Thursday, October 6, 2011

Ngôn ngữ của các loài hoa(2)

Ý nghĩa hoa Cát tường

Cát tường - một loài hoa mang cái tên rất tiểu thư. Hoa không rực rỡ nhưng hoa toát ra vẻ đẹp ngọt ngào, đằm thắm và quý phái. Cát tường là giống hoa được người Nhật Bản nói riêng và Á Đông nói chung rất ưa chuộng, vì cát tường có ý nghĩa là “may mắn”.

Một loài hoa mềm mỏng như lụa, sắc hoa dịu dàng nhưng cũng rất da dạng: trắng, hồng, tím, đỏ... Nhìn những bông Lan tường luôn khiến người ta nghĩ đến vẻ đẹp dịu dàng e ấp của những thiếu nữ mới lớn. Tuy có vẻ đẹp gợi cho ta sự mỏng manh nhưng Lan tường lại là loài hoa vươn lên mạnh mẽ, có như thế nó mới chống chọi được thời tiết tháng 6.

Lan tường cũng là một loài hoa thể hiện cho tình yêu, không mãnh liệt như hoa hồng, Tình yêu thể hiện qua Lan tường mềm mỏng, nhẹ nhàng, tinh tế... Màu hồng cũng là màu tượng trưng cho tình yêu

Hoa hồng ra đời từ đố kỵ

Thời đế chế La Mã, có một thiếu nữ hết sức xinh đẹp tên là Rhodanthe. Vẻ đẹp của nàng làm say đắm không biết bao nhiêu chàng trai. Hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, họ lũ lượt kéo đến xin cầu hôn với nàng. Mệt mỏi vì bị theo đuổi, Rhodanthe buộc phải chạy trốn những kẻ si tình. Nàng bí mật đến ở nhờ trong túp lều của một người bạn gái tên là Diana.

Thật không may cho nàng, nhan sắc của Rhodanthe khiến Diana lại nổi lòng ghen tỵ. Và khi những người theo đuổi phát hiện ra túp lều, phá cửa để gặp Rhodanthe xinh đẹp thì người bạn trở nên vô cùng tức giận.

Thay vì dùng phép màu giúp bạn, Diana đã biến Rhodanthe thành một bông hoa hồng và những kẻ theo đuổi nàng thành những cái gai. Nhưng ngay cả khi bị hóa kiếp thành hoa, và phải mang bên mình những chiếc gai gớm ghiếc, hoa hồng vẫn còn nguyên sự quyến rũ. Cái tên hoa hồng (Rose) bắt đầu từ chính cái tên của nàng Rhodanthe xinh đẹp đó.

Hoa bồ công anh trong gió

Hoa bồ công anh là những bông hoa dại, mọc thấp lè tè trong trảng cỏ bên vệ đường. Hoa hình cầu, màu trắng, phát tán bằng hạt nhờ gió. Những bông hoa không có gì đặc biệt đối với một số đông người này, nhưng lại vô cùng đặc biệt với số đông những người còn lại.
Tôi thì nằm cả trong 2 đám đông đó- ham dzui mà, chỗ nào đông là nhào dzô.
Sở dĩ tôi thuộc về cả 2 đám đông đó là, thứ nhất, tôi chả thấy bồ công anh có gì đặc biệt cả, cái hoa trắng ngà, chả biết có thể gọi là những cánh hoa không nữa, nhưng hình dáng là những sợi nhỏ xíu như tơ, tận cùng bằng những hạt nhỏ màu nâu xám, ghim xung quanh một "cục" nhụy to tướng. Màu sắc lại không hấp dẫn, hoa thì vô cùng mong manh, không thể ngắm được lâu, vì chỉ cần một cơn gió nhẹ thổi qua là ...bùm...mất tiêu.
Tóm lại là không đẹp tí nào.

Thế nhưng, khi nhìn theo một khía cạnh khác, tôi lại thuộc về đám đông thứ hai, bồ công anh rất đỗi đặc biệt và "dễ thương"- sở dĩ dễ thương để trong ngoặc kép là vì một lý do mà sẽ kể ngay trong phần cuối của entry.
Bồ công anh- một cái tên ngộ ngĩnh, khó hình dung hơn những cái tên hồng, lan , huệ hay cúc...Cho nên cái tên đó lại ghi lại dấu ấn hơn và dễ nhớ hơn. Dù bồ công anh nhỏ nhắn, mọc khiêm tốn bên vệ đường, nhưng cái bông hoa đó khi nở lại vươn cao cái cổ dài ngoằn như một con hươu cao cổ vượt lên trên đầu những cọng cỏ chung quanh như để hóng hớt chuyện thiên hạ, và cũng để khiêm tốn nói một câu, tui nè nghen, bồ công anh nè nghen.
Những bông hoa nhỏ bé ấy không sặc sỡ, nhưng lại phát tán bằng hạt nên chúng chẳng bao giờ đơn lẻ cả. Không bao giờ ta thấy 1 cây bồ công anh- một hoa bồ công anh, mà là cả tấm thảm bồ công anh ai đó trải trên nền cỏ xanh vào một ngày xuân nắng chan hòa.

