Friday, October 21, 2011

Bài viết hay(190)

CHÚNG TA LÀ NHỮNG CỨU TINH CỦA CHÍNH MÌNH(CHẾT TRONG AN BÌNH – TỳKheo Visuddhacara – ThíchTâm Quang dịch)
Ðôi khi là một nhà sư tôi được yêu cầu đến tụng kinh cho tang lễ. Tôi cảm thấy buồn cho gia quyến của người chết nhưng đôi khi tôi cũng cảm thấy không giúp được gì vì có quá nhiều khó xử trong vai trò của một nhà sư đi tụng kinh đám tang.
Một ngày nọ, một phụ nữ trẻ tuổi đến gặp tôi. Cha cô mới chết sáng hôm đó. Ông mới chỉ 42 tuổi. Cô nói với tôi bằng tiếng Phúc Kiến: “Xin mời thầy đến tụng kinh. Xin thầy mở con đường cho cha tôi”. Tôi nhìn cô ta với tất cả tấm lòng từ bi mà tôi có thể tập trung. Tôi có thể cảm thấy sự bối rối và đau khổ của cô. Cô khoảng chừng 20 tuổi và là một người con gái có hiếu. Trong thâm tâm tôi nói thầm với mình: “Trời ơi tôi sẽ mở đường cho người như thế nào đây? Con đường tưởng tượng nào tôi sẽ vẽ trong không khí cho hồn tưởng tượng đặt chân lên? Làm sao tôi có thể nói với người phụ nữ trẻ tuổi tội nghiệp đang ở trong tình trạng buồn phiền và bối rối rằng:” không có con đường nào như cô có lẽ đã tưởng tượng như thế?”
Ðức Phật cũng có lần ở trong tình thế như vậy và Ngài đã trả lời ra sao?
Một hôm một người trẻ tuổi lại gần Ðức Phật và hỏi Ngài: “Bạch Thế Tôn, cha con chết. Xin mời Ðức Phật đến và cầu nguyện cho cha con, cứu độ linh hồn ông ấy để ông ấy có thể đi lên thiên đàng. Những người Bà La Môn cử hành những nghi thức này nhưng Ðức Phật lại còn mạnh hơn họ nhiều. Nếu Ngài sẽ làm điều đó, chắc chắn hồn cha con sẽ bay thẳng về thiên đàng”.
Ðức Phật trả lời, “Rất tốt, hãy đi ra chợ và đem về cho ta hai cái bình đất và một ít bơ”. Người trẻ tuổi sung sướng vì Ðức Phật đã hạ cố thi hành một số thần thông để cứu linh hồn cha của mình. Anh ta vội vã đi ra phố và mua các thứ mà Ðức Phật bảo. Ðức Phật chỉ dẫn cho anh ta để bơ vào một bình và để đá vào bình kia. Rồi ném cả hai bình đó xuống ao. Người trẻ tuổi làm theo và cả hai bình đều chìm xuống đáy ao. Rồi Ðức Phật tiếp tục: “Bây giờ hãy lấy một cái gậy và đập vỡ hai bình đó ở dưới ao”. Người trẻ tuổi làm theo. Hai cái bình bị đập vỡ và bơ thì nhẹ đã nổi lên còn hòn đá vì nặng nên vẫn ở dưới đáy ao.
Rồi Ðức Phật nói: “Bây giờ nhanh lên đi tập họp tất cả những thầy tu. Hãy nói với họ đến và tụng kinh để bơ chìm xuống và viên đá nổi lên.” Người trẻ tuổi nhìn Ðức Phật, sửng sốt, nói, “Bạch Ðức Thế Tôn, Ngài có nói thật không ạ. Chắc chắn Ngài không thể trông chờ bơ nhẹ mà chìm và đá nặng mà nổi. Ðiều đó ngược lại với qui luật tự nhiên.”
Ðức Phật mỉm cười và nói: “Này con, con đã thấy nếu cha con có một cuộc đời LƯƠNG THIỆN thì những HÀNH VI của ông cũng nhẹ như bơ cho dù thế nào thì ông cũng lên thiên đàng. Không ai có thể cản được, ngay cả đến ta. Không ai có thể chống lại NGHIỆP luật thiên nhiên.
Nhưng nếu cha ngươi có một cuộc đời BẤT THIỆN thì cũng giống như hòn đá nặng, cha ngươi sẽ bị chìm vào địa ngục. Dù tụng kinh nhiều đến đâu đi nữa bởi tất cả các thầy tu trên thế giới này cũng không thể gây thành khác được.”
Người trẻ tuổi hiểu rõ. Anh chữa lại quan niệm sai lầm của anh và ngừng đi loanh quanh đòi hỏi cái không thể được.
Nụ cười của Ðức Phật đã đi tới điểm: Không ai có thể cứu chúng ta, tối thiểu của tất cả sau khi chúng ta chết. Theo NGHIỆP luật, chúng ta là sở hữu chủ của những hành vi của chúng ta, chúng ta là người thừa hưởng những hành vi của chúng ta. Những hành vi của chúng ta thực sự là tài sản của chúng ta. Chúng là chỗ nương tựa thực sự của chúng ta, là những thân nhân thực sự của chúng ta. Chúng là trung tâm từ đó chúng ta xuất phát.
Khi chúng ta chết, chúng ta không mang được dù chỉ có một xu với chúng ta, hay bất cứ thứ đồ gì của cá nhân chúng ta. Cũng chẳng có thể mang được một trong những người thân để cùng đi với chúng ta. Giống như chúng ta đến một mình theo NGHIỆP của chúng ta thì chúng ta cũng phải ra đi một mình.
Nếu chúng ta hiểu rõ NGHIỆP luật, thì chúng ta sẽ cảm niệm thấy sống một cuộc đời LƯƠNG THIỆN quan trọng đến như thế nào trong khi chúng ta còn sống. Ðợi đến lúc chết thì sẽ quá muộn. Có một chút gì đó có thể làm được..
Hai lãnh đạo Đảng Hồ Cẩm Đào và Nguyễn Phú Trọng tại Bắc Kinh hôm 11/10/2011
Giáo sư Nguyễn Phú Trọng, người ở cương vị Tổng Bí Thư Đảng cầm quyền ở Việt Nam đã dẫn một phái đoàn đông kỷ lục gồm cả ba ủy viên Bộ Chính trị, bảy bộ trưởng của Việt Nam sang Trung Quốc.
Nền chính trị Trung Hoa luôn trọng các con số to nên đội hình Việt Nam chắc có mục tiêu đáp ứng nhu cầu đó.
Nhưng con số cũng đóng vai trò quan trọng ở góc độ các nước tham gia vào chủ đề Biển Đông ngày càng nhiều đã tạo đà cho Việt Nam nói chuyện lại với Trung Quốc.
Chuyến đi cho thấy xu hướng đa phương đã thắng cách nhìn song phương cho vùng biển quốc tế này.
Rộng hơn, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào nêu kiến nghị cho quan hệ Trung - Việt "tăng cường trao đổi và điều phối trong các cơ chế đa phương", một điểm thừa nhận Trung Quốc dù vươn lên mạnh mẽ cũng không thể đứng riêng một cực.
Thời gian qua, các bước đi của Trung Quốc ở Bắc Phi cho thấy một cách tiếp cận thực tiễn hơn trước.
Đài Trung Quốc (CRI) cũng trích lời TBT Nguyễn Phú Trọng nói cách giải quyết vấn đề trên biển, "không để cho vấn đề ảnh hưởng đến tình cảm của nhân dân hai nước", chứng tỏ thái độ người dân bày tỏ trên mạng và trên đường phố được ghi nhận.
Năng lực cầm quyền
Nhưng nói về ngoại giao thì cũng phải nói về nội trị ở cả hai nước.
Ông Ngô Bang Quốc nói với ông Nguyễn Phú Trọng về chuyện "cùng nhau nâng cao năng lực và trình độ cầm quyền của Đảng Cộng sản".
Rõ ràng là ngay tại Trung Quốc hiện nay, một luồng dư luận công khai đang đòi hỏi nhà chức trách thay đổi cách điều hành đất nước.
Và họ công khai nói về chuyện đó.
Tờ China Daily bản tiếng Anh phát không ở châu Âu tuần này nhắc đến dự án công ty Trung Quốc xây đập Myitsone bị Miến Điện ngưng.
Trong bối cảnh đó, công trình Trung Quốc xây đường xe điện trên cao cho Hà Nội quả là món quà vui Giáo sư Trọng mang sang Bắc Kinh.
Nhưng khi nghe tin đó, một người bạn từ BBC Tiếng Trung đùa với tôi: "Nhắn phía Việt Nam cẩn thận kẻo bị sập".
Không phải các nhà báo BBC bi quan về hợp tác Trung - Việt mà chính ở Trung Quốc hiện nay đang có không ít người lo ngại về các dự án chạy theo thành tích, bỏ qua chất lượng và an toàn.
Dư luận Trung Quốc đang chuyển biến mạnh sau vụ tàu cao tốc đâm nhau ở Ôn Châu hồi tháng 7, làm chết 40 người.
Họ đang muốn đánh giá lại những gì thực sự đạt được trong 3, 5 hay 10 năm qua, hay chỉ "giả vờ đạt được", theo ông Edward Tse, tác giả cuốn 'The China Strategy', được trích đăng trên China Daily.
Trên tờ Caixin thì có dòng tít lớn "Cracking China's Image" (Hình ảnh Trung Quốc vỡ nát) trên trang bìa và bài bên trong nói về các dự án thua lỗ tỷ USD mà các đại tập đoàn Trung Quốc khi tung ra làm ăn ở Hoa Kỳ, Úc, Singapore, Hàn Quốc, Pháp, Bỉ và Ba Lan.
Điều này cho thấy cách điều hành nền kinh tế của Trung Quốc đúng là cần "nâng cao năng lực" như ông Ngô Bang Quốc nói.
Mặt khác, đây cũng là ví dụ rằng truyền thông Trung Quốc không chỉ mạnh mẽ khi nói về chủ quyền biển đảo mà còn thẳng cánh phê phán các vấn đề nội bộ của họ.
Phái đoàn Việt Nam gồm cả Trưởng ban Tuyên giáo Đinh Thế Huynh chắc sẽ ghi nhận tinh thần cởi mở này để nghĩ lại về không gian họ dành cho báo chí Việt Nam.
Bạn thử tưởng tượng một tờ báo Việt Nam nào dám chạy tựa "Con tàu đắm Việt Nam" về vụ Vinashin.
Việt Nam tạo biến chuyển trong ngoại giao nhờ bỏ thái độ 'sợ làm Trung Quốc giận' thì phải chăng báo chí cũng cần bỏ nếp nghĩ 'viết mạnh sợ lãnh đạo phật lòng'?
Xếp từng viên gạch
Tin không vui và làm tôi suy nghĩ nhiều là trong cuộc thi World Skills 2011 ở Anh tuần qua Việt Nam không đoạt được huy chương nào mà chỉ đem về 7 chứng chỉ ở các môn Công nghệ may thời trang, Nấu ăn, Lắp cáp mạng thông tin, Điện tử, Xây gạch, Công nghệ thông tin và Thiết kế trang web.
Con số quả là rất nhỏ trên tổng số 950 chứng chỉ cấp cho 50 quốc gia tham dự Hội thi tay nghề quốc tế ở khu Excell, phía Đông London.
Đã sang thập kỷ thứ nhì của Thế kỷ 21 mà thế hệ trẻ Việt Nam chỉ được khen là khá môn 'nấu cơm, xếp gạch' thì quả là chuyện báo động, đặt câu hỏi mục tiêu hiện đại hóa đến 2020 có còn chắc trong tay?
Ngoài ra, số huy chương cho các bạn trẻ từ Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Macao nhiều hơn hẳn Trung Quốc lục địa, và một huy chương đồng cho Nguyễn rơi vào tay Paul Nguyen từ Pháp là bằng chứng rằng nguồn gốc không quan trọng bằng môi trường giáo dục khuyến khích sáng tạo.
Câu hỏi là làm gì để cải tổ nếu năng lực cầm quyền của Đảng và kỹ năng lao động của Dân ở Việt Nam đều cần nâng cao?
Để đất nước đi lên, bên cạnh hy vọng rằng Đảng sẽ mở rộng tầm nhìn, thông thoáng cơ chế hơn, trí thức và xã hội cũng cần chủ động tiến bước, từng bước nhỏ sẽ thành bước lớn.
Chính phủ Việt Nam đã và đang ký đối tác chiến lược với một loạt nước.
Nhưng điều rất cần là Đảng và Nhà nước ký một Đối tác Chiến lược với chính Nhân dân và Xã hội Việt Nam nêu rõ các quyền và trách nhiệm của hai bên nhân đợt cải tổ hiến pháp đang diễn ra.

Một cơ hội nữa là dự án Đức giúp Việt Nam cải tổ hệ thống pháp luật nêu ra trong chuyến đi của Thủ tướng Angela Merkel sang Hà Nội tuần này.
Và cũng cần hy vọng, như các điểm sáng của đối ngoại đa phương vừa qua cho thấy, Việt Nam sẽ vượt lên chính mình nếu tích hợp được các cơ hội nhỏ thành dòng sức mạnh lớn.

Không làm ngay được việc lớn, quyết liệt như Trung Quốc thì Việt Nam nên thử làm những bước nhỏ, kể cả như xếp từng viên gạch phù hợp với sức mình để đi xa hơn.

Ông Trọng lại sụp bẫy Bắc Kinh

Trước khi ông Trọng lên đường, nhiều dư luận Việt Nam ở trong và ngoài nước đã lên tiếng khuyên ông Trọng không nên đi thăm Trung Quốc lần này. Dư luận cho rằng ông Trọng chắc chắn sẽ rơi vào bẫy sập của Trung Quốc về vấn đề biển Đông; như ông Lê Khả Phiêu, Tổng bí thư đảng (1997-2001) đã từng vào năm 1999 khi bị áp lực của Trung Quốc cho ký tắt hai văn kiện Hiệp ước về Biên giới và Hiệp định phân ranh Vịnh Bắc Việt; và ông Nông Đức Mạnh, Tổng bí thư đảng (2001-2011) đã bị vào năm 2001 khi nghe lời dụ dỗ hợp tác kinh tế, đồng ý cho Trung Quốc vào khai thác Bauxite vùng Tây Nguyên.

Trong thời gian vài tháng qua, CSVN đã đưa ít nhất là 3 phái đoàn sang thăm Trung Quốc, tuy dưới nhiều danh nghĩa khác nhau nhưng nội dung trao đổi chính vẫn là vấn đề biển Đông. Phái đoàn ông Hồ Xuân Sơn, Thứ trưởng Bộ ngoại giao trao đổi về hợp tác biển Đông cuối tháng 6; Phái đoàn Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh, Thứ trưởng quốc phòng sang họp lần thứ 5 về đối thoại an ninh quốc phòng với Trung Quốc cuối tháng 8; Phái đoàn của Trung tướng Ngô Xuân Lịch, Tham mưu trưởng quân đội CSVN sang viếng thăm Trung Quốc vào giữa tháng 9.
Những phái đoàn nói trên đã được Trung Quốc đón tiếp rất trọng thể và sau những ngày trao đổi thảo luận, kết luận của các chuyến viếng thăm nói trên, qua đúc kết của phía Trung Quốc đều có chung nội dung: “Hai phía gồm Trung Quốc và CSVN đồng ý giải quyết vấn đề biển Đông trên tinh thần hữu nghị song phương; nhưng phải cảnh giác trước âm mưu của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ quan hệ hợp tác hữu nghị, truyền thống tốt đẹp giữa 2 nước”. Hoàn toàn không có một cụ thể nào về các đối sách liên quan đến số phận của hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa mà Trung Quốc đang chiếm đóng.
Chính vì thế mà dư luận chung nghĩ rằng, ông Nguyễn Phú Trọng có đi Trung Quốc kỳ này cũng không làm được gì mà tiếp tục bị Bắc Kinh lợi dụng để tuyên truyền với dư luận bên ngoài là lãnh đạo chóp bu của CSVN đã “hoàn toàn” đồng thuận với Trung Quốc về giải pháp cho biển Đông, tức là ông Trọng sang Bắc Kinh chỉ giúp củng cố thêm lợi thế cho Trung Quốc tiếp tục bành trướng trên biển Đông; như trường hợp Trung Quốc đã núp đàng sau cái gọi là công hàm Phạm Văn Đồng vào năm 1958 để từ chối thảo luận về việc hoàn trả lại Hoàng sa và Trường sa cho Việt Nam.
Điều lo âu của dư luận đã trở thành sự thật khi đọc các bản tin loan tải của Tân Hoa Xã Trung Quốc và Thông Tấn Xã CSVN liên quan đến việc ký kết bản thỏa thuận về biển Đông của hai phía – một trong 6 văn kiện mà hai phía đã sắp xếp ký ngay trong buổi chiều đầu tiên của chuyến viếng thăm, dưới sự chứng kiến của Nguyễn Phú Trọng và Hồ Cẩm Đào. Bản thỏa thuận này có tên chính thức là “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHND Trung Quốc”.
Đây không phải là bản văn kiện hoàn toàn mới mà chỉ là văn kiện nối dài của bản thỏa thuận giữa hai nước về vấn đề biên giới ký vào năm 1993, là năm mà CSVN nằm dưới sự lãnh đạo của Tổng bí thư Đỗ Mười (1991-1997), chịu rất nhiều sự chi phối của Trung Quốc về các mặt kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng sau khi mất chỗ dựa của Liên Xô.
Nội dung của 6 điểm liệt kê trong bản thỏa luận về biển Đông hoàn toàn có lợi cho Trung Quốc.
Thứ nhất, trong 6 điểm liệt kê của bản thỏa thuận có 4 điểm mang nội dung chung chung, chỉ lập lại những gì mà hai phía đã từng nói trong thời gian qua. Trong đó, điểm số 1 và số 4 thì dựa trên tinh thần hữu nghị của 16 chữ vàng, tinh thần nhìn xa, bao quát và tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng để hai bên cùng góp phần duy trì hòa bình và ổn định. Điểm số 2 và điểm số 6 thì mọi thảo luận dựa theo tinh thần Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và hai phía thay phiên nhau tổ chức trao đổi, thảo luận 2 lần trong 1 năm và lập đường dây nóng giữa hai cấp chính phủ để đối phó kịp thời các vấn đề khẩn cấp.
Thứ hai, hai điểm còn lại gồm điểm số 3 và số 5 hoàn toàn làm theo ý của Bắc Kinh. Điểm thứ 3 quy định việc đàm phán trên biển dựa theo “tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC) mà các quốc gia ASEAN đã thông qua vào năm 2002; nhưng Trung Quốc chẳng bao giờ tôn trọng nên thòng thêm một đoạn là “đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, hai bên sẽ giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến nước khác thì sẽ hiệp thương với bên tranh chấp”. Rõ ràng là ý đồ thảo luận song phương của Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì trong bản thỏa thuận này.
Ngoài ra điểm số 5 đề cập về việc “giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau”. Hai phía hợp tác trên các lãnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm cứu hộ trên biển… hầu tăng cường tin tưởng lẫn nhau để tiến tới việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn. Đây là điểm cũng nằm trong chủ trương đưa ra từ lâu của Trung Quốc là “gác tranh chấp, hợp tác khai thác”…. để từ từ lâu dần các nước sẽ phải hợp thức hóa chủ trương đường lưỡi bò của Trung Quốc đưa ra. Trong khi Trung Quốc tiếp tục có thái độ gây hấn trên biển Đông đối với Việt Nam và các quốc gia trong vùng, việc đòi hỏi đối tác Việt Nam ký kết văn bản “hữu nghị, hợp tác” không khác gì thái độ của kẻ cướp buộc nạn nhân phải thân thiện khi bị trấn lột.
Thứ ba, không có một điểm nào đề cập đến việc đàm phán, giải quyết hai quần đảo Hoàng sa và Trường sa mà Trung Quốc đã cưỡng chiếm từ năm 1974 và năm 1988. Hai quần đảo này không những nằm trong vùng lãnh hải 200 hải lý của Việt Nam theo đúng Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982 mà còn được xác định bởi các yếu tố lịch sử của Việt Nam từ hàng trăm năm qua, thế nhưng CSVN đã không đưa được vấn đề này trong bản thỏa thuận để buộc Bắc Kinh phải nghiêm chỉnh đàm phán. Hiện nay, lập trường của Bắc Kinh là không đàm phán về các quần đảo Hoàng sa kể cả những quần đảo Trường sa mà họ đã chiếm vào năm 1988.
Qua những phân tích nói trên, bản Thỏa Thuận sẽ dẫn đến hai hậu quả:
Một là kể từ nay, những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm lấn biển Đông sẽ không những bị công an CSVN trấn áp mà phía Trung Quốc cũng sẽ huy động báo chí và dư luận của họ chống lại dân tộc Việt Nam vì đã “vi phạm” bản thỏa thuận mà ông Trọng đã cho ký.
Hai là kể từ nay, khó mang vấn đề tranh chấp trên biển như Trung Quốc xâm phạm lãnh hải, giết, bắt ngư dân Việt Nam ngay trên lãnh hải của Việt Nam ra bàn Hội nghị quốc tế để cùng với các quốc gia khác tạo áp lực lên Bắc Kinh chấm dứt các thủ đoạn xâm lấn như họ đang làm hiện nay. Nói cách khác, bản Thỏa Thuận mà CSVN ký với Trung Quốc vừa qua đã mặc nhiên phủ nhận mọi nỗ lực đàm phán đa phương mà Hoa Kỳ và các quốc gia ASEAN cổ xuý từ tháng 8 năm 2010.
Từ góc độ quyền lợi của dân tộc Việt Nam, bản Thỏa Thuận mà ông Trọng đã chứng kiến việc ký kết vào chiều ngày 11 tháng 10 tại Bắc Kinh, hoàn toàn là văn kiện có hại cho đất nước ta trong lâu dài. Chính ông Trọng và Bộ chính trị đảng CSVN đã đồng lõa với Bắc Kinh gạt bỏ vấn đề giải quyết chủ quyền 2 quần đảo Hoàng sa và Trường sa ra khỏi các cuộc đàm phán. Do đó, bản Thỏa Thuận này được coi là văn kiện bán nước thứ hai sau Công hàm Phạm Văn Đồng của tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN.
Lý Thái Hùng
Ngày 12/10/2011.

