Friday, October 21, 2011

Bài viết hay(192)

Những Cái Cần Gạt Nước Mua roi trong tranh.2gif.gif
Bạn đã từng lái xe trong mưa, bạn có để ý đến cái cần gạt nước không? Trời mưa như trút nước, nước phủ mờ mặt kính, che khuất cả đường đi. May mắn thay chúng ta có những cái cần gạt nước: kiên trì và đều đặn, chúng xoá nhoà nước mưa trên kính, giúp ta nhìn thấy đường để lái xe. Thật tiện dụng tuyệt vời!

Mua roi trong tranh.5gif.gif
Trên chuyến xe cuộc đời, có những nỗi buồn rơi rớt, những lo âu lất phất, những cơn giận vũ bão… chúng như cơn mưa cản trở hành trình của chúng ta, làm chúng ta không thấy đường đi, mất phương hướng, hoặc chán nản dừng xe lại, tự làm mất thời gian và công sức của mình, bạn có thấy lãng phí không? Này bạn, thay vì ngồi than thân trách phận hoặc tiêu cực chờ đợi, sao bạn không thẳng tay gạt những nỗi buồn, những điều không vừa ý sang một bên để tiếp tục đi, cho dù chậm thì cũng vẫn là đang tiến tới. Một u sầu gạt bỏ là bạn sẽ được nhìn rõ hơn và xa hơn một chút, tiến xa hơn một chút trên đường đi của mình.
Mua roi trong tranh.3gif.gif
Dầu vậy, cũng có những niềm đau, những nỗi buồn như cơn mưa dai dẳng, khó có thể xoá nhòa trong chốc lát. Bạn phải đều đặn, đều đặn gạt bỏ chúng như… những cái cần gạt nước. Muốn vậy, bạn phải kiên trì, quyết tâm lập đi lập lại một động tác trong tư tưởng: đẩy sang phải, đẩy sang trái, cho những gì không vừa ý văng khỏi đời mình như những hạt mưa văng khỏi kính xe; hãy chiến đấu cho tương lai phía trước, để rồi những lo âu rơi rớt, những cơn giận tung toé, những phiền muộn đọng lại sẽ bị gạt bắn ra đằng sau từng phần, từng phần, và nhẹ dần đi cho tới khi mất hẳn. Quan trọng là bạn phải biết gạt bỏ chúng một cách đều đặn, kiên trì. Trời sẽ lại sáng sau cơn mưa.
Mua roi trong tranh.gifNgười tài xế cẩn thận, dù biết rõ công dụng của chiếc cần gạt nước, cũng không dám khinh thường trời mưa. Đường trơn, tầm nhìn giới hạn, xe không thể chạy nhanh được; bạn cũng vậy, bạn có thể gạt bỏ được những điều tiêu cực, phật lòng, buồn đau, nhưng vẫn chịu những hậu quả tổn hại của chúng. Hãy tiến lên nhưng đừng phóng nhanh, chậm rãi chú ý xem xét để được an toàn cho lần sau. Và nếu tránh được thì nên tránh từ đầu, như người lái xe khi xem thời tiết, biết trời mưa thì có thể khởi hành sớm hơn hoặc muộn đi, có thể lái xe đi vòng hướng khác để tránh cơn bão dập vùi. Đừng tự chuốc lấy những điều không vừa ý khi mình có thể tránh được. Cuộc đời còn có bao việc phải làm; nếu không thật cần thiết thì cũng chẳng nên lái xe trong mưa.
3.jpg
Và nếu nhỡ ra phải đi trong mưa, bạn có để ý thêm không? Trên kính xe có tới 2 cái cần gạt nước. Chúng làm việc chung với nhau thật hợp «rơ», lui tới đều đặn, song song, hỗ trợ cho nhau, để đẩy nước mưa ra ngoài. Trong cuộc đời, có những nỗi buồn, những lo âu thật khó xoá với sức của một người. Hãy cùng chia sẻ với người thân, với bè bạn: gánh nặng được san sẻ thì đôi vai sẽ bớt mỏi, đường đi sẽ bớt xa hơn, dễ đi hơn. Khi có sự đồng tâm hiệp lực thì mọi việc sẽ dễ dàng hơn, niềm vui cũng sẽ lớn hơn, đủ để đánh bại những nỗi buồn lớn.
1.jpgVà sau hết, bạn hãy là người lạc quan. Hãy nhìn những cái cần gạt nước không chịu nằm im, chúng chuyển động không ngừng, cố đẩy nước đến từ mọi phía. Nếu bạn chỉ ngồi một chỗ mà lo âu thì bạn thật là người đáng lo, nếu bạn chỉ biết cằn nhằn những phiền toái thì chúng vẫn còn đó, nếu bạn đắm mình trong u sầu thì u sầu sẽ nhận chìm bạn. Hãy suy nghĩ cho lạc quan và hành động tích cực. Đối với người lạc quan, sớm hay muộn thì vấn đề cũng sẽ có giải pháp, điều cần là phải vui sống dù tạm thời chưa giải quyết chúng được. 5.jpgXưa kia có một bà cụ hay ủ rũ khi nghĩ đến 2 người con ở xa : trời mưa thì bà nghĩ đến người con bán dép rơm bị ế ẩm vì không ai mua dép rơm để đi mưa; trời nắng thì bà lại nghĩ tới người con bán dù vì ai lại mua dù mùa nắng. Hàng xóm thấy vậy xúm vào khuyên bà hãy nghĩ ngược lại: trời nắng thì nghĩ tới người con bán dép rơm được đắt hàng, còn trời mưa thì nghĩ tới đứa con làm dù không đủ bán. Bà cụ nghe theo và từ đó sống thật vui vẻ. Bạn biết không, đời sống vui hay buồn nhiều khi không phải do những việc bên ngoài, mà lại tuỳ thuộc vào suy nghĩ và cách sống của chúng ta. Nhiều việc có cả mặt tốt lẫn mặt xấu, nhưng nếu nhìn mặt tốt có lẽ chúng ta sẽ sống hạnh phúc hơn, tội gì phải làm ngược lại. Những buồn khổ, lo âu, bất hạnh nhiều khi đến bất chợt như cơn mưa và ai cũng gặp phải. Dù sao trời cũng đã mưa và chúng ta phải lái «chuyến xe cuộc đời».
7.jpg
Hãy vui vẻ lạc quan khi nghĩ đến… «những cái cần gạt nước» khi lái xe trên đường đời; nhất là trong những lúc mưa bão...
Tác giả: Hoài Nam Yêu thương như bạn vẫn thường yêu, sống như bạn vẫn thường sống nhưng với một niềm tin là bạn không thể có cuộc sống này lần nữa.
Hạnh phúc mà bạn đang có hay nỗi đớn đau mà bạn đang mang là duy nhất, bạn hãy chấp nhận và thưởng thức.
Như bạn chỉ có thể sống được ngày hôm nay, còn ngày mai, ngày mai đó chưa tới và chắc chắn, ngày mai đó vẫn sẽ tới, nhưng có thể sẽ không còn có bạn.
Những nhân chứng cuối cùng


Khi quyển “Viết cho Mẹ và Quốc hội” của Ông Nguyễn Văn Trấn được nhà xuất bản Văn Nghệ cho ra mắt ở hải ngoại, rất nhiều bình luận gia đã góp ý phân tích về tài liệu này. Đây là một quyển sách đã gây nhiều chấn động ở trong nước và cả ở hải ngoại vì lần đầu tiên, vài chi tiết “thâm cung bí sử” trong sinh hoạt nội bộ của giới lãnh đạo đảng Cộng sản Việt Nam được tác giả phơi bày trước công luận.

Ông Tôn Thất Thiện ở Canada là một trong những nhà bình luận thời sự có tiếng đã viết một bài ca ngợi việc làm của Ông Trấn. Ông Thiện có đề cập đến vài ý kiến dè dặt đối với lập trường của Ông Trấn và đã đề cao các sử liệu mà Ông Trấn đã trình bày. Một bình luận gia nổi tiếng khác, Ông Lâm Lễ Trinh, một nhân sĩ miền Nam từng giữ chức Tổng trưởng bộ Nội vụ thời chánh phủ Ngô Đình Diệm, đã gọi Ông Trấn dưới danh từ “hung thần Chợ Đệm,” một danh từ mà giới chánh trị miền Nam am hiểu tình hình trong khoảng thời gian khởi đầu cuộc kháng chiến Nam bộ đã riêng tặng cho Ông Nguyễn văn Trấn.

Ông Trấn nay đã qua đời. Người viết bài này đã thực hiện tài liệu này từ lâu dưới tựa đề “Hiện tượng Nguyễn Văn Trấn” nhưng nhiều bạn thân đã đề nghị khoan cho ra mắt vì nhầm vào lúc Ông Trấn đang thực hiện báo chui “Người Sài Gòn,” một tờ báo đã từng làm nhức nhối giới cầm quyền trong nước. Phê bình Ông Trấn vào lúc đó là việc làm không ích lợi cho việc tranh đấu chung.
Trong quyển “Viết cho Mẹ và Quốc hội,” tác giả đã rất nhiều lần đề cập đến những bạc đãi mà người kháng chiến miền Nam đã phải đương đầu khi tập kết ra Bắc. Ông Trấn đã nêu lên trường hợp Ung Văn Khiêm, Bộ trưởng Ngoại giao Bắc Việt đã bị cho ra rìa vì một tuyên bố chung mà Ông Hồ Chí Minh đã ký với lãnh tụ cộng sản Tiệp Khắc Novotny. Lê Đức Thọ đã đổ trách nhiệm cho một mình Ung Văn Khiêm đã thảo văn thư mặc dầu nhiều người đã biết là ông Hồ Chí Minh đã có bút tích phê sự đồng ý trên dự thảo văn kiện này. Vì Lê Duẩn muốn bứng Ung Văn Khiêm ra khỏi bộ Ngoại giao nên Ung Văn Khiêm đã phải chịu mất chức để làm “dê tế thần.”
Ông Bùi Công Trừng đã từng có chân trong bộ Chính Trị, đã bị quản chế tại gia cho đến ngày chết. Dương Bạch Mai, có tiếng là thân Nga và chống đường lối thân Trung Quốc đã chết bất ngờ và mờ ám khi Chu Ân Lai sắp đến viếng thăm Hà Nội. Ông Mai đang dự cuộc họp Quốc Hội tại Nhà Hát Lớn Hà Nội đúng vào lúc ông đang sắp sửa đọc một diễn văn nảy lửa chống lại đường lối này. Diễn văn đã có sẵn trong túi áo nhưng trong giờ giải lao, ông đã đột tử khi chưa uống cạn ly bia của các đại biểu mời ông để mừng sinh nhật của ông vào ngày hôm sau.
Ông Trấn đã có ý muốn để Nam bộ cho người Nam trách nhiệm quản lý sau 1975, nhưng những người am tường chuyện cũ đã chua chát bảo nhau:
“Các ông đã ám hại bao nhiêu nhân tài miền Nam, còn đâu người để giúp các ông?”
Trong sách đã dẫn, Ông Trấn đã đề cập rất nhiều về sự góp công của ông trong những ngày bố trí khởi nghĩa ở Nam bộ. Ông không đả động gì về việc ông đã giúp Đảng Cộng sản Đệ tam thanh toán các nhà ái quốc đã từng cùng tranh đấu chống thực dân Pháp ở miền Nam. Ông đã làm việc đó để giúp đảng dành quyền độc tôn lãnh đạo. Ông không có một lời đề cập hay ân hận về các việc ông đã thi hành. Trái lại, nếu đọc kỹ những dòng ông viết, người hiểu chuyện có cảm tưởng là ông cố ý tự bào chữa việc ông làm vì những người ông thanh toán đã có lập trường đối nghịch với chủ trương của ông hay của Đảng của ông. Bàng bạc trong các đoạn văn, ông đã để rất nhiều thời giờ công kích lập trường của các đảng hay xu hướng đối phương khác, nhất là các người trong nhóm Đệ Tứ.
Thật ra, trong giới chánh trị thời Việt Nam Cộng Hòa, rất ít người biết đến ông Trấn. Ông chỉ được nhắc đến nhiều sau khi sách của ông đã được xuất bản ở hải ngoại. Trong giới đã từng tham gia tranh đấu ở miền Nam, ông Trấn đã được biết như là một cấp thừa hành được đảng tin cậy, một “thiên lôi” chỉ đâu đánh đó. Ông đã nhìn nhận chức vụ chánh thức của ông vào lúc khởi đầu là Giám đốc Quốc gia Tự vệ Cuộc. Lúc Pháp chưa trở lại chiếm Sài Gòn, ngày 09-09-1945 người của Trần Văn Giàu là Lý Huê Vinh thuộc Quốc gia Tự vệ Cuộc, đã bao vây trụ sở Việt Nam Độc lập Vận động Hội để bắt Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo, Huỳnh Phú Sổ ở biệt thự đường Miche (tức Đường Phùng Khắc Khoan). Ông Huỳnh Phú Sổ đã thoát, nhờ sang được một nhà bên cạnh. Quốc gia Tự vệ Cuộc với sự trợ giúp của Mai Văn Bộ, đã dàn cảnh để bêu xấu Ông Huỳnh Phú Sổ bằng cách ngụy tạo chưng bày một rương đầy hình ảnh phụ nữ khỏa thân mà họ phao vu là đã bắt gặp trong khi lục soát nhà.
Trong đêm 23 tháng 9 năm 1945, ngày lịch sử mở màng cuộc Kháng chiến Cách mạng Mùa Thu ở Nam bộ, người bị giết đầu tiên, thây phơi trên đường Albert 1er ( Đường Đinh Tiên Hoàng) là ông Lê Văn Vững, bí thư vùng Sài Gòn-Chợ Lớn của nhóm Tranh Đấu và cũng là người phụ trách phát hành lại báo Tranh Đấu. Như vậy người Việt Nam đầu tiên đã bỏ mình trong cuộc Kháng chiến chống Pháp không do thực dân giết mà lại do Tự vệ Cuộc miền Nam thanh toán. Bà vợ của ông Vững đã tận tụy suốt đời nuôi con và mở một tiệm bán bánh mức trên đường Đinh Tiên Hoàng, gần góc đường Hiền Vương. Tiệm trương bảng màu vàng đề tên Lê Văn Vững chữ đỏ, để kỷ niệm người chồng vắn số. Một người con của ông Vững là Tiến sĩ Lê Tuấn Anh về sau đã học thành tài và có lần giữ chức Tổng trưởng Canh nông thời chánh phủ Trần Thiện Khiêm.
Vài ngày sau 23 tháng 09, 1945 nhà giáo Nguyễn Thi Lợi phụ trách báo Tranh Đấu cũng bị thủ tiêu ở Cần Giuộc, Chợ Lớn. Cuộc khủng bố trắng, săn bắt, ám sát các nhân sĩ ái quốc có uy tín nhưng không thuộc Đảng Cộng sản từ đó đã xảy ra hằng ngày, bắt đầu từ Bùi Quang Chiêu đến Hồ Văn Ngà, Trần Quang Vinh, Luật sư Hồ Vĩnh Ký và vợ là Bác sĩ Nguyễn Thị Sương (nguyên Thủ lãnh Phụ Nữ Tiền Phong)v.v... Nhà viết báo và cách mạng danh tiếng trong thời kỳ “Đông dương Đại hội,” Diệp Văn Kỳ, khi biết rõ ý đồ của Trần Văn Giàu, đã lánh mặt, mặc áo tu lên ở Tha La Xóm Đạo (Trảng Bàng) cũng bị bắt và sát hại trong đêm.
Một nhân tài có tiếng tăm khác bị thanh toán là Luật sư Dương Văn Giáo. Cái chết của ông Giáo có thể có liên can một phần nào đến cấp chỉ huy trực tiếp của ông Trấn, tức ông Trần Văn Giàu, Chủ tịch Ủy ban Hành chánh Nam bộ. Số là trước khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 09 tháng 03 năm 1945, ông Trần Văn Giàu cũng như một số lớn các nhà cách mạng khác, đã bị Pháp cầm tù ở Trại Tà Lài (Bà Rá). Có thể vì nhu cầu chánh trị, để chống phá quân đội Nhật, giới cầm quyền Pháp ở VN đã nhận chỉ thị từ Pháp dàn cảnh để ông Trần Văn Giàu vượt ngục Tà Lài để ra ngoài hoạt động chống Nhật. Khi Nhật đảo chánh Pháp, trong các hồ sơ mật được giữ trong văn khố Sở Mật thám ở Catinat, văn kiện này được người Nhật tìm ra và ông Huỳnh Văn Phương là người được Chánh phủ Trần Trọng Kim cho phụ trách cơ sở bót Catinat đã có tài liệu về việc Trần Văn Giàu gặp gỡ với trùm mật thám Arnoux của Pháp. Trong một phiên họp của Mặt trận Quốc gia Thống Nhất ở nhà vợ chồng bác sĩ Hồ Vĩnh Ký, đường Phan Đình Phùng, ông Dương Văn Giáo lúc đó từ Thái Lan về, đã rút từ cập da ra tài liệu này cho các người hiện diện xem. Sau khi thảo luận, chính ông Giáo là người đề nghị không công bố tài liệu này để không làm mất uy tín ông Trần Văn Giàu để Mặt trận Việt Minh có thể lãnh đạo hữu hiệu việc chống Pháp lúc đó đang lâm le chiếm trở lại miền Nam. Quyết định sau cùng của buổi hội là giao cho Dương Văn Giáo đến gặp Trần Văn Giàu đặt vấn đề cải tổ Lâm Ủy Hành Chánh.
Quân Pháp, với sự thỏa thuận của quân đội Anh đang chiếm đóng, làm chủ được Sài Gòn nhưng còn bị bao vây trong thành phố, Dương Văn Giáo đã bị vu cáo là Việt gian và bị xử tử ở Cầu Bến Phân (Gia Định). Phần đông những người hiện diện trong buổi hội lịch sử kể trên như luật sư Hồ Vĩnh Ký và vợ là bà bác sĩ Nguyễn Thị Sương, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Huỳnh Phú Sổ, Lê Kim Tỵ... sau đó đã lần lượt bị giết chỉ trừ Vũ Tam Anh (sau bị Mật vụ chế độ Ngô Đình Diệm giết) và Nguyễn Văn Hướng.
Những người đã bị thủ tiêu không những phần nhiều đã hoạt động chung quanh vùng Sài Gòn, Chợ Lớn mà còn cả nhiều người ở các tỉnh xa ở miền Nam. Danh sách những người này như đã được ghi nhận từ lâu, chỉ chờ có cơ hội là được đem ra thi hành. Ông Trịnh Hưng Ngẫu (người được giới tranh đấu ở Nam biết tiếng không phải chỉ vì ông đã chế biến cho các xe chuyên chở sử dụng lò đốt than gọi là gasogen để thay thế xăng khan hiếm vào thời đó, mà do thành tích ông đã đá vô mông một cò Pháp nhân một cuộc bảo vệ ông Bùi Quang Chiêu từ Bến Nhà Rồng, Khánh Hội về tới nhà ở Phú Nhuận) đã cho biết là trong một cuộc gặp gỡ Trần Văn Giàu ở Thái Lan, ông Giàu đã khoe là ông có danh sách hơn 200 người cần thủ tiêu nhưng chưa thi hành kịp (!).
Một số đông những người này đã bị Tự vệ Cuộc của ông Trấn bắt giam trước khi Lâm Ủy Hành Chánh của Trần Văn Giàu rút khỏi Sài Gòn đi về miệt Tân An. Ông Trấn đã có đề cập đến việc này trong sách của ông (Xem trang 136) với lời khen (!) “Pháp cho nhảy dù xuống Hội đồng Sâm để giải thoát cho tù nhân mà ta giam ở đó. Có cái tốt là tù nhân không chạy theo Tây.” Tù nhân (!) được giao cho Phạm Hùng đem vào kinh Xáng và đi luôn xuống Cà Mau. Một số những người bị giam nầy đã thoát chết khi được ông Nguyễn Hòa Hiệp, chỉ huy trưởng của Đệ tam Sư đoàn, bắt buộc Tự vệ cuộc phải trả lại tự do, nhân lúc Sư đoàn này rút lui về Hậu giang. Người may mắn trong trường hợp này là ông Ngô Văn đã kể lại chuyện trong quyển “VIET-NAM, 1920-1945, révolution et contre-révolution sous la domination coloniale” xuất bản ở Pháp.
Riêng trường hợp ông Hồ Văn Ngà thì bị giết “nguội” về sau, khi ông bị giam ở Kim Quy, Đá Bạc, Rạch Giá. Cùng bị giam với Hồ Văn Ngà có ông Trần Quang Vinh, một nhân sĩ Cao Đài danh tiếng. Ông Nguyễn Thành Phương và Vũ Tam Anh đã tổ chức phá khám để giải thoát hai ông Vinh và Ngà nhưng chỉ cứu được Trần Quang Vinh. Hồ Văn Ngà hôm đó được một cán bộ giữ khám là học trò cũ mời về nhà dùng cơm! Ông Ngà sau đó bị giết ở Hòn Đá Bạc. Người viết bài đã có những phút vô cùng cảm động khi nghe ông Ngà đọc diễn văn nhân cuộc tập hợp lớn, ngày18-03-1945, mừng nước nhà thoát được ách thực dân Pháp, tổ chức ở Vườn Ông Thượng (lúc ấy còn gọi là vườn Bồ Rô) sau ngày 09-03-1945, ngày Nhật đảo chánh Pháp. Tờ truyền đơn của buổi tập hợp in màu đỏ đã được người viết trân trọng giữ nhưng sau đó đã được người nhà đốt khi Pháp trở lại chiếm Nam Bộ. Ông Hồ Văn Ngà đã nói với những người giết ông:

