Tuesday, October 25, 2011

Bài viết hay(194)


http://files.myopera.com/Snowboydl/blog/0i-love-you.jpgHãy Làm Khi Có Thể...

Bạn có từng nghĩ rằng một ngày nào đó những người thương của bạn sẽ không còn sống bên bạn nữa không? Chúng ta không một ai có thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai. Thậm chí chúng ta cũng không thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào một giờ sắp tới đối với những người thân của chúng ta, hay thậm chí đối với bản thân mình.

Có thể bạn ta mới đến thăm ta ngày hôm qua, mà hôm nay ta được báo tin là người đó đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Nhận được tin ấy mà lòng ta bồi hồi xúc động, và ta dường như không thể tin vào những gì mà tai mình vừa mới nghe thấy. Ta nói với người đến báo tin với ta rằng:“ Tôi mới nói chuyện với anh ấy ngày hôm qua mà.” hay “ Chị ấy mới đến thăm tôi và còn tặng quà cho tôi nữa mà.”. Nhưng sự thật vẫn là sự thật, người bạn ấy của ta đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Và có rất nhiều, rất nhiều trường hợp tương tự như thế. Người ta mới thấy đó nhưng giờ đây đã không còn nữa.
Khi chúng ta giao tiếp, cư xử với người xung quanh với ý thức rằng có thể ngày mai ta sẽ không có cơ hội nghe được giọng nói của người đó nữa. Có thể ngày mai ta sẽ không còn thấy được nụ cười tươi trên khuôn mặt người đó nữa, thì tự nhiên ta sẽ trân quí sự có mặt của người đó, và ta sẽ không nỡ nói hay làm những gì có thể gây tổn thương cho người đó.
Người đó có thể là ba mẹ chúng ta. Người đó có thể là chồng hay là vợ của chúng ta, và người đó cũng có thể là con cái chúng ta… Chúng ta sống với ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người càng sâu sắc, thì cách sống của chúng ta, cách hành xử của chúng ta cũng sâu sắc và yêu thương hơn.
Mỗi người trong chúng ta hay có khuynh hướng nghĩ rằng những người thương của chúng ta sẽ sống với chúng ta hoài, sẽ sống với chúng ta mãi. Chúng ta ít khi nào nhớ rằng có thể chỉ sau một đêm thôi thì ta sẽ mãi mãi không còn gặp người ấy nữa. Ta muốn nói những lời xin lỗi của ta với người ấy, ta muốn nói lòng biết ơn của ta với người ấy hay ta muốn thể hiện tình thương của mình cho người ấy - nhưng đã trễ rồi. Người đó đã không thể nghe, và mãi mãi sẽ không thể nghe những gì ta muốn nói, dù chỉ một lời.
Vì vậy bạn hãy vui lên đi, bạn hãy cười tươi lên đi khi bạn vẫn có ba, có mẹ còn sống bên bạn. Bạn hãy hạnh phúc lên đi khi những người thương của bạn vẫn còn đó cho bạn. Và bạn hãy can đảm để nói cho người thương của bạn những gì sâu kín nhất trong lòng của mình. Vì có thể bạn sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa nếu bạn không nói ra điều ấy. Và bạn hãy tha thứ cho tất cả những ai đã từng làm hại bạn, làm tổn thương bạn vì có thể ngày mai bạn cũng sẽ không còn có mặt trên cõi đời này nữa.
Điều mà tôi khám phá ra trong cuộc đời của mình cho đến tận bây giờ, điều mà làm cho tôi hạnh phúc đó là tình thương, sự tha thứ, bao dung. Có thể tôi thực tập yêu thương còn kém, có thể sự tha thứ, bao dung trong tôi còn kém, nhưng đó là con đường mà tôi nguyện sẽ đi trên ấy mỗi ngày. Tôi tự nói với chính mình:“ Hãy thương yêu khi có thể, hãy tha thứ, bao dung khi có thể, bởi vì chỉ một giây phút thôi thì những điều này sẽ trở thành không thể.”
Và điều mà làm cho tôi hạnh phúc nhất không có gì khác hơn sau khi bạn đọc những dòng chữ này, thì sự thương yêu, tha thứ, bao dung trong bạn được biểu hiện. Và bạn đến nói với ba bạn, mẹ bạn, những người thương của bạn rằng bạn yêu họ lắm. Rằng ba mẹ vẫn còn sống bên bạn là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời bạn. Rằng bạn sẽ không cần gì hơn những điều như vậy. Rồi nụ cười hạnh phúc sẽ nở trên môi của bạn và khi đó bạn cũng biết rằng nụ cười hạnh phúc ấy cũng đang nở trên môi của tôi.

http://sankhauvietnam.com.vn/Uploaded/nguyenquanghung/Nguyen%20Hue.jpgAnh Hùng Nước Nam
Tôi chọn vua Quang Trung, tức Nguyễn Huệ. Lý do là vì ông ấy giỏi võ và đánh thắng năm mươi vạn quân Thanh tại trận Đống Đa. Trong lớp tôi có tới gần một nửa cũng chọn Nguyễn Huệ. Phần còn lại chọn Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng, một vài đứa chọn Ngô Quyền, Trần Bình Trọng, Lê Lợi, Lê Lai, Trần Quốc Toản, Lý Thường Kiệt.
Sau khi du học Pháp về lôi hỏi một số giáo viên tiểu học về bài luận. Họ cho biết năm nào cũng ra đề tài này và Nguyễn Huệ luôn luôn về nhất khá xa, kế tiếp là Trần Hưng Đạo, Đinh Tiên Hoàng. Thỉnh thoảng có Nguyễn Trãi, Ngô Quyền, Trần Bình Trọng, Nguyễn Công Trứ.
Nói chung ba ngôi vị đầu vẫn thế, ở đoạn cuối bảng danh dự đã bắt đầu xuất hiện những nhân vật mới có thành tích về văn hóa. Nhưng mẫu số chung giữa các vị anh hùng này vẫn không đỗi: tất cả đều là võ tướng. Nguyễn Trãi tuy xuất thân là nho sinh nhưng đã cầm quân đi đánh giặc và làm quân sư (ở đây xin chú thích chữ quân sư thường được hiểu trong ngôn ngữ dân gian là người bày mưu kế nhưng thực ra nó có nghĩa là tư lệnh, các quân sư được ra lệnh cho các tướng). Nguyễn Công Trứ tuy có sự nghiệp văn chương lớn, nhưng cũng là võ tướng, cầm quân đánh dẹp khắp nơi, từng là Bình Tây Đại Tướng, ông được coi là người văn võ kiêm toàn. Tuyệt đối kháng thấy Nguyễn Du, Lê Quí Đôn, Chu Văn An, Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Phan Huy Chú. Như thế anh hùng của Việt nam bắt buộc phải là võ tướng, và hơn thế nữa phải thắng trận. Trần Bình Trọng, Lê Lai là những võ tướng được tôn vinh vì lòng can đảm, nhưng dần dần lọt sổ. Trường hợp Nguyễn Trãi có điều đáng nói. Ông giúp Lê Lợi, cầm quân đánh giặc giành lại được độc lập cho nước ta, nhưng gặp nạn ở cuối đời, bị tru di tam tộc, về sau mới được Lê Thánh Tông phục hồi danh dự. Sự oan nghiệt đó có lẽ đã không khiến ông xuất hiện một cách lộng lẫy dưới con mắt của trẻ thơ.
Trẻ thơ là tấm gương soi tâm hồn của một dân tộc. Từ những bài luận của học sinh tiểu học, phải suy ra rằng người Việt nam có tâm lý tôn thờ bạo lực rất mạnh. Bạo lực càng nhiều, công đức càng cao.
Nguyền Huệ xuất thân là tướng cướp, nhờ liên hệ với quân Thượng và quân gốc Chiêm Thành và đám cướp biên người Tàu mà mạnh dần lên, rồi nhờ tài dùng binh mà lên làm vua. Ông là người đặc biệt hung tợn và hiếu sát. Sự nghiệp của ông là những trận đánh khốc liệt trong đó người Việt nam tàn sát lẫn nhau; chỉ có hai ngoại lệ là một trận đánh thắng quân Xiêm và một trận Đống Đa, trong đó ông phá tan quân Thanh. Trong một bài sau tôi sẽ trở lại với nhân vật Nguyễn Huệ và trận Đống Đa. ở đây tôi chỉ xin đưa một nhận định tạm thời. Nếu nhìn một cách bình tĩnh thì công lao của Nguyễn Huệ thực ra không thấm tháp gì so với những tàn phá và chết chóc mà ông đã gây ra cho đất nước. Việc ông được tôn sùng quá đáng tố giác một tâm lý kính sợ bạo lực của người Việt nam; việc người ta tô vẽ cho ông nhưng đức tính mà ông hoàn toàn không có như giỏi trị nước an dân, có lòng nhân ái, v. v... chứng tỏ rằng ta tôn sùng bạo lực tới độ ta sẵn sàng làm đẹp nó.
Hình như ta còn cho rằng chỉ có những chiến công mới là đáng kể, những gì đạt được phải đạt bằng bạo lực mới là hay. Chu Văn An đã viết ra nhiều sách, Lê Quí Đôn có công làm ra bộ tự điển bách khoa đầu tiên, Lê Văn Hưu mở đầu cho khoa sử ở nước ta, Ngô Sĩ Liên là người đầu tiên biết nhận định lịch sử một cách chính xác, có thể coi như nhà lý luận chính trị đầu tiên của nước ta, Phan Huy Chú là tác giả công trình biên khảo lớn nhất. Tuy vậy, tất cả đều không phải là những anh hùng dân tộc. Nguyễn Du chỉ được biết tới như một nhà thơ lớn.
Không những người cộng sản, mà cả nhưng người chống cộng, đêuf nghĩ rằng thành tích to lớn nhất và cũng là nền tảng của sự chính đáng của đảng cộng sản là đã đánh Pháp, đánh Mỹ, đánh phe quốc gia. Nhưng nếu không đánh thì sao? Nếu biết vận dụng trí tuệ để tranh đấu bất bạo động chắc chắn chúng ta cũng đã được độc lập và thống nhất không muộn hơn, mà lại không phải trải qua những đỗ vỡ trầm trọng. Ta tôn thờ bạo lực ngay cả khi bạo lực có hại.
Người cộng sản không có độc quyền tôn thờ bạo lực. Việt nam Quốc Dân Đảng dù không có một hy vọng mảy may nào thắng được người Pháp bằng bạo lực vẫn chủ trương dùng con đường bạo lực ngay từ đầu. Quyết định khởi nghĩa năm 1930 chỉ là một quyết định tự sát.
Sự hấp dẫn của bạo lực đối với chúng ta quá mạnh. Mạnh đến nỗi ta không những chấp nhận mà còn mơ ước bạo lực. Khi không có bạo lực, ta phải cố bịa đặt để tưởng tượng rằng mình có bạo lực. Các tổ chức chống cộng hải ngoại trước đây đều đồng thanh chủ trương phải giải phóng quê hương bằng bạo lực, dù hoàn toàn không có phương tiện của bạo lực.
Ông Võ Đại Tôn có lực lượng gì đâu, ông chỉ cùng với hai ba người qua biên giới Lào chụp ảnh để gây ấn tượng trong cộng đồng người tị nạn. Ông Hoàng Cơ Minh lập một doanh trại ở Thái Lan rồi bảo đó là chiến khu quốc nội. Trách họ là bịp bợm có thể đúng nhưng quả là quá dễ và, theo tôi, không công bình. Họ phải làm như thế để tranh thủ sự ủng hộ. Giả thử nếu ông Võ Đại Tôn không tạo cái ảo tưởng là có bạo lực thì ông cũng không khác nhiều người hoạt động khác. Nếu ông Hoàng Cơ Minh không lập chiến khu thì liệu ông có được sự ủng hộ mạnh mẽ đến thế không?
Sự thực ra cũng không thể trách họ là bịp bợm. Tôi sang Pháp lúc ông Hoàng Cơ Minh đang nỗi như cồn. Tôi đã nói chuyện với rất nhiều người, và không ai, kể cả những người ủng hộ ông, tin là ông có chiến khu thực sự đâu. Vậy làm sao có thể nói là đã bị lừa gạt? Nói như vậy là không thành thực. Sở dĩ người ta ủng hộ ông là vì ông đã có công tạo ra một ảo tưởng bạo lực, và ảo tưởng đó là giấc mơ của đa số người tị nạn thời đó. Họ đóng góp cho ông Hoàng Cơ Minh vì ông cho phép họ nuôi dưỡng giấc mơ đó. Họ đóng góp cho ông để ông diễn tuồng kháng chiến võ trang cho họ xem.
Ông Võ Đại Tôn đã phải trải qua mười năm tù tội. Ông Hoàng Cơ Minh đã thiệt mạng. Nhiều người khác đang mòn mỏi trong các nhà tù. Họ là những nạn nhân đáng thương của tâm lý tôn sùng bạo lực của người Việt nam.
Tôi không bao giờ tán thành bạo lực, và hoàn toàn không tán thành đường lối đấu tranh của họ. Nhưng đối với họ tôi luôn luôn có một tình cảm bùi ngùi, thương xót. Điều đáng trách là tâm lý tôn sùng bạo lực của con người Việt nam.
Nhóm Thông Luận đã bị phản đối dữ dội vì chủ trương từ bỏ bạo lực, và do đó đụng chạm tới một sự sùng ái lâu đời. Một dân tộc không nhiều thì ít cũng xứng đáng với số phận của mình.
Sở dĩ ngày hôm nay đất nước chúng ta kiệt quệ như thế này cũng vì cái tâm lý tôn sùng bạo lực ấy. Tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Chúng ta tôn sùng bạo lực và ngạc nhiên thấy mình là nạn nhân của bạo lực.Nguyễn Gia Kiểng
bun-oc-to
Bún ốc anh Bảo
Người ta đồn anh Bảo bán bún ốc chợ Nhỏ, Phú Nhuận pê-đê.

