Monday, October 31, 2011

Bài viết hay(195)

Từ bi với mình…
Hình như ta chẳng bao giờ thực sống trong hiện tại cả! Lúc còn trẻ, ta mơ ước tương lai, sống cho tương lai. Nghĩ rằng phải đạt cái này cái nọ, có đựơc cái kia cái khác mới là sống. Khi có tuổi, khi đã có được cái này cái nọ, cái kia cái khác thì ta lại sống cho quá khứ! Nhỏ mong cho mau lớn, lớn mong cho nhỏ lại. Quả là lý thú! Tóm lại, ta chẳng biết quý những phút giây hiện tại. Từ ngày “thế giới phẳng”, ta còn sống với đời sống ảo. Ta ngồi đây với bạn nhưng trò chuyện với một người nào khác, cười đùa, nhăn nhó, giận dữ, âu yếm với một người nào khác ở nơi xa. Khi bắt lại câu chuyện thì nhiều khi đã lỡ nhịp! Hiểu ra những điều tầm thường đó, tôi biết qúy thời gian hơn, quý phút giây hiện tại, ở đây và bây giờ hơn.
Nhờ vậy mà không có thì giờ cho già nữa! Hiện tại thì không có già, không có trẻ, không có quá khứ, vị lai. Dĩ nhiên, không phải là trốn chạy già mà hiểu nó, chấp nhận nó, thưởng thức nó. Khi biết “enjoy” nó thì quả có nhiều điều thú vị để phát hiện, để khám phá. Một người 60, tiếc mãi tuổi 45 của mình thì khi 75, họ sẽ tiếc mãi tuổi 60, rồi khi 80, họ sẽ càng tiếc 75! Vậy sao ta đang ở cái tuổi tuyệt vời nhất của mình lại không yêu thích nó đi, sao cứ phải… nguyền rủa, bất mãn với nó. Có phải tội nghiệp nó không? Ta đang ở cái tuổi nào thì nhất định tuổi đó phải là tuổi đẹp nhất rồi, không thể có tuổi nào đẹp hơn nữa! Ta cũng có thể gạt gẫm mình chút đỉnh như đi giải phẫu thẩm mỹ chẳng hạn. Xóa chỗ này, bơm chỗ nọ, lóc chỗ kia. Nhưng nhức mỏi vẫn cứ nhức mỏi, loãng xương vẫn cứ loãng xương, tim mạch vẫn cứ tim mạch… Cơ thể ta cứ tiến triển theo một “lộ trình” đã được vạch sẵn của nó, không cần biết có ta! Mà hình như, càng nguyền rủa, càng bất mãn với nó, nó càng làm dữ. Trái lại nếu biết thương yêu nó, chiều chuộng nó một chút, biết cách cho nó ăn, cho nó nghỉ, biết cách làm cho xương nó cứng cáp, làm cho mạch máu nó thông thoáng, làm cho các khớp nó trơn tru thì nó cũng sẽ tử tế với ta hơn. Anh chàng Alexis Zorba nói: “Cũng phải chăm nom đến thân thể nữa chứ, hãy thương nó một chút. Cho nó ăn với. Cho nó nghỉ với. Đó là con lừa kéo xe của ta, nếu không cho nó ăn, nó nghỉ, nó sẽ bỏ rơi mình ngang xương giữa đường cho mà coi” (Nikos Kazantzaki). Từ ngày biết thương “con lừa” của mình hơn, tử tế với nó hơn, thì có vẻ tôi… cũng khác tôi xưa. Tôi biết cho con lừa của mình ăn khi đói, không ép nó ăn lúc đang no, không cần phải cười cười nói nói trong lúc ăn. Món gì khoái khẩu thì ăn, chay mặn gì cũng tốt. Cá khô, mắm ruốc gì cũng được, miễn là đừng nhiều muối quá! Một người cô tôi “ăn không được”, ăn “không biết ngon” vậy mà vẫn béo phì, đi không nổi, là bởi vì các con thương bà quá, mua toàn sữa Mỹ mắc tiền cho uống! Sữa giàu năng lượng, nhiều chất béo bổ quá, làm sao còn có thể ăn ngon, làm sao không béo phì cho được? Giá nghèo một chút thì hay hơn! Cá kho quẹt, rau muống mà tốt, miễn bà ăn thấy ngon, thấy sướng! Tôi cũng biết cho con lừa của mình ngủ hơn. Ngủ đẫy giấc, đủ giấc. Ngủ đủ giấc là cơ hội tốt nhất cho các tế bào não phục hồi, như sạc pin vậy. Sạc không đủ mà đòi pin ngon lành sao được! Bảy trăm năm trước, Trần Nhân Tông viết: cơ tắc xan hề khốn tắc miên! Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền! trong bài Cư trần lạc đạo, ở đời mà vui đạo! Ông là vị vua nhà Trần sớm nhường ngôi cho con, lên tu ở núi Yên tử, Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Tu hành như vậy mà khi quân Nguyên xâm lấn nứơc ta, ông liền xuống núi, ra tay dẹp giặc, xong, phủi tay lên núi tu tiếp!

Mỗi người có đồng hồ sinh học của riêng mình, không ai giống ai, như vân tay vậy, cho nên không cần bắt chước, chỉ cần lắng nghe mình. Phương pháp này, phương pháp nọ của người này người kia bày vẽ chẳng qua cũng chỉ để tham khảo, nắm lấy nguyên tắc chung thôi, rồi áp dụng vào hoàn cảnh riêng cụ thể của mình, tính cách mình, sinh lý mình. Phương pháp nào có sự ép buộc cứng ngắc quá thì phải cảnh giác! Cũng nhớ rằng tới tuổi nào đó tai cũng sẽ bắt đầu kém nhạy, mắt bắt đầu kém tinh, đầu óc bắt đầu kém sắc sảo. Tai kém nhạy để bớt nghe những điều chướng tai. Mắt kém tinh để bớt thấy những điều gai mắt. Đầu óc cứ sắc sảo hoài ai chịu cho nổi! Tuy vậy, tai kém mà muốn nghe gì thì nghe, không thì đóng lại; mắt kém mà muốn thấy gì thì thấy, không thì khép lại. Thế là “căn” hết tiếp xúc được với “trần”. Tự dưng không tu hành gì cả mà cũng như tu, cũng thực tập ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm!
Rồi một hôm đẹp trời nào đó ta còn có thể phát hiện mắt mình chẳng những nhìn kém mà còn thấy những ngôi sao lấm chấm, những lốm đốm hoa trên bầu trời trong xanh vời vợi kia.. Nếu không phải do một thứ bệnh mắt nào đó thì đây hẳn là hiện tượng thoái hóa của tuổi già, nói nôm na là xài lâu quá, hết thời hạn bảo hành. Cái mà người xưa gọi là “hoa đốm hư không” chính là nó. Tưởng hoa đốm của trời, ai dè trong mắt mình! Chính cái “tưởng” của ta nhiều khi làm hại ta. Biết vậy ta bớt mất thì giờ cho những cuộc tranh tụng, bớt tiêu hao năng lượng vào những chuyện hơn thua. Dĩ nhiên có những chuyện phải ra ngô ra khoai nhưng cái cách cũng đã khác, cái nhìn đã khác, biết tôn trọng ý kiến người khác, biết chấp nhận và nhìn lại mình. Khi 20 tuổi người ta băn khoăn lo lắng không biết người khác nghĩ gì về mình. Đến 40 thì ai nghĩ gì mặc họ. Đến 60 mới biết chả có ai nghĩ gì về mình cả!
Tóm lại, chấp nhận mình là mình và từ bi với mình một chút vậy!
BS Đỗ Hồng Ngọc
Bàn tay của Mẹ, bài học của ConMột thanh niên học hành xuất sắc nộp đơn vào chức vụ quản trị viên của một công ty lớn.
Anh ta vừa xong đợt phỏng vấn đầu tiên, ông giám đốc công ty muốn gặp trực tiếp để có quyết định nhận hay không nhận anh ta. Và ông thấy từ học bạ của chàng thanh niên, tất cả đều tốt và năm nào, từ bậc trung học đến các chương trình nghiên cứu sau đại học cũng đều xuất sắc, không năm nào mà anh chàng thanh niên này không hoàn thành vượt bực.
Viên giám đốc: “ Anh đã được học bổng của những trường nào ? ”
Chàng thanh niên đáp: - “ Thưa không ”
- “ Thế cha anh trả học phí cho anh đi học sao ? ”
- “ Cha tôi chết khi tôi vừa mới một tuổi đầu. Mẹ tôi mới là người lo trả học phí. ”
Viên giám đốc lại hỏi :
“ Mẹ của anh làm việc ở đâu ? ”
Chàng thanh niên đáp:
- “ Mẹ tôi làm công việc giặt áo quần. ”
Viên giám đốc bảo chàng thanh niên đưa đôi bàn tay của anh cho ông ta xem. Chàng thanh niên có hai bàn tay mịn màng và hoàn hảo.
- “ Vậy trước nay anh có bao giờ giúp mẹ giặt giũ áo quần không ? ”
- “ Chưa bao giờ. Mẹ luôn bảo tôi lo học và đọc thêm nhiều sách. Hơn nữa, mẹ tôi giặt áo quần nhanh hơn tôi ”, chàng thanh niên đáp.
- “ Tôi yêu cầu anh một việc. Hôm nay khi trở lại nhà, lau sạch đôi bàn tay của mẹ anh, và rồi ngày mai đến gặp tôi. ”
Ðến lúc ấy thì chàng thanh niên có cảm tưởng là công việc tốt này đang sẵn sàng là của mình. Về đến nhà, chàng ta sung sướng khoe với me,
và chỉ xin được cầm lấy đôi bàn tay của bà. Mẹ chàng trai cảm thấy có điều gì đó khác lạ. Với một cảm giác vừa vui mà cũng vừa buồn,
bà đưa đôi bàn tay cho con trai xem.

Chàng thanh niên từ từ lau sạch đôi bàn tay của mẹ. Vừa lau, nước mắt chàng tuôn tràn. Ðây là lần đầu tiên chàng thanh niên mới có dịp
khám phá đôi tay mẹ mình, đôi bàn tay nhăn nheo và đầy những vết bầm đen. Những vết bầm làm đau nhức đến nỗi bà đã rùng mình khi được lau bằng nước.
Lần đầu tiên trong đời, chàng thanh niên nhận thức ra rằng, chính từ đôi bàn tay giặt quần áo mỗi ngày này đã giúp trả học phí cho chàng từ bao nhiêu lâu nay.
Những vết bầm trong đôi tay của mẹ là giá mẹ chàng phải trả dài đăng đẳng cho đến ngày chàng tốt nghiệp, cho những xuất sắc trong học vấn và cho tương lai sẽ tới của chàng.
Sau khi lau sạch đôi tay của mẹ, chàng thanh niên lặng lẽ giặt hết phần áo quần còn lại cho mẹ.
Tối đó, hai mẹ con tâm sự với nhau thật là lâu.
Sáng hôm sau, chàng thanh niên tới trụ sở công ty. Viên giám đốc còn thấy những giọt nước mắt chưa ráo hết trong đôi mắt của chàng thanh niên,ông hỏi :
- “ Anh có thể cho tôi biết những gì anh đã làm và đã học được hôm qua ở nhà không ? ”
Chàng thanh niên đáp :
- “ Tôi lau sạch đôi tay của mẹ, và cũng giặt hết phần áo quần còn lại. ”
- “ Cảm tưởng của anh ra sao ? ”
- “ Thứ nhất, bây giờ tôi mới thấu hiểu thế nào là ý nghĩa của lòng biết ơn: Không có mẹ, tôi không thể thành tựu được như hôm nay.
Thứ hai, qua việc hợp tác với nhau, và qua việc giúp mẹ giặt quần áo, giờ tôi mới ý thức được rằng thật khó khăn và gian khổ để hoàn tất công việc.
Thứ ba, tôi hiểu sâu xa được tầm mức quan trọng và giá trị của liên hệ gia đình. ”
Viên giám đốc nói :
- “ Ðây là những gì tôi cần tìm thấy ở nơi con người sẽ là quản trị viên trong công ty chúng tôi. Tôi muốn tuyển dụng một người biết ơn sự giúp đỡ
của những người khác, một người cảm thông sự chịu đựng của những người khác để hoàn thành nhiệm vụ, và một người không chỉ nghĩ đến tiền bạc
là mục đích duy nhất của cuộc đời. Em được nhận.”
Sau đó, chàng thanh niên làm việc hăng say, và nhận được sự kính trọng của các nhân viên dưới quyền. Tất cả nhân viên làm việc kiên trì và hợp tác như một đội. Thành tựu của công ty mỗi ngày mỗi được cải thiện.
Một đứa bé luôn luôn được che chở và có thói quen muốn gì được nấy, có thể sẽ phát triển “ tâm lý đặc quyền ” và nó sẽ chỉ luôn luôn nghĩ đến nó trước hết. Nó sẽ thờ ơ về các nỗ lực của cha mẹ trong suốt thời gian nuôi dưỡng nó thành người.
Khi làm việc, nó giả thiết rằng mọi người phải vâng lời nó; và khi trở thành một quản trị viên, nó có thể sẽ không bao giờ biết đến sự chịu đựng
của các nhân viên dưới quyền và luôn sẵn sàng đổ thừa người khác những khiếm khuyết và sai sót trong sinh hoạt của công ty.'

