu đi học, tôi chỉ còn biết đi bộ, nhìn đồi núi nối tiếp nhau trên thành phố này để mơ mộng về núi rừng quê tôi, nơi mà hàng chục năm tôi và đồng đội chung sống, có khi gian nan, mà cũng có lúc thật thơ mộng. Và rồi trong một trường hợp ngẩu nhiên, tôi đã gặp được bác Thụy, một người Việt Nam cô độc, cũng lạc lỏng đến nơi này như tôi.
Cũng là một thói quen như nơi tôi đã từng sống, hễ gặp được người nào mà tôi đoán là dân nước tôi, thì tôi không ngại ngùng đến làm quen, và câu hỏi đầu tiên của tôi thường là " Ông nói được tiếng Việt nam không? " Nếu người đó trả lời họ là người Việt thì tôi nhất định rất vui mà hỏi chuyện. Tôi quen bác Thụy cũng trong trường hợp tương tự.
Từ lần gặp đó, tôi hay tìm tới bác vào mỗi cuối tuần hoặc là những khi bác gọi tôi đến , và lúc nào bác cũng mở đầu bằng câu " chúng nó đi cả rồi ",ý của bác là các con đã đi làm hết .
Tình thân của chúng tôi từ đó ngày càng thân thiết hơn, bác kể cho tôi 12 năm trong quân đội, phục vụ cho một đơn vị Quân báo, hoạt động trên lảnh thổ Quân Đoàn I, bị thương nhiều lần, nhưng lần nào cũng may mắn qua khỏi.
Bác đến Mỹ không thuộc diện HO, vì thời gian bác được thả, Phòng công tác nước ngoài thuộc công an Thành phố Hồ Chí Minh ở 161 Nguyễn Du, Quận I, còn đóng cửa, nên bác vượt biên, bị bắt cho đến khi chương trình HO được thực hiện, bác vẫn còn ở trong tù, do vậy bác đến Mỹ theo chương trình Đoàn Tụ, con gái bảo lảnh hai vợ chồng nên không được hưởng một trợ cấp nào của Chính phủ Mỹ như diện HO, tất cả đều do thân nhân bao bọc.
Thời gian ở lại Việt Nam, bác đi dạy học, cũng như trước khi động viên bác là một Giáo sư dạy Vật Lý tên tuổi tại Sài Gòn, lương giáo viên tuy không khá, nhưng cũng đủ cho hai vợ chồng bác sống tạm qua ngày, nhất là bác được các trung tâm chuyên Lý mời cộng tác, nên dạy cả sáng, chiều và tối , Vã lại mỗi năm, các con bác gởi cho một vài trăm đô la vào dịp Tết, hai vợ chồng lại dành dụm mua một chỉ hay 5 phân vàng hầu dùng cho việc ma chay sau này, cho đến năm 2003, con gái bác viết thư báo tin cho biết là đã làm hồ sơ bảo lảnh cho ba má , bác cũng chẳng hy vọng gì, vì thời gian đợi chờ dường như đã quá mòn mỏi, vã chăng tuổi đã cao, đi đâu cũng chỉ kiếm hai bữa cơm mà thôi, nên gần như vợ chồng bác không nghĩ tới chuyện ra đi, cho đến năm 2006, bác được gọi bổ túc hồ sơ, rồi cuối năm đó, bác được phỏng vấn, theo bác kể thì có lẽ vì lợi tức của con gái bác cao, nên họ cho đi nhanh và rồi đầu tháng 4 năm 2007 bác được sang Mỹ theo diện đoàn tụ gia đình, nhưng tính cho đến nay, bác vẫn chưa hội đủ điều kiện thi nhập Quốc tịch Hoa Kỳ .