“Giết thì cứ giết nhưng đừng kêu qua là Việt gian.”
Những tội ác mà ông Nguyễn Văn Trấn cũng như những người khác như Nguyễn Văn Tây, Kiều Đắc Thắng, Kiều Tấn Lập, Cao Đăng Chiếm... đã thi hành, xét cho kỹ, chỉ là việc làm của cấp thừa hành. Trách nhiệm là do chủ trương của cấp chỉ huy. Những gương mặt nổi vào thời bấy giờ là Trần Văn Giàu ở miền Tiền giang, Hậu giang và Dương Bạch Mai ở miền Đông Nam bộ. Nhưng đứng sau lưng Trần Văn Giàu, những nhân vật có thực quyền là các cấp xứ ủy được gởi vào từ Hà Nội sau ngày 02-09-1945 như Hoàng Quốc Việt, đại biểu của Trung Ương Đảng hoặc Cao Hồng Lãnh, đại biểu Tổng bộ Việt Minh, để đưa chỉ thị cho Trần Văn Giàu.
Dương Bạch Mai và Trần Văn Giàu là hai nhân vật công khai trong cuộc Cách Mạng Tháng Tám được nhân dân Nam bộ biết tiếng nhưng tên tuổi hai ông lại không thấy được ghi chép trong cuốn « Lịch Sử Đảng Cộng Sản Việt Nam »! Cuộc lãnh đạo thật sự là do các ông Hoàng Quốc Việt được ông Hồ Chí Minh phái vào Nam và các ông Lê Duẩn, Tôn Đức Thắng như đã được ghi trong cuộc họp Xứ Ủy Nam bộ ở Cây Mai (Chợ Lớn) ngày 23-09-1945 và cuộc họp Xứ Ủy Mở Rộng ở Thiên Hộ (Mỹ Tho) ngày 25-10-1945 để đối phó với sự tấn công của Pháp.
Chủ trương và trách nhiệm thủ tiêu các phần tử ái quốc ngoài Đảng ở miền Nam, để đảng Cộng sản VN được độc quyền lãnh đạo phải được quy cho các thành phần kể trên. Chúng ta cũng có thể đi lần lên cao hơn nữa cho đến cấp Trung Ương ở Bắc bộ như Hồ Chí Minh và Trường Chinh. Việc này không phải chỉ là một ước đoán, nhất là khi quyết định này liên quan đến các đảng viên thuộc Đệ Tứ bị thủ tiêu vì các đảng viên cộng sản Việt Nam đã từng được huấn luyện theo chiều hướng đó:
Kể từ năm 1937, khi Stalin chủ trương phải tiêu diệt nhóm của Trostky (Báo Pravda ngày 14-02-1937), chỉ thị này đã được các đảng viên cộng sản Đệ tam tuân hành triệt để. Năm 1939 ông Hồ Chí Minh đã viết ba bức thư từ Trung Quốc gởi về cho đảng viên trong xứ mà nội dung, từ ngữ giống như hệt bài báo năm 1937 của Stalin (Xem: Hồ Chí Minh Toàn Tập, tập 3, trang 97 và ba bức thư tiếng Pháp, ký tên là Line, đăng trong tờ báo Notre Voix, số tháng Sáu và tháng Bảy năm 1939). Đối với một người vốn đã hấp thụ văn hóa Đông phương Khổng, Mạnh như ông Hồ Chí Minh, ngôn từ quá thô được sử dụng trong ba văn kiện kể trên quả là một bất ngờ khó hiểu được, ngoại trừ phải được coi như là một ngôn ngữ dịch từ các bản văn của Stalin.
Trong cuốn Lịch Sử Đảng Cộng sản Việt Nam có đầy rẫy những loại chứng cớ bịa đặt để chứng minh việc khủng bố và bắt bớ nhóm các chiến sĩ Đệ Tứ trong đó có Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Chánh, Nguyễn Văn Số, Phan Văn Hoa (em của Hùm), Trần Văn Sĩ... để bị thủ tiêu tập thể. Tài liệu đã nói là các đảng viên này “lúc đó đang lẩn trốn” trong vùng Dĩ An. Những người “viết sử” Đảng hằng chục năm sau vẫn còn cố ý mạ lỵ những anh hùng đã chết. Sự thật trái lại đã cho biết là khi Pháp tái chiếm Sài Gòn, nhóm Đệ Tứ đã thành lập các toán võ trang chống thực dân. Khi bộ phận của Trần văn Giàu kéo ra khỏi Sài Gòn đi về hướng Bình Chánh, Tân An... thì một nhóm võ trang Đệ Tứ đã về tập trung và lập bản doanh ở vùng Suối Xuân Trường (Thủ Đức). Bộ đội của Trần Văn Giàu, Dương Bạch Mai thay vì lo đánh Pháp lại tìm cách bao vây giải giới nhóm này với chủ trương để thống nhất bộ đội võ trang. Nhiều người trong nhóm võ trang đã không đồng ý cho giải giới, nhưng nhiều người khác lại không muốn có chuyện đổ máu giữa người Việt với nhau. Cuối cùng 64 người trên 68 có mặt hôm ấy bỏ thăm chịu ở lại, chấp thuận chịu cho giải giới. Những liệt sĩ này không ngờ là họ đã tự trói tay để sau này bị giết tập thể ở Sông Lòng Sông (Phan Thiết).
Một trường hợp được biết nhiều nhất là cái chết của nhà cách mạng nổi danh ở miền Nam là ông Tạ Thu Thâu. Đối với các bạn trẻ hiện nay, tưởng nên nhắc lại cho rõ là Tạ Thu Thâu từng du học ở Pháp, đã hoạt động chánh trị lúc ở Pháp cũng như sau khi bị trục xuất về VN vì ông đã đứng ra tổ chức một cuộc biểu tình hơn 200 người ở Paris, trước Điện Elysée (Dinh Tổng Thống Pháp), phản đối việc án xử tử 13 chiến sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng ở Yên Báy. Trong số 19 người cùng bị trục xuất về nước ngày 24-6-1930 trên tàu Athos II ở cảng Marseille có Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Tạo, Huỳnh Văn Phương, Hồ Văn Ngà, Lê Bá Cang, Phan Văn Chánh v.v…
Về đến Việt Nam, Tạ Thu Thâu đã cùng với những nhà cách mạng thuộc nhóm Đệ Tứ và Đệ Tam cho ra tờ báo Tranh Đấu (La Lutte) làm diễn đàn công khai chống thực dân Pháp. Trước khi xảy ra cuộc Cách mạng Mùa thu, ông đang tham dự công tác ở miền Bắc. Trên đường trở về Nam, khi đi ngang Quảng Ngãi ông đã bị bắt, ngày 18 tháng 8 năm 1945, bị giam ở đình Xuân Phổ và sau đó bị giết ở Cánh đồng Dương, bờ biển Mỹ Khê.
Tưởng cũng nên nhắc đến một sự kiện là vào thời buổi nầy hai nhân vật là Hoàng Quốc Việt, đại biểu Trung Ương và Cao Hồng Lãnh, đại biểu Tổng bộ Việt Minh cũng được ông Hồ Chí Minh gởi vào Nam để mang các chỉ thị của đảng. Các đại diện này lên đường ngày 27 tháng 8, 1945 khi được tin Trần Văn Giàu “cướp chánh quyền” ở miền Nam, trong khi Tạ Thu Thâu đã bị bắt ở Quảng Ngải. Phái đoàn được của Hoàng Quốc Việt được cấp tốc phải vào Nam để “thống nhất Đảng bộ Nam bộ” nên chỉ dừng chân ngắn ở HuếQuảng Ngãi, Nha Trang, Phan Thiết. Việc này chứng tỏ chắc chắn là họ biết rõ (hay để đưa chủ trương của Hà Nội?) về việc Tạ Thu Thâu bị giam cầm khi họ đến Quảng Ngãi (Xem:Từ Đất Tiền Giang, Hồi ký của Nguyễn Thị Thập, trang 281- 285, Nhà xuất bản Văn Nghệ, thành phố Hồ Chí Minh, 1986). Ông Thâu không bị giết ngay mà còn qua một phen xét xử. Vào lúc đó đường dây điện thoại liên lạc với Hà Nội vẫn còn. Hôm sau, khi ông Thâu chết, đã có ký giả hỏi ông Hồ Chí Minh ở Hà Nội về việc này thì ông có trả lời là địa phương đã “giết lầm một người ái quốc.”
Năm 1946, khi được nhà văn Daniel Guérin ở Paris gạn hỏi về cái chết của Tạ Thu Thâu, ông Hồ chí Minh cũng tuyên bố:
“Tạ thu Thâu là người yêu nước tầm cỡ lớn. Tôi khóc cái chết của ông.»
(Ce fut un grand patriote, nous le pleurons).
(Xem: Au Service Des Colonisés của Daniel Guérin, Éditions de Minuit, Paris)
Những ai đã từng biết rõ lề lối làm việc của các đảng viên Cộng sản ắt cũng biết là những quyết định hệ trọng bao giờ họ cũng phải tham khảo cấp trên. Như vậy quyết định thủ tiêu ông Tạ Thu Thâu không thể định đoạt do Từ Ty, một bí thư đảng và chủ tịch một vùng nhỏ như Tư Nghĩa. Chỉ thị quan trọng này chắc chắn phải do cấp xứ ủy Hoàng Quốc Việt hay do cấp cao hơn nữa ở Bắc bộ phủ chỉ thị cho Từ Ty! Năm 1989, ông Trần Văn Giàu có dịp qua thăm Paris. Nhiều nhà cách mạng và các sử gia có một buổi gặp gỡ ông Trần Văn Giàu để tìm hiểu về các diễn biến khi ông Giàu tổ chức dành chánh quyền ở Nam bộ. Khi được hỏi về cái chết của ông Thâu, thì Trần Văn Giàu cho biết việc đã xảy ra không phải thuộc địa phương ông phụ trách. Ông cũng cho biết Tạ Thu Thâu đã từng là ân nhân đã giúp phương tiện cho ông sang Pháp nên chắc chắn là ông không có làm việc đó. Cụ Trần Văn Ân năm nay trên 96 tuổi hiện ở Rennes (Pháp) vẫn thường hay nhắc là ngày trước Tạ Thu Thâu vẫn coi Giàu như em út, mỗi lần đi Toulouse đều kiếm sách vở hay, đem cho Giàu và nâng đỡ Giàu trên đường học vấn.
Khi ông Giàu sang Pháp vào tháng 10, năm 1989 cũng nhằm lúc có hơn 100 nhân sĩ nổi tiếng ở Pháp và thế giới về sử học, văn học, nhân quyền đã đồng ký tên trong một bản kêu gọi phục hồi danh dự cho các ông Tạ Thu Thâu, Trần Văn Thạch, Nguyễn Văn Số, Phan Văn Hùm, Phan Văn Chánh, Huỳnh Văn Phương. Ông Giàu có hứa là khi trở về Việt Nam ông sẽ “rửa tiếng cho Tạ Thu Thâu, nếu Đảng Cộng Sản Việt Nam không chịu rửa tiếng.”
Riêng khi hỏi về các vụ thủ tiêu các nhà cách mạng khác như Phan Văn Hùm, Trần Văn Thạch, Phan Văn Số... hay Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ ở Nam bộ là vùng ông Giàu trực tiếp trách nhiệm thì ông đã tỏ ra rất lúng túng (Việc họp này vào ngày 17-10-1989 đã được quay phim, thu băng và còn được lưu giữ). Việc thủ tiêu Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ, có thể quả quyết là ông Trần Văn Giàu không có phần trách nhiệm vì đã xảy ra vào ngày 16-04-1947, sau khi ông Giàu được gọi về Bắc và không được cho trở về Nam tiếp tục công tác. Việc nhúng tay vào tội ác giết giáo chủ Hòa Hảo đã được các nhân chứng nhìn nhận vai trò của Tự vệ Cuộc của ông Nguyễn Văn Trấn. Ông Huỳnh Phú Sổ lúc đó đang giữ chức vụ Ủy viên đặc biệt của Ủy ban Hành chánh Kháng chiến Nam bộ từ chiến khu miền Đông trở về miền Tây theo lời mời của Trần Văn Nguyên, Ủy viên Quân sự và Thanh tra Chánh trị miền Tây của Việt Minh. Đây là một sấp xếp để Trần Văn Nguyên và Bửu Vinh đưa ông Huỳnh Phú Sổ đến Đốc Vàng Hạ, thuộc thôn Tân Phú để ám hại. Đến tối, chính tám nhân viên thuộc Tự vệ cuộc đã tràn vào đâm bốn bảo vệ quân của Đức Thầy. Một người, là Phan Văn Tỷ đã né tránh được, thoát ra ngoài và bắn tiểu liên để báo động (Xem “Phật Giáo Hòa Hảo” của Nguyễn Long Thành Nam, trang 432).
Những bí ẩn về các sự kiện lịch sử kể trên chưa từng được những người trực tiếp can dự nêu ra ánh sáng mặc dầu đã xảy ra cách đây gần 50 năm. Ông Nguyễn Văn Trấn có đề cập đến một vài sử liệu nhưng các việc này phần nhiều liên can đến các việc xảy ra ở Hà Nội. Những chuyện ở miền Nam thường chỉ được ông nói phớt qua. Những nhân vật am tường về các sự việc xảy ra trong những năm tháng đầu của cuộc kháng chiến nay đã lần lượt ra đi kể từ Dương Bạch Mai, Hoàng Quốc Việt, đến Nguyễn Văn Trấn v.v… Nay chỉ còn Trần Văn Giàu, Hà Huy Giáp... là những nhân chúng cuối cùng, mà lại là nhân chứng biết rất nhiều sử liệu. Ông Giàu lại cũng là người được các giới trí thức trẻ hiện nay biết đến nhiều như một sử gia. Với tư cách sử gia chắc ông Giàu hẳn biết là các việc gọi là bí mật lịch sử, sớm muộn gì cũng sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Chẳng hạn chuyện xảy ra vào thời nội chiến Tây Ban Nha (1936-1939) liên can đến cái chết của của Andres Nin, lãnh tụ của đảng POUM (Parti Ouvrier d'unification Marxiste).
Andres Nin nguyên là Bộ trưởng Tư pháp của Cộng Hòa Catalogne và có quen biết nhiều với Trostky. Nhóm phóng viên đài truyền hình TV-3 Catalane đã tìm được trong kho tài liệu của Mật vụ NKVD (tiền thân của KGB), là nhân viên Alexandrov Orlov được chỉ thị từ Stalin phải cùng với hai đảng viên cộng sản Tây Ban Nha tìm cơ hội bắt cóc, tra tấn và ám sát Nin (Xem: báo Le Monde, ngày 12 -11-1992). Việc này đã xảy ra ba năm trước khi Trostky cũng bị Mật vụ Stalin ám sát ở Mễ Tây Cơ.
Một ngày nào đó, biết đâu các giới sử gia VN lại cũng sẽ có dịp khảo cứu kho tài liệu lưu trữ của Mật vụ KBG ở Nga và sẽ phát giác được các tài liệu liên quan về Việt Nam trong thời điểm sau cách mạng 1945. Kinh nghiệm đã cho biết là các đảng cộng sản chư hầu Nga, làm việc gì theo chỉ thị của Stalin, đều phải có các báo cáo chi tiết.
Ông Trần Văn Giàu đã có hứa lúc ông thăm viếng Paris mùa hè năm 1989, là ông sẽ tìm cách phục hồi danh dự cho Tạ Thu Thâu. Ở Paris, năm 1946, trong cuộc hội kiến với nhà văn Daniel Guérin là bạn cũ của Tạ Thu Thâu, ông Hồ Chí Minh đã nhìn nhận rằng ông Thâu là một người yêu nước đã bị giết nhầm. Như vậy việc phục hồi danh dự cho ông Thâu là một việc có thể làm được nhưng cho tới nay việc ấy chưa thấy được thực hiện. Nhiều anh em trong giới từng tranh đấu trong quá khứ đã không coi việc này là quan trọng. Họ còn tỏ ra bất bình khi nghe đề cập đến việc này. Họ thường nói: “Những người từng vấy máu anh em cách mạng không có tư cách gì để nói đến chuyện phục hồi danh dự.”
Riêng trường hợp ông Tạ Thu Thâu, người viết bài này vẫn còn mong ông Trần Văn Giàu còn có thể làm việc ấy vì tin rằng ông Giàu không trực tiếp nhúng tay làm việc đó. Khi còn là sinh viên ở Pháp vào khoảng 1950, người viết bài có biết một phụ nữ đảng viên Cộng sản, chủ một quán ăn ở số 6, đường Jules Chalande, gần Place du Capitole và Đại học Luật khoa ở Toulouse, miền Nam nước Pháp. Bà đã biết hầu hết các nhà cách mạng Việt Nam từng du học hoặc thường ghé qua Toulouse như Trần Văn Thạch, Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Trần Văn Giàu v.v... Quán ăn của bà tên “Le Coq Hardi” (Quán này nay vẫn còn, nhưng đã đổi chủ) và sinh viên chúng tôi dịch đùa là quán “Con gà trống dạn dĩ.” Khi chúng tôi cho bà hay là Trần Văn Giàu về Việt Nam đã thủ tiêu Tạ Thu Thâu, bà chủ quán này đã thốt lên:
“Chắc là chuyện không thể xảy ra, Thâu coi Giàu như em út của y.”
(C'est impossible, Thâu l'aimait comme son petit frère ) .
Nhưng còn các sự việc xảy ra ở miền Nam là vùng trách nhiệm của ông Trần Văn Giàu? Rất nhiều người đã chờ đợi nhưng chưa bao giờ được nghe ông thố lộ hay tiếc thương một việc gì cả. Năm 1977, nhân dịp kỷ niệm tù nhân ở Côn Đảo, ông Lê Duẩn đã đọc diễn văn: “Kính chào các chiến sĩ cộng sản, quốc gia và Trốt kýt, đã bỏ mình hoặc bị giam cầm ở nơi này” (Theo thơ của sử gia Pháp, Daniel Hémery, trả lời nhà ngôn ngữ học danh tiếng Mỹ, Noam Chomsky, ngày 05, tháng 5,năm 1978, đăng trên tạp chí Critique Communiste số 18 và 19, xuất bản tại Paris ). Ông Giàu là người dạy sử chưa hề thấy phát biểu một câu tương tự để ít nhất phục hồi danh dự một phần nào cho các chiến sĩ quốc gia hay Trốt kýt đã bị Đảng ông vu cáo và giết hại!
Hay là ông vẫn chủ trương theo đường lối Đảng là vẫn giấu giếm trách nhiệm và các lỗi lầm, không nhìn nhận là đã chưa làm việc gì sai trái hoặc cứ im hơi lặng tiếng để thời gian xóa dần các dĩ vãng. Kinh nghiệm lịch sử thế giới đã chứng minh trái lại chủ trương sai lầm trên. Sớm muộn gì thì nhân dân Việt Nam cũng sẽ nhìn thấy sự thật, buộc Đảng Cộng sản Việt Nam phải công nhận trách nhiệm mà họ đang còn lẩn tránh.
Khi chiếm được miền Nam, theo chỉ thị Đảng các tên đường như Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Văn Ngà, Trần Văn Thạch... đã được đổi thành tên khác. Sự nhỏ nhen của đảng viên Cộng sản VN đối với những người đã chết còn được chứng minh trong trường hợp thi sĩ nổi tiếng Bích Khê (Lê Quang Lương) mất năm 1946 vì bịnh. Dân chúng Quảng Ngãi đã vinh danh ông và đặt tên Bích Khê cho con đường dẫn từ bến xe đò ra khỏi thành phố về hướng Đông, nhưng đường này chưa hề được nhà cầm quyền hiện tại chấp nhận chánh thức. Năm 1991, gia đình thi sĩ Bích Khê xin dời mộ ông từ một bãi đất hoang về làng ở Thu xà (Tư Nghĩa) nhưng chánh quyền không chấp thuận với lý do là Bích Khê đã mất vì bịnh lao, xương cốt sẽ làm ô nhiễm đất làng (46 năm sau khi chết!), và vì ông là một người trốt kít!
Nhưng xin đoan chắc với nhà cầm quyền hiện tại, trong tương lai, ít lắm cũng sẽ được thấy những bảng ghi di tích lịch sử các tên đường với lời giải thích: “Đây là đường Tạ Thu Thâu, người đã phát hành báo Tranh Đấu, đây là đường Phan Văn Hùm trước ga Sài Gòn cũ, kỷ niệm người đã từng ngồi tù cùng Nguyễn An Ninh vì vụ án ở ga Bến Lức v.v...”
Ông Trần Văn Giàu, người đã được biết tiếng ngày trước, vào dịp những ngày đầu chiếm chánh quyền ở Nam bộ, nhưng khi ra Bắc đã bị gạt ra khỏi các cơ quan quyền lực, không cho trở lại hoạt động ở Nam bộ, sau được cho dạy ở trường Đảng và nay đã được giới trí thức trẻ coi như một sử gia, đúng ra chỉ nên được coi như một nhà dạy sử riêng của Đảng.
Ngày nào mà ông còn im hơi lặng tiếng theo chỉ thị Đảng về sự thực của các dữ kiện đã xảy ra ở Nam bộ sau ngày ông ra mắt nắm chánh quyền trên bao lơn Tòa Đô Sảnh Sài Gòn ngày 25 tháng 8 năm 1945, thì cho đến ngày đó, ông vẫn không được coi là một sử gia, đúng với ý nghĩa cao quý và trang trọng của danh từ.
B.S. Trần Nguơn Phiêu
1. Truyện kể về Hoa Đà và Đổng Trác
Một hôm, Đổng Công đến gặp Hoa Đà tiên sinh và nói: "Ta cần ngươi tư vấn về sức khỏe cho ta."
Hoa Đà: "No prob, Sir!"
Đổng Trác:
"Chắc ngươi đã biết, ta có một con Bồ là Điêu Thuyền xinh đẹp nổi tiếng trong thiên hạ. Một lần ta đi săn về thì thấy Bồcủa ta đang nằm cùng Bố của ta (ý nói "Lã Bố của ta"). Ta giận quá định rút gươm chém chết cả 2 đứa nó nhưng vì Điêu Thuyền quá xinh đẹp nên ta không nỡ xuống tay. Cuối cùng 3 người ngồi uống trà nói chuyện rồi ta bỏ qua."
Hoa Đà: "......."