Lời đồn ấy, có dễ, làm gánh bún của anh thêm phần hấp dẫn. Đàn bà con gái quây quanh anh mỗi sáng đã đành, đàn ông con trai cũng nườm nượp chen nhau vào ăn, không hôm nào không phải chờ ghế. Miếng ăn là miếng tồi tàn, chuyện giành ghế giựt chỗ xảy ra coi như đương nhiên, anh Bảo chẳng buồn can thiệp nữa. Quyết liệt nhất là những hôm mưa to gió lớn, đói bụng hơn, thèm ấm hơn nên hung dữ hơn, chỉ vì một tô bún, người ta văng tục hay đục nhau sặc cạch như không.

Gánh bún của anh Bảo nhỏ thôi. Một góc hàng hiên ngồi nhờ nhà bán than đầu ngõ chợ. Một manh bạt nhựa che mưa chắn nắng, năm này qua tháng nọ, chưa kịp ráo khô với ẩm ướt cũ đã oằn lòng hứng đầm đìa mới, phạc phờ thâm kim. Một chiếc bàn dài phủ miếng ny-lông bông xanh bông tím là bông, ơi là bông. «Giấy rách phải giữ lấy lề, có tấm khăn giải cho nó lịch sự», anh Bảo, có lần không hiểu vì duyên do gì, đã thở ra một câu như thế. Một lon ghi-gô dùng làm ống đũa, đũa tre đũa gỗ chung đụng nhau, trắng có, đen có, nâu có, vàng có, trơn có, chạm có, vẽ có, sơn có, lổn ngổn ngắn dài, khách ăn phải tự so lấy, và, vẻ như, ấy là một cái thú, một bổn phận, một đóng góp trong lúc chờ đợi Người Chủ Lễ Bún soạn sửa những lệ bộ khác...

Cạnh ống đũa: một thau ớt xào. Anh Bảo xào ớt khéo lạ lùng, cay đậm và thơm sâu chứ không khét dầu, càng «không hời hợt thứ cay hỗn, cay giả mạo, phù phiếm!» Lời anh nói về ớt anh như thế, vừa tự hào vừa ra chiều... cay đắng (?).

Nhiều người bảo mê bún anh chỉ vì khoản ớt này. Nhưng đừng có dại đi hỏi anh xào làm sao, gặp lúc ươn người, anh mắng cho không kịp vuốt mặt, đại khái «đồ con nhà táo tợn vô duyên, hết chuyện hỏi rồi hay sao mà đi hỏi cái chuyện thầm kín thâm sâu của người ta (!)», còn như may mắn, thì sẽ được anh lịch sà lịch sự nhỏ nha nhỏ nhẻ: «A, cái đấy là bí mật gia truyền».

Ngoài ớt, anh còn bày hũ gia keo đựng nước mắm pha gừng già đâm nhuyễn, lọ mắm tôm quấy sệt, bọt bung trắng xóa bãi bờ, và thố sành sóng sánh nước me dầm. Thố sành này bị lở một bên quai. Cũng như mấy cái bát chiết yêu của anh, sứt môi nẻ miệng lung tung mà anh không thèm thay bát mới. Chẳng ai thắc mắc, người ta cứ và, cứ húp, cứ xì xà xì xụp vô tư. Trừ lần kia, có cô tiểu thư ra dáng con nhà gia giáo nhăn nhăn cái mặt phàn nàn chuyện bát mẻ khiến anh Bảo tự ái, xua tay hờn: «Hàng tôi có thế thôi, cô ăn giúp». Cô gái thấy quần chúng nhân dân nhòm ngó mình dữ quá, đâm thẹn, bưng bát lên, lua đại lua đến. Tội nghiệp!

Chiếm nhiều chỗ trên bàn nhất là cái nia tròn to cỡ khuỷnh tay ôm, ngun ngút xanh um những rau muống chẻ, lá quế, húng chó, kinh giới, giá đỗ, bẹ chuối bào và xà lách thái sợi thuốc lào nhập nhằng độn lận. Bên Tây này, mỗi lần nấu nồi bún, khổ tâm nhất chính là khoản rau. Phiên phiến đi thì cũng được thôi, như cuộc đời vậy, bao nhiêu mơ ước để cho đời đáng sống, mà không được thì cũng đành thôi, biết sao. Thì cũng đành thôi, chỉ xà lách với lá menthe, thay vì. Nhưng như thế là chắt bóp con mắt, là cụp hứng cái lưỡi, là nản chí cái răng, là hãm phanh cái bụng. Con mắt không hưng phấn, bao tử tất nhiên rụng rơi ham muốn. Mà, cứ nhất định đa mang thì mất toi như chơi cả nửa ngày rong ruổi từ Paris Store qua Tang Frères, từ Thanh Bình qua Chợ Lớn, gom góp cho đủ các loại rau thơm, của phải tội, rẻ gì cho cam.

Quanh bàn, anh Bảo đặt độ mươi ghế đẩu thâm thấp đóng bằng gỗ tạp, xinh vừa mông con gái mới lớn. (Lắm bà mâm đã năm bảy lửa, ngồi ụp lên, chẳng còn thấy cái ghế đâu nữa!)

Anh Bảo ngồi đằng sau bàn lễ, uy nghi đường bệ trên chiếc ghế có lưng tựa, tay vịn, trông như ngai vua. Bên phải anh là thùng nước lèo mưa nắng hai mùa đều nóng bỏng. Anh chăm lửa luôn. Dáng anh cúi xuống trông lò, khi đẩy thêm khúc củi, khi cời than giữ lửa, cung cúc, tận tụy như bà mẹ kỹ tính chải chuốt cho cô con gái nhỏ. Bếp anh kê bằng mấy hòn gạch ống, đun củi khô nên nỏ lửa vô cùng. Ngày mưa, ghé hàng anh, vớ được cái ghế rồi chỉ muốn ngồi mãi để hít, để hơ, hưởng hơi ấm từ bếp lên nồi, từ nồi qua tô, từ tô vào miệng, xuống bụng, chan hoà lòng dạ.

Nhưng vào mùa nóng, trông anh Bảo đến khổ. Mồ hôi mẹ mồ hôi con cứ là rưng rưng. Anh ưa mặc áo thun ba lỗ, nước mặn anh lăn tới đâu, tôi dò theo tới đó, canh chừng xem cái dòng sống động kia liệu có chảy quá đà, anh ngăn không kịp, rơi tòm ngay vào tô bún của tôi hay không...

Ấy là cứ khéo lo con bò trắng răng, chứ anh Bảo tỏ vẻ ý thức rất cao về thân thể mình. Việc chặm quẹt mồ hôi đối với anh cũng giống như nàng thiếu nữ mới lớn vén tóc làm duyên. Bàn tay anh tuy đen đủi nhưng nhu mì, lúc vội vàng quẹt ngang hay khi thong thả rút chiếc khăn mùi soa bằng vải cô-tông xanh lơ kẻ sọc đậm từ trong túi quần ra chặm chặm, mấy ngón tay đều cong vênh khả ái. Cử chỉ mềm dịu ấy, có dễ, là một trong những dấu hiệu khiến người ta tủm tỉm cười hay nháy mắt với nhau, để củng cố cái tin đồn. Anh Bảo bán bún ốc chợ Nhỏ, Phú Nhuận bóng lại cái: là thật.

