Thursday, October 6, 2011

Nghệ Sĩ Trần Văn Trạch

http://khanhly.net/hinhnghesi/tranvantrach1.jpgTrần Văn Trạch (1924- 1994), tên thật là Trần Quang Trạch, là nhạc sĩ, ca sĩ Việt Nam.

Với mái tóc dài cùng giọng ca trầm ấm, cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo...ông được khán giả, báo chí trước 1975, phong tặng danh hiệu quái kiệt.rần Văn Trạch sinh tại làng Đông Hòa, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), trong gia đình có truyền thống nhạc cổ và sân khấu tuồng.

Gia thế

http://4.bp.blogspot.com/_golQYtJnZHI/SapMpEKnfzI/AAAAAAAACVQ/E-w_Ze0H8Zg/s200/Tran+Van+Trach.jpgÔng cố tên Trần Quang Thọ, vốn là một nghệ nhân nổi tiếng trong ban nhạc cung đình Huế. Khoảng năm 1860, ông Thọ xin từ nhiệm và di cư vào Nam.

Ông nội là nhạc sĩ Trần Quang Diệm (Năm Diệm, 1853-1925). Cha ông là Trần Văn Triều (Bảy Triều, 1897-1931) nổi tiếng trong giới cổ nhạc qua tiếng đàn kìm lên dây theo kiểu dây Tố Lan do ông sáng chế ra.

Ông Trạch có người cô thứ ba tên là Trần Ngọc Viện (Ba Viện, 1884-1944). Bà biết hát nhiều điệu hát, biết sử dụng nhiều nhạc cụ dân tộc, nhưng điêu luyện nhất là đàn thập lục (đàn tranh) và đàn tỳ bà. Bà chính là người đã thành lập gánh hát Đồng Nữ Ban vào khoảng năm 1927, với một điểm đặc biệt là tất cả các diễn viên đều là nữ, một hiện tượng duy nhứt trong lịch sử hát cải lương miền Nam. Và bà cũng là người nuôi dạy ba người con của ông Triều, khi vợ ông Triều là bà Nguyễn Thị Dành (1899-1930) mất sớm. Sau, cả ba người cháu này đều thành danh, đó là GSTS Trần Văn Khê, quái kiệt Trần Văn Trạch và ca sĩ Trần Ngọc Sương.

Phía bên ngoại, ông Trạch có cậu thứ năm tên là Nguyễn Tri Khương (1890-1962), tục gọi Năm Khương. Ông là cháu nội của danh tướng Nguyễn Tri Phương) và là một nhạc sĩ chuyên về sáo, lại thông hiểu về lý thuyết nhạc cổ. Cho nên khi bà Ba Viện lập gánh hát Đồng Nữ Ban, ông Khương trở thành soạn giả của gánh. Để phong phú thêm làn điệu, ông sáng tác ra những bài hát như: Thất trĩ bi hùng, Yến tước tranh ngôn, Phong xuy trịch liễu, Bắc Cung Ai... Và con của người cậu thứ tư (Nguyễn Tri Lạc) là nhạc sĩ Nguyễn My Ca (tên thật là Nguyễn Mỹ Ca), mất vào năm 1944 trong lúc kháng Pháp, người nhạc phẩm Dạ khúc, được nhiều người yêu âm nhạc buổi ấy biết đến.

http://files.myopera.com/tracdao1411/blog/Tranvantrach.jpgNơi quê nhà

Trần Văn Trạch là con trai thứ trong 3 người con của ông Trần Quang Triều. Ông có người anh là Trần Văn Khê và em gái út là Trần Ngọc Sương.

Thuở nhỏ, Trần Văn Trạch theo học chữ ở Collège de Mỹ Tho (trường trung học Mỹ Tho) cho tới năm 18 tuổi (1942) thì rời ghế nhà trường.

