Friday, October 21, 2011

Bài viết hay(191)

Lời tự thuật của tác giả bài thơ "Màu Tím Hoa Sim":Thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi
Tôi sinh ra trong một gia đình nghèo, hồi nhỏ không có cơ may cắp sách đến trường như bọn trẻ cùng trang lứa, chỉ được cha dạy cho dăm chữ bữa có bữa không ở nhà. Cha tôi tuy là tá điền nhưng tư chất lại thông minh hơn người. Lên trung học, theo ban thành chung tôi cũng học tại Thanh Hóa, không có tiền ra Huế hoặc Hà Nội học. Đến năm 1938 - lúc đó tôi cũng đã 22 tuổi - Tôi ra Hà Nội thi tú tài, để chứng tỏ rằng con nhà nghèo cũng thi đỗ đạt như ai. Tuyệt nhiên tôi không có ý định dấn thân vào chốn quan trường. Ai cũng biết thi tú tài thời Pháp rất khó khăn. Số người đậu trong kỳ thi đó rất hiếm, hiếm đến nỗi 5-6 chục năm sau những người cùng thời còn nhớ tên những người đậu khóa ấy, trong đó có Nguyễn Đình Thi , Hồ Trọng Gin, Trịnh văn Xuấn , Đỗ Thiện và …tôi - Nguyễn Hữu Loan.


Với mảnh tú tài Tây trong tay, tôi rời quê nhà lên Thanh Hóa để dạy học. Nhãn mác con nhà nghèo học giỏi của tôi được bà tham Kỳ chú ý, mời về nhà dạy cho hai cậu con trai. Tên thật của bà tham Kỳ là Đái thị Ngọc Chất ,bà là vợ của của ông Lê Đỗ Kỳ , tổng thanh tra canh nông Đông Dương, sau này đắc cử dân biểu quốc hội khóa đầu tiên. Ở Thanh Hóa, Bà tham Kỳ có một cửa hàng bán vải và sách báo, tôi thường ghé lại xem và mua sách, nhờ vậy mới được bà để mắt tới.

Bà tham Kỳ là một người hiền lành, tốt bụng, đối xử với tôi rất tốt, coi tôi chẳng khác như người nhà. Nhớ ngày đầu tiên tôi khoác áo gia sư, bà gọi mãi đứa con gái - lúc đó mới 8 tuổi- mới chịu lỏn lẻn bước ra khoanh tay, miệng lí nhí: "Em chào thầy ạ!" Chào xong, cô bé bất ngờ mở to đôi mắt nhìn thẳng vào tôi. Đôi mắt to, đen láy, tròn xoe như có ánh chớp ấy đã hằn sâu vào tâm trí tôi, theo tôi suốt cả cuộc đời. Thế là tôi dạy em đọc, dạy viết. Tên em là Lê Đỗ Thị Ninh, cha làm thanh tra nông lâm ở Sài Gòn nên sinh em trong ấy, quen gọi mẹ bằng má. Em thật thông minh, dạy đâu hiểu đấy nhưng ít nói và mỗi khi mở miệng thì cứ y như một "bà cụ non". Đặc biệt em chăm sóc tôi hằng ngày một cách kín đáo: em đặt vào góc mâm cơm chổ tôi ngồi ăn cơm lúc thì vài quả ớt đỏ au, lúc thì quả chanh mọng nước em vừa hái ở vườn, những buổi trưa hè, nhằm lúc tôi ngủ trưa, em lén lấy áo sơ mi trắng tôi treo ở góc nhà mang ra giếng giặt .....

Có lần tôi kể chuyện " bà cụ non" ít nói cho hai người anh của em Ninh nghe, không ngờ chuyện đến tai em, thế là em giận! Suốt một tuần liền, em nằm lì trong buồng trong, không chịu học hành... Một hôm bà tham Kỳ dẫn tôi vào phòng nơi em đang nằm thiếp đi. Hôm ấy tôi đã nói gì, tôi không nhớ nữa, chỉ nhớ là tôi đã nói rất nhiều, đã kể chuyện em nghe, rồi tôi đọc thơ... Trưa hôm ấy, em ngồi dậy ăn một bát to cháo gà và bước ra khỏi căn buồng. Chiều hôm sau, em nằng nặc đòi tôi đưa lên khu rừng thông. Cả nhà không ai đồng ý: "Mới ốm dậy còn yếu lắm, không đi được đâu" Em không chịu nhất định đòi đi cho bằng được. Sợ em lại dỗi nên tôi đánh bạo xin phép ông bà tham Kỳ đưa em lên núi chơi .....

