Tuesday, October 25, 2011

Bài viết hay(193)

Tiếng đóng cửa
Tôi mới chuyển đến nơi ở mới, cứ gần nửa đêm đang lúc ngủ ngon, tôi bị thức giấc vì tiếng đóng cửa rất mạnh ở lầu trên và tiếng chân lộp cộp rất khó chịu.
Nhiều ngày kế tiếp nhau, vẫn tiếng đóng cửa và tiếng dép vào đúng giờ ấy khiến tôi không sao chịu nổi. Mẹ tôi khuyên : '' Thôi con à, chúng ta mới đến, con đừng vội, kẻo làm mất lòng hàng xóm ''.Tôi đem chuyện ra than thở với mấy người trong xóm. Có người khuyên : '' Bà và chị cố gắng chịu đựng tiếng đóng cửa đó một thời gian. Chắc sẽ không lâu đâu. '' Rồi người ấy nói tiếp : '' . . . Nửa năm trước, người cha bị tai nạn xe qua đời; người mẹ bị ung thư, liệt giường, không đi lại được. Tiếng đóng cửa đó là của người con. Hoàn cảnh khá đáng thương, xin bà và chị thông cảm ! ''
Cậu thanh niên này mới chỉ độ 16 tuổi. Tôi tự nhủ : '' Trẻ người non dạ, cố chịu đựng thôi ''. Thế nhưng, tiếng đóng cửa vẫn tiếp tục xảy ra. Tôi quyết định lên lầu nhắc nhở. Cậu bé mở cửa, hốt hoảng xin lỗi : '' Dì thứ lỗi, cháu sẽ cố gắng cẩn thận hơn . . . ''. Thế nhưng, cứ khi tôi vừa thiu thiu giấc ngủ, tiếng đóng cửa quen thuộc lại vang lên đập vào tai tôi như thách thức.
Mẹ tôi an ủi : '' Ráng đi con, có lẽ nó quen rồi ! Từ từ mới sửa được. . . '' Rồi khoảng một tháng sau, đúng như lời mẹ nói, tiếng đóng cửa đột nhiên biến mất. Tôi nằm trên giường nín thở lắng tai nghe, tiếng khép cửa thật nhỏ, và bước chân nhẹ nhàng cẩn thận. Tôi nói với mẹ : '' Mẹ nói đúng thật ! ''.
Nhưng tôi bỗng bất ngờ … khi thấy hai mắt mẹ tôi ngấn lệ. Mẹ tôi nghẹn ngào nói : '' Mẹ thằng bé trên lầu đã ra đi rồi, tội nghiệp thằng bé, ban ngày đi học, đêm đến quán chạy bàn, nó cố gắng đi làm thêm để kiếm tiền chạy chữa cho mẹ, nhưng rồi bà ấy vẫn không qua khỏi ''.
Trong tình hàng xóm, tôi sắp xếp thời gian viếng xác người phụ nữ ấy.
Cậu bé cúi thấp đầu, tiến đến gần tôi và nói : “'' Dì ! Nhiều lần cháu làm Dì mất ngủ, cháu xin Dì tha lỗi ''.
Rồi cậu nói trong tiếng nấc : '' Mẹ cháu mỗi ngày một yếu, nói không được, nghe không rõ, cháu đóng cửa mạnh để mẹ biết cháu đã về, có thế bà mới an tâm ngủ, Nay mẹ cháu không còn nữa, Dì ạ . . . ''
Nghe câu chuyện, tôi bỗng cảm thấy như bị ù tai, lệ từ hai khóe mắt tôi bỗng tuôn trào ra ... Tôi thấy mình quả là vô tâm, thiếu cảm thông với hoàn cảnh của người khác.
Cảm thông là tối cần trong các mối quan hệ và lòng khoan dung là quà tặng đáng giá nhất trên đời.
Xin Bạn đừng bao giờ khép lại lòng mình. Cầu mong cho con người chúng ta luôn hướng đến một nhịp đập trái tim quảng đại, tấm lòng vị tha, nhân ái, vượt qua những suy nghĩ tầm thường, để mặc lấy tâm tình yêu thương.
Tạo Hóa ban tặng riêng chỉ có ở '' Con Người '' .

Thế cờ vây của Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương trong thế kỷ XXI

Gần ba năm trước đây, ngay sau khi đắc cử tổng thống Mỹ, ông Obama đã chọn đối thủ lợi hại của ông ta là bà H. Clinton làm bộ trưởng ngoại giao. Sự chọn lựa này đã có một số người đánh giá sai lầm về khả năng của bà H. Clinton, nguyên là Đệ Nhất Phu Nhân trong suốt tám năm trước khi G. Bush lên nắm chinh quyền. Bà H. Clinton cũng là cựu nghị sĩ liên bang, đạidiện cho bang New York. Nhưng sau khi làm ngoại trưởng Mỹ gần ba năm qua, cả thế giới đã nhận biết được tài năng ngoại giao của bà H. Clinton đã quá vượt bực, đến như ngoại trưởng của Trung quốc là Dương Khiết Trì cũng đã phải giận dữ nhưng vẫn tỏ lòng kính phục. Dương Khiết Trì đã mất bình tỉnh, thiếu khôn ngoan đã phải vội vã rời phòng họp sau khi bà H. Clinton tuyên bố giữa đại hội là Biển Đông, hay biển Nam Trung Hoa là quyền lợi cốt lõi của Mỹ ở Á Châu Thái Bình Dương. Lời truyên bố của ngoại trưởng Mỹ, H. Clinton như đã khẳng định ý muốn, quyền lợi của Mỹ ở Thái Bình Dương và tái cam kết với các đồng minh cũ là Mỹ sẽ khai triễn các định chế mới để gia tăng những quan hệ liên minh hai chiều, công bằng, minh bạch và bền vững hơn.

Trong tuần qua, trước thềm Hội Nghị Thượng Đỉnh của các nước Đông Nam Á ở Bali, Indonesia, Nov. 17-19 với sự tham dự của TT. Obama và TT. Dmitry Medvedev của Nga, bà ngoại trưởng H. Clinton đã bày ra một bàn cờ chiến lược của Mỹ ở Á Châu Thái Bình Dương với mục đích vừa cam kết, vừa cổ vũ, trấn an với các nước liên minh cũ, mới là Mỹ đã có chiến lược mới để ổn định toàn vùng.

Mở đầu bài viết, ngọại trưởng H. Clinton đã dứt khoát khẳng định: “Trong tương lai, chính trị sẽ được giải quyết ở Châu Á, không phải ở Afghanistan hay Iraq, và Hoa Kỳ sẽ hiện diện ngay ở trung tâm chỉ đạo hành động.” - The future of politics will be decided in Asia, not Afghanistan or Iraq, and the United States will be right at the center of the action.

Sau hơn hai năm rưởi nổ lực ngoại giao quan hệ, liên kết với các nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Malaysia, Singapore, New Zealand, Brunei, Úc châu, Mongolia, Indonesia, Philippines, Nhật, Kazakhstan, Nam Hàn và các Đảo Quốc Thái Bình Dương....Ngoại trưởng Mỹ, H. Clinton đã mạnh dạn tuyên bố là Mỹ sẽ điều vận các chiến hạm Mỹ đến Singapore để duy trì, ổn định an ninh cho sự thông thương trên biển Nam Trung Hoa đã có hơn 50% trọng tải trương thuyền của cả thế giới, trong đó riêng Nhật đã chiếm 80% tàu dầu từ các nước Trung Đông. Nhu cầu dầu hỏa từ Trung đông rất khẩn thiết, sinh tử đối với Nhật Bản và CS Trung Quốc.

Singapore là cửa ngỏ, hải cảng năng động nhất thế giới, và cũng là cửa ngỏ hẹp và cạn nhất trong eo biển Malacca. Chỗ hẹp nhất của eo biển Malacca chỉ rộng khoảng 3km, và chỗ cạn nhất chỉ có 25m. Nếu nhìn qua chiến lược của Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương và Ấn độ Dương trong sự liên kết minh ước với các nước Đông Nam Á như Ấn Độ, Malaysia, Singapore, New Zealand, Brunei, Úc châu, Mongolia, Indonesia, Philippines, Nhật, Kazakhstan, Nam Hàn và trên các Đảo Quốc Thái Bình Dương,.... chúng ta thấy rõ Trung quốc hoàn toàn bị bao vây, bị cô lập từ quân sự đến kinh tế khi có xung đột Mỹ Trung xảy ra trong thế kỷ XXI. Nói cách khác, Mỹ và các nước liên minh với Mỹ đã chiếm thế thượng phong về quân sự, kinh tế, địa chính, địa hình, dân số, nhu cầu phát triễn đầu tư doanh nghiệp, họp tác kinh tế thương mại và khai thác tài nguyên thiên nhiên.




Qua bài viết của bà Clinton, chúng ta đã biết tõ là Mỹ đã không từ bỏ Á Châu Thái Bình Dương từ mấy thập niên qua, vì quân đội Mỹ gồm 50000 quân vẫn được duy trì ở các căn cứ quân sự Mỹ ở Nhật và Nam Hàn là hai nước đồng minh lâu năm của Mỹ để duy trì và ổn định vùng biển Á Châu Thái Bình Dương, và đệ thất hạm đội Mỹ vẫn hiện diện và hoạt động không ngừng để duy trì sự ổn định ở Thái Bình Dương. Mỹ đang tăng cường hiện đại hóa các căn cứ quân sự của Mỹ ở Nhật và Nam Hàn để thích ứng với tình hình chính trị mới trong chiến lược của Mỹ ở Châu Á Thái Bình Dương. Sự phân bố quân sự đối với các nước liên Minh mới, cũ vừa mang tính kết giao hữu nghị với các nước lớn đang trỗi đậy trong đó có Trung Quốc, Ắn Độ và Indonesa. Trong chiến lược quân sự, kinh tế mới này, Mỹ đã chọn hai nước Ấn Độ và Indonesia làm liên minh Mỹ-Ấn-Indonsesia là một bước dài của Mỹ để tăng cường sự ổn định bao vây Trung Quốc cả ba mặt biển Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, đồng thời Ấn Độ, Mongolia và Kazakhstan còn có thể làm áp lực phân tán quân lực Trung Quốc ở biên giới Ấn Trung.

Indonesia là một trong các nước có chủ quyền dọc theo eo biển Malacca. Liên minh với Indonesia, các chiến hạm, tiềm thủy đỉnh của Mỹ sẽ có tự do di chuyển, kiểm soát toàn bộ eo biển Malacca khi cần thiết. Ngoài ra Indonesia còn có trên chục ngàn hòn đảo lớn nhỏ, là địa thế bí hiễm để tiềm thủy đỉnh của Mỹ ẩn náo. Indonesia là một nước dân chủ, đông dân nhất trong các nước Hồi giáo, vừa là thành viên của khối ASEAN, vừa là thành viên của G20. Ấn Độ và Indonesia tổng cộng có một dân số bằng ¼ dân số thế giới, là nơi thích hợp cho chiến lược quân sự, kinh tế, thương mại của Mỹ do TT.Obama đã vạch ra trước đây ngay sau khi đắc cử tổng thống Mỹ. Trong vài thập niên tới, dân số Ấn Độ sẽ vượt xa Trung Quốc. Liên minh với Ấn Độ và Indonesia, Mỹ không đánh mất danh nghĩa là nước vô địch lãnh đạo và duy trì bảo vệ tự do, dân chủ, nhân quyên, sự minh bạch, công bằng và quyền sống của người dân toàn thế giới không phân biệt sắc dân và chủng tộc.

Chỉ đáng tiếc cho cộng sản Vịêt nam, sau nhiều năm đàm phán với Mỹ, nhưng đã thất bại vì đã không từ bỏ ý đồ sử dụng bạo lực, gông cùm, đàn áp, ngục tù, đánh cướp dân lành, đàn áp giáo dân và giết hại các đảng phái chính trị đối lập. Dưới thể chế VGCS bán nước buôn dân, chỉ có nô lệ, đĩ điếm, côn đồ, kẻ cướp và bọn lãnh đạo cường quyền dã man khát máu, chỉ biết hành xử luật rừng rú man rợ để đánh cướp và hũy diệt xã hội, huỹ diệt đối lập. Lãnh đạo Hà nội chỉ là bọn giòi bọ, ruồi nhặng đã có truyền thống bán nước, buôn dân làm nô lệ từ ngày đảng CS thành lập năm 1930. Những sự kiện lịch sử này dù đứa trẻ có trình độ sơ cấp cũng biết, nói chi bọn trí thức vịt kìu xu thời nịnh hót, nâng bi, ham danh, ham lợi, ham tiền, ham bổng lộc đã nhập nhằng, lếu láo, gian manh, tự ý dàn dựng, tự xưng là trí thức 35 xôi thịt, nhưng vô sỉ, vô tâm, tự ngụy tạo ra thư ngỏ, không có chữ ký để bốc thơm chế độ buôn dân bán nước. Thật tội nghiệp cho hai quan trí thức già chột mắt của thời đại trí thức mù lòa của hơn năm thập niên trước, đến nay vẫn lếu láo, huênh hoang, khoác lác trong cái tuổi già bệnh hoạn, gần đất xa trởi. Thật khốn nạn cho họ, bọn vịt kìu khoa bảng hải ngọại vong thân, bán linh hồn, đã đánh mất cái đầu, đánh mất trái tim, đã phải đi bằng hai đầu gối, quỵ lụy trước bọn lãnh đạo giòi bọ, ruồi nhặng bán nước buôn dân. Trong khi đó, một tên nhân sĩ già nua khác lại nham nhở, lố lăng bào chửa cho thái độ lấp liếm, nhập nhằng hèn mọn của hai giáo sư già chột mắt là có can đảm trong cách hành xử gian manh để nịnh hót, nâng bi, lòn trôn liếm giầy bọn cường quyền Vịệt khấu Hà nội có lòng lang dạ thú. Tại sao trí thức vịt kìu hải ngoại lại hèn nhát, vô sỉ y hệt như bọn trí thức XHCN mà Mao Trạch Đông đã xác định:”Trí thức không bằng cục phân.”

Cộng sản VN đã bị Mỹ cho ra rìa sau nhiều năm đàm phán, vì không hội đủ tiêu chuẩn do Mỹ đề ra để liên minh: Điều quan trọng căn bản là song phương phải duy trì đồng thuận chính trị dựa trên luật pháp, sự minh bạch, sự công bằng trong mục đích hậu thuẫn cho tự do, dân chủ, nhân quyền. Cộng sản VN đã nhập nhằng trong luật pháp hai bao cao su, đàn áp giáo dân, gông cùm đối lập, đánh cướp của dân, ăn cắp tiền viện trợ, tiền vay nợ công. Lãnh đạo CS Hà nội chỉ là một lũ giòi bọ, ruồi nhặng, họ cũng là bọn Vịệt khấu Ba Đình có lòng lang dạ thú, đúng như Tàu cộng đã chửi họ đích danh. Mỹ đã nhiều lần cảnh cáo, đề nghị, thúc hối phía CSVN là phải cam kết bảo vệ nhân quyền, gia tăng tự do, cởi mở chính trị, nới rộng tự do báo chí, tự do internet, tự do tôn giáo, tự do đi lại... nhưmg đã thất bại. Trong bài viết của ngoại trưởng Mỹ, H. Clinton, bà đã thẳng thắn viết:

We have made it clear, for example, to Vietnam that our ambition to develop a strategic partnership requires that it take steps to further protect human rights and advance political freedoms.”

