Monday, October 31, 2011

Các kỹ nữ lừng danh

Kỹ nữ được "người hâm mộ" chuộc ra khỏi lầu xanh là chuyện thường. Riêng nàng kỹ họ Khấu lại làm điều ngược lại: quay về kỹ viện kiếm tiền để chuộc mình khỏi... nhà chồng.
Trong làng kỹ nữ Trung Quốc, có không ít người con gái không chỉ tài sắc mà còn có tâm hồn cao quý, khiến người đương thời và cả hàng nghìn năm sau đều tiếc thương, quý trọng.
Khấu Bạch Môn dùng tiền “ly dị” chồng
Nhan sắc mặn mòi, lại thêm tinh thông cả thơ, nhạc, họa, Khấu Bạch Môn là cái tên nổi tiếng trong làng ca kỹ ở Kim Lăng thời cuối nhà Minh. Năm nàng 17 tuổi, nàng lọt mắt xanh một vị đại thần là Chu Quốc Bật, được cưới về phủ. Theo tục lệ thời đó, các cô gái thuộc giới ca kỹ nếu may mắn lấy chồng đều không được đưa dâu vào ban ngày. Vì thế, Chu Quốc Bật đã sai 5.000 quân lính cầm đèn hoa suốt từ “nhà gái” đến phủ của mình, còn người đẹp Khấu Bạch Môn trang điểm lộng lẫy, bước lên kiệu hoa, chấm dứt cuộc đời lênh đênh của kỹ nữ. Nhưng chỉ sau vài tháng, vị quan hiếu sắc đã chán nàng, bỏ đi tìm “hương vị” mới.
Đến khi nhà Thanh chiếm trung nguyên, Chu Quốc bật bị giam lỏng, túng bấn bèn nghĩ đến chuyện bán bớt tỳ nữ. Nàng Khấu Bạch Môn từng được rầm rộ rước về cũng nằm trong số đó. Nén cay đắng, nàng nói với Chu: “Chàng bán thiếp đi may lắm chỉ được trăm lạng bạc. Chi bằng chàng để thiếp trở về Nam, chỉ trong một tháng sẽ kiếm vạn lạng đền ơn chàng”. Chu đồng ý, thế là nàng Khấu một mình quay lại chốn yên hoa, kiếm đủ hai vạn lạng gửi cho chồng.

Chu Quốc Bật có tiền lại muốn sum vầy với người đẹp, nhưng nàng kiên quyết dứt tình: “Xưa chàng dùng bạc chuộc thiếp ra, nay thiếp lại dùng bạc trả ơn, ân tình giữa chúng ta coi như đã hết”. Sau này, Khấu Bạch Môn có gắn bó với một người khác, nhưng chẳng được bao lâu đã quay lại kiếp cầm ca, rồi chết vì bệnh, khiến nhiều người thương tiếc.
Lý Hương Quân – kỹ nữ chung tình
Cũng đẹp, cũng tài bậc nhất trong đám nữ lưu, nhưng Lý Hương Quân được người đời nhớ mãi vì sự chung tình. Là kỹ nữ trong Mỵ Hương lâu trên sông Tần Hoài, mới 16 tuổi, nàng đã danh nổi như cồn, khách phong lưu ai cũng ao ước một lần gặp mặt. Dù được các nhà đại phú theo đuổi, nàng lại yêu Hầu Phương Vực, một thư sinh. Theo lệ, khách muốn kỹ nữ nào chỉ phục vụ riêng mình thì phải đóng một số tiền lớn. Với một kỹ nữ nổi danh như Hương Quân, món tiền này không phải là thứ mà chàng thư sinh có thể lo được, vì thế cả hai bắt được vàng khi Hầu lang được một người bạn giúp trang trải khoản đó.
Một thời gian sau, biết người cho tiền mình thực chất là Nguyễn Đại Việt, một tên quan vô lại bị thất sủng đang tìm cách lấy lòng kẻ sĩ, Hầu Phương Vực tìm mọi cách trả lại, Hương Quân đã phải bán hết nữ trang, vay mượn để giúp chàng. Trả lại tiền là gây oán với Nguyễn Đại Việt, vì vậy khi tên này đắc thế và ra tay trả thù, Hầu lang phải ra đi lánh nạn. Kể từ đó, dù hàng trăm công hầu, khanh tướng ngày ngày đem tiền nghìn bạc vạn đến cầu, Hương Quân một mực đóng cửa chờ tình lang.
Để trả thù, Nguyễn Đại Việt xúi một vị đại quan lấy Hương Quân về làm thiếp. Thấy quân lính đến “rước” mình, biết không cưỡng lại được, nàng nhảy lầu tự tử. Thấy giai nhân nằm trên mặt đất, đầu đầy máu, đám rước dâu tan. Không từ bỏ mối thù, Nguyễn Đại Việt chờ Hương Quân lành vết thương để lấy danh nghĩa hoàng đế bắt nàng vào cung hầu hạ. Đến khi quân Thanh đánh vào, nàng mới chạy thoát khỏi cung điện, may được thầy dạy nhạc ngày xưa che chở.
Cảm động trước sự trung trinh của cô gái đang chết dần vì bệnh lao vẫn một lòng nhớ tình lang, người thầy cất công đi tìm Hầu Phương Vực, người cũng đang đi khắp nơi tìm nàng. Nhưng khi Hầu lang đến nơi thì người con gái tài sắc, tiết liệt đã trút hơi thở cuối, chỉ để lại cho chàng món tóc đặt trên chiếc quạt chàng tặng ngày xưa. Chiếc quạt này vương máu Hương Quân khi nàng nhảy lầu tự sát, bạn của Hầu Phương Vực đã cảm động lựa theo vết máu vẽ hình hoa đào, rồi vẽ thêm cành lá thành bức tranh tuyệt đẹp. Kể từ đó, chiếc quạt càng được Hương Quân coi như báu vật, không lúc nào rời cho đến lúc tàn hơi.
Biện Ngọc Kinh – hồng nhan đa truân
Nàng là một người bạn thân của Lý Hương Quân, tài sắc chẳng thua là bao mà sự bất hạnh về tình duyên lại càng không kém cạnh. Biện Ngọc Kinh vốn con nhà quan, do cha mất sớm nên mới lưu lạc làm ca kỹ, nổi tiếng là tinh thông văn sử, vẽ đẹp, thơ hay, khiến ai gặp cũng thần hồn điên đảo.
Với tài thơ và tâm hồn lãng mạn đó, khi gặp Ngô Mai Thôn, một thi sĩ lừng danh thời bấy giờ, nàng lập tức phải lòng và cũng được đáp lại. Tình cảm hai bên ngày càng thắm thiết. Ai cũng cho họ là một cặp trời sinh, còn nàng Biện thì chỉ chờ về làm vợ Mai. Thế nhưng chàng thi sĩ tài hoa lại là kẻ bạc tình. Biết nàng bị “ngắm” vào danh sách tuyển mỹ nữ cho hoàng đế, chàng không muốn liên lụy nên chỉ đứng đằng xa thổi vài khúc nhạc rồi bỏ đi.
Biện Ngọc Kinh không phải nhập cung, sau đó được một vị quan lấy làm vợ lẽ, nhưng cuộc sống chẳng an vui nên chỉ một thời gian đã bỏ đi. Nàng xuống tóc, làm một nữ đạo sĩ ở Tô Châu, từ bỏ ái tình, ăn chay trường, giữ giới luật, suốt ba năm dùng máu viết xong cuốn Pháp Hoa kinh.
Một ngày, nàng tình cờ gặp lại Ngô Mai Thôn và biết chàng cuộc đời cũng nhiều u uất và vẫn tơ tưởng đến mình. Nàng chơi lại khúc nhạc của chàng khi trước, chàng viết một bài thơ thê lương tặng lại, và họ lại mỗi người mỗi ngả. Biện Ngọc Kinh ẩn cư trên núi, rồi qua đời lặng lẽ, kết thúc một cuộc đời hồng nhan đa truân.
Nàng kỹ nữ trẫm mình vì nước
Cũng sống ở thời cuối Minh đầu Thanh, Liễu Như Thị nổi tiếng không Lý Hương Quân và Biện Ngọc Kinh. Rời chốn phấn son, nàng về làm vợ ông quan Tiền Khiêm Ích. Khi quân Thanh xâm lược, Liễu Như Thị hết sức khuyên chồng giúp vua Minh chống trả. Nhà Minh mất, nàng lại cố thuyết phục Tiền Khiêm Ích cùng mình tự tử để tận trung báo quốc. Hai vợ chồng ra hồ trẫm mình, nhưng họ Tiền lấy cớ nước lạnh, lại tuổi cao sức yếu nên năm lần bảy lượt không chịu xuống. Liễu Như Thị phẫn uất nhảy xuống nước một mình, nhưng họ Tiền hô mọi người cứu lên.
Sau đó, ông ta đầu hàng nhà Thanh, đi Bắc Kinh nhận chức, Liễu thị không theo. Và với ảnh hưởng của vợ, sau nửa năm, Tiền Khiêm Ích lại bỏ về quê. Liễu Như Thị hết sức cổ vũ, ủng hộ chồng tham gia các phong trào kháng Thanh phục Minh.
Vì thế, mặc dù xuất thân là kỹ nữ nhưng Liễu Như Thị được các danh sĩ, trí thức vô cùng kính trọng. Khi Tiền Khiêm Ích chết, nàng tự vẫn bằng một dải lụa trắng.
Người vợ bản lĩnh của Tào Tháo
Rất nhiều hậu phi của Trung Quốc có xuất thân kỹ nữ như Triệu Cơ (mẹ Tần Thủy hoàng), Triệu Phi Yến, Đổng Tiểu Uyển… nhưng ít ai biết rằng, vợ Tào Tháo, mẹ hoàng đế đầu tiên của nhà Ngụy, cũng bước ra từ chốn phấn hương. Không rõ tên thật của bà là gì, chỉ biết bà họ Biện, xuất thân kỹ nữ, lưu lạc tới huyện Tiêu nước Bái nơi Tào Tháo ở. Năm 20 tuổi, bà trở thành vợ thứ hai của Tào Tháo, lúc đó là huyện lệnh huyện Đốn Khâu. Tào Phi, Tào Chương, Tào Thực và Tào Hùng, những người con nổi bật nhất của Tào Tháo, đều do bà sinh ra.

Tuy là vợ thứ nhưng Biện phu nhân được chồng khâm phục vì bản lĩnh rất lớn. Khi Tào Tháo chạy trốn khỏi sự truy nã của Đổng Trác, do có tin đồn ông ta đã chết nên cả nhà hoảng sợ cuống cuồng. Riêng bà vẫn bình thản khuyên mọi người đừng vội tin khi chưa có bằng chứng. Quả nhiên sau đó, Tào Tháo bình an quay về.
Biện thị cũng được khen là người ăn ở độ lượng, có trước có sau. Vợ cả của Tào Tháo là Đinh thị, sau khi con trai chết thường bất hòa với chồng, cuối cùng bỏ về nhà cha mẹ, Tháo năn nỉ thế nào cũng không về. Biện phu nhân nhiều lần làm người hòa giải cũng không xong nên những khi chồng vắng nhà thường đón Đinh thị về chơi, phụng thị rất tử tế. Con gái của Đinh thị cũng được bà nuôi dạy chu đáo. Sau này khi cháu nội là Tào Tuấn lên làm vua, bà còn bảo cháu phong vương cho con trai một vợ lẽ của chồng mình, vốn bị bỏ quên.
Tuy không phải vợ cả, xuất thân hèn kém nhưng Biện phu nhân lại là người vợ có danh vọng nhất của Tào Tháo. Khi Tháo được phong vương, bà trở thành Ngụy vương hậu. Con cả là Tào Phi kế nghiệp, bà được tôn là vương thái hậu, rồi thành hoàng thái hậu khi Tào Phi xưng đế, và là thái hoàng thái hậu khi cháu nội lên nối ngôi.
Nỗi oan khiên vì sắc đẹp
Thân là kỹ nữ, chịu oan khiên là lẽ thường tình, nhưng nỗi oan đến như Trần Viên Viên thì quả là quá nặng. Chỉ vì quá tài sắc, vô tình bị gán cho cái tội tày đình là làm sụp đổ giang sơn.
Nổi danh là đệ nhất Giang Nam bát diễm (8 nhan sắc bậc nhất Giang Nam), Viên Viên được hoàng hậu của Sùng Trinh hoàng đế đón từ kỹ viện về cung nhằm phá vỡ sự sủng ái của vua đối với một quý phi. Được ít lâu, nàng bị đưa ra khỏi cung vì được nhà vua quá sủng ái, rồi được gả cho tướng Ngô Tam Quế. Quế vô cùng sủng ái nàng.
Trong lúc Ngô Tam Quế ra trận đánh quân Thanh, Viên Viên lọt vào tay Lý Tự Thành khi Lý cướp ngôi của vua Sùng Trinh. Ít lâu sau, Ngô Tam Quế đầu hàng, dẫn quân Thanh về tiêu diệt Lý Tự Thành rồi chiếm luôn Trung Quốc. Người ta cho rằng, Quế phản bội chỉ vì muốn chiếm lại Trần Viên Viên. Người đời không ngần ngại đổ lên đầu nàng cái tội làm mất nước, nguyền rủa rằng vì nàng mà hàng vạn người phải chết thảm.
Cả cuộc đời làm đồ chơi trong tay đàn ông, chịu đủ tiếng xấu nhưng Trần Viên Viên không được đền bù lại bằng một chút hạnh phúc nào. Ngô Tam Quế khi được vua Thanh phong vương đã e ngại về xuất thân của Viên Viên nên cưới vợ khác và đưa Viên Viên vào tu trong một ngôi chùa. Nàng trút hơi tàn trong nỗi cô đơn, khi tuổi còn khá trẻ.

Tiết Đào (768-831), tự Hồng Độ, người Trường An, vốn là con gái một viên tiểu lại ở Thành Đô. Tiết Đào lúc còn nhỏ đã thể hiện rõ tài năng văn chương thiên phú hơn người.
Năm 8 tuổi, cha Tiết Đào ra đề “Vịnh Ngô Đồng” và ngâm được 2 câu “Đình trừ nhất cổ đồng, tủng cán nhập vân trung”; Tiết Đào đối ngay: “Chi nghênh nam bắc điểu, diệp tống vãng lai phong”. (Tạm dịch: Sân đồng cổ một cây/Thân vườn cao vào mây/Cành đón chim Nam Bắc/Lá đưa gió Đông Tây).
Cha nàng nghe câu đối của con mà buồn vui lẫn lộn vì dự đoán trước mệnh vận cả đời của nàng sẽ trở thành một người được đón đến tiễn đi, cuộc đời rộng rãi phóng khoáng đầy kỳ thú nhưng cũng có phong khí lả lơi ong bướm. Quả nhiên sau này nàng phải dấn thân vào chốn thanh lâu.
Lúc 14 tuổi, cha Tiết Đào qua đời. Vì mưu sinh, sẵn có nhan sắc và tài năng thi ca hơn người, Tiết Đào đến các chốn ăn chơi hoan lạc, rót rượu, phú thi, đàn xướng hầu khách, trở thành một kỹ nữ.

Tiết Đào qua nét vẽ của hậu thế.

Đương thời, Trung thư lệnh Vĩ Cao được cử về vùng Tiết Đào đang hành nghề kỹ nữ đảm nhiệm chức Tiết độ sứ Kiếm Nam, thống lược Tây Nam. Vĩ Cao là một quan viên nho nhã cũng có tài thơ văn, nghe nói về tài năng xuất chúng của Tiết Đào cũng như thân phận kỹ nữ do cơm áo gạo tiền mà phải gánh liền phá lệ mời nàng đến quan phủ đãi yến và cùng đàm đạo thơ phú.