Ðối với loại người này, họ có thể học giỏi, có thể thành công một thời gian ngắn, nhưng thật sự trong đời, họ sẽ không bao giờ có cơ hội thực sự
cảm nhận được ý nghĩa của thành tựu. Họ sẽ cằn nhằn, lòng họ luôn chất đầy oán ghét và đấu tranh để có được nhiều thứ cho mình.
Nếu chúng ta thuộc loại cha mẹ chuyên bao che con cái như thế này, phải chăng chúng ta đang thấy tình thương thật của cha mẹ hay là sự tàn phá con cái ?, Việc tạo điều kiện cho con cái phát triển tối đa tính ích kỷ vô nhân ?
Bạn có thể cho con cái bạn sống trong những căn nhà lớn, ăn thức ăn ngon, học dương cầm, xem TV màn ảnh rộng . . . Nhưng khi chúng ta cắt cỏ,
xin bạn vui lòng cho chúng cùng làm việc đó. Sau bữa cơm, hãy để chúng rửa chén bát cùng với anh chị em chúng. Không phải vì bạn không có tiền để mướn người làm trong nhà, nhưng bởi vì bạn thương con đúng cách.
Bạn muốn chúng hiểu rằng, bất kể cha mẹ giàu có cỡ nào, một ngày kia, tóc chúng ta rồi cũng sẽ bạc như mẹ của người bạn trẻ kia. Ðiều quan trọng nhất là con cái của Bạn có học để hiểu biết hơn về thái độ chân thành của một con người sống ở đời, và tự khả năng của chúng phải biết cùng làm việc với những người khác để hoàn thành mọi công tác mà chúng gặp phải trong cuộc đời.

The Story of Appreciation
Đặc điểm của Người Việt
Viện Nghiên Cứu Xã Hội Mỹ đánh giá
1. Cần cù lao động, song có tâm lý huởng thụ.
2. Thông minh, sáng tạo, song thường có tính chất đối phó.
3. Khéo léo, song không duy trì đến cùng, ít quan tâm đến sự hòan hảo.
4. Vừa thực tế vừa mơ mộng, song lại nhút nhát.
5. Ham học hỏi, có khả năng tiếp thụ nhanh, song ít khi học 'từ đầu đến đuôi' nên kiến thức không hoàn hảo, mất cơ bản. Ngoài ra, học tập không phải là mục tiêu tạo thân của mỗi người VN (nhỏ học vì gia đình, lớn lên học vì sĩ diện & công ăn việc làm, ít khi vì chí khí hay đam mê).
6. Vui vẻ cởi mở với mọi người, song không bền.
7. Tiết kiệm, song nhiều khi hoang phí vì những việc vô bổ.
8. Có tinh thần đòan kết, tương thân, tương ái, song hầu như chỉ trong những hòan cảnh khó khăn, bần hàn. Còn trong điều kiện sống tốt hơn, giàu có hơn thì tinh thần này rất ít xuất hiện.
9. Yêu hòa bình nhẫn nhịn, song nhiều khi lại hiếu chiến, háu thắng vì những lý do tự ái, lặt vặt,đánh mất đại cuộc.
10. Thích tụ tập nhưng lại thiếu tính liên kết để tạo ra sức mạnh (cùng một việc 1 người làm thì tốt,mà 3 người làm thì kém, và 7 người làm thì hỏng).


Ý ĐẸP
Hạnh phúc không phải do tìm kiếm là có được, mà phải do ta tạo ra...
Không ai sinh ra là hạnh phúc ngay nhưng chúng ta đều được sinh ra với khả năng tạo hạnh phúc.
Bốn ý tưởng hay cho cuộc sống:

Nhìn lại đàng sau: có kinh nghiệm !
Nhìn đàng trước: thấy hy vọng !
Nhìn xung quanh: tìm ra thực tại !
Nhìn bên trong: tìm thấy chính mình!
Tại sao lại cằn nhằn ai đó trong đời mình.
Người tốt mang Hạnh Phúc cho ta...
Người xấu cho ta Kinh Nghiệm...
Người tệ nhất thì cho ta một Bài Học...
Cách hay nhất trong cuộc sống là hãy lắng nghe mọi người và học nơi mọi người, vì không ai là biết tất cả và mỗi người biết một điều gì đó.
Người bạn là người biết ta rất tường tận, am hiểu gốc gác ta, chấp nhận chỗ đứng của ta và vẫn dịu dàng để cho ta tiến tới.
Khi ta tìm một người bạn, đừng đặt tiêu chuẫn hoàn hảo mà chỉ nên tìm một tình bạn.

Tóc Mai sợi vắn sợi dàiimage

Phượng cho xe vào garage. Trước khi bước xuống xe, nàng nhìn vào gương chiếu hậu lần cuối cùng, hất hất mái tóc vừa mới uốn ngắn, mỉm cười thỏa mãn.
Đẩy cửa vào nhà, Phượng nhí nhảnh đến trước mặt chồng hỏi :
- Mình xem em cắt mái tóc ngắn thế nầy có đẹp không ?
Cường đang đọc lại cuốn sách “Quẳng Gánh Lo Đi Và Vui Sống” của dịch giả Nguyễn Hiến Lê mang từ Việt Nam qua Mỹ bỏ nằm ụ trên kệ sách mấy năm rồi mà không có thì giờ rảnh rỗi để nghiền ngẫm. Hôm nay nhân ngày lễ, ông lấy được một tuần lễ Vacation đầu tiên sau bao năm lận đận với công việc trên mảnh đất đầy cơ hội mà cũng phải đổ khá nhiều mồ hôi nầy. Nghe vợ hỏi, Cường đặt cuốn sách lên bàn, ngước mắt nhìn vợ đang tươi tỉnh chờ đợi ở chồng một lời khen.
Tỏ vẻ khó chịu, Cường nhíu hàng lông mày rậm như hai con sâu róm bám trên đôi mắt sáng quắc đầy cương nghị mà ngày xưa lũ học trò trung học sợ ông còn hơn sợ thầy hiệu trưởng. Thấy ánh mắt chồng nhìn mình, Phượng biết ngay là ông ấy không bằng lòng. Nàng cắn môi bước vào phòng đóng cửa lại. Những giọt nước mắt tủi thân rơi lả chả trên ngực áo nàng. Bạn bè ở hãng cứ chê nàng ăn mặc quê mùa. Đầu tóc thì búi cao trông như mụ chủ tiệm cầm đồ bệ rạc ở tỉnh lẻ. Đã mấy lần Phượng xin chồng cắt tóc ngắn nhưng nhất định Cường không cho lại còn lên giọng triết lý:
Xin em để lại cho anh chút gì Việt nam, đó là hình ảnh ngày xưa của cô bé “Phượng Hồng”. Với mái tóc dài của em đã một thời khiến cho tim anh xao xuyến.
Khi nghe chồng nhắc đến kỷ niệm thuở còn trung học ở quê nhà là nàng mềm lòng ngay. Nhưng dưới sự tác động khá mạnh mẽ của bạn bè hàng ngày tại sở làm nhiều lúc khiến cho nàng xiêu lòng. Chúng nó bu quanh, đứa bàn cách nầy, đứa cho ý kiến kiểu kia.
Con bé Kim ngắm nghía khuôn mặt Phượng hồi lâu, bảo :
- Khuôn mặt trái soan mà cắt tóc ngắn uốn úp vào sẽ tôn thêm vẻ đẹp thùy mị ra đấy.
- Con Mai, tự động xổ mái tóc Phượng xuống, gom phần tóc dài dấu phía sau gáy của nàng rồi tiếp:
- Đúng đấy, uốn theo kiểu nầy thì “Phượng Hồng” sẽ biến thành “ Phượng Đỏ có chàng tới hỏi”. Con nhỏ Mai nhái theo đầu đề cuốn tiểu thuyết của Viên Linh:
“Hạ Đỏ Có Chàng Tới Hỏi” rồi cười ha hả.
Phượng cũng thường tâm sự với chúng bạn :
- Ông xã mình khó tính lắm. Từ vấn đề ăn mặc cũng như trang điểm hễ khác một chút là ông ấy cằn nhằn mãi.
- Ôi, ở Mỹ mà, Lady first. Nhỏ Kim tán vào.
- Bạn cứ làm trước báo cáo sau. Biết đâu mái tóc mới làm bồ trẻ ra càng khiến cho ông giáo sư triết lại mê vợ “ngất ngư con tàu đi”.
Đã mấy tháng qua nàng cố tình tránh né. Chiều nay lũ bạn đẩy Phượng vào tiệm uốn tóc gọi là “đi tham khảo”. Cuối cùng, nàng quyết định hớt ngắn mái tóc. Quả thật, chúng nó nhận xét không sai, trông Phượng trẻ ra, tươi mát và thêm phần nhí nhảnh.
image
Hình minh họa
Hồi còn là học trò của thầy Cường, biết bao nam sinh mê mệt mái tóc Phượng. Mái tóc đen dày chảy mượt mà quá thắt lưng. Làn da hồng hào trắng mịn càng làm nổi bật thêm đôi mắt bồ câu đen lay láy giữa đám nữ sinh tuổi còn mơn mởn. Cái giọng “Bắc Kỳ” như chư chim hót của nàng đã làm cho lắm kẻ trồng cây si. Mấy anh chàng đệ nhất A1 đã từng làm thơ dán trước cửa lớp ca ngợi mái tóc nàng:
“Ôi, mái tóc mượt mà tràn lối mộng.
Để hồn thơ đậu bờ bến si mê.
Cõi trời hoang réo gọi áng mây về
Cũng lặng lẽ, tần ngần bên suối tóc...”.
Nữ sinh cùng lớp có lắm người ganh tỵ trước những câu thơ tán tỉnh đó. Riêng Phượng chẳng hề rung động. Vậy mà vài câu thơ tình của thi sĩ Nguyên Sa được đọc lên từ giọng trầm ấm của thầy Cường đã khiến cho con tim Phượng phải nhiều đêm thao thức:

“Áo nàng vàng anh về yêu hoa cúc.
Áo nàng xanh anh mến lá sân trường.
Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương.
Anh thay mực cho vừa màu áo tím...”.