Ngay từ lúc nhỏ ông đã có năng khiếu về âm nhạc. Do vậy, ông sử dụng khá thành thạo đàn kìm và đàn tỳ bà. Tuy biết nhiều về cổ nhạc và có giọng hát ấm, nhưng ông lại thích tân nhạc hơn. Vì vậy, ông học đàn mandoline với anh là Trần Văn Khê và học đàn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu, và biết chơi thành thạo những bài nhạc Pháp thịnh hành thuở đó.

Ngoài niềm đam mê về âm nhạc, ông Trạch cũng thích việc kinh doanh, nên có thời gian ông lập ra lò làm chén ở Vĩnh Kim. Nhưng sau một vài năm làm ăn không khá, ông bỏ nghề lên Sài Gòn kiếm sống.

http://tranquanghai.info/gallery/thumbs/lrg-279-tvt___bach_yen_1963.jpgĐến Sài Gòn

Năm 1945, sau khi Nhật Bản đầu hàng, quân đội Pháp trở lại Việt Nam, những phòng trà được phép mở cửa trở lại. Bắng tài năng của mình, buổi đầu Trần Văn Trạch xin vào làm hoạt náo và hát tại dancing Théophile ở vùng Dakao. Sau khi có được một số vốn, ông xin mở một phòng trà nhỏ ở đường Lagrandière (nay là đường Lý Tự Trọng, Thành phố Hồ Chí Minh).Trong thời gian này anh sống với người vợ Pháp và có một đứa con. Vì thế anh bị những người theo Việt Minh kết tội là Việt gian. May mắn được anh trai Trần Văn Khê kịp nhờ người bảo lãnh, nên ông Trạch mới được tha nhưng phải gia nhập vào Ban nhạc quân đội của Việt Minh, rồi cùng với anh, đi lưu diễn khắp miền Tây. Khoảng năm 1946-1947, Trần Văn Trạch không theo ban nhạc nữa, về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước tại khu Bàn Cờ (nay thuộc quận 3, TP. HCM) Nhằm câu khách, đôi khi ông Trạch hát những bài nhạc Pháp cho lính Pháp nghe, nên ông được bạn bè đặt cho anh một cái tên rất "Tây" là Tracco.Trong thời gian đi theo Ban nhạc quân đội, Trần Văn Trạch có quen nhạc sĩ Lê Thương (1914-1996). Phát hiện được khả năng hài tiềm ẩn trong con người ông Trạch, nên lần đầu tiên Lê Thương viết thử nghiệm một bài ca hài cho ông trình diễn. Ðó là bài Hòa bình 48 (1948)hát nhái tiếng đại bác, tiếng máy bay ném bom...

Được người nghe hoan nghênh, Lê Thương viết tiếp bài Liên Hiệp Quốc hát bằng tiếng Pháp, Anh, Nga, Tàu, bài Làng báo Sài Gòn[3] phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo thực dân Pháp...và cũng do ông Trạch hát. Chính vì vậy, Lê Thương, Trần Văn Trạch... đã bị cảnh sát mời vào bót Catinat ở mấy ngày.

Đến năm 1949, nhận thấy tân nhạc bắt đầu thịnh hành, Trần Văn Trạch nảy ra ý nghĩ mở Đại nhạc hội, là một chương trình văn nghệ bao gồm ca, vũ, nhạc, kịch, xiếc, ảo thuật...Với cách làm này, Trần Văn Trạch chinh phục được nhiều khán giả trên khắp mọi miền. Và kể từ đó cái tên đại nhạc hội bỗng trở nên phổ biến.