Sau lần đó, Tiết Đào trở thành kỹ nữ nổi tiếng ở Thành Đô, chuyên phục vụ đàn hát cho các võ quan trấn thủ các nơi. Một thời gian sau, danh tiếng của nàng ca nữ tài giỏi này càng vang xa, Vĩ Cao chuẩn bị tấu xin triều đình để Tiết Đào đảm nhiệm quan chức Hiệu Thư Lang (đảm trách việc giấy tờ sổ sách trong phủ). Chưa kịp gửi trình thì đã nhận được danh hiệu “Nữ Hiệu Thư”, đồng thời Tiết Đào cũng được gọi là “Phụ Mi Tài Tử”.
Trong suốt cuộc đời của Tiết Đào, chức Kiếm Nam Tiết Độ Sứ nơi nàng ở tổng cộng có 11 người thay phiên đảm nhiệm, người nào cũng vô cùng kính trọng nàng. Địa vị của nàng đã vượt xa một ca nữ xinh đẹp tầm thường, có danh chức hẳn hoi trong hệ thống quyền lực phong kiến cổ xưa, không phải là chuyện thường thấy.Tuy nhiên, Tiết Đào cuối cùng vẫn không thoát được những đau khổ của kiếp hồng nhan. Khi đã 42 tuổi, Tiết Đào gặp Giám sát Ngự sử Nguyễn Chẩn, một thi nhân nổi tiếng đương thời. Nguyễn Chẩn mới 31 tuổi, kém bà 11 tuổi nhưng vì bà bẩm sinh đã có khuôn mặt hoa da phấn, thêm vào đó lại thạo việc hóa trang và ăn mặc nên dáng điệu yêu kiều vẫn không hề thua kém mĩ nhân năm nào. Bằng vẻ lịch thiệp và sự tài năng trác tuyệt của mình, Tiết Đào đã khiến Nguyễn Chẩn rơi vào bẫy tình. Vào thời đại ấy, mối tình chênh lệch tuổi tác như vậy quả thực gây chấn động.
Hai con tim rung động chân thành và đưa họ đến bên nhau, quấn quýt như đôi uyên ương mới biết mùi tình ái. Họ đã trải qua một năm ngọt ngào và gắn bó. Đối với Tiết Đào, người kỹ nữ tuy chẳng còn xa lạ gì chuyện bướm ong nhưng mới lần đầu tiên biết dư vị tình yêu khi đã bước vào lứa tuổi xế chiều thì mối quan hệ với chàng thi nhân Nguyễn Chẩn còn hơn cả một chuyện tình. Thế nhưng, Nguyễn Chẩn sau khi về kinh thành lại phụ bạc Tiết Đào, đắm say nồng nàn với Lưu Thái Xuân xinh đẹp trẻ trung hơn. Tiết Đào vẫn ngày đêm mong ngóng nhưng kết quả chỉ là vô vọng. Buồn vì tình duyên bẽ bàng, bà sống lặng lẽ và mất năm 65 tuổi.

Lý Sư Sư

Cái tên Lý Sư Sư thường khiến người ta nhớ tới cuộc tình giữa cô kỹ nữ nổi tiếng họ Lý với chàng lãng tử Yến Thanh trong cuốn tiểu thuyết “Thủy hử”. Tuy nhiên, có lẽ ít người biết rằng chuyện tình lãng mạn ấy chỉ là hư cấu của tác giả Thi Nại Am, bởi lẽ nếu như có cuộc tình nào để lại cho Lý Sư Sư nhiều biến động hơn cả thì đó lại chính là mối tình với vị Hoàng đế đương triều Tống Huy Tông…
Kỹ nữ lừng danh

Mặc dù chỉ được biết đến qua những cuốn tiểu thuyết và giai thoại, song Lý Sư Sư thực tế là một nhân vật có thực trong lịch sử. Sử sách ghi chép về Lý Sư Sư còn lại tới nay rất ít. Ngoại trừ những cuốn bút ký từ thời nhà Tống, thì có thêm hai tài liệu tập trung nhất là sách “Tuyên Hòa di sự” (Những chuyện thời Tuyên Hòa – Nhà Tống) xuất hiện từ thời Nam Tống và “Lý Sư Sư ngoại truyện” xuất hiện vào đầu thời nhà Thanh.


Về cơ bản, cả hai cuốn sách này cũng giống như tiểu thuyết “Thủy Hử” của Thi Nại Am, đều là sáng tác mang tính chủ quan của cá nhân, đặc biệt là “Lý Sư Sư ngoại truyện”. Tuy nhiên, với tư cách là một “cuốn sử” của triều đình, phần sự thực mà “Tuyên Hòa di sự” đưa vào câu chuyện của mình được nhiều người cho là gần với sự thực hơn cả.

Theo ghi chép của sách này thì Lý Sư Sư là con gái của một người thợ nhuộm tên là Vương Dần, là người Biện Kinh, tức Khai Phong, thuộc Hà Nam, Trung Quốc. Mẹ Lý Sư Sư qua đời ngay từ khi mới sinh cô, vì vậy, cha cô chỉ dùng sữa đậu nành để nuôi lớn cô.

Theo phong tục thời bấy giờ, những gia đình quý tộc hoặc giàu có thường cho con cái gửi “thân” lên chùa. Vương An vô cùng yêu quý cô con gái của mình vì vậy cũng đem cô con gái gửi lên chùa Bảo Quang. Khi mới đến chùa, Lý Sư Sư lập tức khóc ầm lên, dỗ dành thế nào cũng không chịu thôi.

Lúc đó một lão hòa thường dùng tay xoa xoa vào đầu Lý Sư Sư, lập tức Lý Sư Sư nín khóc ngay. Vương Dần thấy vậy mừng lắm, trong lòng nghĩ rằng con gái mình thực sự là một Phật tử chân chính. Thời bấy giờ, các đệ tử nhà Phật đều được gọi là “sư” (thầy) vì vậy, từ đó về sau, Vương Dần mới gọi con gái mình là Sư Sư.

Lý Sư Sư trên phim
Lý Sư Sư trên phim

Khi Lý Sư Sư mới 4 tuổi thì tai họa ập đến nhà họ Vương. Vương Dần phạm tội, bị bắt rồi chết trong nhà lao. Lý Sư Sư mới 4 tuổi đã mồ côi cả cha lẫn mẹ, trở thành đứa trẻ lang thang. Một bà chủ kỹ viện trong vùng thấy Lý Sư Sư xinh xắn, tương lai có thể trở thành một món hàng béo bở để kinh doanh vì vậy đã nhận Lý Sư Sư về nuôi.

Bà chủ kỹ viện này họ Lý vì vậy, từ đó, Lý Sư Sư mới mang họ Lý. Để đào tạo Lý Sư Sư trở thành một kỹ nữ theo đúng các chuẩn mực, tú bà họ Lý đã mời thầy dạy Lý Sư Sư từ đàn hát cho tới cầm, kỳ, thi, họa. Vốn là một đứa trẻ thông minh, Lý Sư Sư chỉ cần học một lần là thành thạo ngay.

Thậm chí nhiều bài hát do Lý Sư Sư tự phổ nhạc còn khiến cho những các nhạc sư cảm thấy xấu hổ vì tài năng thua kém. Đến tuổi trưởng thành, tài sắc đều hơn người, Lý Sư Sư nhanh chóng trở thành một kỹ nữ lừng danh khắp kinh thành. Giọng hát của Lý Sư Sư được rất nhiều người thừa nhận. Nhiều nho sỹ còn làm thơ để ca ngợi giọng hát của Lý Sư Sư.

Trong thời gian này, Lý Sư Sư còn được gọi bằng một “nghệ danh” cực kỳ hoa mỹ là “Bạch Mẫu Đơn” (hoa mẫu đơn trắng). Tuy nhiên, sự nổi tiếng của Lý Sư Sư đã đẩy cô đến với một mối tình lãng mạn và cũng đầy bi kịch với vị Hoàng đế đa tình của triều Tống: Tống Huy Tông Triệu Cát.

Mối tình với Hoàng đế

Người ta thường nói Tống Huy Tông là một nghệ sỹ bị đặt nhầm vào ngai vàng Hoàng đế. Bởi lẽ, mặc dù hoàn toàn bất tài trong cương vị một Hoàng đế nhưng Triệu Cát lại là một nghệ sỹ trời sinh. Vì vậy, dốt nát và chán ngán với việc triều chính bao nhiêu thì Tống Huy Tông lại dành bấy nhiêu sự hứng thú, nhiệt huyết và trí tuệ cho những thú chơi phong lưu thời bấy giờ.

Từ cầm, kỳ, thi, họa, cho tới đá cầu, ca vũ… không có “món” nào Tống Huy Tông không biết và không giỏi. Đến khi trưởng thành, vị Hoàng đế triều Tống này lại có thêm một đam mê nữa, ấy là phụ nữ. Sử chép, những phi tần trong hậu cung của Triệu Cát nhiều không đếm xuể. Ngoại trừ hoàng hậu, cửu tần, 27 thế phụ, 81 ngự thiếp, còn có hàng ngàn mỹ nhân xinh đẹp được nuôi trong cung cấm chờ hoàng thượng “sủng hạnh”.

Người ta nói rằng, khi quân Kim tiến vào kinh thành đã ra lệnh cho phủ Khai Phong lập danh sách toàn bộ những người thân thuộc của Tống Huy Tông để tiện việc truy bắt. Danh sách được trình lên, trong đó có liệt kê tên những phi tần của Tống Huy Tông. Theo danh sách hàng trăm người này thì người cao tuổi nhất là 42, người nhỏ tuổi nhất là 16, còn lại chủ yếu ở độ tuổi tử 17 đến 19 tuổi. Năm đó, Tống Huy Tông 46 tuổi. Đủ thấy, vị Hoàng đế này biết cách thỏa mãn niềm đam mê với phụ nữ của mình tới mức nào.

Mặc dù hậu cung bạt ngàn mỹ nữ nhưng không khiến Tống Huy Tông bỏ được thói quen ăn chơi phóng túng. Khi đã chán ghét những gương mặt quen thuộc trong cung cấm, ông hoàng nghệ sỹ bèn mặc thường phục đến các lầu xanh kỹ viện tìm kiếm mỹ nhân. Và đó là thời điểm Lý Sư Sư lọt vào mắt xanh của Tống Huy Tông.

Từ lâu đã nghe tiếng Lý Sư Sư tài sắc song toàn, các công tử quý tộc trong chốn kinh thành không ai không biết tiếng, Huy Tông trong lòng cũng ngứa ngáy, mong ngày được tận mắt chiêm ngưỡng người đẹp. Nhưng khi đó, Huy Tông vẫn còn ngại ngùng danh phận của một thiên tử Đại Tống nên khi đến tìm Lý Sư Sư, Huy Tông nói dối mình là một thương nhân, tên là Triệu Ất.

Tống Huy Tông.
Tống Huy Tông.

Khi đến nhà Lý Sư Sư, Huy Tông được tú bà của kỹ viện mời vào phòng khách mời ăn hoa quả, nói là đợi một lát Lý Sư Sư sẽ ra tiếp. Huy Tông ăn hết hoa quả bày ở bàn mà vẫn chưa thấy Lý Sư Sư ra. Bà chủ kỹ viện lại đon đả ra mời Huy Tông vào phòng trong dùng cơm.

Để được gặp người đẹp, Huy Tông miễn cưỡng đi theo, nhưng ăn xong cơm, vẫn chưa thấy Lý Sư Sư đâu. Chủ kỹ viện lại xuất hiện, nói rằng Lý Sư Sư thích sự sạch sẽ nên phiền quan khách trước khi gặp mặt phải tắm rửa thật sạch sẽ. Huy Tông lại phải chặc lưỡi theo mụ chủ vào phòng tắm. Đến lúc ấy, Huy Tông mới được dẫn lên phòng của Lý Sư Sư.

Thế nhưng trải qua bao nhiêu công đoạn, dồn nét bao nhiêu háo hức, chờ đợi, cuối cùng Tống Huy Tông lại chỉ nhận được sự lạnh nhạt và kiêu ngạo của Lý Sư Sư. Vừa bước vào phòng, không thèm nhìn Huy Tông lấy một lần, Lý Sư Sư phất tay áo đến bên chiếc đàn đặt sẵn và bắt đầu gẩy. Huy Tông ngạc nhiên lắm nhưng không biết làm cách nào, đành ngồi nghe. Nghe một lúc tâm trí Huy Tông như bị cuốn vào khúc nhạc. Khi Huy Tông định thần lại được thì cũng là lúc gà gáy sáng, thành ra vị Hoàng đế đành trở về “tay không”.

Sự kiêu ngạo của Lý Sư Sư không những không làm Huy Tông chán ghét, mà ngược lại, còn khiến ông vua nghệ sỹ rất mực tò mò. Chính vì vậy, Tống Huy Tông sau này càng si mê Lý Sư Sư hơn. Có lần, sau khi ân ái, Tống Huy Tông ôm Lý Sư Sư trong lòng nói: “Nếu như nàng không phải là kỹ nữ thì tốt biết bao! Trẫm nhất định sẽ đưa nàng vào cung để nàng cả ngày ở bên cạnh trẫm”.

Lý Sư Sư ôm chặt Huy Tông nói: “Nếu như bệ hạ không phải Hoàng đế thì hay biết bao nhiêu! Như thế, thiếp có thể cùng bệ hạ vĩnh viễn ở bên nhau”. Sự thông minh, khéo léo của Lý Sư Sư càng khiến Huy Tông chìm đắm trong mối tình vụng trộm với nàng kỹ nữ lừng danh đất kinh thành.

Để biểu thị tình yêu của mình, Tống Huy Tông tặng cho Lý Sư Sư vô số vàng bạc, châu báu. Sau đó, Huy Tông còn âm thầm phong cho Lý Sư Sư làm quý phi nhưng không đưa vào cung mà vẫn để sống ở lầu xanh. Tiếp đó, để thuận cho việc gặp gỡ người đẹp, Huy Tông sai người đào một đường hầm từ nội cung đến lầu xanh của Lý Sư Sư rồi ngụy trang bằng các căn phòng nối tiếp nhau để “tiện đường đi lại”.

Từ đó, Tống Huy Tông không phải cải trang vi hành nữa, mỗi lần nhớ nhung người đẹp, vị Hoàng đế đa tình này lại theo đường hầm tìm đến. Chuyện Hoàng đế triều Tống yêu cô kỹ nữ Lý Sư Sư sớm đã lan khắp kinh thành. Rồi mọi chuyện cũng đến tai Hoàng hậu và các phi tần trong cung.

Một lần, trong bữa tiệc có mặt đầy đủ cả Hoàng hậu và các phi tần, thấy hôm đó Huy Tông tinh thần vui vẻ, một quý phi đánh bạo hỏi Tống Huy Tông: “Con nhỏ nhà họ Lý có gì hơn người mà khiến bệ hạ phải thích thú nó?”.

Tống Huy Tông cười nói: “Cũng chẳng có gì khác, chỉ là nếu như hơn một trăm người các ngươi đều bắt bỏ hết quần là áo lượt lẫn đồ trang sức, mặc những bộ quần áo bình thường vào, sau đó đưa con nhỏ nhà họ Lý đặt vào giữa, thì người ngoài chỉ cần nhìn một cái cũng sẽ biết rằng chỉ có cô ta là khác hoàn toàn. Sắc đẹp của cô ta những dung mạo bình thường không thể nào so sánh được”.

Là người tình của Hoàng đế và rất được vị Hoàng đế ấy yêu chiều, tuy nhiên, dẫu sao Lý Sư Sư vẫn là một kỹ nữ, kiếm sống bằng nghề đàn hát. Vì vậy, ngay cả khi đã trở thành quý phi ở chốn lầu xanh thì Lý Sư Sư vẫn không chịu thuộc về một mình Tống Huy Tông.

Vì thế, ngoài mối tình với Tống Huy Tông, Lý Sư Sư còn qua lại rất thân mật với một nhà thơ tên là Chu Bang Ngạn. Một lần, Huy Tông đến tìm Lý Sư Sư thì cũng là lúc Chu Bang Ngạn đang ở đó. Huy Tông dẫu sao vẫn là Hoàng đế của Đại Tống, Lý Sư Sư không thể không giúp Huy Tông giữ chút sỹ diện vì vậy bắt Chu Bang Ngạn trốn xuống gầm giường. Buổi tối hôm đó, Tống Huy Tông không hề hay biết có người đang trốn dưới gầm giường, vẫn mặn nồng ân ái với Lý Sư Sư.

Làm kẻ thứ ba lại phải trốn dưới gầm giường, Chu Bang Ngạn ngay ngày hôm sau đã viết hẳn một bài thơ miêu tả lại toàn bộ cuộc trăng gió của Huy Tông rồi đưa cho Lý Sư Sư đọc. Thấy bài thơ hay nên ngay ngày hôm sau, khi gặp lại Huy Tông, Lý Sư Sư đã hát bài hát đó cho Huy Tông nghe. Ông vua nghệ sỹ vốn nhạy cảm với những áng văn thơ, nhận ra ngay có kẻ chứng kiến chuyện trăng hoa của mình.

Truy hỏi mãi, cuối cùng Lý Sư Sư mới cho biết đó là bài thơ của Chu Bang Ngạn. Huy Tông nổi giận đùng đùng, về đế triều đình lập tức ra lệnh đuổi Chu Bang Ngạn ra khỏi kinh thành và cấm không bao giờ được trở lại. Đuổi được tình địch ra khỏi kinh thành, những tưởng Lý Sư Sư sẽ toàn tâm toàn ý với mình, Huy Tông mãn ý lắm. Không ngờ hôm đó, Huy Tông đến tìm Lý Sư Sư lại không thấy đâu.