Bàn tay năm ngón linh hoạt, thoắt gạt ngang dòng mồ hôi ưỡn ẹo trên thái dương bên phải lại thoắt thò qua thúng bún tươi rỡ bên hông trái. Cái thúng rộng lòng, đan bằng nan tre, đáy cùng lưng lót lá chuối xanh mướt. Bún trắng nuột, quấn thành con tròn lẳn, vừa hai bàn tay bụm. Anh Bảo chỉ bằng một bàn tay, vừa xé vừa xơi vừa bốc vừa vén. Bún vào bát gọn gàng, chính xác. Đôi mắt là bàn cân, anh thêm vô một lọn, bớt ra một dúm, sao cho tô nào cũng như tô nấy, lưng lưng vừa để khi chan nước dùng vào, tô bún không lõng bõng cũng không đặc cạn.

Đơm bún xong, anh khẩy vài con ốc bưu, đã được lẩy sẵn ra cái xô nhựa (cũng) gãy quai cho lên trên mặt bún. Hàng anh là như vậy, đồ nghề sứt càng gãy gọng hết trơn mà anh cứ tỉnh bơ, nhất định không sửa, đổi gì. Cái chảnh nó nằm ở chỗ đó, cái duyên nó cũng nằm ở chỗ đó, tui vậy đó, chịu chịu hổng chịu... ráng chịu.

Cái xô chứa ốc này được kẹp ở một vị trí tế nhị: giữa hai đùi anh Bảo. Chẳng hiểu để thế nó tiện tay tiện chân hay chỗ đó gần trung ương, dễ kiểm soát, không sợ bị gắp trộm vì ốc là thức ai cũng ưa chuộng mà lại đắt vốn nhất cho anh Bảo. Mỗi lần nhìn vào vị trí trớ trêu của xô ốc, tôi lại liên tưởng xe gỏi Gia Long, chuyện kể của mẹ tôi.

Thời mẹ còn là nữ sinh Gia Long, cũng như bao cô bạn cùng trường, bà mê xe gỏi đu đủ khô bò trước cổng trường. Cứ tan học, các cô lại vây quanh xe gỏi thưởng thức trước tiên bằng mắt đôi bàn tay thông thạo của bác hàng gỏi bốc đu đủ bào nhuyễn cho vào cái đĩa nhôm trẹt, xong nhắp cây kéo sắt khổng lồ cắt vài miếng khô bò nâu nâu óng ả, rải lên trên nhúm húng quế xanh tươi, nhúm đậu phọng rang vàng đâm nhỏ, xịt tí tương đen, dấm đỏ, tí nước ớt... Gỏi trao tay rồi, môi lưỡi chỉ có nước quýnh quáng đón lấy để lập tức xuýt xoa vì ngọt bùi chua cay pha lẫn. Xe gỏi ấy sẽ mãi là kỷ niệm hoa niên «trong sạch» cho mẹ tôi và các bạn bà nếu không có một hôm số trời run rủi ...

Hôm ấy, bác hàng gỏi quá đông khách. Chờ mãi chẳng thấy bác rảnh tay đáp lại lời yêu cầu «Xin thêm chút dấm» của mình, cô bạn mẹ tôi bèn nhanh nhảu vòng ra hậu trường, định thộp lấy chai dấm, self service luôn. Dấm đâu không thấy, chỉ thấy cô tung hê cả đĩa, đũa, lẫn cặp táp, vắt giò lên cổ, vừa chạy vừa trợn mắt ú ớ. Các cô khác, tuy chưa hiểu ất giáp gì, thấy bạn hoảng sợ như thế, cũng túa cả ra. Chừng kể lại, thì là, bác hàng gỏi, nhân bầy con gái lao xao, thanh xuân hoa bướm bỗng đâu quanh mình, bèn lôi cái củ hứng tình, bày ra giữa cuộc vung vinh... Từ đó, cổng trường vẫn ở đó, qua đường không ai hay, xe gỏi thời gắn bó, đành không cánh mà bay...

Khách ăn bún anh Bảo không biết có mấy người miên man nối kết như tôi... Ý hại thân, cứ nhắm mắt ăn bừa đi, đừng nghĩ ngợi này kia thì mới thấy ngon. Sợ bẩn, sợ bệnh thì bao nhiêu hàng quán ra đấy, còn ai ăn ai bán.

Thao tác chan nước dùng của anh Bảo cũng thật là điệu nghệ. Trước khi chan, bao giờ anh cũng ngắm nghía xem tô bún đã cân bằng bún, ốc đàng hoàng chưa. Miệng nhắc thằng nhỏ phụ việc: «Đã có rau cho khách chưa, khách muốn rau trụng hay rau sống... » Tay vung cao cái muôi như dũng tướng vung đường gươm sát. Anh múc một muôi nước dùng đầy chan ngập tô, rồi anh dùng lưng muôi chận phần bún, ốc bên trong, nghiêng tô cho nước trần chảy từ từ ngược lại vào nồi. Ấy là dạo trước, là làm ấm. Sau đó tới bước chan nhấp. Anh dội ít một từng hớp nước dùng vào khắp các góc tô, thật đều, cẩn thận, công bằng, không để phần bún nào chịu nguội lạnh kém phần bún nào. Độ bốn năm hớp thì vừa đầy, thì mới rải hành ngò, thì trao được cho khách với lòng an tâm.

Khách nào anh cưng thì anh nhắc: «Có nước mắm gừng đấy em ơi, nêm mắm tôm giùm anh, bỏ ớt chưa, anh bỏ cho nhé... » Tôi có lần được anh cưng như thế, sướng mê ly, dù chẳng hiểu thằng cha đồng bóng này sao tự dưng lại ưu ái mình thế. Cái sướng nhân đôi, khi chỉ ngay sau đấy, chính mắt tôi chứng kiến anh hắt hủi một người khách khác, mà cũng chẳng hiểu tại sao anh khó chịu với người ta như thế!

Khách nào anh thấy ghét, kiểu như cô tiểu thư bày đặt thắc mắc cái tô mẻ thì anh nguýt anh ngoáy, anh nói mát, nói hờn, ôi thôi đủ bộ điệu. Đôi khi, có mấy chàng thanh niên vui tính, thích đùa nghịch, cố tình trêu chọc cho anh giận để anh liếc, anh bĩu mà cười với nhau. Cũng có mấy chị, mấy bà gặp hôm anh trái tính dấm da dấm dẳn, làm cho đến phật lòng, ra khỏi hàng anh, thề từ giờ trở đi không thèm ghé nữa. Mấy ai giữ được lời thề? Anh Bảo cười nhạt, kiểu chấp đấy, dăm bảy bữa nữa rồi xem, mà có không trở lại thì đây cũng cóc cần!

Khổ nỗi, anh có khuynh hướng cưng chiều khách nam nhi hơn nữ giới. Những bà bị anh xử tệ, bới cho toàn ốc nát hay dạo bún qua loa nguội lạnh vào chợ kháo ầm lên rằng anh thấy đàn ông bô trai thì sóng mắt long lanh, hông eo lắc lẻo, đít đẩy mông đưa.

Một hôm trước khi đi Tây, tôi có tìm đến hàng anh ăn gỡ. Hôm đó nhằm ngày rằm, nên trời cũng trưa rồi mà anh còn ngồi đó. Hàng họ vắng vẻ, múc cho tôi tô bún tươm tất, có phần hậu hĩnh xong, anh co một chân lên gác trên mép ghế. Trời bỗng không tối đi, mây ở đâu ù ù bâu lại, mưa đổ như chỉ đổ xuống hàng bún. Anh Bảo đẩy xô ốc qua một bên. Âu cũng lạ, lần cuối cùng ra ăn hàng anh sau mười mấy năm tri kỷ tình bún ốc cũng là lần đầu tiên tôi thấy anh hờ hững xa rời xô ốc quý. Rồi tôi thấy anh vấn thuốc. Anh trải, anh cuốn, anh vê, anh liếm, anh đốt, anh rít, anh lim dim, sướng sướng, buồn buồn, anh mơ màng, đăm chiêu heo hút. Tôi nhớ đã bỏ tô bún xuống. Cơn mưa lạ lẫm. Anh Bảo lạ lẫm.

Bên gánh bún chợ vãn đã nghiêng nồi trên củi than tàn lụi, anh Bảo ngồi lơ chơ, tóc bạc như chợt hiện giữa đầu, thốt nhiên, cùng khắp. Đầu thuốc rựng đỏ từng chặp một, đôi mắt đã băng vào trong mưa. Tự nhiên tôi có cảm tưởng anh sắp ca vọng cổ. Tự nhiên tôi thấy anh đẹp não nùng. Còn tôi, sao tự nhiên muốn khóc. Từ là từ phu tướng... bảo kiếm sắc phán lên đàng...

Nhưng tôi không truy tìm để thấu hiểu nguyên do phút xuất thần độc đáo của anh, lại xảy ra, trùng hợp, như duyên, trước ngày tôi rời xa góc hàng hiên đầu ngõ chợ nghèo nàn thân thuộc. Trong đời có những điều, đôi khi tầm phào thôi, ta không hiểu, mà vì một lý do nào đó, hay chẳng vì sao cả, ta cho qua dễ dãi đến không ngờ, để về sau cứ mãi Tại Sao...?...

Lần về thăm nhà đầu tiên sau mấy năm đi xa, tôi vội vã tìm ra chợ Nhỏ. Lặng người. Góc hàng hiên khi trước anh Bảo ngồi bây giờ vắng ngắt. Cánh cửa nhà bán than đóng im, đen ám. Thấy tôi hỏi thăm với vẻ hoang mang, mấy bà bán cá khô đầu chợ vui vẻ mách: «Muốn ăn bún ốc hả, quẹo qua ngã tư một chút tới liền.»

Tôi quẹo qua ngã tư, tìm... A, bàn ghế! A, nồi bếp! A, bát đũa! Thế là chân giục cẳng mau mau bước vào. Nhưng, anh Bảo đâu? Ngai không vua! Ghế chủ lễ trống! Tim tôi trượt vỏ chuối té nhào, sợ, không biết sợ gì, nhưng sợ... , điều chỉnh, tự trấn an, hượm đã nào... Chắc anh đi vào nhà trong lấy ốc... Nghĩ vậy, chân lại mau mau bước.