Hôm nay đọc bản Tuyên bố chúng giữa hai ĐCS Việt Nam- Trung Quốc.
Chỉ biết mong một điều.
Đó là mong sao Đảng và nhân dân ta sáng suốt cấp tốc đưa ra một quyết định. Đó là để ông Nguyễn Phú Trọng giữ chức TBT trọn đời, không có nhiệm kỳ gì nữa, cứ làm đến bao giờ khuất núi thì thôi.
Xem những điều khoản, những cam kết giữa Việt Nam và Trung Quốc, tổng quát thì chỉ có toát nên một điều, tạm thời, tạm để đó, tạm dùng những thứ tạm chấp nhận được, tất cả đều chung ở chữ tạm...
Không cần thiết phải nói rõ từng chi tiết, nhưng những gì mà Việt Nam cam kết với Trung Quốc không phải là một thỏa thuận ngang hàng. Dường như tất cả những cam kết đều đáp ứng điều kiện của Trung Quốc đang mong muốn, đó là Việt Nam phải tích cực gắn chặt với Trung Quốc hơn nữa về mọi mặt từ đường lối chính trị cấp cao đến tư tưởng của những người dân thường trên mọi lãnh vực. Còn điều Việt Nam quan tâm nhất là vấn đề chủ quyền biển đảo được cam kết trên những quan điểm tạm thời, không dứt khoát của Việt Nam. Trong tuyên bố chung này việc Trung Quốc xâm chiếm trái phép biển đảo của Việt Nam không được diễn giải đúng tính chất, mà thay vao đó là những ngôn ngữ khiến người khác hình dung như hai nước đang có tranh chấp về vùng biển đảo đó, giờ tạm thời giữ nguyên hiện trạng, không chiếm, không la lối, không phân bua gì về những thứ mà bên kia đang chiếm. Còn những phần định chiếm thêm thì hai bên bàn bạc trên tinh thần hữu nghị. Nếu vậy thì cứ mỗi đời TBTĐCS Việt Nam, Trung Quốc cứ chiếm thực tế 7 phần, khẳng định 10 phần. Để lại 3 làm mồi tranh cãi. Chả mấy chốc Việt Nam không còn gì để đời sau tranh luận, mở hội thảo, chứng minh khẳng định chủ quyền gì nữa.
Bản tuyên bố chung cho thấy một điều, ông Nguyễn Phú Trọng cố gắng giữ mọi việc yên ổn trong nhiệm kỳ của mình. Một tư duy phổ biến ở những người lãnh đạo Việt Nam hiện nay từ dưới lên trên, và càng cao thì người ta càng ít dám mạo hiểm để giải quyết những tồn đọng phức tạp.
Qua những nhiệm kỳ của các TBT ĐCS Việt Nam gần đây hoạt động đối ngoại. Mới thấy vai trò lãnh đạo trọn đời, nắm trọn quyền lực như chủ tịch Hồ Chí Minh hay cố TBT Lê Duẩn là những lãnh đạo có những quan điểm dứt khoát về chủ quyền đất nước mạnh mẽ, rạch ròi.
Để tránh âm mưu thôn tính dần dần của Trung Quốc, lấn dần qua mỗi nhiệm kỳ lãnh đạo Việt Nam. Đã đến lúc Việt Nam cần thiết phải có một lãnh đạo tuyệt đối, trọn đời để gánh vác trách nhiệm rõ ràng vận mệnh của đất nước và dân tộc.
Cho nên giờ toàn Đảng, toàn dân nhất trí để cho ông Nguyễn Phú Trọng và các ủy viên Bộ Chính Trị hiện nay được nắm giữ quyền lực đến lúc cuối đời. Hy vọng thời gian quá dài tại nhiệm để họ phải dứt khoát có những quyết sách chiến lược không mang tính tạm thời được.

Hoặc tạm thời ấn định mốc tuổi về hưu của các ủy viên Bộ Chính Trị là 90 tuổi. Nếu chưa đến 90 vị nào khuất núi thì các ủy viên dự khuyết vào thay thế. Hay quy định ràng buộc là khi các vị này giã từ cõi dương gian, nghỉ hưu sau 90 tuổi,thì chỉ định trực tiếp luôn con đẻ các vị ấy thay thế cương vị của cha , mẹ. Tiếp tục lãnh nhận trách nhiệm mà cha ông thực sự của họ đang lãnh nhận. Đằng nào thì bác Lê Đức Anh, Đỗ Mười hết tuổi về hưu, nhưng 80 tuổi, 90 mươi tuổi vẫn đóng góp ý kiến định hướng. Đằng nào thì anh Nông Đức Tuấn, anh Nguyễn Xuân Anh, anh Nguyễn Thanh Nghị cũng trước sau làm lãnh đạo cao cấp.
Thế là khỏi có dân bàn, dân làm,dân kiểm tra, từ đó khỏi sinh ra bọn bất đồng chính kiến, bọn mưu đồ chính trị cá nhân, bọn đảng phái nhăm nhe giành quyền lực.Loại luôn những tệ nạn mua bán chức tước, chạy chọt ghế ngồi...và bao nhiêu thứ khác nữa.
Hay nhất vẫn là trách nhiệm về chủ quyền, về phát triển đất nước rõ ràng .
'
Người Buôn Gió

ANH TƯ ĐI ẤN

Anh bây giờ làm lớn lắm rồi nhưng với tôi anh vẫn là anh Tư ngày nào. Lâu lắm tôi không được gặp anh nhưng lúc nào tôi vẫn dõi theo từng bước chân anh. Nói có vẻ hơi quá, thực ra ở cương vị của anh mỗi việc anh làm, mỗi bước anh đi đều được đài báo đưa lên không sót nên cứ chú ý đọc báo xem đài có nghĩa là đang dõi theo anh đó thôi.
Nhờ vậy mà tôi biết sau khi nhậm chức, anh hứa kiên quyết chống tham nhũng, kiên quyết loại bầy sâu trong bộ máy nhà nước. Anh đã tránh mặt không thèm tiếp sứ giả đến từ phương Bắc để khỏi phải ôm vào lòng cái bọn đã từng tắm máu nhân dân mình ở biên giới phía Bắc lẫn trên Biển Đông và đang tiếp tục chứa một bồ dao găm để sẵn sàng đâm vào nhân dân ta bất kỳ lúc nào. Chúng nó vấy đầy máu dân mình, ôm chúng nó vào lòng làm gì cho vấy máu theo anh nhỉ.
Nhiều người rất vui khi thấy anh chuẩn bị đi Ấn. Đó là quốc gia kỳ vỹ theo nhiều nghĩa mà Việt Nam rất cần phải chơi thân. Không phải chỉ vì lúc này ta đang khó với bọn bành trướng phương Bắc mà ta cần đến sự giúp sức của họ để quân bình cán cân quyền lực ở Biển Đông. Hơn ai hết, Ấn Độ là quốc gia xứng đáng để về lâu về dài ta nên kết bạn để học hỏi.
Hẳn anh đã biết, Ấn Độ là cái nôi của một nền văn minh lớn của nhân loại, là nơi xuất phát của bốn tôn giáo lớn là Hindu, Phật, Jain và Sykh, trong đó Hindu là tín ngưỡng của gần một tỷ dân Ấn và Phật giáo là tôn giáo ảnh hưởng sâu đậm lên đời sống tinh thần qua hàng 1000 năm của gần 2 tỷ người ở Đông Á, bao gồm Sri lanca, Mianma, Thái Lan, Lào, Kampuchia, Việt Nam, Trung Hoa, Triều Tiên và Nhật Bản.
Dưới sự lãnh đạo của Gandhi, Ấn độ dành được độc lập từ Đế quốc Anh bằng đường lối vừa hợp tác với người Anh vừa tranh đấu bất bạo động. Đây là cách làm mà đầu thế kỷ 20 ở Việt Nam, Phan Chu Trinh đã đi trước để cổ súy nhưng rất tiếc ông đã đi sớm trước thời đại và những người đi sau ông lại nôn nóng giành độc lập theo kiểu dựa vào Liên Xô và Trung Cộng để đấu tranh bạo lực.
Ấn Độ dành được độc lập sau đó xây dựng thành một quốc gia dân chủ và nền dân chủ đó liên tục và tồn tại bền vững cho đến bây giờ. Nền dân chủ đó ảnh hưởng lên trên 1 tỷ công dân nên trở thành một nền dân chủ lớn nhất thế giới hiện nay.
Khác xa với TQ, nhà nước dân chủ Ấn Độ thực sự bảo vệ các quyền tự do cơ bản của người dân ghi trong hiến pháp và thực sự chăm lo đến sự ấm no và hạnh phúc của toàn dân.. Từ một nước thuộc địa, đông dân, đói nghèo, đa sắc tộc, đa ngôn ngữ, đa tôn giáo, Ấn độ đã nhanh chóng vươn lên giàu mạnh và chiếm lĩnh một số ngành mũi nhọn như công nghiệp chế tạo máy, hàng không vũ trụ, hạt nhân, công nghệ thông tin, công nghiệp Điện ảnh,... Ở Ấn Độ chỉ có cách mạng xanh, cách mạng trắng, cách mạng khoa học kỷ thuật... đem lại no ấm và hạnh phúc cho người dân chứ không hề có cách mạng vô sản, cách mạng văn hóa, đấu tranh giai cấp, đấu tố chủ đất, cải tạo tiêu diệt công thương nghiệp tư nhân, đại nhảy vọt xuẫn ngốc...mà mỗi cuộc nổ ra giết đi hàng triệu dân gây ra bao cảnh tang thương, để lại những di chứng đau đớn kéo dài về tinh thần như ở TQ. Và chắc chắn nhà cầm quyền Ấn Độ không hề mang xe tăng ra cán lên hàng vạn người dân biểu tình bất bạo động ngay giữa trung tâm thủ đô. Họ cũng không xua hàng đàn công an đêm ngày theo dõi, rình rập người biểu tình yêu nước hoặc bắt bớ giam cầm vô tội vạ người dân lành...

Ấn Độ còn những vùng rất nghèo, còn một bộ phận dân chúng có đời sống chưa cao nhưng đâu đâu cũng thấy người dân sống trong tự do hạnh phúc. Vì họ có một nhà nước dân chủ trung thực để tin cẩn và một tôn giáo lớn đầy nhân bản để gửi gấm phần hồn. Tôi đã từng đi qua những làng quê nghèo của Ấn Độ, thấy những nông dân Ấn còn đi chân đất, lưng trống, đầu trần nhưng nét mặt họ vẫn ngời lên rạng rỡ.

Nói như vậy không có nghĩa là không có cảnh oan khiên, bất công ở xã hội Ấn Độ. Vấn đề là những oan khiên bất công ấy là do những viên chức, cá nhân xấu xa cố tình vi phạm luật pháp gây ra ( nhưng về sau họ cũng bị luật pháp vạch trần và trừng trị) chứ không phải do nhà cầm quyền nhân danh nầy nọ gây ra như ở Trung Cộng, Triều Cộng...

Người Trung Hoa tàn bạo đến mức người ăn thịt người như ông Lê Duẩn đã từng nói. Mà thực tế những chuyện chém giết không chùn tay hàng triệu người qua các cuộc cách mạng, đấu tố, và thanh trừng nội bộ diễn ra trong thế kỷ 20 cho ta thấy những gì sử sách nói về sự tàn bạo của người Trung Hoa như giết người làm nhân bánh bao là không sai.
Hiểu được bản chất tàn bạo độc ác của dân mình, vua Đường thời đó đã không tiếc tiền của, gởi một đoàn nhà sư vượt hàng vạn dặm đường đến tận Thiên Trúc để thỉnh kinh Phật. Vua Đường đã nhìn xa trông rộng, dẹp bỏ tự ái coi mình là nước văn minh trung tâm của thế giới, khi cho thỉnh cái tinh thần từ bi, hỉ xả, vị tha của Phật giáo Ắn Độ về cải tạo dân mình. Từ đó Đạo Phật từ bi đã ảnh hưởng lên đời sống của hàng trăm triệu dân Trung Hoa rồi lan tỏa ra các nước láng giềng khác. Chắc chắn nhờ vậy mà người Trung Hoa trở nên hiền lành tốt đẹp hơn cho đến khi Mao du nhập một tinh thần bạo lực xa lạ khác về nhồi sọ toàn dân gây ra bao thảm cảnh oán than vượt xa thời Trụ Kiệt.
Trở lại chuyện Ấn Độ. Bề dày văn hóa nhân bản từ ngàn đời, tư tưởng bất bạo động hiền hòa, nền dân chủ lành mạnh đã tạo nên một Tinh thần Ấn Độ trong thời đại mới. Tinh thần đó đang mang lại ấm no hạnh phúc cho người dân Ấn Độ và giúp Ấn Độ vươn ra chinh phục tình cảm của nhiều nước láng giềng và trên thế giới. Đạo Phật của Ấn Độ thời xưa đâu có cần tấp nập gởi các tu sĩ ra bên ngoài kèm theo tiền nong và súng đạn mà vẫn lan tỏa ra khắp các nước Đông Á đó sao.
Lần nầy anh Tư du Ấn, ngoài việc thúc đẩy tăng cường các mục tiêu hợp tác chiến lược để đối phó với tình hình trước mắt thì cũng nên nghĩ xa hơn cho sự hợp tác lâu dài giữa hai dân tộc là quan tâm đến Tinh Thần Ấn Độ. Và nếu anh “thỉnh” được cái tinh thần ấy về Việt Nam thì hạnh phúc biết bao cho dân ta. Công ơn của anh sẽ được ghi nhớ đến ngàn đời không thua kém gì Đường Thái Tôn và Huyền Trang Bồ Tát.
Chúc chuyến du tây của anh thành công tốt đẹp. Huỳnh Ngọc Chênh
KINH NGHIỆM CẤM XE MÁY Ở QUẢNG CHÂU

Quảng Châu là một trong những thành phố phát triển nhất Trung Quốc. Năm 2006, thu nhập bình quân đầu người vượt 10.000 USD, cao gấp 5 lần mức tương ứng của cả nước. GDP đạt 80 tỷ USD. Tuy nhiên, sự phát triển đó đã biến Quảng Châu thành thành phố đắt đỏ nhất, thành phố của ô nhiễm và tội phạm. Theo thống kê của cảnh sát, riêng các vụ phạm tội liên quan tới xe máy mỗi năm cũng hơn 100.000 vụ, trong đó cướp giật bằng xe máy phổ biến nhất.