Đợi một lúc lâu mới thấy Lý Sư Sư nước mắt tràn mi trở về. Huy Tông tức giận hỏi Lý Sư Sư đi đâu về. Lý Sư Sư nói thực rằng đi tiễn Chu Ngạn Bang, còn nói Chu Ngạn Bang còn làm một bài thơ khác đưa cho cô. Máu nghệ sỹ lại nổi dậy, Huy Tông đòi nghe Lý Sư Sư hát thơ của Chu Ngạn Bang. Nghe Lý Sư Sư hát xong, Huy Tông vỗ tay đánh đét, sai người cho gọi Chu Ngạn Bang trở lại, phong cho chức quan chuyên coi việc sáng tác âm nhạc trong cung.

Kết cục bi thảm

Sự phóng túng trăng hoa của Tống Huy Tông đã trở thành điềm báo trước cho sự diệt vong của triều Bắc Tống. Quả nhiên, chỉ vài năm sau đó, nhà Kim đã mang quân tấn công nhà Tống. Khi quân Kim đã tiến sát tới kinh thành, Tống Huy Tông đem ngai vàng truyền lại cho con trai là Tống Khâm Tông, tự mình lên làm Thái thượng hoàng. Ít lâu sau đó, cả hai cha con Tống Huy Tông đều quân Kim bắt và đày lên vùng biên ải phía Bắc. Thất thế sa cơ, Tống Huy Tông cũng không còn cách nào để chú ý tới người tình kỹ nữ của mình nữa.

Vì vậy, vận mệnh của cô kỹ nữ họ Lý lừng danh một thời cũng đột ngột thay đổi theo cuộc chiến tranh giữa Tống và Kim. Những ghi chép về số phận của Lý Sư Sư sau khi nhà Tống bị quân Kim tiêu diệt khá bất nhất. Có người nói, khi Tống Huy Tông còn làm Hoàng đế và rất si mê Lý Sư Sư đã phong cho cô làm Doanh quốc phu nhân gọi là Lý Minh phi dù không hề chính thức đưa Lý Sư Sư nhập cung như một phi tần.

Sau này, khi Tống Huy Tông nhường ngôi lại cho con trai, tự mình làm Thái thượng hoàng thì Lý Sư Sư cũng bị mất chỗ dựa, bị phế làm thứ dân và tịch thu toàn bộ nhà cửa, gia sản. Sau đó thì không rõ tông tích ra sao.

Có người lại nói, khi nghe tin giặc Kim kéo xuống phía Nam và tình hình lương thảo của quân đội phòng thủ ở phía Bắc sông Hoàng Hà rất nguy cấp, Lý Sư Sư đã đem toàn bộ số vàng bạc châu báu mà Tống Huy Tông ban tặng cho mình trước đây gói lại, sau đó viết một danh sách rồi mang tới phủ Khai Phong trình báo. Phủ doãn Khai Phong lúc đó nhìn thấy bọc vàng bạc châu báu vô cùng lớn mà Lý Sư Sư mang tới, trong lòng đầy hoài nghi, nói Lý Sư Sư có thể suy nghĩ lại.

Lý Sư Sư nói: “Tôi chẳng qua chỉ là một kỹ nữ may mắn được Hoàng đế chiếu cố, dù có làm trâu làm ngựa cũng không thể đền đáp được ơn này. Nay đất nước lâm vào tình cảnh nguy cấp, thân là phụ nữ, chân yếu tay mềm không thể sung quân chống giặc, vì vậy, tôi muốn đem toàn bộ số vàng bạc châu báu mà Hoàng đế đã tặng cho tôi trả lại cho triều đình.

Số tài sản này vốn là tài sản của triều đình, trước nay tôi chỉ giữ chứ không dám đụng vào, nay là lúc thích hợp để dùng vào việc chuẩn bị lương thảo cho quân sỹ. Đây là tấm lòng thành của tôi, mong đại nhân có thể chấp nhận”. Phủ doãn nghe Lý Sư Sư nói vậy, xúc động tới mức không nói thành lời. Sau khi cho đi hết tài sản của mình, Lý Sư Sư đến xin Tống Huy Tông cho mình xuất gia làm ni cô, sống cuộc đời ẩn dật.

Khi quân Kim sắp hạ thành Biện Kinh, thống soái quân Kim là Thát Lại phái người đi khắp mọi nơi tìm Lý Sư Sư. Thát Lại nói: “Kim Thái Tông đã nghe danh Lý Sư Sư từ lâu, rất muốn sở hữu người đẹp này. Vì vậy, lần này nhất định phải bắt sống bằng được Lý Sư Sư mang về đang cho Hoàng đế”.

Triều đình nhà Tống
Triều đình nhà Tống

Tuy nhiên quân Kim tìm khắp mọi nơi vẫn không thấy tống tích của Lý Sư Sư. Khi đó Trương Bang Xương, một tên Hán gian vì muốn lấy lòng người Kim nên đã phái người đi khắp nơi tìm kiếm Lý Sư Sư. Cuối cùng, Trương cũng tìm thấy Lý Sư Sư đang trong dòng người chạy trốn khỏi kinh đô để tránh sự tàn sát của quân Kim.

Trước mặt Trương Bang Xương, Lý Sư Sư giận dữ mắng rằng: “Ta là một kỹ nữ hèn kém nhưng đã chịu ơn của Hoàng đế nhất định sẽ dùng cái chết để báo đáp chứ không thay lòng đổi dạ đầu hàng quân giặc. Còn lũ các người, lúc trước còn làm quan cao, hưởng đủ mọi thứ quyền hành bổng lộc, nay đất nước lâm vào cảnh nguy khốn thì quay lưng nhận giặc làm cha, làm toàn chuyện xấu xa, độc ác. Nay các ngươi lại còn muốn dùng ta làm vật hy sinh cho sự tiến thân của các ngươi thì đừng hòng!”.

Vừa nói dứt lời, Lý Sư Sư rút cây trầm cài đầu đâm vào cổ tự vẫn. Bọn Trương Bang Xương thấy Lý Sư Sư tự tử, sợ bị quân Kim trách tội vội xông vào cứu, nhưng Lý Sư Sư đã kiên quyết ấn cây trâm vàng vào cổ rồi nuốt xuống, quyết chết bằng được chứ không để bọn gian thần bán nước được như ý. Hành động quyết liệt của Lý Sư Sư đã khiến bọn Hán gian như Trương Bang Xương “sởn tóc gáy”. Bởi lẽ có nằm mơ chúng cũng không thể tin được rằng, một kỹ nữ lại có thể có khí khái tới mức ấy.

Về cái chết của Lý Sư Sư cũng có một câu chuyện khác, ly kỳ hơn, nói rằng, không phải bọn Trương Bang Xương tìm thấy cô mà là do Lý Sư Sư tự tìm đến doanh trại quân Kim khi nghe tin Tống Huy Tông bị bắt. Lý Sư Sư muốn đến xin quân Kim cho mình gặp lại Tống Huy Tông lần cuối trước khi vị Hoàng đế này bị đày lên phương Bắc.

Quân Kim tìm kiếm Lý Sư Sư nhiều ngày mà không thấy tăm hơi, nay nàng kỹ nữ nổi tiếng của kinh thành nhà Tống lại tự mình tìm tới thì còn gì bằng. Thát Lại nói với Lý Sư Sư rằng sẽ cho cô gặp Tông Huy Tông nếu cô đồng ý theo quân Kim về phương Bắc. Lý Sư Sư gật đầu đồng ý. Gặp được Huy Tông, hai người ôm nhau khóc hồi lâu.

Khi quân Kim kéo Lý Sư Sư rời đi, Lý Sư Sư vẫn cố gắng dặn dò Huy Tông phải bảo trọng. Rồi chỉ một lát sau khi rời khỏi Huy Tông, Lý Sư Sư đột nhiên ngã ngụy xuống đất. Khi binh lính nhà Kim chạy đến nơi thì Lý Sư Sư đã chết. Thì ra, Lý Sư Sư đã nuốt chiếc trâm vàng để tự vẫn cho trọn tình với Tống Huy Tông.

Nếu như câu chuyện thứ nhất ca ngợi khí tiết của Lý Sư Sư, cho rằng, dù là kỹ nư nhưng Lý Sư Sư còn yêu nước và trung trinh hơn bọn Trương Bang Xương “gọi giặc làm cha” bán nước hại dân thì câu chuyện thứ hai lại nghiêng về việc ca ngợi tấm chân tình mà Lý Sư Sư dành cho Tống Huy Tông.

Tuy nhiên, nhiều người cho rằng, cả hai câu chuyện về cái chết của Lý Sư Sư nói trên thực ra chỉ là sự hư cấu của các nhà Nho nhằm làm gương cho phụ nữ đời sau đồng thời cũng là để đẹp lòng các vị Hoàng đế chứ Lý Sư Sư sau khi Huy Tông bị bắt đã lưu lạc xuống vùng Giang Tô, Chiết Giang tiếp tục sống cuộc đời kỹ nữ của mình.

Giai thoại kể rằng, sau khi giặc Kim kéo vào Biện Kinh, Lý Sư Sư chạy xuống phía Nam. Sau này có người từng gặp cô ở vùng Hô – Tương, thấy đã già nua tiều tụy, không còn phong thái của ngày xưa. Có giai thoại khác lại kể rằng, rằng Lý Sư Sư bị quân Kim bắt làm tù binh đưa về phương Bắc, ép gả cho một tên lính già ốm bệnh, kết thúc cuộc đời một cách nhục nhã.

Tuy nhiên, có một điều chắc chắn rằng, kể từ khi nhà Kim đem quân xuống phía Nam và người tình Tống Huy Tông vì sợ giặc mà nhường ngôi cho con, cuộc đời huy hoàng và nhung lụa của danh kỹ Lý Sư Sư đã chấm dứt. Vì vậy, dẫu là số phận của Lý Sư Sư kết thúc theo cách nào thì rốt cuộc cũng không nằm ngoài hai chữ bi kịch.Phong NguyệtMặc dù không may rơi vào cảnh phong trần nhưng nàng kỹ nữ này có tính cách kiêu ngạo, yêu thích cái nền nã, thanh cao, tính tình khẳng khái, có khí phách của đấng trượng phu.


Biện Kinh, kinh đô của Bắc Tống, là thành phố phồn hoa nhất thời bấy giờ, nơi tập trung rất nhiều quan lại triều đình, các nhà buôn lớn và giàu có. Thế là kỹ viện, lầu xanh mọc lên như nấm giúp họ tiêu khiển. Các kỹ nữ lầu xanh phần lớn xuất thân từ tầng lớp thấp. Để hợp khẩu vị của khách làng chơi, các bà chủ kỹ viện đã dạy cho họ cầm kỳ thi họa từ nhỏ nên các cô cũng đã có được kiến thức về văn học nghệ thuật mà những người con gái bình thường khác vào thời đó không có được. Có nhiều cô do thông minh xinh đẹp, đa tài đa nghệ nên nổi tiếng một vùng nhưng nổi tiếng nhất vẫn còn lưu truyền tới ngày nay phải kể đến Lý Sư Sư.

Nàng là con gái một người thợ nhuộm họ Vương ở Thành Đông Kinh, vừa sinh ra thì mẹ mất. Người cha dùng sữa đậu nành thay sữa mẹ nuôi nàng khôn lớn. Theo tập quán Biện Kinh lúc bấy giờ, người cha do vô cùng thương yêu con nên đã cho con nương nhờ cửa phật để được phù hộ độ trì. Cha Lý Sư Sư gửi con vào chùa Bảo Quang ở Đông Kinh, lấy tên Sư Sư. Lúc Sư Sư được bốn tuổi, cha cô phải vào tù và chết ở trong đó. Sư Sư mồ côi cả cha lẫn mẹ được một bà chủ chứa họ Lý mang về nuôi nên từ đó nàng mang họ Lý.

Lý Sư Sư lớn lên tài sắc vẹn toàn, đứng đầu các kỹ nữ trong kỹ viện. Mặc dù không may rơi vào cảnh phong trần nhưng nàng có tính cách kiêu ngạo và yêu thích cái nền nã, thanh cao, tính tình khảng khái có khí phách của đấng trượng phu. Sự nổi tiếng của nàng không ngờ lại dẫn đến một “giai thoại phong trần”. Nguyên là Tống Huy Tông Triệu Cát, hoàng đế thứ 8 nhà Bắc Tống là một ông vua phóng đãng nổi tiếng. Năm 19 tuổi, ông ta kế vị lên ngôi vua thay người anh, tiếp nhận cơ ngơi triều đình đổ nát. Mới 19 tuổi, Huy Tông không thể nào thống trị đất nước nên cuối cùng đành bỏ qua không quan tâm, giao việc triều chính cho lũ gian thần để ngày đêm đắm chìm vào thơ ca nhạc họa.

Dù rất dốt về triều chính nhưng Huy Tông lại rất thông hiểu về văn học nghệ thuật, tinh thông âm luật, yêu thích hội họa đàn ca. Ở phía bắc thành Biện Kinh, ông cho xây Ly cung “Cấn nhạc”, bên trong đầy những hoa thơm cỏ lạ, suốt ngày yến tiệc quanh quẩn trong đó. Chẳng bao lâu ông ta cũng cảm thấy buồn chán và muốn ra ngoài thành Biện Lương vi hành và chơi bời.

Biết tiếng danh kỹ Lý Sư Sư nên nhà vua ham chơi này đã sắp xếp để gặp nàng. Đêm hôm gặp Lý Sư Sư, Huy Tông đã cải trang thành một thương nhân để đến kỹ viện. Bà chủ họ Lý thấy vị khách là một thương gia giàu có nên đón tiếp rất trịnh trọng và dắt Tống Huy Tông vào một căn phòng nhỏ để gặp Lý Sư Sư. Sư Sư trang phục giản dị, không trang điểm cầu kỳ phấn son, mặc bộ đồ lụa, xinh tươi như đóa hoa sen vừa cất mình khỏi mặt nước, thế nhưng thần sắc của cô có vẻ lạnh lùng, kiêu sa, gặp Huy Tông cũng chẳng thi lễ, coi như không nhìn thấy gì. Sau khi bà Lý đi ra, Sư Sư từ từ đứng dậy bỏ áo khoác ngoài lụa đen ra, chỉ mặc một áo bằng lụa trắng mỏng, nhẹ nhàng lướt năm đầu ngón tay dạo khúc “Bình sa lạc nhạn”. Huy Tông vừa thưởng thức tiếng đàn vừa ngắm Sư Sư dưới ánh nến, chỉ thấy đôi mày của cô tựa dãy núi xa xa, đôi mắt long lanh tựa mặt nước mùa thu, kiêu sa mà quyến rũ, xinh đẹp một cách quý phái, còn tiếng đàn thì thánh thót dịu êm thoáng pha chút buồn man mác.

Mối quan hệ của Huy Tông với Lý Sư Sư không những chỉ lưu truyền trong thành Đông Kinh mà mọi người quanh vùng, gần xa đều biết. Trong lúc Tống Huy Tông sa đà vào chốn thanh lâu thì quân Kim đánh thẳng xuống phía Nam, xông thẳng tới Đông Kinh. Chỉ trong chốc lát, Biện Lương thanh bình đã hiện rõ cảnh hoang mang bại trận. Huy Tông tuyên bố thoái vị và vội vàng chạy trốn về phía Nam.

Lý Sư Sư tuy là một kỹ nữ nhưng lại là một người con gái hiểu biết, cô đã quá chán ghét cuộc sống ở lầu xanh, mong một cuộc sống trong sạch thanh nhã. Khi quân Kim tiến về phía Nam, Sư Sư mang tất cả vàng bạc dành dụm được cùng mọi thứ quý giá mà hoàng thượng ban tặng cho quan phủ Khai Phong để làm quân lương cho quân sỹ chống quân Kim.

Tư sau khi phủ Khai Phong bị chiếm, Lý Sư Sư bị đem nộp cho quân Kim, nhưng nàng không cam chịu làm cống vật cho cho bọn giặc nên đã rút trâm vàng cài tóc tự đâm vào họng mình nhưng lại không chết. Cuối cùng nàng rút trâm vàng bẻ làm đôi rồi nuốt vào miệng cho đến chết. Khi ấy mọi người được chứng kiến cảnh đau lòng đó đều khóc nức nở vì thương cảm. Có tài liệu cho rằng, Sư Sư không lọt vào tay quân Kim mà sau khi hiến tài sản cho việc chống giặc, nàng mai danh ẩn tích vào tu trong một ngôi chùa.