Nơi đây hẳn hòi là một quán ăn. Có lẽ mấy năm làm ăn khấm khá, anh Bảo đã thuê hẳn mặt bằng này để khuếch trương hàng họ, nâng cấp bún ốc. Đưa mắt quan sát một vòng, tôi nhận ra những cái mới. Khách đến ăn bún bây giờ được kê bàn kê ghế cao ráo riêng biệt chứ không lê lết quây quần như xưa. Chồng tô kê trên bàn lễ trắng muốt men sứ, nạm dát hoa lá kiểu cọ sang trọng. Bỗng thấy khó chịu, thấy nhớ mấy cái bát chiết yêu bằng đất nung vẽ con gà chổng đuôi đơn sơ ngày trước. Một thằng nhỏ bước ra chào và đem cho tôi cái khăn gì như khăn lông loại mỏng, cắt nhỏ cỡ bằng cái khăn mặt, ướp lạnh, có tẩm mùi nước hoa nồng sặc. Nó so cho tôi đôi đũa. Bảo là so chứ thật ra mớ đũa nhựa giả ngà trong ống có chiều cao ngang bằng nhau cả, nó chỉ việc rút ra một đôi đặt trước mặt tôi, ra cái chiều o khách. Rồi nó hỏi tôi: «Cô ăn gì?» Tôi cười, thầm nghĩ thằng bé này giễu dở, người ta đã bước vào hàng bún ốc lại còn vẻ vời hỏi ăn gì!

- Em có thực đơn à? Tôi cợt.

Không ngờ thằng nhỏ chạy đi lấy cái thực đơn thật. Thắc mắc, tôi mở tờ bìa gập đôi ra xem. Thì ra, bên cạnh bún ốc còn có bún riêu, bún chả, bún bì, bún nem nướng, vv... Tôi kêu lên một tiếng ồ. Thằng nhỏ lại tưởng tôi thích thú với các món ăn, hỏi lại câu lúc nãy:

- Cô ăn gì?

- Anh Bảo đâu em?

Nín thinh. Chắc nó bực tôi lôi thôi, hỏi ăn gì không trả lời lại đi hỏi ngược chuyện trời ơi. May quá, tôi nghe tiếng chân nằng nặng bước tới từ đằng sau. Chưa thấy mặt đã nghe lời. Anh chào hỏi tôi thật niềm nở: «Cô ghé quán, cô mạnh giỏi?»

Giọng anh là lạ. Tôi chưa kịp ngoái lại đã rỉa anh: «Anh bây giờ hết chuyên nghiệp rồi! Sao mà nấu nướng nhiêu khê thế này?»

Rồi tôi im lặng. Cho đến khi rời quán, tôi chỉ mở miệng nói hai câu:

- Một tô bún ốc. (Khi anh hỏi tôi ăn gì)

- Lịch sự lắm. (Khi anh hỏi tôi thấy quán thế nào)

Trong giấc ngủ ngật ngưỡng trên máy bay trở về Paris chuyến đi ấy, tôi mơ thấy anh Minh, người đàn ông trắng trẻo, phốp pháp, nhễu nhão như một thớt bột rớt. Minh kể tôi nghe chuyện Bảo... Miệng Minh trơn tru, tay khuấy khua loạn xị. Minh «trị» nước dùng bắng nhắng như đảo rau rang đậu, khiến nước đục ngầu ngầu, mấy miếng cà chua chín bầm dập trôi nổi lều phều trên một dòng suối máu.

Giọng Minh the thé: «Dã, xin lỗi cô, tôi là Minh, anh họ của Bảo, chứ hổng phải Bảo... Bảo nó đi Pháp rồi cô à... Thằng Bảo, tưởng qua Tây sướng, hóa ra lại cực. Trước cũng nồi niêu, nhưng làm chủ, tha hồ chảnh chọe. Giờ cũng nồi niêu, mà đi nấu cho người ta. Cày thuê cuốc mướn, bảo sao nghe vậy, cô ơi. Tui sang lại của nó cái hàng này. Nấu y chang hồi xưa à, cô thấy hông? Chiều khách còn hơn nó nữa á... ».

Thầm điểm các tiệm ăn có món bún ốc ở Paris, tôi băn khoăn. Anh Bảo ở Pháp, nhưng có ở Paris không? Anh đứng bếp cho nhà hàng nào? Bún ốc, anh có vẫn say sưa hay chỉ còn là niềm nhung nhớ...
Mạch Nha, 1999
Người Hàn Quốc

Để đến Hàn Quốc, tôi phải bay từ Melbourne đến Sydney bằng hãng Qantas và ở phi trường Sydney, chuyển sang hãng máy bay Asiana. Bởi vậy, tôi đến cửa chuyến bay Asiana khá sớm, khoảng gần một tiếng trước giờ lên máy bay. Tôi ngạc nhiên thấy cả trăm người đang đứng sắp hàng rồng rắn trước cửa. Nhìn kỹ: hầu hết là người Đại Hàn. Trong khi đó, một số người Tây phương, ít thôi, khoảng vài ba chục, vẫn ngồi lặng lẽ trên các dãy ghế chờ. Tôi xem lại đồng hồ, biết chắc chắn còn sớm, bèn ngồi xuống ghế. Trong lúc chờ, cứ tò mò nhìn những người Đại Hàn đứng sắp hàng. Tôi đi máy bay khá nhiều. Hiếm khi thấy hành khách sốt sắng đứng sắp hàng sớm như vậy. Thường, họ ngồi trên ghế; nếu hết ghế thì ngồi bệt dưới sàn; hoặc đọc sách, đọc báo, mở laptop ra đọc hoặc viết cái gì đó, hoặc chỉ ngủ gà ngủ gật. Mãi đến lúc nhân viên hàng không thông báo giờ lên máy bay, mọi người mới rục rịch đứng dậy, sắp hàng, rồi từng người đi qua cửa. Không ai nôn nóng hay chen lấn vào máy bay sớm. Cũng chẳng để làm gì cả. Ghế ngồi đã được sắp xếp sẵn. Không ai giành của ai được. Nếu có giành, người ta chỉ giành chỗ để hành lý. Nhưng điều đó thường chỉ xảy ra đối với những người mang hành lý nhiều. Thực ra, dù nhiều mấy thì cũng có giới hạn theo quy định. Bởi vậy, cuối cùng, hầu như ai cũng có chỗ để cất hành lý. Nói một cách tóm tắt: Không có lý do gì để giành nhau lên máy bay sớm cả.
Hiện tượng sắp hàng rồng rắn rất sớm trước giờ lên máy bay, tôi cũng lại thấy trên chuyến bay từ Seoul về lại Úc đúng một tuần sau đó. Tôi cũng đến sớm. Và cũng lại thấy cả một hàng người sắp hàng trước cửa vào khoang máy bay. Tất cả đều là người Đại Hàn.
Ở cả hai lần, tôi đều ngồi nhìn và cố lý giải tại sao họ lại nôn nóng như vậy. Mà, thật ra, trên nét mặt cũng như trong dáng điệu của họ không hề lộ ra vẻ gì nôn nóng cả. Tất cả đều đứng yên, lặng lẽ, nhẫn nhục và rất có kỷ luật. Họ không chen lấn. Cũng không chuyện trò hay cười nói ồn ào. Họ chỉ đứng trong hàng; cái hàng càng lúc càng dằng dặc và ngoằn ngoèo. Trong khi các hành khách Tây phương thì vẫn ngồi trên ghế ung dung đọc sách báo hoặc lim dim ngủ.

Tôi có cảm tưởng việc sắp hàng quá sớm như vậy cho thấy một chút về tinh thần cạnh tranh của người Đại Hàn. Họ muốn lên máy bay sớm. Sớm để làm gì? Không cần biết. Chỉ biết là nên lên sớm. Vậy thôi. Tâm lý ấy cũng thường thấy ở một số nước châu Á khác. Nhưng trong khi một số người châu Á khác, để cạnh tranh, trong những trường hợp như thế, người ta thường chen lấn. Ở đây, với người Đại Hàn, lại không. Họ sắp hàng rất trật tự. Và vì trật tự nên toát ra vẻ gì như nhẫn nhục và chịu đựng.
Ba nét trong tính cách: cạnh tranh, nhẫn nhục và kỷ luật đó, tôi cũng thấy rất rõ trong suốt một tuần ở Seoul. Nói chung, ở Đại Hàn, từ chính phủ đến giới đại học, dường như nung nấu rất nhiều tham vọng. Chính phủ thì muốn Hàn Quốc biến thành rồng, thành hổ, phát triển và giàu có hơn hẳn các nước khác. Giới đại học thì âm thầm nuôi tham vọng đóng vai trò lãnh đạo các nước đang phát triển, nằm ngoài hai trung tâm chính là châu Âu và châu Mỹ. Họ có nhiều chương trình để thu hút và tập hợp các tinh hoa từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Họ thường xuyên mời giới trí thức cũng như giới văn nghệ sĩ từ các khu vực ấy đến Hàn Quốc giao lưu; trong đó có cả giới cầm bút Việt Nam (như Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư, v.v…). Một số học giả đang vận động thành lập một tạp chí nghiên cứu về văn hóa mang một cái tên rất có ý nghĩa: “Tricontinental Culture Review” (Tạp chí văn hóa Tam lục địa). “Tam” (tri-) là để loại trừ hai lục địa Tây phương đang dẫn đầu thế giới.
Thế nhưng, mặc dù nhiều tham vọng như vậy, trong đời sống hàng ngày, người Đại Hàn, nói chung, vẫn có nét gì rất hiền lành và nhẫn nhục. Ở Seoul, đi trên đường phố, trên các phương tiện giao thông công cộng, trong khuôn viên đại học, vào quán ăn hay tiệm cà phê hay kể cả các nơi uống bia, hiếm khi nghe tiếng cười nói ồn ào. Trong một tuần ở Seoul, những lúc tôi nghe ồn ào nhất là ở những địa điểm du lịch, lúc có một đoàn du khách Trung Quốc đi ngang qua. Từ xa, nghe tiếng cười, tiếng nói, tiếng cãi ầm ĩ, đoán là người Trung Quốc. Đến gần: đúng phóc. Người Đại Hàn, ngược lại, thường khá lặng lẽ.
Nhưng sự hiền lành và nhẫn nhục của người Đại Hàn thể hiện rõ nhất là ở cách chào. Phải nói là họ rất lễ phép. Có nhiều dân tộc khác cũng lễ phép. Nhưng lễ phép đến mức đầy tính nghi thức như người Nhật thì tôi không thích lắm. Ngay việc cúi đầu cũng có nhiều kiểu và nhiều mức độ tùy theo những hoàn cảnh khác nhau. Có cái gì như máy móc. Cách vái của người Thái Lan tôi cũng không thích lắm. Nó gợi lên cảm giác tội nghiệp. Tôi cho cách cúi đầu của người Đại Hàn là vừa phải. Chỉ đứng thẳng và nghiêng người một chút về phía trước. Ở đâu, tôi cũng thấy thấy cách chào như vậy. Ở các trung tâm thương mại, vì lý do câu khách và chiều khách, đã đành. Ở tất cả những nơi khác, cũng đều vậy. Trong trường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút. Ngoài đường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút.
Một lần, ngồi uống cà phê, tôi lặng lẽ quan sát một người đàn ông phát báo miễn phí cho người qua đường. Gặp ai, ông ta cũng nghiêng mình chào. Người nhận báo cũng nghiêng mình chào. Có một cô gái, còn khá trẻ, đi ngang qua, có vẻ hối hả, không nhận tờ báo, nhưng cũng cúi mình chào, rồi đi thẳng. Cái việc không lấy báo, hối hả và cúi đầu chào ấy để lại trong tôi một ấn tượng rất mạnh.
Trong bữa tiệc chia tay kết thúc hội nghị về văn học do trường Korea University khoản đãi vào tối Thứ Sáu 30 tháng 9, khi nghe một giáo sư văn học, cao niên và nghe nói là rất nổi tiếng người Đại Hàn than thở về sự băng hoại về văn hóa của thế hệ trẻ, tôi có kể cho ông nghe về chuyện đó cũng như về cảm nghĩ của tôi. Ông rất ngạc nhiên và thích thú. Suốt buổi tối, từ tiệm ăn đến quán bia, ông cứ quấn quít bên tôi, hỏi về những điều tôi nhìn thấy trong xã hội Hàn Quốc.
Cuối cùng, lúc chia tay, ông cầm tay tôi, nói: “Nghe anh nói, tôi thấy vui và lạc quan về đất nước chúng tôi hơn một chút. Chứ bình thường, nói thật, tôi buồn lắm, anh ạ. Không có gì như ngày xưa cả!”
Tôi rất hiểu tâm lý của những người lớn tuổi như thế. “Không có gì như ngày xưa cả!”