- “Cụ thể, chúng tôi đã nói rõ ràng với Việt Nam là tham vọng phát triển một mối quan hệ đối tác chiến lược của chúng tôi đòi hỏi họ phải thực hiện các bước để bảo vệ quyền con người và thúc đẩy tự do chính trị.”-

Tuy Mỹ đã bỏ CSVN qua một bên nhưng vẫn không muốn để CSVN có quan hệ mật thiết với Trung cộng nên đã thúc đẩy Ấn Độ bất tay ttong quan hệ đối tác hữu nghị với CSVN. Trong quan hệ đối tác tay ba gián tiếp này, Mỹ vẫn duy trì được lý tưởng bảo vệ tự do dân chủ, nhân quyền đối với các nước kết giao với Mỹ.

Bài viết của ngoại trưởng H. Clinton tuy ôn hòa, nhưng đầy quyết tâm, như những sợi fiber glass mềm dẽo có sức đề kháng mãnh liệt. Chiến lược mới của Mỹ mở ra hai con đường cho Trung Quốc chọn lựa qua sự phân bố quân sự liên minh của Mỹ với các quốc gia Đông Nam Á như Ấn Độ, Malaysia, Singapore, New Zealand, Brunei, Úc châu, Mongolia, Indonesia, Philippines, Nhật, Kazakhstan, Nam Hàn và các Đảo Quốc Thái Bình Dương....Ngoại trưởng H. Clinton vừa đề cao sự trỗi dậy của Trung Quốc với thành quả tăng trưởng tốt đẹp, nhưng thiếu minh bạch, thiếu công bằng, thiếu tình người, thiếu tự do, dân chủ và nhân quyền. Mô hình tăng trưởng của Trung quốc chỉ có tính cách áp đặt, đàn áp, có lợi ích cho một thiểu số đảng viên, nhưng hoàn toàn thiếu đồng bộ. Giới công nhân viên ở Trung quốc đã bị bốc lột quá nhiều. Quyền sở hữu trí tuệ của các nước ngoại quốc đầu tư ở CS Trung quốc đã bị đánh cắp, bị chiếm đoạt và các nước tư bản đầu tư ở Trung quốc không được đối xử công bình so với các công ty quốc doanh của nhà nước cộng sản Trung quốc, vì đảng và nhà nước CS Trung quốc đã sử dụng luật rừng, không chấp hành luật pháp quốc tế.

Như trên đã trích dẫn, ngoại trưởng H. Clinton chắc chắn cũng đã nói thẳng với Trung quốc là tham vọng phát triễn một mối quan hệ đối tác trong chiến lược mới của Mỹ bao giờ cũng đòi hỏi Trung Quốc phải thực hiện các bước cần thiết để bảo vệ con người, sự minh bạch, sự công bằng, sự thúc đẩy tự do chính trị, tự do báo chí dựa trên luật pháp. Hơn thế nữa, Trung Quốc đã manh nha, lấp liếp nhập nhằng hạ giá đồng tiền Nhân Dân Tệ so với tiền đô la và tiền Euro. Đấy là sự thiếu minh bạch, trí trá để làm giảm giá thành khi hàng Trung quốc xuất cảng sang Mỹ, và Âu châu. Nói cách khác, CS Trung Quốc đã gian lận, lừa bịp, giamn manh trong sự cạnh tranh thị trường thiếu minh bạch. Mặt khác, thực phẩm xuất cảng từ Trung Quốc không những đã không đúng tiêu chuẫn quốc tế, còn chứa quá nhiều hóa độc, mầm móng của bịnh tật, và bịnh ung thư cho người tiêu thụ. Nếu Mỹ, Âu châu và thế giới còn nhân nhượng với Trung quốc về thực phẩm xuất cảng từ Trung Quốc, hậu quả sẽ tai hại không tưởng vì CS Trung Quốc đã gián tiếp đầu độc nhân loại.

Khách hàng tiêu thụ thực phẩm xuất cảng từ Trung Quốc, không thể chờ đợi để có sự đồng thuận, đồng tình để bảo vệ sức khỏe và sinh mạng con ngươời, mà phải dứt khoát tẩy chay hàng hóa, sản phẩm, thực phẩm sản xuất từ Trung quốc. Khách hàng tiêu thụ ở Mỹ và cả thế giới cần phải dứt khoát liên tục viết thư trực tiếp cho FDA, và các dân biểu, nghị sĩ tại địa phương, yêu cầu chấm dứt ngay lập tức việc nhập cảng hàng hóa độc, thực phẩm có hóa độc từ Trung Quốc trong khi chờ đợi Trung Quốc sửa đổi và chấp hành nghiêm chỉnh những tiêu chuẩn mới được áp dụng. Khi khách hàng tiêu thụ phải vận động biểu tình chống đối, bắt buộc chính quyền Mỹ phải nghe, vì nếu không người dân sẽ sử dụng quyền lá phiếu bầu cử để quyết định. Cộng đồng người Việt chạy giặc nội xâm Hà nội nên vận động với cộng đồng Đại Hàn, Nhật, Hoa, Ấn độ, Philippines, Mễ, và cà người dân Mỹ đia phương cùng tham gia biểu tình để tẩy chay hàng hóa, sản phẩm nhập cảng từ Trung quốc.

Ngoại trưởng H. Clinton đã đề cao vai trò của TT. Obama trong việc liên minh với Ấn Đô khi TT. Obama viếng thăm Ân Độ và đọc diễn văn trước quốc hội Ấn. TT. Obama đã nhấn mạnh đến quan hệ đối tác với Ấn độ có tầm quan trọng và nhiều ý nghĩa vì Ấn Độ là nước dân chủ, đa nguyên hội đủ những yếu tố về dân số, thị trường, dân trí có trình độ giáo dục kỹ thuật cao. Sự phát triễn và trỗi dậy của Ấn Độ sẽ mang lại sự thịnh vượng cho toàn vùng rộng lớn hơn như các nước Pakistan, Nepal, Tibet, Burma, Bangladesh, Bhutan. Chắc chắn chinh quyền Mỹ sẻ tích cực hậu thuẩn, đẩy mạnh mối quan hệ liên minh họp tác với Ấn Độ trước sự trỗi dậy hung hăng vô luật pháp của CS Trung Quốc. Hơn nữa, về quân sự, khả năng nguyên tử, Ấn Độ sẽ có đủ áp lực để làm suy yếu lực lượng quân sự của CS Trung Quốc nếu có xung đột xảy ra giữa hai nước Mỹ Trung.

Trước thềm hội nghị thượng đỉnh ASEAN ở Bali, và hội nghị thượng đình APEC ở Hawaii, ngoại trưởng H. Clinton đã bày ra thế cở vây không phải là không có ý nghĩa cho sự chọn lựa của CS Trung Quốc. TT. Obama sẽ tham dự cả hai hội nghị này, và cả thế giới đang trông chờ bài diễn văn của TT. Obma để đánh giá về sự chọn lựa của CS Trung Quốc. Nhưng phản ứng của CS Trung Quốc dường như đã quá nhạy cảm về bài viết của ngoại trưởng H. Clinton hai tuần trước đây. Vì ông Đới Bình Quốc, ủy viên Quốc vụ viện TQ đã vội vã lên tiếng trong bài bình luận gần đầy nhất là “Trung Quốc chọn con đường hòa bình”. Có thể đây là sự chọn lựa khôn ngoan của CS Trung Quốc trước thế cở vây của Mỹ do ngoại trưởng H. Clinton đề ra trước thềm hội nghị ASEAN và APEC vừa có tính vuốt ve, vừa răn đe trong mục đích làm áp lực CS Trung Quốc phải nhượng bộ, bớt hung hăng, bỏ tham vọng làm bá chủ thế giới.

Chắc chắn CS Trung Quốc sẽ tiếp tục chọn mô hình Đặng Tiểu Bình là nhẫn nhục phát triễn đển khi nào thấy đủ mạnh sẽ lộ diện. Nhưng trên thực tế dưới bất cứ mô hình phát triễn nào không có tự do, dân chủ cũng sẽ thất bại vả sẽ bị hũy diệt, vì không có quốc gia nào không dựa vào dân mà thành công.Lịch sử đã minh chứng điều này, các nước có thể chế độc tại, bạo quyền sớm muộn gì cũng sẽ bị hũy diệt. Thật không may cho CS Trung quốc đã ở vào vị trí địa chính hoàn toàn bất lợi, không thể sử dụng quân sự để gây chiến tranh xâm lược trước thế cờ vây của Mỹ. CS Trung quốc hoàn toàn bất lợi về nhiều mặt nếu có xung đột xảy ra, vì bị bao vây bốn mặt, bị cô lập toàn diện. Hơn thế nữa, CS Trung quốc đã tự phơi bày ra quá nhiều tử huyệt qua các đập thủy điện như đập Tam Hiệp trên sông Dương Tử. Đồng minh Mỹ chỉ cần chốt eo biển Malacca, và làm vỡ các đập thủy điện của CS Trung Quốc là làm sụp đổ một nước CS Trung Quốc vĩ đại. Chắc chắn CS Trung Quốc sẽ không có sự chọn lựa nào khác, ngoài sự chọn lựa hòa bình như ông Đới Bỉnh Quốc đã vừa lên tiếng. Cũng có thể đấy là tiếng kêu thảm thiết nhất của loài chim quốc.

