Thursday, October 6, 2011

Hà Mai Anh

Hà Mai Anh (1905 - 1975), bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn, là một nhà giáo, cùng là tác giả của nhiều sách giáo khoa về văn chương, toán học và dịch giả nhiều cuốn sách phổ biến như Tâm hồn cao thượng(Les grands coeurs), Vô gia đình(Sans Famille), Trong gia đình(En Famille)...Hà Mai Anh quê ở Thái Bình, từng làm hiệu trưởng ở các tỉnh ở Bắc Kỳ. Ông đóng góp nhiều bài vở cho các báo đương thời nhưng sự nghiệp văn học của ông chủ yếu là các tác phẩm mang tính cách giáo dục. Ngay từ năm 1938 cuốn Công dân giáo dục đã được xuất bản tại Nam Định và được chính phủ Bảo hộ chấp thuận dùng làm sách giáo khoa.
Sau đó là nhiều tác phẩm dịch, nổi tiếng nhất là cuốn
Tâm hồn cao thượng (tiếng Ý: Cuore) đoạt giải Văn chương Alexandre de Rhodes 1948, dịch từ tiếng Pháp. Cuốn này nguyên thủy viết bằng tiếng Ý của Edmondo De Amicis và tại Việt Nam được xem như một cuốn "luân lý giáo khoa thư" của thế kỷ 20 và trở thành "kim chỉ nam" của một thế hệ thiếu niên. Các tác phẩm khác do ông dịch lại từ tiếng Pháp: Vô gia đình (Sans Familles), Trong gia đình (En Famille) và Về với gia đình của Hector Malot; Guy-Li-Ve du ký (Gulliver's Travels) của Jonathan Swift; 80 ngày vòng quanh thế giới (Le Tour du monde en quatre-vingts jours) của Jules Verne cũng được nhiều người biết đến.
Sau năm 1954 ông di cư vào Nam làm hiệu trưởng trường Trần Quý Cáp ở Sài Gòn rồi chuyển sang làm việc trong Ban Tu thư và Học liệu thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục của Việt Nam Cộng hòa.
Khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ, ông sang Mỹ tỵ nạn và mất ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino, Hoa Kỳ.
Bạn ông, nhà giáo Bảo Vân Bùi Văn Bảo có làm bài thơ "Khóc Bạn Hà-Mai-Anh" như sau:
Thôi thế là xong nhé bác Hà
Tâm hồn Cao thượng kiếm đâu ra?
Tuổi Xanh đất Mỹ đành thua-thiệt
Sống Mới trời Nam hẳn xót-xa
Về với gia-đình sao vội-vã?
Vòng quanh thế-giới há lâu-la!
Đồng-hương, đồng-quận, thêm đồng-nghiệp
Giọt lệ như sương khóc bạn già.

Nhà giáo Hà Mai Anh (1905-1975) và “Tâm hồn cao thượng” - Cuốn sách gối đầu giường của tuổi thiếu niên vào những thập niên 1940-1950
Trong suốt hai thập kỷ 1940-1950 tại Việt Nam, dù chỉ là một tác phẩm dịch từ ngoại quốc, cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng” đã có một chỗ đứng xứng đáng trong tủ sách giáo khoa tại các trường học và gây những ấn tượng sâu xa trong tuổi niên thiếu của thời đó. Nhà giáo Hà Mai Anh đã dịch cuốn sách này từ bản Pháp Ngữ “Grand Coeurs” nguyên bản bằng tiếng Ý của Edmondo de Amicis (triết gia 1846-1908) do nhà văn Piazzi dịch ra Pháp Văn. Tác phẩm này, vì giá trị giáo dục của nó đã được dịch ra 14 thứ tiếng và rất phổ biến trong tuổi thanh thiếu niên. Ðây là một tác phẩm thuộc loại ký sự, nhưng câu chuyện kể ngắn được sắp xếp trong 10 tháng, mỗi tháng có vài câu chuyện kể những công việc và biến cố tại trong lớp học hay giữa bạn bè, cùng một câu chuyện hằng tháng.
