Monday, October 31, 2011

Bài viết hay(196)

Văn Hóa Vô Tư!

Tôi vẫn luôn hãnh diện về sự yên tĩnh trong cái xóm nhỏ nơi tôi đang ở. Ngoài tiếng chim hót vào buổi sáng, tiếng xe cứu thương thỉnh thoảng ré lên trong đêm, tiếng trẻ cười đùa trên con đường cụt sau giờ tan trường mỗi buổi chiều, suốt ngày cái xóm nhỏ của tôi yên ắng đến độ tôi cứ tưởng như đang ở trong cảnh “dưới trời là ta”. Vậy mà 3 giờ sáng thứ bảy vừa qua, sự yên tĩnh của xóm tôi đã bị phá vỡ vì một cuộc cãi vã phát ra từ một gia đình chỉ cách nhà tôi vài bước. Nghe loáng thoáng tiếng chửi cộc cằn của người chồng và sự đáp trả tru tréo của người vợ, tôi cũng đoán được rằng nguyên nhân của vụ to tiếng là chuyện ghen tuông. Hai vợ chồng có bốn đứa con trong tuổi vị thành niên này chỉ mới dọn về xóm tôi được gần một năm nay. Có lẽ đây là lần đầu tiên những người hàng xóm của tôi bị phá giấc ngủ và dựng đầu dậy vì một tiếng ồn như thế.

Cứ tưởng có thể nướng thêm vài tiếng đồng hồ như thường lệ vào mỗi sáng thứ bảy, tôi lại bị kết án vào một sự trằn trọc bất đắc dĩ. Không dỗ lại được giấc ngủ, tôi đành hướng về Việt nam để ôn lại những đêm mất ngủ vì sự ồn ào náo nhiệt ở quê nhà.
Trong một tháng đi “thực tế” ở Việt nam, chỉ có một lần tôi ngủ trong nhà một người bạn và một lần qua đêm trên chuyến xe buýt được xếp vào hạng “có chất lượng cao” vì có giường nằm. Tất cả những đêm còn lại, tôi đều thuê nhà nghỉ hay khách sạn với giá bình dân. Phải nhìn nhận rằng, so với các nước Á châu khác, như Singapore chẳng hạn là nơi mà giá một đêm nghỉ trong một nhà trọ dành cho dân “Balô” (Backpackers) không dưới 60 đô Úc, đó là chưa kể điều kiện vệ sinh không mấy “lý tưởng”, nhà nghỉ và khách sạn bình dân tại Việt nam tương đối đủ tiêu chuẩn (máy lạnh, nước nóng, tủ lạnh, tivi “cáp”.v.v), giá lại rẻ như bèo: mỗi đêm chỉ tốn từ 10 đến 12 đô Úc!
Nhưng dù có là 5 sao đi nữa, không khách sạn nào ở Việt nam có thể được miễn nhiễm về tình trạng quá tải của tiếng động và sự ồn ào. Tôi đã luôn tìm những nhà nghỉ hay khách sạn nằm khuất trong những con đường nhỏ, xa những trục lộ giao thông chính, nhưng tôi cứ tưởng sau chuyến đi Việt nam, tôi phải đi khám bác sĩ tai vì bị tra tấn ở mức độ gần như không thể cho phép được!
Trong một chương trình du lịch và ẩm thực được thực hiện tại Việt nam và được chiếu trên đài truyền hình SBS, Luke Nguyễn nói rằng ở Việt nam hiện có khoảng 30 triệu chiếc xe gắn máy đủ loại. Chương trình này có lẽ đã được thực hiện cách đây vài năm. Theo tôi ước tính, nay con số này có thể đã lên đến ít nhứt 40 triệu cho một dân số trên 90 triệu người. Có thể đây là tỷ lệ cao nhứt thế giới. Thái lan, Phi luật tân, Nam Dương hay Ấn độ là những nước Á châu nổi tiếng kẹt xe, nhưng nhìn xuống đường có lẽ người ta không thấy một lưu lượng xe gắn máy khủng khiếp như trong các thành phố lớn của Việt nam. Tôi nghĩ rằng tại một thành phố lớn như Sài Gòn chẳng hạn, mỗi một người lớn đều phải sắm riêng cho mình một chiếc xe gắn máy. Như một anh bạn của tôi chẳng hạn, bốn cha con từ Bà Rịa lên Sài Gòn vừa tìm kế sinh nhai vừa học hành; họ phải thuê một phòng nhỏ ở Phú Nhuận. Căn phòng “đa năng” được xử dụng tối đa: vừa là phòng ngủ, phòng học, phòng ăn, nhà bếp, nhà giặt và ban đêm kiêm cả chỗ để xe. Vậy mà ra khỏi nhà, cha con mỗi người đều có con ngựa sắt riêng cho mình! Tôi không ngạc nhiên tại sao mỗi ngày ở Việt nam trung bình có đến 30 người thiệt mạng vì tai nạn giao thông!
Tôi chọn tháng 9 để về thăm Việt nam vì đây không phải là cao điểm mà người Việt hải ngoại thường về thăm quê hương và trong nước đây là tháng học sinh tựu trường. Mùa này các khách sạn, nhà nghỉ và những địa điểm du lịch tương đối vắng người, giá sinh hoạt có phần rẻ hơn. Hơn nữa, tháng 9 cũng là tháng cổ động “an toàn giao thông” tại Việt nam. Trong những ngày lang thang ở Sài Gòn, tôi đã nghe không biết bao nhiêu buổi văn nghệ rầm rộ để phát động phong trào “giao thông an toàn”. Những khẩu hiệu kêu gọi tôn trọng luật giao thông và đi đường được treo khắp nơi. Nhưng dường như người Việt nam xã hội chủ nghĩa đã ngán tới cổ “văn hóa khẩu hiệu”, cho nên mặc cho chính phủ có tốn vải và nước sơn để viết khẩu hiệu và các “văn công” có khàn cả cổ để gào thét, người dân vẫn “giao thông” theo luật riêng của mình...
Tác giả Sàigòn Cô Nương từ trong nước đã nói đến những nguyên nhân như sau: “Đầu tiên xe cá nhân quá đông, ít ai chịu đi xe buýt. Nhà mấy người là bấy nhiều chiếc xe gắn máy, không kể bây giờ lượng ô tô cũng tăng đáng kể. Chạy xe gắn máy trên 50 phân khối phải có bằng lái nhưng mấy ai giữ đúng luật lệ “sơ đẳng”. Gặp đèn đỏ không thấy cảnh sát giao thông là chạy luôn, chở ba người và hàng ngang thường là học sinh giờ tan trường, đi sai làn đường, xe gắn máy nhào qua làn xe hơi và ngược lại, đường đông xe bốn bánh xếp hàng dài quá, đợi sốt ruột nên lén lấn qua làn xe hai bánh. Nhất là nhằm lúc kẹt xe, xe cộ vùng vẫy, len lỏi nên tha hồ lấn đường, nhảy lên lề, quay ngược miễn sao thoát thân. Kẹt xe thì khó gây tai nạn vì xe nhích từng chút nhưng cảnh hỗn loạn thì đương nhiên. Riêng đường rày xe lửa nhiều lần tai nạn thương tâm vì ai cũng muốn lấn lên với ý nghĩ mình nhanh hơn xe lửa.” (Sàigòn Cô Nương, Tháng an toàn giao thông, Việt luận, 11/10/2011)
Tôi thật may mắn, vì không nằm trong số 30 người phải chịu tế thần mỗi ngày cho tai nạn giao thông tại Việt nam trong tháng 9 vừa qua. Nhưng bù lại cho sự may mắn đó tôi phải bị tra tấn vì tiếng động cơ ngày đêm đập vào màng nhĩ của mình.
Cứ thử tưởng tượng: dân số “có hộ khẩu” hẳn hoi tại Sài gòn là 9 triệu, cộng với khoảng 9 triệu người không có thẻ chứng minh nhân dân hay thuộc diện tạm trú, nếu cứ hai người có một chiếc xe gắn máy, thì tổng cộng có đến 9 triệu chiếc xe gắn máy. Những chiếc xe này vừa làm cho giao thông “ùn tắc”, vừa đêm ngày nhả khói và tiếng động vào không khí của thành phố này. Đó là chưa kể lượng taxi, “ô tô con” của cán bộ và đại gia cũng như các phương tiện di chuyển công cộng. Tình trạng ô nhiễm không khí và âm thanh chỉ có thể là “khủng khiếp” mà thôi, bởi vì ở Việt nam làm gì có chuyện kiểm tra về tình trạng nhả khói hay âm thanh quá tải của các động cơ máy nổ.
Suốt một tháng ở Việt nam, tôi không bao giờ ngủ được thẳng giấc. Trước năm 1975, cứ đến 10 giờ đêm, từ máy radio và tivi, ai cũng nghe được lời nhắc nhở “điều chỉnh âm thanh vừa đủ nghe để người xung quanh có thể yên giấc”. Tôi cứ tưởng ngày nay những cái loa phóng thanh giăng mắc chằng chịt ở mọi góc đường, phải tiếp tục bổn phận nhắc nhở đó. Nhưng e rằng nếu có thì cũng khó có thể át được tiếng động cơ của hàng hàng lớp lớp xe gắn máy hoạt động bất kể giờ giấc ở Việt nam. Dường như người Việt nam XHCN thích sống về đêm hơn. Sinh hoạt về đêm xem ra ồn ào náo nhiệt hơn cả ban ngày. Có những đêm, từ phòng ngủ, tiếng xe vận tải vào thành phố cộng thêm tiếng ồn ban ngày làm như thể có tiếng sóng biển mùa bão vỗ ầm ầm vào bờ và đập vào lồng ngực của mình.
Những đêm trằn trọc mất ngủ vì bị tiếng của động cơ xe gắn máy tra tấn như thế, tôi cứ thắc mắc: tại sao người Việt nam XHCN không tôn trọng luật giao thông và nói chung sống theo phương châm “mạnh ai nấy sống” như thế?
Cùng với ý thức hệ, văn hóa, ngôn ngữ...người “Nước Bắc” cũng đặt lên môi miệng người Miền Nam hai tiếng “vô tư”. Cứ “vô tư” nghĩa là cứ tự nhiên...như “người Hà nội”, muốn làm gì thì làm, nhứt là cứ tự nhiên làm phiền người khác, cứ xem người khác như thể không hiện hữu và cũng chẳng hiện diện trước mặt, bên cạnh hay đằng sau mình.
Tôi không biết người Việt nam XHCN ngày nay có phải là môn sinh của triết gia hiện sinh Pháp Jean Paul Sartre không? Ông triết gia đã từng ca ngợi và hết mình ủng hộ chủ nghĩa cộng sản này là người rất sợ cái nhìn của người khác. Ông tuyên bố một câu nghe rợn tóc gáy: “Người khác là hỏa ngục” (L’enfer c’est les autres). Không rõ người Việt nam XHCN hiện nay có ghét cái nhìn của người khác không, nhưng tuyệt nhiên trên đường đi tôi không thấy người ta nhìn thẳng về người đối diện, người ta chỉ chăm chăm nhìn vào...cái bánh xe của họ và cái chỗ nào trống để lủi vô.
Trong những ngày sống ở quê hương, mỗi khi ra đường tôi thấy thèm ánh mắt của người khác. Tại vùng tôi đang sống, hễ cứ gặp nhau, bất kể quen lạ, hầu như người Úc nào cũng nhìn thẳng vào mắt của người đang đi ngược chiều và nếu không nhoẻn miệng cười, thì ít ra cũng mở miệng chào “Good day, How are you, mate?...” như để nói rằng “tôi nhìn thấy bạn, tôi quan tâm đến bạn”.
Cứ xem đó như thói quen máy móc và lịch sự xã giao ngoài môi mép đi. Vậy mà trong một tháng sống ở Việt nam, tự nhiên tôi thấy “thèm” ánh mắt và câu chào hỏi ấy. Ở Việt nam, người đi xe gắn máy chạy như thể không có người đi bộ hiện diện trên lòng đường hay ở những nơi dành cho họ qua lại. Trên lề đường, vốn dành cho người đi bộ, người đi bộ cũng gần như mất quyền đi bộ, vì không còn một chỗ trống nào dành cho họ đã đành, mà cũng chẳng ai đếm xỉa đến họ. Nếu có đi ngược chiều, thì cũng chẳng ai màng đến sự hiện diện của người đối diện. Còn những người từ trong nhà dắt xe ra thì đương nhiên cũng xem người đi bộ như không hiện hữu. Người ta cứ “vô tư” đẩy chiếc xe của mình ra mà không cần phải nhìn người đang đi trên lề đường. Trong một tháng sống ở Việt nam, không biết bao nhiêu lần, tôi cứ lâm vào cái thế phải bị đẩy xuống lòng đường để tránh những chiếc xe được “vô tư” dắt ra và ủi vào người mình.
“Vô tư” để không quan tâm đến sự hiện diện của người khác đã đành, người Việt nam lại càng “vô tư” trong những chuyện có thể gây nguy hại cho người khác. Tôi vẫn không thể quên được những lần phải “hút thuốc thụ động” trên một số chuyến xe buýt. Có lần, người tài xế, anh lơ xe và một hai người khách quen thuộc khác châu đầu lại để “vô tư” nhả khói, mặc cho tôi đã buộc mở miệng nài nỉ xin “tha” cho vì nhà tôi dị ứng với khói thuốc và ở băng sau một em bé còn bồng trên tay phải ho từng cơn. Tôi lại cảm thấy “đau lòng” hơn vì phía trên người tại xế có một tấm bảng có ghi hẳn hoi câu “Cấm hút thuốc”.
Mới đây, trong phần tin tức trên đài SBS, tôi nhìn thấy cảnh một bé thơ bị xe cán trên lề đường. Chuyện ấy thì xem ra chẳng có gì phải đáng nói trong một quốc gia cộng sản có trên cả tỷ người và tai nạn giao thông chết người còn bình thường hơn cả “chuyện thường ngày ở huyện”. Đáng nói ở đây là có đến gần 20 người qua lại vẫn “vô tư” bỏ đi như thể không có chuyện gì xảy ra.
Chuyện này không thể không làm tôi liên tưởng đến hình ảnh phải nói là rùng rợn xảy ra ở Việt nam cách đây không lâu và đã được tải lên YouTube như chuyện “chỉ có ở Việt nam”. Đó là hình ảnh của một người được nhận diện là công an trên đường đi mua vật liệu xây cất đã bị một chiếc xe tải cán đứt nửa người. Trong bức ảnh, người ta thấy nạn nhân, mặc dù chỉ còn một nửa người từ bụng trở lên, vẫn còn tỉnh và cố gắng nói chuyện với một vài người qua lại. Đáng chú ý nhứt với tôi không hẳn là hình ảnh đáng thương của nạn nhân, mà là trong hơn 5 phút, làn sóng xe cộ và người qua lại vẫn thản nhiên và “vô tư” tiếp tục nhịp sinh hoạt như thể không hề có một người đang hấp hối gần đó.
Tại sao con người xã hội chủ nghĩa, dù là ở Trung Quốc hay Việt nam, đã có thể trở nên vô cảm trước khổ đau của người đồng loại và “vô tư” làm phiền người khác như thế?
Trong sự trằn trọc mất ngủ vì tiếng nổ của làn sóng xe gắn máy ở Việt nam, tự nhiên tôi lại nhớ đến câu nói bất hủ của ông tổ chủ nghĩa Marxit: “Chỉ có thú vật mới ngoảnh mặt làm ngơ trước nỗi khổ của đồng loại để quay ra chăm sóc cho bộ da riêng của mình”.
Nếu sống lại để nhìn thành quả hôm nay, Các Mác sẽ nghĩ gì? Hay ông cũng chỉ trả lời: “Thì cứ vô tư đi!”