Để đến Hàn Quốc, tôi phải bay từ Melbourne đến Sydney bằng hãng Qantas và ở phi trường Sydney, chuyển sang hãng máy bay Asiana. Bởi vậy, tôi đến cửa chuyến bay Asiana khá sớm, khoảng gần một tiếng trước giờ lên máy bay. Tôi ngạc nhiên thấy cả trăm người đang đứng sắp hàng rồng rắn trước cửa. Nhìn kỹ: hầu hết là người Đại Hàn. Trong khi đó, một số người Tây phương, ít thôi, khoảng vài ba chục, vẫn ngồi lặng lẽ trên các dãy ghế chờ. Tôi xem lại đồng hồ, biết chắc chắn còn sớm, bèn ngồi xuống ghế. Trong lúc chờ, cứ tò mò nhìn những người Đại Hàn đứng sắp hàng. Tôi đi máy bay khá nhiều. Hiếm khi thấy hành khách sốt sắng đứng sắp hàng sớm như vậy. Thường, họ ngồi trên ghế; nếu hết ghế thì ngồi bệt dưới sàn; hoặc đọc sách, đọc báo, mở laptop ra đọc hoặc viết cái gì đó, hoặc chỉ ngủ gà ngủ gật. Mãi đến lúc nhân viên hàng không thông báo giờ lên máy bay, mọi người mới rục rịch đứng dậy, sắp hàng, rồi từng người đi qua cửa. Không ai nôn nóng hay chen lấn vào máy bay sớm. Cũng chẳng để làm gì cả. Ghế ngồi đã được sắp xếp sẵn. Không ai giành của ai được. Nếu có giành, người ta chỉ giành chỗ để hành lý. Nhưng điều đó thường chỉ xảy ra đối với những người mang hành lý nhiều. Thực ra, dù nhiều mấy thì cũng có giới hạn theo quy định. Bởi vậy, cuối cùng, hầu như ai cũng có chỗ để cất hành lý. Nói một cách tóm tắt: Không có lý do gì để giành nhau lên máy bay sớm cả.
Hiện tượng sắp hàng rồng rắn rất sớm trước giờ lên máy bay, tôi cũng lại thấy trên chuyến bay từ Seoul về lại Úc đúng một tuần sau đó. Tôi cũng đến sớm. Và cũng lại thấy cả một hàng người sắp hàng trước cửa vào khoang máy bay. Tất cả đều là người Đại Hàn.
Ở cả hai lần, tôi đều ngồi nhìn và cố lý giải tại sao họ lại nôn nóng như vậy. Mà, thật ra, trên nét mặt cũng như trong dáng điệu của họ không hề lộ ra vẻ gì nôn nóng cả. Tất cả đều đứng yên, lặng lẽ, nhẫn nhục và rất có kỷ luật. Họ không chen lấn. Cũng không chuyện trò hay cười nói ồn ào. Họ chỉ đứng trong hàng; cái hàng càng lúc càng dằng dặc và ngoằn ngoèo. Trong khi các hành khách Tây phương thì vẫn ngồi trên ghế ung dung đọc sách báo hoặc lim dim ngủ.

Tôi có cảm tưởng việc sắp hàng quá sớm như vậy cho thấy một chút về tinh thần cạnh tranh của người Đại Hàn. Họ muốn lên máy bay sớm. Sớm để làm gì? Không cần biết. Chỉ biết là nên lên sớm. Vậy thôi. Tâm lý ấy cũng thường thấy ở một số nước châu Á khác. Nhưng trong khi một số người châu Á khác, để cạnh tranh, trong những trường hợp như thế, người ta thường chen lấn. Ở đây, với người Đại Hàn, lại không. Họ sắp hàng rất trật tự. Và vì trật tự nên toát ra vẻ gì như nhẫn nhục và chịu đựng.
Ba nét trong tính cách: cạnh tranh, nhẫn nhục và kỷ luật đó, tôi cũng thấy rất rõ trong suốt một tuần ở Seoul. Nói chung, ở Đại Hàn, từ chính phủ đến giới đại học, dường như nung nấu rất nhiều tham vọng. Chính phủ thì muốn Hàn Quốc biến thành rồng, thành hổ, phát triển và giàu có hơn hẳn các nước khác. Giới đại học thì âm thầm nuôi tham vọng đóng vai trò lãnh đạo các nước đang phát triển, nằm ngoài hai trung tâm chính là châu Âu và châu Mỹ. Họ có nhiều chương trình để thu hút và tập hợp các tinh hoa từ châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latin. Họ thường xuyên mời giới trí thức cũng như giới văn nghệ sĩ từ các khu vực ấy đến Hàn Quốc giao lưu; trong đó có cả giới cầm bút Việt Nam (như Hồ Anh Thái, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư, v.v…). Một số học giả đang vận động thành lập một tạp chí nghiên cứu về văn hóa mang một cái tên rất có ý nghĩa: “Tricontinental Culture Review” (Tạp chí văn hóa Tam lục địa). “Tam” (tri-) là để loại trừ hai lục địa Tây phương đang dẫn đầu thế giới.
Thế nhưng, mặc dù nhiều tham vọng như vậy, trong đời sống hàng ngày, người Đại Hàn, nói chung, vẫn có nét gì rất hiền lành và nhẫn nhục. Ở Seoul, đi trên đường phố, trên các phương tiện giao thông công cộng, trong khuôn viên đại học, vào quán ăn hay tiệm cà phê hay kể cả các nơi uống bia, hiếm khi nghe tiếng cười nói ồn ào. Trong một tuần ở Seoul, những lúc tôi nghe ồn ào nhất là ở những địa điểm du lịch, lúc có một đoàn du khách Trung Quốc đi ngang qua. Từ xa, nghe tiếng cười, tiếng nói, tiếng cãi ầm ĩ, đoán là người Trung Quốc. Đến gần: đúng phóc. Người Đại Hàn, ngược lại, thường khá lặng lẽ.
Nhưng sự hiền lành và nhẫn nhục của người Đại Hàn thể hiện rõ nhất là ở cách chào. Phải nói là họ rất lễ phép. Có nhiều dân tộc khác cũng lễ phép. Nhưng lễ phép đến mức đầy tính nghi thức như người Nhật thì tôi không thích lắm. Ngay việc cúi đầu cũng có nhiều kiểu và nhiều mức độ tùy theo những hoàn cảnh khác nhau. Có cái gì như máy móc. Cách vái của người Thái Lan tôi cũng không thích lắm. Nó gợi lên cảm giác tội nghiệp. Tôi cho cách cúi đầu của người Đại Hàn là vừa phải. Chỉ đứng thẳng và nghiêng người một chút về phía trước. Ở đâu, tôi cũng thấy thấy cách chào như vậy. Ở các trung tâm thương mại, vì lý do câu khách và chiều khách, đã đành. Ở tất cả những nơi khác, cũng đều vậy. Trong trường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút. Ngoài đường, chào nhau, người ta cũng cúi đầu một chút.
Một lần, ngồi uống cà phê, tôi lặng lẽ quan sát một người đàn ông phát báo miễn phí cho người qua đường. Gặp ai, ông ta cũng nghiêng mình chào. Người nhận báo cũng nghiêng mình chào. Có một cô gái, còn khá trẻ, đi ngang qua, có vẻ hối hả, không nhận tờ báo, nhưng cũng cúi mình chào, rồi đi thẳng. Cái việc không lấy báo, hối hả và cúi đầu chào ấy để lại trong tôi một ấn tượng rất mạnh.
Trong bữa tiệc chia tay kết thúc hội nghị về văn học do trường Korea University khoản đãi vào tối Thứ Sáu 30 tháng 9, khi nghe một giáo sư văn học, cao niên và nghe nói là rất nổi tiếng người Đại Hàn than thở về sự băng hoại về văn hóa của thế hệ trẻ, tôi có kể cho ông nghe về chuyện đó cũng như về cảm nghĩ của tôi. Ông rất ngạc nhiên và thích thú. Suốt buổi tối, từ tiệm ăn đến quán bia, ông cứ quấn quít bên tôi, hỏi về những điều tôi nhìn thấy trong xã hội Hàn Quốc.
Cuối cùng, lúc chia tay, ông cầm tay tôi, nói: “Nghe anh nói, tôi thấy vui và lạc quan về đất nước chúng tôi hơn một chút. Chứ bình thường, nói thật, tôi buồn lắm, anh ạ. Không có gì như ngày xưa cả!”
Tôi rất hiểu tâm lý của những người lớn tuổi như thế. “Không có gì như ngày xưa cả!”