Năm 1951, bắt đầu từ rạp Nam Việt, ông Trạch đưa ca nhạc vào các rạp chiếu bóng để diễn trước giờ chiếu phim chính. Cách làm này cũng được nhiều người xem hoan nghênh và cụm từ "chương trình văn nghệ phụ diễn" cũng ra đời từ đó. Cũng năm này, vì nhu cầu trình diễn, ông Trạch đã tự sáng tác ra những bản nhạc hài hước để tự mình trình diễn lấy. Bản nhạc Anh phu xích lô là sáng tác đầu tiên của ông:

Có ai mà muốn đi tới Chợ Lớn
Có ai mà muốn đi tới Chợ Mới
Có ai mà muốn đi chóng cho mau tới
Ê tôi xin mời lại đây.
Chiếc xe này có bảo kiết thật chắc
Bánh xe thì tốt thùng có bọc sắt
Nếu khi mà có đụng phải xe jeep
Quý ngài chẳng hề hấn gì...

Thành công, kể từ đó cho tới ngày ký hiệp định Genève (1954) ông viết tiếp Cái tê lê phôn, Cái đồng hồ tay, Cây bút máy, Anh chàng thất nghiệp, Sở vòi rồng, Đừng có lo, Tôi đóng xi nê, Chiếc ô tô cũ, Chiến xa Việt Nam.. Và bài nhạc nào của ông cũng làm người nghe bật cười, thích thú...

Tuy vậy, không phải ông Trần Văn Trạch chỉ sáng tác nhạc hài hước, đôi khi trong nhạc cũng pha lẫn chút triết lý, như bài Khi người ta yêu nhau:

Khi người ta yêu nhau
Yêu trong lúc bẩy mươi tuổi đầu
Thì không phải vì tiền đâu
Nhưng mà chẳng còn bao lâu...

Hoặc pha lẫn chút bi như bản Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), kể lại chuyện đi thăm mẹ của một chàng trai. Lúc đầu, là những đoạn nhạc hài hước, với những tiếng động của nhà ga, của xe lửa... Nhưng đoạn cuối là một khúc bi ca, khi chàng trai ấy về đến nhà mới biết mẹ mình đã qua đời...

Cũng trong năm này, ông đã sáng tác và hát bài Xổ số kiến thiết quốc gia, Nhờ bài hát này, tên tuổi ông càng được nhiều người biết đến. Trích:

Kiến thiết quốc gia
Giúp đồng bào ta
Xây đắp muôn người
Được nên cửa nhà
Tô điểm giang san
Qua bao lầm than
Ta thề kiến thiết
Trong giấc mộng vàng
Triệu phú đến nơi
Chỉ mười đồng thôi
Mua lấy xe nhà
Giàu sang mấy hồi...

Dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm (1956-1963), nhạc sĩ Trần Văn Trạch sáng tác rất ít. Chỉ có một bài ca hài hước được ra đời. Đó là bài Ba chàng đi hỏi vợ.

http://www.cailuongvietnam.com/uploads/News/pic/small_1204797561.nv.jpgNgoài nghiệp ca và sáng tác, Trần Văn Trạch còn đảm ban nhạc Sầm Giang trên đài phát thanh Pháp Á từ năm 1950 tới năm 1954.

Ban Sầm Giang quy tụ một số nhạc sĩ có tên tuổi như cố nhạc sĩ Võ Đức Thu, Kháng Băng, Nghiêm Phú Phi, các ca sĩ có tiếng thời 1950, như: Ngọc Sương, Ngọc Hà, Tôn Thất Niệm, Linh Sơn, Mạnh Phát, Minh Diệu, Túy Hoa, Tâm Vấn... Đến năm 1953, có thêm những bộ mặt mới như nữ kịch sĩ Bích Thuận, Duy Trác, Tùng Lâm, ban Thăng Long và bé Bạch Yến.

Trần Văn Trạch cũng đã cộng tác với nền điện ảnh Việt Nam ở trong giai đoạn phôi thai. Năm 1955, cộng tác với hãng phim Mỹ Phương bên Pháp, sản xuất được hai cuốn phim là Lòng nhân đạo (1955) và phim Giọt máu rơi (1956). Cả hai phim này ông đều đóng chung với nghệ sĩ Kim Cương.