Từ đó, hàng tuần Phượng thay đổi đến ba màu áo. Trừ ngày thứ Hai, tất cả nữ sinh phải mặc đồng phục áo dài trắng trong buổi lễ chào cờ. Ngày kế tiếp nàng thay áo dài màu vàng, hai ngày sau đổi áo màu xanh rồi cuối tuần mặc màu tím. Bạn học cùng lớp ít người để ý nhưng có lẽ thầy Cường là người nhạy bén về Tâm lý nắm bắt được tình cảm kín đáo của cô học trò.
Lớp Đệ nhất A2 có hai nữ sinh trùng tên trùng họ. Đó là Nguyễn Thị Phượng và Nguyễn Thị Túy Phượng. Để phân biệt hai Phượng, bạn bè trong lớp gọi Nguyễn Thị Phượng là Phượng Đỏ còn Túy Phượng là Phượng Hồng. Phượng Đỏ có mái tóc cắt ngắn thoạt trông như nữ minh tinh Thẩm Thúy Hằng. Cô bé Phượng Hồng có mái tóc dài xõa kín bờ vai như nữ nghệ sĩ Thanh Nga. Cả hai cô nàng được sắp hạng hoa khôi của trường nên kỵ nhau như nước với lửa. Ngày đó Phượng Hồng yêu thầm thầy Cường. Ngược lại, Phượng Đỏ thì trề môi trước cái cung cách “rắn như thép” của ông thầy chẳng khác gì một anh chàng lính trận.
image
Chỉ còn hai tháng nữa là hai lớp đệ nhất dự thi lấy bằng Tú Tài. Đột nhiên trường đóng cửa và sau đó là cảnh chạy loạn. Rồi miền Nam Việt nam thay đổi hoàn toàn nếp sống theo chế độ mới. Đời sống ngày một khó khăn. Bố mẹ mất hết tiền hưu trí, Nguyễn thị Túy Phượng bỏ học theo bạn bè buôn hàng chuyến để giúp đỡ gia đình trong thời gạo châu củi quế.
Trên một chuyến xe đò đi Đà lạt, bất ngờ Phượng gặp thầy Cường, cả hai đều xúc động. Thầy trò ngồi trong một tiệm giải khát tại Định Quán lúc xe ghé vào ăn trưa. Phượng hỏi Cường:
- Thầy có bị tập trung cải tạọ như những giáo viên biệt phái khác không ?Cường liếc nhìn những người chung quanh rồi nói nhỏ với Phượng :
- Làm sao thoát được, tôi mất hết năm năm sáu tháng lao động khổ sai trong trại tù. Ngày ra trại bị đưa lên vùng kinh tế mới Bù Gia Mập.

- Hiện giờ thầy ở đâu? Phượng hỏi.

- Tôi được người bạn giúp vốn một phần hùn lò máy đường kết tinh tại khu kinh tế mới Tân Hội thuộc tỉnh Lâm Đồng đã gần hai tháng nay.
- Thầy có mang theo vợ con lên đó?
- Tôi vẫn chưa lập gia đình.
- Thế thầy đợi đến bao giờ nữa ?
- Đến khi nào mộng ước của tôi thực hiện xong.
Cái mộng ước thầm kín của thầy Cường đã được sự tiếp tay của cô học trò ngày xưa. Hai người tổ chức vượt biển thành công và đã làm lễ thành hôn tại đảo. Hiện giờ họ đã có hai mặt con trên đất Mỹ nầy.
Cường đẩy cửa bước vào phòng thấy vợ ôm mặt khóc, ông bực mình quát to :
- Cô còn chưa thỏa mãn sao. Muốn đi thẩm mỹ viện nữa chắc?
Phượng lấy giấy tissue lau nước mắt, nhìn chồng giận dữ :
- Tôi cấm ông hạ nhục tôi đấy nhé. Đã mười mấy năm nay tôi nhường nhịn ông đến kiệt sức rồi. Chồng nào cũng chiều vợ, chỉ có ông bắt vợ chiều chồng. Ông độc đoán, khắt khe đến tàn nhẫn.
Cường biện giải:
- Đó là nghệ thuật giáo dục con cái bằng cách mẹ cha phải làm gương cho chúng nó trong nếp sống hàng ngày.
- Ông đòi hỏi người mẹ phải sống khổ hạnh như người tu hành sao?
- Có cả tôi trong đó nữa, Cường xen vào - cô nên nhớ tôi không hề ăn chơi buông thả, trụy lạc. Tôi cố giữ cốt cách của một giáo sư ngày xưa nữa đấy, Cường gằn từng tiếng.
Phượng cười chế giễu :
- Cái đầu ông chỉ gôm lại một cục : “Giáo sư”, cái tước vị hào nhoáng mà không có thực lực ở đất Mỹ nầy. Muốn làm giáo sư đích thực hãy học lấy cho được bằng Ph.D.
Câu nầy đã xúc phạm lòng tự ái của Cường không ít. Chàng cau mặt, quay lưng đóng sầm cửa lại. Những ngày mới định cư ở đất nước nầy, chàng có ý định vào đại học để lấy bằng Ph.D., nhưng rồi bận rộn với con cái và công ăn việc làm.
Vốn liếng Anh ngữ của Cường rất giới hạn, chỉ vừa đủ giao dịch hàng ngày với những người bản xứ. Cường và vợ ghi tên vào học College được một năm nhưng cái bầu của vợ càng ngày càng lớn gây nhiều trở ngại, hai người đành bỏ học.
Phượng biết câu nói vừa rồi đã xúc phạm khá nặng nề đối với chồng. Nhưng tại ông ấy miệt thị nàng. Người vợ nào lại không muốn làm đẹp cho chồng. Với dáng hình thon gọn cùng với gương mặt thanh tú, loại áo quần nào Phượng mặc vào đều hợp cả. Những lần tham dự tiệc tùng cưới hỏi, nàng rất muốn mặc bộ áo đầm dạ hội hở vai để hợp cùng chúng bạn. Nhưng Cường nhất định không cho, buộc nàng phải mặc áo dài. Ông ấy lập luận :
- Trong các loại áo quần phái nữ trên thế giới, chỉ có chiếc áo dài Việt Nam là đẹp hơn cả. Nó vừa kín đáo vừa khoe trọn vẹn dáng nét mỹ miều của người phụ nữ.
Lần nầy thì quá lắm. Ông xem vợ như đứa học trò tiểu học, cướp hết cả quyền tự chủ. Càng nhìn cảnh bạn bè được chồng chiều chuộng, được mua sắm tự do chẳng có một ràng buộc nào, càng khiến Phượng tức tối thêm.
“Mặc kệ, muốn ra sao thì ra”, nàng nghĩ thầm, rồi lên xe dạo quanh một vòng đến nhà Mai để tinh thần bớt căng thẳng. Nàng xem như làm một “cuộc cách mạng” trong đời sống vợ chồng.
Cường nằm dài trên ghế sô-pha chờ vợ mãi đến 12 giờ khuya thì tiếng chìa khóa mở cửa lách cách vang lên. Phượng vừa bước vào nhà là bị Cường mắng ngay:
- Cô không phải là người vợ hiền, không xứng đáng là bà mẹ gương mẫu. Cô đã bị bè bạn rủ rê làm hư hỏng cả rồi !
Phượng đốp chát :
- Hư hỏng thì bỏ tôi đi. Không còn xứng đáng làm vợ ông thì ly dị !
Cường trố mắt nhìn Phượng trước thái độ thẳng thừng và cách trả đũa bất ngờ của vợ. Ông lặng lẽ lấy va-li xếp một ít áo quần mang ra xe. Phượng chẳng cần cản ngăn, chẳng cần lên tiếng hỏi. Nàng gieo mình trên ghế, tê điếng cả tâm hồn.
image
Cường đi rồi, mỗi buổi sáng Phượng phải dậy sớm hơn để chở con đến trường học. Chiều đi làm về phải thay Cường đến đón con. Cảnh lạnh lẽo, cô đơn đã làm cho nàng mất ngủ. Một điều đã khiến nàng khó chịu là phải trả lời dối với con : “bố có công việc cần đi xa.”
Gần một tuần lễ sau, rất bất ngờ Phượng nhận được cú điện thoại của Cúc, cô em gái từ Việt Nam gọi sang. Bên kia đầu giây tiếng Cúc vang lên khẩn cấp :
- Chị Hai ơi, chuyện gì đã xảy ra mà vợ chồng chị đi đến ly dị?
Phương ngạc nhiên hỏi:
- Ai nói với em thế ?
- Anh Cường chứ ai.
- Ông ấy gọi phôn cho em à ?
- Không, anh Cường về Việt Nam
Phượng khựng lại một giây, rồi tiếp :
- Ừ, thấy chán nhau mà phải ép mình sống chung thì trở nên cực hình.
- Hèn chi mà anh ấy bảo em gọi chị gởi đơn ly dị về Việt Nam để anh ấy ký. Sẵn dịp anh ấy tìm vợ ở đây luôn thể.
- Ôi, đầu đã hai thứ tóc, muối nhiều hơn tiêu mà đòi cưới vợ, ham hố ! Muốn làm trò cười cho thiên hạ chăng.
- Lầm to rồi chị Hai ơi, chưa gì mà đã có người bám chân anh Cường rồi đó. Họ có tiền, sẵn sàng nuôi anh ấy năm nầy qua năm khác, chỉ cần bảo lãnh họ qua được Hoa Kỳ thôi.
- Mầy nói thật hay đùa vậy Cúc.
- Chuyện một đời người em đâu dám đùa cợt với chị Hai.
- Thế con đĩ nào níu kéo thằng chả?
- Của chị buông ra thì người ta hứng có tội lỗi gì đâu mà bảo níu với kéo. Anh Hai ở đây là vàng ròng đấy, Việt kiều mà !
- Nhưng tao hỏi mầy đứa nào muốn lấy ảnh, nói nhanh ?
- Người đó có xa lạ gì với chị đâu !
- Nó tên gì ?
- Chị Phượng, Nguyễn Thị Phượng, hồi học cùng lớp với chị.
Phượng cười mũi :
- Tưởng ai, ngờ đâu con “Phượng Đỏ Mõ Dài”! Ngày đó, mỗi lần thấy ông Cường là nó trề môi trước mặt tao chê anh chàng thô kệch như nông dân.
- “Đừng tin những gì con gái nói...” Biết đâu ngày đó chị Phượng Đỏ nói ra nói vào để chị Hai tránh xa thầy Cường cho bà ấy thế chân, chẳng hạn như bây giờ vậy.
- Ông Cường về Việt Nam bao lâu rồi?
- Gần một tuân lễ. Chị Hai ơi, thế nào chị cũng phải gởi gấp đơn ly dị cho anh Cường nhé kẻo anh ấy trông.
- Hay nhỉ, mầy là em gái tao lại đi bênh vực người ngoài.
- Sao lại người ngoài. Dù thế nào đi nữa anh Cường cũng là “cựu” anh rể của em, là cha đẻ hai đứa cháu thân yêu của em bên Mỹ mà.
- Nhưng tại sao mầy xúi anh Cường lấy con quỷ Phượng Đỏ. Tao mà thấy mặt nó ở trên đất Mỹ nầy chắc tao tự tử chết để lại hai đứa con côi. Mầy nói với anh Cường lấy ai cũng được trừ cái bản mặt con đó ra. Tao sẽ không gởi đơn ly dị, ông ấy phải về Mỹ giải quyết.
- Nhưng mà chị Phượng Đỏ thúc anh Cường tổ chức buổi tiệc ra mắt đấy.
- Nhất định không được, mầy bảo ông Cường gọi điện cho tao gấp, Phượng nói như hét vào phôn rồi gác máy.
Phượng chợt thấy ân hận. Chỉ một cơn giận hờn mà sinh ra đổ vỡ. Suốt cả đêm, Phượng trằn trọc không hề chợp mắt. Nàng nghĩ đến những ngày tháng không chồng. Cảnh cô đơn, lạnh lẽo trong gia đình sẽ đưa đến hậu quả nào đây. Nhất là hai đứa con bỗng nhiên không cha khiến tim nàng quặn thắt. Mình có bước thêm bước nữa, thì lại cảnh con anh, con em, con của chúng ta. Rồi lại sinh ra những bất hòa mới.
Từ hôm đó, ngày nào Phượng cũng gọi về Việt Nam để gặp Cường cho kỳ được, nhưng không có ai bắt phôn.
Đêm nay, cơn rét chợt đổ về. Ngoài đường tuyết bắt đầu rơi. Hai đứa con đã ngủ từ lâu. Phượng cố dỗ giấc ngủ để lấy sức cho ngày mai đến sở làm. Nhưng mắt nàng cứ mở thao láo hết nhìn trần nhà lại nhìn đồng hồ. Chợt tiếng điện thoại reo vang. Phượng với tay lên đầu giường bắt phôn :
- Alô, tôi nghe.
- Xin cho gặp cô Phượng Hồng.
- Anh Cường, sao anh không về, em gọi anh suốt mấy ngày nay mà chẳng ai bắt phôn.
- Thì bây giờ anh gọi lại em đây.
- Anh đang ở đâu vậy ?
- Ở trước cửa nhà.
Phượng vất điện thoại lên giường vội vàng ra mở cửa. Cường vừa bước vào nhà, chưa kịp đặt va-li thì Phượng đã nhào đến ôm lấy chồng, gục mặt vào ngực Cường khóc rấm rứt. Dòng nước mắt vừa mừng vui, vừa hối hận của vợ đã khiến cho Cường mỉm cười. Tiếng tít tít liên hồi của tổng đài điện thoại báo hiệu điện thoại chưa off. Phượng lau nước mắt nhìn chồng rồi đến tắt phôn :
- Anh về sao không báo cho em đến phi trường đón.
- Có đi đâu xa mà cần đến hãng hàng không.
- Anh về Việt Nam mà.
- Cô Phượng Hồng cản mũi kỳ đà thì làm sao Phượng Đỏ dám đụng đến thầy Cường. Đó chẳng qua là sáng kiến của Cúc, biết rõ bài tẩy của bà chị ruột mình mới được cái màn đối thoại vô cùng hấp dẫn qua điện thoại đấy chứ.
Phượng sà vào lòng chồng, bẹo vào má Cường mắng yêu “Ông già mắc dịch”, rồi hai người hôn nhau.
image
Hình minh họa
Ngoài trời tuyết rơi trắng xóa dưới cơn bão tuyết từ lục địa Canada thổi qua như đánh bạt cơn bão trong nhà vợ chồng Cường để trở về với cảnh yên ấm. Hạnh phúc lại được vun bồi nhờ vợ chồng hiểu rõ nhau hơn./.
Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích
Truyện cười:Tại hội nghị quốc tế phụ nữ, đại biểu của Mỹ đứng lên phát biểu:
Như hội nghị lần trước, chúng ta đã nhất trí cần phải quyết liệt hơn với những ông chồng. Sau khi từ hội nghị trở về, tôi đã nói với chồng tôi rằng từ nay tôi sẽ không nấu nướng gì nữa, mà anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không thấy gì. Nhưng... tới ngày thứ 3, chồng tôi đã chịu vào bếp và hôm đó, anh ấy đã nấu một bữa tối ngon tuyệt.
Cả hội nghị vỗ tay. Đến lượt đại biểu của Pháp đứng lên phát biểu:
Sau khi từ hội nghị trở về, tôi nói với chồng tôi rằng tôi sẽ không lo việc giặt giũ nữa, anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không... thấy gì. Nhưng tới ngày thứ 3, chồng tôi đã chịu mang áo quần đi giặt, và anh ấy không chỉ giặt đồ của mình mà còn giặt đồ của cả tôi nữa.
Cả hội nghị lại vỗ tay. Đến lượt đại biểu Việt Nam đứng lên:
Sau khi từ hội nghị trở về, tôi nói với chồng tôi rằng từ nay tôi sẽ không đi chợ nữa, mà anh ta sẽ phải tự lo. Ngày thứ nhất, tôi không thấy gì. Ngày thứ 2, tôi vẫn không thấy gì. Nhưng tới ngày thứ 3, tôi đã bắt đầu nhìn thấy lại được một chút, khi 2 mắt của tôi bớt sưng...