Chu Thập

PHONG TRÀO “BẤT BÌNH“ ĐỐI VỚI GIỚI TÀI CHÁNH

Hoa kỳ và Liên Âu sống giữa hai cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế năm 2008 và năm 2011. Năm 2008, Khủng hoảng bắt nguồn từ NỢ TƯ làm cho các Thị trường Chứng khoán hỗn loạn. Năm 2011, Khủng hoảng bắt đầu bằng NỢ CÔNG làm cho các Thị trường Chứng khoán đảo điên. Giới Tài chánh bao gồm những Ngân Hàng, những Tổ chức Vốn, những Bảo Hiểm liên hệ làm ăn ở những Thị trường Chứng khoán.
Tại Hoa kỳ cũng như tại Liên Aâu, Phong trào, phần lớn thuộc thành phần Trẻ, tụ lại tại những nơi tượng trưng cho hoạt động thuần túy về Tiền bạc để tỏ sự BẤT BÌNH đối với giới cầm VỐN làm ăn chính yếu ở các Thị trường Chứng khoán.
Chúng tôi đề cập tóm tắt hai khía cạnh sau đây liên quan đến Phong trào “BẤT BÌNH“ này:
=> Phong trào tại Hoa kỳ và Aâu châu diễn tiến ra sao
=> Mục đích của Phong trào đòi hỏi gì và Lý do tại sao bất bình
Phong trào tại Hoa kỳ và Aâu châu
Diễn tiến ra sao
Phong trào bắt đầu từ Hoa kỳ và cụ thể hơn là từ New York bằng chiếm cứ “Wall Street“, được gọi là “OCCUPY WALL STREET”. Từ New York, Phong trào đang lan ra một số các Tiểu bang khác. Tại Aâu châu, Phong trào cũng chiếm cứ các công viên ở những thành phố gọi là “Địa điểm Tài chánh “ (Places Financìeres) như Luân Đôn, Francfort, Rome, Madrid, Zurich, Geneve.
Bản Tin mới nhất về Phong trào tại Hoa kỳ như sau:
“67% Dân New York: Đồng Ý Với Occupy Wall Street
NEW YORK – Với xung lực hậu thuẫn gia tăng ở mức toàn cầu, phong trào Occupy Wall Street tiếp tục biểu tình qua tháng thứ nhì.
Dù bị chỉ trích về chính trị và bị cảnh sát bắt, phong trào không tỏ ra dấu hiệu mất sức. Tình nguyện viên đang phân lọai vật phẩm hiến tặng tại nhà kho do Liên Đoàn Giáo Chức cung cấp gần công viên Zuccotti ở Lower Manhattan – các kệ trong kho chất đầy quần áo, mền, thực phẩm đóng hộp và chip khoai tây.
Thứ Ba 18-10 là ngày thứ 32 của Occupy Wall Street. Gần như không có lãnh đạo, lý tưởng mơ hồ, phong trào đã đứng vững lâu dài hơn dự đoán của nhiều người.
Giáo sư Michael Heaney phụ trách khoa chính trị của trường đại học Michigan cảm thấy ngạc nhiên về sự tồn tại của Occupy mà ông nói là chưa thấy tiền lệ. Trong lúc đoàn biểu tình nêu ra nhiều vấn đề, chủ đề vẫn là khuynh huớng thủ lợi của doanh nghiệp và của các nhà chuyên nghiệp về tài chính, về chính trị. Tại miền bắc California, đôi khi đề tài khác giành ưu thế, như chống can thiệp tại Iraq và Afghanistan.
Mặt khác, cuộc khảo sát của trường đại học Quinnipac cho hay 67% công chúng tại thành phố New York đồng ý với các quan điểm của Occupy.
1 nghi vấn tại Hoa Kỳ vào lúc này là liệu Occupy sẽ trở thành đối trọng cấp tiến với Tea Party hay không. Theo giáo sư Heaney, 1 phần tạo thành Occupy là phản ứng trước cuộc thương lượng về giới hạn nợ công vài tháng trước.
Cho tới nay, Tea Party chú trọng vào công tác tổ chức, với các nhà tranh đấu muốn vận dụng các chiến luợc truyền thống gồm vận động hành lang và hậu thuẫn các chính khách tranh cử chức vụ dân cử. Các phần tử vô chính phủ trong buổi đầu của Occupy không có kinh nghiệm và cũng không định làm những việc ấy.”
Tại Aâu châu, Nhật báo LE TEMPS (Thụy sĩ) ngày 17.10.2011, trang 4, viết tóm lược:
“Le mouvement des Indignés contre la crise et la finance mondiale, qui a pris samedi une dimension planétaire avec les dizaines de milliers de manifestants à travers le monde, s’est prolongé dimanche en Allemagne, au Royaume-Uni et aux Pays-Bas. Cette volonté de poursuivre le mouvement un deuxìeme jour consécutif s’est traduite par par un campement sauvage à Londres au coeur de la Cité. Une même intention s’est exprimée à Francfort, òu près de 200 personnes campent dans les tentes devant le sìege de la Banque Centrale Européenne.”
(Phong trào những người Bất bình đối với Khủng hoảng và với tài chánh Thế giới đã lấy hôm thứ Bảy một tầm mức toàn cầu với từng chục ngàn người biểu tình khắp Thế giới, còn tiếp tục ngày Chủ nhật ở Đức, ở Anh quốc và ở Hòa Lan. Cái ý chí tiếp tục Phong trào ngày thứ hai nữa liên tiếp buộc phải cắm trại tại chỗ ở chính trung tâm thành phố Luân Đôn. Cùng một ý hướng này tại Francfort, có gần 200 người cố thủ tụ trì trong những lều trước Tòa nhà chính của Ngân Hàng Trung ương Aâu châu.)
Tờ báo cũng cho biết riêng tại Thụy sĩ: 1000 người biểu tình tại Zurich, 200 người tại Geneve.
Mục đích của Phong trào đòi hỏi gì
và Lý do tại sao bất bình
Cho đến nay, Phong trào vẫn mang tính tự phát, chưa có tổ chức quy mô và cũng chưa nêu ra những đòi hỏ rõ rệt. Tuy nhiên, những nhà phân tích có thể nhìn thấy rằng đây là những người phần lớn là trẻ và có những ưu tư về tương lai công ăn việc làm trong tình trạng hiện tại thất nghiệp mỗi ngày mỗi tăng, nhất là cho tầng lớp trẻ. Nếu Phong trào tiếp tục nữa, người ta sẽ nhìn thấy những đòi hỏi rõ rệt hơn.
Riêng về Lý do tại sao bất bình, thì Phong trào đã nói rõ, đó là sự bất bình đối với Giới Tài chánh gồm những Ngân Hàng, những Tổ chức Vốn và những hãng Bảo Hiểm. Giới này cầm đồng VỐN (TIỀN) để tạo ra những Sản phẩm Tài chánh buôn bán với nhau ở những Thị Trường Chứng Khoán xa với đời sống Kinh tế thực. Trong nhiều năm gần đây, người ta gọi giới Tài chánh bằng tiếng Kỹ nghệ Tài chánh (Industries Financìeres) tách ra khỏi Kỹ nghệ sản xuất hàng hóa hay dịch vụ thực (Industries productives des Biens et des Services réels) của Kinh tế. Kỹ nghệ Tài chánh thu vào được LỢI NHUẬN rất cao và nhanh chóng trong phạm vi một số người hạn hẹp, trong khi ấy Kỹ nghệ Sản xuất thu vào LỢI NHUẬN thấp và với thời gian dài hơn nhiều và cho số đông quần chúng tham dự. Hoạt động Tài chánh mang tính “siêu hình“ bí hiểm ít kiểm soát được, trong khi ấy hoạt động sản xuất là cụ thể trước mặt mọi người để có thể nhìn rõ.
Chúng tôi có nhiều năm làm việc trong lãnh vực Tài chánh ở ngành đầu tư với Lợi Nhuận cao (High Yield Investment/ Private Placement Programs) với Thị trường Chứng khoán, nên có lẽ dễ hiểu lý do bất bình hiện giờ của Phong trào. Chính chúng tôi đã có những bất bình trong Lãnh vực Tài chánh này. Chúng tôi xin trình bầy cái kinh nghiệm bất bình của mình trước khi phân tích Lý do BẤT BÌNH của Phong trào lúc này.
* Rút ngắn Chu trình khai thác (Cycle d’Exploitation)
Ngân Hàng, Tổ chức Tài chánh, Bảo Hiểm giữ Tiền tiết kiệm của quần chúng. Khi quần chúng đem tiền đến gửi, họ chỉ cho Lãi suất hàng năm thấp. Nhưng họ sử dụng những số tiền gửi ấy để đầu tư, họ có thể lấy vào tiền lời hàng giờ, nghĩa tổng cộng lại LỢI NHUẬN họ thu vào rất cao hàng năm. Lợi nhuận là số thặng dư thâu vào được sau một Chu trình khai thác (Cycle d’Exploitation). Ơû Lãnh vực Kinh tế thực, Chu trình khai thác phải có thời gian dài mới hoàn tất. Tỉ dụ để sản xuất xong một cái bàn, phải mất tối thiểu 3 ngày chẳng hạn, rồi phải đem ra chợ bán. Bán xong rồi mới thấy Lợi nhuận hiện ra. Trong khi ấy, Chu trình của một thương vụ Tài chánh tại Thị trường Chứng khoán có thể ký xong trong 15 phút và chuyển đi. Chu trình càng được thu ngắn lại với truyền thông điện tử.
* Nhân vốn đầu tư lên bằng phát hành tiền tương lai (Monnaie virtuelle)
Số tiền mà quần chúng đem gửi ở giới Tài chánh sẽ làm căn bản để giới Tài chánh nhân lên bằng phát hành Tiền tương lai. Tỉ dụ Ngân Hàng chỉ có Tiền mặt 20%, họ phát hành Bảo Lãnh lên 100% và họ đầu tư bằng loại vốn tương lai này.
* Giới Tài chánh trọng giầu khinh nghèo
Khi chúng tôi làm việc về cung cấp vốn cho những Dự án (Project Funding), cái khó khăn cho những Dự án nhỏ và Chủ dự án trẻ, nghèo là tờ Bảo Lãnh Ngân Hàng. Năm 2001, chúng tôi đã phải cố gắng kết hợp giữa Đầu Tư Lợi Nhuận Cao để có thể cung cấp Vốn bằng Lợi nhuận cho những Dự án của những người trẻ còn nghèo. Chúng tôi gọi đó là Phương Pháp Cho Vay Hỗ trợ (Sustained Loan Method ) sau khi làm việc trong gần hai tháng tại Nassau, Bahamas, với Off-shore Funds. Chính chúng tôi đã viết bằng tiếng Anh năm 2001 như sau cho những Chủ dự án trẻ:
“During years of works in Project Financing, we observed that Prime Banks prefer to provide Funds to Great Companies in rich Countries and that when a young and poor Entrepreneurs go to Banks, requesting funds to their excellent Projects, the Banks ask them if they can provide a Prime Bank Guarantee.
How a poor young man can provide such a Prime Bank Guarantee ? There will be no loan to him for his excellent Project ! How poor Countries can develop their economic Projects when the Bank Guarantees issued by their Central Banks are not accepted or difficultly acceptable with very low price ?
Our main efforts were in search of Methods sustaining loans to the above poor Countries and to the above young and poor Entrepreneurs. We were thinking of the combination of financial possibilities such as the Leasing Bank Guarantees, the motivation of Assets and the Private Placement in High Yield Investment Programs “.
Những kinh nghiệm của chúng tôi với giới Tài chánh giúp chúng tôi hiểu những nỗi BẤT BÌNH của Phong trào hiện nay, nhất là giới trẻ đang lo sợ thất nghiệp, ở những điểm sau đây:
=> Giới Tài chánh (Ngân Hàng, Tổ chức Vốn và Bảo Hiểm) giữ Tiết kiệm của quần chúng và chỉ cho Lãi suất hàng năm thấp. Họ nhân số vốn ấy lên gấp nhiều lần bằng phát hành Tiền tương lai để đầu tư trong những thương vụ tài chánh ở các Thị trường Chứng khoán với Chu trình thực hiện kiếm Lợi nhuận rất nhanh. Lợi nhuận tổng cộng của họ rất cao như “Tiền đẻ ra Tiền “. Chúng tôi đã viết cách đây 12 năm về Tỉ dụ Oâng Chà Già cho vay ở góc Chợ Bến Thành và thu lời vào mỗi ngày để Lợi nhuận hàng năm lên tới 500%.
=> Lợi nhuận của giới Tài chánh thu vào rất cao, nhưng họ đã giúp rất ít cho việc làm giảm thất nghiệp ở Lãnh vực Kinh tế Sản xuất thực. Ở Lãnh vực này, chính những Công ty nhỏ và trung bình (Petites et moyennes Entreprises) mới tạo nhiều công ăn việc làm, còn những đại Công ty Liên quốc gia thì sử dụng máy móc nhiều hơn là nhân công hoặc là mang nhà máy sang Tầu để khai thác nhân công rẻ mạt. Giới Tài chánh lại thích cho những đại Công ty vay vốn hơn là cho những Công ty nhỏ và trung bình vì họ sợ những Công ty này khó khăn hoàn lại vốn.
=> Hai cuộc Khủng hoảng 2008 và 2011 bắt đầu từ giới Tài chánh (Ngân Hàng, Tổ chức Vốn và Bảo Hiểm) và hiện ra hỗn loạn ở các Thị trường Chứng Khoán. Khi giới Tài chánh bị hoạn nạn bởi Khủng hoảng, thì các Nhà Nước lại lo cứu vớt họ với những lượng tiền lớn. Aûnh hưởng việc cứu vớt giới Tài chánh này đẩy đến việc thắt lưng buộc bụng của quần chúng và tăng thuế mà quần chúng phải chịu. Giới Tài chánh giầu có, thu vào Lợi nhuận cao và cất kỹ. Đến khi họ gặp hoạn nạn thì có Nhà Nước cứu mà ảnh hưởng có thể lại đổ lên đầu quần chúng đang thất nghiệp.
Đó là những Lý do khiến quần chúng, nhất là giới trẻ BẤT BÌNH và đang xuống đường chiếm Wall Street hay những địa điểm Tài chánh hiện nay.
Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế
Lịch sử lại tái diễn!

Chỉ quan sát qua, chúng ta cũng có thể thấy những bài bản mà người Mỹ đã áp dụng tại Việt Nam trước 1975, nay cũng được tái áp dụng ở Afghanistan, ở Iraq, ở các nước Trung Đông và Bắc Phi. Nhìn vào cuộc chiến Libya vừa tạm chấm dứt, chúng ta cũng có thể thấy những thủ đoạn mà CIA đã áp dụng để lật đổ và giết Tổng Thống Ngô Đình Diệm năm 1963, cũng đã được áp dụng để lật đổ và giết Tổng Thống Gaddafi. Điều đáng ngạc nhiên là chính phủ Ngô Đình Diệm đã bị Mỹ “gài độ” ngay từ đầu nên khó cựa quậy, còn Gaddafi đang ở thế đối đầu với Mỹ, tại sao lại tự nguyện “nuôi khỉ nhòm nhà”, để chết một cách thê thảm?

Bỏ qua những chuyện linh tinh, chúng ta thử nhìn lại xem tại sao Hoa Kỳ và các nước NATO đã quyết định phải đánh chiếm Libya bằng mọi giá, và CIA đã dùng những thủ đoạn như thế nào để thực hiện cuộc đánh chiếm này.

TẠI SAO PHẢI GIẾT GADDAFI?

1.- Bài học kinh nghiệm

Lý do để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm rất rõ ràng: Năm 1961, Phó Tổng Tống Johnson cầm đầu một phái đoàn tới thăm Việt Nam. Phó Tổng Thống Johnson đã đề nghị với Tổng Thống Diệm để quân đội Hoa Kỳ đến bảo vệ miền Nam Việt Nam, nhưng Tổng Thống Diệm tỏ ra do dự. Ngày 12.5.1961, Đại Sứ Nolting đã báo cáo như sau: “Ông Diệm đã nói với Phó Tổng Thống Johnson rằng ông ta không muốn quân chiến đấu Hoa Kỳ đến Việt Nam, trừ trường hợp miền Bắc công khai đưa quân xâm lược.”

Sau khi Phó Tổng Thống Johnson vừa trở về, ngày 15.5.1961 Tổng Thống Diệm đã gởi ngay cho Tổng Thống Kennedy một văn thư nhắc lại cuộc gặp gỡ giữa hai bên và nói:

“Chúng tôi sẵn sàng hy sinh xương máu và nhân lực để cứu vãn xứ sở chúng tôi, và tôi biết rằng chúng tôi có thể trông cậy vào sự yểm trợ vật chất của quý đại quốc, một sự yểm trợ vô cùng thiết yếu để đạt được thắng lợi cuối cùng."

Dĩ nhiên, ông Diệm phải bị lật đổ. Không phải chỉ ông Diệm mà ngay cả Tổng Tống Kennedy khi ngăn cản việc mở cuộc chiến tại Việt Nam, cũng phải chịu chung số phận. Trong cuộc họp báo ngày 14.11.1963, Tổng Thống Kennedy đã hỏi: “Bạn có chào thua tại miền Nam Việt Nam không?”. Rồi ông tự trả lời câu hỏi của chính mình:

“Chương trình quan trọng nhất, dĩ nhiên là cho nền an ninh của chúng ta, nhưng tôi không muốn Hoa Kỳ đưa quân tác chiến sang đó.”

Sau đó ông nói:

“Giờ đây mục tiêu của chúng ta là đưa quân nhân Hoa Kỳ về nước, cho phép Việt Nam tự duy trì lấy nước mình như là một quốc gia độc lập.”

Trong khi đó, các thế lực tư bản đứng đàng sau muốn mở rộng chiến tranh và đổ quân vào Việt Nam để thực hiện các kế hoạch quốc phòng. Vì thế, ông đã bị giết ngày 22.11.1963 tại Dallas.

Trường hợp lật đổ và giết Tổng Thống Gaddafi cũng do giới đại tư bản Mỹ định đoạt gióng như trường hợp lật đổ và giết Tổng Thống Diệm.