Bồ công anh mảnh khảnh hay e thẹn, hãy cúi mình thì thẩm thật khẽ nếu muốn nhắn gửi điều gì đó vào những cánh hoa, bởi nếu không, cánh hoa sẽ sợ hãi và tan biến. Thế nhưng trong cái mong manh đó luôn ấp ủ trong mình những hoài bão lớn, chỉ chực 1 cơn gió là vươn mình bay lên không trung rộng bao la.
Đứng giữa không gian, giang rộng đôi tay- như phim Titanic ấy, ngước mặt lên bầu trời xanh trong điểm vài cụm mây trắng trong ánh nắng dịu dàng của mùa xuân, kiên nhẫn tí xíu thôi ta sẽ thấy điều kỳ diệu , một cơn gió nhẹ thổi qua và trong không gian tràn ngập những cánh hoa bồ công anh trắng xóa, những cánh hoa xoay tít mù hay xoay nhè nhẹ, bay thâm thấp hay bay cao tít.
Cứ như thế tạo ra một cảnh tượng mỹ miều, thơ mộng của mùa xuân.

Tiếc là tôi chỉ làm điều đó có 1 lần duy nhất, một lần và mãi mãi, một lần đánh dấu cho nguyên tháng thê thảm bị cái lỗ mũi hành hạ vì DỊ ỨNG. Cho nên đó là lý do chữ dễ thương phải để trong ngoặc kép và bồ công anh trở nên đặc biệt như thế đối với tôi và những người không yêu bồ công anh vì lý do tương tự.

Ôi, mùa xuân, mùa của những tấm thảm bồ công anh, của gió nhẹ,... và của việc không được quên uống 1 viên thuốc kháng dị ứng mỗi buổi sáng trước khi ra khỏi nhà.

Hoa huệ chuông - hoa của may mắn, của tháng 5

Lần đầu tiên tôi trông thấy những bông hoa đáng yêu này là hôm thứ hai- khi có 1 bệnh nhân xuất viện, gia đình họ tặng cho kíp trực hôm đó một bó những bông hoa nhỏ xinh gói giản dị bằng tờ giấy bạc- loại giấy dùng để gói thức ăn khi nướng.

Sau đó mới biết "cô nàng" mang tên Muguet- hoa huệ chuông, hình dáng nhỏ xíu, xinh xắn bằng hạt đậu phộng gồm 6 cánh nhỏ trắng tinh khôi, cánh hoa hơi vảnh ra ngoài như để làm duyên. Tâm hoa màu vàng nhạt gồm 6 sợi nhị mảnh như tơ. Hoa chỉ nở hàm tiếu nhìn thật e lệ, đã vậy cô nàng còn e thẹn cúi mặt làm cho ta có cảm giác của một tình yêu thầm kín, bởi khó mà nhìn thấy được vào tận trong tim hoa- nói theo cách nói của Quỳnh Như- chủ Vườn Hoa.

Thế nhưng trong nét e ấp, ngại ngần đó là một sự kiêu sa quyến rũ đến chết người khi gần 20 bông hoa chen nhau lúc liễu đặc nghẹt cành, nhìn cứ như những chiếc chuông gió đung đưa vung vẩy, đưa mùi hương nồng nàn, từa tựa như hương nguyệt quế đầu tường nhà tôi ướp cho cả không gian. Những cành hoa nhỏ xinh, mảnh khảnh chỉ dài độ 20cm, được che chắn bằng những chiếc lá xanh mướt, mượt mà to bản.
Lật bách khoa toàn thư ra, sẽ thấy huệ chuông thuộc thân cỏ, thường mọc tự nhiên trong những vùng hơi ấm áp, có bóng râm và độ ẩm tương đối. Cây nở hoa vào tầm cuối tháng 4 đầu tháng 5, kéo dài cho đến khoảng giữa tháng 7. Khi hoa nở sẽ nhuộm hương thơm ngát cả một cánh rừng (Chính thế mà nó còn được dùng để làm xà phòng- loại hương này không thích hợp để làm nước hoa, chẳng biết vì lý do gì, chắc là do cấu trúc hóa học thì phải)

Sau đó sẽ đậu trái cho đến giữa mùa thu. Kích thước trái huệ chuông cũng nhỏ như hoa, mọng nước, màu từ cam cho đến khi chín thì chuyển sang đỏ, da bóng láng, nhìn rất ngon mắt- chỉ ngon mắt thôi vì trái rất độc, có thể gây chết người bởi tác dụng lên hệ tim mạch làm cho ngừng tim và tăng vọt huyết áp. Tuy nhiên với lượng thích hợp, trái huệ chuông có thể dùng làm thuốc, tác dụng tương tự như digitalis- một loại dùng để kích thích tim trong những trường hợp cấp cứu ngừng tim.

Từ thời phục hưng, khoảng năm 1556, triều vua Charles thứ IX, huệ chuông là tượng trưng cho sự may mắn và do đó được dùng để tặng cho người thân như những lời chúc may mắn tốt đẹp nhất. Sau đó, từ năm 1889, cùng với sự ra đời của ngày 1/5, hoa được kết hợp tặng trong ngày này, bởi đây là thời điềm những bông hoa huệ chuông nở rộ.
Tuy nhiên có một số vùng quan niệm rằng chỉ những cành huệ chuông có 13 bông mới thật mang lại may mắn. Điều này chắc xuất phát từ tên gọi của những kỷ niệm ngày cưới. Vì kỷ niệm 13 năm ngày cưới thì được gọi là đám cưới huệ chuông!!! Cái tên nghe ngộ nghĩnh và dễ thương làm sao.