Khương Tử Dân
Kiếp Nào Yêu Nhau

Mùa hè 1972, Quang cùng đơn vị lên Pleiku yểm trợ chiến trường Tây Nguyên theo kế hoạch hành quân của quân đoàn. Ban chỉ huy đóng ngay bên cạnh bộ tư lệnh, ngoài giờ làm việc cũng như những lúc không bận công tác khẩn cấp, Quang gần như có mặt thường xuyên ngoài phố, từ các nhà hàng phòng trà đến quán café, bia rượu. Chuyên viên ngành tiếp vận nhưng Quang thường kết thân với tất cả anh em đủ binh chủng đến tăng phái cũng như về dưỡng quân sau thời gian dài hành quân từ vùng tam biên.
Quang yêu Pleiku hơn Đà lạt. Thủ đô lính với những đường dốc bùn lầy đất đỏ, phố xá thô sơ nghèo nàn nhưng thật ấm cúng, thiết tha, sâu đậm và thiêng liêng như tình yêu quê mẹ đối với bất cứ những ai đã một lần ghé qua. Thành phố nhỏ, quanh quẩn chỉ vài con đường ngắn, đi dăm phút đã về chốn cũ, nhưng quyến rũ với những quán ăn, quán bia phòng trà mang hình ảnh lính ồn ào náo nhiệt nhưng thật hiền hòa như tình người địa phương. Cuộc sống bình thản không vội vã, không hoảng sợ, mặc dù các trận đụng độ ác liệt đang sát bên cạnh và pháo địch thường xuyên rót vào khu vực phi trường nằm kế cận trung tâm thành phố. Ở đây người dân xem hình ảnh chiến tranh như một cái gì gần gũi quen thuộc trong đời sống hằng ngày. Họ mở rộng
vòng tay chào đón các đoàn quân vội vã đi ngang, đôi lúc dừng lại vài giây lát ăn vội bữa cơm, uống ly café nóng hay chỉ kịp mua gói thuốc rồi tiếp tục lên đường.
Trời về chiều sương mù phủ xuống thành phố một màu trắng nhạt trông trời đất như đang quyện vào nhau, phố xá thưa dần bước chân, sinh hoạt còn lại là những quán ăn náo nhiệt, phòng trà ấm cúng và những quán café trữ tình là nơi tiếp tục mở cửa để sưởi ấm những chiến binh trở về từ mặt trận, tìm quên mệt mỏi, trút bỏ đau thương và xóa tan những hình ảnh chết chóc. Pleiku đất đỏ sương mù không có gì quyến rũ nhưng bất cứ người nào đã rời khỏi nơi đây đều mang theo trong lòng những kỷ niệm sâu đậm, phải chăng là nhờ phố xá không xa nên phố tình thâm hay những nàng thiếu nữ da trắng, má đỏ môi hồng, tóc em uớt và mắt em ướt nên em mềm như mây chiều đông đã trói chặt bước chân người lãng tử. Pleiku, thành phố lính, thành
phố của những chàng trai khoác áo chiến binh một khi rời khỏi đây đều vương vấn một mối tình.
Quang cũng không thoát khỏi thường tình của một chàng trai hai mươi lăm tuổi.
Từ khi gặp được hai người bạn, Quang không còn lang thang những ngày cuối tuần, chàng tìm đến với Yên và Phúc, cả hai đang dạy ban văn chương tại trường trung học. Phúc, một thi sĩ nổi tiếng, thường tổ chức những buổi đọc thơ cuối tuần và trong dịp nầy, ánh mắt của một nữ sinh ban văn chương đã hớp hồn chàng ngay trong buổi đầu gặp gỡ. Yên và Phúc cho biết, nàng tên Dung, con của một công chức cao cấp của tỉnh. Dung ngây thơ, trong sáng với mái tóc dài phủ xuống lưng, làn da trắng như tuyết, mắt nâu màu hạt dẻ mở lớn, ngơ ngác như nai, đôi gò má núm đồng tiền lúc nào cũng đỏ ửng và làn môi hồng cười lộ đôi hàm răng trắng… Nàng lãng mạng yêu thơ, thích nhạc, cởi mở, nhưng nàng trong sáng quá. Đã là bạn với Yên và Phúc xem như đứng
vào hàng thầy cô hoặc chú bác. Đời binh nghiệp, khoác chiếc áo trận nay đây mai đó, trên lưng vỏn vẹn chiến balô, cuộc sống bấp bênh chưa biết thương tật sống chết bất chợt đến giờ nào, nhiều lần tự vấn lương tâm nhưng Quang không thể tiến tới dù biết Dung có thể ngã vào vòng tay Quang một khi chàng tỏ tình. Chàng đành ôm mối tình câm và hy vọng một ngày nào đó
Ngày được lệnh di tản, thu xếp xong công việc Quang vội vã đến đón Dung đi theo đoàn xe đơn vị rời Pleiku chạy xuống Quy Nhơn, nhưng đã trễ, gia đình đã tự túc khởi hành từ lúc sáng sớm. Từ đó Quang mất hẳn liên lạc với Dung, cho đến mùa thu năm 1978 Quang gặp lại nàng trong trại tỵ nạn ở Mã lai. Đến lúc nầy Quang mới biết mặt cha mẹ Dung và người em gái, cả nhà đối xử thật tốt với Quang nhưng đối với nàng hình như đang bị một cái gì ngăn trở. Trao đổi bình thường Dung rất nhiệt tình nhưng khi đề cập đến vấn đề tình cảm thì nàng lẩn tránh và không bao giờ cho biết rõ lý do. Chừng sáu tháng sau, Quang được tòa lãnh sự Mỹ cấp giấy nhập cảnh, lúc đến chào từ giã lần đầu tiên Dung ngã vào người Quang nức nở khóc. Quang vỗ về an
ủi và hứa qua đến Mỹ sẽ tìm đủ mọi cách để sống gần nhau. Nhưng Dung chỉ lắc đầu từ chối và không một lời giải thích gì thêm.
Dung không trả lời Quang mặc dù Dung đã nhận được gần hai chục lá thư kể từ lúc Quang đặt chân lên đất Mỹ và sau đó cắt hẳn liên lạc với Quang khi gia đình nàng lên đường định cư tại một nước thứ ba.
***
Sau ba năm vừa làm vừa học, Quang ra trường với mảnh bằng kỹ sư vi tính và ổn định ngay với một chức vụ quan trọng trong công ty phần mềm của người Mỹ. Sau đó một năm Quang kết hôn với Chi, con gái út của một gia đình nổi tiếng giàu có từ trước, đến định cư giữa năm 1975. Chi tốt nghiệp ngành địa ốc và được gia đình giúp vốn để mở một văn phòng lớn tại quận Cam.
Một cặp vợ chồng thật lý tưởng và xứng đôi, Quang đẹp trai, cao lương và được xã hội ưu đãi. Chi điều hành một hoạt động hái ra tiền một cách dễ dàng. Họ có đời sống vật chất thật cao, hai ngôi nhà đáng giá cả triệu, vợ chồng mỗi người một chiếc xe đua, chi tiêu không bao giờ tính toán đến tiền bạc. Hai người kết hôn đã lâu nhưng vẫn chưa có con. Có lần Quang đưa Chi đến một bệnh viện chuyên nghiệp sản khoa, ở đây bác sĩ cho biết họ cần một thời gian theo dõi để biết nguyên nhân từ người vợ hay do người chồng. Nghe qua, hai người đều cho rằng con cái chưa quan trọng trong lúc nầy đối với một cặp vợ chồng trẻ, hơn nữa họ đang cần thời giờ dành cho việc kiếm tiền quá dễ dàng và nhanh chóng. Nhìn bên ngoài đôi vợ chồng
sống thật đầm ấm hạnh phúc, nhưng đi sâu vào đời sống riêng tư, cũng như gia đình khác, vẫn có những khúc mắc thầm kín. Chi, con người của thực tế, suốt ngày chỉ có con số, tính toán lúc nào cũng nằm sẵn trong đầu. Quang thì thờ ơ với tiền bạc, thường lái câu chuyện qua thơ văn mỗi khi chuyện trò với vợ. Do đó đối thoại giữa hai người thường đi vào bế tắc. Vì tôn trọng đời sống riêng tư của nhau, sau bữa cơm tối, vợ theo dõi báo chí, thị trường địa ốc, tin tức vật giá trong ngày. Quang một mình đọc sách nghe nhạc, đến chừng mệt mỏi hai người vào phòng thì giấc ngủ giờ đó quyến rũ hơn những vấn đề khác. Hai người đều quên rằng việc ái ân giữa vợ chồng cũng đòi hỏi có sự hòa hợp, hai người phải tạo cơ hội và khuyến
khích lẫn nhau để đi đến tận cùng của yêu đương. Không thể một người sẵn sàng trong lúc người kia chưa chuẩn bị.. Những trục trặc nho nhỏ đưa dần đến sự lạnh nhạt hay nhàm chán cuối cùng đi đến quên lãng bổn phận vợ chồng.
Bận công việc, bận xem sách đọc báo, vào giường ngủ không cùng lúc cùng giờ là những lý do đã tách rời đời sống vợ chồng Quang. Từ chỗ không hòa hợp trong nhiều khía cạnh, việc gối chăn từ đó vắng dần nhưng hai người vẫn một mực yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Giữa hai vợ chồng chưa bao giờ lớn tiếng về bất cứ một bất đồng nhỏ nào nhưng những khác biệt trong cuộc sống thường nhật cứ lớn dần trong im lặng.
Cho đến một ngày Quang tâm sự với Chi:
- Em à, cuộc sống chúng mình đầy đủ, tình yêu hai đứa trọn vẹn nhưng anh vẫn thấy có một cái gì càng ngày càng ngăn cách chúng ta.
Chi đáp không suy nghĩ:
- Có lẽ đúng vậy, bên ngoài ai cũng ganh với vợ chồng mình đủ mọi phương diện, nhưng giữa chúng ta có thật sự hạnh phúc hay không? Tình yêu thuần túy chưa hẳn là điều kiện chính để tạo hạnh phúc mà phải có sự hòa hợp trong cuộc sống chung đụng giữa vợ chồng.
- Anh đồng ý với em nên muốn cùng em hôm nay phân tách để chúng ta cùng tìm một lối thoát.
Chi hơi ngạc nhiên:
- Lối thoát gì?
- Anh nói lối thoát có nhiều khía cạnh: Tổ chức lại cuộc sống, cho ra đời một đứa con, bỏ bớt những đam mê suy tư hay công việc cá nhân để dành nhiều thời giờ cho nhau. Nếu những phương cách trên không thể cứu vãn thì trả lại tự do ban đầu cho nhau.
Vài phút suy tư, Chi đặt hỏi lại:
- Nghĩa là nếu các giải pháp trên không đưa đến tiến bộ nào trong đời sống riêng tư chúng ta thì ly dị?
Quang gật đầu:
- Có thể như vậy, để trả lại sự tự do cho nhau còn hơn ràng buộc để gây đau khổ.
- Đồng ý với anh. Bây giờ theo ý anh, tổ chức lại cuộc sống như thế nào? Suốt tuần hai đứa đi làm, về đến nhà chỉ còn lại chút thời giờ lo ăn uống rồi chuẩn bị đi ngủ. Cuối tuần đi chợ mua sắm để chuẩn bị cho tuần tới. Nếp sống Mỹ đã vạch cho chúng ta chương trình làm việc, sinh hoạt, ăn ngủ như chiếc máy không thể thay đổi gì được ngoại trừ trường hợp thất nghiệp hay đã nghỉ hưu.
- Em có nghĩ chúng ta nên có con?
- Em cũng muốn con, nhưng có lẽ chưa phải lúc nầy. Vả lại chưa biết trường hợp của chúng ta thế nào, phải mất một thời gian khám nghiện chữa trị mới biết. Còn phương cách thứ ba?
- Đời sống tinh thần rất quan trọng, không thể gạt qua một bên hoặc từ bỏ hẵn trong cuộc sống phàm tục. Mỗi người cần phải có một chí hướng, một đam mê, dù tốt hay xấu, mới thấy cuộc đời mình có ý nghĩa, từ đó họ sẽ ham sống và hăng say trong công việc. Trong cuộc sống lứa đôi, cũng khó buộc người bạn đời của mình phải dứt bỏ đam mê của họ nhất là những đam mê hữu ích và vô hại.
Chi lơ lửng đặt câu hỏi:
- Nếu vậy, ly dị là giải pháp tốt nhất?
- Có thể như vậy, có nhiều lý do và hình thức ly dị đặc biệt cho mình.
- Lý do?
- Vì hai đứa mình vẫn thương yêu và kính trọng nhau, ly dị để trả lại, có thể tạm thời, tự do cho nhau.
- Sao gọi là tạm thời?
- Anh nghĩ rằng có thể một ngày nào đó, khi chim mỏi cánh hoặc hai đứa đều nhận thấy sự cần thiết của nhau trong đời thì " châu về hiệp phố ".
- Cũng có nghĩa là tình yêu cũng như thể xác con người, cần nghỉ hè để lấy lại thăng bằng hay tân trang vô dầu mở kiểm tra kỹ thuật như cái máy?
Quang cười lớn:
- Gián đoạn công vụ thì đúng hơn.
- Anh nghĩ thế nào cũng được, nhưng tại sao quan niệm như vậy?
- Tình yêu cũng như một món đồ, có thể nhàm chán và bị bỏ quên nhưng một ngày nào đó bắt gặp lại, nó sẽ trở nên mới và quý giá. Con người cũng thế, đã là của riêng và thường xuyên ở sát bên cạnh, đôi khi mình không hoặc chưa biết giá trị thật của người bạn đồng hành. Hai người cần phải cách xa một thời gian và phải va chạm những gì mình hằng mơ tưởng, lúc đó mới thấy được cái đáng yêu và giá trị của những gì mình đã có trong tay mà từ lâu chưa biết hay không biết đến.
- Như vậy ý anh muốn tình yêu chúng mình cần phải trải qua một thời gian gián đoạn xem như thời kỳ thử thách mới có thể nhìn thấy giá trị tiềm ẩn bên trong. Em đồng ý, nhưng nếu một trong hai nguời tìm được một nguồn hạnh phúc mới?
Quang cười:
- Thì cầu chúc hạnh phúc cho nhau.
- Còn người kia?
- Không thể trở về bến cũ thì kiếm con đò khác. Đàng nào hai người cũng tạo được hạnh phúc mới, như vậy vấn đề ly dị chính là một giải pháp đẹp cho nhau trước một tình yêu vợ chồng gò bó không lối thoát.
Chi im lặng một lúc rồi trở lại đề nghị của Quang:
- Anh nói hình thức ly dị đặc biệt là thế nào?
- Chắc em công nhận với anh, suốt trong thời gian chung sống giữa chúng ta, tuy có những cách biệt nhưng chưa bao giờ gây gổ về chuyện gia đạo, tiền bạc, cũng như cho đến giờ nầy chưa có một hình bóng người nào trong đời sống tình cảm của anh cũng như của em. Như vậy chúng ta ly dị trong sự hiểu biết và tình yêu thương.
- Nghĩa là?
- Ra tòa ly dị không tranh chấp, không phân chia tài sản và cũng không quy trách nhiệm cho ai. Anh chỉ lấy lại ngôi nhà của anh cho mướn và về đó ở.
- Viện cớ gì để xin ly dị?
- Trục trặc chăn gối. Đây là lý do hữu hiệu và nhanh chóng nhất.
***
Bạn bè đều nhận được lời mời dùng cơm thân mật tại nhà vợ chồng Quang. Không người nào thắc mắc gì vì trong đám bạn bè của Quang cũng như Chi đều có thói quen luân phiên dùng cơm tại nhà nầy hay nhà khác. Nhưng hôm nay, khi tất cả đến đây họ nhận được ba chuyện lạ, số khách mời đông hơn thường lệ trong đó có những người không quen thân lắm, các món ăn đều được nhà hàng mang đến phục dịch và vợ chồng Quang ăn mặc thật chỉnh tề như ngày đại lễ.
Mở đầu câu chuyện Vinh vào đề trước:
- Có gì lạ mà hôm nay ông bà trịnh trọng vậy?
Chi cười bí mật:
- Chút nữa sẽ biết, bây giờ cứ tự nhiên, hôm nay là ngày đại lễ.
Tất cả vào bàn vui vẽ với nhiều món ăn đúng như lời Chi vừa nói. Cuối bữa tiệc, Quang đưa ra một thùng rượu champagne đã ướp lạnh, Chi bưng chiếc bánh ba từng theo sau, Quang kéo Chi vào lòng :
- Hôm các bạn phải uống hết thùng rượu nầy mới được ra khỏi nhà. Ngày vui của hai vợ chồng tôi.
Tất cả vỗ tay chúc mừng. Có nhiều người lên tiếng hỏi:
- Có chuyện gì vui tuyên bố ngay đi !
Chi rót rượu cười tươi:
- Phải qua xong một vòng rượu trước chúng tôi sẽ nói lý do sau.
Xong đợt rượu đầu tiên, Chi đứng dậy, Quang ép sát vào người và vòng tay qua lưng Chi, rồi trịnh trọng:
- Hôm nay là ngày chúng tôi chính thức ly dị với nhau !
Tất cả đều chưng hửng trước câu tuyên bố của vợ chồng Quang. Mọi người để ly rượu xuống, căn phòng rộng lớn với trên hai chục người khách hoàn toàn trở nên im lặng. Bỗng có tiếng trong nhóm khách:
- Đừng đùa, coi chừng xảy ra chuyện thật thì mệt lắm !
Chi tươi cười lặp lại:
- Đã suy nghĩ và bàn tính với nhau từ lâu, hôm nay chúng tôi quyết định mời các bạn đến đây dự lễ ly dị !
Vừa dứt lời Chi cởi chiếc nhẩn cưới trên ngón áp út và trao lại cho Quang, đồng thời lấy trong bóp xách tay tờ phán quyết cho phép ly dị của toàn án. Hai người quay lại ôm nhau hôn môi một cách nồng nàn thắm thiết như nụ hôn lần đầu họ đã trao cho nhau ngày cưới.
Bây giờ thì khách mời ngẩn ngơ và không cách nào hiểu được hai người đang diễn một hoạt cảnh gì. Các bà ngạc nhiên tột độ, miệng há hốc, mắt nhìn không chớp vào hai vợ chồng Quang, trong lúc các ông vỗ tay cổ võ.
Khi hai người buông nhau, Quang cười với khách:
- Đây là nụ hôn chia tay của tình vợ chồng tôi, có thể là vĩnh viễn và cũng có thể là…giai đoạn.
Kha đánh tan bầu không khí đang căng thẳng:
- Tại sao làm vậy? Chúng ta tất cả đều bạn thân, chúng tôi không hiểu, hai người có thể cho một vài giải thích.
Vợ chồng Quang đồng cười:
- Dĩ nhiên, chúng tôi không dấu gì, nhưng để chúng tôi trình bày xong các bạn cứ đóng góp ý kiến. Tôi nhắc lại là đóng góp ý kiến cho vui thôi chứ chúng tôi đã quyết định và chuyện đã rồi không thể quay lại.
Chưa ai có ý kiến gì, Chi trình bày trước:
- Chúng tôi ly dị vì yêu thương nhau thì đúng hơn. Ra tòa không tranh chấp, không phân chia tài sản, vẫn quý mến nhau và có thể một ngày nào đó sẽ quay trở lại sum hợp với nhau.
Từ ngạc nhiên nầy đến thắc mắc khác đã thúc đẩy khách mời tranh nhau nhiều câu hỏi. Quang và Chi không che dấu một điều gì, hai người trình bày những gì đã thảo luận và tính toán với nhau từ trước. Những lời giải thích tuy chưa chấm dứt nhưng đã chia người nghe thành hai nhóm, các ông đa số ủng hộ ngược lại các bà phần đông ra mặt chống đối. Nhưng dù ủng hộ hay chống đối, trong tình cảnh nầy tất cả đều cảm thấy mùi vị champagne quen thuộc bỗng trở nên đắng nghét ở trong cổ họng, họ được mời đến để chứng kiến một đổ vỡ, không biết nên vui hay buồn cho hai người bạn trước một quyết định quá mới và táo bạo.