Xe kéo chừng một giờ mới tới được chân đồi. Em leo đồi nhanh như một con sóc, tôi đuổi theo muốn đứt hơi. Lên đến đỉnh đồi, em ngồi xuống và bảo tôi ngồi xuống bên em.Chúng tôi ngồi thế một hồi lâu, chẳng nói gì. Bất chợt em nhìn tôi, rồi ngước mắt nhìn ra tận chân trời, không biết lúc đó em nghĩ gì. Bất chợt em hỏi tôi:
-Thầy có thích ăn sim không ?
Tôi nhìn xuống sườn đồi: tím ngắt một màu sim. Em đứng lên đi xuốn sườn đồi, còn tôi vì mệt quá nên nằm thiếp đi trên thảm cỏ....Khi tôi tỉnh dậy, em đã ngồi bên tôi với chiếc nón đầy ắp sim. Những quả sim đen láy chín mọng.
-Thầy ăn đi.
Tôi cầm quả sim từ tay em đưa lên miệng trầm trồ: -Ngọt quá.

Như đã nói, tôi sinh ra trong một gia đình nông dân, quả sim đối với tôi chẳng lạ lẫm gì, nhưng thú thật tôi chưa bao giờ ăn những quả sim ngọt đến thế!
Cứ thế, chúng tôi ăn hết qủa này đến qủa khác. Tôi nhìn em, em cười. Hai hàm răng em đỏ tím, đôi môi em cũng đỏ tím, hai bên má thì....tím đỏ một màu sim. Tôi cười phá lên, em cũng cười theo!

Cuối mùa đông năm ấy, bất chấp những lời can ngăn, hứa hẹn can thiệp của ông bà tham Kỳ, tôi lên đường theo kháng chiến. Hôm tiễn tôi, em theo mãi ra tận đầu làng và lặng lẽ đứng nhìn theo. Tôi đi... lên tới bờ đê, nhìn xuống đầu làng ,em vẫn đứng đó nhỏ bé và mong manh. Em giơ bàn tay nhỏ xíu như chiếc lá sim ra vẫy tôi. Tôi vẫy trả và lầm lũi đi...Tôi quay đầu nhìn lại... em vẫn đứng yên đó ... Tôi lại đi và nhìn lại đến khi không còn nhìn thấy em nữa...

Những năm tháng ở chiến khu, thỉnh thoảng tôi vẫn được tin tức từ quê lên, cho biết em vẫn khỏe và đã khôn lớn. Sau này, nghe bạn bè kể lại, khi em mới 15 tuổi đã có nhiều chàng trai đên ngỏ lời cầu hôn nhưng em cứ trốn trong buồng, không chịu ra tiếp ai bao giờ ...

Chín năm sau, tôi trở lại nhà...Về Nông Cống tìm em. Hôm gặp em ở đầu làng, tôi hỏi em , hỏi rất nhiều, nhưng em không nói gì, chỉ bẽn lẽn lắc hoặc gật đầu. Em giờ đây không còn cô học trò Ninh bướng bỉnh nữa rồi. Em đã gần 17 tuổi, đã là một cô gái xinh đẹp....

Yêu nhau lắm nhưng tôi vẫn lo sợ vì hai gia đình không môn đăng hộ đối một chút nào. Mãi sau này mới biết việc hợp hôn của chúng tôi thành công là do bố mẹ em ngấm ngầm " soạn kịch bản".
Một tuần sau đó chúng tôi kết hôn. Tôi bàn việc may áo cưới thì em gạt đi, không đòi may áo cưới trong ngày hợp hôn, bảo rằng là: " yêu nhau, thương nhau cốt là cái tâm và cái tình bền chặt là hơn cả". Tôi cao ráo, học giỏi, Làm thơ hay...lại đẹp trai nên em thường gọi đùa là anh chồng độc đáo. Đám cưới được tổ chức ở ấp Thị Long,huyện Nông Công, tỉnh Thanh Hóa của gia đình em, nơi ông Lê Đỗ Kỳ có hàng trăm mẫu ruộng. Đám cưới rất đơn sơ, nhưng khỏi nói, hai chúng tôi hạnh phúc hơn bao giờ hết!