Sau khi rời hãng phim trên, Trần Văn Trạch cộng tác với người Hoa ở Chợ Lớn để lập hãng phim Việt Thanh, và tự làm đạo diễn cho hai cuốn phim về chuyện cổ tích Việt Nam, đó là phim Thoại Khanh Châu Tuấn (1956, với Kim Cương và Vân Hùng) và Trương Chi Mỵ Nương (1956, đóng chung Trang Thiên Kim - La Thoại Tân).

http://files.myopera.com/diemxuacafe/albums/621130/Nh%E1%BA%A1c%20S%C4%A9%20Ho%C3%A0ng%20Thi%20Th%C6%A1%20v%C3%A0%20Qu%C3%A1i%20Ki%E1%BB%87t%20Tr%E1%BA%A7n%20V%C4%83n%20Tr%E1%BA%A1ch.jpgNăm 1957, lâm bệnh nặng suốt cả năm nên ông phải từ giã nghề điện ảnh.

Năm 1960, Trần Văn Trạch sang Paris (Pháp) và thường xuyên hát tại nhà hàng La Table du Mandarin, Paris, quận 1.

http://dactrung.net/hinh/tacgia/nvd_11.jpgLưu diễn khoảng sáu tháng, năm 1961, ông trở về Sài Gòn với một tiết mục mới là trò múa rối học được ở Pháp, hát thành công bản Chiều mưa biên giới của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông theo kiểu sound track (phần nhạc do ban nhạc của Pháp thu sẵn trên băng nhựa).

Năm 1965 đến đầu năm 1975, Trần Văn Trạch là “ông bầu”, chuyên tổ chức những chương trình nhạc trẻ phục vụ trong những night clubs dành cho lính Mỹ. Trong khoảng thời gian trên, ông có sáng tác một vài bản nhạc, nhưng không được thành công, như bài Highway 19 đặt theo điệu Long Hổ Hội, nhạc cổ nhưng lời bằng tiếng Anh và theo nhịp swing.

Kể từ 30 tháng 4 năm 1975 và mấy năm sau đó, Trần Văn Trạch tạm sống một cuộc đời bình thường, thi thoảng cũng đi lưu diễn cùng với một số nghệ sĩ khác.

http://www.tranquanghai.info/gallery/images/family/tr___n_v__n_tr___ch/tqh___tvt.jpgSang Pháp & mất

Tháng 12 năm 1977, Trần Văn Trạch rời Sài Gòn sang định cư ở Paris (Pháp). Từ đó trở đi cho tới ngày từ trần, Trần Văn Trạch, từng nổi tiếng là quái kiệt, gần như tạm dừng công việc nghệ thuật, xoay ra làm nghề khác để kiếm sống.

Ở hải ngoại, ông không chỉ sáng tác được một vài bài. Về sinh hoạt văn nghệ, ông cũng chỉ có bốn cuốn băng là Hài hước Trần Văn Trạch (Thúy Nga, Paris, 1982) Con đường hạnh phúc (Thanh Lan, 1983), và Allô Paris (Giáng Ngọc, Paris 1986). Về phía phim video, ông cũng có làm một cuốn kỷ niệm Hài hước Trần Văn Trạch (quận Cam, California, Hoa kỳ, 1983) và trong cuốn Thi ca nhạc kịch Việt Nam (Hà Phong thực hiện, Paris, 1984)

Ngoài ra ông cũng có đi diễn cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ năm 1983 và 1986, ở Úc châu năm 1984... Trong những năm cuối cùng của cuộc đời, Trần Văn Trạch thường đi sang Hoa kỳ làm nghề quảng cáo trên đài Truyền hình Việt Nam ở Quận Cam.