Thời gian đầu sống với con cái vui vẻ lắm, vì còn mới, tình cảm còn mới, mọi thứ còn mới và còn mới là còn vui vẻ, rồi từ từ bác được một người quen giới thiệu đi làm assembler cho một hảng điện tử, lương $10/ giờ, hai vợ chồng già thật là hạnh phúc, cứ cuối tuần là hai ông bà rủ nhau đi WaltMart hay Target mua áo quần và đồ chơi cho các cháu, nhưng rồi kinh tế ngày càng suy thoái, sau gần hai năm làm assembler, bác mất việc làm, không có cách nào xin được việc khác, vã chăng, những người trẻ còn chưa xin ra việc làm thì ông già 63 tuổi như bác dễ gì tìm được việc, nên bác đành xin tiền thất nghiệp, và được hưởng thất nghiệp hai năm, khoảng thời gian này bác cho biết rất là buồn, suốt ngày vợ chồngcứ mong cho hai đứa cháu đi học về để chơi với cháu cho đỡ buồn, rồi thì cứ vườn sau sân trước, vợ chồng thi nhau nhặt cỏ, tưới cây, hay lên đồi lượm những viên đá hình dáng đẹp đem về lót quanh mấy bụi hồng cho hết thời gian.
Bác cũng năng nổ đi tham gia sinh hoạt các hội đoàn, như hội người già, Hội SQ/TBTD, nhưng rồi tiền trợ cấp thất nghiệp hết, và khó khăn đến với bác bây giờ là tiền đổ xăng, bác không biết xin ai hai chục bạc để mua xăng, bác nói, một đôi khi bổng dưng nghe thèm một tô phở, nhưng cũng không cách nào có được, "Ông ạ, có đêm tôi không ngủ được chỉ vì nghĩ tới mùi ngò gai và rau quế bỏ vào tô phở mà chảy nước miếng hoài không ngủ nổi, thèm như là thèm được ăn đường lúc ở trong trại tù ".
Tình cảm con người hình như rất mỏng manh, không phải bền chắc, và rất dễ gãy đổ, từ tình vợ chồng, cha con hay anh em, và nghèo đói là mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với tình cảm.
Cổ nhân cũng đã từng nói "phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc", cái gì người ta bảo "tiền tài như phấn thổ, nghĩa trọng như thiên kim" có chăng, chỉ là trong đạo đức kinh hay sách vở của Thánh hiền mà thôi. Không có tiền, nguyên lý nào cũng bị bỏ quên, đạo đức nào cũng dư thừa, và tình cảm nào cũng mai một. Đặc biệt là ở một xã hội mà mọi nền tảng đều lấy lợi nhuận làm chuẩn.
Con cái ở nhà cha mẹ thì hạnh phúc, cha mẹ ở nhà con cái thì nhẫn nhục và hy sinh.
Con cái ở chung với cha mẹ là tự nhiên, nhưng cha mẹ ở chung với con cái lại ưu phiền, vì lúc nào cũng phải nhìn mặt mủi con cái, phải xem chừng nó vui buồn bất chợt ra sao.
Muốn mở cái TV cũng phải lựa lúc nó vui vẻ, muốn mở cái CD nghe nhạc cũng tùy thời cơ nó buồn hay giận, lại còn phải coi sóc con cái cho chúng, nhỏ thì cho đi tiêu đi tiểu, rửa đít, cho ăn, tắm giặt. Lớn thì đưa đón tới trường, có khi còn bị chưởi mắng, đành chỉ biết cúi mặt dấu nước mắt đi. Họa hiếm lắm, chúng cho vài ba trăm bạc vào dịp lễ nào đó thì lại coi như phúc ấm chúng ban cho .
Chính là chổ này.
Một buổi sáng bác gọi tôi tới nhà, chỉ cho tôi một tờ giấy con gái bác viết để lại trên bàn cho bác, tôi cầm lên đọc :
"Theo luật bên nầy, chủ nhà có quyền gọi cảnh sát đến bắt buộc người thuê phải ra đi, nếu người chủ đã thông báo cho người thuê hai lần bằng thư. Ba không trả tiền nhà, nhưng con cũng coi ba như người thuê nhà, đây là lần thứ hai con yêu cầu ba dọn ra, ba đừng ép con phải gọi cảnh sát".
Tôi đọc đến đây, bổng nhiên nước mắt tôi trào ra, bác nhìn tôi và nấc lên thành tiếng, bác cũng bật khóc. Tôi ôm hai vai bác và nói "Hãy yên tâm, không có luật như vậy đâu, nếu cô ấy gọi cảnh sát, bác có thể nói cô ấy ngược đãi người già, con bác chỉ hù bác thôi". Và rồi bác bắt đầu kể cho tôi nghe hết tự sự.