Quảng Châu
Quảng Châu từng là "thiên đường" của xe máy với khoảng 790.000 xe lưu thông toàn thành phố.
Xe máy bắt đầu phát triển tại đây từ đầu những năm 1980. Tính đến năm 2003, số lượng xe máy tại Quảng Châu đã trên 790.000 xe, chiếm 20% lưu lượng giao thông trên đường phố, chỉ sau xe bus và trở thành phương tiện kinh doanh của đa phần người dân nhập cư. Việc xe máy phát triển quá ồ ạt không chỉ làm gia tăng mức độ ô nhiễm không khí và tiếng ồn của thành phố, mà còn là nguyên nhân số một gây ra tai nạn giao thông. Theo thống kê, tính riêng nửa đầu năm 2003 đã có tới 3.044 vụ tai nạn do xe máy gây ra, làm chết 364 người (trung bình 2 người mỗi ngày). Số ca tử vong do xe máy chiếm 43,61% các trường hợp tử vong do tai nạn giao thông.
Thêm vào đó, việc tổ chức và điều phối giao thông cũng như hoạt động của loại hình phương tiện này gặp nhiều khó khăn, chủ yếu do ý thức của các chủ phương tiện. Chuyện xe máy “làm loạn” trên các tuyến đường và gây tắc nghẽn đã trở nên quá phổ biến. Người điều khiển xe máy phần nhiều là dân nhập cư kiếm sống bằng nghề chạy xe ôm, nhiều trường hợp không có đủ giấy tờ đăng ký, thậm chí là bằng lái, hay không đội mũ bảo hiểm khi lái xe... Số vụ sử dụng xe máy để cướp giật cũng rất cao, với trung bình 31 vụ một ngày (tính từ tháng 1 đến tháng 10/2003).
Từ những lý do trên, chính quyền thành phố Quảng Châu quyết định ban hành lệnh cấm đối với xe máy. Với quyết định này, thành phố hy vọng giảm 24.000 tấn khí thải CO2 và 30 tấn bụi độc hại mỗi năm do xe máy thải ra, cũng như giảm tình trạng hỗn loạn giao thông, các vụ tai nạn và cướp giật. Để thực hiện lệnh cấm này, Quảng Châu lập ra khoảng 40 địa điểm làm nơi giữ hàng trăm nghìn xe do người dân giao lại, xếp đống và chờ phá hủy, đồng thời chi 70 tỷ NDT trong vòng 5 năm để nâng cấp thiết bị và hệ thống giao thông. Quá trình triển khai được thực hiện theo nhiều bước trong 16 năm, kéo dài từ tháng 10/1991 đến khi lệnh cấm triệt để được thực thi vào ngày 15/1/2007.
Tháng 10/1991, Quảng Châu bắt đầu cấm lưu thông nội thành đối với các xe máy không đăng ký trong thành phố từ 7h đến 19h hàng ngày, giới hạn 500 xe máy đăng ký mới mỗi tháng. Năm 1995, thành phố ngừng hẳn việc đăng ký xe trừ các trường hợp thay mới do mất hay đổi chủ sở hữu. Năm 1996, lời kêu gọi phát triển các phương tiện giao thông công cộng được ban hành, đồng thời cấm xe máy tại một số tuyến phố. Ngày 16/3/1998 đánh dấu bước thay đổi mới khi Quảng Châu cấm hoàn toàn việc đăng ký hay thay đổi thông tin. Một năm sau đó, các phương tiện không có đăng ký trong nội thành đều bị cấm tại đây.
Xe máy trong bãi chờ tiêu hủy. Ảnh: Information Times.
Tháng 1/2002, Luật Quản lý môtô, xe máy tại Quảng Châu được ban hành, theo đó những xe có thời gian sử dụng trên 15 năm đều bị tiêu hủy, trừ xe đáp ứng được tiêu chuẩn về khí thải. Từ năm 2002 đến trước tháng 1/2007, các lệnh cấm xe máy lưu thông tại các tuyến đường nội đô theo khung giờ dần được ban hành và thắt chặt hơn. Đến ngày 15/1/2007, luật cấm triệt để xe máy có hiệu lực với 100% xe máy tại Quảng Châu.
Tính đến tháng 8/2007, 7 tháng sau khi luật được ban hành, hiện tượng ô nhiễm khí ồn, lượng CO2 và các khí độc hại khác thải ra môi trường giảm đáng kể. So với cùng kỳ năm 2006, các vụ tai nạn giao thông giảm 17,5%, số ca tử vong giảm 2,2%, bị thương giảm 20,4% và thiệt hại về tải sản ước tính thấp hơn 42,3%. Số trường hợp phạm tội ghi nhận được là 52,141 vụ, ít hơn 15,3% trong cùng khoảng thời gian trên, đặc biệt số vụ cướp giật sử dụng xe máy làm phương tiện giảm tới 44,3%. Tình trạng tắc nghẽn cũng giảm mạnh, xe khách đông hơn. Đây được xem như những con số rất đáng khích lệ của chính quyền địa phương. Cảnh quan đô thị cũng được cải thiện đáng kể.
Tuy nhiên, vẫn có một số vấn đề nảy sinh khi các chủ doanh nghiệp kinh doanh xe máy đòi kiện chính quyền bởi đạo luật trên đã đẩy họ đến bước phá sản. Một lượng lớn người nhập cư kiếm sống bằng nghề chạy xe ôm trước đây cũng không biết phải làm gì khi bằng cấp và trình độ không có, còn “miếng cơm manh áo” thì đã bị cấm lưu hành. Lệnh cấm trên đẩy hoạt động kinh doanh của thị trường xe đạp tăng vọt, còn ngành dịch vụ taxi thì cũng “tranh thủ” nâng giá. Nghịch lý xảy ra khi cướp giật bằng xe máy giảm nhưng móc túi và trộm cắp trên các tuyến xe bus lại tăng, buộc chính quyền phải thông báo kế hoạch lắp đặt máy quay trên các xe bus, sau đó nối với trung tâm chống tội phạm của cảnh sát.
Theo một quan chức địa phương, tại thời điểm đó, trong dư luận vẫn còn nhiều người cho rằng việc áp lệnh cấm xe máy là không thuyết phục. Lý do họ đưa ra là ôtô cũng là một phương tiện giao thông gây ùn tắc, xả nhiều khí thải và gây tai nạn giao thông. Nhưng các quan chức cho rằng chính xe máy với kiểu tham gia giao thông như “một mớ hỗn độn” mới là nguyên nhân chính của ùn tắc và tai nạn.
Thực tế quá trình thực hiện lệnh cấm của Quảng Châu cho thấy việc áp dụng một cách có hệ thống và theo từng bước nhất định là cần thiết để đạt hiệu quả cao. Chính quyền thành phố đã không lựa chọn việc thực hiện dứt điểm và đột ngột, mà kéo dài trong suốt 16 năm từ 1991 đến 2007. Các biện pháp đưa ra được thắt chặt dần, khởi đầu với việc giới hạn số lượng xe đăng ký mới. Chính sách và những quyết định chiến lược thực hiện dựa trên quá trình điều tra và phân tích từ các chuyên gia. Quá trình áp dụng được chia ra làm 3 giai đoạn chính giãn cách nhau, tạo điều kiện cho người dân quen dần với tình hình mới.
Các phương tiện giao thông công cộng và hoạt động không gây ô nhiễm được khuyến khích sử dụng.
Chính sách hỗ trợ đi kèm cũng là một yếu tố quan trọng để thực hiện lộ trình trên, trong đó bao gồm phát triển các phương thiện giao thông công cộng như xe bus và các loại xe điện mini. Quá trình thắt chặt lưu thông đối với xe máy song hành với việc mở rộng các tuyến xe bus nội thành và tăng hiệu quả của các phương tiện này. Đối với những người dân phải giao nộp xe máy, chính quyền hỗ trợ mức giá trung bình là 180 USD (giá trị tại thời điểm giao nộp) mỗi xe. Số tiền thay đổi tùy theo năm sử dụng, nếu quá 13 năm lưu hành thì chủ xe sẽ không được nhận tiền bồi thường.
Một số hội chợ việc làm đặc biệt cũng được mở ra nhằm giúp đỡ tìm việc làm cho những người từng chạy xe ôm trước đây hay những người làm việc trong các lĩnh vực có liên quan đến xe máy. Các thể chế áp buộc đặc biệt cũng được thực thi với mục đích thực hiện chính sách đưa ra một cách triệt để và hiệu quả nhất.
Lệnh cấm xe máy của thành phố Quảng Châu đã được 4 năm kể từ khi có hiệu lực. Thực tế chứng minh được những kết quả tốt đẹp mang lại từ quyết định này khi giúp cải thiện hình ảnh của thành phố và đời sống của nhân dân trong vùng. Tuy nhiên vẫn có một số ý kiến trái chiều và các hệ quả không mong đợi. Các quốc gia phương Tây cũng đã ban hành lệnh cấm từ rất lâu và thu được những ích lợi nhất định từ quyết định này.

Anh Quân

Quả bom nợ đe dọa Trung Quốc
image Năm 2006 báo chí Mỹ bắt đầu cảnh cáo quả bóng nợ địa ốc đang phồng lên sắp vỡ vì mấy năm trước các ngân hàng cho vay mua nhà dễ dàng quá; đến lúc các con nợ trả không nổi thì hệ thống ngân hàng lâm nguy. Bên Âu Châu từ năm 2010, báo chí cũng nói đến quả bom nợ sắp nổ vì ngân sách Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha khiếm hụt nặng nề. Nhưng ở Trung Quốc báo chí tới nay không nói gì tới quả bom nợ treo trên đầu nền kinh tế, trừ vài tạp chí dành cho giới chuyên môn. Một người khách đến Bắc Kinh, Thượng Hải, đi đây đó, bắt tay, rồi quay về, sẽ không thấy triệu chứng báo nguy nào cả ngoài quang cảnh những nhà chọc trời, các đường cao tốc, phi trường tối tân. Tuy nhiên, bên dưới những công trình xây cất đó là nợ. Cả đống nợ. Chưa biết bao giờ nó sẽ phổng lên, không chịu được áp lực nữa, phải nổ.