Đổng Trác: "Lần 2 ta đi bàn việc quân về lại thấy Bồ nằm vớiBố . Ta định giết nhưng vì Bồ quá đẹp nên ta không nỡ . Rồi 3 ta lại ngồi uống trà và ta lại bỏ qua."
Hoa Đà: "....................."
Đổng Trác: "Lần 3 ta đi họp về lại gặp Bồ nhưng lần này Bồnằm với Trương Liêu . Ta định giết nhưng Bồ quá đẹp nên lại uống trà nói chuyện rồi bỏ qua."
Hoa Đà: "......................................"
Đổng Trác: "Lần thứ 4, lần thứ 5, Bồ nằm với Lý, Quáchnhưng vì Bồ đẹp quá ... nên lại uống trà nói chuyện với Lý, Quách rồi bỏ qua."
Hoa Đà hết nhịn nổi bèn hỏi: "Vậy rút cuộc ông cần hỏi tôi cái giống gì ????"
Đổng Trác: "À, là ta muốn hỏi như ri: ở tuổi của ta mà uống nhiều trà thế có bị làm sao không?"
Hoa Đà: !?
Lạy trời cho một cơn mưa
Và cho một mái hiên vừa đủ che
Mình tôi chiếm một vỉa hè
Người con gái ấy sắp về ngang đây
(Nguyễn Nhật Ánh)

Tình anh lẽo đẽo theo em mãi
Đến một chiều kia bỗng ngập ngừng
Thiên hạ kháo nhau nơi phố ấy
Một người đang cưới một người dưng
(Nguyễn Nhật Ánh)


Người yêu dấu
Anh không muốn em là tiên nữ
Chán Bồng Lai lạc bước xuống trần gian
Dù có thể anh sẽ là hoàng tử
Gặp được tiên trong một chốn non ngàn

Anh không muốn em là công chúa
Dù đẹp kiêu sa lộng lẫy nghiêng trời
Công chúc ngự trong khu vườn cổ tích
Rực sắc màu huyền thọai
hóa xa xôi...

Anh chỉ muốn em mãi là như thế
Tóc mây huyền tha thướt ấm lòng anh
Bình dị một câu chuyện đời rất thật
Tay trong tay
xây hạnh phúc ngọt lành!

2. Lại nói về Tháo (Tào Tháo) …
Một hôm Hứa Chử đi qua doanh trại thấy Tháo đang ngồi buồn bực cạnh 3 vò rượu.
Chử bèn hỏi: “Có việc gì mà chủ tướng buồn vậy, lại trượt lô à ??”
Tháo tu ực 1 hơi hết 1 vò rượu rồi nói: “Ta vừa phát hiện 1 tin động trời: thằng Tào Thực con ta là Gay …”
Hứa Chử gần xỉu hét lên: Hết hồn chim én! ...
Tháo
vác vò thứ 2 uống 1 hơi rồi nói tiếp: “Ta còn phát hiện thêm 1 tin kinh dị nữa là thằng Tào Chương cũng là Gay nốt!”
Hứa Chử: “i don’t believe in my “tai” ....”
Tháo vác vò thứ 3 lên tu nốt rồi lại nói : “1 tin vãi hàng nữa là thằng Tào Phi cũng là Gay luôn ......................”
Hứa Chử không bình tĩnh nổi gào lên: “Trời ơi thế nhà Tào đại nhân không có ai thích đàn bà cả sao ?????????”
Tháo chậm rãi trả lời : Có chứ, Vợ ta ...
Hứa Chử: (pó khẩu) !?
Con Cọp Trong Y KhoaTrong 12 con giáp chỉ có Con Cọp là dũng mãnh hơn hết, chẳng những tướng Cọp oai hùng, sức khoẻ Cọp vô địch, thân hình Cọp lại còn vằn vện sọc vàng sọc đen trông đẹp đẽ vô cùng. Vậy mà Cọp chỉ đứng hạng 3 trong 12 con giáp, thua hẳn con Chuột nhắt bé tí teo. Từ ngàn năm nay đã biết bao người bỏ công bỏ sức, dành ra bao nhiêu tháng ngày, dày công nghiên cứu để tìm ra điều bí ẩn này, nhưng mà cho đến nay vẫn chưa có câu trả lời thích đáng.

Tuy nhiên nếu nhìn dưới khía cạnh y khoa, nhất là y học Đông Phương ngày xưa đặt nặng vấn đề sinh lý để truyền giống, làm sao sanh con đẻ cái cho được đầy nhà, hầu nối dõi tông đường về sau (để ngày nay thế hệ cháu chắt như chúng ta còn có mặt ngồi đây vừa tán dóc, vừa đọc bài báo này, vừa bàn chuyện Cọp) ; thì trong tình dục học Con Cọp quả thật thua xa con Chuột, điều này có thể cắt nghĩa tại sao ông bà mình chỉ xếp chúa sơn lâm vào hạng thứ 3. Xin quí vị thong thả đọc tiếp phần dưới đây, chúng tôi sẽ lần lượt mổ xẻ vấn đề này.

Nhưng trước hết, theo thông lệ hàng năm, hễ Tết năm con gì thì chúng tôi viết bài về những bệnh tật liên quan giữa con vật ấy với con người. Thí dụ như năm Con Chuột thì có bệnh dịch hạch (Bubonic Plague, peste bubonique), năm Con Chó thì có bệnh chó dại (Rabies, rage), năm Con Heo thì có bệnh heo gạo (Tinea saginata, ver solitaire), năm Con Gà thì có bệnh ... mồng gà (Genital warts, crêtes de coq) ... Đến năm Con Cọp thì quả thật là khó khăn, biết tìm đâu ra bệnh liên quan giữa Cọp và người ? Bởi lẽ giản dị là nếu bạn tình cờ đến gần Con Cọp, trước khi có đủ thời gian để nó lây bệnh cho bạn, hay bạn lây bệnh cho nó, thì nó đã ... thịt bạn rồi. Tuy nhiên không phải vì vậy mà chúng tôi không có gì để quí vị giải trí trong những ngày Xuân. Này nhé, bạn có nghe đến món Cao Hổ Cốt trị đau nhức gân, xương. Bạn có nghe đến món Râu Cọp trị bịnh nhức răng ? Và nhất là món cháo dương vật Cọp để trị bịnh liệt dương không ?