Hai tuần phép của tôi trôi qua thật nhanh, tôi phải tức tốc lên đường hành quân, theo sư đoàn 304, làm chủ bút tờ Chiến Sĩ. Hôm tiễn tôi lên đường, em vẫn đứng ở đầu làng, nơi chín năm trước em đã đứng. Chỉ có giờ em không còn cô bé Ninh nữa mà là người bạn đời yêu quý của tôi. Tôi bước đi, rồi quay đầu nhìn lại.....Nếu như chín năm về trước, nhìn lại chỉ thấy một nỗi buồn man mác thì lần này, tôi thật sự đau buồn. Đôi chân tôi như muốn khuỵu xuống.

Ba tháng sau, tôi nhận được tin dữ: vợ tôi qua đời! Em chết thật thảm thương: Hôm đó là ngày 25 tháng 5 âm lịch năm 1948, em đưa quần áo ra giặt ngoài sông Chuồn (thuộc ấp Thị Long, Nông Cống), vì muốn chụp lại tấm áo bị nước cuốn trôi đi nên trượt chân chết đuối! Con nước lớn đã cuốn em vào lòng nó, cướp đi của tôi người bạn lòng tri kỷ, để lại tôi tôi nỗi đau không gì bù đắp nỗi. Nỗi đau ấy, gần 60 năm qua, vẫn nằm sâu thẳm trong trái tim tôi.

Tôi phải giấu kín nỗi đau trong lòng, không được cho đồng đội biết để tránh ảnh hưởng đến tinh thần chiến đấu của họ. Tôi như một cái xác không hồn....Dường như càng kềm nén thì nỗi đau càng dữ dội hơn. May sao, sau đó có đợt chỉnh huấn, cấp trên bảo ai có tâm sự gì cứ nói ra, nói cho hết. Chỉ chờ có thế, cơn đau trong lòng tôi được bung ra. Khi ấy chúng tôi đang đóng quân ở Nghệ An, tôi ngồi lặng đi ở đầu làng, hai mắt tôi đẫm nước, tôi lấy bút ra ghi chép. Chẳng cần phải suy nghĩ gì, những câu những chữ mộc mạc cứ trào ra:
Nhà nàng có ba người anh đi bộ đội
Những em nàng có em chưa biết nói "Khi tóc nàng đang xanh ..." ...Tôi về không gặp nàng...

Về viếng mộ nàng, tôi dùng chiếc bình hoa ngày cưới làm bình hương, viết lại bài thơ vào chiếc quạt giấy để lại cho người bạn ở Thanh Hóa... Anh bạn này đã chép lại và truyền tay nhau trong suốt những năm chiến tranh. Đó là bài thơ Màu Tím Hoa Sim.

Đến đây, chắc bạn biết tôi là Hữu Loan, Nguyễn Hữu Loan, sinh ngày 2-4-1916 hiện tại đang "ở nhà trông vườn" ở làng Nguyên Hoàn - nơi tôi gọi là chổ "quê đẻ của tôi đấy" thuộc xã Mai Lĩnh, huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa.

Em Ninh rất ưa mặc áo màu tím hoa sim. Lạ thay nơi em bị nước cuốn trôi dưới chân núi Nưa cũng thường nở đầy những bông hoa sim tím. Cho nên tôi viết mới nổi những câu : 
Chiều hành quân, qua những đồi sim
 / Những đồi sim, những đồi hoa sim / 
Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết
 / Màu tím hoa sim, tím cả chiều hoang biền biệt / 
Và chiều hoang tím có chiều hoang biết / 
Chiều hoang tim tím thêm màu da diết.