***
Kể từ ngày ly dị, Quang trở thành người đàn ông độc thân vui tính, quay về ngôi nhà cũ của chàng, cơm nước ngày hai bữa tại các tiệm ăn, tối về đọc sách nghe nhạc đến khuya, nhiều lúc ngủ ngay tại phòng khách hay trong phòng làm việc. Sáng dậy trễ, vừa đủ thời gian làm vệ sinh cá nhân tối thiểu rồi vội vàng lái xe vào sở. Cuối tuần Quang không từ chối bất cứ một cuộc họp mặt nào của bạn bè. Quang muốn tận hưởng lại những giây phút tự do của một người đàn ông độc thân giàu có và đẹp trai. Đã gần năm mươi tuổi nhưng trông Quang vẫn còn thật trẻ, mái tóc màu đen nguyên thủy, thân mình cao lớn khỏe mạnh, việc làm tốt, nhà cao, xe đẹp. Chàng đúng là mẫu người lý tưởng của hai thế hệ đàn bà, nhưng Quang chưa nghĩ đến vấn đề đi
thêm một bước.
Chi và Quang vẫn thường gặp nhau, trong quán ăn, các buổi dạ hội, các lần họp mặt tại nhà bạn bè. Họ đối xử với nhau thân tình như hai người bạn, ngồi chung một bàn, nhảy với nhau vài bản nhạc, từ giã ôm nhau hôn như những người bạn thân… Chính lối đối xử với nhau sau nầy chứng tỏ cho bạn bè những gì Quang và Chi đã nói ra trong ngày lễ ly dị.
Đã nhiều lần, bạn bè lợi dụng những bữa cơm thân mật hay những dịp họp mặt để giới thiệu Quang một vài người bạn gái, nhưng Quang đã dứt khoát báo trước rằng chưa phải lúc. Nhưng lần nầy Quang nhận đến dùng cơm tối với một số bạn tại nhà vợ chồng Vinh để gặp Lan, một người đàn bà chưa chồng, đã quá tuổi thanh xuân, rất đẹp, thùy mỵ và trí thức theo lời giới thiệu của bà Vinh. Quang uống rượu vào hạng tồi nhất trong đám bạn, nhưng mỗi khi đã uống thì uống tới lúc say gục ngay tại chỗ. Nhưng chỉ cần một giấc ngủ vài giờ đồng hồ Quang sẽ trở lại tỉnh táo như không có chuyện gì xảy ra.
Bữa cơm tối ngoài gia chủ, Quang và Lan còn bốn cặp khác, không ai lạ ngoài những người bạn quen thuộc từ lâu. Hình như đã có sự sắp xếp ngầm từ truớc, khi Quang đến Lan đã có mặt, tất cả đều ép Quang ngồi cạnh Lan. Đúng như lời bà Vinh, Lan khoảng chừng ngoài ba mươi. Con gái đẹp, thông minh ở tuổi nầy thường bị xếp vào loại cao số. Qua xã giao, Quang phải đánh giá nàng thuộc hạng người có học và con nhà nề nếp, nhưng có lẽ vì một lý do thầm kín nào đó nàng còn độc thân đến giờ nầy. Dù tự cho mình cao giá, nhưng không một người con gái nào dại dột bỏ mất cơ hội để kéo dài tuổi đời của mình thành gái lỡ thì, có lẽ vì lý do nầy Lan nhận lời mau mắn khi bà Vinh đề nghị đến gặp Quang. Quang không muốn đường đột đi vào đời tư
của Lan chàng chỉ quanh co chuyện mưa nắng từ đầu cho đến giữa bữa ăn thì nghe Lan than nhức đầu chóng mặt rồi ói mửa ngay tại chỗ. Vợ chồng Kha cho biết nàng bị trúng gió, các bà đưa Lan vào tạm phòng trong đánh gió xức dầu và đề nghị Quang đưa về nhưng chàng ngại và từ chối để nhờ vợ chồng Kha đưa về tiện hơn.
Bữa cơm vừa xong thì Quang đã say mèm, nằm gục xuống bàn. Tất cả không lạ gì chuyện say rượu của Quang, họ vực vào phòng ngủ để chàng ngủ thoải mái đến sáng hôm sau.
***
-Dậy đi anh, uống làm gì quá mức để say không biết trời trăng gì cả.
Nghe giọng nói, Quang vừa tỉnh, biết có ai đang đắp nước đá trên đầu, chàng mở mắt ra, một người con gái đang ngồi bên cạnh mỉm cười:
- Nhận ra em không?
Quang ú ớ:
- Cô là ai?
- Thùy Dung đây, anh nhớ lại xem.
Quang tỉnh hẳn, chàng ngồi dậy nhìn kỹ người con gái bên cạnh, đưa tay cầm lấy tay nàng:
- Thùy Dung, anh nhớ ra rồi. Hồi hôm sao đến trễ vậy.
- Đến thì anh đã say, em vào đây chờ anh tỉnh để đưa về. Đây là nhà anh chị Vinh.
Quang mang giày và cùng Dung mở cửa ra, gặp ngay Vinh đang ở phòng khách:
- Thôi chào, cô Dung đến đưa tôi về nhà. Cám ơn bữa cơm và gởi lời cám ơn chị giùm tôi.
Hai người ra xe, Dung dành tay lái và bảo Quang dựa đầu ra sau nghỉ.
- Em biết đường không? Quang hỏi.
Dung cười:
- Còn rành hơn anh nữa.
- Em từ tiểu ban nào đến mà bảo rành hơn anh?
- Ngay bên cạnh nhưng anh không biết.
- Tại sao không gặp anh?
- Vợ anh kềm bên cạnh ai dám đến !
Dung tự lái xe thật vững và rành đường như người địa phương. Không cần hướng dẫn Dung vẫn về đến nhà bằng đường tắt. Đến nơi Dung cho thẳng xe vào nhà chứa và đi ngay vào phòng khách, tắt hệ thống báo động thông thạo như chính chủ nhà.
Treo chìa khoa lên vách tường, Dung bảo Quang:
- Anh tắm cho khỏe, người hôi mùi rượu em không chịu được.
Quang nghe lời như chiếc máy, tắm xong quay về phòng đã thấy Dung đang ngồi ở phòng khách trên người đang mặc bộ đồ của Quang. Nàng đưa tay gọi:
- Đến đây anh. Đi quá vội chưa mang theo đồ dùng, anh cho mượn tạm bộ đồ ngủ.
Quang không trả lời, ngồi xuống bên cạnh choàng tay qua ôm lấy Dung. Nàng gục đầu vào vai Quang thì thầm:
- Em chờ đợi giây phút nầy đã mấy chục năm.
Quang không còn nghe gì ngoài hơi thở dồn dập của hai người, chàng bồng Dung vào phòng
Đã lâu thiếu đàn bà và trong lúc không tự chủ được lòng, Quang đã chiếm đoạt trinh tuyết của một người con gái, mặc dù nàng đã đến và tự nguyện hiến dâng. Nhìn Dung đang ngủ yên, gương mặt trong sáng, đậm nét thơ ngây tuổi học trò, chàng cảm thấy ân hận việc xâm phạm quá vội vã. Quang cúi xuống hôn vào đôi môi đang hé mở:
-Không ngờ em còn con gái, anh xin lỗi và sẽ cưới em làm vợ.
Dung trở mình nhướng mắt nhìn Quang mĩm cười:
- Cám ơn anh, nhưng em không muốn ràng buộc.
- Anh đã ly dị với vợ anh.
- Em biết, nhưng em ao ước được sống với anh một thời gian thì em đã mãn nguyện.
Quang ngạc nhiên:
- Bây giờ đâu còn gì cản trở chúng ta. Tại sao?
- Nhưng em không thể, một ngày nào đó anh sẽ hiểu.
Hai người sống thật hạnh phúc như đôi vợ chồng trẻ mới cưới. Quang đi làm, trưa trở về dùng cơm với Dung, tối hai người đi tiệm. Cuối tuần Quang lấy máy bay lần lượt đưa Dung đi vòng quanh nước Mỹ. Trong dịp lễ tạ ơn, chàng đã lấy những ngày nghỉ trong năm để đưa Dung trở lại Sàigòn rồi cùng nhau lên Pleiku thăm thành phố thân yêu ngày trước. Suốt ngày dạo phố, nghe nhạc phòng trà, ngồi quán café. Ngày cuối họ trở lại thăm căn nhà xưa và ngôi trường cũ. Trước khi lên phi cơ vào Sàigòn, Dung yêu cầu Quang đưa nàng đến thăm lần chót chiếc hồ lớn mà nàng gọi là Hồ than thở mỗi khi nhắc đến những kỷ niệm Pleiku. Dịp nầy Quang đặt câu hỏi:
- Sao em gọi là hồ than thở?
- Vì em thường ra đây một mình để nói chuyện với chính mình.
- Em đã than thở gì?
- Em đã nguyền sẽ yêu anh suốt đời. Cứ mỗi lần như vậy, em ném xuống hồ một viên đá. Hãy nhìn kỹ, anh sẽ thấy ở dưới toàn là đá do em liệng xuống.
- Em có biết hồ nầy sâu không? Người ta thường gọi là hồ không đáy mà.
- Biết, nhưng đá của em liệng xuống đến nay đã ngập đến mặt hồ !
Lời tỏ tình thật văn hoa và tha thiết, Quang sung sướng ôm chặt Dung vào người hôn lên mái tóc và dìu nàng bước lên bờ. Trước khi lên xe, hai người quay lại nhìn mặt hồ lần cuối, bỗng Dung đề nghị:
- Anh hãy ném xuống hồ một viên đá.
- Để làm gì em?
- Viên đá anh ném xuống sẽ nằm yên giữa hồ chung với hàng ngàn hàng hàng vạn viên do em đã ném xuống, có nghĩa là em đã ôm được anh vĩnh viễn trong lòng đúng theo ước nguyện từ ngày mới gặp và yêu anh.
Sau chuyến về từ Pleiku, Dung càng ngày càng tỏ ra buồn bã, không còn những tiếng cười dòn tan mỗi lần trò chuyện. Quang ngày đêm gạn hỏi nhưng Dung chỉ lắc đầu không trả lời. Cho đến một hôm nàng khóc suốt đêm, Quang lo lắng ôm nàng vào lòng mơn trớn vỗ về. Cuối cùng nàng ngồi dậy gục đầu vào vai Quang thổn thức:
- Đã đến lúc em phải xa anh.
Như trúng phải luồng điện Quang giật mình nhìn thẳng vào mắt Dung, hai tay lắc mạnh đôi vai, hỏi tới tấp :
- Tại sao? Tại sao? Anh đã làm gì em buồn?
Tiếng khóc của Dung càng lớn:
- Đã đến lúc em phải ra đi, một ngày nào đó anh sẽ hiễu.
- Không, anh muốn em nói ngay bây giờ.
- Không được anh, em không thể làm gì trong lúc nầy.
- Cho đến lúc nào?
- Khi anh đến thăm em thì anh sẽ hiểu.
Dung đưa ngón tay che miệng Quang:
- Đừng hỏi nhiều, em không có quyền tiết lộ bất cứ gì bây giờ.
- Ai cấm em?
- Bí mật.
Biết không thể đòi hỏi gì hơn một khi Dung đã dứt khoát, Quang thều thào:
- Anh sẽ đưa em về nhà.
- Em cho anh địa chỉ để đến thăm em sau.
Nói dứt câu, nàng đứng dậy lấy trong túi áo Quang cuốn sổ tay và ghi địa chỉ của nàng và dặn:
- Em đi rồi anh hãy mở ra xem sau.
Trước khi trời sáng, Dung quay qua ôm chặt lấy Quang:
- Yêu em lần cuối đi anh. Yêu thật nhiều, thật nồng nàn, thật say đắm để em làm hành trang mang theo. Còn em, em sẽ để lại cho anh một vết sẹo để đời.
Vừa dứt câu Dung hôn vào môi và mắt vào tai vào cổ Quang, cuối cùng ghé răng cắn vào vai Quang hai cái thật mạnh rồi đứng dậy bước nhanh về phía cửa. Quang chưa kịp phản ứng, chỉ kịp ú ớ vài câu và chạy theo ra đến đường nhưng Dung đã đi xa.
***
Quang tỉnh dậy và ngạc nhiên khi thấy mình vẫn còn nằm ở tại nhà Vinh. Chàng ngồi dậy định thần, vươn vai thở một hơi dài và cảm thấy trong người khỏe hẳn. Không tin vào nhản quang của mình khi nhìn thấy đồ vật trong phòng và những gì đã xảy ra, chàng thử bấm mạnh hai đầu ngón tay cái và trỏ vào nhau, cảm thấy đau, chứng tỏ mình đang hoàn toàn tỉnh táo. Bước xuống giường không kịp mang đôi giày, Quang mở cửa bước ra phòng ăn, vợ chồng Vinh đang dùng điểm tâm, hai người vội để ly café xuống reo lên:
- Chào anh Quang, tỉnh dậy đã khỏe hẳn chưa? Ngủ gì gần một tuần nay làm chúng tôi hết hồn.
Bây gờ đến lượt ngạc nhiên:
- Anh chị nói tôi ngủ?
- Vâng, anh ngủ ngon lành một tuần nay.
Quang lắc đầu:
- Không thể được, hoàn toàn không thể?
- Tại sao?
- Sau khi hết say, tôi đã về nhà gần cả năm nay mà !
Hai vợ chồng Vinh trố mắt nhìn Quang:
- Anh đã tỉnh hẳn chưa hay vẫn còn say ngủ?
Quang ngồi xuống cạnh hai vợ chồng:
- Chuyện gì đã xảy ra?
- Chúng tôi phải hỏi anh mới đúng.
Quang lấy ly café của Vinh uống một hơi:
- Tôi đã về nhà tôi ngay đêm hôm đó.
Vợ Vinh lắc đầu, Vinh nhìn Quang thương hại giải thích:
- Anh đã ngủ mê gần một tuần nay, chúng tôi sợ quá nên đã nhờ anh Khoa đến bắt mạch, đo huyết áp cho anh nhiều lần nhưng sức khỏe của anh thật hoàn toàn và ở trong trạng thái bình thường của một người khoẻ mạnh đang ngủ say. Cuối cùng chúng tôi quyết định đưa anh vào bệnh viện, nằm tại đây hai ngày. Sau khi khám tổng quát rồi qua chuyên khoa tâm thần, các bác sĩ xác nhận anh ở trong tình trạng hôn mê nhưng không kiếm được một triệu chứng lạ nào, chỉ cần vào nước biển để giữ thăng bằng điều hòa cơ thể. Cuối cùng chúng tôi đưa anh về lại đây vì cần có người bên cạnh chăm sóc. Khoa đến đây hai lần một ngày để trông chừng anh nhưng vẫ không có chuyện gì xảy ra. Giấc ngủ thật yên lành, mặt mày tươi rói, miệng lâu lâu mỉm cười
nhưng đang trò chuyện cùng ai.
Quang vẫn lắc đầu:
- Tôi không tin chuyện xảy ra như vậy.
Vinh đưa tay chỉ tờ lịch treo tường:
- Nhìn kỹ và cố nhớ lại, tối thứ bảy tuần trước, sinh nhật vợ tôi là ngày 9 tháng 4, anh và một số anh em đến đây ăn cơm với chúng tôi, hôm nay là 16 tháng 4, nghĩa là đúng một tuần, làm gì có chuyện một năm.
Vợ Vinh hỏi lại:
- Anh nói anh đã tỉnh lại và về nhà, bây giờ giải thích cho chúng tôi.
Quang vẫn một mực:
- Đồng ý hôm sinh nhật chị Vinh, tôi say thật đến ngã gục xuống bàn chẳng hay biết trời trăng gì cả. Nhưng sau đó, chính cô Dung đến và đưa tôi về nhà.
Vinh trả lời:
- Cô Dung nào, hôm đó chẳng có ai tên Dung. Ngoài những cặp vợ chồng bạn bè anh đều quen biết, chỉ có cô Lan là người chúng tôi muốn giới thiệu với anh. Nhưng cô Lan trúng gió ói mửa, vợ chồng anh Khoa đã đưa cô ta về. Sau đó không còn một người lạ nào trong nhà ngoài những người bạn thân của chúng ta.
- Chuyện xảy ra hoàn toàn trái ngược với anh chị kể.
Vợ Vinh ghé tai chồng nói nhỏ:
- Có thể anh Quang bị ám ảnh một chuyện gì, bây giờ thì nên gởi anh đến một bác sĩ tâm thần.
Quang đáp ngay:
- Tôi thật tỉnh táo và sáng suốt nói chuyện với anh chị, không cần bác sĩ.
- Được anh kể chúng tôi nghe chuyện của anh.
Quang chậm rãi:
- Sau khi gục tại chỗ, tôi vẫn còn nhận định được anh chị và mấy anh em đưa vào phòng, cởi giày, áo ngoài và đặt nằm trên giường sau đó chị thoa dầu gió cho tôi. Chừng nửa tiếng sau thì Dung xuất hiện, nàng xin lỗi đến trễ và xin phép anh chị đưa tôi về nhà. Lúc đầu anh chị ngại, nhưng sau nhiều lần giải thích, anh chị đồng ý để Dung đưa về nhà tôi. Chính nàng lái xe tôi và dìu tôi vào nhà một cách an toàn. Dung đã ở lại với tôi, nối lại mối tình đầu thật trọn vẹn với nhau gần một năm. Sau đó chúng buộc lòng phải chia tay để nàng trở về nhà.
Vợ chồng Vinh không thể tin vào những lời Quang vừa thốt ra, Vợ Vinh vẫn ôn tồn:
- Anh bị một chuyện gì ám ảnh nặng.
Vinh ngăn vợ:
- Khoan kết luận vội vã như vậy, bây giờ xin anh Quang nói rõ thêm về cô Dung được không?
- Được, chuyện đơn giản như thế nầy. Tôi và Dung quen nhau tại Pleiku, nhưng thật sự chưa ai mở lời nói chuyện yêu đương trước. Pleiku mất, chúng tôi mỗi người di tản xuống Quy Nhơn. Ba năm sau kể từ ngày mất nước, tôi vào Sàigòn và vượt biên bằng đường biển. Tình cờ gặp lại nhau trong trại tị nạn Mãlai, lần nầy tôi tỏ tình trước, Dung vẫn vui vẽ nhưng không đáp lại tình yêu của tôi. Sau đó tôi đi Mỹ và mất hẳn liên lạc với Dung cho đến bây giờ không.
Vinh trầm ngâm giây lát:
- Như vậy chẳng có gì quan tâm cũng không phải vấn đề tâm thần. Chỉ là giấc mộng bình thường. Nhưng tôi vẫn thắc mắc, anh ngủ say một giấc dài mặc dù đã nhiều lần đánh thức bằng đủ mọi hình thức, di chuyển vào bệnh viện, trải qua nhiều gian đoạn khám nghiệm mà anh vẫn không hay biết.
- Đối với tôi là một thời gian dài, chúng tôi sống trọn vẹn cho nhau như đôi vợ chồng mới cưới trong căn nhà thân yêu của tôi.
Vợ Vinh không tài nào hiểu được những lời Quang vừa trình bày:
- Anh có vết tích nào chứng minh những lời anh nói:
- Có chứ.
Quang rút trong tui quần cuốn sổ tay ra:
- Chính Dung đã tự tay biên địa chỉ của nàng vào đây.
Vừa nói Quang lật trang chữ D ra đưa cho hai vợ chồng xem, ở gần cuối trang giấy, ba giòng chữ đậm nét rõ ràng và bay bướm của một người đàn bà: Nguyễn Thùy Dung,đường Södertälje, Thụy Điển. Vinh nhìn Quang dò xét:
- Thật không hay địa chỉ cô nào trước đây?
Quang sực nhớ ra, hớn hở:
- Còn đây hãy xem. Chính Dung đã cắn vào vai tôi mấy lần, nàng nói để sẹo bắt tôi phải nhớ nàng suốt đời.
Vừa nói Quang vừa mở nút áo chemise xuống, rút cánh tay phải ra ngoài đưa ra trước mặt vợ chồng Vinh. Đúng là những vết răng đều đặn và nhỏ nhắn của một người đàn bà đã cắn vào vai, còn lộ nguyên hình các dấu răng ứ máu bầm. Vợ Vinh bắt đầu mất bình tĩnh, vì Quang đã ngủ say một tuần, vợ chồng bà theo sát một bên làm sao những vết cắn có thể xuất hiện trên thân thể của Quang. Đến chừng bà Vinh phát hiện ra những vết son môi còn dính trên cổ, ngay dưới hai trái tai của Quang, thì hai tay bắt đầu run bà chỉ ngay cho chồng:
-Anh xem nầy.
Vinh đã nhìn tận mắt dấu răng và các vết son còn tươi, chưa xác định được sự việc thì Quang tiếp:
- Nàng khóc suốt đêm qua, hôn và cắn tôi nhiều lần trước khi chia tay.
Quang rút trong túi ra chiếc khăn tay còn ẩm và tiếp tục:
- Nước mắt nàng ướt cả chiếc khăn, anh chị xem đây !
Hai vợ chồng Vinh không còn gì để hỏi thêm, tin chuyện hoang đường thì chưa chắc nhưng nghi ngờ những lời Quang thì không thể được. Chính hai vợ chồng là người ở sát bên cạnh Quang từ ba ngày nay sau khi Quang trở về từ bệnh viện. Chỉ một mình Kha là người đàn ông duy nhất đến chăm sóc. Vết cắn, môi son và nước mắt trong khăn tay là những chứng thật không thể giải thích.
Vinh đặt câu hỏi:
- Anh định đi tìm nàng?
- Vâng, tôi sẽ lấy thêm ngày nghỉ để qua Thụy Điển một tuần lễ.
***
Södertälje là một thành phố nhỏ nằm về phía nam Stockholm chừng hơn một giờ xe hơi. Quang đưa tấm giấy ghi địa chỉ Dung cho người tài xế taxi xong, Quang dựa đầu vào nệm sau nhắm mắt ngủ vì quá mệt sau mười bốn giờ bay. Quang không báo tin trước mục đích dành cho Dung một ngạc nhiên lớn. Đang dật dờ ngủ thì taxi dừng ngay trước một chiếc cổng lớn, Quang vừa bước xuống lại vội mở cửa lên trở lại và hỏi người tài xế:
-Sao ông đưa tôi đến nghĩa trang?
- Thì đúng theo địa chỉ trong giấy.
Người tài xế đưa tờ giấy lại cho Quang, chàng giật mình so lại địa chỉ tại chỗ thì đây đúng là địa chỉ của nghĩa trang thành phố. Thân mình tay chân chàng tự nhiên đồng loạt nổi da gà, nhưng chính tình yêu đã biến đổi sự sợ hải thành một động lực giúp chàng bình tĩnh và can đảm, mạnh dạn tiến vào bên trong tìm mộ Dung, vì nghĩ rằng nàng đã chết và xác thân đang an giấc tại nơi đây.
Người quản lý nghĩa trang đưa Quang qua nhiều lối đi cuối cùng đến trước một ngôi mộ. Bức ảnh in trên bia đá rất rõ nét, hình một người con gái chừng ba mươi tuổi, khuôn mặt trong sáng, mái tóc dài với nụ cười hồn nhiên của tuổi thanh xuân. Bên dưới bức ảnh hai hàng chữ khắc sâu trong bia đá, Cô Nguyễn Thùy Dung, sinh ngày 21 tháng 5 năm 1954 tại Pleiku Việt Nam, tử ngày 19 tháng sáu năm 1982 tại Södertälje Thụy Điển.
Ngồi bất động trước mộ Dung, một người đàn ông dù bản lãnh nhưng Quang không thể cầm được những giọt nước mắt đang chảy dài xuống má. Những hình ảnh ngây thơ trong sáng ngày đầu gặp gở tại Pleiku, kế đến, gương mặt phiền muộn ưu tư trên đất Mã lai cũng như cảnh âu yếm mặn nồng của Dung đã mang lại cho Quang trong ngày tái ngộ tại Mỹ đều lần lượt hiện về trước mắt Quang. Dung vẫn là người con gái ngày xưa, nàng đã giữ nguyên vẹn mối tình đầu và tuyết trinh của thân xác để hiến dâng cho chàng dù âm dương cách biệt. Thân xác nàng nằm đây, nhưng có lẽ hai mươi ba năm qua linh hồn nàng đã dài công tu luyện, mong hoàn tục một thời gian, để được phép trở về dương thế cho trọn tình với Quang. Nhìn gương mặt, nụ cười trên bức
hình, Quang nghĩ rằng giờ đây chắc nàng đã toại nguyện.
Quay ra ngoài mua bó hồng thật lớn, trở lại đặt ngay ngắn, cúi xuống hôn trên phần mộ và bức ảnh:
- Anh sẽ trở lại với em.
***
Người quản lý nghĩa trang cho Quang danh tánh và địa chỉ thân nhân của Dung. Nhìn thấy tên của một người đàn ông, Quang khựng lại giây lát, nhưng đã quyết tâm tìm hiểu Dung, chàng nhất quyết đi taxi đến.
Vừa bấm chuông xong, một người đàn bà còn trung niên ra mở cửa e ngại hỏi bằng tiếng Thụy Điển:
- Thưa ông ông kiếm ai?
Quang không hiểu gì, chàng nói ngay tiếng Việt:
- Thưa bà, bà là người Việt nam?
Hai mắt người đàn bà sáng lên, vồn vã hỏi ngay:
- Thưa, ông cần gì? Tôi là người Việt.
- Tôi tên Quang từ xa đến, xin lỗi bà tên Nghĩa?
- Nghĩa là tên chồng tôi.
Quang ấp úng:
- Xin lỗi bà, bà có một thân nhân tên Thùy Dung an táng trong nghĩa địa thành phố
Bà Nghĩa nhìn Quang, dè dặt trả lời:
- Đó là chị tôi nhưng liên hệ gì với ông.
Quang mừng ra mặt, một lần nữa chàng lặp lại:
- Tôi tên Quang, quen với Thùy Dung cách đây trên ba chục năm tại Pleiku.
Bà Nghĩa mừng rở reo lên:
- A tôi nhớ ra rồi. Mời ông vào nhà.
Vừa dẫn khách vào vừa nói:
- Tôi tên Trang, em gái của Thùy Dung. Lúc chị tôi còn sống lúc nào cũng nhắc đến ông. Nghe mãi tên nên đã nhập tâm, tôi làm sao quên được nhưng lâu quá thú thực không nhìn ra người.
Vừa ngồi xuống ghế, Quang vội vào đề:
- Xin bà vui lòng cho tôi biết rõ về Dung.
- Dĩ nhiên, tôi sẽ kể rõ cuộc đời của chị tôi vì đây cũng là ý nguyện của người quá cố. Đã từ lâu tôi ao ước gặp ông nhưng chim trời cá biển biết đâu mà tìm. Nay có lẽ duyên số của chị tôi vẫn còn nên đã đẫy đưa ông từ xa đến. Chuyện còn dài, ông ở lại đây với vợ chồng tôi vài bữa. Bây giờ dùng café cho ấm lòng, chồng tôi cũng sắp về đến.
- Cám ơn bà cứ để tôi tự nhiên.
Bà Nghĩa cười:
- Ông là người tình muôn thuở của chị tôi, xem như trong nhà, xin gọi nhau bằng anh em có lẽ thân mật hơn và chắc chắn chị tôi sẽ vui lòng.
- Vâng, nếu ông bà cho phép.
Trang ngồi xuống đối diện với Quang:
- Anh từ đâu đến và tại sao kiếm ra chúng em dễ dàng vậy?
- Chính Thùy Dung cho anh địa chỉ, nhưng địa chỉ của nghĩa trang chứ không phải ở đây.
Đến lượt Trang ngạc nhiên tột độ. Hai mắt mở lớn, miệng ấp úng:
- Không thể, không thể…chị em chết đã hai mươi ba năm. Ngoài vợ chồng và hai đứa con em không còn một ai quen thân với Dung cũng như biết được phần mộ của chị em. Trước khi đến Thụy Điển anh đã liên lạc thăm dò đường sá?
- Không, anh tưởng Thùy Dung còn sống, căn cứ theo địa chỉ đã cho, anh đến Stockholm và dùng taxi đến thành phố nầy.
- Taxi đưa anh đến ngay nghĩa trang?
- Đúng như vậy, anh ngập ngừng vài giây nhưng sau đó anh tin là sự thật.
- Anh cho biết rõ thêm.
- Anh đã gặp Dung, sống hạnh phúc với nhau gần một năm trời tại Mỹ, nhưng bạn bè cho biết thì thời gian khoảng chừng một tuần.
- Em chưa hiểu !
- Trong một cơn ngủ say kéo dài một tuần, Thùy Dung đã về chung sống với anh. Trước khi chia tay nàng đã ghi lại địa chỉ trong cuốn sổ tay của anh.
Trang với giọng run run:
- Anh cho em xem cuốn sổ.
Nhìn vào, sắc mặt Trang biến đổi, Trang đứng dậy lấy tập thơ biên tay đưa cho Quang xem, đúng một tuồng chữ không sai một nét nhỏ nào.
Ông Nghĩa mở cửa bước vào, sau lời giới thiệu, ông mở lời trước:
- Anh đã đến đúng theo ước nguyện của người quá cố. Dung đã trối với vợ chồng em trước khi nhắm mắt.
- Qua đây hoàn toàn do sự hướng dẫn của Thùy Dung, có lẽ còn những bí ẫn nào đó Dung đã nhắn lại với anh?
- Chuyện còn dài, anh phải ở lại đây vài ngày.
Nghĩa dành làm bếp để vợ nói chuyện với Quang. Trao cho Quang cuốn album hình xong Trang bắt đầu vào chuyện kể:
- Chị Thùy Dung đã phải lòng anh trong những lần đầu gặp gỡ tại nhà cô giáo Yến. Hồi đó mặc dù em còn nhỏ nhưng cũng nhận biết anh cũng yêu chị em, nhưng tại sao không chịu tỏ tình và giữ im lặng để chị em phải đau khổ với mối tình câm. Em còn thuộc bốn câu thơ chị thường đọc cho em nghe:
Chỉ cần một tiếng Yêu
Ngày xưa em vẫn đợi
Tiếc gì anh không nói
Để mất nhau suốt đời
Uống xong hớp trà, Trang tiếp:
- Rồi quả đất tròn, chị Dung gặp lại anh trong trại tị nạn. Đây là thời gian thuận lợi nhất để hai người kết hợp nhưng chị em đã đau khổ chạy trốn mối tình tha thiết của anh. Sau khi anh lên đường định cư, Chị Dung ốm nặng nằm bất động một chỗ cả tuần lễ. Thế rồi một buổi tối trước khi ngủ, chị Dung cho em xem một tập thơ, trước khi đốt thành tro và rải xuống biển, gồm nhiều bài thơ tình chị viết riêng cho anh và cho mối tình câm của chị.
Quang xin phép hỏi:
- Anh không hiểu chuyện gì xảy ra nhưng trong thời gian còn ở trong trại tị nạn, anh đã nhiều lần tỏ tình và ước ao kết hôn với chị em trước ngày lên đường đến nước thứ ba. Em có biết lý do tại sao chị em vẫn một mực từ chối không?
Trang kể tiếp qua nước mắt:
- Bây giờ em mới có dịp trình bày với anh. Sau khi thi xong phần hai tú tài, chị Dung tự nhiên bị bệnh nhức đầu kinh niên. Cha mẹ em đã chạy chữa khắp nơi nhưng các bác sĩ không kiếm ra bệnh chứng. Cuối cùng phải vào tận Sàigòn nhờ các bác sĩ nước ngoài chữa trị, ở đây khám phá ra chị Dung bị chứng ung thư hệ thần kinh nảo bộ. Dù với các phương tiện tối tân nhưng các bác sĩ phải đành khoanh tay, không thể giải phẫu để lấy cục bứu ra. Họ cho hay việc giải phẫu chưa biết kết quả đi đến đâu nhưng trước mắt, may mắn lắm thì nạn nhân sẽ sống sót nhưng toàn thân bất toại, nếu rủi ro thì không cứu được mạng người. Lúc đầu gia đình dấu kín chuyện nầy nhưng cuối cùng chị Dung cũng biết. Từ đó chị ít trò chuyện và không tiếp xúc với
bất cứ ai…Cho đến một ngày gặp lại anh trong trại tị nạn. Điều nầy cũng đủ để giải thích thái độ chị Dung đối với anh trong thời gian nầy. Ba tháng sau ngày anh lên đường qua Mỹ, phái đoàn Thụy Điển đến Mãlai và chỉ nhận người tị nạn thuộc diện nhân đạo, nghĩa là họ chỉ nhận những gia đình có người đang mang trong người chứng bệnh nan y để đưa về Thụy Điển chữa trị. Gia đình em quá mừng, hy vọng cơ hội duy nhất để dành lại mạng sống của chị Dung đang tàn dần theo thời gian. Nhưng số trời đã định, ở đây cho biết ngày ra đi của chị Dung gần kề, họ khuyên gia đình nên làm những gì vui lòng cho người xấu số trong những ngày còn lại. Chị ra đi một cách nhẹ nhàng không đau đớn, trước khi nhắm mắt chị Dung còn tỉnh táo
nói nhỏ với vợ chồng em, hãy cố gắng tìm và chuyển lại anh thông điệp cuối cùng của chị: Dung vẫn một đời yêu anh.
Nghĩa muốn tạm ngưng câu chuyện tại đây, xen vào hỏi Quang:
- Xin lỗi, chưa hỏi gì về anh. Gia đình, công việc ra sao?
- Anh đã li dị, không con cái và còn tiếp tục đi làm. Thế còn hai bác?
Trang cho biết:
- Cha mẹ em đã qua đời, hiện giờ chỉ còn vợ chồng em và hai đứa con. Chúng nó đã lớn và có gia đình.
Suy nghĩ một hồi, Quang đề nghị:
- Anh đề nghị hai em việc nầy, xem có tiện không?
- Anh cứ nói.
- Anh muốn xin phép hai em cho anh được đưa hài cốt chị Dung về Mỹ.
Một đề nghị ngoài dự đoán, vợ chồng Nghĩa nhìn nhau không ai lên tiếng trước. Quang giải thích thêm:
- Anh cũng độc thân không còn ai ràng buộc trong cuộc sống cũng như tình cảm. Anh muốn mang đưa Dung về ở gần anh. Mỗi năm hai em có dịp qua thăm như vậy cũng tiện.
Nghĩa nhường lời cho Trang:
- Em nghĩ thế nào?
Trang đáp trong do dự:
- Nằm ở đây có cha có mẹ đường nào cũng ấm cúng hơn.
Quang thuyết phục:
- Dù chưa giao ước cưới hỏi, nhưng ý nguyện của Dung muốn được sống bên anh. Kiếp nầy đã dở dang, âm dương có cách trở nhưng tình yêu không ai có thể ngăn cản một người sống yêu thương một người chết bên kia thế giới. Sự cách biệt thể xác đâu ảnh hưởng đến tình yêu trong tâm hồn. Anh muốn cùng Dung ngày đêm có nhau, như tình cảm của một người chồng trung thành vĩnh viễn với vợ mặc dù nàng đã chết.
Trang yên lặng, một lúc sau nàng đáp:
- Nếu anh đã nặng tình với chị Dung thì em đành nghe theo. Ngày mai chúng ta nghiên cứu việc bốc mộ. Dù hơn hai mươi ba năm, em nghĩ xương cốt vẫn còn nguyên. Vậy anh muốn hỏa thiêu một lần nữa để anh đưa về dễ dàng không?
- Được vậy rất tốt cho việc di chuyển và vấn đề vệ sinh cũng như kiểm soát hải quan.
Trước khi chia tay về phòng, Trang trao cho Quang một hộp giấy:
- Chiếp hộp nầy chị Dung dặn em, một ngày nào tìm được anh thì trao tận tay. Em chưa bao giờ mở ra xem.
- Quang cám ơn đem hộp giấy vào phòng ngủ.
***
Một ngày sau khi trở lại Mỹ, Quang tìm đến một nhà điêu khắc và nắn tượng nổi tiếng tại Los Angeles để đặt làm một pho tượng bán thân bằng thạch cao. Chàng đưa bức ảnh bán thân của Thùy Dung và đề nghị nhà nghệ sĩ cố gắng làm thế nào để khuôn mặt phải có hồn và giống y theo bức ảnh, kích thước đúng với vóc dáng thật của một người con gái Á Châu. Quang còn đề nghị khoét một lỗ ở phần sau lưng pho tượng để có thể đặt vào đó chiếc bình nhỏ đựng tro của người quá cố. Chừng mười ngày sau Quang đem bình đựng tro đến yêu cầu để vào sau lưng và niêm kín pho tượng.
Quang sửa sang phòng làm việc của chàng thành phòng riêng dành cho Dung thật đầy đủ tiện nghi. Pho tượng thạch cao được trang trọng để trên một bệ cao đối diện với bàn làm việc. Phía dưới chân tượng chưng bức ảnh bán thân, tập nhật ký và cuốn băng nhựa do chính Dung tự thu tiếng nói và hai bài hát: Còn một chút gì để nhớ để quên và Kiếp nào có yêu nhau. Hằng ngày sau giờ tan sở về đến nhà, việc trước tiên Quang vào phòng trò chuyện với Dung, nghe lại giọng nói và hai bài hát. Mỗi lần trò chuyện Quang đều thấy Dung hiện về với mình. Mặt pho tượng đổi sắc, sống động như Dung đang gồi trước mặt, hai má ửng hồng, ánh mắt linh động, miệng mĩm cười chia xẻ buồn vui với chàng. Từ đó Quang không còn tha thiết với bạn bè, ít lui tới với ai
và từ chối luôn những viếng thăm của khách dù quen hay lạ. Xong công việc ở sở vội quay về nhà và suốt ngày sống âm thầm với nguồn hạnh phúc riêng tư. Cuộc đời của Quang bây giờ chỉ sống với hình bóng mờ ảo của Dung và hai bài hát phát ra từ cuốn băng nhựa.
***
Vào một buổi tối mùa thu, trên đường về chàng ghé qua siêu thị mua chai champagne và ổ bánh để kỷ niệm một năm chung sống với Dung. Nhưng về đến nhà, mở cửa vào chàng không còn nghe tiếng hát quen thuộc đón chàng như thường lệ. Quang chạy ngay vào phòng Dung, nhìn pho tượng, chàng thấy Dung bây giờ chỉ là một khối thạch cao vô tri giác, khuôn mặt không còn sống động, ánh mắt hết long lanh và nụ cười đã cũng tắt hẳn. Chàng với tay lấy cuốn băng nhựa để vào máy, không còn nghe tiếng nói Dung cũng như tiếng hát thường lệ. Lấy cuốn băng nhựa ra, hàng chữ của Dung ghi trên đó vẫn còn, Quang thử lại một lần nữa bằng dàn máy ngoài phòng khách nhưng không còn một âm thanh nào khác, cuốn băng nhựa đã hoàn toàn bị xóa bỏ. Quang quay trở lại phòng Dung,
lên tiếng hỏi nhiều lần nhưng chung quanh chàng không một tiếng động.
***
Quang nằm vật ra giường thì điện thoại đổ chuông. Không buồn nhấc máy, vì đã từ lâu, điện thọai đối với chàng chỉ dùng để gọi mỗi khi cần thiết mà thôi, chưa lần nào nhấc máy trả lời kể từ ngày rời Thụy Điển. Nhưng điện thoại vẫn tiếp tục đổ chuông đến hơn năm phút, Quang miễn cưỡng nhấc lên:
- Alô, tôi nghe !
Đầu giây kia tiếng nói quen thuộc của Chi:
- Anh khỏe không, em đây.
Quang trả lời nhát gừng:
- Có gì cứ nói nhanh, anh đang bận.
Giọng Chi nhỏ nhẹ:
- Mời anh dùng cơm tối được không?
- Anh đang có chuyện buồn
- Em biết !
Quang định cúp máy, tiếng Chi úp mở ở đầu giây:
- Đi ăn cơm với em thì chuyện gì đâu cũng vào đó.
- Ô hay, chuyện riêng tư của anh, em xen vào làm gì?
- Để giải quyết cho anh !
Quang bực tức:
- Nói đi.
Chuyện dài lắm, anh không muốn đi ăn với em, nhưng muốn
nghe em nói bây giờ không?
- Được nhưng vắn tắt trong vài ba câu.
Đường giây kia Chi cười:
- Cô vợ ma bỏ rồi phải không?
Quang nghe đến lạnh xương sống, ngồi bật dậy hai tay run run giữ chặt ống nói, chàng giật mình không hiểu vì sao Chi biết được chuyện vừa xãy ra chưa đầy một tiếng đồng hồ.
Quang lắp bắp:
- Làm làm sao Chi biết?
- Hôm qua cô ta báo mộng cho em.
Quang hỏi dồn:
- Rồi sao nữa nói tiếp đi.
- Đêm qua em không ngủ được, đến gần sáng vừa chập chờn nửa tỉnh nửa mê, em thấy một người đàn bà, một cô gái thì đúng hơn, xưng tên là Thùy Dung đến ngồi ngay đầu giường ngỏ ý muốn nói chuyện với em. Cô cho hay nợ tình của cô ta đối với anh đã chấm dứt và yêu cầu em nối lại tình vợ chồng với anh để cô ta yên lòng ra đi. Chuyện đại khái có thế.
Quang năn nỉ:
-Em có thể cho anh biết rõ thêm?
- Em đã đặt nhiều câu hỏi và được trả lời đầy đủ. Cô ta cho biết yêu anh từ tuổi mười tám nhưng vì một chứng bệnh nan y không thể chung sống với anh và đã qua đời hai mươi ba năm nhưng hồn nàng vẫn theo sát bên anh như hình với bóng. Chuyện ly dị giữa anh và em do chính cô ta xếp đặt, xui khiến để hai đứa mình phải tạm chia tay trong một thời gian. Tiếp đó vì không muốn anh rơi vào tay một người khác, nàng đã phá đám việc giới thiệu cô Lan cho anh tại nhà ông bà Vinh. Dung đã xin lỗi em vì muốn dành anh làm của riêng để yêu và được yêu như lời nguyền. Bây giờ thì thời hạn đã hết cô Dung phải trở về với cát bụi.
- Tại sao Dung yêu cầu em trở lại đời sống vợ chồng với anh?
- Cô ta yêu anh, không muốn anh cô đơn trong lúc tuổi đã hai phần ba đời người. Cô Dung cho em hay, anh là một người chồng hiếm có trên đời, sức khỏe rất tốt không thể sống thiếu đàn bà.
- Chỉ yêu cầu đơn giản vậy thôi?
- Cô Dung hứa sẽ nhồi đắp hạnh phúc cho hai đứa mình, không còn quấy rối tạo ra những xung khắc cách biệt, nhàm chán trong việc sống chung, nhất là hạnh phúc gối chăn như trước kia nữa. Bây giờ anh nghĩ thế nào?
- Cho anh một thời gian.
Chi dứt khoát:
- Không còn chần chờ nữa, em sẽ trở lại sống với anh và chấp nhận sự hiện diện của Dung giữa chúng ta như một vị thần hộ mạng để bảo vệ tình yêu hai đứa mình.
Đinh Lâm Thanh
Một bài học hay
(Story of a Pencil & Eraser)