Món Cao Hổ Cốt

Cao Hổ Cốt là một môn thuốc có từ xa xưa trong đông y, các thầy Thuốc Bắc đều biết đến. Người ta lấy xương Cọp nấu với các vị thuốc như : Ngư tất, Đỗ trọng, Xuyên mộc quả, Xuân căn đặng ... Thường thì công việc nấu nướng rất công phu, như lửa phải giữ riu riu, không được nóng quá, không được nguội quá, cứ canh như vậy liên tục trong suốt một tuần lễ. Mùi hôi thúi của xương Cọp quyện với mùi Thuốc Bắc thơm thơm bay ngào ngạt cả cây số ; nơi nào nấu Cao Hổ Cốt là cả xóm làng đều bịt mũi tránh xa. Nấu xong rồi người ta đổ chất lỏng này vào trong những khuôn to nhỏ khác nhau để cho Cao Hổ Cốt đông lại thành một chất màu nâu đen, nửa dẻo nửa cứng như lốp vỏ xe, chừng vài ngày sau, người ta sẽ cắt nhỏ thành những cục vuông vuông khoảng 2 cm x 4 cm x 4 cm để đem ra bán tại các tiệm Thuốc Bắc.

Người bệnh mua Cao về ngâm rượu đế, hoặc chưng với các vị Thuốc Bắc khác cho tan ra mà uống. Cao Hổ Cốt dùng để trị bịnh đau nhức khớp xương, đau lưng, trật gân. Ngày nay Cọp gần bị tuyệt chủng, cho nên khắp nơi trên thế giới, Cọp được bảo vệ tuyệt đối, cấm săn bắt Cọp, cho nên món Cao Hổ Cốt cũng không còn, hay có bán cũng thường là đồ giả, thay vì nấu bằng xương Cọp, biết đâu bạn lại mua nhằm xương ... Mèo ? May mắn thay, hiện nay cả thuốc Tây lẫn Thuốc Bắc đã có những dược liệu để điều trị các thứ bịnh kể trên còn hay hơn Cao Hổ Cốt rất nhiều. Như thuốc tây thì có : Brufen, Dolobid, Feldene, Indocid, Naprosyn, Orudis, Voltaren, Celebrex, Mobic ... tuỳ theo từng loại đau nhức mà bác sĩ sẽ hướng dẫn bạn dùng thứ thuốc gì, chắc chắn là dù có Cao Hổ Cốt thứ thiệt đi nữa cũng không công hiệu bằng.

Món Râu Cọp

Khi xưa người ta đem nướng râu Cọp rồi nhét vào chỗ sâu răng để trị bịnh nhức răng. Không biết có hết nhức răng thật không, tuy nhiên tôi đề nghị là bạn nên tìm đến nha-sĩ, hy vọng bạn có thể sống lâu hơn một chút, chớ đừng có mon men đến gần ... nhổ râu Cọp, sợ tuổi thọ của bạn không được dài. Còn nếu bị nhức răng vì nhiễm trùng lợi, hay chân răng (Gingivitis) thì phải gặp bác sĩ, có khi phải cần uống trụ sinh thích hợp vài ngày mới hết bịnh.

Món “Cháo Dương Vật Cọp”

Tiếng Quảng Đông gọi là Phủ Pín Tành Liễu. Món cháo Cu Cọp này chỉ có ở Đài Loan, Hồng Kông, Quảng Châu. Người ta không bán trong các nhà hàng lớn, mà chỉ có ở các quán nhậu nhỏ nằm trong khu thịt rừng. Khi màn đêm buông xuống, khu phố chật chội, ồn ào này rực rỡ dưới muôn vạn ánh đèn, tiếng nói cười, la hét hoà lẫn với tiếng phổ ky gọi vọng vô nhà bếp đặt hàng, ai nấy cũng bận rộn, lăng xăng, đứng xa trông vào như một tổ ong mật lúc nha lúc nhúc, trong mùa cao điểm lấy mật về. Tiếng chén đũa va chạm nhau kêu lẻng kẻng, thực khách đang say sưa thưởng thức những món sơn hào hải vị của vùng này. Bạn hãy để ý nhìn ra cái bàn vuông nhỏ cạnh cửa ra vào sẽ thấy hai ba cái đầu tóc đen bù xù, mặt mũi thì hốc hác, xanh xao, đang cúi xuống xì xụp húp thố (cái thố nhỏ hơn cái chén một chút) cháo Cu Cọp còn bốc hơi nóng bay lên nghi ngút. Ngoài kia trời mùa thu, gió heo may lành lạnh thổi, trong này hơi nóng từ muỗng cháo Cu Cọp, có mùi tanh tanh, mằn mặn, lẫn với vài vị Thuốc Bắc đăng đắng, chạy theo thực quản, mang theo hơi nóng ấm dần xuống đến bao tử, làm thực khách cảm thấy khoan khoái, liếm môi nở nụ cười hân hoan nửa mừng rỡ, nửa cảm thấy tội lỗi ... mừng rỡ là vì trong chốc nữa đây hy vọng chứng bệnh liệt dương của mình sẽ nhờ thố cháo này mà hồi phục, còn cảm thấy tội lỗi là vì bởi sự yếu đuối của mình mà đành phải thịt cái ... của quí của chúa sơn lâm.Món cháo Cu Cọp này nấu như thế nào ? Công dụng trị liệu của nó ra sao ? Xin quí vị hãy đọc tiếp.

Nhưng trước hết phải nói sơ qua về Con Cọp. Cọp chỉ còn sống ở 2 vùng trên thế giới : ở Á Châu và Siberia. Cọp Đực ở Á Châu nặng từ 180 kí lô đến 258 kí lô, Cọp vùng Siberia nặng đến 306 kí lô, vậy mà của quí của nó chỉ nặng khoảng 0,2 đến 0,3 kí lô ; có nghĩa là cái phần lòng thòng, nhỏ nhít này chỉ là một cơ quan không có lấy gì làm quan trọng đối với Cọp, kể về trọng lượng, lẫn cả công dụng. Vì ít khi được Cọp xài đến, bởi vậy cho nên sức nặng của nó mới không có gì đáng kể so với trọng lượng của thân mình Cọp. Sau khi thẻo được cái của quí này các tay buôn Cu Cọp mừng quýnh vội vã đem về bán lại cho các nhà hàng với giá khoảng 5 ngàn USD một củ. Tại đây đầu bếp chuyên nghiệp sẽ cẩn thận lột da cạo lông cho thật sạch, rửa cho hết mùi khai nồng nặc cả mấy chục năm trời không tắm rửa của chúa sơn lâm, xong rồi nhúng vào nồi nước đang sôi sùng sục, cho cái phần lủng lẳng này co cứng lại ; rồi lấy ra cắt thành từng cục nho nhỏ, bỏ hết vào nồi hầm với Thuốc Bắc gồm có các vị thuốc : Cẩu Kỹ, Hoài Sơn, Đản Sâm, Bá Kích Thiên, Đỗ Trọng ... Đến ngày hôm sau, họ đổ chung vào nấu với một nồi cháo to tướng chia ra chừng 300 thố ; mỗi thố bán ra 20 USD. Có người ăn một thố ; có người xơi một lượt 2, 3 thố, có người ráng trợn trắng nuốt luôn cả 5 thố. Vậy mà đến khi hữu sự thì vẫn ... ỉu xìu. Có người thắc mắc bèn hỏi : Tại sao ?

Theo nguyên lý cơ bản của y học Đông Phương thì : ăn gì bổ nấy. Nếu yếu gan thì ăn gan, nếu yếu thận thì ăn thận, nếu yếu tim thì ăn tim, muốn bổ óc thì ăn óc, còn yếu chim thì ăn ... chim. Y học tây phương hầu như cũng công nhận điều này, chẳng hạn như ta có thuốc bổ gan làm bằng tinh chất trích từ gan ... Với khái niệm tổng quát, đơn giản trong việc trị liệu như vậy trong đầu, và với nhận thức rằng đâu có con vật nào mạnh khoẻ bằng Con Cọp, nên người ta lý luận rằng nếu đớp được của quí của Con Cọp thì người ta sẽ mạnh như Cọp trong ... chốn phòng the. Nhưng thử hỏi mấy ai đã biết được chuyện phòng the của Cọp ? Bởi vậy nên có ăn cả nồi cháo Cu Cọp thì cũng vẫn không có công hiệu gì ?

Muốn biết chuyện phòng the của Cọp, ta phải tìm hiểu về đời sống hàng ngày của Con Cọp, để có dịp rình rập coi Cọp chuyện ấy của chúa sơn lâm. Ngày nay nhờ sự tiến bộ vượt bực của khoa học kỹ thuật nên sự nghiên cứu này không còn khó khăn, người ta đã bắn những mũi thuốc mê làm cho Cọp ngủ im, để các nhà nghiên cứu đến kề bên Cọp khám nghiệm, lấy mẫu máu, sau đó đeo vào cổ Cọp một cái vòng có gắn radio để Cọp đi đến đâu thì họ có thể theo dõi đến đấy, kể cả đặt những máy quay phim tự động trong chốn phòng the của Cọp, hay dùng những ống kính tầm xa (Tele lens) theo dõi. Nhờ vậy mà ta đã biết rất nhiều về Cọp.

Cọp là con vật thích sống lẻ loi một mình. Mỗi một Con Cọp thống lĩnh một giang san rộng lớn, ranh giới post code của nó được đánh dấu bởi nước tiểu nồng nặc của Cọp (Cọp cũng tiểu vào các gốc cây như chó). Trong những Con Cọp mà người ta đã gắn radio theo dõi thì lãnh thổ của mỗi con đo được từ 65 đến 647 KM2. Nếu có một Con Cọp nào khác xâm nhập vào giang sơn của nó thì cuộc chiến sẽ bùng nổ rất khốc liệt, đẫm máu, có khi phải tử vong, vì vậy Cọp thường chỉ ở trong lãnh thổ mình suốt cả đời. Đời sống của Cọp kéo dài khoảng 20 năm, Cọp Đực tiếng Anh gọi là Tiger, Cọp Cái là Tigress, Cọp Con là Cub. Cọp Cái mang bầu chừng 100 ngày thì đẻ, mỗi lứa từ 1 đến 6 con, thường thì chỉ có từ 2 đến 3 con. Khi mới sanh ra thì Cọp Con yếu ớt chưa mở mắt và không có răng (dễ thương y như mèo con). Chỉ có phân nửa số Cọp Con sanh ra là có hy vọng sống được đến một tuổi, phần lớn đều chết vì bệnh tật, đói, lạnh ; ngay cả bị mấy con thú nhỏ khác ăn thịt. Khi được một tuổi thì Cọp bắt đầu theo mẹ tập đi săn ; đến khoảng 18 tháng thì Cọp có thể tự kiếm ăn một mình được và khi đó là lúc Cọp Con bị mẹ đuổi đi. Tôi được dịp xem một đoạn phim quay về cảnh biệt ly này trông thật não lòng : Cọp mẹ ngồi trên mỏm đá cao gầm gừ từng tiếng ... à ... ùm ... à..ùm ,.. à ... ùm, khuấy động cái tĩnh mịch của rừng già lúc hoàng hôn, như các bà mẹ quê hiền lành nức nở tiễn con lên đường tòng quân. Nhưng bà mẹ Cọp thì không rơi lệ, bà tuy đau lòng nhưng rất hãnh diện nhìn đứa con khoẻ mạnh, oai hùng đang khuất dần trong lùm cây ngọn cỏ, dưới ánh tà dương. Nhìn bóng con nhỏ dần mà Cọp mẹ nghe như đâu đây có bản nhạc xưa vọng về ... Rồi con lớn khôn, hai mươi tuổi đời như mẹ ngày nay ... Phải, như mẹ ngày nay, con sẽ là chúa sơn lâm ngự trị cả một khu rừng già ở một vùng xa xôi nào đó, con sẽ tiếp nối truyền thống oai hùng của loài Cọp, chỉ một thân đơn độc, vượt biên đi chinh phục khắp rừng xanh, chỉ một mình con thôi đủ làm rạng danh cho dòng giống ... Cọp. Còn chú Cọp Con thì bịn rịn, cất những bước chân chậm rãi nặng nề, đầu hơi cúi xuống nhìn những cành cây khô giòn gãy răng rắc dưới bước chân mình mà nghe như tiếng nức nở vang lên tận đáy lòng. Thỉnh thoảng chú quay lại nhìn mẹ, nhìn quanh khu rừng kỷ niệm một lần cuối, rồi lại thêm một lần cuối nữa ... Hình bóng Cọp mẹ thân yêu đang nhạt nhoà trong ánh nắng chiều buồn, người mẹ thân yêu nuôi dưỡng, đùm bọc chú đến ngày khôn lớn hôm nay ; khu rừng quen thuộc có nhiều cây cao và bóng mát mà chú chơi giỡn hàng ngày, chốc nữa đây chỉ còn là dĩ vãng, cả đời chú sẽ không bao giờ còn được gặp lại. Chú buồn như cảm giác của những người tỵ nạn Boat People, lúc vượt biên, đứng trên be thuyền rẽ sóng lướt ra biển đen, khi mặt trời đang từ từ tắt nắng, nhìn lại quê hương đang nhỏ dần, mờ dần, tối dần, quê hương thương yêu ấy sẽ vĩnh viễn rời xa, sẽ không bao giờ mình còn có dịp quay trở lại, chú thấy như đứt từng khúc ruột. Ôi ! cảnh biệt ly nào mà không khỏi não lòng ... Biệt ly, ai khéo gieo chi lên bao mái đầu xanh ... Nhưng chú ý thức rằng mình đang mang nặng trên vai hành trang là sự hãnh diện của giống nòi, chú phải tiếp tục cái sứ mạng thiêng liêng của ông cha đó, không nên để những tình cảm yếu đuối làm chùn bước chân ... Ánh nắng hoàng hôn chỉ còn lại là những tia sáng yếu ớt sau cùng, một vài tiếng chim hót cuối ngày từ cánh rừng xa vọng lại, cây rừng xào xạc run theo hướng gió chiều, mang theo tiếng ... à ...ùm ... à ... ùm ... à ... ùm, văng vẳng bên tai, như tiếng trống vang lừng, thúc giục, tiễn quan với quân lên đường ... của thuở xa xưa nào đó, khuyến khích chú mạnh dạn bước về đàng trước.

Thông thường thì Cọp biết được người bạn láng giềng mình là ai, và thường thì bạn láng giềng của Cọp Đực là cô Cọp Cái. Cọp Cái trưởng thành lúc 3 tuổi rưỡi đến 4 tuổi. Trong chuyện gối chăn, Cọp Cái luôn luôn là người chủ động, chỉ khi nào Cọp Cái gầm lên ... lời yêu đương mời gọi, thì Cọp Đực mới dám lại gần để tính chuyện mây mưa. Nhưng đối với Cọp chuyện ái ân không xảy ra dễ dàng như những loài khác, mà phải qua nhiều cuộc thử thách cam go. Khoảng hai năm Cọp Cái mới thốt lên tiếng gọi ... mình ơi ! ! ! mình ơi ! ! ! mình ơi ! ! ! ( ... à ... ùm ... à ... ùm ... à ... ùm ) một lần. Nghĩa là sau khi đã tiễn chú Cọp Con ra đi chừng một thời gian ngắn, khi nhìn quanh rừng sâu thăm thẳm, nàng thấy chỉ còn lại là sự quạnh hiu, lẻ loi của người thiếu phụ trẻ đẹp, cô đơn một bóng giữa rừng già ; lòng nàng chợt dâng lên nỗi buồn cho số kiếp không may làm ... Cọp. Làm thân Con Cọp vì bị mang tiếng hung dữ nên suốt đời phải chịu cảnh đơn côi (có nhiều cô sanh nhằm tuổi Con Cọp nên cũng dễ bị ... cô đơn, lẻ bóng. Âu cũng là số trời !). Tuy nhiên, nếu biết tìm đến bác sĩ thẩm mỹ để sửa đôi mắt Cọp lại thành đôi mắt nai Bambi của cô công chúa Bạch Tuyết, rồi gặp mấy chú nai tơ khác thì cứ chớp lia, chớp lịa, thì có hy vọng cải được số trời ! Có khi khát nước, nàng rảo bước chân nhẹ nhàng đi xuống bên dòng suối mơ, khi đến gần, nàng nghe tiếng nước róc rách vang lên những lời than thở chảy qua những gành đá đóng đầy rong rêu từ vạn cổ, pha lẫn tiếng gió rừng buồn bã lồng lộng giữa trời đêm, lá cây rừng xào xạc như tiếng thở dài não nuột tận đáy lòng Cọp. Nàng thấy ghen tương với các cô sơn nữ sống trong các bản ven rừng, thường làm bộ ra bờ suối tắm dưới ánh trăng, thực sự là chỉ để hò hẹn, chơi giỡn với tình nhân ; còn nàng thì lúc nào cũng xuống suối côi cút một bóng, một mình, chỉ có vầng trăng lẻ loi trên cao với rừng đêm âm u lạnh lẽo, dệt thành những lời thơ buồn tha thiết ... như cõi lòng cô phụ của nàng. Sau khi uống vội vài ngụm nước ngọt ngào, mát lạnh, nhìn bóng mình với bóng trăng đang tan vỡ trong lòng suối, vỡ tan nhanh như kiếp phù du của cuộc đời, có đó rồi mất đó như ánh sao băng trong cõi tạm bợ này. Nàng thừ người ra nghĩ ngợi, tư lự : Hay là để bù đắp lại nỗi đơn côi một mình trong rừng vắng, thì chi bằng ta đẻ thêm một vài thằng cu tí cho vui vẻ với rừng khuya ... Chỉ khi đó thì Cọp Cái mới nghỉ đến chuyện ái ân, và chỉ khi đó Cọp Đực mới dám đến gần. Tuy là chúa sơn lâm, nhưng Cọp Đực không dám sàm sỡ, nhảy vô làm càn, vì sức khoẻ của nữ chúa sơn lâm cũng không kém chàng là bao. Cọp Đực phải đi vòng quanh, ve vãn, gầm gừ cố dùng cái cổ họng khàn khàn như vịt thốt ra những lời đường mật yêu thương ... có khi mất đến cả ngày. Cọp Cái cứ nằm im như một thục nữ diệu hiền, lim dim đôi mắt dưới làn mi cong vút quan sát, nếu thấy chàng quả thật là trai anh hùng, là đấng trượng phu, thì nàng ra dấu cho chàng ... leo lên. Nhưng đừng có tưởng bở, thình lình nàng sẽ gầm lên, quay ngược lại dơ cao bàn tay ngà ngọc ... đầy móng vuốt nhọn liễu, bén như dao tát thẳng vào mặt chàng, có lẽ để thử xem võ nghệ chàng đến đâu ? có đáng để cho em trao thân ... Cọp không ? Phần lớn Cọp Đực đều có kinh nghiệm nên đã phòng thủ sẵn, vội vàng phóng chạy ra xa, vì nếu để bàn tay dịu hiền của người đẹp nựng vào má thì nếu không mù mắt thì cũng mang thẹo suốt đời. Đôi khi cũng có một vài Con Cọp Đực chậm chân, hay vì thiếu kinh nghiệm, lãnh đủ cái tát trời giáng vào mặt, vêu cả má, ê cả hai hàm răng. Tuy nhiên dù là một mãnh tướng dữ dằn, dù là bị tát trúng đau thấu trời xanh, chàng cũng không quên lối nịnh đầm : không bao giờ đánh lại người đẹp, dù chỉ đánh bằng một đoá hoa hồng. Cứ thử thách như vậy năm lần bảy lượt cuối cùng nàng mới chịu trao thân.