Ngày nay, khi một cô gái tình cờ nhận được, dù chỉ một cành huệ chuông, thì điều đó không chỉ dừng lại ở lời chúc may mắn trong dịp lễ 1/5, mà còn là lời khen ngợi cho nét duyên dáng, cho vẻ đẹp kín đáo, đằm thắm ở cô.

Và chắc cũng vì những nét dễ thương đó mà người Phần Lan đã nhanh tay nhanh chân chiếm lấy loài hoa này làm hình tượng của quốc gia.

Hoa lưu ly - xin đừng quên em

Chuyện kể rằng ngày xửa ngày xưa, vào một buổi sáng mùa xuân có một đôi tình nhân dắt nhau dạo chơi bên bờ một con suối có những bông hoa cánh tím mỏng manh rất đẹp mọc thành từng mảng dày. Tất cả các bông hoa đều vươn mình về phía dòng nước, như thể muốn soi xem chúng kiều diễm đến mức độ nào. Cô gái thấy chúng đẹp và lạ quá bèn nhoài người ra định hái mấy nhành tặng người yêu, lúc đó đang mải ngắm dòng thác đổ trên cao.

Không may cô bị trượt chân ngã, và chỉ trong nháy mắt, dòng suối đã cuốn mất bóng cô, chỉ còn để lại một nhành hoa gãy với lời vọng lại: Xin đừng quên em. Từ đó, lời dặn của cô gái trở thành tên riêng của loài hoa này.

Hoa tulip - cuộc chạy trốn bất thành

Trong một lần đi đưa cơm cho cha, Tulip, con gái út của một người chăn cừu đã bị tên điền chủ bắt cóc mang về bắt làm thợ dệt thảm cho hắn. Suốt ngày này qua tháng khác, cô bị nhốt trong một gian nhà tối om, quanh năm không nhìn thấy chút ánh nắng mặt trời. Mùa hạ tối tăm và tuyệt vọng đã qua. Rồi mùa thu buồn bã và mùa đông lạnh lẽo cũng hết. Khi xuân đến thì nỗi buồn nhớ cha mẹ, vườn nhà, núi non bỗng dày vò Tulip khôn nguôi, khiến nàng phải đi đến quyết định: hoặc là chết hoặc là trở về với tự do.

Thế rồi một bữa nọ, kế hoạch bỏ trốn của nàng cũng đã được một số cô gái cùng cảnh ngộ giúp sức. Vượt qua cửa sổ với vô số vết thương từ những mảnh chai, kính, bàn chân rớm máu của Tulip chạy một mạch về phía sườn núi. Nhưng vó ngựa của tên điền chủ độc ác đuổi riết phía sau đã không cho nàng thoát. Không chịu bị bắt một lần nữa, khi kiệt sức Tulip liền nhắm mắt lao mình vào chân ngựa. Con vật bị gãy chân, tên điền chủ cũng bị thương còn nàng thì người đẫm máu. Tulip gượng đứng lên nhưng không còn sức. Nàng lảo đảo vài bước rồi ngã sấp xuống tuyết.

Sáng hôm sau từ chỗ Tulip nằm hiện ra một cảnh tượng kỳ lạ: trên bãi tuyết trắng lạnh cơ man những bông hoa đỏ bừng nở. Và bông hoa mang tên nàng Tulip ra đời từ đó, góp thêm một vẻ đẹp quyến rũ cho đời.

Hoa quỳnh mùi hương khiêm nhường

Tùy Dạng Đế là ông vua vô đạo của Trung Quốc. Một đêm, ông vua này nằm mơ thấy một cây trổ hoa rất đẹp. Cũng đúng lúc đó, trước cửa ngôi chùa cổ kính Dương Ly tại thành Lạc Dương, tỉnh Dương Châu, có một luồng sáng rực lên như lửa cháy, nhưng không gây mùi khét mà tỏa hương thơm sực nức.

Sáng hôm sau, dân chúng bàng hoàng khi thấy gần giếng nước trong sân chùa mọc lên một cây hoa lạ, trên ngọn trổ một đóa ngũ sắc với 18 cánh lớn ở phía trên, 24 cánh nhỏ ở phía dưới. Mùi hương của loài hoa này thơm ngào ngạt bay tỏa khắp nơi, lan xa đến ngàn dặm. Dân chúng đặt tên là hoa quỳnh.

Được tin hoa đẹp, Tùy Dạng Đế liền quyết định tuần du Dương Châu để thưởng ngoạn. Nhưng khốn nỗi khi thuyền rồng của nhà vua chưa cập bến Dương Châu thì cũng là lúc bông hoa quỳnh đẹp kia vừa độ rụng cánh sau trận mưa lớn. Tùy Dạng Đế xa giá đến xem hoa song chỉ còn thấy trơ vơ cánh hoa úa rũ, tan tác. Tức giận, nhà vua ra lệnh nhổ bỏ, vứt đi. Từ đó loài hoa quỳnh không nở ngày và không thơm cho khắp thế gian nữa. Nó chỉ khiêm nhường nở về đêm và chỉ dành cho những tâm hồn thanh tao biết đợi chờ.

Ý nghĩa hoa mộc lan

Trên đất Nhật, có nàng Keiko mồ côi mưu sinh bằng nghề làm hoa giấy. Nàng làm việc suốt từ sáng đến tối mịt, hoa bán cũng được nhiều nhưng lãi chẳng đáng là bao. Thế nên đã đến tuổi cập kề mà nàng vẫn chẳng thể tích cóp đủ để mua nổi cho mình một bộ kimono làm dáng. Rồi đến một ngày, nàng biết được bí quyết hoa giấy thành hoa thật nhờ vào việc tiếp tế cho chúng những giọt máu của chính mình.