2.- “Bảo vệ ngưởi dân” chỉ là chiêu bài

Theo Nghị quyết 1973 của HĐBA được thông qua ngày 17.3.2011, mục điêu chính của việc cấm vận và tấn công Libya là để “bảo vệ người dân Libya” (to protect the Libyan population), nhưng chẳng ai tin như vậy.

Congo được các chuyên viên LHQ mô tả là “Địa ngục trần gian”: Phụ nữ và các bé gái bị cưỡng bức. Đàn ông bị tàn sát. Nạn dân bị giết bằng dao rựa và gậy gộc. Khoảng 800.000 người Tutsi và Hutu ôn hoà đã bị các phần tử Hutu cực đoan sát hại chỉ trong hơn 100 ngày. Tổng số người bị giết được ước luợng khoảng 2 triệu. Tại sao lúc đó LHQ, Hoa Kỳ và các nước thuộc khối NATO không can thiệp để “bảo vệ người dân”?

Cuộc nội chiến Nam–Bắc ở Sudan tàn phá nền nông nghiệp của nước này khiến khoảng 300.000 người chết đói, hàng chục ngàn người bị giết và trên 3 triệu người phải bỏ nước ra đi.

Khi cuộc tranh chấp bộ tộc diễn ra ở vùng Darfur, phía tây Sudan, Tổng Thống Bashir đã đàn áp thẳng tay làm khoảng 200.000 người bị thiệt mạng. Số người chết đói, chết vì bệnh tật rất cao. Số dân tỵ nạn lên đến hàng triệu người. Tổng Thống Bashir đã bị Tòa Án Hình Sự Quốc Tế truy tố về tội diệt chủng, tội ác đối với nhân loại và tội ác chiến tranh, và đã ra trát bắt giam, nhưng Liên Hiệp Phi Châu (gồm 15 nước) phản đối lệnh bắt giam này. Nay nước Sudan được chia làm đôi. Tại sao lúc đó LHQ, Hoa Kỳ và các nước thuộc khối NATO không can thiệp để “bảo vệ người dân”?

Các cuộc nổi loạn ở Somalia đã đặt đất nước này vào tình trạng vô chính phủ kéo dài 18 năm với hàng chục ngàn người bị giết hại, trên 3 triệu người phải bỏ nước ra đi. Tại sao LHQ, Hoa Kỳ và các nước thuộc khối NATO không can thiệp để “bảo vệ người dân”?

3.- Lý do thật sự của sự can thiệp

Mỹ và NATO đã không can thiệp vào các biến cố nói trên, tại sao lại can thiệp vào Libya? Chúng ta có rất nhiều bài phân tích có giá trị. Trong phạm vi một bài báo, chúng tôi xin chọn bài nói chuyện của ông Paul Craig Roberts dưới đầu đề “US To Recoup Libya Oil From China” được phổ biến trên Press TV và nhiều cơ qua truyền thông. Ông Paul Craig Roberts là cựu Thứ trưởng Tài chính của Mỹ và hiện là biên tập viên của tờ Wall Street Journal, nên chúng ta có thể tin ông là người có thẩm quyền trong vấn đề này.

Khi được hỏi tại sao Hoa Kỳ và khối NATO mở cuộc tấn công vào Libya, ông nói theo ông có ba lý do chính:

Lý do thứ nhất là loại trừ Trung Quốc ra khỏi Địa Trung Hải. Trung Quốc đã đầu tư năng lượng mở rộng và đầu tư xây dựng tại Libya. Họ đang tìm đến châu Phi như một nguồn năng lượng trong tương lai.

Lý do thứ hai là Mỹ muốn chống lại sự xâm nhập Châu Phi của Trung Quốc bằng tổ chức Bộ Tư Lệnh Mỹ - Phi (USAC), nhưng Qaddafi từ chối tham gia.

Lý do thứ ba là Libya kiểm soát một phần của bờ biển Địa Trung Hải và nó không ở trong tay Hoa Kỳ.

Trong một bài phỏng vấn khác, ông nói rõ hơn:

“Chúng tôi cần phải lật đổ Gaddafi ở Libya và Assad ở Syria, bởi vì chúng tôi muốn đẩy Trung Quốc và Nga ra khỏi Địa Trung Hải. Để đảm bảo nhu cầu năng lượng của mình, Trung Quốc đã đầu tư lớn vào lĩnh vực năng lượng ở miền đông Libya, giống như đã làm ở Angola và Nigeria. Đây là nỗ lực của Mỹ để ngăn chặn không cho Trung Quốc có được các nguồn năng lượng theo cách mà Washington và London từng sử dụng từ những năm 30 của thế kỷ trước.”

Như vậy, “bảo vệ người dân Libya” hay thực thi dân chủ chỉ là những chiêu bài. Mục tiêu chính vẫn là dầu lửa.

TỰ CHỌN CÁI CHẾT CHO MÌNH

1.- Bài học kinh nghiệm

Để lật đổ Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Hoa Kỳ đã phải chuẩn bị hơn 3 năm. Trước hết là chọn trong số các sĩ quan cao cấp được chính phủ VNCH gởi đi học khóa “Command and General Staff College” ở Kansas, Hoa Kỳ, để làm nội ứng và điều khiển cuộc đảo chánh. Hai người được chọn là Trần Thiện KhiêmNguyễn Văn Thiệu.

Trần Thiện Khiêm đã được ông Huỳnh Văn Lang kết hợp vào Đảng Cần Lao từ lâu. Khi cuộc đảo chánh ngày 11.11.1060 xảy ra, Đại Tá Khiêm là Tư Lệnh Sư Đoàn 21 kiêm Quyền Tư Lệnh Quân Khu 5, đã được lệnh đưa quân về dẹp cuộc đảo chánh. Tướng Trần Văn Đôn tiết lộ rằng khi đem quân về Sài Gòn, Đại Tá Khiêm có tiếp xúc với Đại Sứ Mỹ Durbrow và Tướng McGarr, người cầm đầu cơ quan MACV. Đại Tá Khiêm đã giải tỏa Sài Gòn và trở thành “con cưng” của ông Diệm, được thăng Thiếu Tướng và cho giữ chức Tham Mưu Trưởng Liên Quân. Cả ông Nhu lẫn ông Diệm đều không hay biết Trần Thiện Khiêm là điệp viên (agent) của CIA.

Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu, sau khi đi học ngoại quốc về, có lẽ do sự sắp xếp của CIA, đã xin gia nhập Đảng Cần Lao, mặc dầu lúc đó đã xế chiều rồi, để được ông Nhu tin tưởng hơn. Đại Tá Lê Quang Tung, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt và là Quân Ủy Trưởng của Đảng Cần Lao, đã đón nhận Đại Tá Thiệu một cách hoan hỷ!

Đại Tá Nguyễn Văn Thiệu đã được cử đi làm Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh ở Huế. Đầu năm 1963, khi thấy tình hình lộn xộn, Tổng Thống Diệm đã đưa Đại Tá Thiệu về làm Tư Lệnh Sư Đoàn 5 đóng ở Biên Hòa thay thế Đại Tá Nguyễn Đức Thắng, với nhiệm vụ “giải cứu thủ đô khi có đảo chánh”. Ông Nhu không hề hay biết Đại Tá Thiệu là người của CIA nên tiếp tay cho CIA!

Ngoài ra, năm 1962 Lucien Conein, một viên chức tình báo rất quen thuộc với Việt Nam, tuy đã về hưu nhưng được CIA tuyển dụng lại và gởi qua Sài Gòn làm cố vấn cho Bộ Nội Vụ của VNCH, nhưng trong thực tế, ông ta có nhiệm vụ móc nối với các tướng Việt Nam để chuẩn bị tổ chức đảo chánh và giúp Tướng Khiêm lập một kế hoạch đảo chánh hoàn chỉnh.

Trên đây là ba nhân vật chính trong cuộc đảo chánh lật đổ và giết ông Diệm. Về sau, Trần Thiện Khiêm và Nguyễn Văn Thiệu cũng đã đóng vai trò chính trong kế hoạch làm mất miền Nam.

Khi Gaddafi bắt đầu hợp tác với Mỹ, CIA cũng đã dùng những thủ đoạn tương tự để hất cẳng Gaddafi và đưa tay sai của Mỹ lên, nhưng Gaddafi không có kinh nghiệm gì về các thủ đoạn này.

2.- Gaddafi bị CIA cho “vô cơ”

Một nhóm hoạt động nhân quyền đã tìm thấy rất nhiều tài liệu liên quan đến quá trình hợp tác giữa cơ quan tình báo CIA của Hoa Kỳ và cơ quan tình báo MI6 của Anh với cơ quan tình báo Libya trong một văn phòng bị bỏ hoang của cựu Bộ trưởng Ngoại Giao Libya Moussa Koussa dưới thời ông Gaddafi.

CIA biết rất rõ Gaddafi rất ghét các nhóm Hồi giáo quá khích, nhất là al-Qaeda. Gaddafi muốn xây dựng chế độ dựa trên các bộ tộc chứ không dựa trên Hồi giáo, nên ông chủ trương thanh toán các nhóm Hồi giáo quá khích. Gaddafi đã từng là mục tiêu ám sát của nhóm khủng bố al-Muqatila (Nhóm Chiến binh Hồi giáo Libya) và Gaddafi cũng đã phát hành lệnh truy nã toàn cầu đối với trùm khủng bố Osama Bin Laden. Bắt được “mạch” của Gaddafi, CIA lập ngay kế hoạch hành động.

Tài liệu cho biết từ năm 2002 đến 2004, các cơ quan tình báo của Libya đã hợp tác chặt chẽ với CIA và MI6 trong cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu. Rất nhiều phần tử bị nghi ngờ có dính líu đến các tổ chức khủng bố đã bị CIA bắt giữ và dẫn độ tới Libya. CIA và MI6 cũng đã cung cấp cho cơ quan tình báo Libya các thông tin chi tiết về những người Arập bên ngoài Libya mà họ đang theo dõi, ngay cả khi CIA và MI6 không thấy những cá nhân này thật sự là mối đe dọa cho an ninh Libya.

Khi hợp tác với Mỹ và Anh như vậy, Gaddafi tưởng rằng địa vị của ông ngày càng vững chắc, ông không ngờ chính ông đang đào mồ chôn ông.

3.- Khi CIA ra tay

Trong cuộc chiến Libya vừa qua, người ta khám phá ra một số người đang chỉ huy cuộc nổi dậy tại Libya trước đó đã từng bị CIA bắt giữ và thẩm vấn, đặc biệt là Abdel Hakim Belhadj, một người đã bị CIA liệt vào danh sách đen và đã bị bắt giữ và được dẫn độ đến Libya, nhưng năm 2010 ông ta đột nhiên được trả tự do và được giao cho “sứ mạng” tổ chức nổi dậy chống Gaddafi!

Trong cuộc thẩm vấn nói trên, ông Paul Craig Roberts cho biết: “Lực lượng vũ trang bạo loạn được sinh ra ở phần phía Đông của đất nước Libya. Và chúng ta biết rằng CIA đã dúng tay vào việc này, vì vậy lực lượng bạo loạn đã được trang bị vũ khí.”

Tờ New York Times số ra ngày 30.3.2011, có đăng một bài dưới đầu đề “C.I.A. Agents in Libya Aid Airstrikes and Meet Rebels” (Mật vụ CIA ở Libya giúp đỡ các cuộc không kích và gặp các phe nổi dậy) nói rằng CIA đã đưa các điệp viên mật vào Libya để thu thập tin tức tình báo phục vụ cho các cuộc không khích và bắt liên lạc với các chiến binh đang chống lại quân đội trung thành với Gaddafi. Bài báo còn tiết lộ rằng vài tuần trước, Tổng Thống Obama đã ký một pháp lệnh mật (a secret finding), cho phép CIA cung cấp vũ khí và các hỗ trợ khác cho quân chống đối Gaddafi. Pháp lệnh mật này là thủ tục pháp lý cần thiết trước khi các hoạt động của CIA chính thức diễn ra. Năm 2009, ông Obama cũng đã ký một pháp lệnh mật tương tự để CIA mở rộng các hoạt động chống khủng bố ngầm tại Yemen.

Dĩ nhiên, Tòa Bạch Ốc không bao giờ xác nhận có các pháp lệnh mật đó.

Một bài báo đăng trên website Al Jazeera cho biết lực lượng đặc biệt của Mỹ và Ai Cập đã bí mật huấn luyện các tay súng nổi dậy ở Libya. Theo một lãnh đạo nổi dậy, ông ta đã trải qua một khóa đào tạo đặc biệt về các chiến thuật quân sự ở một cơ sở bí mật thuộc miền đông.

Gaddafi đã cho xây dựng những công trình ngầm khổng lồ dưới lòng quốc gia này, trong đó có cả những bunkers có khả năng chống bom hạt nhân. Ngoài hệ thống đường hầm quy mô dài hàng ngàn km ở thủ đô Tripoli, Libya còn có một hệ thống đường ngầm dẫn nước được mệnh danh là “Con sông nhân tạo vĩ đại”. Gaddafi tưởng rằng đây là những công trình không thể phá sập được bằng bom đạn. Hệ thống này liên kết Bab al-Azizia với nhiều địa điểm khắp Tripoli, các thị trấn xung quanh cũng như các khu vực sa mạc và bờ biển. Chính nó giúp ông Gaddafi và các cộng sự thân tín đột ngột xuất hiện ở những nơi mà người ta không ngờ tới. Thế nhưng nhờ những kỷ thuật quang tuyến kết hợp với hệ thống tình báo, CIA nắm được mọi ngỏ ngách và chỉ dẫn cho phi cơ NATO cách phá sập. Gaddafi phải bỏ chạy.

SAU MÙA SĂN GIẾT CHÓ?

Như chúng ta đã biết, vì lý do an ninh và quyền lợi về dầu hỏa, Hoa Kỳ đã dùng viện trợ cả quân sự lẫn kinh tế để biến một số lãnh tụ ở vùng Trung Đông và Bắc Phi thành công cụ của Mỹ, chẳng hạn như Tổng Thống Hosni Mubarac của Ai-Cập, vua Hamad bin Isa Al Khalifah của vương quốc Bahrain, Quốc Vương Abdullah bin Abdulaziz al-Saud của Arabia Saudia, Giáo Trương (Emir) Sabah Al-Ahmad Al-Jaber Al-Sabah của Kuwait, Tổng Thống Khalifa bin Zayed Al Nahayan của Tiểu Vương Quốc A-rập Thống Nhất, Quốc Vương Abdullah II của Jordan, Quốc Vương Sheikh Hamad bin của Qata, Quốc Vương Qaboos bin Said Al Said của Oman, Tổng Thống Ali Abdullah Saleh của Yemen, v.v.

Tuy nhiên, các nhà phân tích cho rằng cuộc chiến do liên quân Mỹ-Anh-Pháp thực hiện vừa qua đã tác động xấu đến mối quan hệ được xem là nồng ấm giữa cộng đồng tình báo Mỹ và những chính quyền của thế giới A-rập.

Ông Mohamed Hosni Mubarak đã làm Tổng thống Ai-Cập từ 14.10.1981, sau vụ ám sát cựu Tổng thống Mohammed Anwar El-Sadat. Mubarak đã làm Tổng Tống đến nhiệm kỳ thứ năm, tức đã 30 năm. Trong 30 năm, ông đã có sự hợp tác rất đắc lực với Mỹ: Mỹ đã hiện đại hóa trang bị vũ khí và huấn luyện các lực lượng của Ai Cập. Ai Cập đã tham gia thường xuyên vào các cuộc tập trận với Hoa Kỳ và các nước Châu Âu cũng như các đồng minh A-rập, gồm những cuộc thao diễn hai năm một lần diễn ra tại Ai Cập.

Trong 30 năm cai trị, Mubarac đã dùng bàn tay sắt để cai trị nước Ai-cập, nhưng Mỹ và các nước Tây phương chẳng bao giờ đặt ra vấn đề dân chủ và nhân quyền với ông, vì ông là công cụ tốt. Nhưng những năm cuối đời, ông tỏ ra bướng bỉnh và không làm theo ý Mỹ nữa, nên Mỹ quyết định loại ông bằng một cuộc “cách mạng hoa lài” và thay thế bằng một nhân vật khác. Ông đã chịu từ chức nhưng bị tống giam vào nhà tù Tora ở phía nam Cairo về các tội tham nhũng và chống biểu tình.

Sau khi ông bị hạ bệ, những người kế vị ông vẫn tiếp tục “thực thi dân chủ” bằng các biện pháp hung bạo như ông, nhưng Mỹ và các tổ chức nhân quyền chẳng nói gì cả. Bản tin của hãng thông tấn Zenit ngày 11.10.2011 cho biết một biến cố đẫm máu nhất kể từ khi Mubarak bị hạ bệ, đã làm 24 người chết và 212 người bị thương: Một số người Thiên Chúa Giáo Coptic đã tổ chức biểu tình khi một số người Hồi Giáo quá khích đốt nhà thờ của họ, nhưng chính quyền chẳng làm gì cả. Lực lượng an ninh và quân đội đã dùng xe bọc thép và nổ súng để dẹp cuộc biểu tình với kết quả bi thảm như đã nói trên. Linh mục Daoud cho hay ngài thấy xe tăng cán lên 5 người biểu tình.