Tháng 2 năm 1994, do bị ung thư gan, ông trở về Paris và nằm chữa bệnh tại bệnh viên Thenon ở Paris. Trần Văn Trạch mất ngày 12 tháng 4 năm 1994, hưởng thọ 70 tuổi. Ông được an táng tại nghĩa trang Cimetière intercommunal ở Valenton, ngoại ô Paris của Pháp.

http://phamduy2000.com/data/UserFiles/Image/hatly/ducquynh%20trach.jpgMột đoạn tự thuật

Trong một đêm Noel, sau khi đã "chạy sô" khắp các sân khấu, hộp đêm ở Sài Gòn, người nghệ sĩ hài đi lang thang vô định trên đường phố bởi không biết về đâu. Nhà ai cũng sáng choang đèn nến và bữa ăn reveillon rộn rã chuỗi cười duy chỉ có người nghệ sĩ là... đứng dựa cột đèn, lắng nghe giọng hát hài hước, vui nhộn của chính mình phát ra từ một đĩa pick-up của ngôi nhà đang có tiệc tùng mà thấm thía nỗi tủi cực ở phía sau ánh đèn màu hào nhoáng...[4]

http://phamduy2000.com/data/UserFiles/Image/hatly/tranvantrach%20young.jpgNhận xét

Anh không để lại chiến công nên không có tượng đồng bia đá. Anh chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương của bao người ái mộ.

Như câu nói của danh nhân nào đó: “Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi.”

Ðó chính là cái còn và cái mất của Trần Văn Trạch cũng như bao nghệ sĩ tài danh vậy.