Hoa của Keiko trở nên đẹp một cách kỳ lạ và nàng làm không kịp bán. Keiko giàu lên nhanh chóng. Tiền đã giúp cô thay đổi thành một thiếu nữ xinh đẹp, điệu đà. Tiền đã đưa cô đến với vũ hội, gặp được người cô yêu. Người yêu của Keiko muốn rằng cô sẽ kiếm đủ tiền để mua cho cả hai một ngôi biệt thự. Để thực hiện ước mơ này, hoa tươi cần được bán nhiều hơn, Keiko bắt đầu lao động cật lực hơn và tất nhiên máu ở đầu ngón tay cô cũng phải chích nhiều hơn.

Rồi Keiko cũng mua được ngôi nhà nhưng rất nhỏ nên chẳng làm chồng nàng thỏa nguyện. Hoa tươi lại buộc phải bán nhiều hơn nữa. Nhiều mãi, nhiều mãi cho đến một ngày cuối cùng của nàng cũng bị vắt kiệt trước cái giá quá hời của một vị khách Pháp. Cây hoa với một bông đỏ thắm này đã biến giấc mơ sống trong biệt thự của người chồng ích kỷ thành sự thực, nhưng nó cũng lấy đi hơi thở cuối cùng của Keiko. Còn vị khách đặc biệt yêu thích hoa tươi của Keiko thì hân hoan mang nó về nước và trìu mến gọi nó là mộc lan. Từ đó, loài người cùng lúc có thêm một huyền thoại buồn và một loài hoa quý.

Ý nghĩa hoa phong lan

Ở một vùng đất xa xôi nọ, bộ lạc Aruaki may mắn có được khả năng sai khiến loài chim Orchid chuyên đẻ những quả trứng bằng vàng. Mỗi lần chim đẻ trứng là một lần dân làng lại mở hội. Trong ngày vui đó, sau khi đón nhận món quà từ chim Orchid, đích thân thủ lĩnh người Aruaki sẽ chuyển tổ chim thần sang một cây khác. Các cô gái trong làng sẽ thay nhau phục trên cành của cái cây này để bảo vệ tổ chim trong khi các chàng trai giương cao giáo mác ngăn chặn các bộ lạc khác đến cướp trứng và chim vàng.

Cuộc sống của họ sẽ thật thanh bình và sung túc với những quả trứng vàng nếu một ngày kia một người con gái trong làng không đem lòng yêu thương một chàng trai lạ. Cô gái đã vô tình tiết lộ bí mật kho báu bộ lạc mình. Và khi nòng súng của kẻ xâm chiếm kho báu bắt đầu hướng thẳng tới nơi con chim đẻ trứng vàng trú ngự thì cũng là lúc tất cả các cô gái Aruaki đồng loạt leo lên tất cả các cây, ôm chặt các cành để đánh lạc hướng kẻ thù.

Những kẻ khát vàng điên cuồng nổ súng. Các cô gái vẫn kiên trung ôm chặt những cành cây mặc máu chảy, mặc con tim ngừng đập. Cái chết của họ đã giữ lại được báu vật cho làng. Trong ngày, tưởng nhớ họ, khi lời nói “các con xứng đáng được ban thưởng” cất lên thì cũng là lúc từ cành cây, nơi các cô gái trút hơi thở cuối cùng, một thứ hoa ngát hương thơm rực rỡ tỏa rạng. Người đời nay gọi loài hoa đó là hoa phong lan.

Ý nghĩa hoa Violet

Một số người xem hoa Violet là biểu tượng của "tính khiêm tốn", với nhiều người khác nó lại mang ý nghĩa "Sự chung thủy". Bông hoa bé nhỏ, đầy rụt rè này giữ một vị trí rất cao trong nghệ thuật bày tỏ bằng hoa. Người Hy lạp chọn bông hoa có hương thơm nhẹ nhàng cổ điển này để làm bông hoa của thần Aphrodite, nữ thần của tình yêu và sắc đẹp. Dĩ nhiên, Violet được gắn liền với "tính khiêm tốn" vì một cô gắi trẻ đẹp nhưng e lệ thường được gọi là "Shrinking Violet" (Người rụt rè, hay xấu hổ)

Napoléon Bonaparte rất thích Violet. Khi bị đày đến Elba, ngài đã chọn bông hoa bé nhỏ này như là một ám hiệu để liên lạc với thuộc cấp của mình. Nếu một ngôi nhà của người Pháp có treo một bó hoa nhỏ Violet, hay một người Pháp có mang bên mình hoa Violet, thì điều đó có nghĩa họ chứng tỏ cho người khác biết mình là người ủng hộ Napoleon.