Số phận của Tổng Thống Gaddafi, một người đã tự nguyện hợp tác với Mỹ, còn bi thảm hơn số phận của Tổng Thống Mubarac. Chưa ai biết số phận của Tổng Thống Yemen là Ali Abdullah Saleh sẽ như thế nào vì ông ta đã đã để cho CIA xâm nhập quá sâu vào các cơ cấu nội bộ của Yemen.

Pakistan và Việt Nam đã thu nhận bài học đau thương của VNCH nên luôn giữ một khoảng cách với Mỹ.

Lịch sử đang tái diễn. Phương châm “Sau mùa săn giết chó” của Mao Trạch Đông đang được áp dụng tại các nước Bắc Phi và Trung Đông.

Ngày 25.10.2011

Lữ Giang
Thâm cung bí sử ghê rợn của CSVN – THƯ HÀ NỘI – MỘT TÀI LIỆU LỊCH SỬ HIẾM QUÍ

THƯ HÀ NỘI
Hànội:
Bất cứ Người Việt Nam nào thường xuyên theo dõi hiện tình đất nước thì đều nhận thấy rất rõ rằng lòng dân trên khắp mọi miền đất nước đã quá chán ngán, căm phẫn đa số các cán bộ của Đảng và nhà nước Cộng Sản Việt Nam đương quyền. Bất cứ cương vị cán bộ nào từ thôn, ấp, xã, phường, huyện, tỉnh, trung ương đang ngày đêm vơ vét, ăn quỵt, cướp bóc, hoành hành làm điêu đứng cả xã hội, nhân quyền và tự do tôn giáo bị vi phạm nghiêm trọng, cộng đồng dân tộc bị chia rẽ sâu sắc. Thậm chí, những người dân càng hiền lành, chất phát, lao động chân chính bao nhiêu thì lại càng bị những kẻ thống trị trấn áp, cướp giật nhà cửa đất đai, bị đẩy đến tận cùng của sự nghèo đói, oan khuất và ly tán.
Xã hội gần như là rơi vào tình trạng vô chính phủ, từ trung ương tập quyền tới địa phương cát cứ, quốc nạn tham nhũng tràn lan, tính dối trá và sợ hãi sự thật bao trùm lên cả nước. Tinh thần quốc gia dân tộc bạc nhược. Người dân sống ở đâu cũng lo sợ nhân tai, nhân họa đến từ các Cơ quan công quyền, đi đâu cũng phải lo tiền đút lót, hối lộ cho nhân viên từ hộ lý, y tá, bác sỹ trong bệnh viện đến giáo viên trong trường học, hay các ngành, các cấp, các cơ quan dịch vụ, truyền thông, công quyền. Cả dân tộc đang phải sinh tồn trong bất ổn trước sự lộng hành của lưc lượng công an, an ninh, mật vụ. Và, chưa biết bao giờ nhìn thấy được ánh sáng tương lai tốt đẹp thật sự.
Sự mua bán chức, quyền, bằng, cấp gần như công khai. Nếu muốn mua chức Cục trưởng, Vụ trưởng, Sư đoàn trưởng hay muốn được phong cấp tướng phải mất vài tỷ đồng. Chạy chức thứ trưởng phải mất 5-7 tỷ đồng. Chức Bộ trưởng phải tính tiền triệu đô la Mỹ. Dư luận ở Hà Nội biết rõ việc Ông Lê Thế Thảo chạy chức Chủ Tịch UBND Thành phố Hà Nội mất hơn 30 tỷ đồng. Rồi chuyện các Lãnh đạo cấp cao của ĐCSVN có nhiều triệu đô la Mỹ. Mỗi ủy viên trung ương Đảng CSVN hàng năm cũng vơ vét được vài chục triệu đô la Mỹ là chuyện thường. Cái danh sách tên 300 vị có chức, quyền của đảng và nhà nước CHXHCNVN đã và đang có hàng trăm triệu đôla đến hơn vài tỷ đô la Mỹ mà rất nhiều người đều biết được loan tải trên mạng internet lâu nay. Rồi chuyện Cựu Bộ trưởng Lê Ngọc
Hoàn có hơn 50 cái Vi-la khắp cả nước, có con riêng 7-8 tuổi. Và mấy ông Bộ trưởng về hưu khác cũng có con riêng nhưng báo chí cấm được viết về những hiện tượng này. Rồi chuyện ông Trịnh Trọng Quyền – Cựu bí thư tỉnh ủy Thanh Hóa lập Công ty riêng cho con trai để tham gia các thầu xây dựng đường sá trong tỉnh và luôn thắng thầu (theo tin từ Cán bộ đảng viên cao cấp của ĐCSVN). Sau đó bán lại thầu ngay tức khắc lấy 5% tổng giá trị gói thầu. Rồi chuyện lãnh đạo Công ty Gang thép Thái Nguyên cho con mua lại nhà máy thép cũ như là cướp luôn cả nhà máy để bán sắt vụn kiếm tiền. Chuyện Thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc Phòng, UV TƯ ĐCSVN Nguyễn Huy Hiệu bị một phụ nữ đưa con đến Cơ quan Bộ Quốc Phòng đòi ông Hiệu nhận là con đẻ.
Trong nhiều năm qua, công luận Việt Nam lưu truyền sự kiện ông Đỗ Mười nhận 1 triệu USD hối lộ của một Công ty Hàn Quốc. Chuyện ông Lê Đức Anh bị xuất huyết não và nhà cầm quyền Bắc Kinh cử một phái đoàn bác sỹ đặc biệt sang cứu sống. Từ đó ông Lê Đức Anh mang nặng thâm ơn CS Trung Quốc. Hàng năm Trung Quốc vẫn cử một đoàn cán bộ y tế sang kiểm tra, bồi dưỡng sức khỏe cho ông Lê Đức Anh để bằng mọi giá giúp ông Lê Đức Anh sống lâu hơn. Đây là hành động thể hiện “Thiên Triều” bảo dưỡng một “tên Thái Thú – Chư Hầu”.
Chính ông Lê Đức Anh là người quyết định toàn bộ quá trình bình thường hóa quan hệ giữa ĐCSVN với ĐCSTQ, nó hoàn toàn bất thường tới mức:
Lãnh đạo ĐCSVN phải xin ý kiến Bắc Kinh và hướng giải quyết vấn đề để đàm phán trước khi đàm phán,,,. Đây là bằng chứng rõ ràng Lãnh đạo ĐCS Việt Nam chịu làm Chư hầu, Thái thú, đàn em, làm một tỉnh của TQ hay TQ bảo gì phải nghe nấy. Theo các vị Lão thành cách mạng từng lãnh đạo, cấp trên của ông Lê Đức Anh như ông Phạm Văn Xô (Cựu phó ban Tổ chức TƯ ĐCSVN), Đồng Văn Cống (Cựu phó Tổng Thanh tra QĐNDVN) và Nguyễn Văn Thi (Cựu chủ nhiệm hậu cần Bộ tư lệnh Miền Nam) thì ông Lê Đức Anh đã khai man lý lịch cá nhân và khai man tư cách Đảng viên đảng CS: “Lê Đức Anh không phải là công nhân cao su như tự khai mà là người giúp việc thân cận cho chủ đồn điền De Lalant-một sỹ quan phòng nhì của Pháp. Ông Lê Đức Anh chưa bao giờ được kết nạp vào ĐCSVN”, ấy thế mà tự khai là Đảng viên ĐCSVN từ trước năm 1940, nay đã hơn 70 năm tuổi đảng.
Ông Lê Đức Anh, ông Đỗ Mười và Nguyễn Chí Vịnh cũng đã từng cùng dựng ra vụ Sáu Sứ-Năm Châu để vu khống Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thượng tướng Trần Văn Trà cùng với tay chân định lật đổ Bộ Chính Trị và chính quyền trong dịp Đại hội 7 ĐCSVN, năm 1991. Còn vụ T4 thì ba ông trên đã dựng chuyện quy kết Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Thượng tướng Trần Văn Trà, TT Võ Văn Kiệt, TT Phan Văn Khải, CT QH Nguyễn Văn An, bà Võ Thị Thắng,,, là tay sai của tình báo CIA-Mỹ nhằm mục đích triệt hạ uy tín các đối thủ để xây dựng Phe thân CS Trung Quốc, làm tay sai cho Bắc Kinh. Thời kỳ ông Lê Đức Thọ còn sống mỗi khi ông Lê Đức Anh là đệ tử ruột được truyền ngôi đến thăm và đi ra khỏi nhà ông Thọ đều phải đi thụt lùi không dám quay lưng vào nhà ông Lê Đức Thọ. Có ý kiến, nhận định rằng hầu như 100% các sỹ quan
quân đội cao cấp của CHXHCN Việt Nam hiện nay đều rất căm ghét „cha con“ ông Lê Đức Anh – Nguyễn Chí Vịnh (con nuôi). Nhưng, hầu hết các cấp tướng lĩnh lại rất quý trọng Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Người Anh cả của QĐNDVN. Nhiều nhân sỹ, trí thức, các cựu cán bộ cao cấp của ĐCSVN và nhân dân khắp nơi phải lên tiếng, thậm chí kêu gọi “lật đổ, đảo chính quân sự” thì mới đây Lãnh đạo ĐCSVN đã phải mời Mỹ và Nga vào hợp tác với ASEAN. Ngay lập tức cách đây vài tuần trên Vietnamnet ông Lê Đức Anh có bài viết có nội dung rằng Ông là người đầu tiên bảo trợ cho quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ từ những năm 1986 qua việc cứu giúp một ông Bác Sỹ. Chuyện này có thật hay không?
Chuyện con dâu ông Lê Đức Anh là bà Nguyễn Thị Doan cũng nhờ cậy thế thần của bố chồng hiện nắm giữ chức Phó Chủ tịch nước. Qua những chứng cứ trên cho thấy rằng ông Lê Đức Anh là trụ cột cho quan hệ CS Việt Nam – CS Trung Quốc sau năm 1991. Ông Lê Đức Anh, một con người gian trá, xảo quyệt, vu khống dựng chuyện nói xấu các Đại Công Thần thời Cách mạng tháng 8 còn sống đồng thời đẩy đất nước vào tình trạng bị Trung Quốc thôn tính toàn diện, một người hoàn toàn không có tư tưởng triết lý, lý luận gì, mà chỉ có ít mưu mô quỷ quyệt. Hiện tại đất nước ta vẫn nghèo đói, chậm tiến mọi mặt. Hệ thống chính trị độc tài, tham nhũng thối nát �» Ÿ khắp mọi nơi. Lê Đức Anh đã sống và làm việc chỉ vì lợi ích cho cá nhân và chính con cháu ông ấy, chứ hoàn toàn không vì đất nước, vì dân tộc gì cả. Nhân dân Việt Nam không thể chấp nhận một “Nhà chính trị” độc ác và tàn bạo, xấu xa như vậy được. Phe đảng của ông Lê Đức Anh – Đỗ Mười thực sự đã hết thời, cần phải chấm dứt một hệ thống cai trị cổ hủ, độc quyền trên đất nước Việt Nam một cách sớm nhất!
Ông Nông Đức Mạnh có một khu trang trại rộng lớn ở tỉnh Thái Nguyên. Ông Mạnh thường xuyên đuổi vợ về quê, hàng ngày ông Mạnh sống ở Villa tại Hồ Tây có diện tích 500 m2, có „gái chân dài“ vào phục dịch hàng ngày (nguồn tin khá tin cậy cung cấp rằng Tổng Cục II bảo kê 100%).
Bên cạnh có khu Villa của em ruột cùng cha khác mẹ là Nguyễn Tất Trung có diện tích là 150m2. Cộng Sản Bắc Kinh khẳng định rằng ông Nông Đức Mạnh đã tự nhận mình là người dân tộc Choang của Trung Quốc. Trong nhiều chỉ thị của lãnh đạo đảng, ông Nông Đức Mạnh nêu v/đ “đất rừng VN chưa dùng đến thì để cho người khác thuê cũng được chứ sao?”. Hầu hết các trí thức và người dân Việt Nam ai cũng phê phán và chán ghét ông Mạnh. (Một tiến sỹ, cựu giảng viên ĐHBKHN và ĐH Mỏ Địa chất, nguyên thành viên Ban hiến kế cho Bộ chính trị nói: Ông Nông Đức Mạnh trí tuệ kém lắm, suy nghĩ và nói năng không có một chút lô-gíc nào cả.
Ý kiến của một anh nông dân, lái xe ở Nghi Lộc, Nghệ An nói: Ông Nông Đức Mạnh đầu óc tối tăm, không có sáng kiến gì, không làm được gì cho dân, cho nước. Các Cụ Lão thành thì khẳng định “ Nông Đức Mạnh đã ngả hẳn vào lòng Trung Quốc rồi”) . Ông Nông Đức Mạnh đã câu kết chặt chẽ cùng với Nguyễn Chí Vịnh là hai nhân vật quyết định cho TQ vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm tạo nên một „cửa ngõ” thuận lợi và,hợp pháp“ để cho CS Trung Quốc tiến hành xâm lược và thôn tính nước ta. Đây là một trọng tội không thể tha thứ được! Con trai ông Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn sinh năm 1963, đã đi xuất khẩu lao động ở Đông Đức mà khi trở về VN lại làm đến chức Chủ tịch Hội Liên Hiệp Thanh Niên Việt Nam, rồi Bí thư Tỉnh ủy Bắc Giang, để dọn đường chuẩn bị vào Bộ chính trị Trung Ương ĐCSVN, rồi kế tục ông Mạnh chăng? Mấy ngày vừa qua hàng chục nghìn người dân Bắc Giang biểu tình đòi giải quyết vụ một thanh niên bị CA đánh chết và chứng kiến Nông Đức Tuấn, Bí thư Tỉnh Ủy Bắc Giang vẫn đưa 2 đầu bếp từ Hà Nội về để nấu món thịt cừu, ăn nhậu phả phê, thiết đãi bạn bè thì thử hỏi ý thức và trí tuệ của một “chính trị gia” vì nhân dân ở chỗ nào? Vậy Phe cánh của cha, con ông Nông Đức Mạnh có xứng đáng là những “chính trị gia” và lãnh đạo đất nước có hơn 4000 năm văn hiến hay không?
Ông Nguyễn Phú Trọng, Chủ Tịch Quốc Hội, là một “Lý thuyết gia” của ĐCSVN, một tiến sỹ triết học Mác-Lê-Mao nhưng nói năng không có một chút triết lý hay lý luận gì. Một Nhà chính trị phải có tư tưởng
riêng, lý luận riêng, chính kiến riêng, có chí khí, có lòng dũng cảm,
có nhiều sáng kiến, có tư duy lô-gíc và sâu sắc, có ý thức luôn giữ
cho mình trong sạch nhất có thể và phải đạt quyền lợi của đất nước và dân tộc mình lên trên hết. Nhưng, thực tế thì ông Nguyễn Phú Trọng không làm được gì cả, ông chưa thể hiện được giá trị gì cho đất nước. Ông Nguyễn Phú Trọng còn công khai ủng hộ cho Trung Quốc vào Tây Nguyên khai thác Bauxite nhôm, ý kiến vô trách nhiệm của ông Trọng:
Quyết „Ngăn cản không cho QHVN bàn về dự án bauxite,…và lừa rối rằng:
“Dự án Bauxite có vốn đầu tư chỉ dưới 600 triệu USD”. Vậy thử hỏi ông Nguyễn Phú Trọng vì quyền lợi của đất nước và quyền lợi của dân tộc ở chỗ nào? Ông và ông Phạm Quang Nghị cũng là hai người được cử sang Trung Quốc thực tập làm Tổng bí thư của ĐCSVN khóa này. Đây rõ ràng là để bằng chứng làm tay sai cho Trung Quốc, chịu thua Trung Quốc, Trung Quốc can thiệp vào nội bộ của dân tộc Việt Nam chúng ta. Nếu hai Ông ấy là những Chính trị gia tài giỏi thì không bao giờ chấp nhận sang TQ thực tập để làm Tổng Bí Thư giả tưởng – đó là hành động nhục nhã, cúi đầu quy phục Trung Quốc! Trong dịp ĐH ĐCSVN năm 2006 ông Giả Khánh Lâm là Ủy viên BCT, CT QH Trung Quốc còn sang Hà Nội đặt một „ Bộ chỉ huy“ để theo dõi và chỉ đạo ĐH của ĐCSVN (theo tin của cán bộ cao cấp của ĐCSVN). Hiện nay còn có tin BCT ĐCSVN phải báo cáo tình hình nhân sự từ cấp tỉnh hay các cấp bí thư từ cấp quận, huyện đều phải sang Trung Quốc tập huấn chính trị. Ở các tỉnh Biên giới giáp với TQ thì phải báo cáo nhân sự từ cấp huyện trở lên đối với những huyện giáp biên giới với TQ. Vậy Bộ Chính Trị và Ban Chấp Hành Trung Ương ĐCSVN đã hoàn toàn là bù nhìn!
Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên là một viên cứu thương trong một đơn vị địa phương quân ở chiến khu Cà Mau. Khi còn là một người lính, với tin đồn khá chính xác là con của một Đồng chí của ông Võ Văn Kiệt (nhưng cũng có tin là con rơi của cựu Đại tướng Nguyễn Chí Thanh). Ông Nguyễn Tấn Dũng nguyên trình độ chưa học hết cấp I, sau năm 1975, học tại chức mà đỗ đạt tới cử nhân luật (không rõ từ năm nào đến năm nào, ở trường nào, ai là thầy dạy?), ông ta tự khai, thân thể mang tới 32 vết thương. Một người bạn của ông Dũng nay làm quan lớn ở tỉnh Thanh Hóa nói rằng ngày trước phải luôn giúp làm hộ bài, chép bài thế cho ông Dũng vì ông Dũng không biết gì cả. Vậy một Chính trị gia lại học dốt, để cho bạn chép bài hộ à? Nhân dân Việt Nam chưa nghe thấy ông Dũng không có tư duy riêng, cũng chẳng có lý luận gì hết. Ông chưa nói được câu nào chúng ta thấy có giá trị, thấy có lô-gíc, hoàn toàn không có tố chất chính trị gì cả. Ông lại là một người ba phải. Khi ông Võ Văn Kiệt còn sống thì ông Dũng có chỗ dựa nên còn dám chống lại Phe tay sai Trung Quốc của ông Nông Đức Mạnh. Khi ông Kiệt chết thì ông Dũng ngả hẳn theo Phe ông Nông Đức Mạnh + Nguyễn Chí Vịnh. Gần đây, ông
Dũng đi ký hợp tác làm ăn với mấy địa phương trực thuộc mấy tỉnh của Trung Quốc. Rõ ràng là hành động của “một chính trị gia rừng tràm U Minh hạ”. Đất nước ta, dân tộc ta chỉ ngang hàng với một địa phương, một tỉnh của Trung Quốc hay sao? Làm như vậy TQ sẽ „phỉ nhổ“ và mặt ông Dũng – Thủ tướng CHXHCN Việt Nam . TQ chỉ xem Việt Nam như một tỉnh, một địa phương nhỏ của họ, sẽ vô cùng thiệt hại, tai hại cho các ngành, nghề giao thương, hàng hoá Việt Nam ”. Đây là một hành động thiển cận phục vụ ý đồ thôn tính nước ta của TQ. Ông Dũng lại cho xây dựng nhà thờ họ ở quê tốn tới 40 tỷ VNĐ, trong khi dân chúng đói khổ và thiếu việc làm khắp nơi, trẻ em thiếu trường, lớp học, bệnh nhân không gường nằm, người ốm đau thiếu thuốc men, dân chúng sinh sống không điện, nước. Trong nội bộ cơ quan Trung ương loan tin rằng “Doanh nghiệp nào muốn ông Dũng đến thăm thì phải chi 1, vài trăm triệu đồng cho ông Dũng và cho trợ lý của ông Dũng cũng phải 50 triệu đồng là ít”. Nghe tin con ông Dũng ở Tây Nguyên hay đứa ở lấy chồng ở Mỹ đang sống như đế vương vậy. Các quan sếp tỉnh hay cac cơ, ngành… làm gì cũng phải chạy đến hỏi con ông Dũng. Và, mỗi lần hỏi, cậy nhờ là phải có „bao thư xanh“.
Dũng vẫn tưởng trò ranh ma hơn người là gả con gái cho con của sĩ quan VNCH “kẻ thù không đội trời chung với CS“ đã vượt biên hiện đang cư ngụ ở Hoa Kỳ để làm phương tiện hay cứu cánh cho hành động ăn cướp và bỏ chạy khi lâm nguy. Nhà chính trị phải chứng tỏ mình thông minh, tài trí, cao siêu, cao thượng để nhân dân và thế giới nể phục, chứ như ông Dũng thì không ai có thể nể trọng được.
Ông Phùng Quang Thanh nghe tin đồn thổi là con cháu mấy đời của ông Phùng Khắc Khoan, cũng như các vị Ủy viên BCT ĐCSVN khác chẳng có gì đặc biệt. Từ lúc 17-18 tuổi vào bộ đội làm lính binh nhì thì làm sao có thể trở thành một chính trị gia giỏi được? Ông Thanh cho TGĐ Công ty xăng dầu Quân đội bán xăng dầu dự trữ quốc phòng để kiếm chênh lệch bỏ túi hàng trăm tỷ đồng, để khi quân đội cần xăng diễn tập thì không có mà dùng. Ông Thanh còn nhận hối lộ của một Tỉnh đội trưởng hàng tỷ đồng để được phong lên cấp tướng. Trong dịp đi thăm Trung Quốc vừa rồi Báo QĐND viết: “Đồng chí Phùng Quang Thanh lên báo cáo Đồng Chí Từ Huy Hậu”. Ông Từ Huy Hậu chỉ là một viên tướng của Trung Quốc, phó chủ tịch quân ủy TQ, ngang hàng với Thứ trưởng Bộ QP Trung Quốc mà ông Thanh là Bộ trưởng BQP Việt Nam lại phải đến “báo cáo”. Như vậy Bộ trưởng BQP Phùng Quang Thanh chỉ như một Tỉnh đội trưởng lên báo cáo với Thứ trưởng BQP? Đây là một động thái mạt nhược, ươn hèn hiếm có trong lịch sử dân tộc Việt Nam . Tổng biên tập báo QĐND và cá nhân đưa tin đó lên rõ ràng đã bị bàn tay của bọn Tay sai – Thái thú của TQ chèn ép, chỉ đạo hay tự nguyện làm tay sai cho TQ rồi.
Nhân vật, Nguyễn Chí Vịnh ai cũng biết là con Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, một đối trọng của Đại tướng Võ Nguyên Giáp ngày xưa, thuộc phe ông Lê Duẩn-Lê Đức Thọ. Vì vậy ông Nguyễn Chí Vịnh được nhận là con nuôi của ông Lê Đức Anh. Ngày trước đi học tuy là con nhà quyền uy, giàu có nhưng vẫn đi ăn trộm, ăn cắp Kho Quân Nhu của Học viện Kỹ thuật Quân Sự nên bị đuổi học cùng với một số đồng sự khác. Ăn cắp, ăn trộm trong Trường Sĩ Quan-khi đã là người trưởng thành- là chuyện quá ti tiện, hèn mạt, xấu xa, phi đạo đức không ai có thể chấp nhận được thế mà đòi đi làm chính trị, lại còn nhăm nhe lên tới chức Tổng Bí Thư. Một tên ăn cắp thuở nào là thứ trưởng, trung tướng thì ảnh hưởng vô cùng xấu xa đến toàn bộ binh sỹ, sỹ quan QĐND Việt Nam, chưa nói tới là Ủy viên BCT hay Bộ Trưởng Bộ QP, dự định còn làm TBT ĐCSVN thì sẽ gây nguy hại đạo đức của các Đảng viên ĐCSVN còn có lương tri, nhân cách. Nhưng, CS TQ- với tư cách là nước muốn thôn tính Việt Nam và muốn biến Việt Nam ta thành nước chư hầu- lại rất cần những kẻ làm tay sai. Chỉ có những kẻ xấu xa, gian trá, dốt nát mới chịu làm tay sai-thái thú cho nước khác để phản lại lợi ích của dân tộc mình, của đồng bào mình để bản thân, gia đình vợ con được hưởng sung sướng, bổng lộc trước mắt của kẻ tay sai-thái thú.
Nguyễn Chí Vịnh như đã ghi nhận ở trên đã tham gia cùng ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh những chuyện rất xấu xa, thiếu nhân cách. Nguyễn Chí Vịnh là người đã gọi điện cho ông Nguyễn Tấn Dũng năm nào nói ông Dũng cho TQ thắng thầu xây sân Mỹ Đình với giá 55 triệu USD, trong khi đó CHLB Đức bỏ thầu chỉ có 50 triệu USD thì thua thầu.Thức tế thì Vịnh và Dũng đã nhận “ tiền lót tay“ của nhà thầu TQ là
bao nhiêu, có ai biết được? ) Nguyễn Chí Vịnh còn trực tiếp sang Trung Quốc chọn gái tên là Trương Vỹ Hoa cho ông Lê Khả Phiêu chơi bời một tuần để sinh đẻ ra một đứa con nay đã mười mấy tuổi để rồi ông Lê Khả Phiêu phải hạ bút ký Hiệp định Biên giới năm 1999.
Nguyễn Chí Vịnh là „con thoi“ „cầu nối“ giữa ông Nông Đức Mạnh với Bắc Kinh để cho TQ vào VN khai thác Bauxite. Tay chân của Nguyễn Chí Vịnh trong TC2 toàn là những kẻ hư đốn và ăn cắp năm nào ở Học viện Kỹ thuật Quân sự. Nguyễn Chí vịnh đã cung cấp cho phía Trung Quốc danh sách cán bộ lãnh đạo Việt Nam có cảm tình và không có cảm tình với Trung Quốc. Dựa vào danh sách này Trung Quốc đã mua chuộc và gây ảnh hưởng lên hàng ngũ lãnh đạo của ĐCSVN hiện nay để từng bước biến lãnh đạo ĐCSVN trở thành tay sai-thái thú. Đây rõ ràng là một hành động làm chỉ điểm cho nước ngoài, một hành động làm tay sai cho Trung Quốc, một hành động tội phạm, phản bội Tổ Quốc của Nguyễn Chí Vịnh. Nhiều nguồn tin khác nói rằng còn nhiều cá nhân khác trong nội bộ ĐCSVN làm như Nguyễn Chí Vịnh. Theo các sỹ quan quân đội cao cấp ở Hà Nội thì vừa qua 18 tỉnh cho Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông (thực chất là người TQ tất cả) thuê đất rừng đều có sự chỉ đạo của Tổng Cục 2 của Nguyễn Chí Vịnh. Với những việc làm bất hảo và phạm pháp như nêu trên Nguyễn Chí Vịnh có xứng đáng là Trung Tướng, Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng hay không? Và đây cũng là bằng chứng chứng tỏ rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Đỗ Mười và Nông Đức Mạnh chủ đích nâng đỡ Nguyễn Chí Vịnh- tên tay sai của TQ, có nhiều điều xấu xa, bất hảo- chẳng hiểu biết gì chính trị cả, mà cốt vì bảo vệ quyền lợi ích kỷ của các ông ấy. Họ không xứng đáng một chút nào là những “Nhà chính trị”, nhà lãnh đạo đất nước hay có trách nhiệm với nhân dân!
Còn các Vị Ủy viên Trung Ương ĐCSVN khác như ông Hoàng Trung Hải hay Nguyễn Thiện Nhân, các Bí thư tỉnh ủy khác thì „chỉ ngậm miệng“ ăn tiền chia chác hay cũng chỉ như cái đuôi, cái bóng của ông Nguyễn Tấn Dũng, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng và một số UV BCT mà thôi,Quốc Nạn tham nhũng, hối lộ, cướp bóc, trấn lột, đánh, bắn, giết người xẩy ra 24/24 trên toàn cõi Việt Nam. Xin mạn phép hỏi toàn thể 85 triệu đồng bào Việt Nam có thể mãi cúi đầu chịu đựng hết đời mình, đời con, cháu chúng ta được chăng? liệu có thể tiếp tục chấp nhận sự bất công, nghèo đói và vô vọng một khi mà các “Nhà chính trị, lãnh đạo” của hệ thống độc tài toàn trị CSVN bất tài, vô dụng đang bủa vây, khép kín, đè đầu cưỡi cổ nhân dân ta hay không? Chắc chắn là không – Toàn dân cẩn phải thức tỉnh và đứng dậy khi thấy cần thiết.
Ở CHLB Đức trong những năm 90 của Thế kỷ trước, ông Engholm- Chủ tịch đảng đối lập SPD, Thống đốc bang, Ứng cử viên tranh chức Thủ tướng với ông Helmut Kohl- bị phát hiện gian lận về việc đóng thuế thu nhập đã phải họp báo xin chấm dứt sự nghiệp chính trị, trở về làm một ông Luật sư quèn. Từ đó vĩnh viễn không bao giờ nói tới chính trị nữa. Còn ông Sharping – nguyên là một người hoạt động chính trị từ thời học sinh cấp 3, Thống đốc bang, có lần ra tranh cử Thủ tướng, là Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Thủ tướng của CHLB Đức là Gehart Shreoder (thỉnh thoảng bây giờ Ông vẫn đến Việt Nam) – Ông ấy chỉ bị phát hiện “cầm nhầm” có 1000 EURO (một nghìn EU ) mà phải tuyên bố từ chức Bộ trưởng BQP, chấm dứt sự nghiệp chính trị về làm dân thường, không bao giờ dám xuất hiện trước công chúng nữa.
Qua những dẫn chứng như trên chúng ta có thể kết luận rằng Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Tô Huy Rứa, Phùng Quang Thanh, Phạm Quang Nghị, Hoàng Trung Hải, Nguyễn Chí Vịnh và các UV TƯ ĐCSVN khác hoàn toàn không xứng đáng là các “chính trị gia” của Dân Tộc ta, không xứng đáng giữ các vị trí lãnh đạo đất nước, cần phải rút lui càng sớm càng tốt! Nếu không biết điều sớm thì e rằng sẽ chuốc lấy hậu họa như ông Ceaucescu-cựu Tổng bí thư ĐCS Rumani- và Honecker- cựu Tổng bí thư ĐCS Đông Đức năm 1989, hay ông Escada-cựu Tổng thống Philippin- tham nhũng 1 triệu USD và bị kết án 20 năm tù giam. Bài học gianh ma của cựu Thủ tướng Thái lan, Thalshin không thoát khỏi “lưới trời“ đã bị tịch thu tài sản và lệnh
truy nã toàn cầu…
Tình hình quốc tế và khu vực hiện hiện nay đang diễn ra khá thuận lợi cho hướng đi đúng đắn của cuộc đấu tranh giành tự do, dân chủ, nhân quyền, công bằng và bác ái cho dân tộc Việt nam chúng ta. Lực lượng đối lập chính nghĩa với Phe đảng chóp bu cầm quyền phi nghĩa nêu trên (họ chỉ là một bộ phận nhỏ trong số đảng viên ĐCSVN) Toàn dân Việt Nam cả trong lẫn ngoài nước sẽ có đủ khả năng trí tuệ, nhân tài, vật lực đối trọng đã và đang hình thành là đòi hỏi bức thiết trong nước. LL đối lập với bốn vị tướng đứng đầu là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung Tướng Đồng Sỹ Nguyên, Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh và Thượng tướng Nguyễn Nam Khánh với hàng chục tướng lĩnh khác cùng các vị Lão thành cách mạng kết hợp với các lực lượng trí thức, quân đội, cảnh sát, sinh viên, quần chúng yêu nước đang khát khao Tự Do – Dân Chủ và Phát Triển Việt Nam thực sự sẽ phải cương quyết đấu tranh bằng mọi giá để giành lại vận mệnh Tổ Quốc đang lâm nguy đứng trước bờ vực thẳm, quyết tranh
đấu giành nắm quyền lãnh đạo đất nước và đẩy Phe đảng cầm quyền hiện nay vào thế đối lập. Để chuẩn bị cho việc thành lập một lực lượng đối lập có mặt trên toàn quốc nhằm cạnh tranh ôn hoà với Phe đảng của ông Lê Đức Anh, Nông Đức Mạnh, Nguyễn Phú Trọng, Nguyễn Chí Vịnh thì ngay từ lúc này từ mỗi Thôn, Ấp, Bản, Khu phố hãy kết nối các công dân yêu nước có cùng chí hướng thành những nhóm nhỏ 2-5 người. LL đối lập yêu cầu Phe đảng cầm quyền hiện nay chấp nhận Tổng Tuyển Cử tự do, bầu lại Quốc Hội và Người đứng đầu đất nước trong thời gian sớm nhất. Nhân dân cả nước đều nhận thấy rằng Hiến pháp và Pháp luật hiện nay là của Phe đảng cầm quyền, chứ hoàn toàn không phải của toàn thể Nhân dân Việt Nam . Lực lượng đối lập lấy phương châm ôn hoà, đối thoại làm chủ thuyết đấu tranh. Tuy nhiên, thời gian và hiệu qủa không đạt được thì bắt buộc phải kêu gọi toàn dân xuống đường cùng các phương sách tương ứng để biểu dương sức mạnh và hào khí dân tộc. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu nguy cho đất nước của chúng ta.
Chúng tôi cũng kêu gọi tất cả lực lượng võ trang trong đó có những chiến sĩ, sĩ quan Công an, Quân đội đang tại ngũ, và lực lượng cựu chiến binh từ hai phía của hai miền Nam – Bắc trước 1975 còn có lương tri trong tình tự dân tộc, nghĩa đồng bào đồng thời kêu gọi toàn thể các Tôn giáo Việt Nam hãy tiếp tay, hỗ trợ. Đó là những hành động thực tế nhất để cứu nguy cho đất nước của chúng ta.
LL đối lập xin kêu gọi toàn thể đồng bào hải ngoại, các đảng phái, chính khách, hiệp hội, phương tiện truyền thông quốc tế hãy tiếp giúp và yểm trợ cho sự nghiệp đấu tranh chính nghĩa của dân tộc Việt Nam chúng tôi.
Tổ Quốc Việt Nam sẽ ghi ơn tất cả sự hy sinh, cống hiến của các Quý vị và các bạn!
Độc tài cộng sản đã hết thời, Tự do dân chủ cho Việt Nam.Tổ quốc trên hết!
http://www.dangnguoivietyeunguoiviet.blogspot.com/