Lý Sư Sư là một nhân vật bi kịch, nàng được trời phú cho tài hoa nghệ thuật, do sự an bài của số mệnh, không may rơi vào cảnh phong trần. Trong hoàn cảnh bị khinh miệt, biến thành trò chơi, nàng vẫn ra sức bảo vệ được chút nhân cách độc lập của mình

Thúy Kiều:Vương Thuý Kiều là kỹ nữ Lâm Truy, Sơn Đông (nay là Lâm Truy, Truy Bác, Sơn Đông), đầu tiên là Kiều Nhi, giỏi hát lối mới, thạo hồ cầm. Do phải trả nợ cho cha mẹ nên Kiều phải vào kĩ viện tại Lâm Truy, là danh kĩ Tần Hoài. Vương Thúy Kiều bị quan binh nhà Minh giải về, đến sông Tiền Đường đã nhảy xuống nước tự tử.Sau tìm cách trốn khỏi nhà xướng ca, đổi tên ở bên bờ biển. Nuỵ khấu đánh Giang Nam, bắt Thuý Kiều mang đi rồi trở thành áp trại phu nhân của Từ Hải. Từ Hải rất yêu quý nàng, mọi kế hoạch đều nghe theo nàng. Quan quân phái người đến chiêu hàng, Kiều nghe lời Hồ Tôn Hiến khuyên Từ Hải quy hàng, Hải mới quyết tâm hàng nhà Minh vào năm 1556. Sau khi quy hàng, Từ Hải bị Trần Đông bức bách, Từ Hải nổi giận phản kháng nhưng cuối cùng bị thua chết, Thuý Kiều cũng bị quan quân cướp. Sau khi bị Đốc phủ làm ô nhục, Kiều bị gả cho tù trưởng Vĩnh Thuận làm thiếp. Trên đường qua sông Tiền Đường, Thuý Kiều than: Minh Sơn hậu đãi ta, ta vì việc nước dụ hàng mà bị hại. Giết một người chồng rồi lại lấy một người chồng, còn mặt mũi nào sống nữa! Bèn nhảy xuốn sông mà chết. Thuý Kiều là kỹ nữ nổi danh khi Nguyễn Du viết tác phẩm Đoạn trường tân thanh mà người VN quen gọi là Truyện Kiều, là một trong những tác phẩm văn học nổi tiếng nhất của Việt Nam.
Đốc Sao : Tên Đốc Sao của nàng kỹ nữ lừng danh Hà thành ra đời gắn liền với cuộc hôn nhân với người chồng đầu tiên - một bác sỹ người Hoa, tên Lưu Nam Sao.Là một kỹ nữ tài sắc vẹn toàn, lừng danh khắp Hà Thành và Trung Kỳ, cô Đốc Sao đã làm sụp đổ biết bao nhiêu gia tài của khách làng chơi sang trọng...
Một tờ báo xưa từng viết: "Cô Đốc sinh năm 1890, quê ở Hưng Yên, có thân hình phốp pháp, da trắng, đôi mắt biết nói và đặc biệt khuôn mặt phồn thực... Khi nhìn mặt Đốc Sao, người ta sẽ không thể nghĩ những điều tốt đẹp hơn".
Nghe hát + khiêu vũ = gặp Đốc Sao
Trước 1915, phố Khâm Thiên vẫn chưa hình thành, đường đi vẫn là đất đá lổn nhổn và chiều ngang chỉ đủ rộng cho một chiếc xe tay đi qua. Hai bên còn là hồ ao, bãi tha ma, ruộng rau muống và ao bèo... Thế nhưng, từ năm 1930-1940, thì khu phố này cực kỳ phồn thịnh. Tất cả là nhờ nhà hát cô đầu và tiệm nhảy.
Trong một cuốn sách viết năm 1938, Đốc lý Hà Nội Virgitti viết: "Khâm Thiên là một xóm ăn chơi nhất, hiện đại nhất và đắt khách nhất. Đó là một xóm giàu có nhất trong khu vực này. Nhà hát ở Khâm Thiên có từ trước song người ta đua nhau đến đây mấy năm gần đây thôi. Trên một đoạn phố không đầy 800m mà có tới 40 nhà hát với trên 200 con hát, thêm 5 tiệm khiêu vũ với khoảng dăm chục gái nhảy và có hai nhà săm cho thuê buồng. Các chủ xuất thân từ cô đầu, nhân tình của các quan lại An Nam cao cấp".
Ảnh minh họa. Nguồn: Vietgiaitri
Nổi tiếng trong giới ăn chơi Hà thành trên phố Khâm Thiên thời đó là nhà hát cô đầu có phòng khiêu vũ đầu tiên của kỹ nữ Đốc Sao ở số nhà 96. Khách vào đây hầu hết là kẻ có chức sắc trong chính quyền hay đám có thế lực trong xã hội. Ai hát cô đầu, ai uống rượu có cô đầu phục vụ; ai thích nhảy đầm sang phòng riêng có vũ nữ làm bạn nhảy. Khách khiêu vũ mời ai thì sẽ "boa" cho vũ nữ ấy khi hết điệu... Vì thế, khách đã vào chỗ cô Đốc Sao, lúc ra về phải chi tới bạc trăm trong khi lương một viên tri huyện tập sự chỉ 80 đồng.
Rõ là quá tốn kém! Nhưng thực tế, để chọn lựa được cô đầu ưng ý, cô Đốc Sao phải tìm các thiếu nữ nhà nghèo ở quê, ở độ tuổi từ 16-17, có khuôn mặt xinh xẻo, vóc dáng đẹp, rồi thuê người dạy tí ti ca trù, dăm ba câu tiếng Pháp...; sau đó, cô sẽ trực tiếp huấn luyện cho biết uốn éo, cợt nhả với khách và cho dùng hàng phấn sáp của Pháp, tơ lụa tốt. Thế nên, khắp Hà thành, Đốc Sao có nhiều cô đầu đẹp và khéo nhất như: Uyên, Xuyến, Phượng...
Nổi danh là kỹ nữ chung tình
Vào nửa đầu thế kỷ XX, dân chơi từ Bắc vào Trung kỳ đều biết rõ cô Đốc Sao đã qua một đời chồng. Thế nhưng, những công tử con cháu các quan, các công tôn con cháu vua chúa, những quan lớn từ Huế và những quan phủ, quan huyện, Đốc Phủ sứ bất luận già trẻ, đã gặp Đốc Sao một lần... là mê đắm vì gương mặt đẹp, giọng hát hay và nụ cười của cô. Có những người ăn dầm nằm dề ở nhà cô cả tháng, nhưng không bao giờ được cô ban cho ân huệ cuối cùng như họ thèm thuồng, van lơn.
Theo những người cùng thời, cô Đốc Sao yêu tha thiết nhà văn nghèo Hoàng Tích Chu. Cô tình nguyện làm vợ, chăm nom đời sống của Chu, lo cho cả tờ báo của Chu. Nhưng Hoàng Tích Chu vắn số, chết vào tuổi 33.
Khi Hoàng Tích Chu mất, cô Đốc Sao in danh thiếp đề tên mình là “Bà goá phụ Hoàng Tích Chu”. Thật là một kỹ nữ chung tình chưa có ai sánh bằng!
http://image.tin247.com/vnexpress/090813111944-651-82.jpgNhật: Geisha là nghệ sĩ vừa có tài ca múa nhạc lại vừa có khả năng trò chuyện, là một nghệ thuật giải trí truyền thống của Nhật Bản nhưng VN dịch là "kỹ nữ".Thời thế kỷ 1819 đã có rất nhiều geisha. Ngày nay các geisha vẫn còn hoạt động, tuy số lượng ngày càng giảm. Tiếng Anh gọi là geisha girl, mang nghĩa rộng là gái mại dâm. Điều này liên quan đến thời kỳ Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản sau Đệ nhị thế chiến, khi những phụ nữ trẻ cần tiền đã tự gọi mình là geisha và bán dâm cho lính Mỹ. Ở Việt Nam, có người dịch geisha là "kỹ nữ Nhật". Tuy nhiên, cách dịch này dễ gây hiểu nhầm, vì trong tiếng Việt, từ "kỹ nữ" có ý chỉ phụ nữ hoạt động mại dâm. Có từ điển dịch geisha là "vũ nữ Nhật". Tuy nhiên, cách dịch này không chính xác vì múa chỉ là một trong các loại hình nghệ thuật truyền thống mà geisha biểu diễn. Ngoài ra, có ít người sử dụng cách dịch này.

Geisha khởi nguồn là những người giải trí chuyên nghiệp, ban đầu họ hầu hết là nam giới. Geisha sử dụng kỹ năng nghệ thuật truyền thống Nhật Bản, trong đó có âm nhạc, múa và kể chuyện. "Geisha thành phố" (machi geisha) hoạt động tự do tại các buổi tiệc bên ngoài các khu phố giải trí, trong khi các "geisha khu phố" (kuruwa geisha) làm giải trí cho khách trong các buổi tiệc trong các khu phố giải trí. Trong khi các kỹ năng nghệ thuật của gái điếm hạng sang suy giảm, thì kỹ năng của của các geisha, cả nam lẫn nữ, trở nên được yêu cầu cao hơn.

Geisha nam (đôi khi được gọi là hōkan) đã dần dần suy giảm, và cho đến năm 1800, sô lượng các geisha nữ (ban đầu được gọi là onna geisha với nghĩa là "geisha nữ") đã gấp ba lần số geisha nam, và tên gọi geisha bắt đầu được hiểu với nghĩa như ngày nay là người phụ nữ làm nghề giải trí với trình độ cao.

Theo truyền thống, geisha bắt đầu được huấn luyện từ khi còn nhỏ. Một số cô gái đã được bán cho các nhà geisha từ khi còn là trẻ con và bắt đầu học nhiều thể loại nghệ thuật truyền thống gần như ngay lập tức.

Trong thời thơ ấu, giai đoạn đầu tiên, đôi khi geisha làm việc với vai trò người hầu gái hay người giúp việc cho các geisha có kinh nghiệm, và tiếp theo, trong giai đoạn huấn luyện là vai trò geisha học việc (maiko). Kiểu đào tạo này cũng tồn tại trong các truyền thống khác của Nhật Bản, khi học viên sống trong nhà, bắt đầu với việc làm việc nhà và giúp đỡ người thợ chính, và cuối cùng chính người đó sẽ trở thành một người thợ chính.

Theo truyền thống, geisha không được liên quan đến các hoạt động tình dục.

Các geisha hiện đại vẫn sống trong những ngôi nhà geisha truyền thống gọi là okiya tại các khu vực gọi là hanamachi (花街 - "hoa nhai" - khu phố hoa), đặc biệt trong thời gian học việc của họ. Tuy nhiên, nhiều geisha giàu kinh nghiệm lại chọn cách sống trong những căn hộ của chính mình. Thế giới thanh lịch và văn hóa cao mà các geisha là một phần trong đó được gọi là karyūkai (花柳界, "hoa liễu giới" - thế giới của hoa và liễu).

Hiện nay, những người phụ nữ trẻ muốn được trở thành geisha thường bắt đầu đợt đào tạo sau khi đã hoàn thành trung học cơ sở hay thậm chí trung học phổ thông hoặc đại học, nhiều người bắt đầu nghề nghiệp của họ khi đã ở tuổi trưởng thành. Geisha vẫn học những nhạc cụ truyền thống như shamisen, shakuhachi (sáo trúc), và trống, cũng như những bài hát truyền thống, múa cổ điển Nhật, trà đạo, ikebana (cắm hoa Nhật), văn học và thơ ca. Từ việc quan sát các geisha khác cùng với sự giúp đỡ của chủ nhà geisha, những người học việc cũng trở nên điêu luyện trong các truyền thống phức tạp xung quanh việc lựa chọn và mặc kimono, cũng như cách cư xử với khách hàng.



Ngày nay, Kyoto là nơi có truyền thống geisha còn lại mạnh nhất. Hai trong số các khu phố geisha truyền thống và danh tiếng nhất là GionPontochō đều ở Kyoto. Geisha trong các khu phố này được gọi là geiko. Các "khu phố hoa" Shimbashi, AsakusaKagurazaka tại Tokyo cũng nổi tiếng.

Ở Nhật Bản hiện đại ngày nay, người ta hiếm khi nhìn thấy geisha và maiko. Vào năm 1920, tại Nhật Bản có trên 80 nghìn geisha, nhưng ngày nay chỉ còn dưới 1000 người[cần dẫn nguồn]. Tuy nhiên, các du khách đến khu Gion ở Kyoto rất dễ nhìn thấy một maiko đang trên đường đến hoặc về từ một cuộc hẹn.

Sự suy tàn của truyền thống geisha có nguyên nhân từ nền kinh tế ì trệ, sự suy giảm của mối quan tâm đến các loại hình nghệ thuật truyền thống, bản chất khó nhìn thấu được của thế giới hoa liễu, và chi phí cao cho việc được geisha giải trí.

Geisha thường được thuê để tham dự các buổi tiệc và tụ họp, theo truyền thống là tại các quán trà (茶屋, chaya) hoặc tại các nhà hàng Nhật Bản truyền thống (ryōtei). Thời gian làm việc của họ được đo theo thời gian một cây hương cháy hết, và được gọi là senkōdai (線香代, tuyến hương đại) hoặc gyokudai (玉代 ngọc đại - "giá ngọc"). Một từ khác để miêu tả chi phí là "ohana", hay phí hoa. Khách hàng thỏa thuận sắp xếp qua văn phòng hiệp hội geisha (検番 kenban), nơi quản lý lịch làm việc của từng geisha và sắp xếp các cuộc hẹn của cô trong cả việc huấn luyện lẫn tiếp khách.

Vẫn có một số nhầm lẫn, đặc biệt ở bên ngoài Nhật Bản, về bản chất của nghề geisha. Vấn đề này đã bị làm cho thêm phần rắc rối bởi gái mại dâm Nhật, đặc biệt tại các bể tắm onsen, những người muốn bám vào hình ảnh ưu thế của geisha bằng cách tự quảng cáo với các khách du lịch (cả người Nhật và người nước ngoài) rằng mình là "geisha". Các miêu tả không chính xác về geisha trong văn hóa đại chúng phương Tây, chẳng hạn trong tiểu thuyết và bộ phim Hồi ức của một geisha (Memoirs of a Geisha), cũng góp phần gây ra các hiểu nhầm về geisha.

Theo truyền thống, geisha không được kết hôn (hoặc khi kết hôn thì phải kết thúc sự nghiệp), tuy việc họ có con không phải là chuyện đặc biệt. Mặc dù nhiệm vụ của geisha thường bao gồm cả tán tỉnh và đùa cợt khêu gợi (tuy được mã hóa theo các cách truyền thống), nhưng họ không bao giờ có quan hệ tình dục với khách hàng và không được trả tiền cho hoạt động đó. Tuy nhiên, một số geisha có thể quyết định quan hệ với một trong những nhà bảo trợ hoặc khách quen (patron) của mình bên ngoài thời gian làm việc với vai trò geisha. Và vì những mối quan hệ đó có liên quan đến việc một khách hàng có khả năng trả tiền để được hưởng các phục vụ truyền thống của một geisha, người ta có thể lập luận rằng đây chẳng qua chỉ là một hình thức mại dâm bị bóp méo.

Cũng theo truyền thống, một geisha đã được công nhận có thể có một danna, hay người bảo trợ. Một danna thường là một người đàn ông giầu có, đôi khi đã có gia đình, người có điều kiện tài trợ những khoản chi tiêu rất lớn cho việc huấn luyện truyền thống và các chi phí đáng kể khác. Ngày nay, việc này đôi khi cũng xảy ra.

Mặc dù một geisha và người bảo trợ của mình có thể yêu nhau, nhưng theo tục lệ, mối quan hệ này phụ thuộc vào khả năng cung cấp tài chính của người bảo trợ cho geisha. Các truyền thống và giá trị bên trong quan hệ này rất phức tạp và khó hiểu, ngay cả đối với nhiều người Nhật.

Ngoại hình của một geisha thay đổi theo nghề nghiệp, từ kiểu trang điểm trẻ trung, đậm của một maiko, cho đến diện mạo được trang điểm trầm hơn của một geisha lớn tuổi và đã có tiếng.

http://du-lich.chudu24.com/f/d/090423/lge_geisha_080507033254645_wideweb__300x300-2.jpg?c=1&w=320Trang điểm

Ngày nay, việc trang điểm truyền thống của một geisha tập sự là một trong những nét đặc trưng có thể nhận ra họ, tuy nhiên, chỉ trong các buổi trình diễn đặc biệt, các geisha từng trải nói chung vẫn được trang điểm với bộ mặt dày lớp phấn trắng mà tạo nên tính cách của maiko.

Trang điểm truyền thống của một geisha tập sự bao gồm một lớp phấn nền dày, màu trắng với thỏi son màu đỏ và phần sắc đỏ và đen quanh mắt và lông mày.