Đối với các nhà thơ nổi tiếng, từ Homer đến Tennson, vẻ đẹp và hương thơm của Violet đã là cảm xúc của nhiều tứ thơ hay:

Hoa Violet thủy chung
Là niềm yêu dấu của từng lứa đôi
Trái tim em, cõi tình tôi
Người ơi xin hãy tuyệt vời như hoa
- Khuyết danh -

Violet loài hoa yêu quí
Đẹp dịu dàng như đôi mắt em
Bằng ánh nhình thật thà chung thủy
Xóa tan lòng ngờ vực nhỏ nhen.
- ELIZABETH BARRETT BRIWNING -

Hương của hoa và màu xanh của lá
Đã tràn vào ngự trị lòng tôi
Violet tặng món quà vô giá
Những phút giây của hạnh phúc tuyệt vời!
- AFRED, LORD, TENNYSON -

Chúng ta là Violet xanh tươi
Với sức sống tự ngọt ngào dâng hiến
Dẫu trong bóng râm đầy rêu lười biếng
Chúng ta vẫn hướng về màu đất tươi non
Tình yêu thắm trên mi với một nụ hôn
Là hơi thở, là màu hoa xanh bất diện
- LEIGH HUNT -

Hoa Ban - Hoa của tình yêu vùng Tây Bắc

Trăm năm ngắm ban nở còn ngắm mãi
Mỗi mùa bạn lại thêm trẻ ra, không già...

(Tình ca Thái)

Hoa ban làm đẹp mùa xuân, mùa hội hái hoa theo phong tục Thái trắng. Xưa kia Hội Hoa Ban chính là ngày hội lớn nhất của xứ Thái, ngày hội của tình yêu, của tuổi trẻ...

Hoa ban là một trong những sản vật của núi rừng Tây Bắc. Hàng nghìn đời nay, hoa ban đã rất tự nhiên đi vào đời sống văn hóa - tâm linh của nhân dân Tây Bắc, nhất là bà con thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Với đồng bào Thái, có lẽ không ai là không trải qua tuổi thanh xuân, với những trò chơi thú vị hái hoa ban và hát giao duyên. Trong ký ức của người đi xa, cùng với nỗi nhớ mường nhớ bản, nhớ người thân yêu, còn có nỗi nhớ da diết hoa ban vào mỗi độ xuân về.
Hoa ban xuất hiện trong các trường ca, các truyền thuyết và các câu chuyện kể bên bếp lửa hằng đêm của người dân Tây Bắc. Dã sử dân gian kể rằng xưa hoa ban chỉ một màu trắng. Từ khi nàng Mai con gái của Lang Cum nổi tiếng khắp chín châu mười Mường chối bỏ ngôi bà Nàng, lấy chồng nhà dân mọn rồi theo quân ông Hoàng đánh giặc dữ. Khi ông Hoàng thua lớn ở Mạnh Thiên, vợ chồng nàng Mai tuẫn tiết theo chủ tướng dưới gốc một cây ban cội. Máu của hai người làm mùa xuân năm ấy cây ban cội ra màu hoa ban đỏ. Rồi gió đưa nhị hoa rải khắp vùng tạo thành giống ban hồng ngày nay.

Đối với người dân vùng Tây Bắc cả hai thứ hoa ban đều là món "hoa rau" quý. Quà tết bố vợ ở Mường Tè, Pắc Luông... bên cạnh bánh chưng, bánh đuôi én, bánh trứng kiến (loại bánh làm bằng bột nếp trộn với trứng kiến trên rừng) bao giờ cũng đặt cùng với “hoa rau" mới tỏ rõ sự trân trọng thanh cao.

Hoa ban cùng họ với hoa bướm, không có hương nhưng có vị, mỗi hoa có 4 - 5 cánh, nhị mầu hồng, gân mầu tím. Nhị hoa mang vị ngọt, quyến rũ nhiều loài côn trùng, nhất là các loài lấy mật như ong, bướm. Tên gọi hoa ban theo tiếng của dân tộc Thái, có nghĩa là hoa ngọt, đó vừa là danh từ vừa là tính từ. Hoa ban nở rộ nhất và đẹp nhất là đầu tháng ba, đến đầu tháng tư thì hoa bắt đầu tàn. Lúc nở rộ, trông cây ban như chỉ có hoa mà không có lá. Bà con vùng cao coi hoa ban như thể nông lịch của mình, họ phát nương vào lúc hoa nở và tra hạt vào lúc hoa tàn. Cứ năm nào hoa ban nở đều khắp cả suối, cả đồi, cả rừng là năm ấy trời không mưa dai quá mà không nắng gắt quá! Và năm đó người ta ít lo lắng về nắng hạn cũng như lũ lụt.

Hàng năm, cứ vào mùa hoa ban nở, người Thái ở huyện Mai Châu (Hòa Bình) lại mở Hội Xên bản, xên mường (còn gọi là hội hoa ban) để cầu phúc và gửi gắm vào đó những ước vọng lớn lao về một cuộc sống bình yên, no ấm nơi bản mường, đồng thời cũng là dịp thi tài, vui chơi, trai gái tìm hiểu, tâm tình qua tiếng hát, tiếng đàn. Truyền thuyết của người Thái kể rằng: Thuở ấy, có một chàng trai tên là Khum đem lòng yêu cô gái tên là Ban. Khum vừa giỏi làm nương, lại có tài săn bắn. Ban thì khéo tay dệt vải lại vừa có giọng hát làm say đắm nhiều chàng trai. Thế nhưng, cha nàng Ban vì ham giàu nên đã đem gả nàng cho con trai nhà tạo mường, vốn là một thanh niên lười nhác lại có tật gù lưng.