Tất cả nội dung của từng mỗi câu chuyện đều khêu gợi lên những tình cảm tốt đẹp của con người, không phải qua những lời giáo huấn khô khan, phân tích hay lý luận mà là qua những câu chuyện kể xẩy ra trong cuộc đời thường, mô tả những con người bình thường từ trong lớp học, gia đình cho đến ra ngoài xã hội hay xa hơn là chuyện của quê hương tổ quốc. Ðây là tấm gương sáng của những nhân vật bình thường quanh các em bé học sinh, chuyện một người bán than, một vị thầy mới, một anh học trò nghèo, một cậu bé yêu nước, một người tù, một người lính chữa lửa.. Trong xã hội ấy, có cái xấu cái tốt, có cái gian, cái ngay và Tâm Hồn Cao Thượng dạy cho thiếu niên biết thế nào là lòng tự trọng, sự khoan dung, lòng yêu nước, tính thật thà... thế nào là nghĩa hiệp, thế nào là lòng từ thiện.
Ðược đọc Tâm Hồn Cao Thượng khi còn ở tuổi tiểu học và mấy năm đầu trung học cho tới bay giờ đã hơn năm mươi năm, nửa thế kỷ trôi qua, tôi không thể bao giờ quên những cậu học trò nhỏ trong trường như An Di, Quyết Tư, Phan Tín... cùng thầy giáo Bích Niên, nhưng nhân vật như người bán than, cậu bé quết mồ hóng, ông thầy giáo cũ. Nội dung Tâm Hồn Cao Thượng đã dạy cho tuổi thiếu niên tấm lòng nhân ái, thương yêu, thông cảm với thế giới của những người thiệt thòi trong xã hội như những đứa trẻ mù. câm điếc, những người lao động lấm láp.
Ðậm nét nhất là những câu chuyện hằng tháng mà chúng tôi thích đọc hơn hết như câu chuyện “Lòng yêu nước của em bé thành Pa Ðu”,” Chú lính đánh trống thành Xác Ðe”, “Quê người tìm mẹ” hay “Ðắm tàu”, cho chúng ta thấy toàn là những tấm gương sáng ngời về lòng yêu nước, sự hy sinh, tình mẫu tử.
“Tâm Hồn Cao Thượng” là một bản văn xuôi, nhẹ nhàng đầy âm diệu, mà ngày xưa các thầy cô giáo vẫn dùng làm những bài “học thuộc lòng” cho học sinh. Ðó là những đoạn văn về ngày tựu trường, học đường, lòng ái quốc với những lời văn nhẹ nhàng, thiết tha mà không bao giờ chúng ta quên được.
Có thể nói “Tâm Hồn Cao Thượng” có nội dung của một cuốn “Luân Lý Giáo Khoa Thư ”, nhưng không rõ nét là những bài giảng lý thuyết, nó tiềm ẩn trong từng câu chuyện, khêu gợi là làm phát triển phần tốt đẹp trong mỗi tâm hồn đứa trẻ, làm cho con người hướng thượng, biết sống, suy nghĩ và làm những điều tốt đẹp. Những câu mở đầu trong những bức thư hay lời nói của Thầy Giáo, của Cha hay Mẹ bắt đầu bằng mấy tiếng gọi thân thương “An Di ơi!” đã để lại những ấn tượng tốt đẹp thời thơ ấu của một thế hệ, ngày nay đã bước vào tuổi già. Chúng ta mong mỏi tác phẩm này sẽ phổ biến rộng rãi trong quần chúng và nhất là trong lớp tuổi trẻ, để hy vọng cho những thế hệ mai sau sẽ trở thành những con người tử tế, nhân hậu trong một xã hội tốt đẹp hơn hiện nay.
Dịch giả cuốn “Grand Coeurs” (Tâm Hồn Cao Thượng) là ông Hà Mai Anh, một nhà giáo. Ông sinh năm 1905 tại tỉnh Thái Bình Bắc Việt trong một gia đình văn học, ông cụ đỗ cử nhân dưới triều vua Thành Thái. Ông đậu bằng Cao Ðẳng Tiểu học và trường Sư Phạm, từng làm giáo học và Hiệu Trưởng các trường ở Sơn Tây, Nam Ðịnh, Thái Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh và sau năm 1954 ở Saigon, ông là Hiệu Trưởng trường Tiểu Học Trần Quí Cáp. Hà Mai Anh còn dùng các bút hiệu Mai Tuyết và Như Sơn. Ông đã làm trợ bút cho nhiều tờ báo từ Bắc đến Nam và ông đã soạn nhiều sách giáo khoa cho bậc tiểu học về Việt Văn và Toán. Nhà giáo Hà Mai Anh là Biên Tập Viên của Sở Tu Thư và Học Liệu của Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH trong những ngày cuối.