Quả bom nợ ở Trung Quốc đã được nhiều người báo động từ mấy năm nay. Báo chí về tài chánh thường phỏng vấn Giáo sư Sử Tông Hãn (Victor Shih, 史宗瀚) thuộc Đại học Tây Bắc (Northwestern University) ở Chicago nước Mỹ, ông chuyên nghiên cứu vấn đề này, đã in cuốn Factions and Finance in China: Elite Conflict and Inflation" (Các Phe nhóm và Tài chánh ở Trung Quốc: Tranh quyền trong giới lãnh đạo và Lạm phát - Cambridge University Press, 2009). Ông tiên đoán trái bom nợ Trung Quốc sẽ nổ trong vòng mấy năm tới. Ông có thể đoán sai về thời hạn dài hay ngắn; giống như tạp chí tài chính Forbes đã báo động sớm đến 6 năm vụ bùng nổ quả bong bóng địa ốc làm cho kinh tế Mỹ suy sụp, nhưng sau cùng vụ nổ đó xảy ra đúng như dự báo.
Giống Mỹ trước 2007
Các món nợ chồng chất ở Trung Quốc có phần giống hiện tượng địa ốc ở Mỹ trước năm 2007. Phần lớn các món tiền vay được dùng trong ngành địa ốc, xây dựng. Ở Mỹ thì người ta vay mua nhà, hoặc vay xây nhà để bán. Trong mấy năm trời, các ngân hàng hoặc công ty tín dụng buông thả không theo đúng quy luật, cho nhiều người vay mà không xét kỹ hồ sơ về khả năng trả nợ của họ; đến lúc nhiều người không trả được nợ thì ngân hàng mang họa. Không phải một ngân hàng mà rất nhiều, lây lan ra, khắp thế giới. Ở Trung Quốc người ta cũng đi vay để xây bao nhiêu nhà cao tầng làm văn phòng hoặc để ở, xây phi trường, nhà ga, đường sắt, xa lộ, sân vận động, cơ xưởng, vân vân. Một phần là do Chính phủ trung ương xây, phần nguy hiểm, dễ vỡ nợ nhất là do các chính quyền địa phương đi vay để xây. Nhờ các công trình xây dựng tốn kém đó cho nên mỗi năm Trung Quốc vẫn ghi chỉ tiêu sản xuất toàn quốc tăng thêm 9% hay 10%. Giống như những nhà xây cất và người mua nhà ở Mỹ, chính quyền các cấp ở Trung Quốc vay quá nhiều mà không tính tới có ngày sẽ không trả được nợ các ngân hàng. Số “nợ xấu” ngày càng lên cao, tới lúc các ngân hàng cũng vỡ nợ, đưa tới khủng hoảng lúc nào không biết.
Cơn sốt xây cất do Chính phủ Bắc Kinh khởi động trong những thập niên 1980 và 1990, do chính quyền trung ương khuyến khích. Các địa phương hồ hởi chạy theo; vì tiền vay dễ dàng, vì khi có công trình là cá nhân cũng được lợi; và thành tích báo cáo lên sẽ mở đường leo cao hơn. Xây dựng xong, có được dùng hay không họ không cần báo cáo! Trước đây 20 năm, tôi gặp một doanh nhân ngoại quốc ở phi trường Quảng Châu. Anh ta vẫn đặt làm hàng ở Trung Quốc để xuất cảng sang Mỹ. Sau khi bày tỏ ý kiến bất nhẫn về cảnh sống quá chật chội, thiếu vệ sinh tại cư xá các công nhân làm hàng cho anh, có cư xá không có cả đường thoát thân nếu xảy ra hỏa hoạn, anh than rằng có nói ra thì Ban quản đốc nhà thầu cũng cứ bỏ qua không cải thiện; anh chợt hỏi: “Ông có thấy những dãy cao ốc hai bên xa lộ ban đêm không thắp đèn không?”. Tôi đoán thử, chắc họ chưa hoàn tất cho nên chưa mắc điện. Anh nói, “Đúng như vậy. Nhưng tôi qua đây mỗi năm ba bốn lần, mà từ mấy năm nay tôi vẫn thấy những ngôi nhà đó tối om như thế!”.
Tình trạng nhà xây xong không có người ở giờ vẫn tiếp tục, và còn tăng mạnh hơn. Cuối năm 2008, Chính phủ trung ương đưa thêm một số “tiền kích thích kinh tế” khoảng 600 tỷ đô la Mỹ cho các tỉnh và các cơ quan. Chương trình này đa số dùng vào việc xây cất, giúp Trung Quốc giữ tỷ lệ tăng trưởng cao như mấy năm trước, bù vào số hàng xuất khẩu giảm bớt vì ảnh hưởng cuộc suy thoái trên thế giới. Nó cũng được Chính phủ các nước khác hoan nghênh vì Trung Quốc giúp giảm bớt tốc độ suy thoái chung trên thế giới. Nhưng nó cũng tạo ra một hậu quả là lạm phát trong nước lên cao hơn. Lạm phát tăng vì cầu lớn nhanh hơn cung. Số tiền bơm vào nền kinh tế nâng cao nhu cầu dùng tiền mà không mang lại số sản xuất tương ứng để cung với cầu được cân bằng.
Nguyên do vì phần lớn số tiền đó được đầu tư vào các công trình không có lợi ích thật. Một định luật kinh tế là lợi suất của đồng tiền đầu tư thêm sẽ giảm dần dần, đồng tiền sau không sinh lợi bằng đồng trước; cứ tiếp tục sẽ đến lúc nó không còn hiệu quả. Định luật này đúng ngay cả khi người kinh doanh cố đạt hiệu quả cao nhất để kiếm lời. Ở Trung Quốc, những quyết định đầu tư lại có nhiều động lực khác, không cần quan tâm đến lợi ích và hiệu quả kinh tế. Cho nên luật “năng suất tiệm giảm” càng trầm trọng, năng suất giảm rất nhanh. Trong 9 năm đầu thập niên 2000, cứ 1,50 đồng đầu tư thì tạo thêm 1 đồng trong sản xuất. Khi tiền đổ vào nhiều quá đến năm 2010 thì cần 7,50 đồng mới tạo ra thêm được 1 đồng cho tổng sản lượng nội địa. Mà đồng tiền mới đầu tư lại toàn là tiền vay nợ.
Những người đầu tư và đầu cơ địa ốc ở Mỹ trước năm 2007 vay nợ rất nặng, các công trình xây dựng ở các địa phương Trung Quốc phần lớn cũng vậy. Ở Mỹ, cơn sốt địa ốc được nuôi bằng hai yếu tố: Lãi suất thấp, và giá địa ốc tiếp tục lên cao; vay tiền mua nhà hoặc xây nhà, trả lãi thấp mà tin tưởng sau đó bán đi chắc chắn có lời. Các chính quyền địa phương được Bắc Kinh khuyến khích tiêu tiền, ngân hàng của nhà nước cho vay lãi suất thấp bằng một phần 10 trong thị trường nợ chui. Ở Trung Quốc thì không thấy giá các công trình xây cất của họ tăng lên nhưng nhà cửa cũng tăng giá không khác bên Mỹ hồi đó. Họ còn có một động cơ khích lệ khác: Thăng tiến trong đảng và trong guồng máy cai trị, nếu tiếp tục báo cáo số công trình hoàn tất, tạo thêm việc làm cho một số công nhân lớn.
Các địa phương thi đua xây dựng
Những tỉnh và thành phố bậc trung là nơi người ta vội vàng xây cất nhất. Tỉnh nào cũng muốn có một phi trường để so sánh với Bạch Vân ở Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông. Thiên Tân, Vũ Hán, Thành Đô, thành phố nào cũng muốn cao ốc mọc lên cho bằng trung tâm Thượng Hải. Tiền đâu ra? Các ngân hàng của Nhà nước sẵn sàng cho vay, khi không được phép vay thì bán đất lấy tiền. Một nguồn thu nhập của lớn của chính quyền địa phương là bán đất công, hoặc xây nhà lên rồi bán nhà. Vì vậy chính họ muốn nuôi cho cơn sốt địa ốc tiếp tục nóng, để giá nhà đất cao, bán sẽ được nhiều tiền đầu tư thêm. Sau hai nguồn vốn đó, còn nguồn nữa là đi vay ở hệ thống “ngân hàng không chính thức”. Theo tin của China Real Estate Information Corp, một công ty thông tin kinh tế ở Thượng Hải, thì trong năm 2010 tiền bán đất góp đến 40% vào số thu nhập của các chính quyền địa phương. Chính quyền cũng dùng đất công làm vật cầm thế khi vay nợ, cho nên họ càng muốn giữ tình trạng giá đất cao. Sở Nhà đất thành phố Vũ Hán cho biết giá đất ở các khu nhà loại sang lên tới 11.635 nguyên một mét vuông (khoảng 1.800 đô la). Với giá đất như vậy, người lao động càng khó đủ tiền mua nhà ở.
Thành phố Thiên Tân đã xây thêm nhiều cao ốc làm văn phòng, xây thừa, bỏ trống nhiều đến mức, nếu tốc độ phát triển còn tiếp tục cao như hiện nay, cũng phải chờ 25 năm mới được sử dụng hết. Giá nhà ở trong quận Thuận Nghĩa (Shunyi), ngoại ô Thiên Tân, lên tới 400 đô la Mỹ một bộ vuông (square foot), tương đương với giá 4.000 đô la một mét vuông, cao vô địch toàn quốc. Ngân hàng Credit Suisse năm 2011 đã báo cho các thân chủ biết Thành phố Vũ Hán là một trong 10 địa điểm phải tránh xa ở Trung Quốc. Theo ngân hàng này thì phải mất tám năm mới bán hết các ngôi nhà chưa có người mua ở đây; trong khi họ vẫn đang xây thêm hàng chục ngàn ngôi nhà khác.
Tất nhiên, những cao ốc và các ngôi nhà không được sử dụng thì không sinh ra tiền để trả tiền lãi và hoàn lại vốn. Các chính quyền khi quyết định xây dựng thì không tính đến vấn đề đó. Tăng Minh Hữu (Zeng Mingyou 曾明友), Giám đốc Sở Kế hoạch Kinh tế thành phố Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, cho biết ba năm trước, thành phố đã ngưng hoạt động tất cả mọi cơ quan phụ trách vay tiền để xét lại, vì thấy có một đường cao tốc đang kiến tạo đi qua một vùng đất ruộng mà chắc chắn sẽ không có xe cộ nào đi qua! Tất nhiên, không làm sao đòi lại được số tiền đã chi tiêu cho đoạn đường đang làm dở dang. Nhiều tỉnh ở Trung Quốc đã kêu gọi các xí nghiệp đóng thuế trước cho năm 2010, để đủ tiền chi tiêu cho năm 2009. Giáo sư Victor Shih cũng nói đến một thành phố với dân số 800 ngàn người mà cũng xây một vận động trường với tầm cỡ Thế vận hội. Tất nhiên công trình đó cũng không sinh ra đồng nào trong tương lai, ông kết luận.
Tới năm 2010, chính quyền các địa phương đã mang số nợ tổng cộng khoảng 10.700 tỷ đồng nguyên, tương đương 1.600 tỷ đô la. Cứ tiếp tục như vậy thì lấy tiền đâu trả nợ sau này? Liêu Ninh nhật báo cho biết trong năm 2010, các cơ quan thuộc chính quyền tỉnh vay nợ đã có 85% không trả đủ được tiền lãi và vốn đúng hẹn. Tin này đọc trong báo cáo kiểm tra của tỉnh Liêu Ninh. Vũ Hán đã có bảy cây cầu băng qua Trường Giang (sông Dương Tử) lại đang xây thêm ba cây cầu khác. Thành phố 10 triệu dân này cũng đang nối dài thêm 215 km đường xe điện ngầm, từ nay đến năm 2017. Sở Kiến thiết và Phát triển đô thị thuộc thành phố Vũ Hán mang nợ 68,5 tỷ đồng nguyên vào tháng Chín năm 2010. Trong lúc quỹ hoạt động dùng được chỉ có 148 triệu! Thành phố bắt các chủ xe hơi phải trả tiền qua cầu mỗi tháng 18 lần, mỗi lần 16 nguyên (dưới 3 đô la). Thành phố Thành Đô, Tứ Xuyên, vào cuối năm 2010 ghi trong sổ tổng cộng nợ 18,9 tỷ đồng nguyên. Cùng lúc đó, số tiền có thể huy động chỉ là 11,7 tỷ. Theo ước tính của Bắc Kinh thì sẽ có tới 3.000 tỷ nguyên không thể đòi được trong số các món nợ của chính quyền địa phương. Nhưng cuộc nghiên cứu của Ngân hàng Standard and Charterd nói sẽ có tới 8 ngàn hoặc 9 ngàn tỷ đồng nguyên trở thành nợ xấu; tức là khoảng 1.200 tỷ đến 1.400 tỷ đô la; mà đây là riêng các món nợ của cấp chính quyền địa phương mà thôi (Tổng sản lượng nội địa Trung Quốc là 4,700 tỷ đô la).
Thống kê về nợ xấu của Chính phủ trung ương còn thấp vì không tính đủ các vụ vay nợ qua hệ thống tín dụng ngoài các ngân hàng. Những Công ty Tín thác (Trust) cũng cho vay như các ngân hàng nhưng với lãi suất cao hơn. Họ gom các món nợ thành từng “gói” rồi dùng gói nợ đó làm bảo đảm để bán các trái phiếu mới; người mua trái phiếu tức là cho họ vay tiền với lãi suất cao hơn gửi tiền ngân hàng; biết rằng sẽ được trả lãi và vốn dựa trên tiền thu từ cả gói nợ bảo đảm. Phương pháp này không khác gì ở những ngân hàng ở Mỹ trong những năm từ 2001 cho tới 2007. Họ cũng đi mua lại các gói nợ địa ốc, dùng chúng làm vật cầm thế mà phát hành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư khắp thế giới. Thu được tiền vào, lại đi mua các giấy nợ khác. Công việc này gọi là “securitization, chứng khoán hóa” các giấy nợ. Những nhà đầu tư sau cùng, phần lớn là các ngân hàng khắp thế giới. Đến khi chính những người vay nợ địa ốc không đủ tiền trả thì các trái khoán mất giá trị, các nhà đầu tư và ngân hàng đều phá sản, kéo theo những ngân hàng khác. Công việc “chứng khoán hóa” này đang được các ngân hàng ẩn thực hành ở Trung Quốc.
Nhiều cách báo cáo hay
Ngân hàng quốc tế Credit Suisse mô tả tình trạng các “ngân hàng ẩn” là một quả bom nổ chậm trong hệ thống tài chính Trung Quốc. Lãi suất mà các ngân hàng ẩn đánh người vay có thể lên tới 70%, và mỗi năm còn tăng thêm. Các chính quyền địa phương khi bị giới hạn không được vay từ ngân hàng chính thức, cũng đi vay các ngân hàng ẩn. Nhiều doanh nhân tư không được các ngân hàng nhà nước cho vay cũng phải tìm các ngân hàng ẩn, chịu trả lãi suất cao. Các công ty sản xuất tư nhân ở Ôn Châu, Quảng Châu, và các thành phố khác đang chật vật vì thị trường xuất cảng giảm bớt, vẫn phải đi vay để tồn tại. Khi phải trả lãi suất cao mà vẫn muốn bán giá rẻ để cạnh tranh xuất cảng, các công ty này chỉ còn một cách không lỗ vốn là trả lương công nhân rất thấp. Cuối cùng, giới lao động chịu hy sinh trong khi các chủ ngân hàng ẩn kiếm lợi. Nhiều quan chức đứng đằng sau các ngân hàng ẩn này. Họ góp tiền với nhau, giữa các gia đình, lập thành những quỹ để cho vay. Có thể chính những cơ quan chính quyền nằm trong ảnh hưởng của họ tới vay. Credi Suisse ước tính số tiền mà các ngân hàng ẩn cho vay lên tới 4.000 tỷ đồng nguyên, trên 600 tỷ đô la.
Riêng về các món nợ xây nhà, vẫn theo Credit Suisse, số tiền nợ từ các ngân hàng ẩn lên tới 208 tỷ đồng nguyên. Trong khi đó số tiền nợ địa ốc từ các ngân hàng chính thức cũng chỉ có 211 tỷ. Với lãi suất các ngân hàng ẩn đánh rất cao, nếu bị kẹt tiền một thời gian ngắn thì các nhà xây cất và các nhà kinh doanh địa ốc sẽ phá sản rất nhanh, kéo theo các ngân hàng mà họ đang mắc nợ. Những món “nợ xấu” trong các ngân hàng ẩn không được tính trong số thống kê. Trong khi chính quyền trung ương vẫn căn cứ trên thống kê chính thức để hoạch định chính sách, ra chỉ thị cho các cấp dưới. Khi trung ương ra lệnh các ngân hàng của nhà nước ngưng cho vay để giảm bớt số nợ toàn quốc, thì hệ thống ngân hàng ẩn càng hoạt động mạnh hơn, tổng số nợ vẫn tăng lên. Các ngân hàng ẩn là nơi cho vay những món nợ nhiều rủi ro nhất. Vì không vay được trong hệ thống ngân hàng bình thường nên người ta mới tìm đến các ngân hàng ẩn. Mà họ thì sẵn sàng cho vay, vì món nợ càng rủi ro thì họ đánh lãi suất càng cao; hơn bù kém, cuối cùng họ vẫn có lời!
Một phương pháp khác có thể làm cho số nợ chính thức được giảm xuống, cũng như giảm số nợ xấu, là chính các ngân hàng bình thường “xào xáo” sổ sách kế toán. Một ngân hàng cho một công ty quốc doanh vay, đến kỳ hạn mà không thể trả tiền đều đặn, món nợ sẽ bị xếp vào loại “nợ xấu”. Có một cách tránh né, giúp cho cả hai bên. Ngân hàng sẽ cho thân chủ đó vay một món nợ mới, dùng tiền mới vay đó trả cho món nợ cũ một cách đều đặn. Còn món nợ mới, vì nó mới cho nên chưa bị trễ hạn trả bao giờ, không thể xếp loại nợ xấu được. Người vay có tiền, mà ngân hàng cho vay tránh được tiếng bị nhiều nợ xấu! Cứ như thế, tỷ lệ nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Trung Quốc bề ngoài có thể rất thấp.
Công ty Đường cao tốc Hải Nam (Hainan Expressway Co) đang nợ đùm đề. Năm ngoái họ cho cơ quan mẹ là Sở Giao thông Hải Nam vay 40 triệu đô la, rồi ghi vào sổ đó là một tài sản. Dùng tài sản đó làm thế chấp, họ lại đi vay thêm được từ các ngân hàng của nhà nước, các món nợ rất rủi ro mà theo Giáo sư Victor Shi, sẽ không thể trả hết được.
Theo Giáo sư Victor Shi thì các ngân hàng thường được Ủy ban Kiểm soát ngân hàng trung ương cho phép “tái cơ cấu” các món nợ. Và họ làm theo ngay. Một cách khác để “tái cơ cấu” nợ là đổi các món nợ cho chính quyền địa phương vay thành ra món nợ cho các xí nghiệp vay. Với danh nghĩa đó, ngân hàng sẽ được phép hạ thấp số tiền dự trữ, do đó sẽ có thể khai số lợi nhuận cao hơn. Theo thông tin trên báo chí Trung Quốc thì các ngân hàng đã đổi cách xếp loại các món nợ tổng cộng lên tới 2.800 tỷ đồng nguyên. Đây là những lối xào xáo sổ kế toán, không khác gì Công ty Enron ở Mỹ đã làm trước khi phá sản vào tháng Mười hai năm 2001.
Trên đây chúng ta đã thấy hình ảnh số nợ chồng chất ngày càng cao trong nền kinh tế Trung Quốc. Cả một guồng máy khuyến khích các chính quyền địa phương đi vay và xây dựng, giúp cho tổng sản lượng nội địa tiếp tục tăng lên, nhưng không gia tăng được số hàng hóa và dịch vụ thật sự cho người dân hưởng. Phần tiêu thụ của người dân đã giảm liên tục trong hàng chục năm qua, từ 40% xuống dưới 30% trong tổng sản lượng nội địa. Quan chức địa phương có động cơ tự nhiên đi mãi trên con đường này, vì tài sản và địa vị của họ lên hay xuống tùy thuộc vào chính sách đó có tiếp tục hay không. Và họ không cảm thấy có trách nhiệm khi số nợ cứ leo thang lên mãi. Một quan chức thành phố Vũ Hán giải thích rằng họ chỉ làm theo chỉ thị từ trung ương. “Chúng tôi là những cầu thủ, không phải huấn luyện viên, cũng không phải trọng tài. Tại sao lại hỏi chúng tôi những chuyện của huấn luyện viên và trọng tài?”. Ông Tạ Tác Hoài (Xie Zuohuai 谢作怀), thuộc Ban Kiểm soát ngân hàng ở Vũ Hán nói: “Đây là một thành phố kiểu mẫu trong việc thi hành các quy luật kiểm tra ngân hàng từ Bắc Kinh ban ra. Tôi tin tưởng là Chính phủ trung ương sẽ quản lý tốt các sự rủi ro”.
Đó cũng là niềm tin chung của các quan chức địa phương khắp nước. Khi tin tưởng như vậy, họ càng yên tâm vay thêm và tiêu thêm mà không lo đến hiệu quả kinh tế cao hay thấp. Chính phủ Bắc Kinh cũng biết mối nguy khi tổng số nợ ngày càng lên cao. Họ đã báo động, đã tìm cách kìm hãm, đưa ra các chỉ thị mới. Nhưng các chỉ thị đó có dự trù được tất cả các lỗ hổng mà địa phương sẽ sử dụng hay không, chưa biết được! Các quan chức địa phương có động lực tự nhiên đi tìm các lỗ hổng để chui qua, vì con đường thăng tiến của họ, mà họ không thấy có trách nhiệm phải tiêu tiền cho có hiệu quả lâu dài. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cảnh cáo là các quan chức nhiều quyền quá, mà thiếu một hệ thống kiểm tra. Ông cũng nói thẳng kinh tế Trung Quốc không thể tiếp tục thăng tiến được nếu không thay đổi về chính trị. Nhưng thay đổi cả một bộ máy vĩ đại đang cung cấp và bảo vệ quyền lợi của 80 triệu đảng viên là một việc rất khó.
Kinh tế không quân bình
Ông Ôn Gia Bảo lo là phải. Một quốc gia không thể cứ đi vay nợ mãi mà sống. McKinsey Global Institute ước tính số nợ trên cả nước Trung Hoa vào năm 2008 lớn bằng khoảng 159% tổng sản lượng nội địa, trước khi dùng số tiền 600 tỷ đô la kích thích. Nước Hy Lạp vào tháng Mười năm 2011, khi bắt đầu được các nước Âu Châu cấp cứu để thoát cảnh Chính phủ phá sản, cũng có tỷ lệ Nợ/GDP khoảng 165%. Tỷ lệ tổng số Nợ trên GDP ở Trung Quốc hiện nay tương tự như tình trạng Nhật Bản trước năm 1990, khi cơn sốt địa ốc và chứng khoán ở Nhật bùng nổ làm cho hệ thống ngân hàng sa lầy, người tiêu thụ giảm chi, các xí nghiệp ngưng đầu tư, kinh tế suy thoái.
Trung Quốc trong các năm tới không lâm vào tình trạng phá sản như Hy Lạp, cũng như năm 1992 Chính phủ Nhật Bản không phá sản. Vì họ vay tiền trong xứ bằng tiền của nước họ, không nợ đô la từ nước ngoài. Chính phủ có quyền cắt bớt hay tăng chi tiêu; ngân hàng trung ương có quyền in thêm tiền nước mình. Nhờ dân Nhật rất tiết kiệm, Chính phủ và các công ty, ngân hàng Nhật vay trong thị trường nội địa, với lãi suất rất thấp mà ngân hàng ngoại quốc không ai muốn cho vay. Tuy không bị lâm vào cảnh phá sản như Hy Lạp, nhưng Nhật Bản cũng phải trả cái giá, là kinh tế trì trệ trong hai chục năm, trong khi chờ hệ thống ngân hàng cải tổ. Hiện nay tỷ lệ Nợ/GDP của Nhật Bản cũng trên 200% mà vẫn không sao cả, nhờ dân Nhật vẫn giữ tỷ lệ tiết kiệm rất cao không thay đổi.
Ở Trung Quốc thì Chính phủ và các ngân hàng của nhà nước đóng vai chủ nợ, cho các doanh nghiệp nhà nuớc và các chính quyền địa phương vay. Ngân hàng trung ương chỉ việc in thêm tiền để các ngân hàng cho các xí nghiệp của nhà nước vay. Mỗi năm Ngân hàng nhân dân tăng số tiền tệ lưu hành khoảng 15% đến 25%. Trong các năm tới họ sẽ tiếp tục chính sách này: Ngân hàng Nhà nước in tiền, cho vay thêm nợ mới để trả nợ cũ, số nợ cứ thế còn tăng thêm nữa. Nhưng họ sẽ phải lo đối phó với hai hậu quả: Một là lạm phát gia tăng, hai là kinh tế giảm tốc độ phát triển khi cần hãm bớt đà lạm phát. Một xã hội không thể nào cứ đi vay tiền dùng mãi mãi được. Thế nào cũng có giá phải trả, cách này hay cách khác. Trung Quốc cần thay đổi toàn bộ kinh tế thì mới trở thành bình thường được.
Nền kinh tế Trung Quốc không quân bình, vì số tiêu thụ rất thấp, hoạt động chính nhờ vào đầu tư. Cứ một đồng trong tổng sản lượng nội địa thì có 70 xu là đầu tư, đại đa số do Chính phủ đầu tư; phần người dân được tiêu thụ thấp hơn 30 xu. Khác hẳn ở nước Mỹ, dân tiêu thụ 67 xu trong một đồng GDP sản xuất ra. Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã cảnh cáo phải thay đổi tình trạng không quân bình này; Chính phủ đã cố gắng thúc đẩy số đầu tư thêm. Nhưng khi lợi tức của dân tiêu thụ không được tăng đúng mức, thì khó thúc đẩy. Khi tỷ lệ lạm phát lên 6% mà tiền gửi ngân hàng chỉ trả trên 3%, thì người dân mỗi năm sẽ mất gần 3% giá trị tiền tiết kiệm của mình. Không thể tăng lương nhanh cho đủ, vì lo sẽ gây thêm lạm phát. Đại đa số dân phải lo tiết kiệm để lo bệnh tật, tiền học cho con cái, hưu bổng, vân vân, vì hệ thống an sinh xã hội chưa phát triển. Cho nên lợi tức khả dụng để tiêu thụ rất thấp.
Người dân Trung Quốc đang phải hy sinh vì tình trạng kinh tế không quân bình. Cơn sốt địa ốc làm cho xã hội bất bình đẳng hơn, chuyển rất nhiều tài sản vào tay các nhà xây cất, và bạn bè họ trong chính quyền. Trong lúc đó, người dân sẽ phải ăn tiêu dè sẻn hơn vì chi phí về nhà ở lên cao quá. Những người giàu nhất nước khoảng 6 triệu người, gồm 1% dân số ở các thành phố và thị xã, hiện giữ tài sản trị giá khoảng 2 ngàn đến 5 ngàn tỷ đô la. Những người giàu nhất đang chuyển tiền ra nước ngoài. Nếu họ đánh hơi được một cơn động đất tài chánh, họ sẽ chuyển tiền nhanh và sớm hơn. Dù Chính phủ không cho phép chuyển tiền đi, nhưng nếu ai muốn vẫn có thể đem một số đồng nguyên qua Hồng Kông, sẽ có người chuyển ra nước ngoài giúp, thành hàng triệu đô la, chỉ cần trả họ một số hoa hồng. Trước cơn nguy biến những người giàu có thể sẽ chuyển đi hàng tỷ đô la.
Tất cả các yếu tố có thể gây ra cơn địa chấn đã hội tụ đầy đủ, không khác gì ở Mỹ năm 2007. Các nhà đầu tư địa ốc và chính quyền địa phương vay nợ quá nhiều. Tổng số nợ vẫn tiếp tục tăng lên, gần bằng Nhật Bản trước khi quả bong bóng nổ thời 1990. Những người có tiền không có cơ hội đầu tư vẫn thấy địa ốc là nơi duy nhất dễ kiếm lời hơn cả, vì thế họ vẫn đẩy giá lên cao hơn.
Trận động đất vì nợ hiện nay được kìm hãm vì tất cả nền kinh tế do Chính phủ nắm trong tay. Ngân hàng trung ương tiếp tục in thêm tiền. Nhưng mối đe dọa về lạm phát sẽ khiến tốc độ in tiền phải giảm xuống, không thể tăng mỗi năm 25% số tiền lưu hành như trước. Lạm phát là nguyên nhân mạnh nhất gây ra bất ổn. Hiện nay mỗi năm ở Trung Quốc xảy ra hàng trăm ngàn vụ biểu tình, không thể tạo thêm bất ổn nữa. Giữa hai mối lo, hoặc là lạm phát, hoặc là chính thức cho quả bom nợ nổ, chính quyền trung ương sẽ phải chọn một. Họ sẽ tìm cách làm sao cho cuộc động đất xảy ra chậm chậm, từ từ, trong lúc theo dõi giữ tỷ lệ lạm phát sao cho đừng lên nhanh quá; giống như một người đi dây.
Sang năm, hai ông Hồ Cẩm Đào và Ôn Gia Bảo sẽ chuyển giao quyền hành cho thế hệ mới. Họ sẽ cố giữ cho hệ thống tiếp tục chạy đều cho tới khi mãn nhiệm, không ai muốn gây sóng gió trong lúc mình còn đang chịu trách nhiệm. Để coi rồi ông Tập Cận Bình sẽ xoay trở đi dây ra sao!
Ngô Nhân Dụng

Một thành phố ma giữa lòng đất nước Trung Hoa: Thảm họa về quản lý

clip_image002
Tượng Goethe và Schiller giữa một quảng trường lát đá cuội

Johann Wolfgang von Goethe mặc áo dài đuôi tôm đứng trong tư thế tay cầm vòng quyệt quế còn bên cạnh ông là Friedrich Schiller tay cầm một cuộn giấy viết. Hai bức tượng đồng trấn giữ uy nghi một quảng trường lát đá cuội vây quanh là cây cối. "Người qua đường thường xuyên hỏi tôi đây là những người nào", một chủ tiệm cà phê đang ngóng khách trong một ngày cuối hạ nóng như thiêu nói. "Giá mà họ biết hai con người đó là ai?"
Người ta đã đem hai thi sĩ vĩ đại nhất của nước Đức đến đặt ở một đất nước xa lạ. Rút cục quảng trường này đâu phải là ở Weimar hay Heidelberg. Quảng trường nằm tại một thị trấn ngoại ô của Thượng Hải. Thị trấn Đức Anting cách đô thị khổng lồ kia của Trung Quốc 30 km là một quận dân cư điển hình kiểu Đức được xây dựng thí điểm ở Trung Quốc nhưng không thành công.
clip_image004
Nhà bưu điện
Trông nó đúng là một thành phố ma. Đường phố vắng tanh bóng người, một nhân viên bảo vệ đang ngồi buồn thiu trong trạm gác, khắp nơi chỗ nào cũng thấy trưng biển "Bán nhà". Nhà bưu điện thì đã xây xong và trên hòm thư có dòng chữ "Mỗi ngày lấy thư một lần". Nhưng đừng có dại mà quẳng thư vào đó bởi vì từ lúc nhà bưu điện được hoàn thành đến nay người ta chưa một lần mở hòm thư, còn nhà bưu điện thì vẫn đóng cửa.
clip_image006
Thành phố ma
Nếu đây mà là vùng Viễn Tây xa xưa của nước Mỹ thì có lẽ cỏ dại đã mọc lan ra cả đường phố.
Thị trấn Đức Anting nom giống như một quận dân cư ở Stuttgart hoặc Kassel, những tòa nhà cao từ ba đến năm tầng được xây theo phong cách kiến trúc chức năng Bauhaus: mặt tiền phẳng lỳ được sơn màu da cam và vàng chanh, mỗi tòa nhà đều có sân trong có trồng cây to và bụi cây thấp. Hiện nay thị trấn này có diện tích một cây số vuông. Theo kế hoạch thì nó sẽ được mở rộng tới 5 cây số vuông.
clip_image008
Quang cảnh thành phố ma
Thị trấn do hãng kiến trúc Albert & Partner có trụ sở ở Frankfurt vẽ kiểu. Speer là con trai của Kiến trúc sư tên tuổi từng là Kiến trúc sư trưởng của Hitler trong Thế chiến II.
Sao chép các thành phố châu Âu đang là trào lưu mới nhất ở Trung Quốc hiện nay. Xung quanh Thượng Hải có vài thành phố sao chép như vậy: Thị trấn Thames gợi lại nước Anh thời Nữ hoàng Victoria với những buồng điện thoại công cộng sơn đỏ chót, thị trấn Hà Lan đương nhiên có một chiếc cối xay gió nằm bên cạnh những ngôi nhà be bé xây bằng gạch. Ở miền Nam Trung Quốc thì làng Hashitate đang được xây dựng, đó là một phiên bản sao chép nguyên xi ngôi làng Hallstatt của Áo đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới.
Giới quy hoạch của Trung Quốc ban đầu muốn có một bản sao nguyên xi một thị trấn Đức với những ngôi nhà có tường bằng khung gỗ và cổng vòm, nhưng các kiến trúc sư Đức đã thuyết phục chính quyền thành phố cho phép họ xây dựng một thị trấn dựa trên mô hình một thị trấn Đức thân thiện với môi trường, cửa sổ hai lớp kính và tòa nhà có hệ thống sưởi trung tâm thay vì kiểu nhà theo phong cách La Mã thường thấy ở vùng Rừng Đen ở nước Đức.
clip_image010
Bắt chước nhà ở vùng Rừng Đen (Schwarzwald nằm ở Tây Nam nước Đức)
Vấn đề là hầu như chẳng có một mống nào muốn sống ở đây cả. Quy hoạch được dự kiến là cho 50 ngàn người sinh sống tại Anting. "Thị trấn dự kiến sẽ được hoàn thành vào năm 2008", Johannes Dell, đại diện của Speer tại Trung Quốc nói. Nhưng tới nay chỉ mới xây được một phần. Ban đêm hầu như không có ánh sáng điện ở các khu nhà căn hộ.
Ngoài hai bức tượng Goethe and Schiller đứng cô độc, hầu như chẳng có một dấu vết nào của văn hóa Đức tại Anting cả. Lễ hội bia hàng năm Oktoberfest, với các ban nhạc của Đức sẽ sang, đã bị hủy bỏ. Một quán rượu Đức và một tiệm bánh ngọt Đức đã đóng cửa.
Yu X, một đại lý buôn bán bất động sản tại Anting hiểu rất rõ vấn đề. Bà đưa chúng tôi tới một căn hộ nom có vẻ như chưa được hoàn thiện. "Không bán được", bà Yu nói. "Chẳng ai chịu mua căn hộ này từ nhiều năm nay rồi". Bà giải thích lý do: người Trung Quốc thích nhà của họ quay mặt về hướng Bắc và hướng Nam – về phong thủy như thế sẽ tốt hơn.
Yu, 52 tuổi, thuộc thị trấn Anting như lòng bàn tay. Bà dọn đến đây từ năm 2006 "Giá mua căn hộ ở đây hồi đó rẻ hơn bây giờ", bà kể, "và quang cảnh xung quanh lại đẹp nữa". Anting không có tường hoặc dây thép gai như thường thấy ở các khu dân cư ở Trung Quốc. Anting lại còn có nhiều cây xanh, kênh và hồ nước.
"Chúng tôi muốn phá vỡ sự đơn điệu thường thấy ở các thành phố ở Trung Quốc", Kiến trúc sư Johannes Dell nói. Hãng của ông đã cố gắng tạo những khoảng không gian trống và sáng sủa, bằng "nhiệt huyết của các nhà truyền giáo" ông nói. Những khoảng sân rộng rãi và lối đi rộng đã chứng minh cho tham vọng nói trên. Nhưng hôm nay thì ông buộc phải thú nhận: "Người Trung Quốc chẳng hề quan tâm tới chuyện đó".
Wang Zhijun, chuyên gia quy hoạch tại Đại học Tonji ở Thượng Hải đã ca ngợi quan niệm của người Đức là có tính thẩm mỹ và "được tính toán thấu đáo" – trên lý thuyết. Nhưng trên thực tế thì dự án đã thất bại bởi vì không có cơ sở hạ tầng. Năm ngoái một trạm xe lửa nội đô được khánh thành, nhưng không phải ở đây. Người ta chỉ làm đường đi tới trạm xe lửa đó. Thị trấn Anting bị chia cắt nằm lọt thỏm giữa các khu công nghiệp và bãi đất hoang. Nó giống như một "thi thể ngoại lai" ông Wang nói.
5 năm sau khi những cư dân đầu tiên dọn đến thị trấn Anting thế mà vật liệu xây dựng và gạch ngói vụn vẫn nằm chất đống trước mặt khu trung tâm mua bán khổng lồ hầu như không một bóng người. Trung tâm mua bán này nằm gần một quảng trường được làm gần giống hệt một quảng trường ở Đức có tòa thị chính và một nhà thờ xây theo phong cách Bauhaus có một tháp và gian giữa được xây bằng bê tông nhẹ màu ghi. Wang nói rằng việc xây dựng các công trình ưu tiên này là điều sai lầm: "Ai cần đến Nhà thờ cơ chứ nếu như ở đây không có đến thậm chí một trường học hay bệnh viện?".
Johannes Dell thừa nhận hãng của ông "không có kinh nghiệm làm ăn với Trung Quốc" vào thời điểm họ ký hợp đồng. Phía Trung Quốc liên tục hứa sẽ xây dựng cơ sở hạ tầng, thế nhưng họ chẳng làm gì cả. Dell nói thẳng ra là đây là một "thảm họa về quản lý".
Yu X giải thích việc thiếu cơ sở hạ tầng tác động thế nào tới dân cư. Túi rác được chất thành đống ngoài phố bên cạnh những thùng rác đầy tràn mà nhiều ngày chẳng có người đến lấy rác đi. Thời gian đầu có rất nhiều cá dưới kênh, nhưng nước dần dần biến thành màu xanh vì các quán ăn xả nước thải xuống đó. Không ai ngăn chặn họ cả.
Yu và hàng xóm đã khiếu nại Ban quản lý khu chung cư không biết bao nhiêu lần rồi. Chẳng kết quả gì hết. Chính quyền địa phương lại không cho phép người dân tự thành lập ban đại diện. Một vấn đề nảy sinh là, cái khu vực dự kiến cho thi công của giai đoạn hai thì nay đang được dùng tạm làm bãi để xe hơi mới lắp ráp của Nhà máy lắp ráp xe Volkswagen ở gần đó. Hàng ngày công nhân của nhà máy này lái xe dọc theo những con phố với tốc độ dễ đến trăm km/giờ, Yu nói. "Nhưng chẳng ai làm gì được trừ phi có người bị chẹt chết".
clip_image012
Những chiếc xe như thế này hàng ngày phóng với tốc độ trăm km giờ qua thị trấn ma
Kiến trúc sư Dell nói họ đã bị nhầm ngay từ đầu: "Phía Trung Quốc không muốn có một thị trấn Đức. Họ chỉ muốn một thị trấn nom hao hao một thị trấn của Đức". Ông nói thêm, Speer sẽ chẳng bao giờ chấp nhận một hợp đồng như thế này nữa đâu.
Xifan Yang, Tạp chí Der Spiegel của Đức
Phạm Anh Tuấn dịch