Thoạt đầu là gạo, chúng nó than phiền, "nhà người ta một năm chỉ tốn hai bao gạo thôi, sao nhà mình mỗi tháng một bao", Tôi mở casette ngồi ngoài garage nghe nhạc, ngoài garage thì nóng, tôi mở cửa bên hong ra cho bớt nóng, nó đóng lại, và bảo mở cửa chuột chạy vào nhà. Tôi hiểu ý là nó sợ tốn điện, tôi tắt casette vào nhà.
Ông cũng biết, ở bên này, người già chỉ lấy cái TV làm bạn, nhưng nó mắng vào mặt tôi và bảo không biết xài thì đừng xài, TV cứ mở hoài chịu sao nổi, thế nào cũng có ngày TV bị cháy.
Mỗi ngày, chúng nó đi làm về trễ, có khi 7:30 hay 8:00 tối mới về đến nhà , và tôi đều cố gắng ăn trước để không chạm mặt chúng nó trong bữa ăn, ăn trước thì thú thật chỉ ăn sơ sài cho no bụng thôi, thức ăn của chúng tôi không dám đụng vào, vợ tôi thì chờ cho chúng ăn hết đã, cái gì còn lại bà ấy mới ăn, chúng tôi chỉ dám ăn những thức ăn thừa thải mà thôi.
Công việc lặt vặt trong nhà như lau dọn, rửa chén bát, đưa đón các cháu, chúng tôi đều làm hết, nhưng nó bảo với tôi là tội nghiệp thằng chồng nó phải còng lưng gánh hai ông bà già.
Những ngày nghỉ, hay cuối tuần, vợ chồng con cái chúng đi ăn tiệm, những năm đầu khi cháu út chưa thể gởi đến trường, thì chúng còn gọi vợ tôi đi ăn với chúng, những ngày lễ Tết cũng tặng quà cho vợ tôi, nhưng từ khi cháu út lớn rồi, chúng cũng lơ là với vợ tôi luôn, cho đến sau này, chúng lạnh lùng đến như bỏ mặc, vợ tôi buồn quá đành đi tìm chổ giữ trẻ ở một tiểu bang khác, nên ông tới nhà không thấy vợ tôi là vậy.
Bác lấy dưới gối ra một lá thư khác đưa cho tôi, bác bảo lá thư không có một chút tình người, thú thật tôi không dám đọc hết, nhưng trong trí tôi như vẫn in sâu những dòng này "ba người ta chết thì con cái khóc lóc tiếc thương, nhưng nếu ba chết con sẽ thở ra một cách nhẹ nhỏm.
Con thật không muốn bảo lảnh ba sang Mỹ đâu, chỉ vì bắt buộc mà thôi, Ba hãy dọn ra đi để còn một chút gì gọi là tự trọng".
Tôi cũng tự hỏi mình, bác đi đâu bây giờ? Một đồng bạc cũng không có, bà con, bạn bè cũng không luôn, bác dọn đi đâu? trong khi bác lại chưa phải là công dân Hoa Kỳ, làm cách nào để có thể xin trợ cấp, tôi đành an ủi bác, thôi bác cứ yên tâm, điều quan trọng bây giờ là hãy nhịn, nhẫn nhục đó mà, cứ coi như ngày nào bác bị bắt tại mặt trận, Việt cộng hành hạ bác kiểu gì, nhục mạ bác ra sao, bác cũng ngậm bồ hòn, thì nay, với con gái, bác ngậm lại bồ hòn một lần nữa đi rồi từ từ hãy tính.
Một ông già tóc đã bạc hết rồi, nước da đã ngã màu đồi mồi, tay chân đã lọng cọng, dễ gì xin được một việc làm trên một đất nước đầy dẫy nhân lực và cạnh tranh.