Trong bước đường cùng, nàng Ban đã chạy sang bản của Khum để cầu cứu. Nhưng chẳng may khi đến nhà Khum, thì được tin chàng đã theo cha đi mua trâu ở bản xa. Nàng bèn lấy chiếc khăn piêu của mình, buộc vào nơi cầu thang nhà người yêu, rồi bươn bả đi tìm chàng. Nàng đi hết núi này, rừng khác, gọi tên người yêu đến khản cả giọng, nhưng chàng ở xa nào có nghe thấy. Cuối cùng kiệt sức, nàng ngã gục sau khi vượt qua một dãy núi cao. Nơi nàng nằm xuống, sau đó mọc lên một cây hoa mang búp trắng như búp tay người con gái. Và chẳng bao lâu, loài hoa ấy mọc lan ra khắp núi rừng Tây Bắc, và hàng năm cứ mỗi độ xuân về, hoa nở trắng như bông. Người ta đặt tên loài hoa đó là hoa ban.

Chàng Khum, khi về đến nhà, thấy chiếc khăn piêu của người yêu vắt nơi cầu thang, biết là có chuyện chẳng lành, bèn vội vã đi tìm. Đi mãi hết mường này, bản khác, cuối cùng, chàng kiệt sức, ngã xuống. Sau khi chết, chàng hóa thành con chim sống lẻ loi trong rừng, và cứ đến mùa hoa ban nở, lại hót vang như tiếng gọi người yêu tha thiết tự năm nào.

Hiện nay, trong cộng đồng các dân tộc Tây Bắc đang tồn tại đồng thời nhiều "típ" truyện nữa, cùng có nội dung giải thích nguồn gốc hoa ban. Cách dẫn dắt và tên nhân vật của các truyện tuy có khác nhau, nhưng đều giống nhau ở chỗ dùng hoa ban làm biểu tượng cho tấm lòng thủy chung trong tình yêu đôi lứa.

Do yêu hoa, con trai con gái Tây Bắc lặn lội trong những cánh rừng mờ sương ngắm nhìn những bông hoa sáng rực như hạt ngọc, họ hái hoa cài lên tóc, họ còn đem hoa về biếu cho người thân quen nhất để mở tiệc ăn mừng mùa hoa ban nở.

Mùa hoa ban, các bà các chị lúc đi nương về thường mang theo một ít hoa ban, không phải để chơi mà là để ăn. Hoa ban nấu canh, làm nộm, đồ lên chấm với dấm ớt măng chua... đó là thuộc tính riêng của hoa ban mà nhiều loài hoa khác không có được. Hoa ban còn là vị thuốc quý trị chứng ho khan hoặc viêm họng rất tốt. Có người dùng lá và búp non của cây ban sao vàng hạ thổ, chữa bệnh kiết lỵ tương đối hiệu quả.

Trong mâm cỗ đầu năm, người Thái cũng hay cài những cánh hoa đẹp trên bàn thờ như thể biết ơn những bậc sinh thành đã qua đời. Nếu là con trai hay con gái họ kể cho nhau nghe câu chuyện tình trong trắng và thương tâm, thủy chung của chàng Khum và nàng Ban xa xưa rồi cùng rủ nhau ra rừng tìm những cánh hoa ban mới nở. Họ trân trọng mang về tặng cha mẹ, tặng người yêu, vì người Thái cho rằng, hoa ban trong trắng vừa là biểu tượng của đạo hiếu đối với cha mẹ, vừa là biểu tượng của tình yêu trai gái.

Ý nghĩa hoa cúc

Tên tiếng Việt - Tên tiếng Anh - Tên tiếng Pháp - Tên Latin - Ý nghĩa
Innocence - Loyal love - I’ll never tell - Purity – Beauty
Hoa cúc kép : Daisy double - Paquerette double - Bellis hortensis - Affection
Hoa cúc đơn : Daisy single - Paquerette simple - Bellis simple - Innocence
Hoa cúc dại : Daisy wild - Marguerite des près - Bellis perennis - Do you love me ?

Cúc dại là loài hoa nhỏ thường mọc hoang, có những cánh trắng ngần, từ giữa tỏa ra như hình nan hoa quanh một nhụy vàng tươi. Trẻ em thường thích hái hoa cúc dại để kết thành bó hay xâu thành chuỗi. Ở Anh, cúc dại còn được gọi là Baby’s pet hay Bairnwort có nghĩa là hoa của trẻ em.

Tên tiếng Anh - Daisy - của loài hoa này bắt nguồn từ một từ Saxon, day’s eye, có nghĩa là “con mắt ban ngày”, có lẽ vì hoa nở cùng với ánh sáng ban mai rồi khép lại những cánh trắng khi chiều xuống.

Theo thần thoại La Mã, bông hoa nhỏ bé này có nguồn gốc từ Belides, một trong các nữ thần chăm sóc các khu rừng. Một hôm, khi Belides đang nhảy múa với người yêu của mình là Ephigeus, cô đã lọt vào mắt xanh của Vertumrus, vị thần cai quản các vườn cây. Để bảo vệ cô khỏi sự săn đuổi này, Flora, nữ chúa các loài hoa, đã biến cô thành một đóa hoa cúc trắng.

Còn theo truyền thuyết của người Ailen cổ, hoa cúc trắng chính là linh hồn những hài nhi đã chết khi vừa mới sinh ra. Chúa rải hoa cúc khắp núi đồi và thảo nguyên, khắp trần gian để làm vơi đi nỗi buồn của những người cha mẹ ấy. Truyền thuyết giải thích tại sao daisy mang ý nghĩa sự trong trắng - ngây thơ.