Hỡi quí ông! Hãy đứng lên!

image

Hỡi Quí Ông! Hãy Đứng Lên! Không có vấn đề bại trận - Chúa Trời sanh đàn ông 80 tuổi để chiến đấu. Để cổ vũ tinh thần kẻ đã hơn một lần bại trận.
Từ nhiều thế kỷ qua, sự «trục trặc nghiệp vụ đàn ông», giai đoạn hay kinh niên, đã từng đè nặng tâm lý các ông. Ngày nay, nỗi ám ảnh ấy có thể được tháo gở dễ dàng nhờ ở y dược, tâm lý trị liệu và cả những phương tiện ngoại khoa. Ngoài ra, các nhà khoa học còn đủ khả năng, với những hiểu biết mới từ những khám phá về chiều sâu thẩm vật lý học và tâm lý học nam giới, phục hồi lại cho các ông, ở cả tuổi 80, tư thế hùng dũng của phái mạnh. Đây chính là cuộc cách mạng nhân bản vì đem lại lợi lạc không chỉ riêng cho các ông.
Đạo Ái ân
Cỏ May xin mượn từ ngữ “Đạo Ái ân ” để nói về “Le Tao de la Sexologie” được dùng trong quyển sách nghiên cứu về Tình dục do Bác sĩ Stephen T. CHANG biên soạn, nhà Louis Bérald xuất bản năm 1990 . Bác sĩ Stephen T. CHANG là thành viên sáng lập Foundation of Tao biên soạn trong mục đích duy nhứt giới thiệu lại những hiểu biết xưa về Ái ân (Sex – Tình dục) ở Tàu .
Theo văn hóa Tàu, Ái ân được trọng thị như một cái Đạo, tức một nếp sống hay chính là con đường “ dân tộc sinh tồn ”. Ái ân vì vậy biểu hiện một sắc thái văn hóa nên nó không quá “ phàm phu tục tử ” như ngày nay chỉ còn lại không gì khác hơn một thứ quan hệ nam/nữ như những hoạt động điền kinh .
Theo Đạo Ái ân thì ái ân là hơi thở để sống và giử cho nòi giống trường tồn. Ái ân cần thiết đem lại hạnh phúc cho con người . Nhiều người thường không biết rằng ái ân có vai trò thiết yếu nâng cao tinh thần con người . Trong kho tài liệu xưa của Tàu về y học, về Đạo Ái ân, có quyển sách nổi tiếng SU NU Ching (Tô Nữ kinh) của Hoàng đế được xem là quyển sách căn bản dạy về y học và về Đạo Ái ân hay Tình dục học (*). Quyển SU NU Kinh chứa đựng những bí quyết giúp con người thụ hưởng đời sống đúng mức để thấy đời sống là hạnh phúc, thấy yêu đời và biết tìm cho mình trong ngay trong đời sống những điều phúc lợi, chớ không còn thấy đời sống là địa ngục trần gian nữa. Sách cung cấp đặc biệt những phương pháp thăng hoa, tăng cường và kéo dài những quan hệ ái ân để nhằm thắc chặc thêm tình yêu lứa đôi không hạn chế theo tuổi tác.
Ngoài những phương pháp cải thiện và kết hợp các khía cạnh vật chất, tâm thần và tinh thần con người, sách còn chứa đựng những phương pháp làm gia tăng sự thông minh, nhan sắc, sự hiểu biết, sức khỏe và đạo lý cho thế hệ nối tiếp. Trong quá khứ, người ta đã thấy áp dụng những phương pháp của Đạo Ái ân đã được chứng nghiệm rỏ ràng.
Ái ân được xem là Đạo theo quan niệm Đạo học là một khoa học về đời sống rất xưa ở Tàu . Người xưa dùng thì giờ để tập trung nghiên cứu tìm cách cải thiện những phương pháp nhằm thỏa mản những nhu cầu của con người. Họ thiết lập một hệ thống khoa học về chế biến thức ăn, thức uống, phương pháp thể dục, chửa trị bịnh, và về tình dục học, … Họ gọi hệ thống khoa học này là Đạo học, xuất hiện trước thời đại Cổ Ai cặp, cổ Ấn độ và Hi-lạp. Theo Bác sĩ Stephen T. CHANG, thì hệ thống hiểu biết của Tàu hay Đạo học có khả năng vượt qua khá xa những phương pháp nghiên cứu và ứng dụng ngày nay.
Đạo Ái ân bao gồm phần học hỏi và phần thực hành, cả hai tạo thành triết lý sống của Đông phương xưa .
Đạo Ái ân dạy con người ta biết sử dụng ái ân và năng lượng của bản thân cách nào để có thể cải thiện sức khỏe, giúp cho những quan hệ trở nên hài hòa hơn và thăng tiến sự nảy nở tinh thần.

image
Nhưng trong thực tế ngày nay, nhứt là ở các nước phát triển, tình dục được xem một cách phổ biến như một sinh hoạt con người nhằm chủ yếu làm thỏa mản nhu cầu quan hệ xác thịt . Vì vậy thỏa mản và bất lực còn là nỗi ám ảnh triền miên, nhứt là cho các ông nhà ta.

Bất lực hay không bất lực ?
Xe Mercedes của Đức nổi tiếng là xe có bộ máy tốt, chạy bền bỉ nhưng vẫn bị trục trặc trên đường trường. Trong ái ân, “pan ” là chuyện bình thường tuy biết rằng bộ máy của con người do Ngọc Hoàng thượng Đế ban cho là tuyệt hảo đi nữa ! Và đôi khi mở máy mà máy không chạy mặc dầu xe có xăng . “ Pan ” và “ máy không chạy ” là hai hiện tượng từ lâu nay làm điên đảo các ông, làm cho các ông mang nặng mặc cảm kẻ bại trận. Kể cả khi chưa lâm trận. Người ta sau này tìm được trong Đền Nữ thần Ishtar của Babylone ở Mésopotamie những tấm bảng đá có từ 3,700 năm khắc những lời kinh táng thán đàn ông tính
“ Gió hãy thổi lên, rừng hãy rung chuyển ! Nội lực của tôi hãy chảy mất đi như nước sông, dương vật của tôi hãy căng thẳng như giây đàn tỳ -bà ”. Trong quyển truyện Satiricon, viết dưới thời đại Néron, vừa tảng văn, vừa vận văn, nhà thơ Pétrone mô tả sự xấu hổ của nhân vật Encolpe khi khả năng làm tình của anh chàng phản bội người con gái có tên Circé. Bất mản, cô gái đi rước phù thủy tới gặp anh chàng bại trận Encolpe để chửa trị hầu khôi phục lại cho anh chàng tư thề hùng dũng.