(theo wikipedia.com)
Quái kiệt Trần Văn Trạch
Trần Văn Trạch(1924-1994) thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, hai bên nội ngoại đều có người trong giới nhạc truyền thống dân tộc. Nếu Trần Văn Khê là người anh hai (theo cách gọi trong gia đình miền Nam) mà tên tuổi lẫy lừng trong nền nhạc cỗ truyền thống dân tộc, thì cậu ba Trần Văn Trạch, tung hoành trên vòm trời nghệ thuật nhạc mới suốt nửa thế kỷ trước, tạo ấn tượng khó phai trong lòng người ngưỡng mộ cho tới nay.Và biệt danh “quái kiệt” tới nay hình như chỉ dành riêng cho Trần Văn Trạch là vậy.
Trần Văn Trạch sanh năm Giáp Tý, 1924, tại làng Vĩnh Kim tỉnh Mỹ Tho nay là tỉnh Tiền Giang. Lúc nhỏ tên là Trần Quang Trạch, nhưng không biết thủ bộ ở làng Vĩnh Kim nghĩ thế nào mà viết tên anh là Trần Quan Trạch (không có G ). Trạch lại trùng tên bà cụ láng giềng nên ở nhà gọi tránh là Khê Em. Và tới nay người ta không biết cơ duyên nào đưa đẩy cái tên Trần Văn Trạch đến với anh, thay vì Trần Quan Trạch?
Gia đình anh có ba anh em.Trần Văn Khê là anh hai, Trạch thứ ba, cô em gái út là Trần Ngọc Sương là ca sĩ có tiếng vào thập niên 50 trước sống ở Canada.
Theo gia phả, cố nội của Trần Văn Trạch là ông Trần Quang Thọ trước kia trong ban nhạc cung đình Huế vào Nam lập nghiệp sanh ra Trần Quang Diệm, cũng gọi là Năm Diệm nối nghiệp cầm ca, là ông nội của Trạch.
Trần Văn Chiều tức Bảy Triều, ba của Trạch, là người chế ra cách lên dây “Tố lan” mà trong ca nhạc tài tử cải lương miền Nam ai cũng biết.
Nên mới nói Trần Văn Trạch thuộc gia đình bốn đời nhạc sĩ, sống gắng bó với câu ca tiếng đờn, trong suốt thế kỷ qua.
Dầu sống trong thời kỳ mà dư luận vốn có thành kiến “Nam đa kỳ, tắc suy; Nữ đa kỳ, tắc dâm” nhưng người cô thứ ba của Trạch tên Trần Ngọc Viện, gọi là cô Ba Viện, chơi đờn tỳ bà rất giỏi. Hồi trẻ Cô Ba lên Sài Gòn dạy nữ công gia chánh cho học sinh trường Áo Tím nữ học đường, sau về Mỹ Tho lập gánh hát cải lương lấy tên là Ðồng Nữ Ban năm 1927 với vở tuồng nổi tiếng là “Giọt lệ chung tình”, mà đào kép toàn là con gái nông thôn do một tay cô đào tạo.
Trần Văn Trạch thuở nhỏ có khiếu nhạc, chơi đờn kìm và tỳ bà theo ngón của cha, ca vọng cổ cũng mùi. Lớn lên trong cái nôi cải lương miền Nam là Mỹ Tho, nơi có gánh hát cải lương đầu tiên vào năm 1917 của thầy Năm Tú hát tại Chợ Cũ Mỹ Tho. Thế nhưng Trần Văn Trạch lại ham học đàn mandoline với Trần Văn Khê và học đờn violon với Nguyễn Mỹ Ca, người anh cô cậu. Trạch đã biết chơi thành thạo những bài nhạc Tây thịnh hành thuở đó như là J áùi deux amouers, Marinela...
Ðang học tại College de MyTho, đến năm 1942 Trạch bỏ ngang đi ra mở lò gốm làm chén* Và bởi bản tánh nghệ sĩ nên bị thất bại nên phải “dẹp tiệm”, bỏ xứ lên Sài Gòn lập nghiệp mới*
http://files.myopera.com/diemxuacafe/albums/621130/Tr%E1%BA%A7n%20V%C4%83n%20Tr%E1%BA%A1ch.jpg“Quái kiệt” Trần Văn Trạch
Trần Văn Trạch lên Sài Gòn vào năm 1945, lúc đầu vào hát cho các phòng trà phục vụ quân đội Pháp với vai trò hoạt náo, ca múa (dacing) những bản nhạc Tây. Trong thời gian này anh sống với người vợ đầm và có một đứa con và vì thế anh mấy lần bị Việt Minh bắt với tội danh “Việt gian”*
Trần Văn Khê vận động, nhờ người bảo lãnh, Trạch được tha nên anh gia nhập vào “Ban nhạc quân đội” Việt Minh cùng Trần Văn Khê đi lưu diễn khắp miền Tây và có lần họ gặp nhạc sĩ Lệ Thương ở Bến Tre, Mỹ Tho.
Sau đó độ khoảng năm 46-47 Trạch rời “kháng chiến” về Sài Gòn, cùng em gái là Trần Ngọc Sương mở quán nước giải khát tại khu Bàn Bờ bán cho lính Pháp. Tracco, tên Tây của Trạch do các bạn bè đặt cho anh là vào lúc này, bởi thỉnh thoảng anh hát những bài nhạc Tây nhằm câu khách.
Nhạc sĩ Lê Thương lúc năm 45 về Bến Tre, có thời gian bị Pháp bắt ở Mỹ Tho, sau được thả, về Sài Gòn trong phong trào hồi cư bấy giờ. Không rõ cơ duyên nào đưa đẩy khiến Lê Thương phát hiện cái khả năng hài tiềm ẩn trong con người nghệ sĩ phiêu bồng lãng tử Trần Văn Trạch?