Tiết lộ WikiLeaks : Vụ Bauxit Tây Nguyên, Nông Đức Mạnh nhận 300 triệu USD – Nguyễn Tấn Dũng 150 triệu USD là có thật
Những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la…
Theo tin từ một thân hữu báo chí ở Norway (Na Uy), một điện văn trong số 250,000 mà WikiLeaks lấy được từ Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và đã giao cho tờ báo buổi chiều lớn nhất Na Uy là tờ Aftenposten thì có một điện văn liên quan về Việt Nam nói đến dự án khai thác bô-xít nhôm ở Tây Nguyên.
Nội dung điện văn chính yếu là yêu cầu Bộ Tài Chính Hoa Kỳ giúp điều tra và xác minh một số giao dịch ngân hàng quốc tế. Cụ thể, theo điện văn này thì một nguồn tin trong giới ngân hàng Việt Nam cho biết kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la.
Cũng trong điện văn này, nguồn tin từ ngân hàng Việt Nam cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Các chuyển ngân trong phần của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng thì không đề cập đến ngân hàng nước nào.
Khi Dân Làm Báo hỏi thân hữu ở Na Uy là có được tận mắt đọc điện văn này không thì thân hữu đó cho biết là tất cả 250,000 điện văn từ WikiLeaks được lưu trữ trong một căn hầm dưới đất trong một tòa nhà bình thường của báo Aftenposten và có một ủy ban đại diện báo chí, và cả chính phủ Na Uy, để tham khảo các điện văn trước khi công bố nhằm tránh nguy hiểm cho các nguồn tin cũng như tránh những nhạy cảm về chính trị, ngoại giao. Những thành viên của ủy ban này không được mang theo giấy bút, hay phương tiện sao chép gì vào phòng làm việc và chỉ có thể đọc và ghi nhớ mà thôi. Thân hữu ở Na Uy cũng cho biết là nguồn tin từ ngân hàng Việt Nam không được tiết lộ trong điện văn mà chỉ nói là một quan chức cao cấp, có khả năng biết được thông tin loại này và đã được kiểm chứng là khả tín trong quá khứ.
Cũng theo thân hữu của Dân Làm Báo thì Đại sứ của Việt Nam tại Liên Hiệp Châu Âu tại Bỉ là bà Phan Thúy Thanh đã nhiều lần trực tiếp giao thiệp với Bộ Ngoại Giao Na Uy. Thân hữu của Dân Làm Báo đang tìm hiểu nội dung của các buổi làm việc ngoại giao này và có tin gì thêm sẽ thông tin sau. DLB có hỏi là khi nào thì báo Aftenposten sẽ đăng tải những điện văn này thì thân hữu cho biết là thường chỉ khoảng 10 điện văn được đăng tải một lần và phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên của ủy ban thẩm định nội dung điện văn. Cho đến hôm nay 22/3/2011 thì vẫn chưa có quyết định nào về đăng tải.
Lê Khả Phiêu: Bán Nước vì Chơi Gái Tàu
Tên Bán Nước Lê Phả Phiêu: - “Sướng con cu, mù con mắt”
Hiện tượng thật sự và rất lạ lùng bao trùm Việt Nam từ nam chí bắc, từ đông sang tây:
Một người đàn ông chơi gái, mà khiến cho đến mấy triệu người sướng.
Điều kỳ lạ hơn nữa là có cả đàn bà, nữ cán bộ cũng sướng vì sự chơi gái nầy !
Người ta thường kể cho nhau nghe chuyện mê gái như vua Trụ mê Đắc Kỹ, vua Ngô Phù Sai mê Tây Thi v.v. mà mất nước hay những mẩu chuyện về đàn ông dân dã mê gái, mê mấy con gái điếm mà đem tiền bạc, tài sản đôi khi cả nhà cửa cung phụng cho gái, vì bị mê hoặc do gái làng chơi làm cho sướng khoái chí tử mà trở nên mù quáng đến tán gia bại sản, cho nên Người xưa có câu rằng: “Sướng con cu, thì mù con mắt”
Vụ việc hiện nay là Lê Phả Phiêu qua Bắc Kinh chơi gái, cô gái nầy [tên là Cheng Mei Wang hay Trương Mỹ Vân ] do mưu sĩ uyên thâm nhất của Trung Cộng gài bẫy để bắt chẹt Lê Khả Phiêu. Xong rồi TC dùng sự chơi gái nầy của Phiêu mà làm săng ta (chantage = blackmail) bảo chính phủ VN phải nhường biển và ải Nam Quan, thác Bản Giốc cho Tàu.
Sự chơi gái nầy của Lê Khả Phiêu sướng như thế nào không ai biết, mà người dân chỉ thấy cách ứng xử của các đồng chí lớn rất bức xúc:
Các đồng chí trong chính phủ VC vồn vả ríu ríu nghe theo, cho nên TC đòi VC nhượng nhiều vùng biển, vùng đất cho TC. Quốc hội, chính trị bộ lúc nào cũng đồng tình hồ hỡi dâng đất cho Tàu, Mặt Trận Tổ Quốc, công an, bộ đội cũng hồ hỡi thông đồng cắt hết phần đất nầy đến phần biển khác dâng cho Tàu. Tòan bộ các đảng viên Cộng sản đều mù mắt mà hoan hỉ cắt đi phần đất mà tổ tiên VN đã tốn bao xương máu mới bảo tòan trong bao ngàn năm qua.
Câu hỏi đặt ra là tại sao chỉ một mình con cu của Lê Khả Phiêu sướng mà cả mấy triệu đảng viên Cờ Máu đều mù mắt, kể cả bọn vẹm cái cũng mù luôn, sự cố nầy rất quái lạ.
Hơn thế nữa, bọn “công an và bộ đội mù mắt” cùng nhau ngăn cản, lùng bắt và đàn áp (dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Tấn Dũng) những người đi biểu tình chống Trung Quốc “xâm chiếm” đất của VN. Người dân biểu tình chống Trung Cộng xâm chiếm Hòang Trường Sa thì đúng, còn Nam Quan Bản Giốc thì sao ?
Hải quân VN có đánh với hải quân của TC, nhưng theo diễn biến các vụ việc từ đó đến nay, thì tôi phát giác ra rằng: sự hy sinh một số binh lính tại biên giới hay tại Hòang Trường Sa là do mánh lới của các mưu sĩ TC và VC dàn dựng ra để lừa người dân Việt Nam và lừa bọn Mỹ ngu. Bọn Cờ Máu chúng đem hy sinh mạng sống của một số lính ra để làm cảnh, để tỏ ra rằng Việt gian cờ Máu “chống Tàu cứu nước”. Nhưng bên trong cha con chúng (cha TC và con VC) đã thỏa thuận chi tiết từng trận đánh, từng số quân lính phải hy sinh trong mỗi trận địa với mục đích tuyên truyền gian trá. Binh lính “quân đội nhân dân” tưởng rằng họ hy sinh để bảo vệ tổ quốc, nhưng họ không biết rằng bọn cầm quyền Cờ Máu chỉ xem sinh mạng của họ chẳng khác gì giòi bọ, chết bao nhiêu cũng thây kệ, miễn mục đích tuyên truyền đạt chỉ tiêu.
Hiện tượng “hoan hỉ dâng đất cho Tàu” của tòan bộ đảng viên Cờ Máu bao gồm luôn công chức và bộ đội đều mù mắt: do đó mà 5 chữ “Lê Khả Phiêu chơi gái” là một bản án tròng lên đầu quân cán chính Việt Gian Cờ Máu, nhẫn nhục tuân lệnh bọn chủ nhân ông Tàu Phù gian ác dơ dáy và điếm đàng.
HIỆN TƯỢNG LẠ LÙNG: dấu chàm hiện lên
Nhân dân ta mỗi ngày càng thấy rõ bản mặt của từng thằng quân cán chính cờ Máu, càng ngày càng dễ phân biệt bọn chúng vì trên trán của chúng đều có dấu chàm trổ “Lê Khả Phiêu chơi gái” tự nhiên hiện lên.
Dấu chàm trổ trên trán của bọn cường quyền “Lê Khả Phiêu chơi gái” càng ngày càng hiện rõ, không phải màu nâu mà là màu đỏ chói: rõ nhất là khi từ tên thủ tướng cho đến bọn lập ra kế họach chiếm nhà chiếm đất của dân, đây là dấu ấn thượng đội hạ đạp của bọn Việt gian nô lệ ngu dốt và ô nhục.
Đồng bào ta càng ngày càng thấy rõ dấu chàm trổ “Lê Khả Phiêu chơi gái” trên trán của Việt Gian Cờ Máu, chúng bị mù mắt mà trở thành công cụ của vụ dâng đất cho Tàu.
Bộ đội công an phái đến đàn áp nhân dân phản kháng chiếm nhà đất, chúng dùng bạo lực thẳng tay đàn áp và giết hại dân oan, thì dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái” lại càng hiện rõ ra trên trán của chúng.
Cho nên mỗi lần thấy chúng bao vây đàn áp nhân dân thì đồng bào ta hô to: “Lê Khả Phiêu chơi gái”, thì tức khắc 5 chữ nầy nổi đỏ lên trên trán của mỗi tên công an bộ đội bạo hành. Đây là hiện tượng hết sức lạ lùng cổ kim hãn hữu.
Khẩu hiệu “Lê Khả Phiêu chơi gái” được đồng bào xử dụng như phù chú, họ hô to khi công an bộ đội đến đàn áp dân oan, thì chúng bị mù mắt ngay, vì vậy mà dùi cui của chúng mất hiệu lực, cứ nhắm khỏang không múa may búa xua.
Khẩu hiệu “Lê Khả Phiêu chơi gái” được xử dụng rộng rãi hơn nữa khi đồng bào thấy lấp lóan bọn công an bộ đội quân cán chính xuất hiện ở bất cứ đâu.
Dấu chàm trên trán “Lê Khả Phiêu chơi gái” càng đậm nét theo những hành vi gian ác và bạo ngược của từng thằng quân cán chính Cờ Máu, từ an ninh khu vực cho đến các nơi đóng quân sư đòan.
Dấu chàm trên trán “Lê Khả Phiêu chơi gái” cũng được bọn quân cán chính xử dụng để nhận ra cấp bậc của nhau, địa vị và quyền thế càng cao càng lớn thì càng đậm nét.
2. TẠI HẢI NGOẠI
Khi đồng bào cần đến sứ quán hay lãnh sự quán VC thì gặp ngay bọn trên trán có dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái”, địa vị chức vụ càng cao thì dấu chàm nầy càng hiện rõ.
Bọn văn công cho xuất ngoại ra các nước để tuyên truyền duyên dáng Việt Cộng cũng có dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái”
Riêng bọn gián điệp nằm vùng thì dấu chàm “Lê Khả Phiêu chơi gái” được bọn chúng bôi lên một lớp son phấn, bao che bằng một lớp da người, hay bằng bong bóng heo dán lên trên. Khi một tên điệp viên nằm vùng của chúng bị phát giác, thì lập tức 5 chữ “Lê Khả Phiêu chơi gái” liền hiện rõ dưới lớp sơn phấn.
3. KẾT LUẬN
Dân oan khiếu kiện hô to “Lê Khả Phiêu chơi gái” khi bọn công an bộ đội đến bao vây đàn áp.
“Lê Khả Phiêu chơi gái” là khẩu hiệu mới tại Việt Nam.
Tòan dân ta khi gặp bọn quân cán chính của Cờ Máu thì hô to “Lê Khả Phiêu chơi gái” cho đến khi bạo quyền sụp đổ.
Trong tương lai gần đây
Nhất định nhân dân ta sẽ lấy lại chính quyền.
Cựu Tổng Bí Thư Cộng Đảng Việt Nam Lê Khả Phiêu nói chuyện về vấn đề tham nhũng. Sau đây là một đoạn phỏng vấn của báo Tuổi Trẻ ở Thành Hồ:
” Thưa nguyên tổng bí thư, ông có kinh nghiệm gì không trong phòng chống tham nhũng?
- (Cười) Qua thực tế bản thân tôi thấy muốn làm được việc này thì mình phải giữ nghiêm đức tính liêm khiết. Tôi không muốn cái gì cũng đổ lỗi cho kinh tế thị trường. Trong quan hệ xã hội cả bên trong bên ngoài có nhiều mối quan hệ: với lãnh đạo cấp cao, với cấp dưới, với dân…
Có người đến với mình với động cơ cầu thị, trong sáng như xin ý kiến để thực hiện công việc được tốt hơn. Song cũng có người đến với động cơ không trong sáng, muốn tìm chỗ nương tựa hay tiếp tay gì đó. Mình phải hết sức cảnh giác. Phải luôn răn mình là đầy tớ của dân. Tôi nói thật có chuyện họ đến biếu tiền, năm nghìn, mười nghìn chứ không ít đâu.
* Năm, mười nghìn đô (USD)?
- Đô chứ. Lúc tôi còn thường trực (Thường trực Bộ Chính trị -PV) đã có rồi, lúc làm tổng bí thư càng có. Đối với tôi, họ đến đút tiền không dám đưa thẳng đâu. Thường là có bó hoa xong để cái gói trên bàn rồi về. Mở ra thấy có năm nghìn, mười nghìn tôi gọi anh Hoan (ông Trần Đình Hoan, khi ấy là chánh Văn phòng Trung ương Đảng – PV) và cậu Dần (ông Nguyễn Giáp Dần – thư ký nguyên tổng bí thư Lê Khả Phiêu – PV) lên, nói: “Cái này của ông A, ông B… Giao các cậu mời các ông đó lên xem thái độ thế nào. Tại sao lại có phong bì thế này?

Đồng chí tổng bí thư nhắc như thế là không được, từ nay trở đi không được làm thế”. Vậy mà có ông trả lời rằng “đồng chí Phiêu không nhận thì tôi xin biếu các anh”. Cả cậu Dần, anh Hoan về báo cáo lại tôi. Thế thì không được rồi. Tôi phải gọi lên cảnh cáo.

* Sao lại chỉ cảnh cáo thôi, thưa ông?

- Tôi không muốn làm to chuyện mà giáo dục bên trong. Nhưng tôi biết cũng có người khác đã nhận rồi, tôi phải mời lên yêu cầu trả lại. Nói thế để thấy trong nội bộ ta chuyện đó không ít. Họ cứ cho chuyện đưa là tự nhiên, chuyện nhận là bình thường. Nói thật, tôi thấy buồn. Bây giờ chuyện đó chắc vẫn thế thôi.

Vì vậy cái chính là anh phải thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ “cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư”, giữ mình trong sáng mới chỉ đạo được. Ngay hồi phát động thực hiện nghị quyết 6 (lần 2) tại hội nghị toàn quốc, tôi đã nói hết các vụ việc (dù không nêu tên) với yêu cầu các anh cán bộ đứng đầu phải hết sức cảnh giác. Anh em ở dưới nghe rất ủng hộ.

Mà không chỉ bản thân đâu, nhất là với gia đình cũng phải dặn dò cẩn thận, bởi kẻ xấu có nhiều thủ đoạn lắm. Vợ con anh phải giữ, nếu không nó tấn công rất ghê. Tấn công con có, tấn công vợ có. Đánh vào bếp, đánh từ phía sau. Phải đề cao cảnh giác! ….”


(Trang Webb của đài BBC trích đoạn của báo Tuổi Trẻ về cuộc phỏng vấn ông Lê Khả Phiêu, cựu tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam tháng 5 năm 2005)

Đọc xong đoạn trên chúng tôi có ý nghĩ như sau:

Hồi còn đang làm tổng bí thư đảng cộng sản, quyền uy nhất nước sao ông không nói để đến bây giờ khi bị đá văng khỏi chức rồi mới dám nói.

Phải chăng vì còn tí chút lương tâm cho nên ông cựu du kích tỉnh Thanh Hoá Lê Khả Phiêu cố cứu cái đảng sắp tan rã của mình bằng cách chứng minh rằng đảng cộng sản Việt Nam của ông thật sự muốn đổi mới, muốn làm một cái gì cho dân cho nước chứ không phải là thứ ăn hại, và bắn tiếng xin bà con trong nước cũng như hải ngoại đừng hiểu lầm, và ủng hộ chúng tôi đi.