Tôi biết có rất nhiều cơ quan, tổ chức thiện nguyện, sẵn lòng tiếp những người khó khăn, nhưng với hoàn cảnh của bác, thật không có tổ chức nào có thể giúp đỡ, vì có tổ chức nào có nhà cửa, cơm áo, để cung cấp cho bác trong lúc này, nhất là trong thời kỳ kinh tế suy thoái, ngân sách các cơ quan, giáo dục, y tế hay xã hội ... đều bị cắt giảm. Và tôi chỉ còn một con đường để đi, đó là dẫn bác tới Sở Xã hội, để xin cấp thẻ EBT ( Electronic Benifits Transfer), tức là mỗi tháng, Sở Xã Hội bỏ vào trong thẻ EBT $200 USD cho bác mua thực phẩm, gạo rau cá thịt, nước uống, trái cây...
Nhận được thẻ EBT bác liền hỏi nhân viên Xã Hội là có thể mua ngay thức ăn được không? và thực phẩm là những thứ gì? Người người Cán Sự Xã Hội nhìn tôi, tôi dịch lại lời bác và nói thêm rằng, bác không có gì ăn từ hôm qua cho đến nay.
Người Broker xin phép đi ra một lúc, rồi quay trở lại đem theo phần ăn trưa của cô để tặng bác. Quả thật tôi cũng xúc động rơm rớm nước mắt khi nói câu đó với người broker. Đúng là một miếng khi đói, bằng một gói khi no, bác cúi đầu cám ơn người Cán Sự Xã Hôi mà như muốn khóc.
Tôi đem bác đi mua thực phẩm để hướng dẫn bác cách dùng thẻ EBT. Lần mua thử nghiệm đầu tiên của bác là 2 ổ bánh mì và 2 hộp cá Sardines rồi bác và tôi ra Parking chui vào xe ngồi ăn bánh mì cá hộp.
Tôi thật không hiểu rõ những tư tưởng nào đã đến với bác, nhưng mà nỗi xúc động của bác thì tôi biết là rất mãnh liệt, vì nước mắt bác đã chảy đến nỗi dùng hết một hộp khăn giấy của tôi để trong xe, tôi ngồi yên để bác khóc và suy nghĩ về mình, không hiểu có một lúc nào đó tôi lại như bác hôm nay.
Trên đất nước tạm dung này, những người già đã trở thành gánh nặng cho con cái, những người già đã bị lãng quên hay bị xua đuổi của gia đình, mà xã hội dù có nhân đạo tới đâu cũng khó kham nỗi với số người cao niên ngày càng nhiều.
Một lần tôi đưa bác đi tái khám bệnh phổi, tôi ngồi chờ bác ở phòng đợi thật lâu, và khi bác trở ra cùng với một vị bác sĩ người Việt còn trẻ, vị bác sĩ này lấy ví ra 3 tờ bạc 20 đồng và nói "cháu chỉ còn bao nhiêu tiền mặt, nhưng cháu có một căn phòng trống trong Building này, có Microwave, khi nào bác cần thì gọi cho cháu, bác hãy nhớ là bác còn chúng cháu ở đây. Ông quay sang nhìn tôi và dặn chú làm ơn để ý tới bác này với, người già nào cũng có một nỗi khổ khi sang đây."
Suốt quãng đường về tôi cứ mãi suy nghĩ về người bác sĩ đầy lòng nhân ái ấy.
Y thuật và y đạo, điều nào được người ta coi trọng hơn trên đất nước này. Tôi hỏi bác Thụy về vị bác sĩ ấy, được biết ông ta tên là DR. Albert H. Lee, chuyên khoa về phổi, là bác sĩ đang làm việc tại hai bệnh viện lớn ở thành phố này, và rất được bệnh nhân quý trọng cả về chuyên môn lẫn đạo đức.
Bác Thụy cho biết, thường ngày bác dậy rất sớm vì không ngủ được, có đêm bác chỉ ngủ 3 tiếng đồng hồ, rồi cứ suy nghĩ lung tung về chuyện đời, chuyện gia đình, về thời gian đi tù cải tạo, thời gian đi dạy dưới chế độ cộng sản.
Bác kể sau khi được thả ra tù, vì tốt nghiệp đại học trước 1975, nên bác không bị đuổi đi Kinh Tế Mới, mà được kêu đi dạy. Là một giáo sư dạy Lý Hóa nhiều năm, kinh nghiệm đặc biệt về phương pháp dạy Luyện thi, nên các Trung Tâm Luyện thi dạy ngoài giờ đều mời bác cộng tác, bác dạy cả sáng, chiều và tối, nhờ đó mà gia đình bác có được cuộc sống tương đối so với những anh em khác đi học tập về, và các con bác cũng từ đó mà học đến nơi đến chốn trước khi ra nước ngoài.