Việt Nam: Một quan hệ tay ba đang hình thành?


Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đang duyệt hàng quân danh dự. Screen cap. China Central TV

Ngày 11/10/2011 chủ tịch nước Trương Tấn Sang chính thức thăm Ấn Độ; ngày 11/10/2011 TBT Nguyễn Phú Trọng cũng công du Trung Quốc.
Chuyến đi của hai nhà lãnh đạo cao cấp nhất VN đến hai quốc gia có dính líu đến vấn đề biển Đông, tạo thành mối quan hệ tay ba, làm cho dư luận trong nước cũng như trên thế giới đặc biệt chú ý. Định Nguyên có bài tìm hiểu sau đây:
Ấn Độ thế đối trọng cân bằng với Trung Quốc
Khi tuyên bố đường lưỡi bò trên Biển Đông, Trung quốc không ngừng áp lực lên VN bằng nhiều cách.Về kinh tế: hăm dọa các quốc gia có ý định hợp tác khai thác dầu khí trên thềm lục địa VN như trường hợp của các hãng BP, Exxon Mobile… Cho tàu Ngư chính giám sát toàn bộ ngư trường mà Trung Quốc tuyên bố là của Trung Quốc, cắt cáp tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam. Gần đây nhất là phản đối sự hợp tác khai thác dầu khí giữa Việt Nam và Ấn Độ. Về quân sự họ không ngần ngại tuyên bố sẵn sàng dùng chiến tranh để bảo vệ “lợi ích cốt lõi” của họ. Bài viết của Long Tao trên tờ Thời Báo Hoàn Cầu Trung quốc, sẵn sàng chiến tranh vói Việt Nam và Phillipines, là một minh chứng.

Phản ứng trước thái độ hung hăng của Trung Quốc, nhà cầm quyền Việt Nam ứng xử khá “mềm dẻo” mà dư luận cho là nhu nhược, nhưng dù thế nào người ta cũng dễ nhìn ra là Việt Nam “chưa thể” phản ứng cứng rắn nếu có muốn.
Khi quyết định cho Ấn Độ sử dụng cảng Nha Trang, gần cảng Cam Ranh và nằm cùng kinh độ cảng Hải Nam của TQ, cùng quyết tâm hợp tác với Ấn Độ trong lãnh vực dầu khí, giới quan sát cho rằng có thể Việt Nam đang tìm thế cân bằng đối trọng với Trung Quốc từ Ấn Độ.
Về kinh tế, Trung Quốc hiện là đối tác lớn nhất của VN, tổng kim ngạch trên 20 tỷ USD mỗi năm, chưa kể những hợp đồng xây dựng và khai thác khác mà nguồn vốn đa phần được vay từ Trung Quốc.
INDIA-VIETNAM-POLITICS
Chủ tịch nước VN Trương Tấn Sang (trái) bắt tay Thủ tướng Ấn Độ Manmmohan Singh khi ông sang thăm New Delhi vào ngày 12 tháng 10 năm 2011. AFP
Về quân sự, tiềm năng của Việt Nam so với Trung Quốc là không đáng kể, đặc biệt là khí tài quân sự. Kể từ sau năm 1975 đến nay việc bổ sung khí cụ hiện đại cho quân đội VN không có tính đột phá lớn và liên tục.
Khi quyết định cho Ấn Độ sử dụng cảng Nha Trang, gần cảng Cam Ranh và nằm cùng kinh độ cảng Hải Nam của TQ, cùng quyết tâm hợp tác với Ấn Độ trong lãnh vực dầu khí, giới quan sát cho rằng có thể Việt Nam đang tìm thế cân bằng đối trọng với Trung Quốc từ Ấn Độ. Nhất là hiện nay Ấn Độ quyết tâm thực hiện kế hoạch “Hướng Đông” của mình. Thêm nữa,Trung Quốc và Ấn Độ vẫn đang có tranh chấp trong vấn đề biên giới.
Trong khi nếu tìm đối trọng từ hướng khác, như Mỹ chẳng hạn, thì với chính quyền Việt Nam, Mỹ không đáng tin cậy, còn đối với Mỹ, Mỹ không hài lòng với chính sách “đu giây” của VN bên cạnh vấn đề nhân quyền mà dù muốn hay không vẫn đang là cái gai khó gỡ cho cả Việt Nam lẫn chính quyền Barack Obama.
Sự tình như có vẻ rõ ràng hơn khi hai nhà lãnh đạo cao nhất của Việt Nam, một Tổng bí thư, một Chủ tịch nước, cùng thời gian thực hiện hai chuyến công du sang hai quốc gia : Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ.
Giới quan sát quốc tế đưa ra nhận xét việc ông Trương Tấn Sang công du Ấn Độ cùng lúc với Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng công du Trung Quốc là cố tạo một đối trọng với sức mạnh của Bắc Kinh.
Tại Trung Quốc, giới quan sát nhận thấy giọng điệu có vẻ hòa hoãn hơn của lãnh đạo Trung Quốc và sau cuộc họp ngắn ngủi giữa hai Tổng bí thư văn bản “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa VN và Trung Quốc” gồm 6 điểm được ký kết. (TTXVN)
Đồng thời gian tại Ấn Độ, sau cuộc hội đàm giữa Chủ tịch Trương Tấn Sang và Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, ngày 12/10, hai bên đã ký một thỏa thuận khai thác dầu khí trên Biển Đông, bao gồm các khoản đầu tư mới cũng như cung cấp dầu thô và khí đốt cho hai nước. Chủ tịch Việt Nam còn cam kết sẽ bảo vệ lợi ích «chính đáng» của các công ty ngoại quốc đầu tư vào Việt Nam.
Đồng thời theo tờ The Times Of India: “các vấn đề quốc phòng và chiến lược sẽ bao trùm những cuộc hội đàm nhân chuyến viếng thăm Ấn Độ của chủ tịch Trương Tấn Sang”.
Vladimir Putin visits China
Thủ tướng Nga Vladimir Putin và Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. AFP
Những dấu hiệu này đã khiến giới quan sát quốc tế đưa ra nhận xét việc ông Trương Tấn Sang công du Ấn Độ cùng lúc với Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng công du Trung Quốc là cố tạo một đối trọng với sức mạnhcủa Bắc Kinh. Hai chuyến đi cùng lúc còn có mục đích giảm căng thẳng trước áp lực của trí thức trong nước về điều mà họ gọi là sự nhẫn nhục thái quá đối với Trung Quốc.
“các vấn đề quốc phòng và chiến lược sẽ bao trùm những cuộc hội đàm nhân chuyến viếng thăm Ấn Độ của chủ tịch Trương Tấn Sang”.
The Times Of India
Việt Nam sẽ không bỏ biển Đông
Từ trong nước, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy cho rằng đó là việc tất nhiên khi mà Trung Quốc ngày càng quyết đoán trong vấn đề Biển Đông. Ông nói:
“Theo tôi, chuyện Việt Nam là đối tác chiến lược với Ấn Độ và tăng cường hợp tác với Ấn Độ gần đây là do có những bước chuyển biến mới. Tất cả những chuyện thế giới gần đây Mỹ và các nước trong Asean có thái độ nầy, thái độ kia chủ yếu là do phía Trung Quốc gây ra. Trong tháng 3/2010 họ tuyên bố Biển Đông là lợi ích cốt lõi của họ, mà lợi ích cốt lõi thì sẽ như Đài Loan, Tây Tạng, Tân Cương, tức là có thể đánh nhau. Từ chỗ đó khiến cho Việt Nam, Philippines, Nhật, Hàn Quốc, .v.v. người ta phải làm thôi. Chuyện nầy chỉ là chuyện phản ứng tất nhiên của các nước có liên quan”.
Ông Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc mạnh mẽ phản đối việc Hà Nội và New Dehli khai thác dầu khí là dấu chỉ cho thấy dù có liều lĩnh thế nào đi nữa thì Hà Nội không thể hy sinh Biển Đông để đổi lấy những quyền lợi riêng tư như dư luận vẫn đồn đoán.
Chuyện Ấn Độ có phải là một đối trọng với Trung Quốc trong chiến lược của Việt Nam hay không phải cần thêm thời gian mới lộ rõ. Nhưng chắc một điều nhà cầm quyền Việt nam nếu cố gắng tạo một đối trọng với Trung Quốc sẽ là một bước ngoặc vô cùng quan trọng làm nhụt chí Trung Quốc trong cách ứng xử tại Biển Đông cũng như trên những hồ sơ khác.
Tàu chiến bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận chung Nga - Trung Quốc hồi tháng 8/2005 tại vùng biển đảo Sơn Đông. AFP PHOTO/Xinhua.
Tàu chiến bắn hỏa tiễn trong cuộc tập trận chung Nga - Trung Quốc hồi tháng 8/2005 tại vùng biển đảo Sơn Đông. AFP PHOTO/Xinhua
Trong thế giới đa cực ngày nay, việc ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang thăm Trung Quốc trùng hợp với chuyện Thủ tướng Vladimir Putin sang Bắc Kinh không làm người ta so sánh, thế nhưng ông Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ chỉ vài ngày sau khi Trung Quốc mạnh mẽ phản đối việc Hà Nội và New Dehli khai thác dầu khí là dấu chỉ cho thấy dù có liều lĩnh thế nào đi nữa thì Hà Nội không thể hy sinh Biển Đông để đổi lấy những quyền lợi riêng tư như dư luận vẫn đồn đoán.
Biển Đông không chỉ là tài nguyên không thôi, nó còn ẩn chứa nhiều điều mà các cường quốc ngày càng nhận ra tầm quan trọng sống còn của vị trí mà họ đang nắm giữ. Bài diễn văn mới nhất của Ngoại trưởng Hillary Clinton một lần nữa cho thấy quyết tâm của Hoa kỳ đối với khu vục Châu Á Thái Bình Dương như thế nào. Việt Nam, với vị trí địa chiến lược quan trọng sẽ không thể thoát khỏi vòng kềm toả của Trung Quốc nếu không nhanh nhạy nắm được những yếu tố sống còn trong trận địa ngày một rối rắm hơn giữa cuộc cờ Biển Đông ngày nay.
Định Nguyên, Thông tín viên RFA

VÌ SAO VIỆT NAM NGHÈO HƠN HÀN QUỐC

Tôi đi nhiều quốc gia, giao tiếp làm việc với nhiều người khác nhau và tôi cứ thắc mắc mãi là sao người Việt, nước Việt lại nghèo hơn các nước khác? Cầm passport Việt thì có vẻ như bị săm soi nhiều hơn khi đến các nước giàu? Căn nguyên là gì? Do dân Việt ta thiếu ý chí, thiếu thông minh và suy dinh dưỡng, bệnh tật? đương nhiên lý giải điều lớn lao này phải cần cả một hội đồng chắc là phải to hơn cái “hội đồng lý luận trung ương” gì đó thì mới có thể đưa ra được vài gợi mở rồi để mà bàn tiếp
Trăn trở riêng của tôi là Cái gì làm nên sức mạnh & thịnh vượng quốc gia?
1. Con người, bao gồm cả số lượng & các đặc tính, văn hóa.
2. Hệ thống vận hành chính trị-xã hội.
3. Lãnh đạo.
4. Tài nguyên – bao gồm vị trí địa lý.
5. May mắn.
Công nghệ kỹ thuật do con người tạo ra nên tôi xếp vào nhóm Con người. Còn yếu tố May mắn? Một dân tộc, một quốc gia có khi nào gặp may mắn không? Tôi nghĩ là có và lịch sự đã xãy ra nhiều biến cố tình cờ mang lại lợi ích cho một quốc gia nào đó. Các thiên tai cũng có thể xãy ra nhiều ở quốc gia này và ít ở quốc gia khác. Nên tôi cũng xem May mắn là một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh & thịnh vượng quốc gia. Việt Nam có láng giềng là Anh, Đức thay vì Trung Quốc thì chắc giờ đã có hệ thống phát triển cở Singapore, Hongkong, hoặc có thể là Úc – đương nhiên khó thể so với Mỹ cũng từng là một thuộc địa của Anh. Quốc gia gặp chiến tranh nhiều chắc là bị xui xẻo hơn là quốc gia không bị chiến tranh. Tôi thử làm phép so sánh đơn giản xem sao với A là tốt, B là khá, C là bình thường và D là kém. Cuối cùng tôi thêm vào mục GDP [PPP] tính theo sức mua tương đương để tính lượng hóa cao hơn cho việc so sánh tổng hợp.
Yếu tố tạo nên sức mạnh quốc gia
Việt Nam
Afghanistan
Nam Hàn
Nhật Bản
Bắc Hàn
Đức
Con người
A
A
A
A
A
A
Hệ thống vận hành
?
?
?
?
?
?
Lãnh đạo
?
?
?
?
?
?
Tài nguyên
C
D
D
D
D
C
May mắn
C
D
C
D
C
B
Tổng hợp
A??CC
A??DD
A??DC
A??DD
A??DC
A??CB
GDP [PPP] (World Bank 2010)
$ 3,130
$1,070
(2008)
$29,004
$34,013
$1,800
(est.2009)
37,622
Tôi ngồi suy nghĩ, phân tích, trao đổi với bạn bè và tham khảo đủ các loại tài liệu nhưng rồi tôi cũng không biết đánh số nào vào yếu tố Con người. Khó mà khẳng định là người Nam Hàn thông minh hơn người Bắc Hàn. Nên tôi cho điểm A hết. Tài nguyên thì cân đong đo đếm là được rồi. May mắn nếu xét về chiến tranh thì đương nhiên là nước Việt chắc là ngang với Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên, và có thể hơn Afghanistan. 02 quả bom nguyên tử rơi vào Nhật cộng thêm động đất sóng thần thường xuyên thì nước Nhật chắc có may mắn loại D. Đức nằm ở Tây Âu ổn định và nhiều láng giềng lịch sự nên tôi cho là có may mắn B. Do đánh giá Hệ thống vận hành và Năng lực Lãnh đạo quá phức tạp nên tôi áp dụng phương pháp loại suy theo logic của tôi là lấy GDP [PPP] so với tổng hợp của Con người, Tài nguyên & May mắn. Và tôi có được kết quả cộng của 2 yếu tố Hệ thống và Năng lực Lãnh đạo như sau:
Nam Hàn: $29,004 ~ ADC
Bắc Hàn: $1,800 ~ ADC
Nhật bản: $34,013 ~ ADD
Việt Nam: $3,130 ~ ACC
Đức: $37,622 ~ ACB
Afghanistan: $1,070 ~ ADD
Và tôi kết luận như thế này:
1. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Việt Nam: bằng 3,130
2. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Bắc Hàn: hơn 1,800
3. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Afghanistan: hơn 1,070
4. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Nam Hàn: hơn 29,004
5. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Nhật Bản: hơn 34,013
6. Năng lực Lãnh đạo & Hệ thống của Đức: gần bằng 37,622
Chúng ta thuộc cùng nhóm với Bắc Hàn & Afghanistan.
Còn xếp hạn tín nhiệm tín dụng quốc gia của Moody’s năm 2011 là:
1. Việt Nam B1 (negative)
2. Bắc Hàn không có
3. Afghanistan không có
4. Nam Hàn A1
5. Nhật Bản Aa3
6. Đức Aaa
Đây chỉ là logic và nhận định của riêng tôi. Các bạn cũng có thể cho điểm theo nhận định & logic riêng của mình hoặc có thể tham khảo một hội đồng chuyên gia nào đó. Câu hỏi đặt ra là CHÚNG TA SẼ LÀM GÌ ĐỂ CẢI THIỆN SỰ NGHÈO KÉM NÀY? CHÚNG TA CÓ THÂY ĐỔI ĐƯỢC NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO & HỆ THỐNG CHO TỐT HƠN HAY KHÔNG? Hay đây là số phận của người Việt Nam, dân tộc Việt Nam?
“Một ngàn năm đô hộ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Thành Đồng Nguyên Giáp

Bức hình được tạp chí TIME bình chọn là một trong 130 ảnh của năm 2008, tựa đề Shoe Leather-Da giầy, chụp khi ông Obama đang nói chuyện điện thoại trong một lần dừng chân tại Providence, Rhode Island, giữa cuộc vận động tranh cử.
Đệ nhất phu nhân Tổng thống Mỹ Michelle Obama đang phô diễn những kỹ năng của mình trong một khóa giảng bóng đá do Quỹ tài trợ Bóng đá Hoa Kỳ tổ chức (Daily Mail).
Trong một chuyến công du CHLB Đức năm 2006, một trong nhiều bức hình tức cười về Tổng thống Bush. Tựa đề: Có phải phiên bản của ông hồi nhỏ không, ông Bush? (SPIEGEL)
Hình ảnh các chính trị gia hàng đầu CHLB Đức, tại một triển lãm điêu khắc được tổ chức ở thành phố Bodman-Ludwigshafen cực nam nước Đức (SPIEGEL).
Còn duyên kén cá chọn canh.
Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ.