Phù thủy lấy một sợi chỉ màu quấn qua cổ kẻ chiến bại, thét lớn lên: “ Hởi Thần Priape ! Thần hãy dùng tất cả quyền năng của Ngài giúp chúng tôi! ” Priape là vị thần biểu tượng sức mạnh đàn ông lúc nào cũng hùng dũng bằng một vật như dương vật cương cứng nên trong y khoa có danh từ “priapisme” xuất xứ từ vị thần này chỉ một chứng bịnh dương vật cương cứng kéo dài không do sự kích thích tình dục.
Mà thôi, chúng ta không cần cầu cứu Thần Priape đến giúp chúng ta tránh tai nại máy móc không chạy . Ngày nay, các nhà chuyên môn về tình dục của đàn ông, như y sĩ chuyên khoa, y sĩ tâm thần, y sĩ đường tiểu, y sĩ bịnh đàn ông, chuyên gia tình dục học, họ đều có thể chửa trị chứng suy yếu mới hay lâu ngày của các ông . Vậy là sự bất hạnh tưởng đâu chết đem theo nay được giải tỏa!
Ngày nay, chúng ta có cả một bộ máy nhân sự và phương tiện tối tân đủ sức thanh toán tất cả mọi hình thức thua kém của các ông để trả lại cho các ông ngôi vị kẻ mạnh . Chắc chắn các ông không còn lo bại trận lúc chưa khai hỏa hay an giấc ngàn thu trên lưng nữ hoàng.


image


Đây là một thời điểm lịch sử. Nên hiểu giửa những trục trặc giai đoạn và những trục trặc dài hạng có nguồn gốc tâm lý, những “trạng thái im lìm” do bịnh tật như tiểu đường, ung thư hoặc do tuổi cao sức yếu, nhiều ông đã cam chịu và còn đang đau khổ lo sợ bị mất đời sống ái ân. Mà cho đến gần đây, vẫn chưa có một phương pháp trị liệu đáng tin cậy, một bài thuốc kích thích nào có giá trị bảo đảm . Nên nhiều ông đã thử dùng nhiều dược phẩm nguy hiểm cho sức khỏe.
Để giúp cải thiện tình trạng khó khăn này, Bác sĩ tâm thần Philippe Brenot của Phân Khoa Tình dục học tại các Bịnh viện Pháp (Tình dục, Con người va Sự diển tiến, 2009, Odile, Paris) vừa nói chuyện về đề tài “ Lứa đôi và Tình dục ”. Trong buổi thuyết trình, Bác sĩ Brenot nói nhiều về những cách chửa trị chứng bịnh “sáu giờ ” muôn năm của các ông. Bác sĩ Brenot nhấn mạnh “ Ngày nay, thầy thuốc không còn nói đến “ bất lực ” vì đó là một từ ngữ mơ hồ, nghe qua ai cũng lấy làm lo ngại, mà nó lại không diển tả được những nguyên nhân khác nhau của chứng bịnh đàn ông. Nói rằng một người đàn ông nào đó là “ bất lực ”, chẳng khác nào cho người đó “không còn đàn ông” nữa, không phải là một người đầy đủ tư cách của phái đàn ông của mình. Đó không gì khác hơn là lời sỉ nhục, như chê các bà “ lạnh cảm ”. Thầy thuốc chúng tôi chọn cách nói đó là “ những rối loạn khả năng cương cứng ”, do nhiều nguyên nhân khác nhau, đòi hỏi những cách chữa trị thích nghi theo từng trường hợp ”. Nên nhớ nhiều người đàn ông bị “ pan ” tình dục dài hạn mà không vì vậy bị xếp vào loại “ bất lực ”. Như vì tuổi cao, phần lớn đàn ông, sau một cuộc chiến, phải chờ đợi một thời gian để lấy lại tư thế hùng dũng tái chiến đấu
. Ở tuổi 25, thời gian chờ đợi là vài phút . Nửa giờ cho những người hơn 35 tuổi. Một giờ cho người hơn 45 tuổi. Sau một ngày cho người từ 55 tuổi trở lên . Nhiều ngày cho lớp tuổi 65. Một tuần lễ cho các Cụ trên 70. Qua khỏi bốn mươi, nhiều ông lo ngại không thấy mình lấy lại ngay phong độ nên thường mất tinh thần chỉ vì sự mềm yếu giai đoạn, mà tự làm tắc nghẻn tâm lý, vội hốt hoảng nghĩ rằng mình bị “ bất lực ” rồi.

Không phải bất lực đâu, các Cụ ơi ! Các Cụ đang bước vào tuổi già đó thôi. Theo Bác sĩ Brenot thì sự cương cứng thật sự không phải là gì hết cả, không có nghĩa là đạt thành quả cao.
Không vì vậy mà các Cụ lo ngại. Các Cụ nên biết rằng – giác ngộ thì đúng hơn - Đức Chúa Trời sanh ra đàn ông, Ngài đã trang bị cho các con của Ngài, vì giống Ngài, mang hình hài của Ngài, một nội lực thâm hậu để bền vững làm tình cho đến tuổi 80 và hơn nữa. Nếu con của Ngài thua trận thì có khác nào chính Ngài là kẻ chiến bại sao!
Một Cụ tâm thân tráng kiện, biết ham muốn, còn thấy có nhu cầu, thì vẫn còn hùng dũng . Các Cụ ngưng sinh hoạt ái ân chỉ vì cơ thể bị nhiều bịnh hoạn về tim mạch, tiểu đường, phì mập, chớ hoàn toàn không vì tuổi tác. Vả lại, ngày nay, các Cụ có mệt mỏi đi nữa vẫn có thể “đứng lên đáp lời …ái ân ” nếu các Cụ được điều trị đúng cách.


image


Nhiều người đàn ông khác tự cho mình bất lực chỉ vì không làm tình suốt trong thời gian dài. Khi muốn lâm trận trở lại, họ cảm thấy có nhiều khó khăn. Theo thầy thuốc chuyên môn, thì sự mềm yếu của những người này, trước tiên, do sự thiếu hoạt động, tức thiếu thao dượt thường xuyên. Văn ôn, võ luyện. Đừng quên.
Một võ khí để trong tủ lâu ngày phải bị rỉ xét là tự nhiên. Tứ chi của thầy nghề võ lâu ngày không tập dượt cũng phải rũ liệt. Trong hoàn cảnh đó, chàng Tiểu vương của các Cụ đứng lên không nổi thì hỏi làm sao đủ sức đáp lời sông núi. Đó không gì khác hơn là một thứ “ hội chứng cô quả ”, một hiện tượng rất phổ biến ở thế kỷ qua . Các Cụ ạ ! Các Cụ nên nhớ chỉ sau hai năm không hoạt động, Tiểu vương sẽ khốn nạn ngay vì sẽ thấy khó khăn tìm lại cho mình khả năng tự cường. Đó không phải do thiếu ý chí ham muốn, mà do thiếu “ khả năng đứng lên”.

Giới chuyên môn quả quyết trong 10 trường hợp bị “ mềm ” như con chi chi, chỉ có 1 trường hợp là do bộ máy thật sự không chạy mà thôi.
Cách đây ba mươi năm, theo Bác sĩ Brenot, người đàn ông trong tình trạng đó sẽ đi khám bác sĩ tâm thần hoặc một nhà phân tâm học. Nhưng vô ích thôi. Ngày nay, với những lời giải thích hướng dẩn của nhà tâm lý trị liệu, kèm theo thuốc men, người ấy có thể ra trận và ca khúc khải hoàn. Tuy nhiên cũng đừng quên người đàn ông không phải là robot nên trong lúc hùng dũng ấy, một lời nói không thích hợp, một mùi hương khó ngửi, một cử chỉ nhỏ thiếu ái ân của bạn tình, từng ấy thứ đủ làm cho tư thế hùng dũng của chàng đột nhiên biến mất.
Khi bỗng nhiên có người đàn bà đến bên một người đàn ông thì thầm “ Em thấy yêu anh quá ” trong lúc người đàn ông chưa cảm thấy khởi hứng, thì lời của người đàn bà ấy có nghĩa như hét lên để trấn an kẻ đang sợ hãi “ Đừng sợ. Tôi không ăn thịt đâu ”. Lời mơn trớn trong trường hợp không thích hợp trở thành như một mệnh lệnh không thể thi hành, một lời khẩn cầu không được đáp ứng.
Đàn ông thường “đứng lên” có tính cách bất ngờ, trong khung cảnh quyến rủ, nhẹ nhàng, thật sự thoải mái vì đàn ông lúc nào cũng yêu chuộng tự do và nhiều tự ái. Bởi họ như vậy mới là đàn ông!


image


Những trục trặc trong sinh hoạt ái ân, từ hiện tượng bất lực đến những nỗi ám ảnh đau khổ vì mất tư cách đàn ông, đã bị tâm thần hóa thành bịnh lý ở thế kỷ XX . Bất lực luôn luôn bị xem như một thứ bịnh có nguồn gốc tâm lý. Khi nhìn thấy sự bất lực dưới khía cạnh đó, người ta thường bỏ qua những yếu tố khác . Nhưng mọi việc đã thật sự bắt đầu thay đổi từ thập niên 60.
Đàn bà luôn luôn giữ vai trò quyết định cho một giải pháp tốt, đối với đa số đàn ông, trong những chuyện dài về bất lực. Ngày nay, các ông tự hào có thần dược Viagra nhưng đừng quên Viagra vẫn không mang lại cho các ông những điều mong đợi khi chính các ông không thấy có ý ham muốn . Đàn bà lúc nào cũng vẫn là liều thuốc kích thích ái ân bất tận. Những phản ứng của đàn ông phụ thuộc vào cung cách ứng sử của đàn bà, nhẹ nhàng, duyên dáng, âu yếm.

Nhưng ngày nay, nhiều người đàn bà có địa vị độc lập về tiền bạc, nhiều bà có lợi tức cao hơn đàn ông, có vai trò chỉ huy đàn ông ở xí nghiệp. Ở nhà, các bà bắt buộc các ông chia sẻ công việc nội trợ. Trên giường ngủ, các bà giờ đây chủ động việc ái ân, phát triển sự hưởng thụ tình dục, đi hỏi ý kiến bác sĩ chuyên môn để tìm khoái lạc tối đa. Các bà muốn đời sống ái ân của các bà phải thành công viên mản. Hay hơn nữa, các bà chủ trương đời sống ái ân của mình từ nay phải được hòan toàn tự do.
Thế là, cũng từ nay, các ông đành tuân thủ ý của bề trên. Nhưng, đàn ông không phải lúc nào cũng sẳn sàng vào những lúc các bà muốn. Bịnh tắc nghẻn tâm lý xuất hiện và các ông cảm thấy bị mất quân bình, mở ra thời đại nữ hoàng ngự trị. Vì vậy, các ông bị mất tư thế hùng dũng mà các ông lầm tưởng là bị bất lực.