Trước ngày sang Mỹ, bác bán đi căn nhà, thu gom tài sản lại, cũng đựoc vài ba chục ngàn đô la, đều đem cho con hết, bây giờ nếu quay về, không còn nhà để ở, và biết lấy gì làm kế sinh nhai, vì tuổi đã cao rồi, làm sao xin được việc làm, đó là chưa nói tới những phiền toái khác từ xã hội, thật là tiến thoái lưỡng nan, bác tâm sự.
Có một buổi trưa tôi tìm tới bác, chứng kiến bữa cơm trưa gọn gàng của bác mà mủi lòng, một tách uống cà phê đong đầy Oat Meal, đổ vào một tô lớn, rót nước nóng từ bình thủy ra, khuấy đều chừng 2 phút, chờ nguội và ăn, không cần nước mắm hay xì dầu, hoặc một loại gia vị nào khác. Bác bảo từ khi có thẻ EBT, tôi không còn lo thiếu xì dầu nữa, nhưng nhịn được cái gì hay cái đó, với lại bác sĩ bảo ăn mặn cũng không tốt .
- Bác ăn như thế này mỗi ngày sao ?
- Vâng, chỉ vậy thôi, tôi đâu có cần gì thêm, chỉ cần một căn phòng nhỏ, đủ đặt một cái giường là được rồi, thế nhưng đời tôi quả là cùng khổ, mà thực ra tôi đâu có cầu sống lâu, sống thọ, sống không có gì vui, thì chết đâu có gì buồn, sỡ dĩ tôi vẫn đi bác sĩ là vì tôi sợ đau đớn, cũng như tôi không đủ can đảm để tự tử, còn chết ư, tôi nghĩ tới rất thanh thản, trên đời tôi không còn gì mê luyến thì chết đi tôi đâu có gì tiếc nuối, chỉ cầu sao cho được chết thật nhanh, không đau đớn, đó là nguyện vọng duy nhất còn lại của tôi.
Thường thường bác hay kể cho tôi về những bữa cơm dã chiến của bác, như bữa ăn của những người lính ngoài mặt trận.
Bác mua một cái bếp gas nhỏ bỏ trong túi vải mang theo bên mình mỗi khi đi bộ, một bình thủy nước sôi, một tách cà phê Oat meal, một cái tô và muổng. Buổi trưa ngồi vào một góc nào đó trong Park, nơi người ta cho phép nướng BBQ, bác mở hộp cá ra, hâm nóng bằng bếp gas chừng 2 phút, rồi đổ nước sôi trong bình thủy vào tô và khuấy Oak meal lên ăn, bác chỉ về nhà vào xế chiều, làm thức ăn tối và nấu nước sôi đổ vào bình thủy, chuẩn bị thức ăn cho ngày hôm sau, và những việc này luôn luôn làm xong trước khi con gái bác về nhà, ăn chiều xong, bác lại chui vào căn phòng nhỏ dấu mình trong đó, để không phải gặp mặt con gái nghe nó nói nặng nói nhẹ và đuổi nhà.
Bác tâm sự rằng, đôi lúc muốn ôm mấy đứa cháu một chút, nhưng thật rất khó, vì chúng nó sợ má la, lâu lâu con cháu lớn lén vào phòng ông, đưa ngón tay lên môi làm dấu với ý bảo ông im lặng, ngồi chơi với ông một lúc rồi chạy ra. Có những khi chúng nó vào phòng ông, má nó biết được là la mắng chúng liền. Ông cháu gặp nhau như đi thăm tù cải tao, thật là một hoàn cảnh đặc biệt hiếm hoi.
Nghe bác kể lại, tôi đành tìm cách an ủi bác, kể cho bác nghe về những đứa cháu phá phách của tôi, mọi thứ trong phòng tôi mỗi ngày được xếp theo một kiểu, computer của tôi được load đầy các games "comp của ông ngoại dễ xài hơn, con thích games trong comp của ông ngoại hơn" thế là cái computer của tôi bận dài dài, chỉ trừ khi chúng đi học. Cho nên chơi với cháu chưa hẳn là hạnh phúc đâu bác ạ .