Hình: www.jupiterimages.com
Ấn tượng lớn nhất của tôi về người Đại Hàn, ngoài sự lễ phép, là sự tử tế.
Ở đây, xin nói ngay hai việc.
Thứ nhất, trước khi sang Hàn Quốc, tôi không biết gì về người Đại Hàn cả. Trong các lớp tôi dạy ở Victoria University, thỉnh thoảng có vài du học sinh người Đại Hàn, tất cả đều để lại trong tôi những ấn tượng tốt về sự hiền lành, chăm chỉ và lễ phép. Nhưng thời gian học trong lớp rất giới hạn, tôi không biết được là họ có tử tế hay không. Những ấn tượng mà tôi có được, đậm và mạnh nhất, là từ sách báo Việt Nam, liên quan đến việc những người đàn ông Đại Hàn sang Việt Nam tìm vợ. Thú thực, hình ảnh những gã đàn ông ngồi chễm chệ trên ghế bành trong một khách sạn nào đó ở Sài Gòn, mắt hau háu nhìn hàng chục cô gái Việt Nam, phần lớn từ quê lên, lượn qua lượn lại trước mặt, để săm soi lựa chọn… không làm tôi có thiện cảm lắm. Sau đó là những bản tin liên quan đến việc hành hạ, đánh đập, thậm chí, giết chết người vợ quê mùa và lạc lõng ấy càng khiến tôi phẫn nộ.
Thứ hai, tôi tin ở đâu cũng có sự tử tế. Ở những nơi tôi sống hoặc đi qua, tôi đều gặp vô số người tử tế. Sự khác biệt, ở đây, chỉ là mức độ: Có nơi nó phổ biến và có nơi dường như nó chỉ là một sự họa hoằn.
Ở Hàn Quốc, ít nhất là ở thành phố Seoul, nơi tôi chỉ ghé lại có một tuần, tôi gặp nhiều người tử tế đến độ tôi có cảm tưởng đó là một nét chung của một nền văn hóa và một xã hội.
Chỉ xin nêu một ví dụ nhỏ: việc hỏi đường.
Ở Seoul, tôi tận dụng thời gian ít ỏi để đi thăm viếng thật nhiều nơi. Thường đi bằng các phương tiện giao thông công cộng. Phải thừa nhận là phương tiện giao thông công cộng ở Seoul cực tốt. Tốt hơn Úc và Mỹ, đã đành. Có lẽ nó cũng tốt hơn cả London ở Anh và Paris ở Pháp nữa. Ở hai thành phố vừa kể, hệ thống xe điện ngầm thì tốt nhưng hệ thống xe buýt thì yếu. Ở Seoul có cả hai. Cả xe buýt lẫn xe điện ngầm đều chằng chịt, lan tỏa khắp nơi. Lại rất nhanh, đúng giờ và rẻ. Riêng hệ thống xe điện ngầm thì có một ưu điểm tôi chưa thấy ở Tây phương: bao giờ cũng có một bức tường làm bằng kính dày ngăn cách giữa nơi hành khách đứng chờ và đường ray xe lửa. Đến lúc xe lửa tới, cửa mở, cửa bức tường kính ấy mới mở ra. Bởi vậy, sẽ không có cảnh hành khách, do vô ý, có thể bị té xuống đường ray lúc xe lửa đang phóng tới (Cách đây mấy năm, ở Úc, xảy ra một trường hợp gây chấn động dư luận khi chiếc xe đẩy trẻ em bị trượt xuống đường ray trước cặp mắt hãi hùng và bất lực của người mẹ và vô số hành khách khác. Lúc ấy, chiếc xe lửa cũng vừa trờ tới, chà lên chiếc xe đẩy. May, do một nhiệm mầu nào đó, em bé sống sót!)
Dù tôi đã khá quen thuộc với việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng ở Pháp và Anh, đến Seoul, nhất là mấy ngày đầu, tôi cũng rất ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng về đường xá. Ngỡ ngàng về phương hướng. Ngỡ ngàng về quy trình và lộ trình giao thông. Nhưng ngỡ ngàng nhất là vì vấn đề ngôn ngữ. Ở các trạm xe buýt cũng như các ga xe điện ngầm đều có cả tiếng Hàn lẫn tiếng Anh. Nhưng phần tiếng Anh tương đối hiếm và có lúc không nhất quán. Ví dụ, chỉ đơn giản là con đường từ ga điện ngầm lên mặt đất, thoạt đầu có bảng chỉ tiếng Anh (exit/way out), nhưng đi một lát, ở ngay giữa các nhánh rẽ khá phức tạp với ba bốn lối khác nhau thì chẳng còn thấy bảng chỉ dẫn bằng tiếng Anh nào cả. Chỉ toàn tiếng Hàn. Mà tiếng Hàn thì tôi không biết. Cũng không thể đoán được.
Bởi vậy, ra đường, hầu như lúc nào tôi cũng hỏi. Một ngày hỏi năm ba lần. Và lần nào cũng được giúp đỡ một cách tận tình. Có lúc tận tình đến mức ngoài tưởng tượng.
Hỏi đường các thanh niên là tiện nhất. Một phần, đó là giới tương đối biết tiếng Anh nhiều nhất. Trong số mười người trẻ tôi hỏi đường thì có lẽ đến chín người có phản ứng giống nhau: dừng lại, móc điện thoại di động ra, vào Google, kiếm bản đồ; nếu bản đồ vẫn chưa đủ, tìm bảng chỉ dẫn phương hướng. Nhiều lúc Google không cung cấp đủ thông tin, họ bấm điện thoại gọi đến một người bạn nào đó để hỏi giúp. Cho đến lúc xong việc thì mới thôi.
Một buổi chiều tôi đi xe buýt từ trường Korea University ở khu Seongbuk-gu về khách sạn ở Jongno-gu. Nhưng tôi lại không biết trạm xuống. Buổi sáng, lúc đi, trời mưa tầm tã, tôi không thể nhận diện được khung cảnh chung quanh nơi tôi xuất phát và cũng là nơi tôi sẽ trở lại (bên kia đường). Chỉ đếm số trạm dừng. Nhưng đếm số trạm xe buýt là một điều đầy phiêu lưu. Bởi không phải trạm nào xe buýt cũng dừng lại. Bởi vậy, trên đường về, tôi rất lúng túng. Hỏi một thanh niên bên cạnh, khoảng 19 hay 20 tuổi gì đó. Cậu ấy cũng không biết. Rất sốt sắng, cậu ấy đứng lên, dí mắt vào khung cửa kính để tìm trạm xuống. Đến một nơi, cậu bảo tôi là chắc đúng. Tôi hỏi: “Chắc thôi?”. Cậu gật đầu, không lấy gì làm cương quyết lắm. Nhưng cậu cũng kéo tôi xuống xe. Rồi dáo dác nhìn quanh. Không tìm ra địa điểm khách sạn (không phải nằm trên tuyến đường có xe buýt). Cậu hỏi tôi số điện thoại khách sạn, rồi lấy di động gọi thẳng cho nhân viên ở đó hỏi đường. Có điều, cậu lại không thể diễn tả nơi chúng tôi đang đứng là chỗ nào. Nhân viên khách sạn chịu thua. Cậu lại lăng xăng chạy hỏi người này người kia trên đường. Cuối cùng, ít nhất là mười lăm, hai mươi phút sau, cậu cũng dẫn tôi về tận khách sạn. Tôi hỏi nhà cậu có gần đây không. Cậu đáp: Đi thêm khoảng chín, mười trạm nữa. Lúc đó, tôi mới biết cậu xuống xe là vì sợ tôi lạc đường. Sau đó, cậu quay lại trạm, lên xe buýt đi tiếp về nhà. Tôi cảm động hết sức.
Chuyện như vậy, tôi gặp khá nhiều lần. Ít nhất cũng bốn năm lần, người được hỏi không hề biết tiếng Anh. Tôi dùng bản đồ, chỉ chỏ nơi mình muốn tìm. Họ hiểu. Nhưng không giải thích được. Bèn ra dấu cho tôi đi theo. Loành quành từ đường này qua đường khác. Đến chỗ tôi muốn đến, họ lấy tay chỉ. Nếu là chờ xe buýt, họ đứng đợi. Đến lúc xe buýt đến, họ ra hiệu cho tôi lên, sau đó mới quay lưng đi. Trước khi đi, còn cúi mình chào.
Ngày cuối cùng ở Seoul, khi đi xe điện ngầm, rồi sau đó, xe lửa đến phi trường Incheon, tôi gặp một người đàn ông trung niên ăn mặc rất lịch sự. Ông đến gần, xổ một tràng tiếng Hàn, tôi chẳng hiểu gì cả. Tôi xin lỗi, hỏi ông có nói tiếng Anh không. Ông có vẻ không hiểu. Nhưng ông biết là tôi đang trên đường ra phi trường. Từ đó, ông cứ chỉ dẫn tôi từng li từng tí, dù thứ nhất, tôi không hề yêu cầu, và thứ hai, thực tình, tôi cũng không cần lắm. Lúc ấy, đã ở Seoul đúng một tuần, tôi đã quen thuộc với việc sử dụng các phương tiện giao thông công cộng. Nhưng ông vẫn giúp. Đến nơi chuyển từ xe điện ngầm sang xe lửa ra phi trường, ông cứ đi chầm chậm phía trước, lâu lâu quay lại dòm, như sợ tôi đi lạc. Cứ thế, liên tục. Đến lúc ông xuống, khoảng hai ga trước khi đến phi trường, ông còn ra dấu bằng tay để tôi hiểu là còn hai ga nữa. Xuống xe, ông đứng lại, chờ xe lửa chạy mới quay lưng đi. Trước khi đi, lại cúi mình chào.
Xin nhắc lại: tôi không hề hỏi đường ông.
Những con người như thế và những chuyện như thế nếu không xóa tan thì cũng làm nhạt đi rất nhiều trong tôi cái ấn tượng về những gã đàn ông Đại Hàn đến Việt Nam kiếm vợ. Rồi hành hạ, đánh đập, thậm chí, giết chết vợ. Như báo chí thỉnh thoảng tường thuật, đây đó.

Hình: Getty Images/iStockphoto
Nhiều người, nghe tin tôi mới đi Hàn Quốc về, hỏi một câu giống nhau: Người Hàn Quốc có đẹp không?

Tôi hiểu lý do tại sao họ hỏi như vậy. Người Việt Nam, ở Việt Nam cũng như ở hải ngoại, thường mê phim Hàn Quốc. Mà trong phim Hàn Quốc thì hầu như ai cũng đẹp. Nhiều người còn khẳng định: đẹp hơn hẳn tài tử các nước Á châu khác. Tôi không thường xem phim Hàn Quốc nên không dám có ý kiến về việc ấy. Nhưng tôi thấy trong cộng đồng người Hàn ở Úc cũng như ở Mỹ có khá nhiều người đẹp. Nét đẹp của họ rất giống Tây phương: da trắng, mũi cao và thanh, mắt hai mí và sâu, môi miệng và răng cũng đẹp.

Với câu hỏi ấy, tôi phải nói thật là: tôi không thấy họ đẹp lắm.