Việc trang điểm này khó có thể đạt đến sự hoàn hảo và là một quá trình bị chi phối bởi thời gian. Trang điểm được thực hiện trước khi mặc trang phục để tránh làm bẩn bộ kimono. Đầu tiên, một ít sáp ong hoặc dầu, được gọi là bintsuke-abura, được bôi lên da. Tiếp theo, phấn trắng được trộn với một ít nước để tạo thành một hỗn hợp sền sệt và được bôi lên mặt với một cây cọ được làm từ tre. Lớp phấn trắng này sẽ bao phủ khắp mặt, cổ, ngực và đôi bàn tay, và để lại hai hoặc ba vùng tối (vùng có dạng hình chữ "W" hoặc "V") bên trái gáy, để làm nhấn mạnh vùng gợi dục truyền thống, và có chừa lại một đường viền không đánh xung quanh chân tóc, đường này tạo nên cảm giác "mặt nạ" của khuôn mặt sau khi trang điểm.

Sau khi đã phủ xong lớp phấn nền, một miếng bọt biển sẽ được sử dụng để dặm cho phấn đều khắp mặt, cổ, ngực và gáy để làm mất độ ẩm dư thừa và lớp phấn được mịn. Tiếp theo, phần mắt và lông mày được vẽ lại. Bút chì than truyền thống được sử dụng để vẽ mắt, nhưng ngày nay, người ta sử dụng các dụng cụ trang điểm hiện đại. Lông mày và các viền mắt được tô màu đen; một maiko thường tô một màu đỏ quanh mắt.

Người ta sử dụng một cây cọ nhỏ để tô đôi môi. Màu đỏ để tô lấy từ một ống nhỏ, màu có thể tan trong nước. Đường kết tinh sau đó được cho thêm vào để đôi môi được bóng hơn.

Trong ba năm đầu tiên, một maiko luôn phải trang điểm dày như thế này. Trong giai đoạn khởi đầu của mình, maiko sẽ được một "người chị" giúp đỡ phần trang điểm (một geisha kinh nghiệm sẽ cố vấn cho cô) hoặc "mẹ" (okami) của ngôi nhà mà geisha đang ở và tập sự. Dần dần, maiko sẽ tự trang điểm lấy cho bản thân.

Sau khi geisha đã làm việc được ba năm, cô sẽ thay đổi trang điểm sang phong cách dịu hơn. Lý do cho việc làm này là cô đã trở thành một geisha thuần thục, và kiểu trang điểm đơn giản sẽ cho thấy nét đẹp tự nhiên của cô. Trong một vài buổi tiệc trang trọng các geisha thuần thục sẽ vẫn trang điểm kiểu lớp phấn trắng dày. Đối với các geisha trên ba mươi tuổi, việc trang điểm dày chỉ được thực hiện khi biểu diễn múa đặc biệt vì tính chất buổi diễn đòi hỏi như vậy.

http://image.tin247.com/dantri/081223181334-14-961.jpgTrang phục

Geisha thường xuyên mặc kimono. Geisha tập sự mặc bộ kimono có nhiều màu sắc với nơ lưng (obi) rất to. Geisha lớn tuổi hơn mặc trang phục với kiểu dáng và hoa văn dịu nhẹ hơn.

Màu sắc, hoa văn và kiểu kimono cũng phụ thuộc vào mùa trong năm và sự kiện mà geisha tham dự. Vào mùa đông, bên ngoài áo kimono, geisha có thể khoác một chiếc áo choàng có chiều dài khoảng bằng 3/4 so với kimono, áo choàng này được lót bằng lớp vải lụa có hoa văn vẽ bằng tay. Áo kimono có trần thêm vải lót sẽ được mặc khi thời tiết lạnh hơn, còn áo không trần được mặc vào mùa hè. Để may một chiếc kimono có thể cần đến 2 hoặc 3 năm do phải thêu và vẽ lên vải.

Khi ra ngoài, geisha đi dép có đế phẳng zori, còn khi ở nhà chỉ đi tabi (tất chân có sẻ ngón màu trắng). Vào lúc thời tiết khắc nghiệt, geisha sẽ đi một đôi guốc bằng gỗ, được gọi là geta. Maiko thường đi đôi guốc gỗ được sơn màu đen, gọi là okobo

http://megafun.vn/dataimages/200908/original/images96771_1.jpgKiểu tóc

Kiểu tóc của geisha đã thay đổi nhiều qua các thời kỳ lịch sử. Trong quá khứ, có thời kỳ phụ nữ thường để xoã tóc, có thời kỳ họ lại vấn tóc lên. Trong thế kỷ 17, những người phụ nữ lại bắt đầu cột tóc lên lần nữa và trong thời gian này đã phát triển kiểu tóc truyền thống shimada - một dạng của kiểu tóc chignon mà đa số geisha thực thụ sử dụng.

Có 4 loại kiểu tóc shimada chính: kiểu taka shimada, kiểu này thường có búi tóc cao, được những cô gái trẻ, chưa chồng sử dụng; kiểu tsubushi shimada, có búi tóc thấp hơn được những người phụ nữ nhiều tuổi hơn sử dụng; kiểu uiwata, kiểu tóc có búi tóc được vấn với một mảnh vải bông màu; và kiểu tóc mà được chia múi tương tự như quả đào, chỉ được các maiko sử dụng.

Các kiểu tóc được trang điểm cầu kỳ với lượctrâm. Vào thế kỷ 17 và thời kỳ sau cải cách Minh Trị, những chiếc lược khá to và dễ thấy, nói chung là với phụ nữ thuộc tầng lớp càng cao thì kiểu dáng lược càng lộng lẫy hơn. Sau thời kỳ cải cách Minh Trị và đến giai đoạn hiện đại, những chiếc lược nhỏ hơn và ít lộ liễu hơn đã trở nên thông dụng hơn.

Trước đây, các geisha đã được huấn luyện việc ngủ không dùng gối mà chỉ kê gáy lên một cái kệ nhỏ (takamakura), để họ có thể giữ cho kiểu tóc của mình được hoàn hảo sau giấc ngủ. Để rèn luyện thói quen này, những người hướng dẫn của họ rắc gạo quanh cái kê gáy. Nếu trong khi ngủ, đầu của geisha lăn khỏi kệ, những hạt gạo sẽ dính vào tóc và mặt họ.

Nhiều geisha hiện đại sử dụng tóc giả trong cuộc sống chuyên nghiệp của họ. Các bộ tóc giả đó phải được bảo dưỡng định kỳ bởi các nghệ nhân có kỹ năng cao. Làm tóc theo kiểu truyền thống là một nghệ thuật đang lụi tàn dần.

http://image.tin247.com/dantri/081223181334-152-259.jpgGeisha trong văn hóa đại chúng

Sự quan tâm ngày càng cao đối với geisha và ngoại hình đặc biệt của họ đã khơi lên nhiều hiện tượng văn hóa đại chúng ở cả Nhật Bản và phương Tây. Gần đây nhất là phong cách trang điểm "kiểu geisha" đã được đề xướng sau thành công và sự nổi tiếng của tiểu thuyết "Hồi ức của một geisha" (Memoirs of a Geisha) và bộ phim cùng tên.

Năm 1999, ca sĩ Mỹ Madonna đã xuất hiện trong video âm nhạc Nothing Really Matters trong trang phục kiểu geisha với bộ áo giống một chiếc kimono và trang điểm rất đậm với phấn nền màu trắng.

Những bức ảnh chụp cảnh sinh hoạt đời thường của các kỹ nữ trong kỹ viện Yoshiwara nổi tiếng một thời tại Tokyo, Nhật Bản năm 1890 lần đầu tiên được tiết lộ.
Yoshiwara là trung tâm kỹ viện thượng lưu nổi tiếng nhất của Nhật Bản những năm 1890. Những cô gái ở đây cũng nổi tiếng xinh đẹp, đàn hay và biết chiều lòng khách. Bất kể khách làng chơi một lần ghé qua thì lưu luyến khó về.



Những kỹ nữ xinh đẹp ngồi trên lầu và lả lướt với khách làng chơi




Kỹ nữ ở kỹ viện Yoshiwara được chia làm 3 cấp. Cấp một được gọi là Đại điếm, cấp hai là Trung điếm, cấp ba là Tiểu điếm.




Các kỹ nữ Tiểu điếm thường bị nhốt vào một căn phòng chặt hẹp rồi kiên nhẫn ngồi chờ để cho khách làng chơi lựa chọn.



Những cô kỹ nữ hạng sang (Đại điếm và Trung điếm) thì được ăn vận đẹp đẽ, ngồi trong một căn phòng rộng rãi, xa hoa.

Một cảnh sinh hoạt của các kỹ nữ tại Đại điếm.

Những lúc không có khách, các kỹ nữ cũng "hưởng thụ" cuộc sống an nhàn.


Họ thư giãn trong bồn tắm

Rảnh hơn, họ cắm hoa, thêu thùa và viết thư...Gerda sống tại Montreal và tại đây, bà làm người hầu gái, nhân viên phục vụ và tiếp viên tại hộp đêm “Chez Paree”. Tại Canada, Gerda có quan hệ trên mức bình thường với rất nhiều quan chức cấp cao của chính phủ trong đó có Thứ trưởng quốc phòng Pierre Sevigny


Gerda là nhân vật chính trong vụ scandal chính trị tại Canada
Gerda Munsinger là một kỹ nữ người Đông Đức. Bên cạnh đó, Gerda còn là một điệp viên siêu hạng của của Liên Xô. Gerda là nhân vật chính trong vụ scandal chính trị nổi tiếng tại Canada.

Gerda là người hầu gái, nhân viên phục vụ và tiếp viên tại hộp đêm “Chez Paree”

Gerda Munsinger sinh ra tại Đông Đức vào năm 1926. Sau cuộc hôn nhân ngắn ngủi với người chồng là binh sĩ Mỹ Michael Munsinger, Gerda chuyển đến sống tại Canada. Gerda sống tại Montreal và tại đây, bà làm người hầu gái, nhân viên phục vụ và tiếp viên tại hộp đêm “Chez Paree”.
Tại Canada, Gerda có quan hệ trên mức bình thường với rất nhiều quan chức cấp cao của chính phủ trong đó có Thứ trưởng quốc phòng Pierre Sevigny.Ngài thứ trưởng thậm chí còn ký vào đơn xin nhập quốc tịch Canada của tình nhân.
Đến năm 1961, khi "người đẹp" bị trục xuất về CHDC Đức vì lý do là điệp viên Tình báo Liên Xô - theo kết quả điều tra của cơ quan tình báo địa phương, ngài Thứ trưởng đã buộc phải từ chức trong im lặng vào năm 1963.
Năm 1966, Bộ trưởng Bộ tư pháp Canada Lucien Cardin đã nhắc tới vụ ngoại tình này trong một phiên họp. Ngay lập tức, các phương tiện truyền thông nắm bắt được cơ hội có một không hai này và công bố cho dư luận.

Là nhân vật chính của vụ scandal song Gerda vẫn kết hôn đến lần thứ ba
Trước sức ép của dư luận xã hội, chính phủ Canada tuyên bố rằng Gerda đã qua đời vì căn bệnh bạch cầu song một phóng viên của tờ Toronto Star đã cho hay Gerda vẫn sống tại Munich, nước Đức. Bên cạnh đó, chính Gerda đã khẳng định lại câu chuyện trên.
Là nhân vật chính của vụ scandal song Gerda vẫn kết hôn đến lần thứ ba. Bà sống dưới cái tên Gerda Merkt cho đến hết đời. Năm 1998, Gerda qua đời tại Munich, nước Đức.
Vụ scandal của Gerda đã truyền nguồn cảm hứng để đạo diễn Brenda Longfellow sản xuất ra bộ phim nổi tiếng vào năm 1992 với cái tên Gerda.
Belle de Jour – Gái gọi, nhà khoa học nổi tiếng nước Anh

Belle de Jour là hot blogger của Anh quốc
Belle de Jour là bút danh của Tiến sĩ Brooke Magnanti. Trên tờ Sunday Times, Brooke khẳng định cô chính là Belle de Jour với số tiền đi khách vào khoảng 500 USD một giờ.
Cuộc đời của Belle du Jour đã được tái hiện trong 3 cuốn sách, một show truyền hình và trên blog cá nhân của riêng cô.
Năm 2003, nước Anh như sôi sục lên vì những dòng nhật ký của Belle du Jour, người tự nhận mình là “gái gọi của Luân Đôn”. Với giọng kể hài hước, cô đã thu hút được một số lượng lớn độc giả ghé thăm blog của mình.
Đồng thời với sự nặc danh bí ẩn, đã có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau về thân phận thật sự của Belle de Jour. 6 năm sau, Belle de Jour đã vén bức màn bí mật và bước ra ánh sáng với thân phận là một nhà khoa học chuyên nghiên cứu căn bệnh ung thư.

Belle du Jour -người tự nhận mình là “gái gọi của Luân Đôn"
Belle de Jour là bút danh của Tiến sĩ Brooke Magnanti. Trên tờ Sunday Times, Brooke khẳng định cô chính là Belle de Jour với số tiền đi khách vào khoảng 500 USD một giờ. Cuộc đời của Belle du Jour đã được tái hiện trong 3 cuốn sách, một show truyền hình và trên blog cá nhân của riêng cô.
Magnanti cho hay cô đã viết “Nhật ký bí mật của một cô gái gọi” khi đang làm luân án tiến sĩ vào năm 2003. Cô tâm sự rằng:
“Trở nên vô danh chẳng có gì là thú vị. Bạn không thể tổ chức lễ ăn mừng vì sự thành công của cuốn sách. Thậm chí tôi không thể có mặt trong buổi tiệc của chính mình”

Belle de Jour là bút danh của Tiến sĩ Brooke Magnanti
Magnanti cho hay cô quyết định bước ra ánh sáng nhằm chấm dứt những tò mò đã diễn ra quá lâu xung quanh cuộc đời thực của cô. Magnanti cũng hy vọng giờ đây khi biết được thân phận thật sự của cô, dư luận sẽ giữ khoảng cách với cô và không làm phiền nơi làm việc mới của Belle de Jour. Đó chính là Viện nghiên cứu sức khỏe trẻ em Anh quốc.
Cô cũng tiết lộ rằng rất nhiều người tò mò về việc liệu cô có đóng thuế hay không và Belle de Jour đã trả lời rằng “Tôi đã đóng thuế nghiêm chỉnh”.Magnanti cho hay trước khi tiết lộ thân phận thật sự với công chúng, cô đã nói bí mật của mình với một người đồng nghiệp, một người rất tốt bụng và luôn luôn ủng hộ người khác. Sau đó, cô đã nói với người mẹ thân yêu của mình.

Belle de Jour, gái gọi nổi tiếng của Anh quốc là một nhà khoa học tài năng
Belle de Jour khẳng định cô rất tự hào về nghề cũ và những điều cô đã viết:
“Những con người, địa điểm, hành động và cảm xúc đề rất thật. Tôi tự hào về những trang viết của mình. Cảm ơn các bạn đã đọc và đi cùng tôi trong những cuộc phiêu lưu này”.
Cuộc phiêu lưu của Belle de Jour bắt đầu khi cô rời Scotland đến Luân Đôn để trở thành nghiên cứu sinh và cô đã nhận thấy cuộc sống ở đây thật đắt đỏ.“Khoảng cách giữa việc sống tại Highlands và Luân Đôn là rất lớn. Trước đó tôi chưa từng nghĩ đến điều này” “Tôi đã tự hỏi: Mình phải làm gì để kiếm sống ở đây?”

Belle de Jour khẳng định cô rất tự hào về nghề cũ và những điều cô đã viết
Không thể tìm được một công việc phù hợp và những khoản nợ chồng chất đã đẩy Magnanti đến quyết định làm gái gọi. Cô tìm đến với một công ty môi giới mại dâm và ra giá 300 USD cho một giờ phục vụ. Trong thời gian làm gái hồng lâu của mình, cô đã ngủ với vài trăm người đàn ông.
Magnanti bắt đầu viết blog về cuộc phiêu lưu của mình dưới nickname là Belle de Jour, cái tên lấy cảm hứng từ một bộ phim của Luis Bunuel. Trong bộ phim đó, một bà nội trợ người Pháp chán nản với cuộc sống của mình đã đi làm gái để khám phá ra những thú vui trong đời sống tình ái.