Không khó khăn làm sao được ! Vì nàng biết chắc rằng sau phút giây ân ái ngắn ngủi đó chàng sẽ quất ngựa truy phong, bặt tăm bặt tích như bao nhiêu thằng đàng ông sở khanh, khốn nạn trước đây, không bao giờ quay trở lại, không bao giờ nghĩ đến bổn phận làm cha, đến trách nhiệm nuôi nấng con thơ ; bỏ mặc cho nàng ôm bụng bầu thui thủi suốt ba tháng trời, giữa chốn rừng xanh, không ai bên cạnh chăm sóc, chẳng ai tiếc lời hỏi han ; đến chừng nở nhuỵ khai hoa thì chao ôi ! ! ! nàng sẽ là một ... single mum ... Cọp, lang thang suốt ngày nuôi mấy đứa nhóc tì thêm 18 tháng trời.

Qua những cuộc quan sát, theo dõi, người ta nhận thấy đời sống phòng the của Cọp nghèo nàn, ỉu xìu, không có liên quan gì đến tướng mạo oai nghi, lẫm liệt bên ngoài của chúa sơn lâm. May mắn lắm thì phải 1, 2 năm chàng mới có dịp sử dụng võ khí có một lần ; thời gian mây mưa thật sự thì chẳng kéo dài được bao lâu, mà lòng thì lúc nào cũng hồi hộp, lo sợ, chân cẳng thì cứ sẵn sàng nhảy xa tránh né, kẻo cái bàn tay lông lá của nàng với móng vuốt nhọn liễu, tát vào mặt thì ân hận suốt đời. Ngày thường Cọp Đực cũng đâu có dám đến gần ve vãn Cọp Cái, nhất là những lúc nàng đang mang bầu, tính tình quạu quọ, nóng nảy, hay bận bịu nuôi con. Khi nhìn lũ trẻ thơ vô tội ... không cha, quấy phá bên cạnh mà lòng nàng không ngớt oán hận phường sở khanh bội bạc, chỉ lén giở trò ong bướm, rồi trốn tránh bổn phận làm cha, do đó nàng sẽ dữ ... hơn Cọp nếu không may cho tên đực rựa nào dám bén mảng đến gần giở lời ghẹo nguyệt trêu hoa. Bởi vậy trong lúc này không có Con Cọp Đực nào mò tới, vì nàng sẽ sẵn sàng trừng trị thẳng tay lũ đàn ông sở khanh khốn nạn, mà nàng nghĩ tất cả đều là ... cá mè một lứa như nhau.

So sánh với Chuột, Cọp quả thật thua xa trong việc truyền giống, vì Cọp phải đợi đến 3, 4 tuổi mới trưởng thành. Chuột nhắt thì sau khi chào đời có 45 ngày là đã biết mùi ân ái. Lúc vừa mới sanh ra một lũ con từ 4 đến 7 đứa còn đỏ hon hỏn là Chuột vội vàng hưởng thú mây mưa, do đó cứ khoảng 20 đến 30 ngày là cô sanh ra thêm một lũ nhóc tì (đúng là đồ ... đẻ như Chuột ). Vì vậy bổn phận Chuột đực là phải phục vụ liên tục, không kể đêm ngày. Làm việc quá độ như vậy, nên cơ quan sinh dục của Chuột đực rất to, nó chiếm gần 5 % trọng lượng cơ thể, có nghĩa là nếu con Chuột nặng bằng Con Cọp 200 KG, thì cơ quan sinh dục của nó nặng khoảng 10 kí, tương đương với 2 trái bưởi ... Biên Hoà. Có lẽ vì giỏi trong việc sinh con đẻ cháu, nên Chuột mới được xếp hàng thứ nhất trong 12 con giáp chăng ? Còn chúa sơn lâm chỉ được có tướng mạo dữ dằn bên ngoài, chứ thật ra chuyện kia không có gì đáng kể, nên phải khép nép đứng vào hàng thứ ba.

Nếu bạn muốn chống bịnh liệt dương, mà đi ăn Cháo Cu Cọp, thì kể như ... trao duyên nhằm tướng cướp. Vì nếu ăn xong mà giống được như Cọp trong việc ái ân, thì mỗi một, hai năm bạn chỉ được phép xử dụng cái vũ khí rỉ sét đó có một lần ... Nhưng đứng về phương diện y khoa thì cách ăn cháo này không ích lợi chi cả ; vì chất kích thích tố sinh dục đực (Testosterone) được tổng hợp từ hai dịch hoàn, mà nếu trụng nước sôi, hay nấu lên, thì nó sẽ bị phá huỷ ngay đâu có còn xài được, mà nếu có nuốt được chất testosterone vào trong bụng thì nó cũng bị chất acid trong bao tử phân huỷ tiêu tan, thành những phân tử amino-acid nho nhỏ, không có công hiệu gì. Còn theo Đông y thì sao ? Chúng tôi tìm đến thỉnh ý Đông Y Sĩ Trần Phước Thăng, tại Trung Hoa Dược Hãng, ở HayMarket, Sydney. Theo Đông Y Sĩ Trần Phước Thăng thì muốn chữa chứng bịnh liệt dương ta phải dùng các vị thuốc bổ thận tráng dương như : Cam Kỳ, Cẩu Kỹ, Phục Thận, Ngọc Tùng Dung, Quang Diễn Liên, Kim Anh Tử, Hoài Sơn, Lão Thục Địa. Còn món Cháo Cu Cọp thì họ cũng dùng vài vị thuốc này mà thôi, thật sự cái của quí của Con Cọp chỉ dùng như là đòn tâm lý, dụ khị người ta chứ không có công dụng trị liệu gì.

Nếu mà ăn chim của Cọp mà được như Cọp, thì sao quí vị không ăn chim của ... Chuột, có phải là hay hơn không ? Cứ mỗi ngày rình bắt vài con Chuột, thẻo cái đó ra mà chấm nước mắm nêm nhậu với vài lon bia Toohey thì dù không có lợi cho bạn thì cũng có lợi cho hàng xóm, khỏi bị Chuột phá phách.

Ngày nay món Cháo Cu Cọp đã bị cấm, cũng bởi do sự tin tưởng sai lầm của con người mà khiến cho Cọp gần như bị tuyệt chủng. Trên đời này ai cũng có nhược điểm và yếu điểm, không có ai mạnh về mọi mặt, mà cũng không có ai yếu về mọi mặt. Con Cọp nó mạnh về thể xác, về sự hùng dũng, thì đương nhiên nó phải yếu trong chuyện gối chăn. Nếu bạn yếu về điểm này, thì biết đâu bạn chẳng mạnh về điểm khác ? Hãy vui lên để đón mừng Xuân mới, bạn nhé, chúc bạn khoẻ như ... Cọp.
Hình ảnh
BS Liêu Vĩnh Bình (Nội San Y Giới, Paris 02/2010 Số 47)3.Lại nói về 3 nước Ngô, Thục, Ngụy
Một hôm, Tào Tháo, Lưu Bị, Tôn Quyên cùng chư tướng và thân bằng cố hữu họp hội nghị G3 và ăn búp-phê trên 1 chiến thuyền to và đẹp nhất nước NGÔ.
Buổi tiệc đang vui vẻ thì trời bỗng nổi giông bão ....Một tướng chạy vào bẩm báo:
“Thưa tam Vương: gió giật cấp 12, tầm nhìn xa trên 10 kilômét … tàu ta đâm vào đá ngầm và sắp chìm ... để chống chọi chờ tiếp viện thì phải vứt bớt đồ đạc cho tàu nhẹ bớt.”
Vừa nghe xong, Tháo sai Chử vứt sạch vàng bạc mang theo xuống biển
trước ánh mắt thèm thuồng của mọi người …
Tháo bèn nói: “Yên tâm, nước Ngụy còn nhiều vàng bạc lắm”
Tháo chưa dứt lời thì Quyền đã sai vệ sĩ đem vứt hết thê thiếp đẹp hơn hoa hậu của Quyền xuống biển trong ánh mắt kinh hãi của quan khách.
Quyền cười nói: “Yên tâm, nước NGÔ gái đẹp còn nhiều lắm ...”
Bị chưa kịp nói gì thì Phi (Tào Phi) đã bước tới ném Tháo và Quyền xuống nước rồi nói:
“Yên tâm, nước Thục (Trung Quốc ta!) còn nhiều thằng bốc phét lắm!” .....

Nói Ngược Nói Xuôi

“Nói” không phải dễ. Thật vậy! Những gì mình nói, gặp ông Mít nghe xuôi tai, ổng gật gù:”Thằng! Nói nghe được à!”. Còn gặp ông Xoài, những gì mình nói đó, ổng lại nghe không lọt lỗ tai, nên thấy ổng nhăn mặt lắc đầu:”Mẹ! Thằng ăn nói ngược ngạo, nghe vô duyên thấy mụ nội!”. Rồi, theo thói quen xưa nay, người”chịu”mình nói chỉ biết làm thinh, còn người không chịu thì tiếp tục chỉ trích phê bình dài dài. Đó! Để thấy”Nói”, không phải dễ! Phải tùy đối tượng mà nói, nghĩa là phải ”bắt gân mặt” người nghe, để nói làm sao cho nó xuôi. Các nhà lãnh đạo chắc đã rành cái ”mánh” nầy cho nên họ nói trước công chúng nghe xuôi rót! Có người xấu miệng nói họ mị dân. Suy cho cùng, họ nói mà dân nghe bùi tai dân khoái cũng là điều tốt thôi!

Nhưng, cũng có những nhà lãnh đạo bước lên diễn đàn cứ tưởng mình là một ”siêu sao” trước vô số máy quay phim của các đài truyền hình thế giới, nên phát ngôn bừa bãi, nói xuôi nói ngược mà không hay. Tỉ dụ như chủ tịch nước VNXHCN đã nói: ”Cu-ba thức thì VN nghỉ, Cu-ba ngủ thì VN thức. Chúng ta cùng giữ gìn hoà bình cho thế giới…”. Nghe nghịch nhĩ ở chỗ là không thấy lúc nào ”hai đứa” cùng thức thì lấy gì ”cùng giữ hoà bình cho thế giới”? Một tỉ dụ nữa là thủ tướng VNXHCN tuyên bố một cách sung sướng: Toàn dân bước ra biển lớn”. Chết cha! Hồi năm 1975, cả triệu người VN đã “bước ra biển lớn”, bộ ổng thấy chưa đủ sao mà bây giờ ồng biểu toàn dân ra đi nữa? Rồi đất liền để lại cho ai? Cho Tàu chắc!

Có lẽ “thấu triệt” những sơ hở nầy nên các nhà lãnh đạo “siêu cấp” ở các xứ cộng sản dùng một “mánh” khác: đó là nói tràng giang đại hải để những người nghe không tài nào “nắm bắt” những gì họ muốn nói – dĩ nhiên, họ không quên lâu lâu ngừng nói để vỗ tay cho hội trường giật mình vỗ tay theo kẻo mọi người ngủ hết còn gì! – Còn những người nghe cứ ngồi đừ ra đó, lâu lâu được tự do ngáp!

Đã nói: “NÓI”, không phải dễ mà!

Nói về “NÓI”

Nói về “NÓI”, ông bà mình ngày xưa dạy con cháu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Hay quá! Cái gì mình biết thì mình hãy nói – dĩ nhiên là mình nói những gì mình biết tường tận, có gốc có ngọn, loại hiểu biết có đóng dấu kiểm chứng đàng hoàng, có phắc-tuya o-ri-gin chớ không phải đồ dỏm. Còn cái gì mình không biết thì thọc miệng xía vô làm chi cho nó lòi cái quê cái dốt của mình ra! Thà là mình làm thinh, lựa cây cột nào gần chỗ người ta đang nói để “ăn chắc” là nghe cho rõ, rồi chú tâm lắng nghe mà học hỏi thêm, hầu mở mang hiểu biết. Dĩ nhiên, mình không nên “nhắm mắt nghe”, bởi vì mấy “nói sĩ” hay có tật “nổ” để chứng tỏ sự hiểu biết “minh mông thiên địa” của họ, cho nên lắm khi mấy chả cũng nói “trật bàn đạp” mà không hay (Mắc lo “nổ” thì làm sao “nghe” rõ những gì họ nói?) Nếu mình “nhắm mắt nghe”, nghĩa là mình hoàn toàn tin tưởng vào những gì “nói sĩ” nói, là mình tiếp thâu “hàm-bà-lằng”cái đúng cái sai, cái hay cái dở, mà trong đầu cứ đinh ninh tất cả là số dách hết! Có lẽ tại vì ngày nay có quá nhiều người “dựa cột mà nghe” theo kiểu đó nên thấy có “nói sĩ” đầu hôm sớm mai “biến” thành “Thầy” ngon lành!

Ở các xứ cộng sản, “nói sĩ” không biến thành “Thầy”, mà biến thành “Lãnh Tụ”. Họ không cần “Biết thì thưa thốt”, bởi vì “Nói” là đặc quyền của họ, cho nên “Biết”, họ nói đã đành, mà “Không biết”, họ cũng nói tuốt! “Tiên sư thằng nào dám nói lãnh tụ nói sai!”. Còn về sự “Dựa cột mà nghe” để mở mang kiến thức thì “đếch có cần”, bởi vì “Ta đã là đỉnh cao trí tuệ thì còn thứ gì mà ta phải học hỏi thêm? Rõ khỉ!”.

Nói về “Nói”, đến đây bỗng đụng “lý luận Mác Lê” thành ra “hết nước nói”. Thôi! Ngừng vậy!

Nói có sách

Mấy cha có tật hay nói thường gặp người khác nói: “Coi chừng! Cái gì nó nói, mình phải xin keo rồi hãy tin!”. Vì vậy mà những vị nào đã lỡ mang nghề nói đều huênh hoang rằng mình “nói có sách” và trong người lúc nào cũng lận lưng quyển sách “nghề” của mình để khi cần thì rút xoạch ra chứng minh! Hà, đến đây mới thấy cái quyển sách nó làm nên con người, chớ không phải giỡn! Nó bịt miệng ngay thằng cha bạo phổi đã dám hỏi: “Thầy nói có sách không mà nói nghe ngon vậy?”. Cũng giống như tên công an, chỉ cần rút cây súng lục ra đặt lên bàn nghe cái cốp là đối tượng của hắn đang bô bô “cãi cối cãi chày” bỗng tịt ngòi ngang xương, chỉ còn nghe tiếng nuốt nước miếng cái ực thôi!