Bút chì: Con xin lỗi!
Cục tẩy: Vì cái gì thế, con yêu? Con có làm gì có lỗi đâu.
Bút chì: Con xin lỗi vì mẹ phải chịu đau đớn vì con. Bất cứ khi nào, con phạm phải sai lầm, mẹ lại luôn ở đó sửa sai giúp con. Nhưng khi mẹ làm điều đó, mẹ lại làm hại chính mình. Cứ mỗi lần như thế, mẹ lại ngày càng bé hơn.
Cục tẩy: Điều đó đúng! Nhưng bé ơi, mẹ chẳng phiền đâu. Con nhìn xem, mẹ được sinh ra để làm việc này mà. Mẹ được sinh ra để giúp con bất cứ khi nào con phạm phải sai lầm. Mặc dù mẹ biết ngày nào đó mẹ sẽ mất đi và con sẽ thay thế mẹ bằng người khác nhưng mẹ vẫn rất vui với những gì mẹ đã làm. Vậy nên, đừng lo lắng nữa nha! Mẹ ghét nhìn thấy con buồn lắm.
Tôi đã tìm thấy mẫu đối thoại nhiều xúc cảm này giữa cây Bút chì và Cục tẩy. Cha mẹ cũng giống như Cục tẩy này vậy và ngược lại con cái là những cây Bút chì. Họ luôn có mặt vì bọn trẻ và sửa chữa những sai lầm của chúng. Thỉnh thoảng vì điều đó, họ phải chịu đau đớn, họ trở nên "bé" đi ( già đi và thậm chí chết đi). Và dù cho bọn trẻ rồi sẽ tìm thấy một ai đó khác thay thế (vợ/chồng) cha mẹ vẫn rất hạnh phúc vì những gì họ đã làm cho con cái mình, hiển nhiên rất ghét phải nhìn thấy những báu vật quý giá của họ lo lắng hay phiền muộn.
"Suốt cuộc đời mình, tôi đã luôn là cây bút chì. Và điều đó làm tôi đau đớn khi nhìn thấy những cục tẩy - ba mẹ mình - lại bé đi mỗi ngày. Vì tôi biết một ngày nào đó, còn lại với tôi chỉ là những vụn tẩy và những kỷ niệm tôi có với họ."
Riêng dành tặng cho những bậc làm cha mẹ!
Xin cho Bút Chì biết viết cho đúng để cục Tẩy được kéo dài cuộc sống!
=======================================
ENGLISH VERSION: Story of a Pencil & Eraser
Pencil: I'm sorry.
Eraser: For what? You didn't do anything wrong.
Pencil: I'm sorry because you get hurt because of me. Whenever I made a mistake, you're always there to erase it. But as you make my mistakes vanish, you lose a part of yourself. You get smaller and smaller each time.
Eraser: That's true. But I don't really mind. You see, I was made to do this. I was made to help you whenever you do something wrong. Even though one day, I know I'll be gone and you'll replace me with a new one, I'm actually happy with my assigned job. So please, stop worrying. I hate seeing you sad dear.
I found this conversation between the pencil and the eraser very inspirational. Parents are like the ERASER & Children are the PENCIL They are always there for their children, cleaning up their mistakes. Sometimes along the way, they get hurt and become smaller/ older, and eventually pass on. Though their children will eventually find someone new (spouse) but parents are still happy with what they do for their children and will always hate seeing their precious ones worrying or sad. All my life, I've been the PENCIL. And it pains me to see the ERASER that is my parents getting smaller and smaller each day. For I know that one day, all that I'm left with would be eraser shavings and memories of what I used to have. LIFE LEARNING FROM THIS STORY
May THE ERASERS live longer & THE PENCILS WRITE BETTER
Tướng Lam Sơn: Tay chơi bi kịch trong quân đội Sài Gòn trước năm 1975
Những ai từng sống ở miền Nam trước năm 1975, nhất là những người lớn tuổi, hầu hết đều nghe danh, biết tiếng Chuẩn tướng Lam Sơn Phan Đình Thứ. Đeo lon tướng, từng làm Chỉ huy Trưởng Trường Sĩ quan Thủ Đức chuyên đào tạo nhân lực cho quân đội VNCH nhưng ông ta lại có cách hành xử như một tên giang hồ lỗ mãng.
Nóng nảy, nặng tính chất anh hùng cá nhân, viên chuẩn tướng này từng danh nổi như phao vì không hề biết sợ ai, kể cả thượng cấp hay cố vấn Mỹ.
Ông ta cũng là một sĩ quan cao cấp hiếm hoi của chế độ cũ không gây bè kết đảng, không phe phái để làm chỗ dựa tiến thân. Từng được nhiều sĩ quan trẻ khâm phục, tung hô, nhưng vì tính khí ngang tàng, kiêu bạc, về cuối đời viên tướng này lại tự rước vào thân nhiều oan nghiệt.
Một đời ngang tàng
Không ít người lầm tưởng, Lam Sơn là người gốc Huế. Lắm kẻ còn muốn chứng tỏ mình hiểu rộng, biết nhiều đã quả quyết ông được sinh ra ở Cam Lộ, Quảng Trị. Thực tế, Lam Sơn tên thật là Phan Đình Thứ sinh ngày 22/4/1916 tại Hà Tĩnh và lớn lên tại Huế. Vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông vào đời rất sớm, phải vừa tự học, vừa đi làm.
Năm 1941, tròn 25 tuổi, do cơm áo thúc bách, không có con đường lựa chọn nào khác hơn, ông đã tình nguyện gia nhập vào quân đội Liên Hiệp Pháp. Một năm sau (1942), nhu cầu chiến tranh trong Thế Chiến thứ 2 leo thang, người Pháp đưa ông sang Bắc Phi, theo học một khóa sĩ quan cấp tốc. Năm 1943, Lam Sơn ra trường với cấp hàm thiếu úy. Vào thời điểm này, mặt trận trên 3 châu lục Âu, Á, Phi giữa quân Đồng Minh và phe Trục đang diễn ra vô cùng khốc liệt, ông được điều động vào Liên Quân Anh - Pháp trực tiếp tham chiến tại hai chiến trường Tunisie và Algerie.
Với nét mặt khắc khổ và làn da ngăm đen, nếu không biết rõ, người bản xứ khó có thể nghĩ ra ông là một người Việt Nam, trong vai trò một sĩ quan quân đội. Tuy nhiên với tánh khí ngang tàng, gan dạ lại giỏi võ nghệ và tửu lượng khá cao, ông được nhìn nhận như một tay chơi nên dễ dàng chinh phục những người lính dưới quyền, cũng là con dân của những đất nước thuộc địa của hai mẫu quốc Anh, Pháp.
Ông có nhiều kỷ niệm sôi nổi của thời trai trẻ ở hai xứ sở này. Có lần chính miệng ông kể trong men rượu đã ngà say tại quán Cả Cần trên đường Cách Mạng (nay là đường Nguyễn Văn Trỗi). Lúc bấy giờ ông đóng quân tại Algérie.
Một hôm từ quán rượu trở về khi trời đã khuya. Một mình trên đường vắng, bỗng dưng sau lưng ông có tiếng chân của nhiều người đuổi theo, và một giọng hô vang :”Haut les mains!” (Giơ tay lên). Lam Sơn nhận ra tiếng tây của người này thuộc loại giả cầy, phát âm đặc sệt chất giọng Việt Nam. Cho dù vào thời điểm đó, tại Algerie cướp bóc xảy ra như rươi, nhưng ông vẫn tỉnh bơ quay lại nói như quát :”Main, main cái mả mẹ chúng mày.” Quả nhiên nhóm người này ôm chầm lấy ông mừng rỡ: ”Đồng hương, đồng hương chúng mày ơi!”.
Té ra đó là một nhóm thanh niên người Việt, bị người Pháp mộ phu đưa sang Tân Đảo làm đồn điền những năm đầu thế kỷ 20. Rồi sau đó bị đưa vào lính để đi đánh nhau ở Bắc Phi. Do đó, khi biết Lam Sơn là đồng bào của mình, nhóm người trên đã dốc hết túi, kéo ông vào một quán rượu uống cho tới sáng.
Nghe kể tới đây, một người trong bàn hỏi Lam Sơn: “Anh chửi họ như thế lỡ họ nổi nóng tấn công anh, một mình anh làm sao địch lại?” Lam Sơn trả lời: “Nếu chúng nó là thằng Tây, thằng Anh hay Algerie thì làm sao nó nghe được tiếng Việt mà nổi nóng. Còn như chúng nó là thằng Việt Nam thì chắc chắn là mừng đến rơi nước mắt khi nửa đêm gặp được đồng hương rất hiếm hoi ở cái nơi chết tiệt này.”
Tính cách của Lam Sơn là thế. Năm 1945, ông lên trung úy và được gởi sang Ấn Độ theo học một khóa biệt kích và tình báo ở New Delhi. Mãn khóa học này, ông được giao nhiệm vụ chỉ huy một toán biệt kích đa quốc gia, nhảy xuống Cánh Đồng Chum thuộc Vương quốc Lào để giải giới quân đội Nhật Hoàng.
Lam Sơn nói: “Thằng Anh tại Miến Điện, thằng Nhật ở Đông Dương, hay thằng Pháp tại Điện Biên Phủ, khi còn thắng thế thì oai phong lắm. Nhưng khi đã thua trận thì thằng nào cũng như thằng nấy, đa số cũng chỉ là những con gà nuốt giây thun mà thôi!” Tại Lào, ông được giữ chức vụ Quân trấn Trưởng thị xã Trấn Ninh .
Từ đó, Lam Sơn quen biết với một số sĩ quan người Việt đồng cấp hàm trung úy với ông như: Trần Thiệm Khiêm, Cao Văn Viên, Nguyễn Khánh…Cả ba nhân vật này về sau đều leo lên hàm đại tướng của quân lực VNCH khi Lam Sơn vẫn đì đẹt ở cấp đại tá.
Năm 1951, khi Quân đội Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Quân lực Việt Nam cộng hòa sau này) ra đời. Lam Sơn được chuyển sang với cấp bậc đại úy. Năm 1954, ông được thăng lên thiếu tá và được cử đi học khóa Trung đoàn Trưởng cùng với các đồng môn khác là Nguyễn Văn Thiệu (sau này trở thành Tổng thống), Nguyễn Chánh Thi (Trung tướng). Năm 1956, Lam Sơn mang hàm đại tá, làm Tư lệnh Sư đoàn Khinh chiến 16 và dậm chân ở cấp bậc đó đúng 16 năm với không biết bao nhiêu thăng trầm, vinh ít nhục nhiều.
Khi bị buộc phải ra khỏi quân đội với cấp hàm chuẩn tướng quá muộn màng (1972), có lần diễn viên điện ảnh Huy Cường (rất nổi tiếng trước 1975) là bạn nhậu thường trực của Lam Sơn, hỏi : “Sao anh mang đại tá lâu thế”? Ông trả lời: “Bọn Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Khánh, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang…biết tao khinh tụi nó nên ngán tao lắm, dễ gì lên tướng cho được. Hơn nữa, tao lại hai lần động vào mặt hai thằng Mỹ nên người Mỹ cũng dè chừng.”
Quả đúng như vậy. Năm 1958, Đại tá Lam Sơn đang theo học khóa Tham mưu cao cấp tại Fort Leawoth, Hoa Kỳ. Một sĩ quan huấn luyện viên người Mỹ nhìn thấy bảng tên ông đeo trên túi áo với hai chữ LamSon viết sát vào nhau. Anh ta tưởng thằng cha da vàng mũi tẹt này lấy tên Mỹ để nịnh hót quan thầy, bèn hỏi một cách xấc mé, đầy coi thường: “Ai chẳng biết mày là người Việt Nam, tại sao phải lấy tên Mỹ như vậy mà không thấy xấu hổ hay sao?” Lập tức, máu Lương Sơn Bạc nổi dậy, một cú đấm hết đà được Lam Sơn tung vào giữa mặt tên huấn luyện viên người Mỹ, kèm theo tiếng chửi thề và một một câu nói đầy phẩn nộ: “Thằng nhãi, tao đã từng chiến đấu khắp chiến trường Á, Phi, chứ không ru rú trong một xó xỉnh như mày. Tên Việt Nam của tao như thế nào thì tao viết như vậy, chứ không cần đặt tên Tây, tên Mỹ gì hết.”
Kết quả, Lam Sơn bị gọi lên văn phòng làm việc và phải xách hành lý rời khỏi đất Mỹ trong vòng 24 tiếng đồng hồ. Trở về Việt Nam, cho dù lúc bấy giờ ông Ngô Đình Diệm không ghét Lam Sơn, nhưng nghĩ rằng Lam Sơn thân Pháp và sợ mất lòng người Mỹ nên không dám cất nhắc.
Cái vết “không ưa Mỹ” và tính khí ngang tàng tiếp tục gây ảnh hưởng xấu cho ông đối với các chế độ chuyển tiếp tại miền Nam sau ngày triều đại Ngô Đình Diệm sụp đổ. Năm 1962, khi làm Chỉ huy Trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức, ông càng nổi tiếng vì đánh Cố vấn Trưởng người Mỹ.
Trong một buổi duyệt binh thường lệ diễn ra vào mỗi sáng thứ hai hàng tuần, viên Đại tá cố vấn Mỹ cùng với Đại tá Lam Sơn đi ngang qua toán hầu kỳ. Bất chợt, viên đại tá cố vấn dừng lại, đưa ngón tay út chọc vào đầu nòng súng khẩu Garant M1 của một học viên sĩ quan để kiễm tra vũ khí. Ngón tay của ông ta dính đầy dầu chùi súng.
Cho rằng, người học viên sĩ quan này không lau chùi vũ khí theo đúng quy định, ông đưa ngón tay út dính dầu quệt vào mặt anh ta. Đứng bên cạnh, Lam Sơn không nhịn nổi , ông cho viên cố vấn trưởng một cái tát nảy lửa và lời cảnh cáo: “Tôi tặng ông cái tát này để ông nhớ đời. Đừng bao giờ hành động như thế với bất cứ người lính nào. Nếu họ có lỗi, ông có thể phạt họ theo quân kỷ. Nghe chưa?”
Trong suốt cuộc đời binh nghiệp, Lam Sơn chỉ có ba lần được làm trưởng, nhưng toàn là những chức vụ hữu danh vô thực. Đó là năm 1960, ông làm Chỉ huy Trưởng Binh chủng Biệt động quân, nhưng trong tay không có quân vì tất cả các đơn vị đều thuộc quyền điều động của tư lệnh các quân đoàn và khu chiến thuật. Năm 1962, Lam Sơn làm Chỉ huy Trưởng Trường Bộ binh Thủ Đức, quyền lực chỉ thu hẹp trong phạm vi một quân trường.
Và năm 1964 được làm Tư lệnh lực lượng Đặc biệt, thực chất chỉ có Bộ Tư lệnh khung, một Tiểu đoàn 91 Biệt Cách, và mấy toán Delta thường xuyên hành quân xa, thêm Trung tâm Huấn luyện Đồng Bà Thìn ở Cam Ranh. Còn lại, các trại biên phòng đều do lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ thành lập, tuyển dụng và trả lương, cũng như trực tiếp chỉ huy các đại đội Dân sự chiến đấu trú phòng.
Suốt đời, Lam Sơn toàn giữ chức phó cho lớp đàn em của mình, theo kiểu ngồi chơi xơi nước “cho có tụ”, kéo dài đến năm 1973, ngày ông giã từ quân đội trong ô nhục. Lam Sơn đã lần lượt trải qua một loạt chức danh có chữ “Phó”: Năm 1967, Phó Tổng Giám đốc Cảnh Sát quốc gia. Năm 1968, Tổng cục Phó Chiến tranh chính trị.
Năm 1969-1970, Tư lệnh Phó Biệt Khu thủ đô, kiêm Phó Tổng Trấn Sài Gòn Gia Định. Năm 1972, Tư lệnh Phó Quân đoàn 3 và cũng trong năm 1972 ông mới được lên chuẩn tướng làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2 cho đến năm 1973 thì bị loại. Đó là bởi Dương Văn Minh cầm đầu phe quân đội, lật đổ chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm vào ngày 1/11/1963 để lên ngôi vua. Nhưng chỉ được một thời gian ngắn, vẻn vẹn 3 tháng.
Đến ngày 30/1/1964, Trung tướng râu dê Nguyễn Khánh, đang giữ chức vụ Tư lệnh Quân đoàn 2 ở Cao nguyên, bay về Sài Gòn, kết hợp với đảng Đại Việt, cánh thân Mỹ làm chỉnh lý, bắt giữ gần hết tay chân thân tín của Dương Văn Minh.
Với lý do: phe Dương Văn Minh thân Pháp, đang cố đưa miền Nam đi vào trung lập theo kế hoạch của Tổng thống Pháp De Gaulle. Thật ra, đây cũng là một cuộc đảo chính không có tiếng súng và từ giây phút đó, mọi quyền hành đều nằm trong tay Nguyễn Khánh. Ông ta chế ra chức danh Ủy ban Lãnh đạo quốc gia, tự phong mình làm Chủ tịch (Quốc trưởng) và Ủy ban Hành pháp Trung ương do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Chủ tịch (Thủ tướng).
Để loại bỏ bớt số tướng lĩnh già không theo mình, Nguyễn Khánh lại chế ra cấp hàm chuẩn cướng, phong cho hàng loạt đại tá, trong đó có Lam Sơn, nhằm lôi kéo và thu phục họ. Trước khi ký quyết định này, Nguyễn Khánh cho người đến thăm dò từng đối tượng để tìm hiểu lòng dạ từng người.
Khi được hỏi ý kiến, Lam Sơn đã huỵch toẹt: “Từ trước đến nay, đại tá lên thẳng thiếu tướng chứ quân đội làm gì có cái lon chuẩn tướng. Hơn nữa, cái quyết định thăng cấp này lại do Nguyễn Khánh ký thì chẳng có gì vinh dự.”
Thế là trong danh sách những người lên chuẩn tướng chẳng thấy có tên Lam Sơn - Phan Đình Thứ. Tháng 2/1965, Nguyễn Khánh bị hạ bệ phải chấp nhận đi làm đại sứ lưu động, một hình thức bị trục xuất ra khỏi Việt Nam. Nhưng Đại tá Lam Sơn vẫn cứ là đại tá bởi đàn em tín cẩn của Nguyễn Khánh là Nguyễn Cao Kỳ còn đó, và đang làm chủ vũ đài chính trị Miền Nam.
Dưới triều đại Nguyễn Văn Thiệu, trong mắt ông ta, Lam Sơn là con người nặng chất anh hùng cá nhân một cách vô thưởng, vô phạt. Nhưng cái tính ngang tàng đó cũng làm cho Thiệu và Cố vấn An ninh phủ Tổng thống Đặng Văn Quang ngán, nên những tháng năm còn lại trong quân đội, Lam Sơn chỉ được giữ những chức vụ trời ơi đất hỡi.
Vì thế mà ông là một vị tướng nghèo, suốt đời mang hai cái tật lớn là nát rượu và ham gái. Chính hai cái tật này đã dẫn dắt ông vào con đường oan nghiệt, phần nào đã làm tổn thương đến cuộc đời ngang tàng của ông với những huyền thoại từng được nhiều người quý mến.
Cuối đời oan nghiệt
Cuối cùng, năm 1972, Lam Sơn - Phan Đình Thứ cũng được Nguyễn Văn Thiệu thăng chuẩn tướng một cách muộn màng, sau 16 năm mang hàm đại tá. Oái oăm thay, ông lại bị điều lên làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2, dưới quyền của Quế Tướng Công – Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, một kẻ thuộc hàng đàn em xa lắc xa lơ của ông.
Bởi vì, năm 1956, khi Lam Sơn đã mang hàm đại tá thì Nguyễn Văn Toàn chỉ mới là một anh trung úy. Rất nhiều sĩ quan cao cấp làm việc tại Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 thời đó xác nhận, dù là “sếp”, nhưng Nguyễn Văn Toàn rất ngán Lam Sơn, ít khi dám ngồi chung với nhau, nhất là trong tiệc rượu, ngoại trừ công việc và những lúc họp hành. Toàn ngán bị Lam Sơn nổi chứng bất tử, chửi thẳng vào mặt không biết lúc nào.