Magnanti trong một lần tham gia hoạt động từ thiện chống lại bệnh ung thư vú
Với giọng kể hài hước, blog của Belle de Jour đã hút một số lượng lớn khách. Nhiều người tin rằng Belle là một người đàn ông. Mọi người đều nghĩ đó là Toby Young, một tác giả nổi tiếng. Bên cạnh đó, những đối tượng tình nghi còn bao gồm Lisa Hilton, một phóng viên và Rowan Pelling, một cựu biên tập viên nổi tiếng.
Magnanti nói cô cảm thấy hạnh phúc khi được bước ra khỏi bức màn bí mật. Cô không còn phải nói dối để che đậy mọi chuyện với những người mình yêu quý.Magnanti kết thúc bài viết bằng câu nói: “Tôi là một phụ nữ. Tôi sống ở Luân Đôn và tôi là gái gọi”.
Kiharu Nakamura – Geisha nổi tiếng nhất xứ sở anh đào


Kiharu Nakamura - geisha nổi tiếng
Kiharu Nakamura sinh ra trong một gia đình giàu có tại quận Ginza vào năm 1913. Bà là cô con gái yêu của một bác sĩ. Gia đình của Kiharu là một gia đình gia giáo và họ mong muốn cô con gái họ sẽ theo bước những người trong gia đình và kết hôn với một đối tượng phù hợp.
Nhưng trái với mong muốn của họ, Kiharu đã bị cuốn hút bởi cuộc sống của các geisha và cô quyết định mình sẽ trở thành một geisha. Gia đình Kiharu đã rất sốc và giận dữ trước quyết định này song Kazuko (tên thật của cô) vẫn cương quyết đi theo con đường mình đã chọn. Cô theo học lớp nghệ thuật ca múa Nhật Bản hiện đại, cắm hoa truyền thống và trà đạo.


Kiharu đã bị cuốn hút bởi cuộc sống của các geisha...
Kazuko cũng ở tại một shikomi, ngôi nhà của các geisha tại vùng Shimbashi. Ở độ tuổi 15 cô đã tập luyện rất chăm chỉ và nghiêm khắc để có thể trở thành hangyoky, bước đầu tiên trên con đường trở thành geisha. Kazuko được đặt nghệ danh là Kiharu. Song cô là một geisha rất khác biệt. Kiharu đã theo học tiếng Anh tại trường Anh ngữ. Đây là một điều rất lạ lùng vào thời điểm bấy giờ.
Kiharu đã trải qua những cuộc kiểm tra cuối cùng một cách dễ dàng. Sau đó, cô buộc phải qua lễ mizu –age (một buổi lễ mà ở đó người trả giá cao nhất có thể lấy được trinh tiết của geisha) và trở thành một geisha thực thủ.
Kiharu thường được mời tới các buổi biểu diễn nhạc cụ truyền thống. Bên cạnh đó, cô còn nổi tiếng trong giới geisha bởi cô là geisha duy nhất thời bấy giờ có thể nói được tiếng Anh. Vì vậy, Kiharu thường nhận được lời mời tiếp các vị khách nước ngoài quan trọng. Trong số đó có cả các nhà ngoại giao, người đứng đầu chính phủ hay những nhân vật kiệt xuất trong các lĩnh vực khác.

...và cô quyết định sẽ trở thành một geisha
Nghệ sĩ lừng danh của Pháp Jean Cocteau, vua hài Charlie Chaplin và ngôi sao bóng chày Mỹ Babe Ruth là những người nước ngoài nổi tiếng đã từng thưởng thức tài nghệ múa hát của Kiharu trong những chuyến viếng thăm nước Nhật . Bà cũng chính là nguồn cảm hứng để Cocteau viết nên bài thơ Geisha.
Kiharu đã kết hôn với nhà ngoại giao Kazuo Ota. Sau đó họ đến Calcutta trước Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Ở đó, họ tiếp xúc với nhà lãnh đạo người Ấn Độ Chandra Bose, người dẫn đầu cuộc chiến giành độc lập cho đất nước của sông Hằng. Là một geisha nổi tiếng về sự khéo léo và thận trong của mình, Kiharu đã trở thành trung gian truyền đi những thông điệp bí mật giữa Chandra Bose và quân đội Nhật Bản.

Kiharu Nakamura đã trở thành cầu nối về văn hóa giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ
Năm 1944, bà quay trở lại Nhật Bản và sinh ra cậu con trai đầu lòng. Sau khi Nhật Bản bị thất bại trong Thế chiến thứ 2, Kiharu bắt đầu làm việc tại nhà dành cho các geisha ở Yukimura tại Shimbashi. Bà vẫn nổi tiếng với biệt danh “geisha duy nhất nói được tiếng Anh”.
Kiharu bắt đầu dạy tiếng Anh cho các geisha khác để họ có thể nói chuyện với các vị khách người Mỹ. Khả năng nói tiếng Anh lưu loát của Kiharu đã giúp bà giải thích nghĩa của các bài hát truyền thống mà bà thể hiện.

Bà nổi tiếng với biệt danh “geisha duy nhất nói được tiếng Anh”
Năm 1956, Kiharu chuyển đến New York. Tại thành phố “quả táo vàng”, bà bắt đầu dạy samisen và các vũ điệu truyền thống của Nhật Bản. Ngôi nhà của bà đã trở thành nơi đến của rất nhiều người yêu thích văn hóa Nhật Bản.
Kiharu đã viết 10 quyển sách kể về những kinh nghiệm bản thân. Trong số đó nổi tiếng nhất là “Hồi ức của một geisha sinh ra tại Tokyo”. Cuốn sách của bà trở nên nổi tiếng và được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới.
Kiharu cũng là chuyên gia tư vấn về hình ảnh và trang phục cho các diễn viên trong Madame Butterfly tại Nhà hát opera Metropolotan và trong các bộ phim khác. Bà đồng thời trở thành diễn giả về văn hóa và thường xuyên nhận được lời mời từ các trường Đại học danh tiếng như Đại học Columbia, Princeton hay Học viện kỹ thuật Massachusett. Kiharu đã thực sự trở thành cầu nối về văn hóa và tinh thần giữa hai quốc gia đã từng là kẻ thù của nhau.
Vũ nữ huyền thoại bị xử bắn vì tội gián điệp
Mata Hari vũ nữ huyền thoại với những vũ điệu phương Đông quyến rũ
Mata Hari tên thật là Gertrud Margarete Zelle. Cô là một vũ nữ kiếm gái mại dâm cao cấp người Hà Lan. Cô bị chính phủ Pháp tử hình vì tội làm gián điệp vào ngày 15 tháng 11 năm 1917.Margarit sinh ngày 7/8/1876 trong một gia đình buôn bán mũ phát đạt ở thị trấn Leeuwarden, miền Bắc Hà Lan. Nhờ có nước da bánh mật, cặp môi dày và đôi mắt to đen láy nên Margarit trông giống như một thiếu nữ phương Đông.


Cô là một vũ nữ kiếm gái mại dâm cao cấp người Hà Lan
Năm 19 tuổi, Margarit kết hôn với Campbell MacLeod, một sĩ quan quân đội rồi cùng chồng rời Hà Lan sang đảo Java và Sumatra ở Indonesia. Nhưng cuộc hôn nhân này không mấy tốt đẹp và dẫn tới sự ly dị sau khi hai người trở về Amsterdam năm 1902.
Không tiền bạc, không gia đình, không nghề nghiệp nhưng với nhan sắc trời cho và với nguồn nghị lực phi thường, người phụ nữ 26 tuổi ấy tìm đến kinh đô hoa lệ Paris vào năm 1903.

Năm 19 tuổi, Margarit kết hôn với Campbell MacLeod
Chính ở đây, bằng việc trình diễn những vũ điệu phương Đông mà cô đã học được khi còn ở Java kết hợp với màn thoát y vũ, Margarit với tên gọi mới là Mata Hari (theo tiếng Mã Lai có nghĩa là ánh mắt ban mai) đã nhanh chóng nổi tiếng như một vũ nữ huyền thoại của phương Đông và đã chinh phục được đông đảo giới mày râu háo ngọt thuộc tầng lớp quý tộc ở Paris.
Tiền bạc chảy vào túi nàng như nước, Mata trở thành một nữ có cát-xê cao nhất Paris và châu Âu thời bấy giờ. Cô sống trong những căn phòng lộng lẫy nhất, có xung quanh mình những người hâm mộ giàu sang nhất, trong số đó có vua Sôcôla Meni.

Mata trở thành một vũ nữ có cát-xê cao nhất Paris và châu Âu thời bấy giờ
Trong vòng gần 10 năm, cái tên Mata Hari thường xuyên xuất hiện trên báo chí với những lời tâng bốc đến tận mây xanh, thậm chí Mata còn được đặt cao hơn Aisedora Duncan, một vũ nữ Hoa Kỳ nổi tiếng, người tình của nhà thơ Esenin.
Nhưng rồi những vũ điệu huyền bí phương Đông với những động tác gợi tình lộ liễu của Mata Hari cũng trở nên nhàm chán đối với khán giả chuộng lạ Paris. Mặc dù vẫn mở rộng vòng tay đón những bậc tu mi nam tử đến với mình như những người tình một đêm song tiền bạc của cô vẫn cạn dần theo năm tháng.

Với sắc đẹp của mình, Mata Hari đã trở thành người tình trong mộng của rất nhiều người
Và khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra vào năm 1914, Mata Hari rời Paris để đến lưu diễn ở Berlin và chính sự kiện này đã làm đảo lộn cuộc đời nàng.
Mặc dù chưa có những bằng chứng rõ ràng về hoạt động gián điệp của Mata Hari song người ta cho rằng Mata đã nhận tiền của một sĩ quan Đức để lấy thông tin về Pháp trong chuyến đi tới kinh đô ánh sáng của Mata từ The Hague. Mati cũng tuyên bố rằng cô đã được trả tiền để làm điệp viên cho Pháp tại Bỉ. Có vẻ như Mati là điệp viên hai mang cho cả hai nước.

Mata đã bị chính phủ Pháp xử bắn vào năm 1917
Sau đó, nước Anh đã biết về sự thỏa thuận giữa Mata Hari và sĩ quan người Đức. Họ đã chuyển thông tin này cho nước Đức.
Mata bị bắt giữ tại Pháp vào ngày 13 tháng 2 năm 1914. Sau đó được đưa ra tòa án quân sự vào ngày 24 và 25 tháng 7 năm 1917. Cô bị kết án tử hình vì tội làm gián điệp. Mata bị xử bắn vào ngày 15 tháng 11 năm 1917 tại Vincennes, gần Pari ở độ tuổi 41.
Mata bị xử bắn vào ngày 15 tháng 11 năm 1917 tại Vincennes, gần Pari ở độ tuổi 41
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng người Pháp đã phạm phải một sai lầm đáng tiếc. Thay vì bắt giữ một nữ điệp viên lợi hại, họ đã bắt nhầm cô gái điếm thượng lưu xinh đẹp song hám danh lợi, thích những trò phiêu lưu mạo hiểm và đắm chìm trong những cuộc tình một đêm bất tận.
Aspasia - tri kỷ của nhà lãnh đạo Hy Lạp nổi tiếng

Họ đã sống cùng nhau trong 20 năm và tạo dựng nên “thời kỳ vàng của Hy Lạp” với một nền văn hóa rực rỡ vẫn ảnh hưởng đến chúng ta ngày nay.
Aspasia là một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất của Hy Lạp cổ đại. Bà là người bạn đồng hành của Pericles, nhà lãnh đạo của Athens dân chủ. Aspasia là một kỹ nữ chính vì vậy Perciles không được phép kết hôn với bà nhưng trên thực tế bà là người phụ nữ được ông yêu mến và trân trọng nhất.

Aspasia có lẽ là một hetaira. Hetaira có nghĩa là gái lầu xanh. Nhưng hơn thế nữa, họ cũng là những người phụ nữ có giáo dục tốt hơn bất cứ những người phụ nữ khác trong xã hội Hy Lạp. Họ thông thạo về lịch sử, triết học, chính trị, khoa học, nghệ thuật, văn học và có thể đàm đạo cùng với những người đàn ông thông thái. Trong lịch sử, Aspasia là một trong những hetaira thông minh và đẹp nhất của thành Athens.
Aspasia là một trong những người phụ nữ nổi tiếng nhất của Hy Lạp cổ đại
Aspasia được sinh ra tại Miletus. Bà có lẽ là con gái của một gia đình giàu có bởi Aspasia có một nền học vấn hoàn hảo. Vào những năm 440, gia đình bà chuyển đến Athens. Tại đây, họ trở thành những người ngụ cư hay còn gọi là metic.
Những người này phải trả tiền thuế cao hơn và không nhận được quyền lợi chính trị như những người khác. Một người đàn ông Athens không thể lấy một cô gái metic, con cái của họ cũng không có được quyền lợi như những đứa trẻ khác. Lẽ dĩ nhiên, những mối quan hệ này được coi là bất chính vào thời điểm bây giờ.
Aspasia gặp người đàn ông quyền lực nhất của Athens trong buổi tiệc rượu. Vào thời điểm bấy giờ, chỉ có đàn ông là được quyền tham gia những bữa tiệc kiểu này còn các bà vợ phải ở nhà. Những người phụ nữ có mặt trong các buổi tiệc rượu là hetaira.Khi Pericles gặp Aspasia, ngay lập tức họ đã phải lòng nhau. Perciles đã ly dị vợ để có thể sống với Aspasia nhưng luật pháp của thành phố đã ngăn cản đám cưới này.Pericles đối xử với Aspasia như một người bạn thân thiết và là một người chồng tuyệt vời. Đây là một điều lạ lùng trong xã hội lúc bấy giờ. Pericles thường xuyên bị chỉ trích về mối quan hệ với Aspasia nhưng ông không quan tâm đến điều đó. Pericles vẫn thường xuyên trao đổi với Aspasia về các vấn đề chính trị.

Vào thời điểm bấy giờ, phụ nữ là một phần trong cuộc sống của Athens. Các hetaira cũng là một phần trong đó nhưng chỗ của họ là ở phòng ngủ, phòng khách chứ không phải là trên chính trường.

Tình yêu mà Pericles dành cho Aspasia đã khiến cho ông phải đối mặt với những lời chế giễu và dè bỉu từ những người xung quanh. Nhưng không vì thế mà Pericles chịu đầu hàng. Họ đã có một người con trai với nhau nhưng đáng buồn thay Pericles, con trai của họ cũng không được công nhận là công dân của thành Athens.

Aspasia gặp người đàn ông quyền lực nhất của Athens trong buổi tiệc rượu
Những tin đồn của thành Athens luôn luôn chứa đựng sự thù địch và hằn học. Dĩ nhiên, Pericles và Aspasia luôn trở thành chủ đề nổi bật. Nhiều người cảm thấy rằng Aspasia đã gây ảnh hưởng quá lớn đến Pericles. Một số chỉ trích rằng Aspasia đã thuyết phục Pericles gây chiến tranh với Samos để bảo vệ quê hương Miletus.
Nhưng những tin đồn ác ý đó không làm tổn hại đến tình cảm giữa Aspasia và Pericles . Sự ủng hộ của Aspasia đã giúp Pericles xây dựng lên đền Parthenon nổi tiếng. Họ đã sống cùng nhau trong 20 năm và tạo dựng nên “thời kỳ vàng của Hy Lạp” với một nền văn hóa rực rỡ vẫn ảnh hưởng đến chúng ta ngày nay. Phryne – Cô gái hồng lâu thành Athens, nguồn cảm hứng bất tận cho các nghệ sĩ

Bên cạnh đó, nó cũng giúp cho cô tránh được những bản án nghiêm khắc mà đáng nhẽ Phryne phải nhận vì báng bổ thần thánh.
Phryne tên thật là Mnesarete (trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là Đức hạnh) nhưng do nước da hơi vàng của mình, Mnesarete được gọi là Phryne (có nghĩa Cóc), một cái tên đã được đặt cho những kỹ nữ khác. Phryne sinh ra tại Thespiae, Boeotia nhưng cô đã dành cả cuộc đời của mình để sống tại thành Athens. Phryne là một cô gái lầu xanh có sắc đẹp “nghiêng nước nghiêng thành”.

Vẻ đẹp của Phryne đã được tạc tượng
Vẻ đẹp đó đã mang lại cho cô cuộc sống giàu sang và sung túc đến nỗi cô muốn xây dựng lại những bức tường Thebes. Những bức tường Thebes đã bị Alexander Đại đế phá hủy trước đó.
Tuy nhiên, lời đề nghị của cô đã bị thành Athens từ chối bởi Phryne thể hiện mong muốn được khắc những dòng chữ “Bị phá hủy bởi Alexander Đại đế và được sửa chữa lại bởi Phryne, một kỹ nữ” trên những bức tưởng này.