Mất nàng, mất tất cả, tôi chán đời, chán kháng chiến, bỏ đồng đội, từ giã văn đàn về quê làm ruộng, một phần cũng vì tính tôi" hay cãi, thích chống đối, không thể làm gì trái với suy nghĩ của tôi". Bọn họ chê tôi ủy mị, hoạch hoẹ đủ điều, không chấp nhận đơn từ bỏ kháng chiến của tôi. Mặc kệ! Tôi thương tôi, tôi nhớ hoa sim của tôi quá! Với lại tôi cũng chán ngấy bọn họ quá rồi!

Đó là thời năm 1955 - 1956, khi phong trào văn nghệ sĩ bùng lên với sự xuất hiện của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm chống chính sách độc tài, đồng thời chống những kẻ bồi bút đan tâm lừa thầy phản bạn, dốc tâm ca ngợi cái này cái nọ để kiếm chút cơm thừa canh cạn. Làm thơ thì phải có cái tâm thật thiêng liêng thì thơ mới hay. Thơ hay thì sống mãi. Làm thơ mà không có tình, có tâm thì chả ra gì! Làm thơ lúc bấy giờ là phải ca tụng, trong khi đó tôi lại đề cao tình yêu, tôi khóc người vợ tử tế của mình, người bạn đời hiếm có của mình. Lúc đó tôi khóc như vậy họ cho là khóc cái tình cảm riêng....Y như trong thơ nói ấy, tôi lấy vợ rồi ra mặt trận, mới lấy nhau chưa được hơn một tháng, ở nhà vợ tôi đi giặt rồi chết đuối ở sông ... Tôi thấy đau xót, tôi làm bài thơ ấy tôi khóc, vậy mà họ cho tôi là phản động. Tôi phản động ở chổ nào? Cái đau khổ của con người, tại sao lại không được khóc?

Bọn họ xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của tôi đối với người vợ mà tôi hằng yêu quý, cho nên vào năm 1956, tôi bỏ đảng, bỏ cơ quan, về nhà để đi cày. Họ không cho bỏ, bắt tôi phải làm đơn xin. Tôi không xin, tôi muốn bỏ là bỏ, không ai bắt được! Tôi bỏ tôi về, tôi phải đi cày đi bừa, đi đốn củi, đi xe đá để bán. Bọn họ bắt giữ xe tôi, đến nỗi tôi phải đi xe cút kít, loại xe đóng bằng gỗ, có một bánh xe cũng bằng gỗ ở phía trước, có hai cái càng ở phía sau để đủn hay kéo. Xe cút kít họ cũng không cho, tôi phải gánh bộ. Gánh bằng vai tôi, tôi cũng cứ gánh, không bao giờ tôi bị khuất phục. Họ theo dõi, ngăn cản, đi đến đâu cũng có công an theo dõi, cho người hại tôi...

Nhưng lúc nào cũng có người cứu tôi! Có một cái lạ là thơ của tôi đã có lần cứu sống tôi! Lần đó tên công an mật nói thật với tôi là nó được giao lệnh giết tôi, nhưng nó sinh ở Yên Mô, thường đem bài Yên Mô của tôi nói về tỉnh Yên Bình quê nó ra đọc cho đỡ nhớ, vì vậy nó không nỡ giết tôi.
Ngoài Yên Mô, tôi cũng có một vài bài thơ khác được mến chuộng. Sau năm 1956 , khi tôi về rồi thấy cán bộ khổ quá, tôi đã làm bài Chiếc Chiếu, kể chuyện cán bộ khổ đến độ không có chiếc chiếu để nằm!

Định mệnh đưa đẩy, dắt tôi đến với một phụ nữ khác, sống cùng tôi cho đến tận bây giờ. Cô tên Phạm Thị Nhu, cũng là phụ nữ có tâm hồn sâu sắc. Cô vốn là một nạn nhân của chiến dịch cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ năm 1954, 1955.

http://builambang.vnweblogs.com/gallery/1705/previews-med/Nh%C3%A0%20th%C6%A1%20H%E1%BB%AFu%20Loanv%C3%A0v%E1%BB%A3%E2%80%93b%C3%A0%20Ph%E1%BA%A1mTh%E1%BB%8BNhu.n%C4%83m2009.jpgHữu Loan và bà Phạm Thị Nhu

Lúc đó tôi còn là chính trị viên của tiểu đoàn. Tôi thấy tận mắt những chuyện đấu tố. Là người có học , lại có tâm hồn nghệ sĩ nên tôi cảm thấy chán nản quá, không còn hăng hái nữa. Thú thật, lúc đó tôi thất vọng vô cùng. Trong một xã thuộc huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa, cách xa nơi tôi ở 15 cây số, có một gia đình địa chủ rất giàu, nắm trong gần năm trăm mẫu tư điền.