Để mình “nói cũng có sách”, hãy nhìn xem: hễ là thầy giáo thì phải ôm sách giáo khoa vào lớp, ông cha nhà thờ giảng đạo luôn luôn cầm quyển thánh kinh, hòa thượng thuyết pháp làm gì mà không mở quyển kinh Phật, ông đạo trưởng hồi giáo nào mà không lận lưng hai ba quyển Coran (Kinh hồi giáo), ông quan toà ngồi trong phòng xử án tay luôn đặt lên cuốn luật pháp to cỡ bốn viên gạch, mấy lãnh tụ cộng sản cha nào cũng đội trên đầu quyển “Tư tưởng Mác Lê”…

Nhân nói đến cộng sản “nói có sách”, để kể cho nghe chuyện “Cán bộ VC lên lớp trong một trại tù cải tạo”. Như thông lệ, cán bộ vào trại để lên lớp lúc nào trong tay cũng cầm một quyển sách. Hắn trịnh trọng đặt sách lên bàn rồi nói, nói thao thao bất tuyệt, rằng là “Đồng chí Sáu Lê Ninh nói thế nầy…”, rằng là “Đồng chí Sáu Lê Ninh nói thế kia…”, rằng là “Đồng chí Sáu Lê Ninh…”…vân vân … rằng là…vân vân. Bỗng, một anh tù chắc có học gồng nên dám đưa tay chận ngang để phát biểu: “Làm sao cán bộ biết Lê Ninh thứ sáu mà gọi ngon lành là đồng chí Sáu Lê Ninh?”. Tên cán bộ trợn mắt ngạc nhiên nhưng rồi mỉm cười khinh khỉnh: “Các anh dốt, không đọc sách nên không biết đấy thôi!”. Rồi hắn cầm quyển sách đưa lên, tay chỉ chỉ tên tác giả, nói: “Đây này, in rõ ràng đây này!”.Đó là quyển”Quốc Gia và Cuộc Cách Mạng”của Vladimir Ilitch Lénine, tên tác giả được rút ngắn lại như sau: “VI Lénine”, cán bộ đọc ra là số 6 La Mã! Đúng là “Nói Có Sách”!

Học ăn học nói

Ông bà mình ngày xưa dạy con dạy cháu rằng: lúc nào cũng phải học, từ “học ăn học nói” đến “học gói học mở”(Xin lỗi! Tôi hay đem “ông bà ngày xưa” ra dẫn chứng mà không một lời nhắc nhở đến “ông bà ngày nay”, bởi vì ở cái thời “ngày xưa” đó, con cháu còn biết ngồi nghe ông bà kể chuyện đời xưa hay dạy dỗ điều hay lẽ phải … v v . Còn ở cái thời bây giờ, ông bà có ráng gân cổ lên để nói – gọi là để “giảng mo-ran”– đã chắc gì con cháu nó nghe! Nhiều lắm là tụi nó “ậm à ậm ừ”cho lấy có vì đang bận coi télé, gõ PC, gọi điện thoại cầm tay cho bạn bè hay đấu đá nhau trong mấy trò chơi điện tử rộn rã! Thành ra, ông bà ngày nay chẳng thấy có “những lời vàng ngọc” để mình dựa vào đó mà viết biếm văn nói ngược nói xuôi! Xin ông bà ngày nay thông cảm!)

“Học Ăn”! Chắc có người sẽ nói: “Ăn thì có khỉ gì mà học? Cứ ton vô miệng rồi nhai rồi nuốt, ai mà không biết!” . Ậy! “Ăn”, không phải chỉ vỏn vẹn có nhai rồi nuốt, bởi vì còn phải biết chọn thứ gì để ăn, thứ gì ăn với thứ gì, rồi ăn làm sao, ăn sống hay ăn chín, ăn nướng hay ăn luộc, rồi ăn lúc nào, sáng trưa chiều tối, đợi đói mới ăn hay cứ lu bù xín-xái, rồi ăn ngồi hay ăn đứng hay ăn nằm (Đừng cười! Ngày xưa, dân La Mã vẫn nằm mà ăn. Và ngày nay, ở Việt Nam đã có nhà hàng nằm rất ăn khách!) rồi ăn bóc hay ăn bằng đũa bằng nĩa bằng dao? Mới kể sơ sơ thôi mà đã thấy chóng mặt vì rõ ràng là “Ăn, phải học”!

Đúng vậy! Mới vào bàn ăn đã phải học “ăn coi nồi ngồi coi hướng”. Nhằm chỗ dành cho ông cả mà “thằng nhỏ” tót vô ngồi là bậy, là thiếu giáo dục, nghĩa là phường “thất học”! Rồi, chưa ai cầm đũa hết mà mình đã “đớp” lia như “quân chết đói” là không được! Phải đợi người lớn gắp trước rồi mình mới thọc đũa vô và phải từ tốn chớ không được gắp ào ào như múa đũa! Đó! Ông bà dạy kỹ như vậy! Vậy mà bây giờ không biết người ta – những người đã tự hào được “học ăn” ở các xứ cộng sản vĩ đại anh em – đã học ăn làm sao mà sau năm 1975 họ vào miền nam Việt Nam áp dụng cái học “siêu đẳng” đến nỗi cái “Ăn”– gọn lỏn dễ thương! – đã biến thể, kéo theo một lô “phụ chú” đầy gút mắt: ăn quịt, ăn gian, ăn cướp, ăn trộm, ăn hối lộ, ăn! Sau nầy, hỏi ra mới biết họ đã học ăn ở những xứ không có gì để ăn nên cái “Ăn” mà họ học hoàn toàn là cái “Ăn” ảo, cái “Ăn” không có thật! Cho nên khi vào Nam, họ thấy cái gì cũng ăn được hết – kể cả nhà cửa đất đai ruộng vườn – vậy là họ cứ nhắm mắt đớp như điên! Cái ăn “không bài bản” đó, người ta gọi theo chữ nghĩa là “cái ăn của bọn vô học”. Điều lạ là chẳng thấy cha nào ngã ra chết vì bội thực hết! Dầu sao, thiên hạ vẫn luôn đề cao cái ”Học Ăn” mà ông bà mình ngày xưa đã dạy. Để thấy nó vẫn chưa phải là quá đát!

Bây giờ, nói đến ”Học Nói”. Xưa nay, người ta hay coi thường sự ”Học nói”, cứ nghĩ là ọ ẹ từ nhỏ riết rồi lớn lên tự nhiên biết nói. Vì không học nói cho nên hễ mở miệng là nói bậy nói bạ, nói trên trời dưới đất, nói trật đường rầy, nói trây nói tục, nói như ”dùi đục chấm mắm nêm”, nói ”phang ngang bửa củi”, nói …v v . Vậy, để tránh tình trạng nói như chó bươi thùng rác, ta phải ”Học Nói”!

Thông thường, người ta dạy nói cho có lễ độ, biết nói ”dạ thưa”, biết nói ”cám ơn”, biết ”khoanh tay cúi đầu” (đây cũng là một cách nói, tuy nó không có lời nhưng nó nói lên sự kính trọng người trưởng thượng ) Rồi còn học nói cho văn vẻ thanh tao, không dùng những từ ngữ đầu đường xó chợ (có bực lắm thì cũng biết xổ nho cho đúng điệu con người có văn hóa, ví dụ: thay vì ”Đ.Mẹ! Đ. Bà!” thì chỉ nên khạc ra vài tiếng ”Thằng khốn nạn! Mầy không biết tao là ai à?” rồi đưa tay vào lưng quần làm như sắp rút cái gì ra, vậy là đối tượng xếp ve ngay!) Tiếp theo là học nói làm sao để nói đúng nơi đúng lúc, đúng chủ đề v v . Và còn nữa! ”Học Nói”, không phải chỉ vài câu là hết bài! Cho nên đừng ngạc nhiên sao có những người tuổi đời đã nặng ký mà vẫn lui cui đi học nói!

Ở những nước cộng sản, các lãnh tụ đều thấu triệt cái triết lý vĩ đại của ”Học Nói”, cho nên họ học rất kỹ, thuộc nằm lòng bài bản đến độ khi họ nói – họ gọi là ”phát biểu”– họ nói y chang như nhau, cung cách y chang như nhau, từ ngữ y chang như nhau! Có điều là những gì họ học để nói hoàn toàn không ”dây mơ rễ má” gì với những gì ông bà mình day! Thành ra, sau năm 1975, ở miền nam VN có hai trường phái ”Học Nói”: trường phái ”cổ điển”của ông bà để lại và trường phái ”cách mạng” du nhập từ các nước ”đồng chí anh em”! Dĩ nhiên, hai trường phái không ăn rơ với nhau cho nên phe nào nói phe nấy nghe! Mấy cha cán bộ nói – luôn luôn nói tràng giang đại hải – để họ nghe, còn mình nói là để cho mình nghe. Chỉ có vỗ tay là vỗ tay chung, bởi vì bây giờ cái vỗ tay không còn ý nghĩa gì ráo thì khi nào thấy cán bộ đang nói bỗng ngừng ngang rồi vỗ tay, ta cứ nhắm mắt vỗ tay! Cho nó rồi!

Sau 1975, dân miền Nam già trẻ bé lớn gì cũng phải đi ”Học Nói” hết, bởi vì chánh quyền không muốn thấy dân miền Nam câm!

Học hỏi và học hành

Nói đến ”Học”, người ta nghĩ đến ”Vô nhà trường”. Thật ra, cái ”Học” không phải chỉ có ở nhà trường, bởi vì một khi mình muốn biết thêm một vấn đề gì đó, một cái nghề gì đó, một lãnh vực nào đó để đừng bị người khác nhìn mình có”nửa con mắt”rồi trề môi chê mình không biết gì hết, mình có thể học bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào. Cái ”Học”nó tràn đồng chớ không phải chỉ ”đóng khung” trong nhà trường và con người lúc nào cũng dính với cái ”Học” mà không để ý bởi vì xưa nay vẫn quen nói ”Dốt là không biết chữ”!

Vậy ngoài sự không biết chữ, ”Dốt” là gì? Một anh nhà quê lên thành phố hiện đại không biết sử dụng bàn ngồi trong cầu tiêu người ta nói thằng chả dốt. Còn ông tiến sĩ từ thành phố xuống dưới quê chơi, đi tát nước ruộng với người chú, chỉ dụng cụ hỏi là cái gì? Người chú cười khinh: ”Mầy dốt quá đi! Cái đó gọi là cái gàu! Không có gàu thì lấy khỉ gì mà tát?”. Hai nhân vật vừa kể đều được coi là dốt bởi vì họ kém hiểu biết trong một lãnh vực nào đó. Nếu họ được chỉ dạy, họ học thêm cách sử dụng bàn ngồi trong wc và cái gàu tát nước ngoài đồng, họ sẽ không còn dốt ở hai nơi nầy nữa. Vậy, để khỏi dốt, mình phải chịu khó học, trong cái nghĩa ”học” là đem thêm những hiểu biết mới vào kho hiểu biết ở trong đầu mình (Dĩ nhiên là trong kho chứa loại hiểu biết thật chớ không phải loại dỏm, loại giả mạo trốn thuế hay loại mà ở Việt Nam bây giờ người ta gọi là ”ma túy xì ke”!)

“Học” không, chưa đủ! Trong khi học, phải biết hỏi. ”Hỏi” để hiểu cho rõ cái mình học. Nếu không biết hỏi hay không chịu hỏi, thì cái học của mình bị gọi là ”học như con két” nghĩa là nghe sao nói vậy chớ không cần hiểu. Hà! Đến đây mới thấy các lãnh tụ công sản rất ”đỉnh cao trí tụê”tr ong đường lối dạy đàn em và quần chúng học: họ bắt học nhưng không cho hỏi, bởi vì hỏi là ”đặt vấn đề”, mà ”đặt vấn đề” là ”chưa hoàn toàn tin tưởng và triệt để nhất trí” với lập trường của đảng! Học viên phải im lặng nghe, không cần hiểu, chỉ cần biết nói lại đúng những gì cán bộ nói. Vậy là ”ăn tiền”! Nếu có tay nào ”xâm mình, bạo phổi” nhứt định hỏi thì ”ta” chụp cho nó cái mũ ”phản động” là xong ngay thôi!

Để tránh lòi cái manh tâm dạy ”học không được hỏi”, nghĩa là muốn xóa chữ ”Học Hỏi” trong tiếng nói của miền Nam, các lãnh tụ còn ”siêu”hơn nữa:họ đặt ra một chữ mới có tên ”Học Tập”, được dùng xả láng nên rất phổ thông, ở đâu cũng thấy học tập, làm thứ gì cũng phải học tập, đến nỗi ở tù cũng gọi là học tập nữa! Người ta nghĩ đơn giản: học làm sao thì cứ tập làm y chang như vậy. Vậy là yên thân!

Bây giờ, nói tới ”Học Hành”. Nếu học rồi lặn luôn thì cái học đó uổng quá! Phải đem cái học ra ”hành”, nghĩa là thực hiện cái gì mình đã học. Và nhờ ở ”hành” mà mình biết mình làm đúng hay sai. Càng ”hành”, mình càng có nhiều kinh nghiệm để cái gì mình thực hiện càng ngày càng hay hơn, có giá trị hơn. Và như vậy, con người mới tiến bộ, xứ sở mới phát triển. Ở các xứ tự do, cái ”học”nó thiên hình vạn trạng nên cái ”hành” cũng vô số kể chớ không bị đóng khung trong ”đường lối chỉ đạo đầy sáng tạo” của đảng X hay đảng Y gì gì. ”Đóng khung” có nghĩa là đảng dạy ”Hình vuông” nhưng lại đưa lên ”Hình tròn” mình vẫn nhắm mắt hô to ”Vuông”, tiếp theo là mình chỉ biết cắm đầu tạo hình vuông rồi hình vuông rồi hình vuông suốt đời!

Ở Việt Nam, cái ”Học Hành” cũng bị đóng khung như kể ở trên, nhưng là một loại khung chưa từng được kiểm nghiệm, cho nên mặc dầu đã qua mấy chục năm độc lập tự do mà dân chưa giàu nước chưa mạnh như thấy ghi đầy trên đường phố, và khi muốn thực hiện một công trình to to cỡ mười tấm chiếu, vẩn phải nhờ công ty ngoại quốc …

Ông bà mình dạy con dạy cháu luôn luôn nhắc nhở phải ”Học Hỏi và Học Hành”. Không biết, ở Việt Nam bây giờ, có ai ”biết cất giấu” hai chữ đó trong một kẹt tủ nào không? Cất giấu với hy vọng một ngày nào đó sẽ có quyền đem ra áp dụng để thấy quê hương mình vẫn còn có ”một ngày mai tươi sáng”? Hỏi, mà sao tôi nghe ứa nước mắt!

Nói về ”Hành”

Nhân nói về ”Học Hành”, tôi nhớ cách đây mấy năm, nước Pháp gởi một phái đoàn chuyên viên qua Nhựt để nghiên cứu cách làm xe hơi, mặc dầu xe hơi Pháp đã đạt vị trí khá tốt trên thị trường quốc tế. Tôi đã lột nón chào phục mấy nhà sản xuất xe hơi Pháp bởi vì họ đã biết nhét cái”tự tôn mặc cảm” vô túi quần để sáng suốt nhận thấy xe hơi Pháp vẫn chưa đứng ngang hàng với xe Nhựt, và họ chịu khó đi Nhựt ”Học Hỏi” thêm để về ”Hành” với những kinh nghiệm mới.

Chuyến qua Nhựt của các kỹ sư Pháp được trực tiếp truyền hình nên tôi đã theo dõi dây chuyền lắp ráp xe hơi, từng khâu từng khâu, một cách thích thú. Nhưng, chuyện đã làm tôi thật ngạc nhiên là ở cuối dây chuyền sản xuất có một người Nhựt kiểm soát từ trong ra ngoài của chiếc xe, mở cửa đóng cửa nghiêng tai nghe tiếng cửa đóng, rồi ông ta đi tới đi lui rờ chiếc xe, không phải chỉ rờ ở một vài chỗ mà là rờ toàn thể chiếc xe! Một kỹ sư Pháp, chắc cũng ngạc nhiên như tôi, nên nghe hỏi: ”Ông làm gì vậy?”. Người Nhựt trả lời: ”Tôi rờ! Ông không thấy sao?”. Hỏi: ”Rờ chi vậy?”. Trả lời: ”Rờ để coi còn chỗ nào chưa vừa ý, ví dụ như chỗ có hơi trầy sơn mắt không nhìn thấy nhưng rờ thì thấy, phải cho làm lại”. Trong khi nói, người Nhựt đó không ngừng rờ, mắt vẫn theo sát hai bàn tay, chứng tỏ sự chú tâm đặc biệt. Một lúc sau, ông ta vừa gật gù vừa nói: ”Tốt!”. Rồi lấy trong túi trước ngực một cuốn sổ rút ra một miếng nhựa nhỏ bằng ba ngón tay mang chữ ”OK” và hàng mã số, đem dán phía trong kiếng sau của chiếc xe. Ông vừa bấm nút cho dây chuyền đưa xe ra khu ”OK” vừa nói:”Tôi làm nghề rờ nầy đã gần mười năm. Tôi rất hãnh diện vì chưa thấy một chiếc xe nào bị trả về, chứng tỏ rằng sản phẩm của nước Nhựt chúng tôi vẫn giữ đúng tiêu chuẩn quốc tế”. Ông mỉm cười, đầu gật gật ra vẻ hài lòng. Đến đây, tôi nhận thấy rằng ngoài cái đầu óc và tay nghề người Nhựt để hết vào công trình chế tạo chiếc xe hơi, họ còn đặt vào đó lòng yêu nước vô biên của họ nữa. Đó là yếu tố chánh đã đưa nước Nhựt lên vị trí ngày hôm nay.