Nhạc sĩ Lê Thương bèn viết bài ca thử nghiệm đầu tiên cho Trạch. Ðó là bài “Hòa bình 48” hát nhái tiếng súng, đại bác, máy bay liệng bom; rồi bài ca” Liên Hiệp Quốc” hát bằng tiếng Pháp-Anh-Nga-Tàu; bài “Làng báo Sài Gòn” phê bình các nhà báo nói láo ăn tiền, chạy theo Tây*
Nhờ những bài hát mang chất châm biếm hài của nhạc sĩ Lê Thương mà Trần Văn Trạch chuyển hướng. Anh tự sáng tác những bài hát hài để tự diễn. Bài hát anh sáng tác đầu tay năm 1951 là bài “Anh xích lô” mang chất hài vui, nhịp điệu nhanh và lôi cuốn.
Với giọng ca trầm hơi thổ, mang nét mộc mạc miền Nam (như Út Trà Ôn), cộng thêm phong thái biểu diễn mới lạ, vui nhộn, độc đáo... nên Trần Văn Trạch làm khán khán giả say mê cuồng nhiệt.
Anh được khán giả, báo chí phong tặng danh hiệu “quái kiệt”. Và tên tuổi quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện như là một hiện tượng lạ trong nền nghệ thuật Việt Nam suốt gần nửa thế kỷ qua.
Trần văn Trạch viết và biểu diễn thành công tiếp những bài mà nhắc lại thế hệ thanh niên tuổi 60, 70 ai cũng biết, đã từng nghe và mê mệt.
Ðó là: Chuyến xe lửa mùng 5 (1952), Cái tê-lê-phôn, Anh chàng thất nghiệp, Cây viết máy, Cái đồng hồ tay, Ðừng có lo...
Trong lãnh vực hài kết hợp hoạt náo, qua các bài Tân nhạc, kết hợp múa theo vũ điệu Tây phương, với kiểu ăn mặc, đầu tóc lạ mắt... quái kiệt Trần Văn Trạch trở thành nghệ sĩ “hài trí thức” duy nhứt trong thời đại của anh.
Trần Văn Trạch còn là người tiên phong khai sanh ra loại hình Ca-Vũ-Nhạc-Kịch-Xiệc-Ảo thuật tổng hợp trên sân khấu mà chính anh là bầu sô. Cái tên “Ðại Nhạc Hội” của anh đặt ra trở thành loại hình sân khấu mới, hấp dẫn, vui tươi không thể thiếu trong dịp Tết cho tới nay ở trong và ngoài nước*
Rồi một hôm tại rạp hát bóng Nam Việt, Trần Văn Trạch đầu tiên lăn-xê chương trình ca nhạc mở màn trước khi chiếu phim, rất ăn khách. Thuở đó gọi tên là “Chương trình văn nghệ phụ diễn”, loại hình sân khấu này nay vẫn còn được ưa chuộng trong các cuộc thi tuyển lựa tài năng, tuyển lựa hoa hậu, giới thiệu sách, nói chuyện văn học...
Trần Văn Trạch là người đầu tiên hát với sound track, nhạc thâu trước sẵn.
Năm 1960, hôm đó trên sân khấu Ðại Nhạc Hội giới thiệu bài hát mới “Chiều mưa biên giới” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Ðông, lần đầu tiên quái kiệt Trần Văn Trạch xuất hiện trên sân khấu, ca không có ban nhạc sống, gây ngạc nhiên và thích thú cho khán giả.
Nhờ nghệ thuật thâu sẵn nên hòa âm và âm thanh hoàn hảo, kết hợp ca diễn ăn ý, nghệ sĩ Trần Văn Trạch hát bài “Chiều mưa biên giới” linh hoạt nên anh được khán giả nhiệt liệt hoan hô. Kiểu hát này ngày nay rất phổ biến.
Quái kiệt Trần Văn Trạch còn được biết tới trong lãnh vực phim ảnh. Anh tham gia đóng những phim “Lòng nhân đạo” năm 1955, “Giọt máu rơi” năm 1956; làm đạo diễn phim “Thoại Khanh Châu Tuấn” năm 1956, phim “Trương Chi Mỵ Nương”, năm 1956.
Trong lãnh vực phát thanh, anh là người sớm có mặt trên làn sóng của Ðài phát thanh Pháp-Á từ đầu với ban nhạc Sầm Giang của anh. Hầu hết ca sĩ nổi tiếng thời đó như Minh Diệu, Tâm Vấn, Bạch Yến, Duy Trác, Ngọc Sương, Ngọc Hà, Linh Sơn; với các nhạc sĩ Võ Ðức Thu, Khánh Băng, Nghiêm Phú Phi cùng các ban Tùng Lâm, ban Thăng Long... đều được anh mời cộng tác.
Quái kiệt Trần Văn Trạch người nghệ sĩ tạo được ấn tượng riêng cho cá nhơn và là người tạo ra nhiều loại hình trình diễn, loại hình tổ chức mới cho nền nghệ thuật ca nhạc, sân khâu Việt Nam.
http://files.myopera.com/diemxuacafe/albums/621130/Thanh%20Th%C3%BAy,%20Tr%C3%BAc%20Mai,%20Thanh%20Lan,%20Nguy%E1%BB%85n%20Long,%20Tr%E1%BA%A7n%20V%C4%83n%20Tr%E1%BA%A1ch,%20Xu%C3%A2n%20Thu,%20NS%20L%C3%AA%20V%C4%83n%20Thi%E1%BB%87n,%20Kim%20Tuy%E1%BA%BFn,%20L%C6%B0u%20H%E1%BB%93ng..jpg
Cái còn và cái mất của người nghệ sĩ