Trước đây, ông địa chủ đó giàu lòng nhân đạo và rất yêu nước. Ông thấy bộ đội sư đoàn 304 của tôi thiếu ăn nên ông thường cho tá điền gánh gạo đến chổ đóng quân để ủng hộ. Tôi là trưởng phòng tuyên huấn và chính trị viên của tiểu đoàn nên phải thay mặt anh em ra cám ơn tấm lòng tốt của ông, đồng thời đề nghị lên sư đoàn trưởng trao tặng bằng khen ngợi để vinh danh ông .

Thế rồi, một hôm, tôi nghe tin gia đình ông đã bị đấu tố. Hai vợ chồng ông bị đội Phóng tay phát động quần chúng đem ra cho dân xỉ vả, rồi chôn xuống đất, chỉ để hở hai cái đầu lên. Xong họ cho trâu kéo bừa đi qua đi lại hai cái đầu đó cho đến chết. Gia đình ông bà địa chủ bị xử tử hết, chỉ có một cô con gái 17 tuổi được tha chết nhưng bị đội Phóng tay phát động đuổi ra khỏi nhà với vài bộ quần áo cũ rách. Tàn nhẫn hơn nữa, chúng còn ra lệnh cấm không cho ai được liên hệ, nuôi nấng hoặc thuê cô ta làm công. Thời đó, cán bộ cấm đoán dân chúng cả việc lấy con cái địa chủ làm vợ làm chồng.

Biết chuyện thảm thương của gia đình ông bà địa chủ tôi hằng nhớ ơn, tôi trở về xã đó xem cô con gái họ sinh sống ra sao vì trước kia tôi cũng biết mặt cô ta. Tôi vẫn chưa thể nào quên được hình ảnh của một cô bé cứ buổi chiều lại lén lút đứng núp bên ngoài cửa sổ nghe tôi giảng Kiều ở trường Mai Anh Tuấn.
 
Lúc gần tới xã, tôi gặp cô ta áo quần rách rưới, mặt mày lem luốc. Cô đang lom khom nhặt những củ khoai mà dân bỏ sót, nhét vào túi áo, chùi vội một củ rồi đưa lên miệng gặm, ăn khoai sống cho đỡ đói. Quá xúc động, nước mắt muốn ứa ra, tôi đến gần và hỏi thăm và được cô kể lại rành rọt hôm bị đấu tố cha mẹ cô bị chết ra sao. Cô khóc rưng rức và nói rằng gặp ai cũng bị xua đuổi; hằng ngày cô đi mót khoai ăn đỡ đói lòng, tối về ngủ trong chiếc miếu hoang, cô rất lo lắng, sợ bị làm bậy và không biết ngày mai còn sống hay bị chết đói.

Tôi suy nghĩ rất nhiều, bèn quyết định đem cô về làng tôi, và bất chấp lệnh cấm, lấy cô làm vợ. Sự quyết định của tôi không lầm. Quê tôi nghèo, lúc đó tôi còn ở trong bộ đội nên không có tiền, nhưng cô chịu thương chịu khó , bữa đói bữa no....Cho đến bây giờ cô đã cho tôi 10 người con - 6 trai , 4 gái - và cháu nội ngoại hơn 30 đứa!

Trong mấy chục năm dài, tôi về quê an phận thủ thường, chẳng màng đến thế sự, ngày ngày đào đá núi đem đi bán, túi dắt theo vài cuốn sách cũ tiếng Pháp, tiếng Việt đọc cho giải sầu, lâu lâu nổi hứng thì làm thơ, thế mà chúng vẫn trù dập, không chịu để tôi yên. Tới hồi mới mở cửa, tôi được ve vãn, mời gia nhập Hội Nhà Văn, tôi chẳng thèm gia nhập làm gì.