Bác kể cho tôi những bữa cơm chấm xì dầu thật cảm động. Mới đầu bác hỏi tôi :" Ông có bao giờ mút xì dầu chưa "? Tôi trả lời là tôi không hiểu ý bác.
Bác kể lại vào những tháng bác chưa có thẻ EBT, bác ăn cơm với xì dầu hiệu đậu nành, nhưng không dám chan vào chén cơm, chỉ hai miếng cơm mới nhúng đầu đủa vào chén xì dầu một lần và mút lấy đầu đũa, vì nếu chan vào chén cơm hay mút nhiều lần thì sẽ hết mất, không có tiền mua nữa. Những ngày tháng ấy, anh Hồng, ngày xưa ở Biệt Động Quân, và một thời làm Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Rừng Lá, trước ngày mất nước anh về Phủ Thủ Tướng, mỗi lần ghé thăm, anh thường mua xì dầu, rau muống, Broccoli cho tôi, tôi còn nhớ mãi, bây giờ anh move đi xa rồi, cách đây cũng vài ba tiếng lái xe nên anh không thường tới nữa, mà cũng tội nghiệp, anh ấy cũng chỉ sống với mấy trăm đồng tiền già mà thôi, nhưng khi nào tới cũng đưa tôi đi ăn phở, hay có khi anh mua sẵn 2 tô phở mang đến đây hai anh em cùng ăn. Nghĩ lại, chỉ có những người lính mới thương nhau và đùm bọc nhau trên đất nước tạm dung này.
Ông biết không, vào những ngày tháng đó, có khi tôi rất thèm bánh tráng có vừng đen, hay cơm trắng và xì dầu, mà phải là xì dầu đậu nành, đủ cho tôi ăn không sợ hết. Những đêm nằm không ngủ được, tôi lại ao ước có được một ổ bánh mì của chợ Vons để ăn, tôi thèm mùi thơm của bánh mì chưa kịp nguội, hoặc giã đã nguội đi, tôi lại thèm vị ngọt của bánh khi nhai còn thấm trên đầu lưỡi của mình, thèm đến chảy nước miếng.
Nghe bác kể, tôi thực sự không cầm được lòng mình, lại nghĩ tới thời gian đi tù cải tạo, tôi cũng đã từng thèm được ăn một bữa khoai mì cho thật no, và chỉ mơ ước ngày được thả về, tôi sẽ bảo vợ mua khoai mì cho tôi ăn một bữa cho đã thèm.
Khi thiếu thốn, con người sẽ thèm đủ thứ, cho nên nghe bác kể, tôi thực sự hiểu được cảnh ngộ ấy, và hiểu được sâu xa nỗi lòng của bác, chỉ có một điều mà không ai ngờ được, đó là sống trong một siêu cường bậc nhất, mà người dân chỉ thèm một ổ bánh mì khong cũng không có để ăn, cái ước mơ nhỏ nhoi ấy đã ở dưới mức tầm thường rồi, vì kể cả những người vô gai cư trên thành phố này, cũng không ai có một ước mơ như bác Thụy. Có ai quanh đây đang lâm vào tình cảnh của bác hay không tôi không rõ, cũng có thể có người bị gia đình hắt hủi, con cái bỏ rơi và xua đuổi, nhưng đến một đồng xu dính túi cũng không có thì tôi không tin.
Rồi một ngày bác nhờ tôi chở đi xin việc, bác đọc được một mẫu rao vặt đăng tin cần một người đứng tuổi, có sức khỏe, để săn sóc một ông già 83 tuổi, bị bệnh mất trí, bao ăn ở, tiền lương sẽ thương lượng.
Tôi chở bác tới địa chỉ tìm gặp chủ nhà, cô chủ nhà tiếp chúng tôi và hỏi :
- Chú xin hay chú này xin?
- Tôi, bác nhanh nhẩu trả lời.