Thức đêm mới biết đêm dài.
Hai vợ mới biết thế nào là ghen.

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo.
Vài lát hành tây bé tẻo teo.
Nước chấm gọi là hơi gợn tí.
Thịt kho thái mỏng gió bay vèo.

Dưa vừa mới muối còn xanh ngắt.
Cơm chén vừa xong dạ vẫn teo.
Tối đói cồn cào không ngủ được.
Muỗi bu vào đốt cái thân bèo.

Sang sông phải bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải năng đến thầy.

Đề: Tả về bố.

Bố em rất khéo tay nên mẹ em hay khen bố lắm. Hôm qua, sau khi đóng xong cái chạn bát, mẹ em liền khen bố: “Mình làm khéo quá, tối về em sẽ thưởng”, sau đó bố em cười rất tươi nhìn mẹ em.

Đề: Tả gia đình chị Dậu

Gia đình chị Dậu nghèo lắm nhưng các con rất thương bố. Mỗi khi luộc khoai các con đều lấy những củ to cất lên bàn thờ phần bố, còn các con chỉ ăn củ rớt rãi thôi.

Đề: Tả bữa ăn đầm ấm của gia đình.

Nồi lẩu sôi sùng sục như núi lửa sắp phun trào. Em nhìn thẳng nồi, há hốc mồm như để hít hết hương thơm của nồi lẩu. Anh em nói trêu: "Cắm đầu vào đấy thì hết ăn!". Cả nhà cười hì hì.

Đề: Tả cánh đồng.

Các bác nông dân gặt lúa rất chăm chỉ, gặt hết thửa ruộng này đến luỹ tre khác.

Đề : Tả người mà em yêu quý nhất.

Ngày em còn sống, bà vẫn hay kể cho em nghe những câu chuyện cổ tích trước khi đi ngủ.
Em ơi ngồi lại gần anh.
Tuy rằng khác phái nhưng chung một bàn.

Chồng người áo gấm sông Lô.
Chồng em ngồi bếp nướng ngô cháy quần.

Chiều chiều lại nhớ chiều.
Nhớ người đêm trước đưa nhiều tiền ngu.

Yêu em hổng phải vì ham.
Mà là anh hổng chịu cam cảnh nghèo.

Làm trai cho đáng nên trai.
Đi đâu cũng có chân dài bám theo.
TƯƠNG LAI CHÙA VIỆT Ở HOA KỲ.
Như các chùa của Tàu có mặt tại Mỹ trước đây, rất sớm, khi phong trào hồ hởi có thể lên đến vài ngàn ngôi mọc trên các tiểu bang Mỹ, rồi lần lượt rơi rụng chỉ còn vài chục. Duy nhất ngôi chùa Tây Lai Phật Quang Sơn của Hòa Thượng Tinh Vân ở Glenmark Dr. CA sừng sửng tọa lạc trên đồi cao là có tầm vóc và vị thế tồn tại lâu dài.
Hiện nay chưa có thống kê đầy đủ về chùa, am, nói đúng và chính xác hơn là nơi thờ tự của các tu sĩ Phật giáo Việt Nam tại Mỹ; bời vì nếu gọi là chùa như quen gọi ở quê nhà, thì nơi đây phần lớn chưa có một tầm vóc, kiểu dáng của những ngôi chùa mang màu sắc Á Đông, đó chỉ là những ngôi nhà dân, họ mua lại để thờ và ở, quy tụ một ít tín đồ đến lễ bái. Những vị Tăng ở lâu năm, có tín đồ đông, mua được đất hoặc nhà lân cận để nới rộng khuôn viên, có chỗ đậu xe hơi vào ngày lễ lớn, từ đó tầm vóc ngôi chùa mới hình thành. Cali, Los, Houston, San jose, Sacramento, Virginia, Washington. DC…đều có chùa. Mỗi bang có luật riêng, trong đó nơi thờ tự tôn giáo đòi hỏi có parking như Washington DC, yêu cầu có từ 5 mẫu, nhiều cây xanh, và bảo đảm vệ sinh, an toàn cho người tới lui, thậm chí không được làm nhà ăn, nhà bếp, nhà ở chung nơi thờ phượng. Ở Cali có vài chùa tạo được khuôn viên rộng thoáng, chư Tăng ở những ngôi chùa như thế cũng đã lâu dài. Một số nơi thờ phượng có ít tín đồ, không thể trả tiền cho ngân hàng, đều bị trưng thu là chuyện thường ở Mỹ.
Sáng 23/7 đến thăm chùa H. N của thầy P. T, trong lúc vừa trò chuyện, vừa làm việc, vì chùa đang xây dựng, thầy cho biết rất nhiều về sự rạn nứt trong cộng đồng tu sĩ. Tuy lượng số tu sĩ ở đây không bao nhiêu, nhưng có quá nhiều giáo hội, ngay cả cái gọi là Giáo hội PGVNTN, cũng chia làm nhiều mãnh. Vì thế, thầy dùng từ châm biếm nói đến hai chữ Giáo hội: “Cáo Hội”. Thầy cho biết nhân cách của những vị nổi tiếng cũng quá nhiều tai tiếng. Có vị góp 700 ngàn USD để xin được chức phó Thủ Tướng của Nguyễn Hữu Chánh, khi tiền không còn để trả ngân hàng, dĩ nhiên chùa cũng theo mây khói, vào nhà băng. HT C.T chùa L. H tại Garden Grove, một thành phố phía Bắc quận Cam, tiểu bang Cali, (nơi đây dân số Việt Nam độ 36 ngàn người, chiếm khoản 22% dân số thành phố) thuộc Giáo Hội Phật Giáo Liên Châu, cho biết, nhân lễ Phật Đản 2555, khi đề cập đến tình hình biển Đông, một tu sĩ nói: “Thà nô lệ cho Tàu cho Nga còn hơn cho Mỹ…” nghĩa là thầy ngao ngán tinh thần chính trị của Tăng sĩ ngày nay tại hải ngoại. Một Pháp sư trưởng lão của một hệ phái tạo dựng nhiều Tịnh xá, không có người trông nom, không có tiền tháng cho điện nước, nợ nhà băng, rồi cũng của Thiên trả Địa.
Hầu hết chùa lớn chùa nhỏ chỉ có từ một đến hai vị cư ngụ. Nếu tính kinh tế, phải bỏ ra hàng trăm ngàn, có khi cả triệu Mỹ kim từ túi tín đồ để xây dựng cơ sở như thế, thuế má, chi phí mọi thứ có khi lên cả ngàn USD hàng tháng, lúc nào đó không trả nỗi sẽ mất trắng cơ sở; cho dù thanh toán sòng phẳng hàng tháng thì quả là quá phí phạm chỉ để cho một hai vị trú ngụ. Quần chúng cuối tuần mới đến chùa một lần, có nơi cũng chẳng ai vãng lai nếu nơi đó có nhiều tai tiếng và bị chụp mũ. Do sợ chụp mũ mà có vị phải chống Cộng hăng tiết để minh chứng mình không là Cộng sản. Chống cộng trở thành cái vỏ bọc thời trang để có thu nhập. Thật ra quý thầy không ai muốn dây dưa vào chính trị, mục đích chính là có thu nhập dồi dào.
Một số vị du học từ Ấn Độ, bay qua Mỹ rồi ở luôn, một số từ Việt Nam đi du lịch, thăm viếng…cũng không chịu về lại. Họ tá túc tạm thời ngôi chùa quen, thời gian ngắn tung cánh chim tìm về tổ mới, có một ít tín đồ hỗ trợ mua nhà làm chùa. Khi đã có cơ sở, dĩ nhiên phải vay tiền ngân hàng để mua, họ vất vả để kiếm tiền thanh toán mọi chi phí nợ nần, không có thì giờ để học và tìm hiểu văn hóa sở tại. Một số có trình độ tại Việt Nam, qua Mỹ họ tiếp tục học hành để có bằng cấp, có kiến thức góp phần hoằng pháp cho tuổi trẻ tại Mỹ thì chưa tới vài vị. Phần lón không ai có chí học hỏi, qua Mỹ như là điều kiện để an phận và hưởng thụ. Tín vụ ma chay như một sở trường, họ đáp ứng cho thế hệ lớn tuổi. Thế hệ nầy qua thời gian dần dà rơi rụng trong vài mươi năm nữa. Tiếp đến thế hệ sanh từ Việt Nam, lớn lên từ Mỹ, được đào tạo văn hóa Mỹ, còn lưu lại một ít tín ngưỡng của cha mẹ ông bà, họ đến chùa như thói quen đề làm vui lòng người lớn; việc nghi lễ đối với thế hệ nầy không cần thiết, tìm hiểu giáo lý cũng không là một nhu cầu. Nếu có, họ cần nghe chư Tăng giảng dạy theo mô thức khoa học hơn là đức tin. Đến thế hệ thứ ba sanh tại Mỹ, lớn lên tại Mỹ, được giáo dục tại Mỹ, trở thành Mỹ rặc, họ chỉ khác màu da; Họ không biết tiếng Việt, chính vì thế họ cảm thấy lạt lẽo khi đến chùa mà chỉ nghe tiếng nói thuần Việt của các sư. Trình độ, ngôn ngữ của các sư không thích hợp với thế hệ trẻ như thế. Trong khi đó, chưa có một chú tiểu nào xuất gia tại Mỹ, có nghĩa là lớp kế thừa thuần Mỹ chưa có dấu hiệu xuất hiện, tre sẽ già mà măng chưa mọc. Chư Tăng được bảo lãnh qua cũng tiếp tục công việc ma chay đám cúng chứ không có khả năng ngoại ngữ để truyền đạt giáo lý trên đất nước Âu Mỹ. Sở dĩ Đức Đạt Lai Lạt Ma và Thiền sư Nhất Hạnh thành công là vì truyền đạt giáo lý bằng ngôn ngữ sở tại.Với số lượng hàng ngàn ngôi chùa trên khắp nước Mỹ bao nhiêu tốn kém chỉ để phục vụ lớp già và sắp già, khi thế hệ nầy không còn thì chùa tồn tại như một chứng tích lỗi thời? Chưa nói đến số người lớn tuổi không còn tự phục vụ, tự lái xe đến chùa, con cái bận công ăn việc làm bù đầu, mức thu nhập của chùa cũng vơi dần, ngoài việc lưu hủ cốt và thờ vong; Bấy giờ chùa chỉ là nơi ký gủi người quá cố, phục vụ cho kẻ chết chứ không còn là cơ sở hoằng truyền chánh pháp. Trong khi đó, tại Việt Nam, hệ phái Tin Lành truyền bá ồ ạt, chỉ cần một đêm tới sáng là cả một vùng theo Tin Lành, nhất là vùng cao và thôn quê, họ không cần xây dựng nhà thờ, nhà nguyện; hội Thánh là trong tâm mỗi tín đồ, họ tụ tập luân phiên mỗi nhà tín hữu để cầu nguyện và phụng sự. Thay vì móc túi tín đồ xây dựng cơ sở thờ tự, họ chu cấp cho tín hữu cuộc sống. Họ nhiệt tâm trong việc ma chay mà không hề nêu giá làm tiền khi tang gia bối rối.Tại sao Tin Lành thành công trong việc truyền bá tín ngưỡng? Họ không câu nệ hình thức, không cơ sở, không chức sắc, không hưởng thụ và luôn có đức hy sinh, chịu khó. Họ không cần xin xăm bói quẻ xử dụng vàng mã để làm phương tiện hướng dẫn quần chúng có khi những phương tiện đó làm mê hoặc quần chúng như một số chùa. Ngược lại, chùa càng phát triển càng làm mất niềm tin quần chúng vì nhân cách của chư Tăng. Tại hải ngoại, có những tín đồ ngoan đạo, cũng phải dán vào cửa văn phòng làm việc của mình tấm hình của vị phạm giới với dòng chữ MA TĂNG, có những người quá bất mãn, họ lẳng lặng đầu thú với ngoại giáo như một lối thoát của niềm tin và sự thất vọng. Với số lượng cơ sở vật chất của Phật giáo Việt Nam tại xứ người, không phục vụ cho xã hội âu Mỹ về Đạo lý trí tuệ mà chỉ là chứng tích tỵ nạn và nơi an dưỡng hưởng thụ cho những ai không có chí cầu tiến, dĩ nhiên, nhàn cư vi bất thiện, từ đó tệ nạn phát sanh…và, sư Việt sống với cộng đồng người Việt như người Hoa ở Chợ Lớn, Việt Nam cũng vậy, mỗi ngày mỗi thu hẹp sinh hoạt khi những thế hệ kế tiếp thuần là Mỹ hóa. Các chùa Tàu ở Mỹ hậu bán thế kỷ 20 đến thập niên đầu kỷ nguyên 21 bị thu hẹp thế nào thì chùa Việt Nam rồi đây cũng cùng chung số phận. Hiện nay, cộng đồng cư dân Việt Nam , Triều Tiên, Tàu là một trong số gốc chấu Á quy tụ nhiều tại Cali, Texas, San jose, được xem là Sài gòn nhỏ. Các sư Việt chưa có lối thoát cho tương lai, cứ nghĩ nơi nào có người Việt là chùa có thể tồn tại. Nếu chiết tính kỷ, 36 ngàn người Việt hiện nay ở Cali, chia đều cho Tin Lành , Vatican, Phật giáo, chưa nói đến các giáo phái khác, thì tín đồ Đạo Phật cũng chỉ 12 ngàn. Trong số 12 ngàn chia làm ba, một là tuổi trẻ, hai là tuổi trung niên và ba là tuổi già thì tuổi già chỉ còn bốn ngàn người cộng thêm phân nửa tuổi trung niên có tâm đạo cũng chỉ được sáu ngàn người đến chùa. Tuổi trẻ ở Mỹ thích đi chùa là chuyện hiếm hoi. Số bốn ngàn cho tuổi già, một ít không tự lái xe đi chùa được, phải nhờ con cháu. Suốt tuần cày mệt mỏi, con cháu cần nghỉ ngơi, làm vệ sinh nhà cửa và đi chợ mua thực phẩm cho suốt một tuần. Như thế số người chia đều cho hàng trăm ngôi chùa không phải là lớn, tiền của vật chất đổ vào việc xây dựng cơ sở đồ sộ như thế để làm gì khi mà tâm linh, sự tu tập và niềm khát vọng về giáo lý của quần chúng bị bỏ trống; chính vì quần chúng và chư Tăng không được trang bị nội lực mà chỉ chạy theo nhu cầu vật chất, liệu Phật giáo có bị biến dạng thành một loại doanh nghiệp mới? nếu chư Tăng không đủ khả năng trang bị cho mình một kiến thức thời đại để hội nhập xã hội văn minh, tự mình đào thải mình, an phận với ngôi chùa được thu nhập lợi tức từ việc thờ linh, lưu cốt, xã hội âu Mỹ sẽ hiểu Phật giáo là gì, chưa nói đến quần chúng Mỹ đang có một tôn giáo truyền thống, họ sẽ xem thường các sư và hình ảnh đức Phật xa lạ. Giới trí âu Mỹ thức hiểu về Đạo Phật qua tư tưởng triết học và thiền học, họ cũng không thể đến với chùa và các sư Việt Nam để lễ lạy cúng kiến.Tổ chức Gia Đình Phật Tử, tuy là một đoàn thể trẻ của con em người Việt, nhưng chúng cũng không mấy hứng thú với sự diễn dịch giáo lý mang tính huyền thoại và giáo án có từ 60 năm qua không được cập nhật, làm sao hấp dẫn các em bằng những thú vui cám dỗ của thời đại @? Ngày nay, cuộc sống xây dựng trên vật chất, nhưng vật chất không giúp xã hội hạnh phúc thật sự, vì thế tội phạm phát sanh. Đạo Phật xuất hiện mục đích giúp con người sống có hạnh phúc chứ không thể tạo thêm sự bất mãn thất vọng cho xã hội. Nếu chư Tăng chưa đủ khả năng chuyển hóa tâm linh cho quần chúng, ít ra cũng phải góp phần an ủi cho cộng đồng người Việt có một chỗ nương tựa tinh thần. Chùa lớn đất rộng tại sao chúng ta không lập nhà dưỡng lão cho các cụ, vừa gần chùa nghe kinh, vừa có tình người và con cháu viếng thăm tiện hơn đưa vào nhà dưỡng lão? Các cụ sẽ không còn cảm thấy cô đơn lạc lỏng giữa bốn vách tường và người xa lạ không cùng ngôn ngữ. Mở lớp dạy Việt ngữ, tổ chức các show bảo tồn văn hóa dân tộc và nhiều việc lợi ích cho cộng đồng hơn là an hưởng một cách thụ động.
Chư Tăng sống có mục đích công ích thì quần chúng sẽ không xa rời đạo Phật; chư Tăng và quần chúng đều hướng vào tâm linh và công ích xã hội thì tình thương sẽ phát triển,
lòng đố kỵ chống báng nhau, chụp mũ nhau sẽ không còn; Phật giáo Việt Nam tại xứ người sẽ có bộ mặt tươi nhuận hơn, đi vào lòng xã hội dễ hơn và sự tồn tại của chùa Việt Nam mới có ý nghĩa hơn.
Chưa phải muộn để chư Tăng Việt Nam và các ngôi chùa Việt Nam trên đất Mỹ dọn cho mình con đường hội nhập và tồn tại. Các vị tiền nhiệm như cố Hòa Thượng Thiên Ân, Thiền sư Nhất Hạnh đã mở đường, chúng ta chỉ tiếp nối và khai phóng cho quang đảng, đừng để bị bít lối mà mang tội với chư Phật chư Tổ.Có lẽ quần chúng Phật tử Việt kiều cũng chỉ mong ước có thế thôi, chư Tăng sẽ không còn nhìn nhau bằng sự ngờ vực, hố ngăn cách tự nó được lấp kín. Hy vọng chùa Việt sẽ là cơ sở tín ngưỡng tâm linh và công ích xã hội nhiều ý nghĩa dưới mắt người dân Mỹ hiện nay.MINH MẪN
23/7/2011
Người Hàn Quốc


Để đến Hàn Quốc, tôi phải bay từ Melbourne đến Sydney bằng hãng Qantas và ở phi trường Sydney, chuyển sang hãng máy bay Asiana. Bởi vậy, tôi đến cửa chuyến bay Asiana khá sớm, khoảng gần một tiếng trước giờ lên máy bay. Tôi ngạc nhiên thấy cả trăm người đang đứng sắp hàng rồng rắn trước cửa. Nhìn kỹ: hầu hết là người Đại Hàn. Trong khi đó, một số người Tây phương, ít thôi, khoảng vài ba chục, vẫn ngồi lặng lẽ trên các dãy ghế chờ. Tôi xem lại đồng hồ, biết chắc chắn còn sớm, bèn ngồi xuống ghế. Trong lúc chờ, cứ tò mò nhìn những người Đại Hàn đứng sắp hàng. Tôi đi máy bay khá nhiều. Hiếm khi thấy hành khách sốt sắng đứng sắp hàng sớm như vậy. Thường, họ ngồi trên ghế; nếu hết ghế thì ngồi bệt dưới sàn; hoặc đọc sách, đọc báo, mở laptop ra đọc hoặc viết cái gì đó, hoặc chỉ ngủ gà ngủ gật. Mãi đến lúc nhân viên hàng không thông báo giờ lên máy bay, mọi người mới rục rịch đứng dậy, sắp hàng, rồi từng người đi qua cửa. Không ai nôn nóng hay chen lấn vào máy bay sớm. Cũng chẳng để làm gì cả. Ghế ngồi đã được sắp xếp sẵn. Không ai giành của ai được. Nếu có giành, người ta chỉ giành chỗ để hành lý. Nhưng điều đó thường chỉ xảy ra đối với những người mang hành lý nhiều. Thực ra, dù nhiều mấy thì cũng có giới hạn theo quy định. Bởi vậy, cuối cùng, hầu như ai cũng có chỗ để cất hành lý. Nói một cách tóm tắt: Không có lý do gì để giành nhau lên máy bay sớm cả.
Hiện tượng sắp hàng rồng rắn rất sớm trước giờ lên máy bay, tôi cũng lại thấy trên chuyến bay từ Seoul về lại Úc đúng một tuần sau đó. Tôi cũng đến sớm. Và cũng lại thấy cả một hàng người sắp hàng trước cửa vào khoang máy bay. Tất cả đều là người Đại Hàn.
Ở cả hai lần, tôi đều ngồi nhìn và cố lý giải tại sao họ lại nôn nóng như vậy. Mà, thật ra, trên nét mặt cũng như trong dáng điệu của họ không hề lộ ra vẻ gì nôn nóng cả. Tất cả đều đứng yên, lặng lẽ, nhẫn nhục và rất có kỷ luật. Họ không chen lấn. Cũng không chuyện trò hay cười nói ồn ào. Họ chỉ đứng trong hàng; cái hàng càng lúc càng dằng dặc và ngoằn ngoèo. Trong khi các hành khách Tây phương thì vẫn ngồi trên ghế ung dung đọc sách báo hoặc lim dim ngủ.