Người ta tìm thấy rất nhiều hình những bông cúc trên gốm sư Ai Cập cũng như ở những nơi khác suốt vùng Trung Đông. Người Assyria dùng hoa cúc để chữa một số bệnh về mắt. Họ cũng tin rằng, nếu bạn nghiền hoa cúc và trộn chúng với dầu rồi quét lên tóc sẽ làm cho tóc muối tiêu đen trở lại. (Assyria là một đế quốc thời cổ đại ở Tây Nam châu Á, bành trướng từ vịnh Ba Tư đến Ai Cập và vùng Tiểu Á, vào thế kỷ thứ 7 trước Công Nguyên).

Ở Việt Nam, hoa cúc được xếp vào tứ quý (Mai, Lan, Cúc, Trúc). Người thời xưa yêu hoa cúc vì nó là loài hoa : “Diệp bất ly chi, hoa vô lạc địa”. Lá hoa cúc không bao giờ rụng khỏi cành, dù đã héo quắt. Hoa cúc cũng không chịu rụng, dù héo khô vẫn bám lấy cành như người quân tử suốt đời không rời xa lý tưởng của mình. Trong quốc huy nước Nhật cũng có hình hoa cúc .

“Marguerite”-tên tiếng Pháp của hoa cúc, có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là hạt ngọc trai “pearl”. Người ta nói rằng, St. Louis đã khắc hình hoa cúc cùng với hoa diên vĩ (fleur-de-lis) và thánh giá trên chiếc nhẫn của ông. Chiếc nhẫn này, theo lời nhà vua, tượng trưng cho tất cả những gì ông yêu quý nhất : tôn giáo, nước Pháp, và vợ ông - Marguerite.

Có một câu nói xưa của người Anh bảo rằng mùa xuân vẫn chưa đến cho tới khi bạn có thể đặt bàn chân mình trên 12 bông cúc. Họ cũng cho là, nếu bạn mơ thấy hoa cúc vào mùa xuân hay mùa hè thì tốt, nhưng nếu vào mùa thu hay mùa đông thì lại là điềm chẳng lành. He loves me, he loves me not, he loves me… Nếu một cô gái nhỏ nhắm mắt lại và hái một chùm cúc dại rồi đếm thì số hoa trong chùm hoa đó sẽ là số năm còn lại trước khi cô lấy chồng. Các thiếu nữ cũng thường bói tình yêu bằng cách lần lượt bứt từng cánh của một bông cúc dại đồng thời lập đi lập lại điệp khúc :

“Chàng yêu ta, chàng không yêu ta, chàng yêu ta…”

Nếu có thể trở thành một bông hoa
Xin được hóa thân thành hoa cúc trắng
Khép nhẹ khi hoàng hôn tĩnh lặng
Và nhờ dương đánh thức lúc ban mai
Ta đón chào tia nắng sớm khoan thai
Và đón cả những long lanh nước mắt

Ý Nghĩa Hoa Mẫu Đơn

Hoa Mẫu Đơn
Thịnh vượng - Hạnh phúc

Tên tiếng Việt : Hoa Mẫu Đơn
Tên Trung Quốc : Sho-Yo (hay Shao-Yao)
Tên tiếng Anh : Peony
Tên tiếng Pháp : Pivoine officinale
Tên Latin : Paeonia officinalis

Tên khoa học : Paeonia lactiflora
Họ : Paeoniaceae

Ý nghĩa - Biểu tượng : Mẫu đơn là loài hoa vương giả sang trọng ở Trung Quốc biểu tượng cho sự giàu có, thịnh vượng, sắc đẹp. Ở Nhật Bản, Mẫu Đơn tượng trưng cho cuộc hôn nhân hạnh phúc với nhiều con cháu. Còn trong ngôn ngữ loài hoa phương Tây, nhờ những đặc tính y học tuyệt vời, Mẫu đơn còn được xem như một loại dược thảo chữa bệnh và mang ý nghĩa "sự e lệ".

Mẫu đơn có nguồn gốc từ Trung Quốc và Tây Tạng, là một trong những cây hoa được con người biết đến từ rất sớm, cách đây đã gần 4000 năm. Khi những nhà truyền giáo đạo Phật đến Nhật Bản, họ đã đem theo kiến thức về những bông hoa Mẫu đơn này. Người Nhật luôn là một dân tộc yêu hoa, nên bông hoa đẹp mới đến nhanh chóng trở thành một phần trong văn hóa của họ. Mẫu đơn là bông hoa của Tháng Sáu ở Nhật Bản. Từ Trung Hoa và Nhật Bản, nó chu du sang tận đỉnh núi Olympus, tìm cho mình một cái tên.

Peony được đặt tên theo Paeon, một thầy thuốc học trò của Thần Y Asclepius trong thần thoại Hy Lạp.Ông được nữ thần Leto (mẹ của thần Mặt Trời Apollo) mách bảo cách lấy được chiếc rễ thần kỳ mọc trên đỉnh Olympus mà nó có thể xoa dịu được cơn đau của người phụ nữ khi sanh nở. Asclepius trở nên ghen tức với Paeon. Để cứu Paeon thoát chết vì sự phẫn nộ của Asclepius, thần Zeus đã biến ông thành một bông hoa Mẫu đơn.