Năm 1988, tôi " tái xuất giang hồ" sau 30 năm tự chôn và bị chôn mình ở chốn quê nghèo đèo heo hút gió. Tôi lang bạt gần một năm trời theo chuyến đi xuyên Việt do hội văn nghệ Lâm Đồng và tạp chí Langbian tổ chức để đòi tự do sáng tác, tự do báo chí - xuất bản và đổi mới thực sự.
 
Vào tuổi gần đất xa trời, cuối năm 2004, công ty Viek VTB đột nhiên đề nghị mua bản quyển bài Màu Tím Hoa Sim của tôi với giá 100 triệu đồng. Họ bảo đó là một hình thức bảo tồn tài sản văn hóa. Thì cũng được đi. Khoản tiền 100 triệu trừ thuế đi còn 90 triệu, chia "lộc" cho 10 đứa con hết 60 triệu đồng, tôi giữ lại 30 triệu đồng, phòng đau ốm lúc tuổi già, sau khi trích một ít để in tập thơ khoảng 40 bài mang tên Thơ Hữu Loan.
 
Sau vụ này cũng có một số công ty khác xin ký hợp đồng mua mấy bài thơ khác , nhưng tôi từ chối, thơ tôi làm ra không phải để bán. Hữu Loan
Tiếng đóng cửa
Tôi mới chuyển đến nơi ở mới, cứ gần nửa đêm đang lúc ngủ ngon, tôi bị thức giấc vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên. và tiếng chân lộp cộp rất khó chịu. Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi.
Mẹ tôi khuyên : '' Thoi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm ''.
Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm.
Có người khuyên : '' Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu . . . ''
Rồi người ấy nói tiếp : '' . . . Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được.
Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà và chị thông cảm ! ''
Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ : '' Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi ''.
Thế nhưng, tiếng đóng cửa vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi quyết định lên lầu nhắc nhở.
Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi : '' Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn . . . ''
Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức.
Mẹ tôi an ủi : '' Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi ! Từ từ mới sửa được. . . ''
Rồi khoảng một tháng sau, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đột nhiên biến mất.
Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận.
Tôi nói với mẹ : '' Mẹ nói đúng thật ! ''
Nhưng tôi bỗng bất ngờ … khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ.
Mẹ tôi nghẹn ngào nói : '' Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn.
nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi ''.
Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy.
Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói : “'' Dì ! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi ''.
Rồi cậu nói trong tiếng nấc : '' Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ,
cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ. Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ . . . ''
Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra ...
Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác.
Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời,
Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình.
Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương
Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở '' Con Người '' . . .

Sông Ngân (Ngân hà) là một chùm tinh tú nằm vắt ngang bầu trời. Đứng dưới đất nhìn lên nhỏ, người ta nghĩ đó là một dòng sông bằng bạc.

Huyền thoại xưa kể rằng chàng Ngưu lang (người chăn trâu) và cô Chức nữ (cô gái dệt lụa) là hai… cán bộ có đồng lương thấp nhất trên thiên đình. Đáng lẽ bổn phận của họ là phải chăn trâu cho ra chăn, dệt lụa cho ra dệt. Ấy vậy mà họ lại bày đặt thương yêu nhau, xao lãng bổn phận làm việc. Dù thời ấy chưa ai nói đến năng suất hay chỉ tiêu, ta cũng có thể hiểu ngầm rằng Ngưu lang và Chức nữ không đạt năng suất, không đạt chỉ tiêu.
Trời thấy vậy thì giận lắm. Ngài bèn quyết định trừng phạt Ngưu lang và Chức nữ. Ngài bèn đày Ngưu lang và Chức nữ qua hai bên bờ sông Ngân - dòng sông không có thuyền bè, cũng chẳng có cầu qua lại. Một bầy quạ thấy vậy thì thương lứa đôi tình nhân này quá. Mỗi năm vào mồng 7 tháng 7 âm lịch, đàn quạ tình nguyện bắc một cây cầu cho Ngưu lang và Chức nữ gặp nhau một lần. Cầu ấy được gọi là Ô thước (cầu Quạ). Chàng Ngưu và cô Chức gặp nhau. Họ khóc vì hạnh phúc được trùng phùng, khóc để kể lể cho nhau nghe niềm thương nỗi nhớ trong lòng.
Nước mắt của họ rơi xuống thế gian thành ra một hiện tượng mưa trong đầu mùa thu, không lớn nhưng cứ sụt sùi, không dứt hạt. Thế gian gọi đó là mưa ngâu (mưa của Ngưu lang). Chữ ngâu là biến âm dân dã của chữ Ngưu. Ca khúc Giọt mưa thu của nhạc sĩ Đặng Thế Phong có ca từ làm chứng như vầy:
Gió xa xăm vọng về.
Mưa giăng mù lê thê.
Đến bao năm nữa trời,
Vợ chồng Ngâu thôi khóc vì thu?