Phải nói đây là một nhà giáo yêu nghề và nghĩ tới thế hệ trẻ. Ông tin rằng văn hóa có thể giáo dục và cảm hóa, biến đổi con người. Trong suốt ba mươi năm làm nghề giáo, ông đã dành thời gian để dịch thuật 13 tác phẩm:
Tâm Hồn Cao Thượng, Grand Coeurs của Edmond de Amicis, giải văn chương của Hội Alexandre de Rhodes Hà Nội 1948.
Gia Ðình, Sans Familles của Hector Malot (Giải I Dịch thuật 1970)
Trong Gia Ðình, En Famille của Hector Malot.
Về với Gia Ðình, Roman Kabris của Hector Malot.
80 Ngày Vòng Quanh Thế Giới, Le Tour Du Monde en 80 Jours của Jules Verne.
Guy-Li-Ve Du Ký. Voyages de Gulliver của Swiff.
Hoàng Kim Ðảo, L'ile Au Trésor của R. L. Stevenson
Con Voi Chúa, Po Lorn, L'éléphant của R. Campbell.
Chuyện Trẻ Em, Contes de Perrault của Charles Perrauls.
Cầu Vồng Trong Ruộng Lúa, Arc-En-Ciel dans Les Rizière của Rosy Chabbert.
Thuyền Trưởng 15 Tuổi, Le Capitain de 15 Ans của Jules Verne.
Thuật Tàng Hình của Vi- Liêm, Le Secret de Wilhelm Storitz của Jules Verne.
Dòng Sông Tráng Lệ, Les Superbe Orénoque của Jules Vern.
Em Bé Bơ Vơ, Oliver Twist của Charles Dickens.
Trừ tác phẩm cuối cùng chưa được xuất bản, mười hai cuốn trên đều đã được ấn hành và làm say mê không những cho con trẻ mà cả người lớn tại hai miền Nam Bắc, trước và sau năm 1954 chia cắt đất nước. Ðây là những tác phẩm nổi tiếng của thế giới thuộc loại giáo dục, và phiêu lưu mạo hiểm, rất bổ ích cho việc giáo dục tuổi thiếu niên. Nhà giáo Hà Mai Anh và gia đình đã di cư hai lần. Lần thứ nhất ông rời đất Bắc vào Saigon năm 1954. Lần thứ hai ông rời Việt Nam ngày 28 tháng 4 năm 1975 và sang định cư tại Hoa Kỳ. Ông từ trần ngày 20 tháng 8 năm 1975 tại San Bernadino Hoa Kỳ, hưởng thọ 70 tuổi.
Nhà giáo Hà Mai Anh đã nhận được nhiều giải thưởng về dịch thuật hay những bội tinh của chính phủ, tuy nhiên điều vinh dự nhất dành cho một nhà giáo, một nhà văn là ông đã để lại những ấn tượng tốt đẹp cũng như nhiều kỷ niệm sâu xa cho cả một thế hệ trong tuổi thiếu niên từ năm 1945 đến sau năm 1954 với những tác phẩm dịch thuật của ông.
Huy Phương
TÂM HỒN CAO THƯỢNG
EDMOND DE AMICIS-Hà Mai Anh dịch

"TÂM HỒN CAO THƯỢNG" , (nguyên tác Les grands coeurs) của văn hào Italia EDMOND DE AMICIS đã từng là cuốn sách gần như kim chỉ nam của nhiều thế hệ bạn đọc Việt Nam.Thời gian trôi đi, nhưng những gì tác giả gửi gắm qua từng bài học của thuở đầu đời về công ơn cha mẹ ; về lòng yêu nước, thương người ; về tình thầy trò, bè bạn, v.v... vẫn không bao giờ cũ, không bao giờ thừa !Những trang sách - những bài học này - không chỉ hữu ích cho những công dân tốt tương lai mà còn hết sức quí báu đối với đông đảo bạn đọc các giới , các ngành. "TÂM HỒN CAO THƯỢNG" là cuốn sách của các bạn trẻ, của mọi gia đình. Là món quà tặng ý nghĩa và hữu ích của các bậc cha mẹ và các bạn trẻ.