Chủ nhà dẫn chúng tôi đến phòng ông cụ, cô cho biết ông cụ đã quên hết mọi thứ, cần giúp ông cụ ăn uống, đi tiêu, đi tiểu, thay quần áo, và tắm cho ông cụ. Mọi sinh hoạt của ông cụ đều cần được giúp đỡ, nhất là về đêm, ông cụ hay thức dậy đi quanh quẩn trong nhà một mình, những lúc như thế cần có người bên cạnh, đề phòng khi ông cụ bị té. Nhiều khi ông cụ đi tiêu, đi tiểu trong quần mà không biết. Và cô hỏi:
- Chú có thể giúp ba tôi được không ? Hay chú làm thử vài ngay , vì có người nhận làm nhưng một hay hai ngày sau lại bỏ vì không chịu được tính tình của ông cụ.
- Không đâu, tôi làm được, tôi rất thích người già và trẻ con, cô cứ để tôi làm.
- Vâng, vậy chú có bằng lái xe không cho cháu xem thử?
Bác lấy bằng lái xe đưa cho cô chủ, cô ta xem xong rồi trả lại bác, cô nói, ba cháu nặng 65 ký Không hiểu chú có thể đỡ nổi không, chú làm thử một vài ngày đi, nếu không được, cháu vẫn tính lương cho chú.
Lương tháng là $800, bao ăn ở, mỗi tuần nghỉ một ngày, tốt nhất là thứ 7, cái giường phía trong là của ba cháu, chú nằm giường ngoài. Thức ăn hàng ngày cháu nấu sẵn để trong tủ lạnh hay trên bếp, chú muốn ăn thứ gì cứ ăn tự nhiên.
Mỗi ngày ba cháu uống 12 loại thuốc, ăn cơm trưa, chiều, sáng. Ba cháu uống cà phê, khi chú pha cà phê, nên để nguội rồi mới đưa cho ba cháu, vì ba cháu thích khuấy cà phê bằng ngón tay rồi mút. Thuốc thì cháu sẽ viết tên, liều lượng, giờ uống để trên bàn, chú cho ba cháu uống đúng giờ là được rồi.
Sau khi chủ nhà và bác bàn bạc công việc xong, tôi chở bác ra về, hẹn thứ 2 tuần tới là bắt đầu đi làm. Thoạt đầu bác có vẻ rất vui vì tìm được công việc, nhưng một lúc sau, tôi thấy bác khóc, bác như bị hụt hơi cứ nấc lên từng tiếng, tôi lo sợ nên tìm cách đưa bác vào một shop bên đường, đậu xe lại và hỏi bác :
- Sao bác lại buồn?
- Con người ta thì thuê người săn sóc cho cha, còn tôi thì bị đuổi ra khỏi nhà đi chùi đít cho thiên hạ, ông nghĩ xem có tủi không?
Nói xong câu này bác lại khóc lên thành tiếng. Tôi ngồi im để bác khóc cho hết cơn xúc đông rồi mới bảo bác, mỗi người có một số phận, một đoạn trường, và một nỗi niềm phải gánh, không ai có thể có hạnh phúc hoàn toàn, chỉ có ông cụ 83 tuổi ấy mới thực sự hạnh phúc, vì ông đã quên hết mọi sự, đã không còn biết mọi sự.
Làm cha mẹ, được con cái yêu thương, gia đình hòa thuận dĩ nhiền là điều tốt, .
Nỗi đau khổ bị con cái bỏ rơi hay xua đuổi chưa hẳn đã lớn hơn nỗi đau đớn khi phải nhìn thấy con mình dửng dưng với cha mẹ , Không hiểu bác có nghĩ như tôi không?
Bây giờ ở là mùa Hè, rải rác đó đây, trên những đồi hoang quanh nhà tôi đã trổ lên vài chùm hoa dại, màu vàng như hoa Cúc, càng làm tôi nhớ đến quê hương mình, như ngày Thu trên rừng núi cao nguyên, những khóm Quỳ hoang cũng nở vàng như vậy trên những triền đồi, và càng nhớ đến người sĩ quan thám báo bây giờ không phải đang nhật tu trận liệt, hay chăm sóc một đồng đội kém may mắn, mà là đang chăm sóc một cụ già mất trí...
Du Tử Nguyễn Định - tháng 7, 2011

No comments:

Post a Comment