Ỷ thiên Đồ long ký của Kim Dung kể lại một mối tình rất đẹp. Trương Thúy Sơn - hai mươi tuổi, đệ tử phái Võ Đang bị Tạ Tốn bắt cóc đưa lên vùng Bắc cực. Cùng bị bắt với chàng ta có Ân Tố Tố - mười chín tuổi, đại ma đầu của Thiên Ưng giáo. Đáng lẽ, một đệ tử chính phái thì không thể kết tình thân ái với một yêu nữ của tà môn. Thế nhưng trong gian nguy, hai người trẻ này đã thương yêu nhau. Nhìn lên trời cao thấy dải Ngân hà, Ân Tố Tố lo sợ. Cô biết mình tội lỗi ngập đầu, sợ sau này chết đi sẽ bị đày xuống địa ngục, xa Trương Thúy Sơn mãi mãi…
Trong niềm tin dân gian, tháng bảy âm lịch là cái tháng chẳng ra làm sao cả. Chẳng những mồng bảy tháng bảy có mưa ngâu từ sông Ngân đổ xuống mà rằm tháng bảy còn có một lễ lớn là lễ bố thí cho cô hồn. Tích xưa kể rằng ngài Mục Kiền Liên là con người đại hiếu, rất mực thương yêu mẹ là bà Thanh Đề. Bà Thanh Đề ở ác, bị đày xuống âm cung để Diêm vương trừng phạt. Đúng ngày rằm tháng Bảy, xót thương mẹ chịu đói lạnh ở âm cung, ngài Mục Kiền Liên bèn xin chư Phật cho phép đem cơm xuống dâng mẹ. Cảm xúc trước lòng hiếu thảo ấy, chư Phật cho phép ngài mang cơm vào âm cung.
Từ đó, ngày rằm tháng bảy là ngày báo hiếu. Đạo Phật gọi đây là đại lễ Vu lan - ngày xá tội cho những vong nhân. Dân gian tin rằng ngày này có nhiều cô hồn thiếu thốn cũng rất muốn có cái ăn, tấm mặc như người trên dương thế. Cho nên, nhân ngày rằm tháng Bảy, họ tổ chức cúng kiếng để bố thí cho cô hồn. Trên cơ sở triết lý của Phật giáo, đại lễ Vu lan đã được người Việt xã hội hóa và dân tộc hóa một cách tích cực. Vu lan hằng năm là ngày con cái bày tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ, là ngày tha thứ cho lỗi lầm của người đã khuất và là ngày thể hiện tình cảm chia sẻ, giúp đỡ giữa người và người, giữa người sống và người đã khuất.
Niềm tin dân gian ấy lắng đọng lại trong tâm hồn nhiều thế hệ người Việt, trở thành một thứ vô thức tập thể. Không ai bảo ai, tháng bảy âm lịch hằng năm trở thành tháng nghỉ chơi, bỏ bớt các hoạt động buôn bán kinh doanh, chủ yếu làm điều thiện để giúp người và để an lòng mình. Tháng bảy âm lịch (năm nay rơi vào tháng tám dương lịch) nào cũng vẫn diễn ra tình trạng ấy.
Mưa gió sụt sùi nên phòng trà, tụ điểm ca nhạc, sân khấu ngoài trời, chương trình lưu diễn các tỉnh… ít hoạt động hơn. Các bầu show tin rằng tháng này mà mở show là thất bại. Anh chị em ca sĩ, nhạc công cũng ít dám biểu diễn. Họ tin rằng có diễn đi nữa cũng dễ gặp trắc trở. Mới cuối tháng sáu (âm lịch) mà một cuộc thi âm nhạc có quy mô lớn toàn quốc đã… trục trặc âm thanh, thí sinh phải hát ba lần mới xong được một bài, chương trình kéo dây cà ra dây bí tới 0 giờ đã khiến họ kinh hoàng, đừng nói tới tháng bảy. Họ không dám làm đĩa đơn trong tháng này vì sợ làm ra… bán không được. Có cái khá hay là họ tăng cường làm việc thiện, việc nghĩa; hăng hái tham gia các chương trình biểu diễn trong các chùa, các tịnh thất. Những ca khúc của họ tập trung vào chữ hiếu, hình tượng mẹ.