“Trên đường ra phi trường Tân Sơn Nhứt tôi nhìn thấy vài quầy bán vé số kiến thiết để một băng tang trên đó ghi một dòng chữ ‘Trần Văn Trạch đã từ trần’, để tưởng nhớ một quái kiệt trong làng tân nhạc miền Nam lừng danh với bài hát “Xổ số kiến thiết quốc gia” trước đây. Trần Văn Trạch mất ngày 10 Tháng Tư năm 1994 tai bịnh viện Tenon Quận 20 Paris, nước Pháp, hưởng thọ 70 tuổi, vì bịnh ung thư gang*” (theo Hồi Ký Trần Văn Khê, nhà xuất bản Trẻ, 2001)
Năm 1977 Trần Văn Trạch sang Pháp định cư như bao người Việt Nam thời bấy giờ* Tại Pháp Anh phụ trách chương trình văn nghệ cho một nhà hàng, rồi xoay sở vào làm cho văn phòng luật sư của người Việt Nam. Ðoàn tụ với vợ con năm 1980, rồi vợ chồng góp nhặt vốn mở nhà hàng bán thức ăn Việt Nam trong siêu thị Pháp với sự giúp đỡ của thân nhân và bằng hữu.
Không biết do bạn bè rủ rê hay do “cái nghiệp” đưa đẫy Trần Văn Trạch qua Mỹ. Tại Mỹ với những bài “Xổ số kiến thiết quốc gia”, “Chuyến xe lửa mùng năm”, “Cái tê-lê-phôn”... làm cho anh được sống lại và đồng hương của anh như được sống lại với bao kỷ niêm vô cùng đẹp ngày xưa***
Năm 1994 trong buổi tập dợt mừng thọ 70 tuổi, anh bị đột ngụy, được bạn bè đưa về Pháp để diều tri.
Anh vĩnh viễn ra đi ngày mùng 10 Tháng Tư năm 1994*
Cuộc đời nghệ sĩ Trần Văn Trạch gắng chặt với cái tên Sầm Giang nơi anh sanh ra, có phải tại vì Sầm Giang là Rạch Gầm, con sông gợi hứng cho anh sáng tác?
Anh không để lại chiến công nên không có tượng đồng bia đá. Anh chỉ để lại tiếng khóc và niềm tiếc thương của bao người ái mộ.
Như câu nói của danh nhân nào đó: “Khi mới chào đời, ta cất tiếng khóc trong khi mọi người thân chung quanh tươi cười. Ta hãy sống như thế nào để khi từ giã vĩnh viễn cõi đời, mọi người khóc còn mình thì mỉm cười ra đi.”
Ðó chính là cái còn và cái mất của Trần Văn Trạch cũng như bao nghệ sĩ tài danh vậy.
Tác Giả: Trần Văn Chi

No comments:

Post a Comment