Ngày nay, Mẫu đơn là biểu tượng của sự thịnh vượng, phồn vinh. Bạn có biết rằng, xa xưa, loài hoa vương giả này chỉ thuộc sở hữu của giới quý tộc giàu có ở Trung Quốc. Bông hoa quốc sắc thiên hương này từng rất được ưu ái qua nhiều triều đại, với mệnh danh "Chúa của muôn hoa". Nhất là giai đoạn từ thế kỷ 5 đến thế kỷ 13 sau Công Nguyên. Mẫu đơn được ca tụng trong văn thơ, nhạc và tranh vẽ lúc bấy giờ.

Thành phố Luoyang (Giang Nam ?) - Trung Quốc, nổi tiếng về nhiều chủng loại Mẫu đơn phong phú, rực rỡ sắc màu nhờ thời tiết ôn hòa và đất đai thích hợp. Ngày 21/9/1982, người dân Luoyang chính thức chọn Mẫu đơn là biểu tượng hoa của thành phố mình. Tháng 4 là tháng của Hoa Mẫu Đơn, thật sự là mùa vui cho những người yêu hoa ở xứ sở này. Hoa Mẫu đơn nở đẹp lộng lẫy, hương thơm, sắc màu hoa hiện diện khắp nơi trong thành phố. Và lễ hội Mẫu đơn Louyang - Luoyang Peony Festival được tổ chức từ 15/4 - 25/4 hằng năm là một lễ hội văn hóa lớn, niềm tự hào của cư dân Luoyang. Suốt mùa lễ hội, tưng bừng những đèn lồng sặc sỡ, các hoạt động kinh tế cũng khá nhộn nhịp, không khí vui tươi và gây một ấn tượng sâu sắc cho tất cả các du khách trên khắp thế giới đến chơi. Ở Luoyang có những loài Mẫu đơn quý hiếm, màu sắc thay đổi lạ, hay cả những bông hoa lớn đến hàng trăm cánh, sống đã hàng trăm tuổi.

Võ Hậu ra lệnh cho muôn hoa trong vườn ngự uyển nở cùng lúc trong đêm bằng một bài thơ tứ tuyệt khắc ngay cửa vườn. Linh ứng thay, tất cả trăm hoa phụng mệnh ! Chỉ có một cây Mẫu đơn vẫn khẳng khiu trơ lá. Thế là Mẫu đơn bị đày khỏi kinh đô, xuống vùng ngoại ô Giang Nam. Kỳ diệu thay ! Vừa đến đó, bông hoa bừng nở đẹp tuyệt vời ! Võ Hậu rất tức giận, ra lệnh đốt nó đi, nhưng thậm chí sau khi đốt, Mẫu đơn vẫn nở hoa. Từ truyền thuyết này, hoa Mẫu đơn càng được yêu quý hơn trong dân gian.Người đương thời thấy vậy dệt bài Phú Ngọc Lâu Xuân Tứ nhằm thương hại và tán thán vẻ đẹp, sự khẳng khái của hoa Mẫu Đơn, thà chịu cảnh phong trần lưu lạc tự giải phóng cuộc đời chớ không làm vương giả chốn kinh đô, chịu giam mình trong vườn hoa tù hãm của bạo chúa, đem sắc đẹp hương thơm ban rải cho mọi người để được dự phần thanh cao.(Bài của chị Rain).

"Peony - the friend of physicians and the praise of cooks."
(Charlemagne - hoàng đế La Mã)

Sẽ là thiếu sót nếu không kể đến những khả năng kỳ diệu lạ thường của cây hoa mà người ta đã lưu truyền trong dân gian. Dược tính của Mẫu đơn chủ yếu ở rễ và hạt. Rễ cây có tính kháng sinh, giúp giảm đau, trị bỏng, làm giảm huyết áp, giúp trẻ mọc răng, chữa bệnh vàng da, dị ứng, thận...Hạt hoa từng được xem như một loại gia vị thông dụng. Những tập tục mê tín còn tin rằng nếu đeo một vòng cổ kết bằng hạt Mẫu đơn, bạn sẽ tránh được các bệnh như hủi, động kinh, mất trí và nó còn xua tan những cơn ác mộng, như một lá bùa hộ mạng bảo vệ người ta chống lại ma quỷ hay những thế lực của bóng đêm !

Khoảng năm 77 sau Công Nguyên, trong cuốn sách Pliny''s Natural History đã mô tả chi tiết về cây hoa và 20 bệnh chữa bằng những bộ phận của nó. Không lâu sau đó, Dioscoride cũng đã viết một luận án về những cây thảo dược, trong đó có Peony. Vì là một cây thuốc quan trọng, dược liệu Mẫu đơn được sản xuất với lượng lớn hằng năm nhằm đáp ứng nhu cầu ở Trung Quốc và thể giới.

Bạn biết không, hoa Mẫu đơn - Peony là biểu tượng hoa lần thứ tư (!) của tiểu bang Indiana - Hoa Kỳ. Quả thật là lận đận bạn nhỉ ! Hì, mình chưa thấy tiểu bang nào thay đổi biểu tượng hoa của họ nhiều như vậy, đến những 4 lần ! Bông hoa đầu tiên được chọn là Cẩm Chướng (15/3/1913), rồi đến Tulip - Uất kim hương (1/3/1923), Cúc Zinnia (chưa đầy 10 năm sau đó), và sự đổi ngôi cuối cùng mới dành cho Mẫu đơn - Peony vào ngày 13/3/1957.

Pink Peony is so much more than a fragrance, it''''s a lifestyle. The fragrance of the romantic, light-hearted woman who lives every moment with grace and elegance.

No comments:

Post a Comment