Cát-sê có cũng được, không có cũng được; chủ yếu là họ đóng góp thêm vào cho đại lễ Vu lan những hoạt động văn hóa đích thực.
Các phòng thu cũng chỉ thu cầm chừng, các nhạc sĩ hòa âm phối khí cũng làm chừng chừng. Chủ yếu, họ hòa âm phối khí và thu cho những chương trình có tính phục vụ cao như của đài phát thanh, đài truyền hình hay những chương trình biểu diễn từ thiện. Họ nghỉ chơi, không dám làm những chương trình lớn.
Các hãng băng đĩa thì… cương quyết nghỉ chơi một tháng. Họ sợ băng đĩa mần ra bán hổng được, lỗ vốn, ôm show. Có là ca sĩ thượng thặng đi nữa thì họ cũng phải chờ đến tháng tám mới dám ký hợp đồng sản xuất.
Có cái vui là không khí hoạt động cầm chừng của giới văn nghệ lại lây sang… lĩnh vực kinh doanh địa ốc. Căn bản là nhà đất đứng yên, ít ai dám nói chuyện hợp đồng mua bán. Vả chăng, mưa gió thế này mà mặc áo mưa dạo tới Bình Chánh hay Hóc Môn để coi một miếng đất xây hướng bắc hay hướng tây thì cũng hơi lãng mạn như… làm thơ tán gái bia ôm.
Các nhà hàng tiệc cưới, cửa hàng cho thuê áo cưới, cửa hàng dịch vụ trang điểm cô dâu, điểm cho thuê xe đưa dâu… vắng bóng người đến hợp đồng như chưa bao giờ vắng thế. Chuyện giản dị là tháng này không ai cưới hỏi. Tiệc tùng nhậu nhẹt vui chơi thì có nhưng đám cưới thì dứt khoát là không. Cưới nhau mùa này, lỡ mỗi năm chỉ gặp nhau... một lần. Thà hổng cưới còn hơn cưới hỏng!
Một năm có mười hai tháng để làm việc thì chuyện làm cầm chừng, nghỉ giải lao để làm việc từ thiện xã hội một tháng cũng không tệ chút nào. Chính vì vậy mà tháng bảy âm lịch hiện diện giữa đời ta như là một tháng để mọi người tập trung nỗ lực làm việc thiện, chia sẻ với người nghèo, người gặp khó khăn.
Riêng giới viết nhạc, viết văn thì tháng này là tháng bắt đầu cho nguồn cảm hứng. Mùa thu tới, lá ngoài đường đã rụng nhiều và trên không có những đám mây bàng bạc là họ bắt đầu cảm xúc, xao xuyến, bồi hồi, nhớ lại chuyện xưa tích cũ. Họ sáng tác.
Thu đi, cho lá vàng bay.
Lá rơi, cho đám cưới về…
Anh mong chờ mùa thu.
Trời đất kia ngả màu xanh lơ…
Ca khúc của Đoàn Chuẩn - Từ Linh viết như vậy.

Tuy nhiên, giới sướng nhất tháng này vẫn là người làm và bán bánh trung thu. Trung thu diễn ra vào giữa tháng tám nhưng họ đã cho ăn bánh trước một tháng rưỡi. Tết trung thu là của trẻ con nhưng bây giờ đã thành tết của người lớn. Việc ấy xin hẹn sẽ… bàn vào tháng sau.
Vũ Đức Sao Biển
Khách Quê

No comments:

Post a Comment