Xin nhắc lại, vào những năm 50, mặc dầu Nhựt đã đóng máy bay tàu chiến rất có giá trị kỹ thuật, nhưng sản phẩm thực dụng khác đều bị coi là đồ dỏm không cạnh tranh nổi trên thị trường quốc tế. Vì vậy, người Nhựt đã phải đi học hỏi mọi ngành nghề ở các xứ tiên tiến, để sau đó về nước thực hành với ý chí ”Mỗi ngày phải hay hơn, hoàn hảo hơn”, làm cho món hàng mang dấu ”Made In Japan” phải được thế giới mến chuộng. Và, như mình thấy, hôm nay họ đã thành công! Cái ”Hành” thực tiễn nghĩa là không tiểu xảo ngụy tạo và lòng yêu nước của người Nhựt là một bài học lớn …

Bây giờ, thử nhìn lại Việt Nam coi ra sao? Xin phép chỉ nhìn ở ”chóp bu” thôi, bởi vì mọi quyền hành đều tập trung mút chỉ ở trên đó hết, còn cái khối bần dân thiên hạ thấp lè tè dưới đất tuy mang mỹ từ ”Nhân dân làm chủ” nhưng lại là hạng tay trắng thân trần thì có khỉ gì để nhìn!

Nói về”Học”

Đừng có giỡn – mấy cha lãnh đạo Việt Nam ngày nay đều là dân có học hết! Không biết họ học ở đâu mà ai cũng có học vị và văn phòng của họ toàn sách là sách. Nhìn số sách trám đầy bốn vách tường là phải biết ngay họ ”học cao hiểu rộng”, dầu không tốt nghiệp cao học thì vẫn là học cao, bởi vì họ đã giựt được cái bằng mà họ cho là cao quí nhứt, bằng” Đỉnh Cao Trí Tuệ Của Loài Người”! Bởi cái ”Học” của họ ngất ngưởng như vậy nên cái ”Hành” của họ cũng ”phiêu hốt ở bốn từng mây”, nghĩa là hai chân không chấm đất! Nhìn coi: họ đem công ty ngoại quốc vô xây cất cả đống công trình vĩ đại như nhà cao tầng (68 tầng! Hôm nào thang máy ăn-banh, trèo lên là ná thở!) đường cao tốc (cho xe chạy 50 km/giờ ) cầu vượt đồ sộ có đường dành riêng cho người đi bộ (dân đi bộ vượt được qua cầu cũng hộc gạch!) …v v, trong lúc hệ thống cống rãnh bị nghẹt ứ từ mấy chục năm nên thành phố cứ bị ngập lụt tới rún sau mỗi cơn mưa lớn! Người dân lội trong nước để đi lại sinh hoạt hay chăng lưới bắt cá ngay trên lòng đường như đang ”tham gia lưu thông”, phía trên đầu là biểu ngữ ”Có nước sạch là có sức khỏe” và ”Quyết tâm thực hiện tốt khu phố văn hóa mới”! Người dân chỉ biết than là bị Ông Trời hành chớ không nghe ai dám lớn tiếng: ”Tại mấy cha nội đó không biết hành!”

Với cái kiểu ”Hành” nầy, với cái đà ”Tiến nhanh tiến mạnh” nầy, và với cái lòng ái quốc đóng khung ”Yêu nước là yêu Xã Hội Chủ Nghĩa” nầy còn lâu ”ta” mới chế tạo nổi chiếc ”Xe Trâu Made In Việt Nam” để xuất cảng góp mặt với thế giới, chớ đừng nói sản xuất ra xe hơi như nước Nhựt!
Tiểu Tử
Mất Gốc