1.- Ngày khai trường
Tại thành Torino (1), thứ hai, ngày 17
Hôm nay là ngày khai trường. Mấy tháng hè đã thoáng qua như giấc mộng. Sáng nay, mẹ tôi đưa tôi vào trường Baretti để ghi tên lên lớp ba. Đi đường, óc tôi cứ vơ vẩn đến chốn thôn quê, lấy sự đi học làm ngại. Phố nào cũng thấy nhan nhản học trò. Hai hiệu sách lớn chật ních những phụ huynh vào mua sách vở, giấy, bút cặp da. Cửa trường đông nghịt những người, cảnh binh và người gác cổng phải khó nhọc mới mở được một lối vào.Vừa bước qua cổng trường thấy một bàn tay vỗ vào vai, tôi giật mình ngoảnh lại thì ra thầy giáo lớp hai tôi học năm ngoái, mái tóc đỏ hoe vẫn để rối, nét mặt vẫn tươi, thầy bảo tôi :_ Enricô ơi! Thầy trò ta từ nay chia tay nhau nhỉ?Điều ấy, tôi đã nghĩ đến, nay thầy tôi lại nhắc, khiến tôi thêm chạnh lòng. Mẹ tôi và tôi phải chen chúc mãi mới vào được trong trường. Các ông, các bà sang trọng, các bà thường dân, thợ thuyền, sĩ quan, các cụ già, những đầy tớ, ai nấy đều một tay dắt trẻ, một tay cắp gói, đứng chặt phòng trú chân và ở trên thang gác. Cảnh tượng rất là náo nhiệt.Hôm nay, lại được trông thấy 7 phòng học ở từng dưới là nơi ròng rã ba năm trường, ngày nào tôi cũng lui tới, lòng tôi sung sướng vô cùng!Trên thềm, các cô giáo đi lại tới tấp. Cô giáo lớp một đứng ở cửa lớp, thầy tôi liền bảo :_ Enricô ơi! Năm nay em học trên gác. Ít ra ta lại được nhìn em qua lại !Mẹ tôi đỡ lời:_ Thưa cô, cháu sẽ đến thăm cô luôn.Chúng tôi chào cô rồi đi.Ông Hiệu trưởng, râu tóc bạc hơn năm ngoái, có vẻ bận rộn vội vàng, đang bị vây trong đám các bà, một số người thất vọng vì không còn chỗ cho con. Bạn tôi đi học đông đủ. Nhiều người coi lớn vọt lên. Ở từng dưới, việc chia lớp đã xong. Mấy trò em mới đến trường là lần thứ nhất, không chịu vào lớp, giật lùi như những con ngựa bất kham ; người ta phải dùng sức lôi vào. Có em đã ngồi vào ghế rồi lại trốn ra, có em thấy cha mẹ thì tru lên khóc.Em trai tôi vào lớp cô Đencatri, còn tôi thì học thầy Perbôni ở trên gác.Đúng 10 giờ thì học trò lớp tôi đều vào cả ; 54 người trong bọn, tôi nhận mãi mới thấy 15 hay 16 bạn lớp cũ. Trông thấy tôi, anh Đêrôtxi, người học trò bao giờ cũng chiếm phần thưởng thứ nhất, liền ra hiệu mừng rỡ.So với rừng rậm và non xanh là những nơi tôi đã qua chơi mấy tuần lễ trước thì trường học coi bé nhỏ và buồn tênh !Hết nhớ cảnh lại nhớ người. Tôi nhớ thầy cũ tôi ở lớp hai, một ông thầy khoan từ và vui vẻ, bao giờ trông thấy tôi cũng mỉm cười. Tôi rất tiếc không được thấy thầy ở đây với bộ tóc hoe đỏ rối bù.Thầy giáo chúng tôi bây giờ, người to lớn, không có râu, tiếng nói sang sảng. Đứng trên bục cao, thầy nhìn xuống chòng chọc hết người này đến người khác hình như muốn coi thấu tâm tình chúng tôi. Thầy nghiêm quá, ít khi thấy nở một nụ cười.Tôi nghĩ bụng : "Hôm nay mới là ngày đầu, còn mười tháng nữa mới đến nghỉ hè. Trong mười tháng ấy sẽ có biết bao nhiêu là việc làm, bao nhiêu là bài làm và bao nhiêu là sự khó nhọc đang chờ ta !", nên lúc ra về tôi có vẻ chán nản. Mẹ tôi khuyên rằng : - Enricô ơi ! Hãy can đảm lên, con ạ !Mẹ sẽ cùng học bài với con ...Tôi yên tâm theo mẹ tôi về nhà, nhưng lòng vẫn nhớ tiếc một ông thầy vui tính và hiền từ, vẫn thấy trường học kém vui, không bằng năm ngoái.2.- Thầy giáo mới