Phryne trong lễ hội ca ngợi thần biển
Phryne là một cô gái lầu xanh có vẻ đẹp chim sa cá lặn. Trong dịp lễ hội ca ngợi thần biển Poseidon tại Eleusis, cô đã cởi bỏ bộ đồ tuyệt đẹp của mình, thả tóc và bước xuống biển trước ánh nhìn của tất cả mọi người.
Hình ảnh tuyệt mỹ của Phryne lúc đó đã khiến cho họa sĩ Apelles sáng tạo nên tác phẩm để đời của mình Aphrodite Anadyomene (hay còn có tên gọi là Venus Anadyomene). Một số tác phẩm nghệ thuật trong giai đoạn này bị cáo buộc là dựa theo mô phỏng về Phryne.
Phryne cũng là nguồn cảm hứng sáng tác của các nghệ sĩ trong giai đoạn sau này như Jean – Léon Géronme với tác phẩm Pryne trước Areopagus. Theo một số người, Phryne cũng là nguyên mẫu cho bức tượng Aphrodite của Knidos do Praxiteles sáng tạo nên.
Trong văn học, Charles Baudelaire và Rainer Maria Rilke tiết lộ rằng chính nàng kỹ nữ của thành Athens đã là nàng thơ để họ có thể sáng tác ra những bài thơ nổi tiếng như Lesbos và La beauté hay Die Flamingos.


Vẻ đẹp nghiêng nước nghiêng thành của cô đã truyền cảm hứng cho rất nhiều nghệ sĩ
Ngoài ra, Dimitris Varos, một nhà văn của Hy Lạp ở thời hiện đại và Witold Jablonski, một nhà văn giả tưởng người Ba Lan đã viết nên những cuốn sách hấp dẫn về cuộc đời của Phryne.
Sắc đẹp và sự nổi tiếng của Phryne cũng được ca tụng trong âm nhạc như trong bản Phryne của Camille Saint – Saens hay thậm chí trong chương trình những nền văn minh cổ của kênh Discovery.

Sắc đẹp và sự nổi tiếng của Phryne cũng được ca tụng trong âm nhạc
Khi bị cáo buộc về việc đã báng bổ những bí mật của Eleusinian, Phryne đã được nhà hùng biện Hypereides, một trong những người yêu của cô, bảo vệ nhiệt tình.
Khi nhận thấy buổi xử án diễn ra không thuận lợi cho mình, Hypereides đã yêu cầu Phryne để lộ bộ ngực trần của mình nhằm mục đích thu hút sự chú ý của các vị thẩm phán.

Phryne trút bỏ xiêm y trong buổi xử án
Một số người cho rằng, chính Phryne đã trút bỏ xiêm y của mình và thái độ của các vị thẩm phán nghiêm khắc đã dịu lại. Sự thay đổi đó không đơn giản là bởi họ đã bị sắc đẹp của Phryne quyến rũ mà bởi vào thời điểm lúc bấy giờ, vẻ đẹp của hình thể thường được coi là dấu ấn của sự trong sáng hay của một thiên thần.
Có thể nói chính sắc đẹp của Phryne, một cô gái hồng lâu đã truyền cảm hứng cho các nghệ sĩ trên khắp thế giới để họ có thể sáng tạo nên những tác phẩm để đời. Bên cạnh đó, nó cũng giúp cho cô tránh được những bản án nghiêm khắc mà đáng nhẽ Phryne phải nhận vì báng bổ thần thánh và giúp cô có được một cuộc sống giàu sang, phú quý mà ít người phụ nữ ở thành Athens bấy giờ nhận được.
Việc kiểm tra cơ thể các mỹ nữ bao gồm những gì? Câu trả lời là toàn bộ. Việc kiểm tra này được thực hiện cực kỳ cẩn thận, tỉ mỉ và nghiêm ngặt.

Những người phụ nữ có thể vào được hậu cung của Hoàng đế rồi làm phi tần không nhiều. Trong các cuộc tuyển mỹ nữ được thực hiện trên khắp cả nước, những người được lựa chọn đều là những người đã trải qua những đợt kiểm tra cực kỳ nghiêm ngặt. Một hội đồng cấp hoàng gia được thành lập để tiến hành tìm hiểu, kiểm tra những cô gái này một cách toàn diện từ độ tuổi, sinh lý tới tâm lý....

1. Trong quá trình kiểm tra này, mỗi một bước đều được làm rất cẩn thận và tỉ mỉ. Tiêu chuẩn nói chung là dung mạo xinh đẹp, vóc dáng cao ráo, không được phép có bất cứ khuyết điểm nào về sinh lý. Chẳng hạn như chỉ cần một nốt ruồi nhỏ trên má thì cô gái đó coi như vĩnh viễn bị loại khỏi giấc mơ hoàng cung xa xỉ. Về độ tuổi thì đối tượng được lựa chọn tuyển vào cung là những cô gái trẻ tuổi dưới 20. Tuy nhiên, tùy từng mục đích, nhu cầu cũng như quy chế của các triều đại mà quy định về độ tuổi cũng có khác nhau.

Chẳng hạn triều nhà Hán khi tuyển mỹ nữ đều yêu cầu phải là những cô gái tuổi trên 13 và dưới 20. Đến thời Tam Quốc, vua nước Ngô là Tôn Hạo ra quy định, các mỹ nữ được chọn đưa vào cung tuổi nhất thiết phải là 15, không hơn không kém. Đến thời nhà Bắc Tề thời Nam Bắc Triều, yêu cầu các mỹ nữ phải có độ tuổi từ 14 trở lên, 20 trở xuống. Đến thời Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương, độ tuổi được nâng lên một chút, từ 15 trở lên và 20 tuổi trở xuống.

Đàn ông Trung Quốc có tâm lý thích các cô gái còn trinh tiết, người Trung Quốc gọi đùa là tâm lý “trâu già thích ăn cỏ non”. Theo quy luật sinh lý thông thường, 13 tuổi là độ tuổi các cô gái dậy thì, cũng là độ tuổi đẹp nhất. Chính vì vậy, người Trung Quốc thời xưa mới cho rằng, đây là độ tuổi thích hợp nhất để lựa chọn các mỹ nữ cho hoàng đế.Tuy nhiên, cũng có trường hợp các hoàng đế giới hạn tuổi của các mỹ nữ được đưa vào cung xuống chỉ còn 11 tuổi. Đó là chuyện xảy ra vào đời vua Minh Thế Tông Chu Hậu Thông. Mặc dù Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương khi lên ngôi đã xác lập quy chế tuyển mỹ nữ tuổi phải từ 15 trở lên nhưng vốn là một hoàng đế biến thái nổi tiếng trong lịch sử triều Minh, những quy chế của tổ tông nào có thể trở thành hòn đá ngáng đường với ông ta được.Theo ghi chép của “Minh Hội Yếu”, một bộ sách 80 quyển ghi chép về điển chương nhà Minh thì Hoàng đế Chu Hậu Thông từ khi lên ngôi cho tới khi từ giã cõi trần thực hiện rất nhiều lần tổ chức các đợt tuyển mỹ nữ.
Các cô gái xinh đẹp trên khắp cả nước có độ tuổi từ 11 đến 16 đều phải tham gia các đợt tuyển này. Vì sao Chu Hậu Thông lại bất chấp quy chế của tổ tiên mình để tuyển chọn những thiếu nữ còn quá trẻ như vậy vào cung phục vụ? Nhiều người nói rằng, nguyên nhân là do Chu Hậu Thông tin vào các loại “xuân dược” và thuốc trường sinh bất lão của bọn đạo sĩ. Theo lời bọn đạo sỹ này thì kinh nguyệt lần đầu tiên của các cô gái có thể dùng làm nguyên liệu để luyện thuốc tráng dương. Vì vậy Chu Hậu Thông đã cho tuyển những cô gái có độ tuổi trước khi phát dục vào cung để các đạo sỹ có thể có một nguồn nguyên liệu luyện đan dồi dào. Nhiều cô gái chưa tới tuổi dậy thì còn bị bọn đạo sĩ hạ lệnh dùng thuật thúc kinh để có nguyên liệu làm thuốc.2. Từ trường hợp biến thái và bệnh hoạn của Chu Hậu Thông, có thể thấy những tiêu chuẩn, quy định trong việc tuyển chọn mỹ nữ thực tế chỉ là mang tính tương đối. Trong những trường hợp cụ thể, độ tuổi không phải là thứ cần phải tính đến. Chỉ cần có nhan sắc và lọt vào mắt xanh của hoàng đế thì đến gái góa cũng có thể vào cung. Xem như vậy thì độ tuổi là điều kiện cơ bản tuy nhiên không phải là điều kiện quan trọng nhất.

Trong các tiêu chuẩn tuyển mỹ nữ của hậu cung Trung Quốc thời cổ đại thì dung mạo và nhân phẩm mới là hai thước đo quan trọng nhất. Trong đó, dung mạo là chỉ những điều kiện về sinh lý, còn nhân phẩm là điều kiện mang cách nhìn chủ quan. Trong những tình huống thông thường, điều kiện được các hoàng đế Trung Quốc quan tâm nhất chính là điều kiện về mặt sinh lý.

Các mỹ nữ được tuyển đưa vào hậu cung của hoàng đế có cần kiểm tra cơ thể hay không? Câu trả lời đương nhiên là có. Sách “Hậu Hán Thư – Hoàng hậu kỷ”, quyển số 10 có chép về việc Đông Hán Quang Vũ Đế là Lưu Tú phái đại thần giúp mình lựa chọn mỹ nữ bổ sung vào hậu cung. Trong quá trình này, một trong những công đoạn không thể thiếu chính là kiểm tra thân thể. Theo ghi chép trong sách này thì phàm là gái có nhan sắc đều là đối tượng tham gia tuyển chọn. Sau khi đã lọc xong đối tượng, người ta dùng xe chở toàn bộ về hậu cung để tiến hành kiểm tra và chọn lựa.

Lần tuyển chọn này chủ yếu dựa trên dung mạo. Sau đó lại tiếp tục chọn lọc một lần nữa. Mục tiêu là kiểm tra về mặt sinh lý, thực tế là xem các cô gái có còn là trinh nữ hay không, về mặt sinh lý có bị khuyết tật nào không. Sau nhiều lần chọn lọc như vậy, người ta mới tìm và chọn ra cô gái có dung mạo xinh đẹp nhất để dâng cho hoàng đế “sủng hạnh”.

Việc kiểm tra cơ thể các mỹ nữ bao gồm kiểm tra những gì? Câu trả lời là toàn bộ. Tuy nhiên, theo những gì sử sách còn ghi chép lại thì có thể khẳng định rằng, việc kiểm tra cơ thể các mỹ nữ được thực hiện cực kỳ cẩn thận tỉ mỉ và nghiêm ngặt. Người được lựa chọn phải là một mỹ nữ thực sự hoàn mỹ, không hề có tỳ vết, chỉ một vết bớt nhỏ ở ngực hay một nốt ruồi thậm chí ở cánh tay cũng ngay lập tức bị loại.

Với những cuộc kiểm tra “sát sao” như vậy đương nhiên người thực hiện phải là thái giám. Và còn để chắc chắn rằng, hoàng đế là người đàn ông đầu tiên sở hữu cơ thể các mỹ nữ, các thái giám thực hiện việc kiểm tra này đều là các nữ thái giám, tức các nữ quan trong hậu cung.

“Hán tạp sự bí tân” là một cuốn sách viết khá đầy đủ về chuyện bí sử trong hậu cung nhà Hán. Trong cuốn sách này có đoạn ghi chép về “kết quả” kiểm tra cơ thể của hoàng hậu Lương Doanh, vợ Hán Hoàn Đế Lưu Chí khi lần đầu tiên được tuyển vào cung. Sách chép rằng, Lưu Chí nghe mọi người nói rằng con gái của đại tướng quân Lương Thương là Lương Doanh dung mạo vô cùng xinh đẹp, phẩm hạnh cũng tốt, hiền thục nết na, vì vậy muốn lấy Lương Doanh, phong làm hoàng hậu. Lưu Chí phái một nữ quan trong hậu cung của mình tên là Ngô Hử tới phủ họ Lương để tìm hiểu tình hình, quan sát dung mạo và dáng đi của Lương Doanh. Sau đó, Lưu Chí muốn kiểm tra toàn diện cơ thể Lương Doanh trước khi quyết định. Ban đầu, Lương Doanh không đồng ý, cho rằng đó là chuyện sỉ nhục đối với con gái nhà danh giá như cô. Mãi tới khi Ngô Hử lấy thánh chỉ của Lưu Chí ra, Lương Doanh mới đành phải miễn cưỡng chấp nhận.

Ngô Hử theo tiểu thư họ Lương tới phòng ngủ của cô. Khi cửa phòng được đóng lại, Ngô Hử cởi bỏ toàn bộ quần áo trên người Lương Doanh, bắt đầu kiểm tra. Theo ghi chép của “Hán tạp sự bí tân”, đầu tiên họ Ngô bắt Lương Doanh đi vài vòng xunh quanh phòng để quan sát dáng đi.

Tiếp đó lại bắt Lương Doanh dùng tay giữ mái tóc lên cao để lộ cổ và tai. Lúc đó, Ngô Hử mới lại gần sờ nắn, quan sát khắp toàn thân Lương Doanh để khẳng định Lương Doanh vẫn còn là trinh nữ. Cuối cùng, Ngô Hử bắt Lương Doanh hô to nhiều lần câu: “Hoàng đế vạn tuế!” để kiểm tra giọng nói. Lương Doanh khi đó tuổi còn rất nhỏ, lần đầu tiên bị người khác bắt cởi bỏ hết quần áo rồi sờ nắn khắp người nên cảm thấy xấu hổ vô cùng, liên tục lấy tay che hết chỗ này chỗ khác, bị Ngô Hử trách mắng nhiều lần.

Thực tế thì việc tổ chức các cuộc tuyển chọn mỹ nữ vào hậu cung của các Hoàng đế diễn ra trên khắp thế giới theo nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, có lẽ chỉ có ở Trung Quốc với một nền thống trị của các triều đại phong kiến kéo dài hàng ngàn năm thì việc tuyển lựa mỹ nữ cho Hoàng đế mới hình thành những tiêu chuẩn, quy chế và quy trình một cách đầy đủ và chi tiết đến như vậy.

Dù đã được triệu vào cung làm phi tần, không ít lần kỹ nữ lừng danh Lý Tích Nhi đôi co cãi lý với hoàng thượng. Bản tính "thẳng như ruột ngựa" khiến nàng bị đuổi khỏi hoàng cung.
Minh Đại tông sau đó bị giáng xuống làm vương, tới năm 1457 thì qua đời vì uất ức.

Lý Tích Nhi vốn là mỹ nhân được Minh Đại tông, thụy hiệu là Cảnh đế, hết mực sủng ái. Nàng không chỉ nổi tiếng khắp thiên hạ bởi sắc đẹp mặn mòi mà còn bởi cá tính mạnh mẽ và nóng nảy của mình.

Theo ghi chép của “Quốc sử duy nghi”, Minh Đại tông (1428 – 1457) là vị hoàng đế thứ 7 của nhà Minh, lên ngôi thay cho anh trai là Minh Anh tông vốn đang bị người Mông Cổ bắt giam. Sau khi người con trai duy nhất qua đời, ông ráo riết tuyển thêm mỹ nữ để sinh con nối dõi, khiến nàng kỹ nữ lừng danh thời đó là Lý Tích Nhi cũng được triệu vào cung.

Tạo hình Minh Đại tông của diễn viên Cao Hổ trong phim "Đại Minh vương triều kinh biến lục".

Được phong làm phi, Lý Tích Nhi vẫn không từ bỏ bản tính nóng nảy, thẳng thắn của mình. Khác với lối hành xử nhu mì, nhất nhất phục tùng của các phi tần trong cung, Lý Tích Nhi thường lên tiếng bảo vệ chính kiến của mình. Thậm chí cả hoàng thượng, người hết mực yêu thương, sủng ái nàng, cũng không thể khiến Lý Tích Nhi trở nên mềm tính.

Nhiều lần, vì phiền lòng với cách hành xử của Cảnh đế, nàng đã không ngần ngại “khẩu chiến”. Những lời lẽ đanh thép cùng bản tính nóng nảy của Lý Tích Nhi khiến nàng dần bị thất sủng và cuối cùng bị đuổi khỏi hoàng cung. Tuy nhiên, người thời đó vẫn luôn ca tụng tính cách khẳng khái, không màng danh lợi của mỹ nữ này. Với phận gái liễu yếu đào tơ trong xã hội phong kiến xưa, để được hưởng vinh hoa phú quý, phần đông sau khi được tiến cung, các nàng đều dốc lòng, tận tâm phục tùng hoàng đế. Nhưng Lý Tích Nhi lại hoàn toàn ngược lại, dám nói những điều mình cho là phải dù nghịch tai đấng quân vương. Tuy là phận gái lầu xanh, nhưng với bản tính thẳng thắn và sự táo bạo của mình, nàng cả gan làm bẽ mặt hoàng thượng, làm khuynh đảo những phép tắc tôn nghiêm chốn hoàng cung, khiến thiên hạ phải giật mình thán phục.

Sau khi Lý Tích Nhi rời đi, Cảnh Đế lại đem lòng yêu thương Đường phi, nuôi ước nguyện có con nối dõi. Nhưng “mưu sự tại nhân, hành sự tại thiên”, trời không thuận lòng người, không ưu ái cho Minh Đại tông thêm một mụn con trai.