Lam Sơn là kỷ lục gia duy nhất của Quân lực Việt Nam cộng hòa khi từng nhận các huy chương: Bắc Đẩu Bội Tinh của Pháp, Chiến Dịch Bội Tinh Pháp giành cho các sĩ quan tham dự thế chiến thứ hai, huy chương Bảo Vệ Nước Pháp của Tổng thống De Gaulle. Huy chương Bạch Tượng do Quốc Vương Lào gắn và huy chương Silver Star do tướng Mỹ Westmoreland gắn. Đó là chưa kể đến một đống huy chương Việt Nam mà mỗi lần nhắc đến, Lam Sơn thường nói : “Mỗi tấm huy chương đều có mặt trái của nó”.
Vào năm 1973, khi làm Tư lệnh Phó Quân đoàn 2, Lam Sơn được cấp một tư dinh khá tiện nghi ở Pleiku. Đây là nơi ông ta thường xuyên tổ chức những cuộc nhậu quên trời, quên đất với một số bằng hữu đủ mọi thành phần trong xã hội, nhưng phải là tay có tửu lượng cao và biết hát hò, ngâm vịnh. Tuy là dân võ biền, nhưng Lam Sơn lại rất thích thi phú và ca hát. Ông hát không hay, nhưng cũng không đến nỗi tệ và rất thích hát. Để trông coi tư dinh này, Lam Sơn giao hẳn cho vợ chồng viên quản gia là một người thượng sĩ trung thành, từng theo ông trên nhiều bước thăng trầm.
Không có ai mô tả nhan sắc người vợ của viên thượng sĩ quản gia này như thế nào, dư luận chỉ xôn xao rằng những lúc viên quản gia vắng nhà, chuẩn tướng Lam Sơn đã nhiều lần ăn ở với vợ của ông ta và đã có lần bị đệ tử bắt quả tang. Thế nhưng, mọi chuyện đều được đôi bên dàn xếp ổn thỏa, tưởng như đôi gian phu, dâm phụ đó sẽ chấm dứt mọi quan hệ bất chính.
Dĩ nhiên, người quản gia trung thành kia phải cắn răng chấp nhận khổ đau trong im lặng, không chỉ vì muốn giữ trọn ân tình mà còn giữ trọn thân phận của kẻ thấp cổ, bé miệng. Vậy mà đến khi biển êm, sóng lặng, men rượu đã khiến cho Lam Sơn không làm chủ được mình và ông đã tái phạm.
Lần này, viên quản gia không còn nhẫn nhục được nữa, ông xách súng vào gặp Lam Sơn và bắt đầu to tiếng, nhưng vẫn chưa dám xiết cò. Trước tình thế đó, Lam Sơn đã nhanh tay hơn, ông vội rút khẩu colt 45 mang sẵn trong người, nhả đạn vào ngực viên quản gia. Gã đệ tử trung thành, khốn khổ của một “tướng quân” nổi tiếng “giang hồ”, nhưng cuối cùng đã ngã xuống sàn nhà trên vũng máu lai láng.
Ngay sau đó, Lam Sơn không bị bắt, nhưng được mời đến Quân cảnh tư pháp để lấy lời khai rồi bị câu lưu về tội giết người. Để giữ danh dự cho quân đội, trong biên bản của Quân cảnh tư pháp, không hề có dòng nào đề cập đến mối quan hệ tội lỗi giữa Lam Sơn với vợ viên quản gia. Người ta chỉ thấy biên bản này mô tả người quản gia vô kỷ luật, rượu chè be bét, bị ma men dẫn đường, đã mang vũ khí, đột nhập vào phòng riêng của Lam Sơn, toan chơi nổi, lấy tiếng, buộc lòng Lam Sơn phải nổ súng để tự vệ một cách vô cùng chính đáng.
Ra khỏi quân đội trong nỗi ê chề, Lam Sơn xuống cấp nghiêm trọng. Ông trang phục lôi thôi, thường là chiếc quần tây nhăn nhó, chiếc áo ca rô ngắn tay ít khi được bỏ trong quần lê đôi dép da lang thang khắp các quán rượu.
Ông cũng không có tiền nhưng khi biết ông là cựu Chuẩn tướng Lam Sơn, phần lớn chủ quán đều cho uống “chùa”. Rất nhiều sĩ quan thuộc nhiều binh chủng, nhất là các binh chủng rằn ri, đi phép về Sài Gòn, vì mến mộ một thời ngang dọc của đàn anh, nên nghe ông đang ngồi ở quán rượu nào là họ tìm tới đó để được mời “đại ca” một chầu túy lúy càn khôn.
Thời điểm này, Lam Sơn có hai người bạn chí cốt, cũng là những tay nát rượu, thường xuyên xuất hiện bên cạnh ông để ăn theo những chầu nhậu hoành tráng. Cho dù bản thân ông luôn bị viêm túi, nhưng cái món rượu chè thì luôn được thập phương cống hỷ dồi dào.
Người thứ nhất là Hoàng Tùng, cựu Đại úy Biệt động quân bị mù cả hai mắt, nhưng luôn mặc đồ rằn ri, mang giày bốt và đeo súng lục. Ông này gốc gác Quảng Trị, có giọng hát khá hay .
Trước khi hát, thường có đôi lời phi lộ, kể lể về thân phận thương phế binh, bị vợ con ruồng bỏ rất bi thảm của mình đã khiến nhiều em “sến” rơi lệ , xót thương. Người thứ hai là diễn viên điện ảnh Huy Cường, anh ta là một trong số ít nam tài tử rất nổi tiếng trước 1975. Phải tội dính vào ma túy nên mượn rượu để cai, riết rồi thành nghiện rượu.
Lúc đầu, không ít quán rượu, lấy làm tự hào và vui mừng khi được đón tiếp bộ ba đặc biệt này. Hơn nữa, sự có mặt của họ cũng làm cho quán thêm đông, rất nhiều khách vì ái mộ họ mà đến. Một số khách còn vui vẻ bỏ tiền ra trả những chầu nhậu mát trời ông địa để được nghe Lam Sơn chửi đổng cho sướng lỗ tai.
Rượu vào là lời ra, Lam Sơn hết chửi Mỹ, đến chửi Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm, Cao Văn Viên, Đặng Văn Quang, Hoàng Xuân Lãm, Nguyễn Văn Toàn…Trong mắt ông đó là một lũ ăn hại. Thái độ khinh miệt này của Lam Sơn đều được đám an ninh Phủ Tổng thống ghi nhận, báo về cho Thiệu, nhưng Thiệu cũng chịu bó tay bởi chẳng biết phải đối phó cách nào trước một con người không còn gì để mất.
Lúc bấy giờ, nhà văn Nguyên Vũ đang tại ngũ với cấp bậc đại úy, có mấy lần ngồi nhậu với Lam Sơn, đã lớn tiếng phụ họa, phê phán Nguyễn Văn Thiệu và đám bộ hạ tham nhũng của ông ta, lập tức bị đày ra vùng 1 và bị cô lập trên núi Hòa Khánh. Dần dà, số người hào phóng nói trên không còn tìm đến quán rượu với Lam Sơn và các chủ quán cũng không còn mặn mà với ông nữa.
Không có tiền, bộ ba Lam Sơn - Hoàng Tùng - Huy Cường phải ghi sổ hết quán này đến quán khác. Riết rồi không còn nơi nào chịu cho họ thiếu nợ, bởi nợ cũ cứ chồng chất, chẳng biết bao giờ mới thu được. Từ đó, người ta thấy Lam Sơn hiếm khi xuất hiện ở những quán rượu sang trọng, chỉ còn vãng lai ở những quán nhậu bình dân.