Thứ ba, ngày 18
Tưởng thế, chứ thầy giáo mới chúng tôi dã khéo làm xứng ý mọi người ngay sáng hôm nay.Giờ vào học, sau khi thầy đã ngồi vào bàn, chốc chốc lại thấy một người học trò cũ qua cửa cúi chào. Cũng có người vào bắt tay thầy và thăm hỏi một cách rất cung kính. Đủ biết học trò cũ cũng quyến luyến thầy biết dường nào và như muốn còn được ở gần thầy. Nhưng chào thì chào, bắt tay thì bắt, thầy không nhìn thẳng mắt ai, cứ lảng trông ra cửa sổ. Những dấu thân ái và biết ơn ấy tưởng đã làm cho thầy thoả ý nhưng trái lại đã khiến thầy mủi lòng.Đến bài chính tả, thầy xuống bục, đi lại trong các hàng ghế đọc cho chúng tôi viết. Thấy một học trò mắt lấm tấm mụn đỏ, thầy ngừng đọc, lại gần tay sờ trán và hỏi : "Con làm sao?" Thừa lúc thầy quay lưng lại, một anh học trò bàn dưới leo lên ghế dun dẩy như người trượt băng. Bất đồ, thầy ngoảnh lại bắt gặp, anh chàng vội ngồi ngay xuống cúi đầu đợi phạt. Nhưng ông Perbôni sẽ đập vào vai anh học trò dại dột kia, bảo rằng : "Không được làm thế nữa". Có thế thôi. Rồi thầy bình tĩnh về chỗ đọc nốt bài chính tả.Khi viết xong, thầy yên lặng nhìn chúng tôi một lúc rồi ôn tồn nói :_ Các con ơi ! Hãy nghe ta ! Chúng ta cùng nhau phải qua một năm học. Chúng ta nên hết sức làm việc để qua năm ấy cho được tốt đẹp. Phải chăm chỉ. Phải ngoan ngoãn. Ta không có gia đình. Các con là gia đình của ta. Năm ngoái, mẹ ta còn, bây giờ người đã khuất. Ta chỉ còn có một mình ta. Ngoài các con ra ở trên đời này, ta không còn có ai nữa ; ngoài sự thương yêu các con, ta không còn thương yêu ai hơn nữa. Các con ví như con ta. Ta sẽ yêu dấu các con. Đáp lại, các con phải yêu dấu ta. Ta không muốn phạt một người nào cả. Các con phải tỏ ra là những trẻ có tâm hồn. Trường ta sẽ là một gia đình, các con sẽ là mối an ủi và mối tự hào của ta. Ta không cần phải hỏi lại các con vì ta tin rằng trong lòng các con, ai ai như cũng "vâng lời", nên ta có lời cảm ơn các con.Thầy nói dứt lời thì người coi trường vào báo hết giờ học (1). Chúng tôi yên lặng xuống sân. Anh học trò vô lễ ban nãy rón rén lại gần thầy giáo, nói run run : -Thưa thầy, xin thầy tha lỗi cho con.Thầy gật đầu, hôn trán anh và bảo : -Tốt lắm ! Cho con về.

(1): Trong các trường ở thành phố nước Italia, hết giờ học, người gác trường đến từng lớp báo hết giờ chứ không đánh trống hay kẻng.9.- Lòng yêu nước của cậu bé thành Pađôva (1)
(Truyện đọc hàng tháng)Thứ bảy, ngày 29.