Ngay cả cái ông Mai Chí Thọ lúc còn làm chủ tịch Uỷ Ban Nhân Dân thành phố Hồ Chí Minh thì miệng cứ câm như hến, đếch nói cái gì. Đến khi hết làm rồi thì mới dám nói lên sự thật dù chỉ là một chút cỏn con trong lòng để tỏ ra rằng mình còn có chút “lương tâm hão”. Khi chỉ trích chính sách bỏ tù cải tạo các sĩ quan, quân nhân và các cấp chỉ huy hành chánh ở miền Nam sau năm 1975, ông ta nói, “cái hận thù của người ta là nặng nề, tụi nó thù mình lắm chứ không phải không!” Và: “Đáng lẽ theo tôi phải thả họ sớm hơn, động viên họ tham gia xây dựng lại đất nước …” Thì ra người cộng sản hèn thế. Văng cha nó khỏi chức rồi mới dám vén cái miệng hến lên mà nói nghe xôm lắm.


1. TẠI VIÊT NAM

Bởi thế cho nên:

Lúc còn chức trọng quyền cao

Say sưa ông để mắt nào đến dân!

Về vườn ông nghĩ tấm thân

Chẳng bằng cục “phẩn” nên gân cổ gào

Thưa ông, dù có thế nào

Có ngày cả bọn sẽ trào đờm thôi!

***

Chó không chê cứt

Người không chê tiền

Biếu ông, ông bỏ túi liền

Tiền đô bạc lớn mua tiên với đời

Cứ nhìn lũ cộng con thôi

Nó sang xứ Mỹ học đòi làm sang

Mua xe cả mấy chục ngàn

Đô tươi xỉa trả phăng ngang một lèo

Nhà thời dù giá có leo

Mấy trăm ngàn, mặc! “cậu” theo tới cùng

Tiền đâu nhiều thế để “chung”

Cán cha “cạp” cả cái lưng quần nghèo

Gian manh một lũ quỷ yêu

Đù cha cái bọn cộng tiều lưu manh

Bác cả Phiêu chỉ một lần ăn chơi thôi là đã tốn đến mấy hòn đảo và mấy ngàn cây số vuông dọc theo biên giới cộng thêm mấy trăm mạng sĩ tốt hy sinh lót đường để hợp thức hóa việc này. Năm mười ngàn đô biếu xén thì thấm vào đâu với cách ăn chơi “Hoành Tráng” của các “Bác”. Hiềm một điều Lê Khả Phiêu là tên đảng viên có tiếng là thanh liêm bậc nhất mà còn như vậy thì với phường tham quan ô lại thì chúng làm hại nước hại dân đến thế nào.

Hiểm họa nuớc mất, dân Việt bị diệt vong không phải do Tàu Cộng mà chính là do Việt Cộng.

Thi thu nghi quang doc

Thiên ha su da tri

TN.

Bố tiên sư tên Lê Khả Phiêu: “Sướng con koo, mù con mắt”


Tên Bán Nước Lê Phả Phiêu:

“Sướng con cu, mù con mắt”