image

Trong vấn đề ái ân, đàn ông thua chỉ vì tâm lý chủ bại, mà không vì khả năng chiến đấu. Trong chiến tranh việt nam, Miền nam thua việt cộng hà nội hồi 30 – 04 – 75 cũng do mang nặng tâm lý bại trận, buông súng tháo chạy trước khi địch tới. Quân ta thua chạy trước khi giao chiến và cứ nghĩ rằng địch mạnh, ta sức yếu nên thua .
Ngày nay, trong tình dục đã có cuộc cách mạng khôi phục lại cho đàn ông tinh thần chủ chiến, tư thế mạnh, để lâm trận và chủ động tình hình,
đánh lớn thắng lớn, đánh nhỏ thắng nhỏ. Không đánh cũng thắng !
Nay các ông đã hiểu rõ lý do thất bại trong cuộc chiến ái ân. Rút được bài học thất bại thấm thía đó, nhìn vào cuộc chiến tranh việt nam vừa qua, không vì địch mạnh, các ông yếu, thì các ông ngày mai này có khả năng đứng lên làm cuộc cách mạng mới không?
Mùa xuân đang chờ!
Nguyễn thị Cỏ May
(*) Bàn về qui luật số lượng giao hợp, Tố nữ đã trả lời với Hoàng Đế như sau :
“ Con người ta có khỏe, có yếu, lúc già, lúc trẻ, tùy theo khí lực của mỗi người, không nên gò ép khoái lạc. Gò ép khoái lạc sẽ đưa đến tổn hại. Cho nên :
- Ở tuổi 15, khí lực cường thạnh có thể giao hợp nhiều lần. Còn người khí lực yếu kém mỗi ngày một lần .
- Ở tuổi 20, người mạnh khỏe thì có thể mỗi ngày nhiều lần. Còn người yếu kém thì mỗi ngày một lần .
- Ở tuổi 30, người mạnh khỏe thì mỗi ngày một lần. Còn người yếu kém thì hai ngày một lần. - Ở tuổi 40, người mạnh khỏe thì ba ngày một lần. Còn người hư yếu thì bốn ngày một lần.
- Ở tuổi 50, người khỏe mạnh thì năm ngày một lần. Người hư yếu thì mười ngày một lần.
- Ở tuổi 60, người khỏe mạnh thì mười ngày một lần. Người hư yếu thì 20 ngày một lần.
- Ở tuổi 70, người khỏe mạnh thì ba mươi ngày một lần . Người hư yếu thì thôi, nghỉ ngơi. Dựa vào sức khỏe hay yếu, tuổi già hay trẻ để qui định số lần giao hợp là hợp lý, chính xác.
Tố Nữ Kinh là một tác phẩm bàn về Phòng Trung Thuật cổ xưa tương đối rõ ràng và toàn diện và có ảnh hưởng lớn trong dân gian vào các thời Tùy, Đường. Trai gái trước khi kết hôn có tập tục là phải đọc Tố Nữ Kinh . Coi Tố Nữ Kinh như một cuốn sách giáo dục về giao hợp.
Ngoài ra, Tố Nữ Kinh còn những bài thuốc trị liệu những bệnh về phòng the, như phương thuốc chữa “ Quỷ Giao Chi Bệnh ”, “Á Trung Hữu Trùng” ”, “ Tứ Quý Bổ Ích Phương ” v...v...
Ngày nay, nhiều Cụ 80 tuổi, vẫn đua nhau về Việt nam, kiếm bồ nhí, bồ nhở, điều này có trái với qui tắc căn bản về Phòng Trung Thuật của Tố nữ Kinh không? Hay đây là một cuộc cách mạng mới?