Tới năm 1456, hoàng hậu Hàng thị lâm trọng bệnh qua đời, tâm trạng Cảnh đế lại thêm phần hoang mang, phiền muộn. Số phận vị vua kém phúc này càng trở nên thê thảm khi người anh là Minh Anh tông được Mông Cổ trả về, cùng với một số quan quân lật đổ ngôi vị của ông ta. Chuyện tăng đạo nuôi kỹ nữ, ni cô làm thê thiếp được thiên hạ ví von là những “quái sự” khiến xã hội Trung Quốc thời Tống thêm phần rối ren.

Đông Kinh (Khai Phong ngày nay) – kinh đô của Bắc Tống, và Lâm An (Hàng Châu ngày nay) – kinh đô của Nam Tống, vốn là những chốn phồn hoa, nơi hưởng lạc của các tầng lớp thống trị, thương lái giàu có. Đây còn là hai "kinh đô" của thanh sắc, nơi nghề kỹ nữ phát triển cực thịnh, nở rộ nhất trong lịch sử cổ đại Trung Quốc. Riêng Lâm An còn được đặt biệt danh là “sắc hải” (biển nữ sắc).

Cổ xúy hưởng lạc luôn là nếp sống được các tầng lớp thống trị đề cao. Hoàng đế khai quốc của triều nhà Tống Triệu Khuông Dẫn (thế kỷ thứ 10) từng tuyên bố trước quần thần: “Tích lũy nhiều tiền bạc để hưởng lạc về sau”. Các hoàng đế Tống Nhân tông, Tống Chân tông cũng hết mức đề cao tư tưởng này.

Do vậy, chuyện nuôi kỹ nữ trong nhà trở thành “mốt thời thượng”, được phổ biến rộng rãi trong các gia đình quan lại, sỹ phu thời Tống.

Trong “Dã khách tùng thư” thời Nam Tống chép rõ: “Kim quý công tử đa sức cơ anh”, ý chỉ các gia đình giàu có, quyền quý thời bấy giờ thường nuôi dưỡng ca kỹ trong nhà hoặc cưới nhiều thê thiếp để dùng vào việc đàn ca, hát múa, tiếp rượu, mua vui cho chủ nhân lẫn khách khứa tới nhà.

Các kỹ nữ thời Tống được tuyển chọn, nuôi nấng trong nhà để mua vui cho chủ nhân và quan khách. Ảnh minh họa.

Theo sử sách, thời bấy giờ, Âu Dương Tu - một chính trị gia, nhà thơ lớn đời Tống - có nàng ca kỹ nổi tiếng Bát Cửu muội, Tô Đông Pha, cũng là một nhà thơ lớn tham gia chính trường, có nhiều ca kỹ đàn hát tài tình... Tóm lại là những người phong lưu đều nuôi ca kỹ.

Điều kỳ quái là các tăng nhân, đạo sĩ thời Tống cũng không chịu sống cảnh cô quạnh, ẩn dật, mà lũ lượt nuôi ca kỹ hoặc cưới thêm thê thiếp về nhà. Theo “Thanh dị lục”, các tăng nhân của chùa Đại Tướng nuôi dưỡng kỹ nữ và gọi họ là các “phạn tẩu”. Tới thời Tống Huy tông, nhiều đạo sĩ cưới thêm thê thiếp để sống cảnh hoan lạc.

Chuyện ni cô làm thiếp trong thời Tống cũng khiến thiên hạ nhiều phen “giật mình”. Theo ghi chép trong “Tống sử”, năm 1196, một vị quan tên là Chu Hi vướng vào “thập đại tội trạng” (10 tội trạng lớn nhất), trong đó có tội “dụ dỗ hai ni cô và cưới làm ái thiếp. Chu Hi là học trò bốn đời của Trình Di và học trò của Chu Đôn Di. Trong suốt quãng đời 15 năm làm quan, Chu Hi dụng công học tập, rèn luyện trí thuật. Vì vậy tính thực hư của câu chuyện này hiện vẫn còn gây tranh cãi tới tận ngày nay.

Các ghi chép cổ đại và tiểu thuyết đã đề cập rất nhiều đến cách tính tiền trả cho các cô gái chốn lầu xanh. Trong vở kinh kịch “Ngọc đường xuân”, nàng kỹ nữ Tố Tam có cho biết: Vào thời Đường có rất nhiều cách tiêu tiền, từ lúc lập quốc cho đến lúc mất nước, bao gồm thời đại của Đường Thái tông và Đường Huyền tông, những chính sách trao đổi hàng hóa hầu như không được rõ ràng. Đồng tiền được phát hành rất khó tiêu dùng trong dân gian nên người dân thường sử dụng những đồng tiền do chính mình đúc ra hoặc sử dụng đồng tiền của triều đại trước, khiến việc lưu thông rất phức tạp. Vì vậy, người dân dùng hàng hóa để trao đổi lấy hàng hóa.

Đường Huyền tông, Đường Đức tông, Đường Văn tông đều ban hành những sắc lệnh trong đó khuyến khích người dân dùng vải vóc để trao đổi hàng hóa thay cho việc sử dụng đồng tiền. Vì thế, việc khách làng chơi trả phí cho kỹ nữ cũng không phải là ngoại lệ. Nghe kỹ nữ ca hát cũng trả bằng vải, mời kỹ nữ uống rượu cũng trả bằng vải, ở lại qua đêm với kỹ nữ cũng được trả bằng vải. Kỹ nữ nào được nhận nhiều vải tức là người đó có thu nhập cao.

Ở thời nhà Minh, để có thể qua đêm với một kỹ nữ nổi tiếng đất Hàng Châu, khách phải trả 300 lạng bạc. Mỗi lần đón khách là 10 lượng bạc. Thế nên vào thời điểm đó, có thế gặp mặt những kỹ nữ danh tiếng phải là công tử hay những thương nhân giàu có với của cải đầy ắp trong tay. Tương truyền tại Hàng Châu có người làm nghề bán dầu, tiết kiệm một năm trời cũng chỉ được 16 lạng bạc nên không đủ để đi lầu xanh. Tại thành Trường An thời nhà Đường có nàng kỹ nữ nổi tiếng “thu phí” 100 lạng bạc của khách làng chơi nếu họ muốn gặp mặt nàng.

Nhưng không phải tất cả các kỹ nữ đều có thu nhập “khủng” như vậy. Mỗi khi tiếp khách hay đàn hát, mời rượu khách, các kỹ nữ sẽ căn cứ trên thời gian cháy hết một cây nến để thu tiền của khách. Khi nến cháy hết, khách sẽ phải trả cho kỹ nữ chưa đến một lạng bạc, so với thu nhập của những kỹ nữ nổi tiếng thì đúng là một trời một vực.

Nhưng đồng tiền hay vải vóc mà các kỹ nữ kiếm được không phải đều thuộc về họ. Kỹ nữ thường bị bố mẹ bán vào lầu xanh nên họ được coi như một món tài sản của lầu xanh, vì vậy số tiền hay vải vóc của họ cũng sẽ là tài sản của tú bà và họ chỉ được lo cho cái ăn cái mặc, không được nhận bất cứ đồng lương nào. Nhưng quy định này cũng có lỗ hổng, nếu khách làng chơi cho tiền riêng kỹ nữ và các má mì trong lầu xanh không phát hiện ra thì những kỹ nữ này vẫn bí mật giữ lại tiền khách cho làm của cải riêng. Xuất thân là “vật mua vui” cho đàn ông, nàng bỗng trở thành người đàn bà quyền lực nhất trong triều đình Pháp: tình nhân của hoàng đế.

Cũng là một tình nhân được sủng ái của hoàng đế Pháp Louis XV nhưng khác với nữ hầu tước Pompadour, bá tước phu nhân Du Barry không có kết cục tốt đẹp. Bà cũng không có được sự tinh tế, am hiểu như “người tiền nhiệm”; thứ vũ khí mạnh nhất của bà là kỹ nghệ chăn gối.

Cô kỹ nữ mê hoặc các ngài quý tộc

Bà Du Barry có tên thật là Marie-Jeanne Bécu, sinh năm 1743, một cô gái thuộc tầng lớp thấp chuyên phục vụ khách đàn ông ở quán rượu. Có tài liệu cho rằng, mặc dù vậy, cô gái này tuy là người bình dân nhưng không hoàn toàn vô học bởi có cha là một tu sĩ. Hồi nhỏ, Marie-Jeanne được học ở trường dòng dành cho các bé gái.

Theo nhiều tài liệu, chi phí học ở đây rất đắt đỏ, vượt quá khả năng chi trả của gia đình, sở dĩ Marie-Jeanne được học trường này là nhờ sự bảo trợ của một người đàn ông giàu có, tình nhân của mẹ cô. Khi biết mẹ mình có bồ, và chính ông ta chi tiền để dạy dỗ mình thành một thiếu nữ đức hạnh, ngoan đạo, cô gái đã trả mối hận này bằng cách sống nổi loạn: vứt bỏ lời răn giữ mình trinh bạch vẫn được nhồi sọ hằng ngày, cô trao thân cho chính con trai người đàn ông ấy, thường xuyên bỏ học đi chơi cùng cậu ta, bất kể việc bị nhà trường nhắc nhở, trừng phạt.

Cuối cùng, không dạy nổi cô gái bất trị, nhà trường đành đuổi học cô. Không còn cương tỏa, Marie-Jeanne mặc sức sống tự do, phóng túng cùng người tình, cho đến khi bị anh chàng bỏ rơi, một mình bơ vơ giữa kinh thành Paris hoa lệ mà lạnh lùng ở cái tuổi 16.

Chân dung Marie-Jeanne Bécu, tức nữ bá tước Du Barry.

Không còn nơi nương tựa, Marie-Jeanne đành phải vào làm việc trong một quán rượu. Rất nhanh chóng, cô gái tóc vàng có bộ ngực nở nang cực kỳ nổi bật này trở thành điểm thu hút đàn ông mọi giới. Không chỉ đưa đẩy gợi tình, nàng còn sẵn sàng lên giường với họ để “kiếm thêm”, và khiến các quý khách điên đảo với tài chăn gối cực kỳ xuất sắc. Chẳng mấy chốc, ngay cả các quý ông thuộc giới quý tộc cũng trở thành khách của nàng, trong số đó có bá tước Barry, một người đàn ông đầy mưu mô và tham vọng.

Không chỉ mua vui với Marie-Jeanne Bécu, vị bá tước này còn nghĩ ra cách “tận thu” cô gái, dùng nàng làm phương tiện tiến thân của mình. Ông “cử” nàng đến gặp các đối tác quan trọng của mình để “phục vụ” họ trên giường, và chiến thuật này thực sự hiệu quả, đến mức bá tước Barry nghĩ đến việc dùng Marie-Jeanne làm mồi nhử nhân vật quyền lực nhất nước Pháp: đức vua Louis XV. Và ngay trong lần gặp ‘tình cờ” đầu tiên với cô gái có thân hình nở nang, nóng bỏng này, nhà vua đã lập tức mê tít. Và đến khi được thưởng thức kỹ nghệ giường chiếu vô song của nàng, ngài hoàn toàn bị “hạ gục”.

Làm hoàng đế điên đảo

Xuất thân hèn kém của Marie-Jeanne là một cản trở đối với việc biến nàng thành người tình chính thức của đức vua, cho dù ngài có yêu nàng đến mấy. Vì thế, để tỏ “lòng trung”, bá tước Barry đã nghĩ ra một diệu kế: cưới nàng cho em trai ông ta là Du Barry, một người đầu óc đần độn. Thế là cô kỹ nữ Marie-Jeanne một bước thành bá tước phu nhân, đủ danh hiệu để ra vào hoàng cung và tham gia các bữa tiệc của giới quý tộc.

Để các cuộc đi về của đức vua giữa hoàng cung và tư thất nhà Barry không gây chú ý với thiên hạ và cả ông chồng bị cắm sừng, bác tước Barry đã cho đào một đường hầm thông đến tận phòng ngủ của hoàng đế để nữ bá tước có thể đến đó khi ngài “triệu”.

Tuy nhiên, dù giấu giếm thế nào thì chuyện nữ bá tước Du Barry chẳng mấy chốc trở thành bí mật mà ai cũng biết. Người ta thậm chí còn thì thầm với nhau rằng vì quá thán phục tài chăn chiếu rất “nhà nghề” của cô cựu kỹ nữ này mà hoàng đế mắc phải căn bệnh do lao lực quá độ. Thấy chuyện đằng nào cũng đã lộ, bỏ ngoài tai những lời chỉ trích, mỉa mai, Louis XV ra lệnh cho chồng nàng phải ly dị vợ, và công khai đón Marie-Jeanne về ở điện Versailles.

Bà Du Barry là người tình được hoàng đế Louis XV sủng ái nhất trong những năm cuối đời.

Bất chấp xuất thân và học vấn ít ỏi của mình, nữ bá tước Du Barry hòa nhập rất nhanh vào cuộc sống cung đình, tiếp thu hoàn hảo “tinh hoa bề ngoài” của nó để trở thành một quý bà duyên dáng trong chốn giao tế, biết nói chuyện, pha trò một cách phong nhã và quyến rũ, khiến đức vua càng tự hào và say mê. Trong những năm cuối đời, vị vua này chịu ảnh hưởng vô cùng to lớn của bà Du Barry. Thậm chí người ta cho rằng các quyết định tối quan trọng như nước Pháp tham chiến hay không tham chiến, nhà vua có đích thân xuất chinh hay không… đều được đưa ra từ gợi ý của nàng, dù lời khuyên đó khiến nhà vua khi thì được khen ngợi, lúc lại bị dè bỉu.

Còn nữ bá tước xinh đẹp thì mặc sức dùng tiền của đức vua để ăn chơi, mua sắm, sửa sang lâu đài, cung điện.

Người đàn bà quyền lực của nước Pháp

Sự nổi bật không thể chối cãi của nữ bá tước Du Barry giữa các buổi chiêu đãi cùng ảnh hưởng ghê gớm của nàng đối với đức vua khiến giới thượng lưu Pháp nhanh chóng hiểu ra rằng, người đàn bà không thể bị xem nhẹ như xuất thân của nàng. Thái độ của họ lập tức thay đổi: săn đón, bợ đỡ thay vì ghẻ lạnh, khinh thường. Và khi cần cầu xin đức vua một điều gì, họ đều biết rằng kết quả sẽ khả quan nhất nếu đi qua cửa bà Du Barry. Nàng trở thành một thế lực ngầm vô cùng mạnh, người mà các vị công hầu cùng phu nhân của họ đều cố gắng làm thân, lấy lòng.

Quyền lực của nữ bá tước lớn đến nỗi, ngay cả Marie Antoinette, vợ của thái tử, người sau này là hoàng hậu của vua Louis XVI, cũng đã phải chịu rất nhiều ấm ức mà không làm gì được. Marie Antoinette xuất thân là công chúa nước Áo cao quý, còn non nớt, thiếu kinh nghiệm nên đã dại dột tỏ ra khinh bỉ bà Du Barry, và bị nữ bá tước trị cho đến nơi đến chốn để dằn mặt. Chuyện kể rằng, khi mới về làm dâu hoàng gia Pháp, Marie Antoinette không chịu nói chuyện với bà Du Barry, cựu kỹ nữ, nhưng rồi vẫn phải thi lễ với bà do sự ép buộc của đức vua. Điều này khiến nàng cảm thấy nhục nhã cho thân phận công chúa của mình. Mâu thuẫn giữa thái tử phi và người tình của đức vua lớn tới mức Louis XV tuyên bố muốn cắt đứt mối quan hệ hòa hảo giữa Pháp và Áo, nên cuối cùng Marie Antoinette đành chịu nhún. Hoàng hậu tương lai của nước Pháp chịu cảnh bị ghẻ lạnh trong hoàng cung suốt một thời gian dài do ảnh hưởng của bà Du Barry.

Nhưng quyền lực của nữ bá tước đột ngột chấm dứt cùng với cái chết của Louis XV. Trước khi qua đời vì bệnh đậu mùa, ông vua ham sắc dục này đã ra lệnh đưa người tình ra khỏi cung điện, nhiều người cho rằng bà được đưa vào nhà tu kín, có người nói bà trở về vùng đất riêng của mình. Trải qua một số năm, bà có người tình mới là Louis Hercule Timolon de Cossé, công tước xứ Brissac. Mặn nồng một thời gian, bà bị vị công tước này bỏ rơi.

Năm 1792, trong thời gian cách mạng Pháp, bà Du Barry bị bắt với tội danh phản quốc vì giúp đỡ một kẻ thù của cách mạng. Bà bị đưa lên đoạn đầu đài năm 1793 ở tuổi 50.

No comments:

Post a Comment