NGUYỄN THỊ BẮC

CSVN tham nhũng kinh khũng như vầy mà quý vị còn nói chuyện chống tham nhũng. Hãy xem lại những số tiền khổng lố của những tên quan chức CSVN. Làm sao chống tham nhũng khi CSVN là những tên tham nhũng chưa từng thấy trong lịch sữ.
Phan Văn Khải và con trai trên 2 tỷ USD
Nguyễn Thị Xuân Mỹ : Chủ Tịch Ủy Ban Trung Ương Kiểm Soát 417 triệu USD
Thích Trí Tịnh : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch, TW GHP 250 triệu USD
Lê Đức Anh : Cựu Chủ tịch nhà nước CSVN 2 tỷ 215 triệu USD
Trần Đức Lương : Chủ tịch nhà nước 2 tỷ 100 triệu USD
Đỗ Mười : Cựu Tổng Bí Thư CSVN 1 tỷ 90 triệu USD
Nguyễn Tiến Dũng : Đệ nhát Phó Thủ Tướng 1 tỷ 780 triệu USD
Nguyễn Văn An : Chủ tịch Ban Chấp Hành Trương Đảng CSVN 1 tỷ 70 triệu USD
Lê Khả Phiêu: Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 430 triệu USD
Nguyễn Mạnh Cầm : Phó Thủ Tướng 1 tỷ 350 triệu USD
Võ Văn Kiệt : Cựu Tổng Bí Thư Đảng 1 tỷ 15 triệu USD
Nông Đức Mạnh : Chủ Tịch Quốc Hội 1 tỷ 143 triệu USD
Phạm Thế Duyệt : Uỷ viên Thường vụ Thường trực TW Đảng 1 tỷ 773 triệu USD
Trần Ngọc Liễng : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 900 triệu USD
Hoàng Xuân Sính : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 784 triệu USD
Lý Ngọc Minh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 750 triệu USD
Nguyễn Đình Ngộ : Chủ tịch UBMTTQ 656 triệu USD
Võ Thị Thắng : Phó Chủ tịch Trung ương HLHPN 654 triệu USD
Ma Ha Thông : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 590 triệu USD
Nguyễn Đức Triều : Chủ tịch TW Hội Nông dân VN 590 triệu USD
Trần Văn Quang : Chủ tịch Hội Cựu chiến binh VN 587 triệu USD
Nguyễn Đức Bình : Giám Đốc Viện Quốc Gia TPHCM 540 triệu USD
Vương Đình Ái : Phó Chủ tịch Uỷ ban ĐKCĐVN 512 triệu USD
Hoàng Thái : Thường trực Đoàn Chủ tịch 500 triệu USD
Nguyễn Thị Nữ : Chủ tịch UBTW MTTQVN 500 triệu USD
Nguyễn Tiến Võ : Uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Nguyễn Văn Huyền : Nhân sĩ thành phố HCM 469 triệu USD
Nguyễn Xuân Oánh : Kinh tế Thành phố HCM 469 triệu USD
Phạm Thị Trân Châu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 469 triệu USD
Thích Thiện Duyên : Giáo hội Phật giáo QN ĐN 469 triệu USD
YA Đúc : uỷ viên UBTW MTTQVN 469 triệu USD
Hà Học Trạc : Chủ tịch UBTW MTTQVN 400 triệu USD
Hoàng Quang Đạo : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 390 triệu USD
Lê Hai : Tổng cục chính trị QĐNDVN 390 triệu USD
Lê Truyền : Uỷ viên Ban Thường trực 390 triệu USD
Lý Quý Dương : Dân Tộc Dao tỉnh Hà Giang 390 triệu USD
Phạm văn Kiết : Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc 390 triệu USD
Vương Đình Bích : Uỷ viên UBTW MTTQVN 390 triệu USD
Trần Đông Phong : Thường trực UBTƯMTTQVN 387 triệu USD
Trần Văn Đăng : Uỷ viên TƯ Đảng,Tổng Thư ký 364 triệu USD
Hoàng Đình Cầu : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Ngô Bá Thành : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 300 triệu USD
Trương Thị Mai : Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam 300 triệu USD
Hồ Đức Việt : Bí Thư thứ nhất TW Đoàn TNCS 287 triệu USD
Lâm Công Định : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Ngô Gia Hy : Uỷ viên UBTW MTTQVN 287 triệu USD
Trần Văn Chương : Chủ tịch Hội người Viẹt Nam 287 triệu USD
Trương Văn Thọ : Bác sỹ, dân tộc Chăm 287 triệu USD
Đỗ Duy Thường : Vụ Trưởng vụ Dân chủ pháp luật 280 triệu USD
Đỗ Tấn Sỹ : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 280 triệu USD
Lê Văn Triết : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lương Tấn Thành : Giáo Sư Bệnh viện Bạch Mai 280 triệu USD
Nguyễn Phúc Tuần : Uỷ viên UBTW MTTQVN 280 triệu USD
Phạm Thị Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 280 triệu USD
Lê Bạch Lan : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 269 triệu USD
Nguyễn Văn Vi : Uỷ viên UBMTTW 269 triệu USD
Trần Thoại Duy Bảo : Uỷ viên UBTW MTTQVN 269 triệu USD
Vũ Oanh Lão : thành cách mạng 269 triệu USD
Nguyễn Thị Nguyệt : Cao đài Ban Chỉnh tỉnh Bến Tre 264 triệ USD
Bùi Thái Kỷ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh 257 triệu USD
Hoàng Hồng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 257 triệu USD
Lưu Văn Đạt : Tổng Thư ký Hội Luật gia Việt Nam 257 triệu USD
Nguyễn Công Danh : T P. Hồ Chí Minh 257 triệu USD
Nguyễn Túc : Uỷ viên Ban Thường trực 257 triệu USD
Nguyễn Văn Bích : Uỷ Ban Kế hoạch Nhà Nước 257 triệu USD
Hoàng Việt Dũng : Giám đốc Công ty TNHH 256 triệu USD
Phan Quang : Hội nhà báo Việt Nam, Uỷ viên UBMT 256 triệu USD
Vưu Khải Thành : Tổng công ty hữu hạn BITIS 256 triệu USD
Cao Xuân Phổ : Viện Đông Nam á 254 triệu USD
Chu Văn Chuẩn : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 254 triệu USD
Đăng Thị Lợi : Chủ tịch Hội Thân nhân Việt kiều 254 triệu USD
Hoàng Văn Thượng : Đại tá, Anh hùng quân đội 254 triệu USD
Lê Quang Đạo : Trung ương Mặt trận Tổ quốc N 254 triệu USD
Lợi Hồng Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Lý Chánh Trung : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 254 triệu USD
Ngô Ngọc Bỉnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Kha : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Nguyễn Văn Hạnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 254 triệu USD
Nguyễn Văn Vĩnh : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 254 triệu USD
Đinh Thuyên : Chủ tịch hội người mù Việt Nam 250 triệu USD
Đoàn Thị ánh Tuyết : Thượng tá, Anh hùng quân đội 250 triệu USD
Lê Thành : Phó Chủ tịch Thường trực 250 triệu USD
Mùa A Sấu : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 250 triệu USD
Trần Kim Thạch : Uỷ viên UBTW MTTQVN 250 triệu USD
Lê Ngọc Quán : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Vĩnh Phú 249 triệu USD
Nguyễn Quang Tạo : Chủ tịch liên hiệp các hội hoà bình 249 triệu USD
Nguyễn Văn Thạnh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Thào A Tráng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 249 triệu USD
Trần Khắc Minh : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 229 triệu USD
Lê Minh Hiền : Thường trực UBTƯMTTQVN 215 triệu USD
Hà Thị Liên : Thường trực UBTƯMTTQVN 214 triệu USD
Ama Bhiăng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Âuu Quang Cảnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Bế Viết Đẳng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Đàm Trung Đồn : Đại học Tổng hợp Hà Nội 200 triệu USD
Đặng Đình Tứ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đặng Ngọc Bân : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Công Đoàn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Đinh Gia Khánh : Viện Văn học dân gian 200 triệu USD
Hà Phú An : Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Hoàng Đức Hỷ : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Lâm Bá Châu : Chủ tịch Hội người Việt Nam tại Pháp 200 triệu USD
Lê Văn Tiếu : Việt kiều tại CHLB Đức 200 triệu USD
Lương Văn Hận : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Nguyễn Văn Tư : Chủ tịch Hội Công Thương 200 triệu USD
Phùng Thị Hải : Giám đốc Công ty TNHH Thuỷ Sản 200 triệu USD
Rơ Ô Cheo : Dân tôc Gia Lai tỉnh Gia Lai 200 triệu USD
Sầm Nga Di : Dân tộc Thái, tỉnh Nghệ An 200 triệu USD
Thích Đức Phương : Thừa Thiên Huế 200 triệu USD
Thích nữ Ngoạt Liên : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Trần Hậu : TWMTTQVN Trưởng Ban Nghiên 200 triệu USD
Triệu Thuỷ Tiên : Dân tộc Nùng 200 triệu USD
Trương Nghiệp Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 200 triệu USD
Trương Quốc Mạo : Chủ tịch Hội nông dân 200 triệu USD
Ung Ngọc Ky : Uỷ viên uỷ ban TWMTTQ 200 triệu USD
Vũ Đình Bách : Uỷ viên UBTW MTTQVN 200 triệu USD
Mong Văn Nghệ : Dân tộc Khơ mú tỉnh Nghệ An 197 triệu USD
Đinh Xông : Dân tộc Hrê tỉnh Quãng Ngãi 190 triệu USD
Lê Công Tâm : Phó Chủ tịch Thường trực 190 triệu USD
Mấu Thị Bích Phanh : Dân tộc Raklây tỉnh Ninh Thuận 190 triệu USD
Nguyễn Ngọc Minh : Uỷ viên UBMTTQ tỉnh Huế 190 triệu USD
Phan Hữu Phục : Cao đài Tiên thiên 190 triệu USD
Trần Thế Tục : Uỷ viên UBTW MTTQVN 190 triệu USD
Hoàng Mạnh Bảo : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Nguyễn Thị Ngọc Trâm : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Phạm Hồng Sơn : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Phan Hữu Lập : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 187 triệu USD
Thái Văn Năm : Phật giáo Hoà hảo 187 triệu USD
Trần Văn Tấn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 187 triệu USD
Vi Văn ỏm : Dân tộc Xi mun tỉnh Sơn La, 187 triệu USD
Bùi Thị Lập : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Kpa Đài : Uỷ viên UBTW MTTQVN 184 triệu USD
Lê Văn Hữu : Mặt trận Tổ quốc tỉnh Phú Yên 184 triệu USD
Nông Quốc Chấn : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 184 triệu USD
Phạm Khiêm Ich : Viên Thông tin KHXH 184 triệu USD
Phạm Thanh Ba : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Từ Tân Vũ : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 184 triệu USD
Viễn Phương : Nhà thơ Uỷ viên UBMTTQ 184 triệu USD
Nguyễn Ngọc Thạch : Tổng Biên Tập Báo Đại Đoàn kết 180 triệu USD
Trương Hán Minh : Người Hoa TP. Hồ Chí MInh 180 triệu USD
Bùi Xướng : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 157 triệu USD
Trần Đình Phùng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt 157 triệu USD
Hồ Ngọc Nhuận : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Phan Huy Lê : Uỷ viên UBTW MTTQVN 156 triệu USD
Nguyễn Thống : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Trần Minh Sơn : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 154 triệu USD
Vũ Duy Thái : Giám đốc xí nghiệp trách nhiệm hữu hạn 154 triệu USD
Chu Phạm Ngọc Sơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Đỗ Hoàng Thiệu : Đà Nẵng Ngân Hàng tỉnh QN ĐN 150 triệu USD
Dương Nhơn : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Huỳnh Cương : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Mai Thế Nguyên : Kiến trúc sư trưởng tại Na Uy 150 triệu USD
Ngô Minh Thưởng : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 150 triệu USD
Nguyễn Ngọc Sương : Đại học Tổng hợp Thành phố 150 triệu USD
Nguyễn Văn Diệu : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 150 triệu USD
Phạm Ngọc Hùng : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Thượng thơ Thanh : HT Cao đài Toà Thánh Tây Ninh 150 triệu USD
Trần Đức Tăng : Phối sư Hội thánh Cđ Minh Chơn đạo 150 triệu USD
Trần Phước Đường : Uỷ viên UBTW MTTQVN 150 triệu USD
Lê Đắc Thuận : Giám đốc điều hành Cty VANOCO 107 triệu USD
Nguyễn Đức Thành : Chủ tịch Ban điều hành CLB 107 triệu USD
Trần Mạnh Sang : Uỷ viên UBTW MTTQVN 107 triệu USD
Amí Luộc : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Bùi Thị Lạng : Thành phố Hồ Chí Minh. 100 triệu USD
Danh Nhưỡng Dân tộc Khơ me 100 triệu USD
Đào Văn Tý : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Đồng Văn Chè : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Hà Den : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hồ Phi Phục : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Hoàng Kim Phúc : Tổng Hội trưởng Hội Thánh tin lành 100 triệu USD
Kim Cương Tử : UBTW MTTQV 100 triệu USD
Lê Ca Vinh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Lý Lý Phà : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Hữu Hạnh : Nhân sỹ Thành phố 100 triệu USD
Nguyễn Lân : Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 100 triệu USD
Nguyễn Lân Dũng : Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội 100 triệu USD
Nguyễn Minh Biện : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Phước Đại : Luật sư TP. Hồ Chí Minh 100 triệu USD
Nguyễn Tấn Đạt : Phật giáo Hoà hảo tỉnh An Giang 100 triệu USD
Nguyễn Thành Vĩnh : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Nguyễn Thị Liên : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Nguyễn Thiên Tích : Chủ tịch hội y học cổ truyền VN 100 triệu USD
Nông Thái Nghiệp :Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 100 triệu USD
Phùng Thị Nhạn : Nghệ sỹ nhân dân Thành phố HCM 100 triệu USD
Sùng Đại Dùng : Chủ tịch Uỷ ban MTTQVN 100 triệu USD
Trương Quang Đạt : Dân tộc Sán Dìu tỉnh Vĩnh Phú 100 triệu USD
Tương Lai : Uỷ viên UBTW MTTQVN 100 triệu USD
Vũ Mạnh Kha : Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Hà Nội 100 triệu USD
Hà Thái Bình : Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc 56 triệu USD
Nguyễn Văn Đệ : Thượng tá, kỹ sư thuộc Bộ Quốc Phòng 56 triệu USD
Trần Bá Hoành : Uỷ viên UBTW MTTQVN 56 triệu USD
Võ Đình Cường : Uỷ viên UBTQ MTTQVN 56 triệu USD
Cù Huy Cận : Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật VN 50 triệu USD
Lê Khắc Bình : Chủ tịch, Uỷ viên Đoàn Chủ tịch 50 triệu USD
Huỳnh Thanh Phương : ủy Quân sự thành phố Cần Thơ 32 triệu USD
Hồ Xuân Long : Dân tộc Vân kiều, Quãng Trị 15 triệu USD
Một tài liệu cũ trong báo Quốc gia, Montreal, Canada từ tháng 2/1996 trích tin Nữu Ước cho biết :
“ Một thành viên cao cấp của Hội đồng mậu dịch Việt – Mỹ tiết lộ đảng CSVN được xem là một tỉ phú hàng đầu của thế giới vào năm 1995 với tài sản ước lượng lên đến 20 tỉ đôla…VN hiện nay có khoảng từ 80 đến 100 người có tài sản trên 300 triệu đô la, tất cả các tỉ phú này đều là cán bộ cao cấp của đảng.
“Ông John Shapiro, một cựu chiến binh Hoa kỳ sau 3 tuần lễ thăm VN để tính chuyện làm ăn buôn bán, phát biểu rằng các ông lớn trong đảng gồm các thành viên bộ chính trị, các bộ trưởng và thứ trưởng, ít nhất mỗi người có vợ hay con làm chủ một công ty. Theo ông J Shapiro, do việc chính phủ cho phép các công ty được chuyển ngân ra nước ngoài lên đến 500000 đô la, số ngoại tệ trong nước bắt đầu vơi đi.
“Vẫn theo ông Shapiro, có khoảng 700 đảng viên CSVN có tài sản từ 100 đến 300 triệu đô la. Đây là con số do một nhân vật cao cấp của ngân hàng trung ương cung cấp cho ông. Những đảng viên có tài sản từ 50 đến 100 triệu đô la khoảng 2000 người…Tất cả những con số về tài sản của đảng CSVN là do những chuyên viên thống kê của cơ quan mậu dịch quốc tế. Số tài sản lớn lao trên do thân nhân của đảng viên cao cấp ở nước ngoài làm sở hữu chủ. Ông Shapiro cũng nêu lên nhiều thí dụ điển hình như vợ bé của tổng cục phản gián làm ăn rất lớn ở Âu châu, em ruột của trung tướng VC, tổng cục phó tổng cục phản gián đang kinh doanh rất lớn ở Nam Cali, vợ con của Giám đốc tổng cục kinh tế và thân nhân của Đỗ Mười thủ đắc những tài sản nhiều triệu đô la ở Vancouver, Canada và cả ở New York, Houston. Trong niên khóa 94-95, hàng trăm du học sinh là con cái đảng viên tự túc. Niên khóa 95-96, con số này tăng lên gấp 3…”
Một tài liệu khác trong website mà tôi tạm dịch là mạng điểm ( cf. địa điểm, thời điểm) Hận Nam Quan tháng 5/2002 tựa là “ Giai cấp mới trong các chế độ CS “ cho biết :
“Theo tin của hãng thông tấn Reuter đánh đi từ Hà nội ngày 4 tháng 3 năm 2002 thì ĐCSVN sau khóa họp TƯ Đảng từ 18-2-đến 2-3-2002 đã chính thức ban hành một chính sách mới về kinh tế rất táo bạo: Đảng viên CS được phép làm kinh doanh tư nhân. Phạm Chi Lan, Phó Chủ tịch Phòng Thương mại và kỹ nghệ tuyên bố với phóng viên của hãng thông tấn Reuter rằng:”… Đại hội đã quyết định là các đảng viên đang quản trị các xí nghiệp tư nhân có quyền ở lại trong Đảng”.
“Thật ra thì từ nhiều năm nay, các đảng viên cao cấp tuy không chính thức sở hữu một xí nghiệp tư nào cả nhưng thân nhân bà con của họ đã là chủ nhân của những xí nghiệp tư lớn nhất trong nước.
“Cứ hỏi vợ con các ông Phan văn Khải, Võ văn Kiệt, Đỗ Mười, Phạm Thế Duyệt, Trần Đức Lương, Nguyễn Tấn Dũng…là sẽ biết ai là chủ nhân của các sân golf, các khách sạn hạng sang, hãng xe taxi, hãng hàng không, nhà máy chế biến hải sản, hãng xuất nhập cảng, siêu thị lớn nhất nước.
“Ai mà không thấy sự giàu có hiển nhiên của giới lãnh đạo CS tại VN. Họ xây nhà lầu, xài tiền như nước, xuất ngoại như đi chợ, chi tiêu một lúc hàng bó đô la tiền mặt. Giới tư bản đỏ nhờ phù phép XHCN đã biến tài sản của quốc gia thành tư sản một cách thần tình, biển thủ công quỹ, buôn lậu hàng quốc cấm thế mà cứ hò hét diệt tham nhũng đến cùng.
“Theo tài liệu FYI ( Poliburos network) ngày 19/12/2000 thì các cán bộ và nhân viên cao cấp của nhà nước CS Hà nội hiện làm chủ những số tiền to lớn gửi tại các ngân hàng ngoại quốc cộng với những bất động sản tọa lạc trong nước.
- Lê Khả Phiêu : cựu tổng bí thư ĐCSVN và gia đình có 5 khách sạn (2 ở Hànội và 3 ở Saigon), tài sản và tiền mặt trị giá 1 tỉ 170 triệu Mỹ kim (US$ 1.170.000.000)
- Trần Đức Lương: Chủ tịch nước CHXHCNVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 137 triệu MK
- Phan Văn Khải: Thủ tướng chính phủ, gia đình có 6 khách sạn ở Saigon, tài sản 1 tỉ 200 triệu MK.
- Nguyễn Tấn Dũng: Đệ 1 Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 480 triệu MK
- Nguyễn Mạnh Cầm: Phó Thủ tướng, tài sản 1 tỉ 150 triệu MK
- Phạm Thế Duyệt: Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc, tài sản 1 tỉ 173 triệu MK
- Tướng Phạm Văn Trà : Bộ trưởng Quốc Phòng, tài sản gồm có 10 tấn vàng và tiền mặt 1 tỉ 360 triệu MK.
- Trương tấn Sang: Chủ tịch Ủy ban Kinh tế TƯ Đảng CSVN, tài sản và tiền mặt 1 tỉ 124 triệu MK
Ngoài ra, còn một số cán bộ và công chức có 1 tỉ và trên 100 triệu MK trong danh sách liệt kê của bảng FYI này là hơn 20 người nữa.
Gần đây nhất, theo điện thư Câu lạc bộ dân chủ số 39 tháng 2/2005 trong mạng điểm Y kiến thì:
“Một nguồn tin tuyệt mật đã được tiết lộ mới đây từ một quan chức cao cấp Bộ Công an cho biết số tiền khổng lồ mà các quan chức cao cấp VN gửi tại ngân hàng Thụy sĩ. Đáng chú ý là:
Cựu Chủ tịch nước Lê Đức Anh hơn 2 tỉ USD cộng 7 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Đỗ Mười 2 tỉ USD;
Đương kim Bộ trưởng Quốc Phòng Phạm văn Trà 2 tỉ USD cộng 3 tấn vàng;
Cựu Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu 500 triệu USD;
Đương kim Chủ tịch nước Trần Đức Lương 2 tỉ USD;
Đương kim Thủ tướng Phan văn Khải hơn 2 tỉ USD;
Đương kim Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn tấn Dũng hơn 1 tỉ USD;
Đương kim Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh 1,3 tỉ USD;
Đương kim chủ tịch Quốc hội Nguyễn văn An hơn 1 tỉ USD;
Cựu phó ủy ban thể dục thể thao Quốc gia Lương quốc Đống 500 triệu USD;
Cựu Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn mạnh Cầm hơn 1 tỉ USD;
Cựu Thứ trưởng thường trực Bộ Thương mại Mai văn Dậu hơn 1 tỉ USD.
Ngoài ra, nguồn tin cũng cho biết một danh sách dài các quan chức có số tiền gửi hàng trăm triệu USD…”
Tôi phải đưa ra 3 nguồn khác nhau để anh và các bạn trong nước thấy, báo chí trong nước nếu biết cũng không dám đăng vì toàn là “bí mật quốc gia”, internet thì không phải ai cũng có để coi, lại bị tường lửa ngăn chặn hay bị theo dõi khi dùng máy điện toán công cộng.
http://www.thienlyb uutoa.org/ Misc/NguoiLinhGi a.htm
http://minht. free.fr/tham% 20nhung%20001/ mat%20tran/ no%20le%20che% 20do%20001. html
Quan chức cao cấp của chế độ CSVN gởi tiền ở ngoại quốc
Sunday, September 11, 2005
* CSVN ra luật chống rửa tiền nhưng …
GENEVA 11-9 (NV) – Một số cán bộ được tin cậy của đám quan chức cao cấp của chế độ Hà Nội đã được giao cho nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị các tài sản khổng lồ của họ có được nhờ tham nhũng hối lộ gửi tại các ngân hàng ngoại quốc. Một nhân vật (yêu cầu dấu tên) từng giao tiếp với một số người này ở một số ngân hàng Thụy Sĩ tiết lộ như vậy trong một cuộc tiếp xúc với báo Người Việt mới đây.
“Chưa kể tại ngân hàng các nước khác ở Âu Châu và Á Châu, riêng tại Thụy Sĩ, tôi biết có hai người ở các ngân hàng thành phố Lausane và hai người ở thành phố Geneva, làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản do xếp của họ gửi.” Nhân vật trên tiết lộ.
Lương bổng của đám quan chức cao cấp của đảng và nhà nước CSVN, theo sự mô tả của một viên chức ngoại giao Tây Phương thì “không đủ để họ sống 10 ngày”, nhưng họ có tiền phải gửi, hay nói đúng hơn, giấu đút, ở các ngân hàng ngoại quốc là một điều hiển nhiên bất bình thường. Cho tới nay, lương căn bản của cán bộ đảng viên CSVN chỉ có 290,000 (tương đương khoảng $18 đô la) rồi nhân theo chỉ số cao thấp tùy chức vụ, cấp bậc. Nhưng có lần Vũ Khoan, phó thủ tướng CSVN, khi thăm một xí nghiệp quốc doanh đã so sánh và thấy một viên chức nhà nước chức vụ rất cao như ông còn kém lương của một người thợ chuyên môn. Ðiều này cho thấy lương bổng cán bộ công chức CSVN, dù là quan chức cao cấp, cũng không là bao nhiêu và không đủ sống.
Theo lời nhân vật trên tiết lộ, mỗi một số viên chức cao cấp của chế độ đều sử dụng một số thuộc cấp tín cẩn vào công việc chuyển ra ngoại quốc số tài sản khổng lồ mà họ vơ vét được qua các “phi vụ” tham nhũng hối lộ.
Số tiền họ gửi mỗi lần khoảng bao nhiêu, cách bao lâu gửi một lần, các cán bộ có trách nhiệm chuyển đô la và vàng dưới nhiều hình thức khác nhau đến các ngân hàng ngoại quốc, không tiết lộ. Nhưng nếu đó không phải là các số tiền lớn bạc triệu đô la thì người ta không cần đến người chuyên trách “chuyển khoản” cũng như quản trị xuất nhập các số tiền này, ông nói.
“Họ luôn luôn có trách nhiệm đi đi về về”, ông tiết lộ tiếp. “Giữa không những Việt Nam và Châu Âu mà còn cả từ Việt Nam đến một số ngân hàng ở Á Châu cũng như cả Nga và Ðông Âu.”
Tại sao đám quan chức CSVN lại đem tiền gửi cả tại nước Nga là nước có hệ thống ngân hàng thuộc loại bấp bênh nhất trên thế giới?
“Họ gửi tiền cả ở ngân hàng Nga vì tin tưởng nguyên tắc khôn ngoan này: Không bao giờ bỏ tất cả các quả trứng vào chung một giỏ.” Ông giải thích rằng nếu một quả trứng chẳng may bị vỡ, có thể những quả trứng khác vỡ theo. Ðây là sự khôn ngoan chung của đám quan chức cao cấp của chế độ khi họ rải số tiền kiếm chác được ra nhiều nơi trên thế giới. Theo ông, có rất nhiều người khác nhau làm nhiệm vụ chuyển tiền và quản trị tài sản của “xếp” ở ngoại quốc. Nhưng cũng có những người là vợ, con, hay thân quyến của đám cán bộ đảng viên tham nhũng đóng vai trò giấu đút tiền tham nhũng hối lộ khi họ đi ra ngoại quốc.
Tờ Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn viết một bài có tính cách “mách bảo” cho cán bộ đảng viên tham nhũng trong nước cách thức gửi tiền ở hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ với tựa đề “Gửi tiền ở nhà băng Thụy Sĩ”. Bài báo này được báo điện tử VNExpress lấy lại và phổ biến ngày Thứ Bảy 10-9-2005 mở đầu với câu hỏi “Có thể mở tài khoản ẩn danh – anonymous account – ở ngân hàng Thụy Sĩ không?” Bài báo này giải thích khá tỉ mỉ về thế nào là tài khoản ẩn danh dưới hình thức “tài khoản mang số nào đó thay vì mang tên khách hàng.” Và “tài khoản số hạn chế sự hiểu biết về chủ nhân của nó…” Bài báo phục vụ loại độc giả nào, khách hàng ngân hàng nào ở trong nước, người ta có thể hình dung ra ngay khi mà lợi tức trung bình đầu người chỉ có khoảng $500 đô la một năm.
Ngày 8-6-2005, CSVN theo áp lực của Hoa Kỳ khi lôi kéo Hà Nội hợp tác đối phó với khủng bố, rửa tiền ma túy, buôn lậu trên thế giới, ra nghị định số 74/CP để chống rửa tiền. Nghị định này buộc “Các ngân hàng, các định chế tài chính phải báo cáo về các giao dịch trong một ngày của một cá nhân hay một tổ chức có tổng trị giá từ 200 triệu đồng (khoảng $12,400 đô la) trở lên.” Theo sự tường thuật trên báo Tuổi Trẻ ngày 9-6-2005. Tờ báo này kể tiếp rằng: “Tuy nhiên, các qui định có tác động lớn nhất là các ngân hàng buộc phải báo cáo về những khách hàng có lượng tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng từ 500 triệu đồng (khoảng $31,000 đô la) trở lên tại một ngân hàng. Lượng tiền 500 triệu đồng là tổng các khoản tiền gửi của cá nhân đó chứ không phải là một lần gửi tiết kiệm có trị giá 500 triệu đồng.”
Nhân vật trên kể cho hay, cách đây mấy năm, ông chánh văn phòng của Hội đồng Bộ Trưởng Chính phủ CSVN có lần đã thua bạc tại một casino ở Geneva “mấy trăm ngàn đô la trong một đêm”. Ðiều này, số tiền tham nhũng hối lộ mà đám quan chức CSVN giấu đút ở ngoại quốc phải “vô cùng lớn.”
Khóa họp Quốc hội CSVN hồi tháng Tư vừa qua, một dự thảo luật chống tham nhũng được bàn cãi nhưng rồi vẫn không có biểu quyết và được loan báo sẽ thảo luận trở lại vào khóa họp thứ hai của năm nay dự trù vào tháng 11 tới. Hàng năm, các khóa họp quốc hội Hà Nội đều có thảo luận chuyện chống tham nhũng và họ nhìn nhận tham nhũng đã trở thành “quốc nạn”.
Nguyễn đình Lộc, đại biểu quốc hội và nguyên là Bộ trưởng Tư Pháp CSVN nói với báo chí trong nước rằng tham nhũng chỉ bị lộ diện khi “nội bộ tham nhũng” tố cáo lẫn nhau. Trong một cuộc điều trần trước quốc hội, Phan văn Khải, thủ tướng Hà Nội, nhìn nhận tham nhũng đã “xà xẻo” khoảng 30% các dự án xây dựng, phát triển. Phần lớn các dự án này được tài trợ từ các khoản tín dụng ngoại quốc. Các nhà tài trợ quốc tế đã cam kết viện trợ, tài trợ cho các dự án phát triển, xóa đói giảm nghèo cho Việt Nam năm 2005 là $3.4 tỉ đô la. (NT)

Xả Hội Chủ Nghĩa Chỉ Là 1 Nải ChuốiĐỪNG NGHE NHỮNG GÌ CỘNG SẢN NÓI
NHÌN KỶ NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM
ĐỪNG SỢ NHỮNG GÌ CỘNG SẢN LÀM
HẨY LÀM NHỮNG GÌ CỘNG SẢN SỢ

No comments:

Post a Comment