Tôi có cảm tưởng việc sắp hàng quá sớm như vậy cho thấy một chút về tinh thần cạnh tranh của người Đại Hàn. Họ muốn lên máy bay sớm. Sớm để làm gì? Không cần biết. Chỉ biết là nên lên sớm. Vậy thôi. Tâm lý ấy cũng thường thấy ở một số nước châu Á khác. Nhưng trong khi một số người châu Á khác, để cạnh tranh, trong những trường hợp như thế, người ta thường chen lấn. Ở đây, với người Đại Hàn, lại không. Họ sắp hàng rất trật tự. Và vì trật tự nên toát ra vẻ gì như nhẫn nhục và chịu đựng.

Ba nét trong tính cách: cạnh tranh, nhẫn nhục và kỷ luật đó, tôi cũng thấy rất rõ trong suốt một tuần ở Seoul. Nói chung, ở Đại Hàn, từ chính phủ đến giới đại học, dường như nung nấu rất nhiều tham vọng. Chính phủ thì muốn Hàn Quốc biến thành rồng, thành hổ, phát triển và giàu có hơn hẳn các nước khác. Giới đại học thì âm thầm nuôi tham vọng đóng vai trò lãnh đạo các nước đang phát triển, nằm ngoài hai trung tâm chính là châu Âu và châu Mỹ. Họ có nhiều chương trình để thu hút và tập hợp các tinh hoa từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Họ thường xuyên mời giới trí thức cũng như giới văn nghệ sĩ từ các khu vực ấy đến Hàn Quốc giao lưu; trong đó có cả giới cầm bút Việt Nam (như Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư, v.v…). Một số học giả đang vận động thành lập một tạp chí nghiên cứu về văn hóa mang một cái tên rất có ý nghĩa: “Tricontinental Culture Review” (Tạp chí văn hóa Tam lục địa). “Tam” (tri-) là để loại trừ hai lục địa Tây phương đang dẫn đầu thế giới.
Thế nhưng, mặc dù nhiều tham vọng như vậy, trong đời sống hàng ngày, người Đại Hàn, nói chung, vẫn có nét gì rất hiền lành và nhẫn nhục. Ở Seoul, đi trên đường phố, trên các phương tiện giao thông công cộng, trong khuôn viên đại học, vào quán ăn hay tiệm cà phê hay kể cả các nơi uống bia, hiếm khi nghe tiếng cười nói ồn ào. Trong một tuần ở Seoul, những lúc tôi nghe ồn ào nhất là ở những địa điểm du lịch, lúc có một đoàn du khách Trung Quốc đi ngang qua. Từ xa, nghe tiếng cười, tiếng nói, tiếng cãi ầm ĩ, đoán là người Trung Quốc. Đến gần: đúng phóc. Người Đại Hàn, ngược lại, thường khá lặng lẽ.
Nhưng sự hiền lành và nhẫn nhục của người Đại Hàn thể hiện rõ nhất là ở cách chào. Phải nói là họ rất lễ phép. Có nhiều dân tộc khác cũng lễ phép. Nhưng lễ phép đến mức đầy tính nghi thức như người Nhật thì tôi không thích lắm. Ngay việc cúi đầu cũng có nhiều kiểu và nhiều mức độ tùy theo những hoàn cảnh khác nhau. Có cái gì như máy móc. Cách vái của người Thái Lan tôi cũng không thích lắm. Nó gợi lên cảm giác tội nghiệp. Tôi cho cách cúi đầu của người Đại Hàn là vừa phải. Chỉ đứng thẳng và nghiêng người một chút về phía trước. Ở đâu, tôi cũng thấy thấy cách chào như vậy. Ở các trung tâm thương mại, vì lý do câu khách và chiều khách, đã đành. Ở tất cả những nơi khác, cũng đều vậy. Trong trường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút. Ngoài đường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút.
Một lần, ngồi uống cà phê, tôi lặng lẽ quan sát một người đàn ông phát báo miễn phí cho người qua đường. Gặp ai, ông ta cũng nghiêng mình chào. Người nhận báo cũng nghiêng mình chào. Có một cô gái, còn khá trẻ, đi ngang qua, có vẻ hối hả, không nhận tờ báo, nhưng cũng cúi mình chào, rồi đi thẳng. Cái việc không lấy báo, hối hả và cúi đầu chào ấy để lại trong tôi một ấn tượng rất mạnh.
Trong bữa tiệc chia tay kết thúc hội nghị về văn học do trường Korea University khoản đãi vào tối Thứ Sáu 30 tháng 9, khi nghe một giáo sư văn học, cao niên và nghe nói là rất nổi tiếng người Đại Hàn than thở về sự băng hoại về văn hóa của thế hệ trẻ, tôi có kể cho ông nghe về chuyện đó cũng như về cảm nghĩ của tôi. Ông rất ngạc nhiên và thích thú. Suốt buổi tối, từ tiệm ăn đến quán bia, ông cứ quấn quít bên tôi, hỏi về những điều tôi nhìn thấy trong xã hội Hàn Quốc.
Cuối cùng, lúc chia tay, ông cầm tay tôi, nói: “Nghe anh nói, tôi thấy vui và lạc quan về đất nước chúng tôi hơn một chút. Chứ bình thường, nói thật, tôi buồn lắm, anh ạ. Không có gì như ngày xưa cả!”
Tôi rất hiểu tâm lý của những người lớn tuổi như thế. “Không có gì như ngày xưa cả!”
Ấn tượng lớn nhất của tôi về người Đại Hàn, ngoài sự lễ phép, là sự tử tế.
Ở đây, xin nói ngay hai việc.
Thứ nhất, trước khi sang Hàn Quốc, tôi không biết gì về người Đại Hàn cả. Trong các lớp tôi dạy ở Victoria University, thỉnh thoảng có vài du học sinh người Đại Hàn, tất cả đều để lại trong tôi những ấn tượng tốt về sự hiền lành, chăm chỉ và lễ phép. Nhưng thời gian học trong lớp rất giới hạn, tôi không biết được là họ có tử tế hay không. Những ấn tượng mà tôi có được, đậm và mạnh nhất, là từ sách báo Việt Nam, liên quan đến việc những người đàn ông Đại Hàn sang Việt Nam tìm vợ. Thú thực, hình ảnh những gã đàn ông ngồi chễm chệ trên ghế bành trong một khách sạn nào đó ở Sài Gòn, mắt hau háu nhìn hàng chục cô gái Việt Nam, phần lớn từ quê lên, lượn qua lượn lại trước mặt, để săm soi lựa chọn… không làm tôi có thiện cảm lắm. Sau đó là những bản tin liên quan đến việc hành hạ, đánh đập, thậm chí, giết chết người vợ quê mùa và lạc lõng ấy càng khiến tôi phẫn nộ.
Thứ hai, tôi tin ở đâu cũng có sự tử tế. Ở những nơi tôi sống hoặc đi qua, tôi đều gặp vô số người tử tế. Sự khác biệt, ở đây, chỉ là mức độ: Có nơi nó phổ biến và có nơi dường như nó chỉ là một sự họa hoằn.
Ở Hàn Quốc, ít nhất là ở thành phố Seoul, nơi tôi chỉ ghé lại có một tuần, tôi gặp nhiều người tử tế đến độ tôi có cảm tưởng đó là một nét chung của một nền văn hóa và một xã hội.
Chỉ xin nêu một ví dụ nhỏ: việc hỏi đường.
Ở Seoul, tôi tận dụng thời gian ít ỏi để đi thăm viếng thật nhiều nơi. Thường đi bằng các phương tiện giao thông công cộng. Phải thừa nhận là phương tiện giao thông công cộng ở Seoul cực tốt. Tốt hơn Úc và Mỹ, đã đành. Có lẽ nó cũng tốt hơn cả London ở Anh và Paris ở Pháp nữa. Ở hai thành phố vừa kể, hệ thống xe điện ngầm thì tốt nhưng hệ thống xe buýt thì yếu. Ở Seoul có cả hai. Cả xe buýt lẫn xe điện ngầm đều chằng chịt, lan tỏa khắp nơi. Lại rất nhanh, đúng giờ và rẻ. Riêng hệ thống xe điện ngầm thì có một ưu điểm tôi chưa thấy ở Tây phương: bao giờ cũng có một bức tường làm bằng kính dày ngăn cách giữa nơi hành khách đứng chờ và đường ray xe lửa. Đến lúc xe lửa tới, cửa mở, cửa bức tường kính ấy mới mở ra. Bởi vậy, sẽ không có cảnh hành khách, do vô ý, có thể bị té xuống đường ray lúc xe lửa đang phóng tới (Cách đây mấy năm, ở Úc, xảy ra một trường hợp gây chấn động dư luận khi chiếc xe đẩy trẻ em bị trượt xuống đường ray trước cặp mắt hãi hùng và bất lực của người mẹ và vô số hành khách khác. Lúc ấy, chiếc xe lửa cũng vừa trờ tới, chà lên chiếc xe đẩy. May, do một nhiệm mầu nào đó, em bé sống sót!)
Dù tôi đã khá quen thuộc với việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng ở Pháp và Anh, đến Seoul, nhất là mấy ngày đầu, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng về đường xá. Ngỡ ngàng về phương hướng. Ngỡ ngàng về quy trình và lộ trình giao thông. Nhưng ngỡ ngàng nhất là vì vấn đề ngôn ngữ. Ở các trạm xe buýt cũng như các ga xe điện ngầm đều có cả tiếng Hàn lẫn tiếng Anh. Nhưng phần tiếng Anh tương đối hiếm và có lúc không nhất quán. Ví dụ, chỉ đơn giản là con đường từ ga điện ngầm lên mặt đất, thoạt đầu có bảng chỉ tiếng Anh (exit/way out), nhưng đi một lát, ở ngay giữa các nhánh rẽ khá phức tạp với ba bốn lối khác nhau thì chẳng còn thấy bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh nào cả. Chỉ toàn tiếng Hàn. Mà tiếng Hàn thì tôi không biết. Cũng không thể đoán được.
Bởi vậy, ra đường, hầu như lúc nào tôi cũng hỏi. Một ngày hỏi năm ba lần. Và lần nào cũng được giúp đỡ một cách tận tình. Có lúc tận tình đến mức ngoài tưởng tượng.
Hỏi đường các thanh niên là tiện nhất. Một phần, đó là giới tương đối biết tiếng Anh nhiều nhất. Trong số mười người trẻ tôi hỏi đường thì có lẽ đến chín người có phản ứng giống nhau: dừng lại, móc điện thoại di động ra, vào Google, kiếm bản đồ; nếu bản đồ vẫn chưa đủ, tìm bảng chỉ dẫn phương hướng. Nhiều lúc Google không cung cấp đủ thông tin, họ bấm điện thoại gọi đến một người bạn nào đó để hỏi giúp. Cho đến lúc xong việc thì mới thôi.
Một buổi chiều tôi đi xe buýt từ trường Korea University ở khu Seongbuk-gu về khách sạn ở Jongno-gu. Nhưng tôi lại không biết trạm xuống. Buổi sáng, lúc đi, trời mưa tầm tã, tôi không thể nhận diện được khung cảnh chung quanh nơi tôi xuất phát và cũng là nơi tôi sẽ trở lại (bên kia đường). Chỉ đếm số trạm dừng. Nhưng đếm số trạm xe buýt là một điều đầy phiêu lưu. Bởi không phải trạm nào xe buýt cũng dừng lại. Bởi vậy, trên đường về, tôi rất lúng túng. Hỏi một thanh niên bên cạnh, khoảng 19 hay 20 tuổi gì đó. Cậu ấy cũng không biết. Rất sốt sắng, cậu ấy đứng lên, dí mắt vào khung cửa kính để tìm trạm xuống. Đến một nơi, cậu bảo tôi là chắc đúng. Tôi hỏi: “Chắc thôi?”. Cậu gật đầu, không lấy gì làm cương quyết lắm. Nhưng cậu cũng kéo tôi xuống xe. Rồi dáo dác nhìn quanh. Không tìm ra địa điểm khách sạn (không phải nằm trên tuyến đường có xe buýt). Cậu hỏi tôi số điện thoại khách sạn, rồi lấy di động gọi thẳng cho nhân viên ở đó hỏi đường. Có điều, cậu lại không thể diễn tả nơi chúng tôi đang đứng là chỗ nào. Nhân viên khách sạn chịu thua. Cậu lại lăng xăng chạy hỏi người này người kia trên đường. Cuối cùng, ít nhất là mười lăm, hai mươi phút sau, cậu cũng dẫn tôi về tận khách sạn. Tôi hỏi nhà cậu có gần đây không. Cậu đáp: Đi thêm khoảng chín, mười trạm nữa. Lúc đó, tôi mới biết cậu xuống xe là vì sợ tôi lạc đường. Sau đó, cậu quay lại trạm, lên xe buýt đi tiếp về nhà. Tôi cảm động hết sức.
Chuyện như vậy, tôi gặp khá nhiều lần. Ít nhất cũng bốn năm lần, người được hỏi không hề biết tiếng Anh. Tôi dùng bản đồ, chỉ chỏ nơi mình muốn tìm. Họ hiểu. Nhưng không giải thích được. Bèn ra dấu cho tôi đi theo. Loành quành từ đường này qua đường khác. Đến chỗ tôi muốn đến, họ lấy tay chỉ. Nếu là chờ xe buýt, họ đứng đợi. Đến lúc xe buýt đến, họ ra hiệu cho tôi lên, sau đó mới quay lưng đi. Trước khi đi, còn cúi mình chào.
Ngày cuối cùng ở Seoul, khi đi xe điện ngầm, rồi sau đó, xe lửa đến phi trường Incheon, tôi gặp một người đàn ông trung niên ăn mặc rất lịch sự. Ông đến gần, xổ một tràng tiếng Hàn, tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi xin lỗi, hỏi ông có nói tiếng Anh không. Ông có vẻ không hiểu. Nhưng ông biết là tôi đang trên đường ra phi trường. Từ đó, ông cứ chỉ dẫn tôi từng li từng tí, dù thứ nhất, tôi không hề yêu cầu, và thứ hai, thực tình, tôi cũng không cần lắm. Lúc ấy, đã ở Seoul đúng một tuần, tôi đã quen thuộc với việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Nhưng ông vẫn giúp. Đến nơi chuyển từ xe điện ngầm sang xe lửa ra phi trường, ông cứ đi chầm chậm phía trước, lâu lâu quay lại dòm, như sợ tôi đi lạc. Cứ thế, liên tục. Đến lúc ông xuống, khoảng hai ga trước khi đến phi trường, ông còn ra dấu bằng tay để tôi hiểu là còn hai ga nữa. Xuống xe, ông đứng lại, chờ xe lửa chạy mới quay lưng đi. Trước khi đi, lại cúi mình chào.
Xin nhắc lại: tôi không hề hỏi đường ông.
Những con người như thế và những chuyện như thế nếu không xóa tan thì cũng làm nhạt đi rất nhiều trong tôi cái ấn tượng về những gã đàn ông Đại Hàn đến Việt Nam kiếm vợ. Rồi hành hạ, đánh đập, thậm chí, giết chết vợ. Như báo chí thỉnh thoảng tường thuật, đây đó.