Dĩ nhiên, cần nói ngay: cái đẹp là điều rất tương đối. Cái đẹp của một sắc dân lại càng tương đối. Bởi đó là một số đông, riêng trường hợp của Hàn Quốc, đến gần 50 triệu người. Ngoài ra, còn có vấn đề thói quen. Chúng ta quen nhìn người Việt Nam, dễ thấy là người Việt Nam đẹp. Và vấn đề văn hóa: chịu ảnh hưởng của văn hóa đại chúng ở phương Tây, chủ yếu qua phim ảnh và tạp chí thời trang với những người mẫu và siêu mẫu dáng cao, da trắng, mũi thẳng, chúng ta rất dễ thấy là người Tây phương đẹp.

Biết là tương đối, nhưng tôi cũng cố nêu lên vài nhận xét chủ quan: Theo tôi, thứ nhất, người Đại Hàn ở Hàn Quốc, nói chung, không đẹp như các tài tử điện ảnh của họ cũng như nhiều người Đại Hàn khác sống ở Tây phương; thứ hai, sự khác biệt giữa người mà tôi cho là đẹp và những người có nhan sắc trung bình khá lớn.

Xin nói thêm một chút về nhận xét thứ hai: Ví dụ, đi trên đường phố ở Việt Nam hay các nước Tây phương, thỉnh thoảng chúng ta cũng gặp những người rất đẹp và những người rất không đẹp. Nhưng cả hai gần như là những ngoại lệ. Còn lại, phần lớn đều không có sự khác biệt nhiều. Dĩ nhiên vẫn có sự hơn kém. Nhưng khoảng cách giữa sự hơn kém ấy không quá lớn.

Ở Hàn Quốc, ngược lại, quan sát ngoài đường, tôi thấy có hiện tượng: có một số người rất đẹp, nhưng đám đông chung quanh thì lại rất bình thường. Họ ăn mặc, nói chung, khá thanh lịch, nhưng vẫn rất bình thường. Không có gì nổi bật so với các nước Á châu khác.

Ở các địa điểm du lịch, lúc nào tôi cũng gặp các thầy cô giáo dẫn học trò đi tham quan. Tất cả đều là học sinh tiểu học, khoảng dưới mười tuổi. Tôi tò mò quan sát rất kỹ. Tôi thấy các em, cũng như mọi đứa bé khác, đều kháu khỉnh dễ thương. Nhưng không có nét đẹp gì nổi bật.

Nhận xét ấy khiến tôi nhớ đến một điều khác: Hàn Quốc là nơi rất nổi tiếng, thậm chí, nổi tiếng nhất về kỹ nghệ giải phẫu thẩm mỹ. Ví dụ, theo một tài liệu tôi đọc được, vào năm 2009, cứ 10 ngàn dân (đủ mọi lứa tuổi) thì ở Hàn Quốc có đến 74 người đi sửa sắc đẹp. Đó là tỉ lệ đứng đầu thế giới. Kế tiếp là Brazil, chỉ có 55 người; ở Đài Loan, chỉ có 44 người; ở Mỹ, 42 người; ở Nhật Bản, 32 người; ở Thái Lan, 11 người; ở Trung Quốc, 9 người và ở Ấn Độ, chỉ có 6 người. Nói cách khác, tỉ lệ người sửa sắc đẹp ở Hàn Quốc cao hơn Đài Loan 1.7 lần, hơn Mỹ 1.8 lần, hơn Nhật 2.3 lần và hơn Trung Quốc 8.2 lần.

Đó là tỉ lệ trên dân số nói chung. Riêng đối với phụ nữ ở lứa tuổi đôi mươi thì khoảng một nửa đã từng trải qua một số cuộc giải phẫu thẩm mỹ ở các mức độ khác nhau. Điều đáng chú ý là, số phụ nữ thực sự mong ước được sửa sắc đẹp còn nhiều hơn thế. Chỉ có điều là họ chưa có điều kiện thực hiện được mong ước ấy. Ngoài ra, còn có hai điều đáng chú ý khác:

Một, về giới tính, không phải chỉ có nữ giới mà cả nam giới cũng muốn đi sửa sắc đẹp; và trên thực tế, nhiều người đã đi sửa sắc đẹp.

Hai, về tuổi tác, độ tuổi đi sửa sắc đẹp càng ngày càng nhỏ xuống. Trước, thường là những người trưởng thành và đã có công ăn việc làm; sau, là sinh viên và học sinh, có khi chỉ là học sinh những năm đầu của trung học. Báo chí tường thuật, nhiều gia đình treo giải thưởng cho con cái sau các kỳ thi, chủ yếu là thi tốt nghiệp trung học: một món tiền để đi thẩm mỹ viện.

Sửa sắc đẹp là sửa gì? Nhiều nhất là làm cho mắt có hai mí và sâu hơn. Sau đó là làm cho mũi cao và kín. Sau nữa là làm cho môi có hình trái tim và mọng đỏ. Rồi đến da, ngực, tóc, mông, v.v...

Một vấn đề khác, quan trọng hơn: Tại sao người Đại Hàn lại thích đi sửa sắc đẹp đến như vậy? Câu trả lời đầu tiên là do ảnh hưởng của phim ảnh. Hiện nay, Hàn Quốc là một trong những nơi sản xuất phim ảnh đại chúng phổ biến nhất ở châu Á. Phim tập Hàn Quốc tràn ngập khắp nơi, kể cả Việt Nam lẫn cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Dân Hàn Quốc lại càng mê phim ảnh của họ.

Cũng giống như phim ảnh Hollywood từng làm thay đổi nền văn hóa hình thể ở Tây phương; phim ảnh Hàn Quốc cũng làm thay đổi văn hóa hình thể, trước hết, ở ngay trong nước họ. Ai cũng muốn mình đẹp như tài tử. Nếu không may mắn có nhan sắc sẵn thì đành nhờ các chuyên viên thẩm mỹ. Giới quảng cáo thẩm mỹ viện ở Hàn Quốc càng làm cho làn sóng đi sửa sắc đẹp dâng cao khi họ mở những cuộc thi ảnh đẹp trên internet. Giới trẻ tham gia rất đông. Nghe nói đó là những website được nhiều người xem nhất ở Hàn Quốc. Hậu quả: nó tạo nên một chạy đua ào ạt vào các thẩm mỹ viện.

Ngoài ra còn có lý do mê tín: Người ta tin là họ có thể trở thành giàu có nếu xóa bỏ đi một số khuyết điểm trên gương mặt. Cuối cùng, người ta xem nhan sắc như một cách đầu tư. Với các cô gái trẻ, sửa sắc đẹp có thể có giúp có được chồng giàu và có thế lực. Với những người đã có gia đình, sửa sắc đẹp giúp người ta dễ dàng thăng tiến trong nghề nghiệp.

Chuyện làm đẹp là tâm lý tự nhiên của con người. Nhưng việc ùn ùn kéo nhau đi sửa sắc đẹp như ở Hàn Quốc, tự nó, lại là một vấn đề. Nhiều người cảm thấy bảng giá trị xã hội ở Hàn Quốc bị đLiên kếtảo lộn. Thay vì đề cao đạo đức, trí thức hay tài năng, người ta lại quá chú tâm đến nhan sắc.

Ngược hẳn với quan niệm của Nho giáo vốn là một trong những nền tảng của văn hóa truyền thống Hàn Quốc.
Còn duyên kén cá chọn canh.
Hết duyên ếch đực, cua kềnh cũng vơ.

Thức đêm mới biết đêm dài.
Hai vợ mới biết thế nào là ghen.

Tô canh lạnh lẽo nước trong veo.
Vài lát hành tây bé tẻo teo.
Nước chấm gọi là hơi gợn tí.
Thịt kho thái mỏng gió bay vèo.

Dưa vừa mới muối còn xanh ngắt.
Cơm chén vừa xong dạ vẫn teo.
Tối đói cồn cào không ngủ được.
Muỗi bu vào đốt cái thân bèo.

Sang sông phải bắc cầu Kiều
Muốn con hay chữ phải năng đến thầy.
Đề: Tả về bố.

Bố em rất khéo tay nên mẹ em hay khen bố lắm. Hôm qua, sau khi đóng xong cái chạn bát, mẹ em liền khen bố: “Mình làm khéo quá, tối về em sẽ thưởng”, sau đó bố em cười rất tươi nhìn mẹ em.

Đề: Tả gia đình chị Dậu

Gia đình chị Dậu nghèo lắm nhưng các con rất thương bố. Mỗi khi luộc khoai các con đều lấy những củ to cất lên bàn thờ phần bố, còn các con chỉ ăn củ rớt rãi thôi.

Đề: Tả bữa ăn đầm ấm của gia đình.

Nồi lẩu sôi sùng sục như núi lửa sắp phun trào. Em nhìn thẳng nồi, há hốc mồm như để hít hết hương thơm của nồi lẩu. Anh em nói trêu: "Cắm đầu vào đấy thì hết ăn!". Cả nhà cười hì hì.

Đề: Tả cánh đồng.

Các bác nông dân gặt lúa rất chăm chỉ, gặt hết thửa ruộng này đến luỹ tre khác.

Đề : Tả người mà em yêu quý nhất.

Ngày em còn sống, bà vẫn hay kể cho em nghe những câu chuyện cổ tích trước khi đi ngủ.
Em ơi ngồi lại gần anh.
Tuy rằng khác phái nhưng chung một bàn.

Chồng người áo gấm sông Lô.
Chồng em ngồi bếp nướng ngô cháy quần.

Chiều chiều lại nhớ chiều.
Nhớ người đêm trước đưa nhiều tiền ngu.

Yêu em hổng phải vì ham.
Mà là anh hổng chịu cam cảnh nghèo.
Làm trai cho đáng nên trai.
Đi đâu cũng có chân dài bám theo.

Luật Việt Nam hay “Luật nước Lạ” ?
360luatphap – Các dự án luật khi Quốc hội Việt Nam kỳ này thông qua xong rồi chẳng hiểu sẽ được cơ quan, tổ chức nào lại “chịu trách nhiệm xuất bản” bằng chữ Tàu để phục vụ cho “bọn Tư bản Đỏ – nước Lạ” đọc và áp dụng trên Tổ quốc hình chữ S này (?!)
Hôm nay (20/10), Kỳ họp thứ 2 Quốc hội Khóa XIII chính thức khai mạc tại Thủ đô Hà Nội và sẽ bế mạc vào ngày 26/11/2011. Trước đó (19/10), tại buổi họp báo, ông Nguyễn Hạnh Phúc (Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) cho biết, Kỳ họp này sẽ có một số nét đổi mới về nội dung, phương thức hoạt động của Quốc hội.