Không, không bao giờ tôi chịu làm tên lính hèn nhát. Nếu ngày nào thầy giáo cũng kể cho tôi nghe như câu chuyện sáng nay thì có lẽ không bao giờ tôi muốn nghỉ học. Theo lời thầy thì mỗi tháng sẽ có một truyện mà truyện nào cũng nói về những thủ đoạn phi thường của một đứa trẻ con."LÒNG YÊU NƯỚC CỦA CẬU BÉ THÀNH PAĐÔVA" đó là đầu đề câu chuyện sáng nay.Năm trước, một chiếc tàu Tây Ban Nha dời bến Bardêlôna (2) để đi Giênôva (3). Trên tàu, trừ người Tây Ban Nha, còn có một ố người Pháp, người Italia, người Thuỵ Sĩ, và nhiều người khác nữa. Trong bọn hành khách người ta nhậnthấy một đứa trẻ độ 11 tuổi, ăn mặc nhơm nhếch, đứng riêng một chỗ và nhìn những người kia bằng đôi mắt hầm hầm. Nó nhìn như thế cũng không phải hẳn là không có cớ. Cha mẹ nó là nông dân ở gần Pađôva, cố nhiên là nghèo túng, hai năm trước vì tham tiền đã cho nó đi ở với một người chủ xiếc rong. Người này dạy nó một vài món nhảy, lộn rồi bắt nó theo sang Pháp và Tây Ban Nha. Nó bị hành hạ luôn tay và ăn uống không đủ.Đến thành Bardêlôna, không thể chịu được cái đời sống khổ ải ấy nữa, đứa trẻ khốn nạn liền trốn chủ đến cầu cứu viên lãnh sự Italia. Động mối thương tâm, viên lãnh sự xin cho nó một chỗ trong tàu nói trên và cho nó một lá thư giới thiệu cùng ông thị trưởng thành Giênôva nhờ ông trả về cho cha mẹ nó, là người đã bán nó như một con vật. Thằng bé còm gầy yếu đuối và mặc bộ quần áo rách. Người ta cho nó ngồi phòng hạng nhì. Hành khách ai cũng nhìn nó, có người hỏi nó song nó không trả lời. Nó có vẻ căm ghét mọi người vì những sự khắc khổ và hành phạt đã làm cho nó oán hận và không có cảm tình. Tuy nhiên, có ba người hành khách đã khéo làm cho nó hé răng. Nó kể chuyện nó bằng tiếng Italia pha giọng Tây Ban Nha. Ba người khách kia không phải là dân Italia nhưng cũng thương nó, cho tiền để nó nói chuyện, nghe cho đỡ buồn. Đồng thời, có mấy thiếu phụ đi qua, ba ông quí khách hãnh diện ném thêm tiền xuống bàn loảng xoảng và nói : "Cầm lấy ! Cầm lấy nữa này !"Đứa bé sung sướng, vơ tiền bỏ túi, cảm ơn rồi vào phòng. Nó buông màn cửa xuống ngồi yên lặng và nghĩ đến những việc nó sẽ phải làm.Nó nghĩ : với số tiền ấy, nó sẽ được ăn no, không phải thèm nhạt như trước. Khi tới Giênôva, nó sẽ sắm một bộ cánh mới để thay bộ quần áo nó đeo hai năm trời nay, rách như tổ đỉa. Nó lại định để ra một ít tiền đem về cho cha mẹ, chắc là được săn đón và quí hoá hơn là về tay không. Số tiền ấy đối với nó là một món tiền to. Ngồi sau rèm cửa, nó trừ đi tính lại và trong lòng thấy khoan khái nhẹ nhàng.Lúc ấy, ba người khách nói trên đang ngồi ở buồng ăn, quây quần uống rượu và nói chuyện về những cuộc du lịch của mình cùng phong tục những nước đã đi qua. Tình cờ, câu chuyện nhằm vào nước Italia. Một người bắt đầu phàn nàn về khách sạn, người chê về xe lửa. Cuối cùng, rượu say, họ thi nhau nói xấu tất cả những gì thuộc về nước Italia.

Người thứ nhất nói biết thế, họ sẽ di du lịch xứ Lappôn (4) (ở cực bắc châu Âu) còn hơn sang nước Italia.
Người thứ nhì nói quả quyết rằng ở Italia hắn gặp toàn thị những phường quỷ quyệt và những quân cường đạo.
Người thứ ba nói thêm rằng : -Những người tùng sự nước Italia không biết chữ.Người thứ nhất nói : - Đó là một dân tộc ngu dốt !
Người thứ nhì tiếp :- Bẩn thỉu !
-Và ăn ...Người thứ ba định nói câu "ăn cắp" nhưng chưa dứt lời thì một trận mưa toàn tiền vàng và bạc hắt vào mặt những người ấy rơi tung toé xuống bàn và trên sân. Ba người hầm hầm đứng dậy xem trận mưa dữ ấy ở đâu ra thì lại bị ném thêm.Cậu bé thành Pađôva vén rèm thò đầu ra thét bằng giọng khinh bỉ : -Cầm lại tiền của các người. Ta không thèm nhận của bố thí của những người kẻ đã lăng mạ nước ta.
Chú thích : (1) Padoue. (2) Barcelone. (3) Gênes. (4) Laponie.
Xem: http://vnthuquan.net/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237nnn2ntn4n31n343tq83a3q3m3237nvn/

No comments:

Post a Comment