Dương Văn Hiếu Lên Tiếng

Lâm Lễ Trinh
Sự tịnh khẩu từ 1963 cho đến nay của ông Dương Văn Hiếu, nguyên Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung thời Đệ nhứt Cộng hoà Việt Nam, là một cuộc hành trình xuyên sa mạc dài trên bốn thập niên. Tác giả bài này đã liên lạc lại được với ông Hiếu hiện định cư tại San Jose, Californie. «Con người biết quá nhiều, L’homme qui en savait trop» và từng bị gán biệt danh «Hùm Xám của Chế độ» đã chấp nhận trả lời nhiều câu hỏi của chúng tôi liên hệ đến một giai đoạn chính trị cực kỳ sôi động trong cuộc chiến tranh tình báo chống Bắc Việt từ 1954 cho đến tháng 11.1963. Sau vụ đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm, ông Hiếu bị Hội đồng Quân Dân Cách mạng điều tra, đưa ra Côn đảo với một số nhân vật khác của Chính phủ củ và được trả tự do năm 1964.
Đêm 28.4.1975, ông rời Việt Nam với đứa con trai đầu lòng trên một chiếc tàu Hải quân VN cùng với Trung tướng Nguyễn Văn Là, cựu Tổng Giám đốc Công An. Năm 1989, gia đình gồm có vợ và tám người con sau qua đoàn tụ với ông tại Hoa kỳ.
Ông Dương Văn Hiếu nay 81 tuổi, sức khoẻ không dồi dào như trước nhưng trí nhớ còn sắc bén khi nhắc đến ký ức xa xưa. Ông giới hạn hoàn toàn sự giao thiệp bên ngoài về mặt chính trị và đã từ chối mọi đề nghị phỏng vấn của báo chí. Sau đây là những điểm chính có thể tiết lộ trong cuộc nói chuyên có ghi âm giữa ông Dương Văn Hiếu (DVH) và tác giả (LLT) :
LLT: Xin ông vui lòng cho biết sơ lược, nếu được, những năm niên thiếu của ông và trường hợp nào ông tham gia ngành công an và được bổ nhiệm vào chức vụ Trưởng đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐMT). Chức vụ chót của ông trước cuộc đảo chính 1.11.1963 là gì ?
DVH : Tôi sanh ra tại Hà Nam, Bắc Việt, trong một gia đình trung lưu làm ăn thành công. Tôi học tại trường trung học Louis Pasteur và Thăng Long, Hà Nội. Vừa lấy xong bằng diplôme d’Etudes primaires supérieures vào năm 1944-1945 thì Nhựt đảo chính Pháp. Tôi lập gia đình năm 1948, bố vợ tôi là bác sĩ Nguyễn Văn Tam từng phục vụ trong Liên khu 5 và cộng tác với Đức cha Lê Hữu Từ ở Phát Diệm. Sau Hiệp định Genève năm 1954, tôi được cụ Võ Như Nguyện, Giám đốc Công an Trung Phần, để ý trong một buổi học tập chính trị mà tôi là thuyết trình viên (về đề tài Điện Biên Phủ). Ông tuyển tôi vào ngành công an. Giữa 1957, tôi giữ chức Trưởng ban Khai thác Nha CA-CS Trung nguyên Trung phần. Khi ông Nguyễn Chử, một lãnh tụ Quốc Dân Đảng, thay thế cụ Nguyện, tôi trở thành Trưởng ty Công an Tỉnh Thừa Thiên và Đô thị Huế. Nhờ phá vở được trong vòng hai năm hệ thống điệp báo Cộng sản Khu 5 và mở rộng hoạt động ra đến các tỉnh Quảng trị, Quảng Ngải, Bình Thuận, Qui Nhơn..v..v.., tôi được ông Tỉnh trưởng Thừa Thiên Nguyễn Đình Cẩn và Đại biểu Chính phủ Miền Trung Hồ Đắc Khương giới thiệu nhiệt tình với Tổng thống Ngô Đình Diệm. Giữa 1957, tôi được bổ nhiệm Trưởng Đoàn Công tác Đặc biệt Miền Trung (ĐCTĐBMT) để làm việc tại Sàigòn vào đầu năm 1958. Chủ đích của Đoàn là thi hành chính sách của Cố vấn Ngô Đình Cẩn mệnh danh «Chiêu mời (sau đổi thành Cải tạo) và Xử dụng các cán bộ cựu kháng chiến». Lúc đó tôi đã gia nhập đảng Cần Lao.
Sau vụ đảo chính hụt của Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông và Phan Quang Đán ngày 11.11.1960, tôi làm Phụ tá cho Tổng Giám đốc Công an Nguyễn Văn Y, còn ông Nguyễn Văn Hay thì giữ chức Phó Tổng giám đốc Công an.(Vợ ông Hay là một người em bà con của tướng Dương Văn Minh)
LLT: Có phải cùng một lúc, ba sĩ quan Cần Lao Nguyễn Văn Châu, Phạm Thư Đường và Lê Quang Tung cũng được đưa vào Nam. Châu trong chức Giám đốc Nha Chiến tranh Tâm lý, Bộ Quốc phòng; Đường, Phụ tá cho Trần Kim Tuyến, Sở Nghiên Cứu Xã hội Chính trị (SNCCTXH); và Tung, cầm đầu Lực lượng Đặc biệt? Ngoài ra, còn có Phan Ngọc Các, hoạt động cho cánh Cần Lao Ngô Đình Cẩn. Đoàn CTĐBMT đặt trụ sở tại đâu? có bao nhiêu nhân viên? chi phí họat động do cơ quan nào trang trải?
DVH: ĐCTĐBMT có trách vụ lo về tình báo chiến lược và phản gián, không liên hệ đến ba sĩ quan vừa kể và Phan Ngọc Các. Trụ sở của Đoàn đặt tại trại Lê Văn Duyệt, Sàigòn, gần Quân khu Thủ đô. Dưới quyền tôi, có tám nhân viên và hai thơ ký đánh máy. Chi phí hoạt động (lương bổng, đồ ăn, feuille de route.v.v...) do Phòng Hành chính của Phụ tá Nguyễn Thành tại Tổng Nha Công an cấp vì trên giấy tờ, tôi và các nhân viên được coi như vẫn thuộc Ty Công an Thừa Thiên. Đôi khi Đoàn cũng nhận được sự trợ giúp của Chánh Văn Phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, với tiền lấy từ Quỷ đen của Tổng thống. Số tiền này không hệ trọng, chỉ có tính cách nâng đỡ tinh thần. Riêng cá nhân tôi không được cấp một nhà chức vụ. Tôi có mua một công xá gần nhà bí thơ Trần Sử ở khu Công Lý, Sàigòn. Đoàn không nhận một ngân khoản nào đến từ ông Ngô Đình Cẩn.
LLT: Xin ông cho biết vài chi tiết hệ trọng trong hồ sơ Vũ Ngọc Nhạ (từng tự xưng là cố vấn của TT Diệm) và Huỳnh Văn Trọng (cố vấn của Tổng thống Thiệu)
DVH : Nhạ không bao giờ làm cố vấn cho TT Diệm. ĐCTĐBMT đã bắt y thời Đệ nhứt Cộng Hòa như một cán bộ CS tép riu, một tiểu công chức tại Bộ Công Chánh. Nhạ mang nhiều tên khác: Vũ Đình Long, Hai Long, Ông Giáo, Thầy Bốn..v..v.. Còn Trọng thì bị dính trong vụ mệnh danh «Gián điệp Pháp ở Nhà hàng Morin Huế». Y đã trốn thoát qua Nam Vang. Sau 1963, trở về Sàigòn, y được Nhạ bố trí vào Dinh Độc lập. Chính Tổng trưởng Nội vụ Hà Thúc Ký đã thả Nhạ sau 1963. Nhạ tái hoạt động với cụm tình báo A 22 trong đó có Trọng và Lê Hữu Thúy tự Thắng. Linh mục Hoàng Quỳnh giới thiệu Nhạ cho Trần Ngọc Nhuận, cha sở nhà thờ Phú Nhuận, bạn thân của vợ chồng Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.
LLT: ĐCTĐBMT có xử dụng «hầm» P42 – được báo giới ngoại quốc mô tả là «địa ngục trần gian»- để tra vấn các tù nhân hay không ?
DVH: P42 là một biệt thự thuộc Bộ Canh nông nằm bên trong Sở Thú, Jardin botanique Sàigòn, dùng để nhốt một số can phạm chính trị đặc biệt. Đoàn chúng tôi không xử dụng vì có trại Lê Văn Duyệt rồi.
LLT: Trong công tác, ông phúc trình cho ai? Tổng thống? Ông Nhu hay ông Cẩn? Ông có trao đổi tin tức, tài liệu gì với cơ quan CIA hay không? Mối giao hảo công vụ giữa ĐCTĐBMT và Tổng Nha Công An, Sở NCXHCT của Trần Kim Tuyến, Tổng Nha An ninh Bộ Quốc phòng (Đỗ Mậu) và Lê Quang Tung ra sao?
DVH: Tôi làm việc gần ông Nhu hơn. Khi có chuyện hệ trọng cần hỏi thêm, Tổng thống gọi tôi vào Dinh. Tôi chỉ gởi bản sao một vài phúc trình cho ông Cẩn. Trong những ngày cuối cùng trước đảo chính 1963, tôi bị ông Cẩn hiểu lầm “nhức đầu”. Ông Nguyễn Văn Minh, bí thơ ông Cẩn, và Trung tá Phạm Thư Đường, chánh văn phòng Cố vấn Nhu cũng ở trong hoàn cảnh đó.
Tôi không bao giờ liên lạc với CIA. Tuy nhiên, sau vụ đảo chính 1.11.1963, bị Cách Mạng giam tại Chí Hoà, tôi mới được biết rằng tên Phan Khanh, phụ tá cho tôi, chiụ trách nhiệm về operations, được CIA móc nối. Khanh do ông Cẩn giới thiệu với tôi “vì biết võ”.
Đại Tá Nguyễn Văn Y, Tổng Giám đốc Công An cũng như Trần Kim Tuyến (SNCCTXH), Lê Quang Tung (Lực lượng Đặc biệt) và Đỗ Mậu (An ninh Quân đội) không ưa tôi. Vợ ông Bộ trưởng Nội vụ Bùi Văn Lương và bà Thiếu tướng Nguyễn Văn Là (tiền nhiệm ông Y tại Công An) đều không thích bà Tuyến vì tranh dành địa vị bên cạnh bà Nhu nên ảnh hưởng đến các ông chồng. Tôi tránh xen vào mê hồn trận này.
Riêng về Đỗ Mậu, ông hận tôi vì ĐCTĐBMT đã phát hiện và bắt Thiếu úy Lê Hữu Thúy, một điệp viên VC được ông đặt làm Trưởng phòng An ninh tại Nha An ninh Quân đội.
LLT: Phương pháp làm việc của ĐCTĐBMT có gì mới lạ? Hiệu quả công tác của Đoàn ra sao? Phản ứng của phía CS Bắc Việt như thế nào?
DVH: Sau đây tóm tắc vài đặc điểm của Chính sách Cải tạo (đi đôi với việc thành lập Lực Lượng Võ Trang Nhân Dân): Trong các nhà tù không song sắt, Công an Mật vụ ăn, ở, học tập, chơi và sinh hoạt chung với cán bộ Việt cộng sa lưới. Các Toán trưởng thu thập những tờ khai báo của những cán bộ này nạp cho Ban cải tạo hay Ban nghiên cứu. Chúng tôi không bắt công khai mà tổ chức bắt bí mật; giữ kín hoàn toàn những trường hợp đầu hàng hay hợp tác; Đoàn chúng tôi đã tạo nên một màng lưới phục kích, bao vây các cán bộ từ chính đường giây giao liên và cơ sở cũ mà Cách mạng đã dày công tổ chức. Thay vì hỏi cung thông thường, chúng tôi áp dụng phương thức mạn đàm, trao đổi, tranh luận, khai thông tư tưởng, cởi mở với đối tượng. Nếu cần, mua chuộc, dụ dỗ chuyển hướng. Đối với những cán bộ CS ngoan cố, chúng tôi xử dụng tập thể CS cải tạo để khuyên nhũ lôi cuốn hoặc, theo đường lối “xa luân chiến”, giải thích chính sách chuyển hướng, tranh luận áp đảo các thắc mắc, phản ứng của người bị bắt…v..v..Vì thời lượng buổi nói chuyện hôm nay giới hạn nên chúng tôi mong trở lại vấn đề phức tạp này trong một dịp khác.
Để trả lời phần hai câu hỏi của Luật sư, ít nữa 4 quyển sách tịch thu được trong chiến khu VC cho thấy chúng rất e sợ “chính sách mới lạ, kỳ diệu và nguy hiểm” do ĐCTĐBMT áp dụng. Bốn quyển ấy mang tên “Đoàn Mật vụ của Ngô Đình Cẩn (tác giả Văn Phan), Đường Thời Đại (tác giả Đặng Đình Loan), Cuộc chiến tranh đặc biệt (hồi ký của Đinh Thị Vân) và Bội phản hay Chân chính (tiểu thuyết hồi ký của Dư Văn Chất). Với chính sách này, Đoàn chúng tôi bắt gọn được - vào hạ bán niên 1958 - hai màng lưới Tình báo Chiến lược và Quân báo CS từ Bến Hải vào đến Sàigòn.
Trong tài liệu mệnh danh “Thư vào Nam” của Tổng bí thơ Lê Duẫn gởi tháng 7.1962 cho Nguyễn Văn Linh tức Mười Cúc, khi ấy Xứ Ủy Nam bộ, có đoạn viết: “Đã có lúc ở Nam Bộ cũng như ở khu 5 (Miền Trung), tình hình khó khăn đến mức tưởng như Cách mạnh không thể duy trì và phát triển được.”
LLT: Vì sao (Nha sĩ dỏm và Play boy) Phan Ngọc Các, đại diện Cần Lao cho ông N Đ Cẩn tại Miền Nam, bị bắt? Ai bắt?
DVH: Cố vấn Nhu ra lệnh cho Lê Quang Tung bắt vì Các làm tiền thương gia Hoa kiều Chợ Lớn, Các tuyển nạp đảng viên Cần Lao lung tung. Ông Cẩn rất bất mãn về chuyện Các bị bắt và bảo tôi thưa lại với ông Nhu phóng thích Các. Tung là người của ông Cẩn.Tôi có cảm nghĩ Tung và Tuyến theo dõi tôi còn (Nguyễn Văn) Y thì đố kỵ tôi.
LLT: Thái Trắng (tức Lê Văn Thái, qua đời tại San Diego) và Thái Đen (tức Nguyễn Như Thái, biệt danh Đại tá Thanh Tùng) có làm việc cho ông hay không?
DVH: Chỉ có Thái Đen cọng tác với tôi. Thái Trắng làm việc với Tuyến, y là bà con vợ trước (Đặng Tuyết Mai) của Nguyễn Cao Kỳ. Không biết tại sao Thái Đen lại mang biệt danh “Đại tá Thanh Tùng” vì y không bao giờ có chân trong Quân đội hay đồng hoá sĩ quan. Y phụ tá cho tôi về mặt hành chính, bị Toà lên án khổ sai chung thân, bị đưa ra Côn đảo về tội “bắt người trái phép” và được thả ra trước tôi. Thời Đệ nhị Cọng Hoà, hình như Nguyễn Ngọc Loan có xử dụng đương sự.
LLT: Ông có thể cho biết tên và chức vụ của vài cán bộ cao cấp Việt Cộng bị ĐCTĐBMT bắt giữ?
DVH: Có thể cho biết hai tên:
A -Trần Quốc Hương tự Mười Hương, Ủy viên Trung ương Đảng, người chỉ huy màng lưới Tình báo Chiến lược của Hà Nội tại Miền Nam. Y bị bắt lối năm 1958. Chính tôi đã đưa Hương ra Huế gặp bí mật hai ông Nhu và Cẩn ở Thuận An, trên một chuyến máy bay đặc biệt do Thiếu tá Nguyễn Cao Kỳ lái. Hương được Hội đồng Cách Mạng trả tự do tháng 5.1964.
b- Đại tá Cộng Sản Lê Câu đã giúp tôi khám phá ra Phạm Bá Lương, Công cán Ủy viên của Bộ trưởng Ngoại giao Vũ Văn Mẫu. Lương ăn trộm và chuyển cho Hà Nội toàn bản chính kế hoạch kinh tế Staley-Vũ Quốc Thúc.Tôi gài bẩy bắt Lương khi y lên máy bay tại phi trường Tân Sơn Nhứt để đi Thái Lan vì công vụ. Ông Mẫu không hay biết lý do.