Quốc hội kỳ này sẽ thông qua 5 dự án luật và 1 nghị quyết, cho ý kiến 12 dự án Luật, trong đó có Luật biển Việt Nam.
Về công tác xây dựng pháp luật, Quốc hội kỳ này sẽ thông qua 5 dự án luật và 1 nghị quyết, cho ý kiến 12 dự án Luật, trong đó có Luật biển Việt Nam. Ngoài ra, Quốc hội còn xem xét các báo cáo việc thực hiện giám sát tối cao và ra 9 nghị quyết về các vấn đề KT-XH quan trọng.
Các dự án luật nói trên khi Quốc hội Việt Nam kỳ này thông qua xong rồi chẳng hiểu sẽ được cơ quan, tổ chức nào lại “chịu trách nhiệm xuất bản” bằng chữ Tàu để phục vụ cho “bọn Tư bản Đỏ – nước Lạ” đọc và áp dụng trên Tổ quốc hình chữ S này (?!)
Thấy không bình thường ở một số hiệu sách tại Hà Nội đang bày bán một số văn bản luật hiện hành điều chỉnh một số nhóm “quan hệ pháp luật nhạy cảm” như: Luật Đấu thầu; Luật đầu tư; Luật xây dựng; Luật đất đai; Luật kinh doanh bất động sản; Luật khoáng sản; Luật chứng khoán; Luật thuế tiêu thụ đặc biệt; Luật chuyển giao công nghệ…; và cả Quy định mới về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài, đều được Nhà xuất bản Thế Giới có địa chỉ tại 46 Trần Hưng Đạo (Hà Nội), do ông Trần Đoàn Lâm chịu trách nhiệm xuất bản hàng loạt bằng chữ Trung Quốc (trước), rồi dịch ra chữ Việt Nam (sau) !!!
Thật lạ, “Luật ta” nhưng tại sao Nhà xuất bản Thế Giới lại phải in bằng chữ Trung Quốc trước nhằm “biến chủ thành khách” và liệu rằng có ai đó hoặc tổ chức nào chỉ đạo việc in ấn “chữ lạ” này chăng?
Trước sự kiện pháp lý “tày đình” này, tôi (360luatphap) với tư cách là cử tri kiến nghị với “500 ông Nghị” đại diện cho “đỉnh cao trí tuệ” do Đảng CSVN cử – dân bầu, thử đọc (các văn bản pháp luật – xem ảnh) và dịch “thương hiệu” của Đảng ta đặt 8 chữ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” sang chữ Trung Quốc xem là mấy chữ (?!).
Trong Luật kinh doanh bất động sản (và các luật nêu trên), “thương hiệu” tên nước của Đảng ta được Nhà xuất bản Thế Giới dịch thành 9 chữ Tàu, trong đó chữ thứ 9 được chuyển ngữ sang tiếng Việt là chữ: “Quốc”.
Nếu “500 ông Nghị” khả kính của Đảng ta mà botay.com, thì đành thỉnh nghị ông Tiến sỹ (Hán nôm) Nguyễn Xuân Diện đọc các luật trên dịch “chữ lạ” và loan tin cho toàn thiên hạ cùng… rõ!
Luật ta in toàn chữ lạ!
Luật này phục vụ “bọn lạ”?
Tại sao 8 chữ CHXHCNVN = 9 chữ Tàu?


Các loại Luật này của Quốc hội Việt Nam làm ra nhưng đều được in bằng chữ Tàu trước, sau là chữ Việt Nam. Ai chỉ đạo việc in ấn này?



“500 ông nghị VN” nghĩ gì khi một số Luật làm ra và in bằng chữ Tàu để phục lợi ích của “Bọn Tư bản đỏ – nước Lạ” và đang được bày bán ở rất nhiều hiệu sách tại Hà Nội?

Kết cục hơn 40 năm độc tài: Gadhafi bị bắn chết và kéo xác trên đường!!!
360luatphap – Chính quyền lâm thời Libya (NTC) tuyên bố đại tá Gadhafi đã bị bắn chết tại thành phố quê nhà Sirte. Thi thể cựu lãnh đạo Libyabị kéo lê trên đường.

Tại cuộc họp báo bất thường tại Tripoli hôm 20/10/2011, quyền thủ tướng Libya Mahmoud Jibril tuyên bố đã đến lúc khởi đầu một nhà nước Libya mới. “Chúng tôi chờ đợi khoảnh khắc này từ rất lâu và Muammar Gadhafi đã bị tiêu diệt. Tôi nghĩ sự kiện này khiến người dân Libya nhận ra rằng đã đến lúc bắt đầu một Libya mới, đoàn kết, một dân tộc, một tương lai”, ông Jibril nhấn mạnh sau nhiều giờ có các thông tin trái chiều về số phận của Gadhafi.
Trong khi đó, đoạn video đẫm máu quay xác của Gadhafi đồng loạt xuất hiện trên khắp các kênh truyền hình của thế giới. Một đám đông các binh sĩ NTC hò hét xung quanh xác Gadhafi mặc bộ quân phục kaki, đầm đìa vết máu trên mặt và cổ. Kênh Al-Jazeera thì chiếu cảnh xác cựu lãnh đạo bị lật đổ của Libya đang bị các binh sĩ chính phủ lâm thời kéo lê trên đường phố.
Trước đó, Bộ trưởng Thông tin của NTC Mahmouh Shamman cũng xác nhận việc đại tá Gadhafi đã bị bắn chết tại Sirte. Một quan chức NTC khác là Abdel Hafez Ghoga nói với AFP: “Chúng tôi công bố với thế giới rằng Gaddafi đã bị tiêu diệt dưới tay của lực lượng cách mạng. Đây là một khoảnh khắc lịch sử, chấm dứt một chế độ bạo tàn và độc tài. Số phận của Gadhafi đã được định đoạt”.
Những ngày cuối của Gadhafi
Diễn biến cụ thể về cái chết của đại tá Gadhafi hiện vẫn chưa rõ ràng, nhưng các thông tin về giờ phút cuối cùng của cựu lãnh đạo Libya đang lan truyền trong thế giới Ảrập. Thành phố Sirte là mục tiêu bị lực lượng NTC đánh phá trong suốt nửa tháng qua vì đây là nơi cố thủ cuối cùng của lực lượng ủng hộ Gadhafi sau khi chế độ cũ để mất thủ đô Tripoli hồi tháng 8.
Khu vực kiểm soát của phe ủng hộ Gadhafi thu hẹp dần từng ngày và bị dồn vào Quận 2 ở tây bắc Sirte. Tới đầu giờ sáng nay 20/10, một nhóm chiến binh ủng hộ Gadhafi tìm mọi cách phá vòng vây. Một đoàn xe bọc thép được cho là có những thành viên chủ chốt trong lực lượng trung thành với Gadhafi tìm cách vượt qua binh sĩ NTC.
Hiện chưa rõ bản thân đại tá Gaddafi có mặt trong đoàn xe nói trên hay không, hay đây chỉ là cách đánh lạc hướng để ông này trốn thoát. Cũng trong sáng nay, các máy bay của NATO đã oanh kích một đoàn xe cách trung tâm Sirte 4 km về phía tây. Tuy nhiên NATO không thể xác nhận về cái chết của Gadhafi cũng như mối liên quan của sự kiện này với cuộc oanh kích của họ.
Tới buổi chiều bắt đầu xuất hiện tin ban đầu từ giới chức NTC cho biết đại tá Gaddafi đã bị bắt sống với những vết thương nặng ở cả hai chân. Hình ảnh về một cống bê tông lớn ở Sirte được cho là nơi cựu lãnh đạo Libya ẩn náu cũng được phát đi rộng rãi. Trên miệng cống có dòng chữ bằng tiếng Ảrập viết : “Đây là nơi của con chuột Gadhafi”.
Một chiến binh NTC nói với BBC rằng chính mình đã phát hiện ra nơi ẩn náu của Gadhafi trong ống cống. Theo đó vào khoảnh khắc đối mặt, cựu lãnh đạo Libya đã hét lớn: “Đừng bắn! Đừng bắn!”. Người này sau đó còn khoe với giới truyền thông một khẩu súng ngắn nạm vàng mà anh ta cho biết đã tước từ tay đại tá Gadhafi.
Sau đó tin tức về số phận của đại tá Gadhafi bắt đầu nhiễu loạn với một bên cho là ông này bị bắt sống và bị thương nặng, trong khi nhiều quan chức NTC lần lượt xác nhận cựu lãnh đạo Libya đã chết. Kênh truyền hình Al-Jazeera cũng phát hình ảnh xác của Gadhafi đầm đìa máu bị kéo lê trên phố. Các thông tin cho biết cựu lãnh đạo Libyabị trúng đạn cả vào đầu và hai chân.
Tới tối 20/10, số phận của Gadhafi dường như đã được xác định, khi người đứng đầu NTC Mahmoud Jibril tổ chức cuộc họp báo bất thường ở Tripoli để tuyên bố đại tá Gadhafi đã bị bắn chết. Cùng lúc có tin xác của Gadhafi đã được đưa từ Sirte về thành phố Misrata. Cảnh tượng ăn mừng diễn ra trên đường phố các thành phố lớn của Libya từ Tripoli, đến Benghazi và Sirte.
Đại tá Gadhafi đã lãnh đạo Libya trong suốt 42 năm cho đến khi bị lật đổ hồi tháng 8 vừa qua, trong làn sóng nổi dậy lan khắp thế giới Ảrập. Toà án hình sự quốc tế (ICC) cũng đã phát lệnh bắt Gadhafi vì các cáo buộc tội ác chống lại loài người. Vài giờ trước khi tin về Gadhafi xuất hiện, chính phủ lâm thời Libya cũng tuyên bố đã kiểm soát hoàn toàn thành phố Sirte.
Cũng trong ngày hôm nay, một căn hầm bí mật được phát hiện dưới biệt thự bỏ hoang của đại tá Gadhafi ở Sirte. Toà nhà này vốn rất xa hoa nhưng đã đổ nát hoàn toàn sau những cuộc giao tranh giữa lực lượng chính phủ mới và những người trung thành với Gadhafi. Đường hầm bí mật có nhiều căn phòng và hành lang với những tấm đệm trải trên nền nhà cho thấy căn hầm có thể mới được sử dụng.
Một số hình ảnh bi thảm của Đại tá độc tài Gadhafi:

Thà chui vào cống còn hơn đầu hàng?




Ồ…! Các đồng chí có mặt dưới địa ngục cả rồi… à?

Gadhafi:
- Xin chào! Xin chào!! Xin chào!!!…
Đồng đảng độc tài:
- Con cháu ngài đâu cả rồi ???
Gadhafi:
- …
Đồng đảng độc tài:
- Ồ…, mấy chục tấn vàng và nhiều chục tỷ đô-la cướp được của dân, ngài không bảo con cháu mang xuống gửi ở ngân hàng địa phủ để đầu tư kinh doanh dầu khí và bất động sản à ?????
- …
Gadhafi:- !!!
360luatphap (theo VnExpress)

No comments:

Post a Comment