Người Hàn Quốc (3)
Nhiều người, nghe tin tôi mới đi Hàn Quốc về, hỏi một câu giống nhau: Người Hàn Quốc có đẹp không?
Tôi hiểu lý do tại sao họ hỏi như vậy. Người Việt Nam, ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, thường mê phim Hàn Quốc. Mà trong phim Hàn Quốc thì hầu như ai cũng đẹp. Nhiều người còn khẳng định: đẹp hơn hẳn tài tử các nước Á châu khác. Tôi không thường xem phim Hàn Quốc nên không dám có ý kiến về việc ấy. Nhưng tôi thấy trong cộng đồng người Hàn ở Úc cũng như ở Mỹ có khá nhiều người đẹp. Nét đẹp của họ rất giống Tây phương: da trắng, mũi cao và thanh, mắt hai mí và sâu, môi miệng và răng cũng đẹp.
Với câu hỏi ấy, tôi phải nói thật là: tôi không thấy họ đẹp lắm.
Dĩ nhiên, cần nói ngay: cái đẹp là điều rất tương đối. Cái đẹp của một sắc dân lại càng tương đối. Bởi đó là một số đông, riêng trường hợp của Hàn Quốc, đến gần 50 triệu người. Ngoài ra, còn có vấn đề thói quen. Chúng ta quen nhìn người Việt Nam, dễ thấy là người Việt Nam đẹp. Và vấn đề văn hóa: chịu ảnh hưởng của văn hóa đại chúng ở phương Tây, chủ yếu qua phim ảnh và tạp chí thời trang với những người mẫu và siêu mẫu dáng cao, da trắng, mũi thẳng, chúng ta rất dễ thấy là người Tây phương đẹp.
Biết là tương đối, nhưng tôi cũng cố nêu lên vài nhận xét chủ quan: Theo tôi, thứ nhất, người Đại Hàn ở Hàn Quốc, nói chung, không đẹp như các tài tử điện ảnh của họ cũng như nhiều người Đại Hàn khác sống ở Tây phương; thứ hai, sự khác biệt giữa người mà tôi cho là đẹp và những người có nhan sắc trung bình khá lớn.
Xin nói thêm một chút về nhận xét thứ hai: Ví dụ, đi trên đường phố ở Việt Nam hay các nước Tây phương, thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp những người rất đẹp và những người rất không đẹp. Nhưng cả hai gần như là những ngoại lệ. Còn lại, phần lớn đều không có sự khác biệt nhiều. Dĩ nhiên vẫn có sự hơn kém. Nhưng khoảng cách giữa sự hơn kém ấy không quá lớn.
Ở Hàn Quốc, ngược lại, quan sát ngoài đường, tôi thấy có hiện tượng: có một số người rất đẹp, nhưng đám đông chung quanh thì lại rất bình thường. Họ ăn mặc, nói chung, khá thanh lịch, nhưng vẫn rất bình thường. Không có gì nổi bật so với các nước Á châu khác.
Ở các địa điểm du lịch, lúc nào tôi cũng gặp các thầy cô giáo dẫn học trò đi tham quan. Tất cả đều là học sinh tiểu học, khoảng dưới mười tuổi. Tôi tò mò quan sát rất kỹ. Tôi thấy các em, cũng như mọi đứa bé khác, đều kháu khỉnh dễ thương. Nhưng không có nét đẹp gì nổi bật.
Nhận xét ấy khiến tôi nhớ đến một điều khác: Hàn Quốc là nơi rất nổi tiếng, thậm chí, nổi tiếng nhất về kỹ nghệ giải phẫu thẩm mỹ. Ví dụ, theo một tài liệu tôi đọc được, vào năm 2009, cứ 10 ngàn dân (đủ mọi lứa tuổi) thì ở Hàn Quốc có đến 74 người đi sửa sắc đẹp. Đó là tỉ lệ đứng đầu thế giới. Kế tiếp là Brazil, chỉ có 55 người; ở Đài Loan, chỉ có 44 người; ở Mỹ, 42 người; ở Nhật Bản, 32 người; ở Thái Lan, 11 người; ở Trung Quốc, 9 người và ở Ấn Độ, chỉ có 6 người. Nói cách khác, tỉ lệ người sửa sắc đẹp ở Hàn Quốc cao hơn Đài Loan 1.7 lần, hơn Mỹ 1.8 lần, hơn Nhật 2.3 lần và hơn Trung Quốc 8.2 lần.
Đó là tỉ lệ trên dân số nói chung. Riêng đối với phụ nữ ở lứa tuổi đôi mươi thì khoảng một nửa đã từng trải qua một số cuộc giải phẫu thẩm mỹ ở các mức độ khác nhau. Điều đáng chú ý là, số phụ nữ thực sự mong ước được sửa sắc đẹp còn nhiều hơn thế. Chỉ có điều là họ chưa có điều kiện thực hiện được mong ước ấy. Ngoài ra, còn có hai điều đáng chú ý khác:
Một, về giới tính, không phải chỉ có nữ giới mà cả nam giới cũng muốn đi sửa sắc đẹp; và trên thực tế, nhiều người đã đi sửa sắc đẹp.
Hai, về tuổi tác, độ tuổi đi sửa sắc đẹp càng ngày càng nhỏ xuống. Trước, thường là những người trưởng thành và đã có công ăn việc làm; sau, là sinh viên và học sinh, có khi chỉ là học sinh những năm đầu của trung học. Báo chí tường thuật, nhiều gia đình treo giải thưởng cho con cái sau các kỳ thi, chủ yếu là thi tốt nghiệp trung học: một món tiền để đi thẩm mỹ viện.
Sửa sắc đẹp là sửa gì? Nhiều nhất là làm cho mắt có hai mí và sâu hơn. Sau đó là làm cho mũi cao và kín. Sau nữa là làm cho môi có hình trái tim và mọng đỏ. Rồi đến da, ngực, tóc, mông, v.v…
Một vấn đề khác, quan trọng hơn: Tại sao người Đại Hàn lại thích đi sửa sắc đẹp đến như vậy? Câu trả lời đầu tiên là do ảnh hưởng của phim ảnh. Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những nơi sản xuất phim ảnh đại chúng phổ biến nhất ở châu Á. Phim tập Hàn Quốc tràn ngập khắp nơi, kể cả Việt Nam lẫn cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Dân Hàn Quốc lại càng mê phim ảnh của họ.
Cũng giống như phim ảnh Hollywood từng làm thay đổi nền văn hóa hình thể ở Tây phương; phim ảnh Hàn Quốc cũng làm thay đổi văn hóa hình thể, trước hết, ở ngay trong nước họ. Ai cũng muốn mình đẹp như tài tử. Nếu không may mắn có nhan sắc sẵn thì đành nhờ các chuyên viên thẩm mỹ. Giới quảng cáo thẩm mỹ viện ở Hàn Quốc càng làm cho làn sóng đi sửa sắc đẹp dâng cao khi họ mở những cuộc thi ảnh đẹp trên internet. Giới trẻ tham gia rất đông. Nghe nói đó là những website được nhiều người xem nhất ở Hàn Quốc. Hậu quả: nó tạo nên một chạy đua ào ạt vào các thẩm mỹ viện.
Ngoài ra còn có lý do mê tín: Người ta tin là họ có thể trở thành giàu có nếu xóa bỏ đi một số khuyết điểm trên gương mặt. Cuối cùng, người ta xem nhan sắc như một cách đầu tư. Với các cô gái trẻ, sửa sắc đẹp có thể có giúp có được chồng giàu và có thế lực. Với những người đã có gia đình, sửa sắc đẹp giúp người ta dễ dàng thăng tiến trong nghề nghiệp.
Chuyện làm đẹp là tâm lý tự nhiên của con người. Nhưng việc ùn ùn kéo nhau đi sửa sắc đẹp như ở Hàn Quốc, tự nó, lại là một vấn đề. Nhiều người cảm thấy bảng giá trị xã hội ở Hàn Quốc bị đảo lộn. Thay vì đề cao đạo đức, trí thức hay tài năng, người ta lại quá chú tâm đến nhan sắc.
Ngược hẳn với quan niệm của Nho giáo vốn là một trong những nền tảng của văn hóa truyền thống Hàn Quốc.Người Hưng Quốc
Đem chuông đi đấm xứ Mỹ
Bản tin ngày 7.10.2011 của vovnews.vn ở trong nước cho biết ngày 6.10.2011, trong khuôn khổ “chuyến thăm làm việc” tại thủ đô Washington, Trung tướng Võ Tiến Trung - Ủy viên Trung ương Đảng - Giám đốc Học viện Quốc phòng Việt Nam đã có buổi thuyết trình về chính sách quốc phòng Việt Nam tại Đại Học Quốc Phòng Quốc Gia (National Defense University) của Mỹ.
Mở đầu buổi thuyết trình, Trung tướng Trung giới thiệu vắn tắt về lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước của nhân dân Việt Nam, từ thời kỳ Ngô Quyền chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, cuộc chiến chống quân Nguyên Mông của nhà Trần, cuộc chiến chống quân Minh của Lê Lợi, tới thời kỳ ách thống trị 80 năm của thực dân Pháp, chiến thắng Điện Biên Phủ và Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn thống nhất đất nước năm 1975.
Về chính sách quốc phòng của Việt Nam, Tướng Trung nói rằng Việt Nam xây dựng nền quốc phòng vững mạnh không phải để gây chiến tranh mà nhằm giúp đất nước loại bỏ yếu tố chiến tranh và giữ vững sự ổn định chính trị, an ninh trong nước.
Trả lời câu hỏi về quan hệ hợp tác giữa Học viện Quốc phòng Việt và Mỹ, Tướng Trung nhấn mạnh rằng hợp tác giữa hai học viện đã có những bước phát triển trong thời gian gần đây trên một số lĩnh vực như: “Trao đổi và đào tạo quân sự; học viện quốc phòng hai nước sẽ trao đổi học viên, trao đổi đoàn, trao đổi học thuật, trong đó có giảng bài cho nhau.”
Bản tin của hãng thông tấn AP ngày 6.6.2011 cho biết khi một phóng viên hỏi tại sao ông bỏ qua các chi tiết liên quan đến cuộc chiến tranh chống Mỹ, ông trả lời qua một thông dịch viên: “Mọi người đã biết chuyện đó, tôi không muốn lãng phí thì giờ” (Everybody knows about it; I didn’t want to waste time). Tuy nhiên, ông muốn gởi đến người Mỹ một thông điệp:
"Tôi có một thông điệp gởi tới người Mỹ, dù có một quân đội hùng mạnh, nếu phát động chiến tranh bằng cách xâm lược chống lại các nước khác là không hợp pháp. Đó là thông điệp của tôi.”
Tướng Trung cho biết lực lượng vũ trang của Việt Nam có tất cả 450.000 quân nhân chính quy và khoảng 5 triệu quân nhân trừ bị. Ông nói chính sách của Việt Nam là sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào cũng như không cho phép bất cứ lực lượng nước ngoài nào thiết lập căn cứ tại Việt Nam.
Phóng viên của hãng thông tấn Reuter cho biết khi được hỏi về cuộc tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, Tướng Trung tiên đoán sự bất đồng với Trung Quốc sẽ không đưa tới tranh chấp bằng vũ lực, sự bất đồng này sẽ được giải quyết hoà bình. Ông nói:
“Chúng tôi sẽ giảỉ quyết từ từ. Nếu chúng tôi không giải quyết được vấn đề, đời con hay đời cháu chúng tôi sẽ giải quyết.”
Nội dung bài thuyết trình của Tướng Trung có mục đích nói với thế giới và Trung Quốc rằng trong quá khứ Việt Nam đã từng có quyết tâm và khả năng chống ngoại xâm nên Việt Nam cũng sẽ đối đầu với các cuộc xâm lăng có thể sắp đến, đồng thời nói lên đường lối đối ngoại của Hà Nội.
Rất tiếc Bộ Quốc Phòng CSVN không cho công bố toàn văn bài thuyết trình nói trên. Chúng tôi chỉ có thể có một vài nhận xét dựa vào những điểm được báo chí ghi nhận mà thôi.
VẤN ĐỀ KHẢ NĂNG ĐÁNH THẮNG
Trịnh Công Sơn đã mở đầu bài “Gia tài của Mẹ” bằng 5 câu hát thật buồn:
Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm đô hộ giặc Tây
Hai mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài của Mẹ - để lại cho con
Gia tài của Mẹ - là nước Việt buồn
Lẽ dĩ nhiên, khi “vác chuông đi đấm xứ Mỹ” Tướng Võ Tiến Trung không nói đến “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu” và những kiểu “tiêu lòn” mà cha ông chúng ta đã khôn khéo áp dụng để khỏi bị nước Tàu đè bẹp, ông chỉ nói đến những “chiến thắng oai hùng”. Ngoài những sự thật và huyền thoại ra, chúng tôi xin có vài nhận xét sơ khởi về bài thuyết trình của Tướng Trung như sau:
1.- Tại sao không nói đến Quang Trung?
Chúng tôi rất ngạc nhiên khi thấy bài thuyết trình của Tướng Trung chỉ nói đến chiến thắng quân Nam Hán của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng, cuộc chiến chống quân Nguyên Mông của nhà Trần, cuộc chiến chống quân Minh của Lê Lợi, mà không nói đến cuộc chiến thắng quân Thanh của vua Quang Trung.
Sau năm 1975, khi đọc sử do miền Bắc viết, chúng tôi thấy các sách này mô tả cuộc nổi dậy của ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ là “Phong trào nông dân Tây Sơn” và nói rất ít về chiến thắng quân Thanh của Nguyễn Huệ. Mãi đến khi bước sang thời kỳ đổi mới, sử ở trong nước mới viết rõ về biến cố này. Chúng ta sẽ phải xem lại cách nhìn của Đảng CSVN về Nguyễn Huệ.
2.- Tại sao “quên” nói đánh thắng Nhật?
Bộ “Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam” nói Đảng CSVN đã thắng một lúc ba đế quốc đầu sỏ là Nhật, Pháp và Mỹ. Lịch sử Đảng ghi rõ: “Phải coi việc tuyên truyền chống đế quốc chủ nghĩa Nhật là một việc cần thiết vào bậc nhất.” (tr 387). Đảng đã ra chỉ thị “Đem khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật” thay cho khẩu hiệu “Đánh đuổi Nhật, Pháp” (tr. 397). Sự thật như thế nào?
Lúc đó, Pháp, Mỹ và Trung Hoa thấy các “lãnh tụ quốc gia” toàn là chính khách salon, không có ai chịu dấn thân đấu tranh, nên đã thuê và huấn luyện Việt Minh đánh Nhật. Cuối năm 1944, do sự sắp xếp của chính phủ Tưởng Giới Thạch, Hồ Chí Minh từ Côn Minh đã đem một số người về Pac Bó lập “Đội Việt Nam Tuyên Truyền Giải Phóng Quân”. Mỹ cho nhóm “Dear Team” do Thiếu Tá Allison K. Thomas cầm đầu đến huấn luyện và trang bị cho đội này chống Nhật. Mỹ huấn luyện vừa xong toán đầu tiên khoảng 100 người thì Nhật đầu hàng Đồng Minh. Việt Minh chưa hề đụng độ với Nhật một vụ nào cả. Nhưng nhờ toán này, Việt Minh đã về Hà Nội cướp chính quyền vào tháng 8 năm 1945!
Sở dĩ lịch sử Đảng CSVN “chống đế quốc chủ nghĩa Nhật” như trên là để che đậy cái chuyện làm “lính đánh thuê” cho Pháp, Mỹ và Trung Hoa. Tướng Trung không nhắc lại là phải.
3.- Đánh thắng đế quốc Pháp và Mỹ?
Tướng Trung nói nhiều đến chiến thắng Điện Biên Phủ, nhưng các tài liệu Trung Quốc đã tiết lộ trong những năm gần đây cho thấy không có Trung Quốc không có chiến thắng Điện Biên Phủ, không có Hiệp Định Genève 1954. Hà Nội không hề cãi chính các tài liệu này.
Kết quả cuộc chiến thắng này cũng rất bi thảm: Hà Nội phải áp dụng chế độ “cải tạo xã hội chủ nghĩa” của Mao Trạch Đông tại miền Bắc đưa đất nước vào những ngày bi thảm. Tài liệu chính thức cho biết cuộc cải cách ruộng đất được thực hiện tại 3.563 xã với 10 triệu dân và tỷ lệ đấu tố được qui định trước là 5,68%. Tài liệu cho biết có 172.008 người đã bị đấu tố, trong đó có 123.266 người (nghĩa là 71,66%) sau này được chính thức xác nhận là oan. Con số thực tế có thể cao hơn nhiều.
Cuộc giải phóng miền Nam cũng gây thiệt hại tương tự. Trước hết, Đảng CSVN phải bán Hoàng Sa và Trường Sa cho Trung Quốc để có phương tiện thực hiện cuộc chiến. Lúc đó Đảng CSVN coi biện pháp này là thượng sách, vì đây là phương thức duy nhất giúp bảo vệ sự tồn tại của Đảng. Về quyền lợi của Đảng, Đảng CSVN đã tính đúng, nhưng Tổ Quốc đã mất đi vĩnh viển Hoàng Sa và Trường Sa. Khi Hà Nội sắp chiếm miền Nam, năm 1974 Trung Quốc đã chiếm Hoàng Sa trước để xiết nợ.
Sau khi chiếm miền Nam, Lê Duẩn đã cho áp dụng chế độ “cải tạo chủ nghĩa” của Liên Sô, tức chủ nghĩa Stalinism thay vì chủ nghĩa Maoism, đưa đất nước vào những ngày đen tối nhất, hàng triệu người phải bỏ nước ra đi. Trong khi đó Trung Quốc đem chủ nghĩa Maoism áp đặt tại Kampuchia rồi “dạy cho Việt Nam một bài học”.
Nhiều người vẫn tin rằng nếu không có Đảng CSVN, nước Việt đã không phải trải qua một cuộc chiến bi thảm kéo dài 30 năm và ngày nay Việt Nam ít ra cũng bằng Nam Hàn, Đài Loan hay Singapore.
Cũng may cho Đảng CSVN là chế độ cộng sản ở Liên Sô và Đông Âu đã sụp đổ một cách nhanh chóng, Trung Quốc phải bỏ mối thù cũ, liên kết với Việt Nam thành một thế liên hoàn để tồn tại. Đảng CSVN cũng thay đổi rất nhanh, từ “tiến mau, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” đã đổi thành “tiến mau, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa tư bản” và từ “chống Mỹ cứu nước” quay qua “nhờ Mỹ cứu Đảng”, nên vẫn còn tồn tại.
Nhìn lại, chúng ta thấy cuộc chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954 và cuộc chiến thắng ngày 30.4.1975 là cuộc chiến thắng của Trung Quốc và do Trung Quốc chứ không phải cuộc chiến thắng của Đảng CSVN. Trong cuộc họp mặt giữa đại biểu bốn Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia và Lào tại Quảng Đông tháng 9 năm 1963, Thủ Tướng Chu Ân Lai đã nói:
“Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất trông mong Đảng Lao Động Việt Nam mở cho một con đường xuống Đông Nam châu Á”.
Nay Đảng CSVN đã mở xong đường ra và Đảng CSTQ đang đi xuống.
VỀ CHÍNH SÁCH ĐỐI NGOẠI
Tướng Trung xác định một cách tổng quát rằng Việt Nam sẽ không tham gia bất cứ liên minh quân sự nào cũng như không cho phép bất cứ lực lượng nước ngoài nào thiết lập căn cứ tại Việt Nam. Tuy ông không nói rõ, nhưng Hà Nội đang áp dụng chính sách “đu dây”: “Đu dây” giữa Nga và Trung Quốc, “đu dây” giữa Trung Quốc và Mỹ, “đu dây” giũa Ấn Độ và Trung Quốc, v.v. Vấn đề là có “đu dây” được hay không, hay sẽ bị “tuột dây” và bị Trung Quốc nắm đầu.
Về quan hệ với Mỹ, Tướng Trung cho biết chỉ mới có một vài quan hệ sơ sài như: “Trao đổi và đào tạo quân sự; học viện quốc phòng hai nước sẽ trao đổi học viên, trao đổi đoàn, trao đổi học thuật, trong đó có giảng bài cho nhau.”
Hà Nội dè dặt với Mỹ là phải. Mỹ đã từng là Đồng Minh của VNCH và Kampuchia, nhưng đã giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm để đổ quân vào, sau đó bỏ rơi miền Nam và Kampuchia... Chơi vậy mà ai dám chơi?
Quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam đã được mô tả bằng phương châm 16 chữ vàng là "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Trung Quốc là điểm tựa duy nhất còn lại của Đảng CSVN, bỏ Trung Quốc ra, Đảng CSVN bị đè bẹp ngay, nên dù thế nào đi nữa, Đảng CSVN cũng phải bám Trung Quốc. Nhưng Đảng CSVN nợ Trung Quốc quá nhiều, nên Trung Quốc phải khống chế để lấy lại phần nào. Việt Nam ở vào thế yếu nên bắt buộc phải có chính sách mềm dẽo.
Tướng Trung cho rằng những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc phải được giải quyết từ từ và lâu dài. Đây không phải là ý kiến riêng của Tướng Trung mà là đường lối của Đảng CSVN.
Quả thật ngoài “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu”, Việt Nam cũng có nhiều lần đánh thắng Tàu, nhưng chỉ đánh thắng trên bộ chứ chưa bao giờ đánh thắng trên biển.
Trong trận hải chiến giữa Hải Quân VNCH với Trung Quốc trong khu vực quần đảo Hoàng Sa vào tháng 1 năm 1974, VNCH đã bị đánh bại một cách thê thảm: 1 chiến hạm bị hư hại toàn diện, 1 bị hư hại nặng và 2 bị hư hại nhẹ. Về nhân mạng: VNCH có 19 người bị tử thương, 43 người bị thương và 101 mất tích. Kết quả, Trung Quốc chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Trong những tháng đầu năm 1988, Hải quân Trung Quốc cho quân chiếm đóng một số đảo đá thuộc khu vực quần đảo Trường Sa. Ngày 14.3.1988 một cuộc chiến đã xẩy ra giữa Hải quân Việt Nam và Hải quân Trung Quốc. Hải quân CSVN cũng bị đánh bại thê thảm: 3 tàu bị bắn cháy và chìm, 3 người hy sinh, 11 người khác bị thương, 70 người bị mất tích. Sau này Trung Quốc đã trao trả cho phía Việt Nam 9 người bị bắt, 64 người vẫn mất tích và được xem là đã hy sinh. Đảo đá Johnson South Reef, tiếng Việt gọi là đảo đá Gạc Ma và một số đảo trong vùng bị Trung Quốc chiếm.
Cho dù Việt Nam có lực lượng hải quân mạnh như Đại Hàn, Đài Loan, Philippines, Singapore hay Ấn Độ cũng không thể đương đầu với Trung Quốc được nên phải chơi trò “tiêu lòn”.
Hôm 11.10.2011, trong chuyến viếng thăm Trung Quốc của Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam và Trung Quốc đã ký một thỏa ước về “chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển” gồm những điểm chính sau đây:
(1) Tiếp tục thực hiện phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”;
(2) Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982;
(3) Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC do ASEAN đưa ra);
(4) Dựa trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi;
(5) Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau, và
(6) Hai bên tiến hành cuộc gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần.
Thỏa hiệp này cũng chỉ gồm những sáo ngữ được lặp đi lặp lại, không có gì mới mẽ.
TƯƠNG LAI KHÔNG CÓ GÌ SÁNG SỦA
Mao Trạch Đông đã từng nói: "CHÍNH QUYỀN được đẻ từ họng súng.” Nay Hồ Cẩm Đào cũng đang thực hiện một chủ trương tương tự: "CHỦ QUYỀN được đẻ từ họng súng.”!
Trong bài “China’s Militant Tactics in South China Sea” (Chiến thuật quân sự của Trung Quốc ở Biển Nam Trung Quốc) đăng trên website Eastasia.org ngày 29.6.2011, ông David Arase, giáo sư Chính trị tại Đại học Pomona ở Claremont, California, cho rằng hiện nay Trung Quốc đang đi theo cách thức gọi là “sử dụng cơ bắp đơn phương” nhằm bảo đảm lợi ích của chính mình bất chấp lợi ích của các nước nhỏ khác.
Trong hiện tại, Trung Quốc chưa đủ mạnh trên Biển Đông để có thể khống chế Việt Nam và Phi Luật Tân. Nhiều người tin rằng thỏa ước nói trên chỉ là kế hoản binh của Trung Quốc trong thời gian chờ đợi hiện đại hóa lực lượng hải quân. Trung Quốc không bao giờ từ bỏ những chủ trương mà họ đã hoạch định.
Ngày 11.10.2011
Lữ Giang

No comments:

Post a Comment