Ngày 30/4/1975 đến, Lam Sơn cũng phải khăn gói lên đường đi cải tạo như tất cả những quan chức của chế độ cũ khác. Ông bị đưa vào Trại Hà Nam Ninh ở ngoài Bắc và trở thành một trại viên “mồ côi” bởi không có người thăm nuôi.

Ở trong trại, những lúc rỗi rảnh, Lam Sơn thường thư giãn bằng cách ca hát. Có một tấm hình khá thú vị, chụp ban tứ ca gồm: Cựu Thiếu tướng Lê Minh Đão (Tư lệnh sư đoàn 18 - đệm ghi ta) bên cạnh các “ca sĩ” cựu Thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham mưu Trưởng Liên quân), cựu Thiếu tướng Lý Tòng Bá (Tư lệnh Sư đoàn 25, tất nhiên, tất cả đều của chế độ cũ) và Lam Sơn đang ngồi hát khi ở Trại Hà Nam Ninh.
Sau ngày được trở về, Lam Sơn được chính phủ Hoa Kỳ đồng ý cho định cư tại Mỹ theo diện H.O nhưng Lam Sơn đã từ chối. Có lẽ ông không thích người Mỹ và một phần cũng muốn ở lại quê hương. Một thời gian sau, thông qua người thân trong gia đình ông, một người bạn Pháp từng sát vai chiến đấu với ông tại chiến trường Tunisie là Tướng nhảy dù Guy Simon đã trình bày với Bộ Tư lệnh Nhảy dù, Bộ Ngoại giao và Bộ Di trú Pháp về trường hợp một cựu sĩ quan nhảy dù Pháp tên là Lam Son - Phan Đình Thứ và Tướng Simon đã đứng ra bảo lãnh cho cả gia đình Lam Sơn sang định cư tại Pháp. Chính phủ Pháp đồng ý và Lam Sơn đã sang Pháp năm 1989.
Lam Sơn qua đời ngày 23/7/2002. Và ước nguyện cuối cùng của ông là đúng 10 năm sau ngày mất, con cháu phải đem hài cốt của ông hỏa thiêu và đem nắm tro tàn về Việt Nam để ông được mãi mãi yên nghĩ giữa lòng đất mẹ.
Đoàn Thiên Lý

No comments:

Post a Comment