LLT: Ông biết gì về đại tá Phạm Ngọc Thảo?
DVH: Trong phạm vi trách nhiệm phản gián, tôi có theo dõi Phạm Ngọc Thảo. Tôi biết Thảo được Đức cha Thục giới thiệu vào Bảo An và Thảo có liên hệ chính trị với bác sĩ Tuyến trong những năm tháng chót trước cuộc binh biến 1.11.1963. Hình như Thảo có trình với Tổng thống Diệm rằng Đoàn Công tác của chúng tôi bám sát y. Tôi có dịp thưa với Tổng thống nên lưu ý đến Thảo vì Thảo có bà con làm việc cho Bắc Việt trong chức vụ hệ trọng. Tổng thống có vẻ suy tư và nói: tại sao không khai thác kinh nghiệm của Thảo trong lãnh vực ấp chiến lược và khu trù mật?
LLT: Khi xảy ra những biến động Phật giáo tại Huế năm 1963 thì ông ở đâu? Có trách vụ gì? Xin cho biết vài ý kiến về cuộc khủng hoảng Phật giáo.
DVH: Lúc đó tôi công tác ở Sàigòn, tôi không liên hệ trực tiếp đến vụ Phật giáo. Tôi nhớ: Một hôm tôi vào trình việc trong Dinh (Độc Lập), Tổng thống than phiền rằng cụ vừa kinh lý khu Dinh điền Vị Thanh về, đi ngang một ngôi chùa, thấy cờ Phật giáo treo trên cột cao giữa sân chùa, còn Quốc kỳ thì bắng giấy, nhỏ cở bàn tay, dán trên trụ cột ngoài cổng, không ra thể thống gì cả. Khi về, Tổng thống có mời Đức Khâm Mạng Toà Thánh và ông Mai Thọ Truyền (một trong hai Phó Hội chủ Tổng Hội Phất giáo) vô cho biết tình trạng và yêu cầu lưu ý các giáo dân phải tôn trọng Quốc kỳ theo thể thức được Chính phủ quy định. Hai vị vừa kể hứa lưu ý giáo dân. Sau đó Tổng thống có ra lệnh miệng cho ông Đổng lý Văn phòng Quách Tòng Đức gởi công điện nhắc các Tỉnh. Không biết vì sao ông Đức để đến ngày chót trước Lễ Phật Đản 8.5.1963 mới gởi công điện. Tổng thống có kêu ông Đức vô hỏi, ông Đức xin từ chức, Tổng thống nói: công chuyện đổ bể như thế, xin thôi có ích chi?
Ngoài ra, lúc bị giam chung với tôi sau ngày 1.11.1963, Thiếu tá Đặng Sĩ, Tiểu khu trưởng kiêm Phó Tỉnh trưởng Thừa Thiên, nói với tôi rằng ông bị oan vì được Tướng Lê Văn Nghiêm, Tư lệnh Quân đoàn 1, Vùng 1 Chiến thuật, cho phép ông chiều ngày 8.5.1963, trước Đài Phát thanh Huế, dùng lựu đạn hơi để giải tán biểu tình. Không biết “bàn tay bí mật” nào đã vung một trái lưu đạn chiến đấu gây thiệt mạng cho 8 em bé và thương tích cho nhiều người khác. Sĩ bị Toà phạt khổ sai chung thân.
Thượng tọa Trí Quang, làm việc cho CS, đóng vai trò hàng đầu trong vụ Phật giáo, lợi dụng mối giao hảo tốt với Cố vấn Cẩn. Sau 1975, tướng Nghiêm không bị làm khó vì đi đêm với Bắc Việt từ trước. Cũng như bác sĩ Lê Khắc Quyến, giám đốc Bênh viện Huế. Tổng giám mục Ngô Đình Thục hành động nóng nảy , Cố vấn Cẩn bị bó tay.
LLT:Chuyện gì đã xảy ra cho Ông sau ngày đảo chính 1.11.1963 ?
DVH: Tôi bị bắt cùng với hai phụ tá là Nguyễn Tư Thái (tức Thái Đen} và Phan Khanh. Ủy ban Điều tra tội ác - do một chính khách Hoà Hảo chủ tọa - thẩm vấn tôi về những tố cáo làm tiền, bắt người và thủ tiêu đối lập. Tôi còn nhớ bà góa phụ Đinh Xuân Quảng, vợ của một cựu Bộ trưởng thời Bảo Đại, thưa tôi đã tra khảo bà. Không có bằng chứng cụ thể. Tại Tổng Nha Công an, Tống Đình Bắc thay tôi. Y và Trần Bá Thành nắm trong tay nhật ký memories của tôi. Thành nằm vùng cho CS. Nếu tôi có giết bất cứ ai thì chắc chắn Tướng (Mai Hữu) Xuân đã “làm thịt” tôi rồi. Chính y cũng đã nói với tôi như vậy.
Tuy nhiên, Toà án Cách mạng, do một Thẩm phán dân sự chủ tọa, (trong đó đại tá Dương Hiếu Nghĩa là một thành viên}, đã xử tôi khổ sai chung thân về tội “bắt người trái phép”. Trong vụ tảo thanh các chùa Phật ở Sàigòn, chính Cảnh sát Đô thành của Giám đốc Trần Văn Tư đã bắt các sư sải. Đoàn CTĐBMT đâu có nhân viên để làm chuyện đó.
Trong các phiên xử khác, Tòa phạt từ tù đến khổ sai các ông Trần Kim Tuyến, Nguyễn Văn Y, Trần Văn Tư, Hà Như Chi, Nguyễn Lương, Ngô Trọng Hiếu, Cao Xuân Vỷ, Bùi Dzinh..v..v..
Vợ tôi đã phải bán đôi bông tai 80.000 đồng và vay một số tiền khác để trả thù lao 100.000 đồng cho luật sư Vương Văn Bắc.
LLT: Trong trường hợp nào ông và các nhân vật chế độ cũ được tự do? Vì sao? Riêng về ông, sau đó, có bị nhà chức trách làm khó dễ gì hay không?
DVH: Không nhớ rõ ngày tháng nào năm 1964, một buổi sáng, Chính phủ cho ba chiếc máy bay Dakota DC3 ra Côn sơn chở tất cả tội nhân (lối 30, 40 người) về Sàigòn và chúng tôi được phóng thích. Một thời gian ngắn sau, tôi được giấy đòi của Công an, trung tá Nguyễn Mậu dẫn tôi đến trình diện với Tổng giám đốc Nguyễn Văn Hai. Tướng Hai đưa tôi bằng xe jeep đến Bộ Nội vụ trình diện với tướng Trần Thiện Khiêm. Ông Khiêm tiếp tôi nhã nhặn và “khuyên” tôi nên thủ phận làm ăn. Đây là một lời cảnh cáo rất rõ. Để nuôi sống gia đình, mỗi ngày tôi đi mua âu dược của các Viện bào chế, đóng thùng gởi ra Đà nẳng gởi bán tại Tiệm thuốc của dược sĩ Hà Thị Tiểu Hương. Một hôm, năm 1968, thời Tổng thống Thiệu, Thái Đen (tưc Nguyễn Tư Thái, một cộng sự viên cũ trong ĐCTĐBMT), đến khoe với tôi rằng y “làm việc cho Toà Đại sứ Hoa ky’. Bất thần, lối một tuần sau, có giấy đòi tôi đến trình diện tại Phủ Đặc ủy Trung ương Tình báo, bến Bạch Đằng. Nơi đây, Đặc ủy trưởng Nguyễn Khắc Bình đề nghị tôi hợp tác với Phòng Nghiên cứu về Tình báo. Tôi xin vài ngày suy nghĩ. Tôi đến thỉnh ý Đức cha Nguyễn Văn Bình. Ngài khuyên tôi nên nhận để tránh mọi phiền toái. Tôi trả lời với tướng Bình tôi nhận, với điều kiện trả lại nhà cửa của tôi bị tich thâu oan và bạch hóa hồ sơ của tôi bị bôi bẩn trong một buổi họp báo. Ông Bình cho biết việc này cần có quyết định của Quốc hội và đòi hỏi thời gian. Vài bửa sau, Tướng Bình sai một sĩ quan cầm đến nhà tôi 40.000 đồng, nóí là giúp tôi trong cơn túng bấn. Để thoát mọi phiền nhiểu, tôi đành nhận cọng tác với Phủ. Tôi được cấp một văn phòng và một thơ ký đánh máy. Mỗi tháng tôi có phận sự đúc kết những tài liệu tình báo từ các Quân khu và viết bản phân tích trình thượng cấp: Một việc làm chán phèo! Tôi biết đây là một hình thức “giam lõng” và theo dõi tôi. Có một hôm, một người xưng tên Nguyễn Văn Canh đến văn phòng để xin phỏng vấn và lấy tài liệu soạn thảo luận án Tiến sĩ Luật. Một thời gian sau, tôi không đến làm việc nữa. Rồi Chính phủ Miền nam sụp đổ.
(Giai đoạn Dương Văn Hiếu “bị cầm chân” tại Cục Trung ương Tình báo được tướng Nguyễn Khắc Bình, hiện ở San Jose, xác nhận.)
LLT: Một số nhân vật đối kháng như Nguyễn Bảo Toàn, Tạ Chí Diệp và Vũ Tam Anh bị Đệ nhứt Cọng hoà thủ tiêu. Ông có thể cho biết cơ quan nào chịu trách nhiệm? Do lệnh của ai?
DVH: ĐCTĐBMT không liên hệ. Chúng tôi không có trách nhiệm truy nả các phần tử đối lập. Sau 1975, một số sử liệu cho biết chính thẩm sát viên Khưu Văn Hai và đồng bọn trong Ban Cảnh sát Đặc biệt thuộc Tổng Nha Công An của đại tá Y đã giết N B Toàn và T C Diệp. Về Vũ Tam Anh, có thể là do tổ chức của Lê Quang Tung. Tôi không nghĩ Tổng thống Diệm đã ra lệnh vì ông đã từ chối đưa ra Toà Hà Minh Trí là người ám sát hụt ông ở Ban Mê Thuột và ông cũng đã nhẹ tay với phi công Phạm Phú Quốc, người dội bom Dinh Độc Lập với Nguyễn Văn Cử.
LLT: Ông biết gì về sự bội phản của Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ, Bộ trưởng Nguyễn Đình Thuần và Trần Kim Tuyến.
DVH: Tôi nhớ có lần tôi phúc trình với Tổng thống tin đồn về Huê kiều Chợ Lớn mua licenses tại Bộ Kinh tế, Cụ nghe, trầm ngâm, không nói gì.
Qua ông Thuần, CIA nắm hết tin tức về nội tình Chính phủ. Cụ có vẻ rất mến và tin tưởng ông Thuần. Về Bs Tuyến thì vào cuối 1962, ông Tuyến hoàn toàn thất sủng, không còn quyền gì, thay thế bởi đại tá Phạm Thư Đường. Bà Nhu rất ghét ông bà Tuyến.
LLT: Ông nghĩ sao về tin ông Nhu có qua Paris điều đình với De Gaulle về chuyện trung lập hoá Việt Nam và gặp Xứ ủy Miền Nam, Ủy viên Bộ chính trị Bắc Việt Phạm Hùng tại rừng Tánh Linh, Long Khánh, để thương thuyết?
DVH: Tôi có nghe những tin ấy. Cá nhân tôi nghĩ chỉ đó là tin đồn. Một người quốc gia quyết liệt như Tổng thống Diệm không thể bắt tay với Cộng sản bất luận dưới hình thức nào vì Hiến pháp VN công khai phủ nhận Xã hội Chủ nghĩa và đặc biệt, vì Cộng sản đã giết dã man anh và cháu của Tổng thống. Đòn hiệp thương Nam-Bắc do ông Cố vấn Nhu tung ra có thể là một cách bắt bí Hoa kỳ. Không ngờ CIA đã biết rõ nội vụ.Ông Nhu đã chui vảo cái bẩy do chính ông giăng ra.
LLT: Nhìn lui lại, ông nghĩ rằng thời Đệ nhứt Cộng hoà, đảng Cần Lao có thực lực trong quần chúng hay không? Việc đem tổ chức Cần lao vào Quân đội có lợi hay hại? Ông Nhu và ông Cẩn có hoàn toàn đồng ý với nhau về cách tổ chức và lãnh đạo đảng Cần Lao hay không?
DVH: Về mặt lý thuyết, Cần Lao dựa vào chủ nghĩa Nhân vị được ông cố vấn Ngô Đình Nhu nghiên cứu kỹ. Đảng Cần Lao, tiếc thay, thiếu một chính sách tuyển lựa, huấn luyện và xử dụng cán bộ hữu hiệu. Ngoài ra, còn vấn đề kỷ luật. Đa số đảng viên được chọn trong thành phần công chức có quyền và địa vị. Đảng không đi sâu vào đại chúng ở thành thị, đặc biệt ở nông thôn. Các khoá tu nghiệp về chủ thuyết Nhân vị do Đức cha Ngô Đình Thục tổ chức tại Vĩnh Long không đào sâu và giải quyết vấn đề. Tôi có dịp thuyết trình về đề tài này trong một phiên học tập về ấp Chiến lược ở Suối Lồ Ồ năm 1962. Sau đó, tôi có thỉnh cầu ông Nhu, với tư cách Tổng Bí thơ Cần Lao, ban huấn lệnh nhưng không thấy ông nói gì. Câu chuyện bỏ qua!
Ông Cẩn ít nặng về lý thuyết hơn ông Nhu. Ông Cẩn có vẻ chú trọng hơn về vấn đề cán bộ, thực tế hơn. Trong nội bộ Cần Lao cũng có nhiều nhóm: nhóm Bắc, nhóm Trung (của ông Cẩn), nhóm Trần Quốc Bửu (Tổng Liên Đoàn Lao Công), nhóm Tinh Thần (Nguyễn Tăng Nguyên), nhóm Nam kỳ Bộ (Huỳnh Văn Lang), nhóm Hà Đức Minh-Trần Văn Trai. Không thống nhứt. Ít khi thấy Tổng thống nhắc đến đảng Cần Lao. Tổng thống để ý đến Phong trào Cách Mạng Quốc gia. Cân Lao không có Ban Chấp hành Trung ương. Chỉ có Văn phòng Tổng Bí Thứ (ông Nhu) gồm có 5 Phòng trực thuộc.
Tôi không nghĩ đem Cần Lao vào Quân đội hoàn toàn có lợi. Các tướng lãnh đóng vai trò cốt cán trong cuộc chính biến 1.11.1963 phần đông là đảng viên Cần Lao được Tổng thống tin dùng và bị Hoa kỳ mua chuộc.
LLT: Về mặt tình báo, ĐCTĐBMT của ông, SNGCTXH của Tuyến, LLĐB của Lê Quang Tung và Nha An ninh Quân đội của Đỗ Mậu có dẫm chân với nhau hay không? Ông biết gì về giấc mơ của Trần Kim Tuyến - sau 1960 - cầm đầu một Bộ An Ninh thống nhất về một mối các cơ quan cảnh sát, tình báo chiến lược và phản gián quốc nội và quốc ngoại (gồm luôn Bộ Nội vụ)? Vì Tổng thống Diệm từ chối đề nghị này nên ông Tuyến bất mản và làm phản.
DVH: Tôi nghĩ: không trùng dụng, không dẫm chân. Đoàn Công tác của chúng tôi, thật vậy, lo về phản gián, chống Cộng. Sở ông Tuyến chú trọng đến vấn đề tình báo nội an, đối lập trong xứ. Cơ quan của Đỗ Mậu phụ trách những gì liên hệ đến an ninh của Quân đội còn Lực lượng của Tung, gồm có một Trung đoàn, thì có trách vụ bảo vệ Tổng thống và các công thự. Tuy nhiên, trong những năm chót, Tung vượt quá quyền hạn của mình. Các cơ quan.không phối hợp chặt chẻ.
Tôi không biết gì về vấn đề Bộ An ninh nêu trên. Trong giai đoạn chót, Tổng thống, Đức Cha và hai ông Nhu, Cẩn không đồng nhứt tư tưởng, đặc biệt trong vụ khủng hoảng Phật giáo. Tổng Giám mục Thục xen vào việc treo cờ càng làm tình hình thêm rối ben. Mỹ quyết tâm lật đổ ông Diệm, thủ tiêu ông Nhu. Vì thế cuộc binh biến thành công. Đất nước phiêu lưu vào hổn loạn.
Thủy Hoa Trang
Californie

No comments:

Post a Comment