Tháng 4 năm nay kỷ niệm đúng 36 năm ngày tôi rời SàiGòn. Ngày 29-4-1975 gia đình tôi bứng gốc, bứng rễ bỏ hết tất cả để thoát khỏi Việt Nam trong sự hãi hùng. Khủng hoảng lo sợ đến nỗi nếu cái toilette không có ốc vặn chặt xuống đất thì chắc nó cũng đứng dậy chạy theo. Giây phút đặt chân lên chiến hạm của Đệ Thất Hạm Đội Mỹ, tôi vui mừng đã đến một bến bờ tự do mới, không quan tâm đến gốc rễ của tôi nữa. Định cư ở quê hương thứ hai, thỉnh thoảng có dịp nói chuyện với bạn bè hay người quen, vài người khuyên nhủ tôi đừng nên mất gốc, hoặc khi đề cập đến vấn đề con cái, khuyến khích chúng tôi dậy con cái tiếng Việt để chúng nó đừng mất gốc. Cho đến bây giờ tôi không bàn cãi để yên cửa yên nhà, thế nhưng mấy tuần nay vợ tôi than phiền tôi viết lách làm quái gì vì chả mang thêm một đồng xu phụ trội cho ngân quỹ gia đình làm tôi hơi quê xệ. Chỉ còn một cách để bảo tồn danh dự của tôi là tự sát, viết bài này để trình bày quan điểm của tôi. Viết xong tôi bảo đảm thành phần người Việt quá khích sẽ xin tôi tí huyết. Tôi chết đi vợ tôi sẽ lãnh bảo hiểm nhân thọ một triệu đô-la, chứng tỏ cho nàng là lời tiên tri của tôi từ xưa đến nay là đúng: rồi sẽ có một ngày nghiệp viết lách của tôi sẽ làm cho nàng giầu.
Mất gốc là gì? Tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, Trung Tâm Từ Điển Học ấn bản năm 1994, (xuất bản ở Hà Nội) và Từ Điển Tiếng Việt, Vietlex, 2009 của một nhóm biên soạn, nhà xuất bản Đà Nẵng (cũng xuất bản ở Hà Nội), cả hai cùng định nghĩa:
Mất gốc: Không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc, giai cấp.
Theo tự điển tiếng Việt 1997-2004 The Free Vietnamese Dictionary Project, http://www.informatik.uni-leipzig.de/~duc/Dict/ , và http://vdict.com/ , cả hai in cùng một giải thích:
Mất gốc: Cắt đứt quan hệ với tổ tiên, nòi giống, cơ sở. Thí dụ: Mấy tên mất gốc sống nhờ vào đế quốc Mỹ.
Cùng một chữ “mất gốc” mà tự điển xuất bản ở Hà Nội định nghĩa khác hẳn với tự điển trên Internet ở hải ngoại. Tôi bảo đảm nếu trưng cầu dân ý hay đến những ông bợm nhậu hỏi “mất gốc” là gì thì sẽ có thêm nhiều định nghĩa khác nhau. Nếu tôi nói định nghĩa này đúng, định nghĩa kia sai thì thể nào tôi cũng chết, không vì đạn bên này thì cũng vì lưỡi dao bên kia nên tôi để cho tùy mọi người xét xử “mất gốc” có nghĩa là gì.
Để xem tôi có mất gốc hay không, trước nhất tôi phải tìm hiểu tôi là người gốc gì trước đã. Tôi đang sống ở California, Hoa Kỳ, thế nhưng tôi người da vàng mũi tẹt. 100% tôi không phải là người cùng một gốc với John Wayne, Clint Eastwood hay Brad Pitt. Tôi là An Nam Mít, không cãi vào đâu được. Rất nhiều dữ kiện chứng tỏ tôi là người Việt Nam:
-Tôi sinh ở nhà thương Đức Chính, trên đường Cao Thắng. Lần cuối cùng tôi xem trên bản đồ, đường Cao Thắng chưa bị động đất chạy sang Mỹ mà vẫn còn cắt ngang con đường Nguyễn Đình Chiểu và Điện Biên Phủ (Phan Đình Phùng và Phan Thanh Giản cũ).
- Tên trong căn cước, giấy hôn thú bên Mỹ của tôi vẫn là tên Việt Nam Nguyễn Tài Ngọc (Ngay cả con của tôi, dù rằng sinh ở Mỹ, tôi vẫn đặt chúng nó tên Việt Nam). Đáng lẽ ra chính tôi là người nên đổi sang tên Mỹ, không phải vì tôi muốn người khác tưởng tôi là George Clooney, nhưng vì tên tôi người Mỹ khó đọc. Họ gọi “Ngọc” là “Gờ-Nóp”, “Nóc”. Bao nhiêu tài tử, ca sĩ Mỹ muốn nổi tiếng phải đổi tên của mình như Charles Bronson người gốc Lithuania, tên mẹ đẻ là Karolis Dionyzas Bučinskis. Kirk Douglas, người gốc Nga-Sô, tên mẹ đẻ là Issur Danielovitch. Demi Moore, người Mỹ, tên cúng cơm là Demetria Guynes.
- Nhiều người Hoa ở SàiGòn nói tiếng Việt có sõi đến đâu nhưng khi mình nghe biết ngay họ không phải là người Việt vì họ nói tiếng Việt lơ lớ. Ngày xưa khi vừa mới qua Mỹ, tôi nhủ thầm trong mười năm tôi sẽ nói tiếng Anh như gió. Ấy thế mà 36 năm sau, tôi nói tiếng Anh với giọng… Việt Nam, phát âm đã dở mà viết lách hay đàm thoại cũng chẳng xong, không thua gì một chị ngày xưa trong xóm tôi lấy một anh chàng Mỹ đen. Tôi vẫn còn nhớ khi về nhà nếu cửa bị đóng, chị gõ cửa, miệng nói lớn cho anh ấy nghe: “Hó-nì, ốp bần đo!” (Honey, open door!). Giọng Mỹ siêu việt của tôi hiện thời cũng không hơn chị ấy là bao nhiêu.
Qua ba lý do trình bày trên, cho dù tôi sống ở Mỹ đến hơn trăm tuổi, gốc nòi giống của tôi là Việt Nam không chạy vào đâu được. Có giải tôi vào Khám Chí Hòa hay nhà tù Hỏa Lò Hà Nội nếu tôi nhận tôi là người Việt Nam thì tôi sẽ chẳng mướn luật sư biện hộ. Trước vành móng ngựa, tôi long trọng tuyên bố: gốc của tôi là Việt Nam.
Tôi không chối cãi gốc của tôi, thế nhưng tôi sống ở Mỹ 36 năm, hơn gấp đôi thời gian sống ở Sài Gòn. Như thế thì tôi có mất gốc hay không?
Trước khi nói đến tôi, tôi muốn nói về con cái của tôi trước. Bạn bè khuyên tôi nên dậy chúng nó tiếng Việt để khỏi bị mất gốc. Lời khuyên dậy chúng nó tiếng Việt thì tôi đồng ý, nhưng lý do thì tôi không đồng ý. Lý do để mai sau nó về Việt Nam tìm vợ thì hữu lý hơn là khỏi mất gốc. Chúng nó sinh ở Mỹ, giữ cái gốc Việt Nam có lợi gì cho chúng nó? Để mai sau nếu nó xin làm côn dân nước Việt Nam? Giữ phong tục tập quán Việt Nam làm gì? Dùng nước mắm thay vì muối, ăn hột vịt lộn thay vì hột gà luộc? Tụi nó nói tiếng Anh như người Mỹ, nói tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Việt Nam (cậu con trai tôi chỉ biết có vài chữ tiếng Việt: “chết meẹ rooi”). Tuy rằng một phần gốc của nó là da vàng mũi tẹt, nhưng một phần gốc khác của nó là người Mỹ vì chúng nó sinh ra và lớn lên trong tập quán nước Mỹ. Mất cái gốc nòi giống Việt Nam không quan trọng bằng mất cái gốc sinh ra ở Mỹ vì ưu tiên của chúng nó sẽ dành cho quốc gia nó mở mắt chào đời, quốc gia bảo đảm an ninh và nhân quyền, quốc gia cho chúng nó tất cả mọi cơ hội sinh sống từ bé đến lớn. Quốc gia đó không phải là Việt Nam.
Giờ thì đến phiên tôi. Tôi có mất gốc hay không? Nếu theo định nghĩa mất gốc là cắt đứt quan hệ với cơ sở, tôi đã mất gốc. Cơ sở, nhà cửa của tôi bây giờ là ở Mỹ. Căn nhà số 16/38/25 Nguyễn Thiện Thuật vĩnh viễn không cònlà của gia đình tôi nữa. Nó đã có chủ mới. Gia đình tôi không bao giờ lấy nó lại được vì không ai điên dại nhận thức mình phạm lỗi tước đoạt tài sản người khác rồi trả lại cho chúng tôi. Lần đầu tiên trở lại SàiGòn vào xem nhà, tôi công nhận có bùi ngùi và có cảm tưởng mình đã trở về nhà cũ. Nhưng rồi lần thứ hai, thứ ba, thứ tư, càng ngày tôi càng cảm thấy xa lạ, nhất là lần cuối cùng người chủ hiện thời đã phá xập hoàn toàn, xây lại một căn nhà mới. Đứng nhìn căn nhà hình dạng không còn như xưa, ngay cả bảng số nhà cũng thay đổi, tôi không còn cảm thấy liên hệ với nơi tôi khôn lớn nữa. Ngược lại khi trở về Mỹ, máy bay đáp xuống phi trường LAX, lái xe về nhà thấy bóng dáng căn nhà ở Simi Valley, tôi mừng rỡ đã về nhà. Nhà của tôi là ở Mỹ, cơ sở của tôi là ở Mỹ. Tôi đã mất gốc cơ sở ở Việt Nam.
Nếu nói mất gốc là cắt không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình thì tôi xin phân tích bản chất tốt đẹp hay không của người Việt Nam mà tôi đã chứng kiến, có kinh nghiệm tiếp xúc, trong ba giai đọan:
1. Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975.
2. Thời gian tôi sống và sinh hoạt chung với người Việt tỵ nạn từ ngày 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975, khi tôi rời trại tỵ nạn ra sống trong xã hội Mỹ.
3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ, từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay.
1.Thời gian tôi ở SàiGòn từ lúc sinh đẻ cho đến ngày 30-4-1975: Tôi rời SàiGòn năm lên 17 tuổi. Ở Mỹ, 17 tuổi vẫn còn là con nít, vẫn còn dưới tuổi trưởng thành. Hai người 18 tuổi trở lên liên hệ tình dục không luật pháp nào ngăn cấm, nhưng nếu người trên 18 tuổi liên hệ tình dục với người dưới 18 tuổi thì sẽ bị ghép vào tội dụ dỗ trai/gái dưới tuổi vị thành niên, dù rằng người dưới 18 tuổi thỏa thuận. Dưới 18 tuổi chưa được đi bầu. Dưới 18 tuổi chưa được phép uống bia rượu. Tóm lại, dưới 18 tuổi đầu óc vẫn còn non nớt. Ấy thế mà tôi đã mục kích bao nhiêu sự xấu xa ở quê hương tôi:
- Một anh lính tài xế trong xóm tôi mang xe Jeep về nhà hút xăng trong xe ra rồi bán lại cho người trong xóm với giá rẻ.
- Gia đình nào có con cái đến tuổi quân dịch chạy tiền thì sẽ được miễn dịch. Trong khi người Mỹ đổ máu cho tự do của miền Nam, tướng Mỹ có con đi lính chết ở Việt Nam thì một số tướng lãnh và người giầu có cho cho con cái ra nước ngoài. Chỉ có lính nghèo là đổ máu.
- Tôi đi gác nhân dân tự vệ phải gác thế cho người đóng tiền trong khi các cấp chỉ huy hệ thống Nhân Dân Tự Vệ lấy tiền thu.
- Tổng Thống và Phó Tổng Thống VNCH đều là những bậc tướng lãnh. Khi trận chiến Cộng Sản thôn tính miền Nam đến mức quyết liệt, Tổng Thống lên trước quốc dân tuyên bố sẽ chiến đấu sát cánh bên dân, Phó Tổng Thống lên tuyên bố trước quân đội VNCH và cả thế giới là “Tôi thích ăn nước mắm, tôi quyết sẽ ở lại với quê hương tôi tử thủ đến mức cuối cùng”. Ấy thế mà trước khi xe tăng Cộng Sản phá vỡ cửa sắt Dinh Độc Lập, Tổng Thống và đại gia đình đã yên lặng đi ngoại quốc mang theo cả một máy bay đầy của cải, Phó Tổng Thống cũng rời khỏi SàiGòn bay đến một chiến hạm Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ. Một quốc gia với dân tình tham nhũng là một lối sống. Một quân đội cá tính từ Binh Nhì đến Trung Tướng chỉ lo cho cá nhân của mình thì cái tốt đẹp vốn có của mình do nguồn gốc dân tộc không còn hiện hữu.
- Miền Bắc dùng võ lực thôn tính miền Nam gây ra bao nhiêu tử vong.
2. Thời gian tôi di tản từ 30-4-1075 đến ngày 11-7-1975: Bài “Chí Nam nhi” của Nguyễn Công Trứ có bốn câu thơ như thế này:
Nhân sinh tự cổ thùy vô tử,
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
Đã chắc rằng ai nhục ai vinh,
Mấy kẻ biết anh hùng thời vị ngộ.
(Nhân sinh tự cổ thùy vô tử, Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh có nghĩa là Từ xưa đến nay hỏi có ai không chết? Hãy để lòng son chiếu sử xanh. Hai câu thơ tiếng Hán này là của Văn Thiên Tường, một tướng lãnh của Trung Hoa). Hai câu thơ sau, ý của tác giả là người ta chỉ biết anh hùng sau khi thời thế xẩy ra. Tôi kém may mắn tìm hiểu được bản chất của người đồng hương trong cơn ly loạn:
- Hỗn loạn dành đường sống cho riêng mình.
- Ăn cắp chai tương ớt, xì dầu ở nhà ăn trong trại tỵ nạn đem về phòng ngủ barrack của mình dù rằng người Mỹ nói như van lậy thức ăn không thiếu thốn.
- Nếu có dịp là lừa gạt nhau bằng những trò gian dối như dụ mua vàng bạc giả, đồ giả, khi bị trách cứ thì tỉnh bơ, không biết xấu hổ.
- Lấy hết chăn trên máy bay, khi vào trại mang chăn ra cắt may thành áo lạnh, đến nỗi người Mỹ không mang chăn trên những chuyến máy bay sau nữa.
- Những người muốn trở lại Việt Nam (dùng con tầu Trường Xuân) đã nổi loạn, đốt cháy cơ sở vì người Mỹ quá chậm trong việc cung cấp lương thực và sửa sang máy móc cho con tầu.
- Orote Point: dân tỵ nạn ở trong lều quân đội, đôi lúc phải giặt quần áo rồi phơi ở bên ngoài lều. Phơi mà không có người nhà canh chừng thì bao nhiêu quần áo cũng bị mất cắp.
- Cũng ở Orote Point, người Mỹ họ cắt nửa thùng phi làm thùng giữ phân và nước tiểu ở những toilette gỗ, xây dã chiến. Lính G.I. là người đi đổ và lau rửa toilette. Không hiểu tại sao mà người Việt tỵ nạn không đi tiêu vào thùng phi mà tiêu tiện đầy lên chỗ phản ngồi bằng gỗ. Cuối cùng, họ bắt người tỵ nạn chia phiên nhau lau rửa và đổ thùng phân vì họ nói mãi nhưng chẳng ai nghe.
- Người gạt người, thân hay lạ, trong việc đóng tiền vượt biên.
- Và sau cùng, một cảnh gia đình tôi mãi không bao giờ quên. Bên cạnh chỗ ngồi của gia đình tôi trên chiếc tầu chiến Mỹ đi từ Vũng Tầu đến Subic Bay là một gia đình khá giả. Họ đã chuẩn bị sẵn nên mang theo lương thực, nước uống, sữa Guigoz…đầy đủ cho người lớn và trẻ em trong gia đình. Một chị trên tầu có con nhỏ, không có sữa cho con mình bú nên đến xin một người đàn bà trong gia đình này cho chị ta một chút ít sữa cho con. Người đàn bà nhìn chị ta, nói rằng không cho sữa không, nhưng sẽ bán nếu chị ấy trả tiền bằng sợi dây chuyền vàng đeo trên cổ. Chị kia tháo sợi dây chuyền để đổi sửa cho con!
3. 36 năm tôi sống ở Hoa Kỳ, từ ngày 11-7-1975 cho đến ngày hôm nay:
Vào năm 1994, khi trận động đất ở Northridge gây thiệt hại trầm trọng cho nhiều thành phố, kể cả Simi Valley, FEMA (Federal Emergency Management Agency- Cơ Quan Quản Lý Khẩn Cấp Liên Bang) đến Simi Valley thiết lập trụ sở cứu giúp. Vợ tôi làm cho County, tình nguyện làm giúp FEMA. Một trong những sự trợ giúp khẩn cấp là thức ăn. Động đất gây ra cúp điện, thức ăn trong tủ lạnh do đó sẽ bị hư. Nhà ai thức ăn bị hư thối đến điền giấy tờ (chỉ có một vài chi tiết: tên tuổi và địa chỉ) thì FEMA sẽ phát cho một thẻ phiếu trị giá $120 dollars. Cầm thẻ phiếu này đến bất cứ siêu thị nào mua sắm thức ăn dùng nó để trả tiền, siêu thị sẽ lấy vì họ sẽ tính tiền lại với chính phủ. Vợ tôi thấy một người đàn bà Việt Nam đến xin hai lần. Lần thứ nhất một mình nhưng lần thứ hai mang theo một lô người Việt Nam nữa. Vì không biết vợ tôi là người Việt Nam, bà ta vừa cầm giấy ghi tên phân phát cho những người đó vừa nói: “Tụi bay cứ đề tên vô, địa chỉ thì ghi đại số nào cũng được, không ai xét hết. Tủ lạnh nhà mình không bị cúp điện, thức ăn không hư, họ cũng cho mình $120 vì không cách nào mà họ xét được”.
Ai có đọc báo Mỹ thỉnh thoảng sẽ thấy người Việt Nam bị bắt vì tội gian lận. Nhân viên an sinh xã hội khai gian chính phủ bỏ tiền giúp người nghèo vào quỹ riêng của mình, hơn một triệu đô-la. Một bà khai sổ sách cho một hãng xe ở Van Nuys biển thủ bạc triệu. Người làm giấy tờ cho mượn tiền mua nhà khai gian với nhà băng mấy triệu. Văn phòng y khoa khai gian Medical cả trăm nghìn. Một số người có cơ sở thương mại trốn thuế. Không lúc nào mà không có tin xấu. Người Mỹ đã làm ơn, cho người Việt chúng ta một cơ hội sống trong tự do. Thay vì trau giồi nhân bản đạo đức của mình để họ hãnh diện đã không lầm khi cho phép người mình sang đây, chúng ta làm ngược lại. Tôi biết một ông Việt Nam lớn tuổi, lúc nào cũng cay cú người Mỹ là nguyên nhân làm cho Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ (hoàn toàn không phải lỗi vì người Việt tham nhũng hay không có tinh thần chiến đấu!) , một lần nói với tôi là: “Tổ cha mấy thằng Mỹ! Tụi nó điếm lắm!”. Đây là một cá tính tôi thấy của người Việt: không bàn cãi một vấn đề với lý luận, tri thức nhưng với bướng bỉnh. Khi sai không nhận là mình sai, chụp mũ người khác, dùng từ ngữ hạ cấp chửi đối phương, và đôi lúc còn dọa đánh người ta nữa. Đây là gốc Việt Nam, tôi không nên mất gốc?
Cách đây vài tháng, tôi có viết một bài phê bình “Xem Paris By Night 99: Tôi là người Việt Nam”, đăng trong Saigonocean.com http://www.saigonocean.com/trangNguyenTaiNgoc/vanNTN.htm . Paris By Night hay ASIA là những chương trình nhạc được người Việt hải ngoại ưa chuộng, và như thế ít ra cũng phản ảnh một phần nào dư luận của người Việt. Chủ đề của DVD này là hãnh diện vì tôi là người Việt Nam. Tôi tóm tắt ba nhận xét chính sau đây:
1. Hầu hết những người Việt Nam được vinh danh trong DVD này cảm ơn bố mẹ họ, gia đình họ… làm việc siêng năng cần cù để bây giờ họ được thành công. Không một ai cám ơn chính phủ Mỹ, dân tộc Mỹ đã cho họ có một cơ hội sang đây. Bố mẹ hay chính bản thân họ có cần cù đến đâu mà nếu họ vẫn còn ở Việt Nam, không ở Mỹ thì họ có thành công như bây giờ không? Bài học “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” quá đơn giản nhưng rất ít người nhớ.
2. Ông “vua nail” Quý Tôn tuyên bố là ông ta ước ao những người làm nail đoàn kết để nâng cao giá cả. Tôi ngồi nghe há hốc miệng kinh hoàng trong khi cả hí viện vỗ tay ầm ầm, kể cả người hướng dẫn chương trình. Chỉ có chính thể Cộng Sản xưa cũ mới ấn định giá cả hàng hóa. Giá cả do nhà nước ấn định như trong các nước Cộng Sản ngày xưa (và cả Việt Nam trước khi Đổi mới vào năm 1986) đưa tới kinh tế sụp đổ, dân tình đói kém. Từ khi khối Cộng Sản Nga-Sô sụp đổ, Nga không còn ấn định giá cả. Đặng Tiểu Bình sau khi sang Mỹ viếng thăm Tổng Thống Jimmy Carter vào năm 1979, kinh hoàng trước sự giầu có của nước Mỹ, về Trung Hoa áp dụng chính sách free market, thị trường cạnh tranh ấn định giá tin. Kết quả: không ai có thể phủ nhận Trung Hoa tiến vượt bực chỉ trong vòng 30 năm nay. Việt Nam bắt chước Trung Hoa, áp dụng chính sách Đổi Mới vào năm 1986, nhà nước không còn áp dụng giá cả. Chỉ cần hỏi một người sống ở Việt Nam so sánh sự khác biệt trước Đổi Mới và bây giờ để xem chính sách nhà nước ấn định giá cả có hữu hiệu hay không. Thế mà khi nghe ông “vua nail” Quý Tôn nói, không một ai chửi bới mà vỗ tay ầm ầm! Đây là một “tốt đẹp” trong giòng máu Việt của tôi mà
tôi không nên mất gốc?
3. Paris By Night là một cơ cấu thương mại, tổ chức ca nhạc thu tiền bán vé, bán DVD để lấy lời. PBN tạo ra một chủ đề kích thích dân tộc tính để thu hút khán giả, bán DVD. Khi bắt đầu DVD phần 2, Nguyễn Ngọc Ngạn còn nhân cơ hội để quảng cáo bán sách viết mới nhất của mình. Dùng một niềm tự hào chung -hãnh diện tôi là người Việt Nam- để làm tiền gây lợi riêng mà không một ai thấy ngứa tai gai mắt?
Theo tự điển Tiếng Việt của Nhà Xuất Bản Khoa Học Xã Hội, “mất gốc” là không giữ được bản chất, cái tốt đẹp vốn có của mình. Nếu những kinh nghiệm với người Việt Nam trên đây tôi đã chứng kiến trong cuộc đời được gọi là tốt đẹp, thì vâng, xin cho tôi mất gốc.
Nguyễn Tài Ngọc, April 2011
4. Lại nói về 3 anh em Lưu, Quan, Trương …
Một hôm, 3 anh em LB, QZ, TP rủ nhau sang nước Ngô do thám tranh thủ làm tí gội đầu & matxa ...
nhưng vì 3 anh em kết nghĩa máu thịt nên thằng này tưởng thằng kia khao
nên ruốt cuộc không thằng nào mang tiền ...
Sau khi được bọn bảo kê khuyến mại thêm món “răng môi lẫn lộn” thì 3 anh em bị bắt trói giải lên Tôn Quyền (TQ) ...
TQ: “Láo, tội làm gián điệp có thể tha (???) nhưng đi gội đầu matxa không bo em út thì phải chém ...
Dù sao cũng có chút quen biết nên tao sẽ củ hành chúng mày trước khi chém ..
Nếu 3 thằng bây làm cho tao 2 việc, làm được tao tha ... không làm được thì ngày này năm sau là ngày sinh à quên ngày giỗ đầu của chúng mày …
Việc đầu tiên mỗi thằng đi kiếm cho tao 10 quả bất kỳ về đây ... nào, lắp mô tơ vào đít, nhanh lên! ...”
Ở nước Ngô kiếm hàng chat, hàng karaoke thì dễ chứ hàng hoa quả thì quá khó ... nhưng để sống nên 3 anh em phải cố ..
Đến chiều tối, LB kiếm được 10 quả cam, QZ kiếm được 10 quả nho,
còn TP thì vẫn “Thuê bao quý khách vừa gọi không liên lạc được ...”
Tôn Quyền: “Good, bây giờ là việc thứ 2 ... hãy nhét tất cả chỗ quả các người kiếm được vào đít … Thằng nào kêu 1 câu à giết. Thằng nào làm được tao tha ...”
LB nghiến răng trợn mắt nhét được 1 quả, đến quả thứ 2 thì không chịu nổi nhiệt la lên cái OÁI.
TQ: “Nhốt nó vào ngục sáng mai xử bắn ...”
LB mếu máo quay sang QZ nói: “Thôi số anh nó black, die phải chịu ...
với mấy quả nho rừng chắc mày sống thôi ... vĩnh biệt mày với thằng Phi ... nhớ báo thù cho tao.”
Nhưng chỉ 1 lúc sau, LB thấy QZ cũng bị nhốt vào ngục chờ chết cùng mình..
LB: “Chết thật, quả cam nó to, tao chết đã đành ... quả nho nhỏ thế mà mày cũng chết là sao???”
QZ: 9 quả đầu tao làm ngon lành .... đến quả thứ 10 tao phì cười nên die!
LB: Sao tự nhiên mày lại cười hả thằng ngu??
QZ: Vì … đúng lúc đó, tao thấy thằng Phi tha về 10 quả mít ....
NGÀN LẦN LÀ CỨ: CÓ YÊU EM!
Em bảo quả đất vuông
Anh bảo tròn
Em bảo vuông
Ừ, thì vuông!

Em bảo mặt trời màu đen
Anh cho rằng đỏ
Em bảo đen
Anh chữa lại vàng
Em bảo đen
Ừ, thì đen!

Em bảo biển sao hẹp thế
Anh nói rằng biển mênh mông
Em bảo: Không
Anh bảo: Có
Một hạt sương long lanh nho nhỏ...
Ừ, thì biển chẳng mênh mông!

Anh có yêu em không?
Anh bảo rằng có
Em lắc đầu: Không
Anh gật đầu: Có
Không có!
Ngàn lần là cứ: Có yêu em!
Bùi Nguyễn Trường Kiên
5.Lại nói về Hoa Đà …
Tương truyền, lúc Khổng Minh biết mình không thoát khỏi mệnh trời bèn gọi vợ vào và nói:
“Phu nhân ơi, ta sắp đi ma-teo rồi (chết <-- theo từ điển Lạc Việt). Ta muốn mặn nồng với nàng lần cuối.”
Phu nhân lão Khổng bèn đến cầu khóc HĐ giúp đỡ.
Cảm thương cho đôi vợ chồng già còn thích trống bỏi, HĐ bèn cho vợ KM 1 toa thuốc gia truyền liều cao đánh vần tiếng việt là vi-a-gờ-ra.
Sáng hôm sau, HĐ vừa dậy đã thấy phu nhân lão Khổng đứng trước cổng.
HĐ: “Toa thuốc của ta có đáp ứng được yêu cầu của Khổng thừa tướng không?”
Wife of KM:
“Cám ơn ngài, nhờ có ngài mà đêm qua chúng tôi đã được trở lại thời trai trẻ, ông nhà tôi đã “ra đi” trong sung sướng và thanh thản.”
HĐ: “Vậy, chẳng hay phu nhân đến đây sớm có việc gì?”
Wife of KM: “Dạ, tôi đến xin thuốc giải để người ta còn đóng được nắp quan tài ạ”
Hoa Đà: ?????????
HẠNH PHÚC HÔM NAY

Hạnh phúc cuối đời ở xứ này
Tinh thần thoải mái khoẻ hôm nay.
Không lo cơm áo gia đình nữa
Giảt trí thanh tao vui tháng ngày .

Đưa cháu đến trường vui vẻ thay!
Líu lo trò chuyện mộng ngày mai.
Khôn lanh ngoan ngoản nghe lời dạy
Kỷ luật nghiêm minh thế mới hay.

Dạy cháu học hành tiếng Việt thong
Quê hương yêu dấu mãi trong lòng.
Xứ người tiến bộ văn minh quá!
Giúp đở tận tình rất cảm thông.

Hạnh phúc hôm nay vui tháng ngày
Quên điều phiền muộn phải chua cay!
Vui trong hiện tại không lo nghĩ
Ai biết chuyện gì ở vị lai..?

Cười vui công việc ngày hôm nay
Mạnh khoẻ bình yên quý lắm thay!
An phận không mong cầu quá mức
Thương người kém hạnh phúc bi ai!

Hạnh phúc hôm nay quý lắm rồi
Không cầu mong đợi việc xa vời.
Giữ gìn sức khoẻ - vui tri kỷ
Cảm tạ Phật Trời ơn cuối đời .
Minh Lương Trương Minh Sung


No comments:

Post a Comment