Thursday, October 6, 2011

Phạm Quỳnh

Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.
Theo lời một số nhân chứng và thân nhân ông Phạm Quỳnh, ông đã bị lực lượng vũ trang Việt Minh bắt giữ ngày 23/8/1945 tại Huế và bị giết chết ngày 6/9/1945 tại khu rừng Hắc Thú thuộc tỉnh Quảng Trị, nằm về phía bắc thành phố Huế.
Ông đã bị đập vỡ sọ bằng cuốc và vùi thây dưới một giao thông hào cùng với hai nạn nhân khác là Ngô Đình Khôi, anh cố Tổng thống VNCH Ngô Đình Diệm, và người con trai Ngô Đình Huân.
Mười một năm sau, 1956, do sự chỉ dẫn của một nhân chứng, thân nhân của các nạn nhân mới tìm được nơi chôn xác và cải táng. Theo thân nhân ông Phạm Quỳnh, di cốt của ông đã không còn nguyên vẹn và chỉ được xác nhận nhờ cặp kính cận thị, vật bất ly thân của ông.
Nhưng, Phạm Quỳnh là ai?
Có thể nói rằng không người Việt Nam có văn hóa nào không biết Phạm Quỳnh, hay không nghe tên ông. Vì học giả Phạm Quỳnh là ngôi Sao Bắc Đẩu của văn hóa Việt Nam tiền bán Thế kỷ 20. Vì nhà báo Phạm Quỳnh là người đã khai đường mở lối cho nền báo chí Việt Nam. Vì nhà cai trị Phạm Quỳnh trong phẩm trật Thượng Thư triều đình Huế là người có lòng yêu nước, có tầm nhìn xa và có đầu óc cách mạng. Viết về sự nghiệp của ông cần nhiều pho sách, và không phải là mục đích của bài viết này, xin hẹn để một dịp khác.
Mục đích của bài viết này là đi tìm thủ phạm đã giết Phạm Quỳnh, những chính phạm đã gây ra tội ác này - không chỉ với bản thân Phạm Quỳnh mà còn với dân tộc Việt Nam, và với nhân loại.
Thật vậy, trong tội ác này các thủ phạm không chỉ giết Phạm Quỳnh mà còn hủy diệt một tinh hoa của đất nước Việt Nam, và loại trừ một thành viên ưu tú trong cộng đồng nhân loại.
Trong vụ án này có chính phạm và những tòng phạm, hay nói cách khác, kẻ ra lệnh và người thi hành. Ngày nay, mọi người đều biết lực lượng vũ trang của Việt Minh tại Huế vào năm 1945 đã bắt và giết Phạm Quỳnh. Nhưng, ai là kẻ ra lệnh?
Việt Minh lúc ấy là tên tổ chức kháng chiến chống Pháp dưới quyền chỉ huy và điều khiển của Đảng Cộng sản Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo. Những người theo Việt Minh lúc đầu hầu hết là những người yêu nước đã đáp lời kêu gọi của Hồ Chí Minh để tham gia kháng chiến, đánh đuổi thực dân Pháp, giành lại độc lập cho Việt Nam. Không mấy ai biết “kháng chiến, chống Pháp” chỉ là một chiêu bài được Đảng CSVN dùng để cướp chính quyền, cai trị toàn lãnh thổ Việt Nam dưới thể chế độc tài cộng sản. Vì vậy, CSVN đã thẳng tay diệt trừ những cá nhân và những thành phần có thể là chướng ngại vật trên đường tiến tới quyền lực và củng cố quyền lực của họ, trong đó có những người ở ngoài và cả ở trong hàng ngũ kháng chiến.
Đó là lý do vì sao Phạm Quỳnh bị giết.
Phạm Quỳnh không phải là người xa lạ với Hồ Chí Minh. Ngoài việc ông là một nhân vật rất nổi tiếng thời bấy giờ, về văn hóa cũng như chính trị, Phạm Quỳnh đã có những giao tiếp cá nhân với Hồ Chí Minh từ thời Pháp thuộc khi phong trào giành độc lập đang nhen nhúm trong giới được gọi là “sĩ phu” thời ấy. Trong cuốn nhật ký do chính tay Phạm Quỳnh ghi chép vào thời gian ông sang Pháp năm 1922, ông có ghi vắn tắt gặp Hồ Chí Minh (lúc đó còn mang bí danh Nguyễn Ái Quốc) hai lần, một lần vào ngày 13/7/1922: “ăn cơm an-nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường”, một lần vào ngày 16/7/1922: “ở nhà.- Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” (Chuyền là Nguyễn Thế Truyền). (Xem phóng ảnh đính kèm do người viết chụp từ nguyên bản Nhật ký hiện do Nhạc sĩ Phạm Tuân, con trai út của ông lưu giữ).
Trong nhật ký, ông chỉ ghi vắn tắt, không nói rõ chi tiết hay nội dung những câu chuyện trao đổi, có thể vì không muốn là bằng cớ để tự buộc tội mình một khi lọt vào tay mật thám Pháp, nhưng chắc chắn không phải những người này gặp nhau chỉ để đánh chén hay nói chuyện trời mưa trời nắng. Sau này, trong thiên “Hành trình Nhật ký”, ông ghi rõ thêm là có “nói chuyện nước nhà” với “mấy ông chí sĩ”. Qua những câu chuyện ấy, Hồ Chí Minh đã biết tư tưởng và quan điểm chính trị của những người đối thoại, trong đó có Phạm Quỳnh.
Hai mươi mốt năm sau, tình hình Việt Nam chuyển động mạnh do ảnh hưởng của trận Thế Chiến II ở vào giai đoạn chót mà Quân Phiệt Nhật đang làm bá chủ miền Đông Á, trong đó có Việt Nam, hất cẳng Pháp khỏi thuộc địa Đông Dương, nhưng chính Nhật cũng đang trên đường bại trận.
Các đảng phái chính trị, những người Việt Nam yêu nước đều rộn rịp hoạt động để chuẩn bị nắm thời cơ. Khi ấy, Phạm Quỳnh đang là Thượng thư Bộ Lại, một chức chưởng tại triều đình Huế thời ấy có thể xem như thủ tướng, đã có cái nhìn chính xác và thực tế về tương lai nước Việt Nam. Theo nhân chứng Hoàng Tâm V.T., lúc ấy là Tri phủ Quận Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi, trong một lần đi kinh lý các tỉnh miền Trung, ngày 22/1/1945, Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã nói với ông trong phòng riêng như sau: “Này ông phủ, chiến tranh ở Âu Châu đã đến độ chấm dứt và ở Thái Bình Dương chiến tranh cũng đã vào thời kỳ kết thúc. Đây là vận hội tốt cho rất nhiều nước bị trị được trả tự do. Nhưng ta không nên nghĩ rằng tự do ấy sẽ được hiến dâng cho ta trên khay bạc, mâm vàng. Ta phải tranh đấu nhiều, ông hiểu tôi muốn nói tranh đấu nhiều là sao rồi, đó là tranh đấu quyết liệt và toàn diện...”
Tuy nói vậy, Phạm Quỳnh chỉ làm nhiệm vụ của một nhà cai trị của triều đình Huế dưới quyền Vua Bảo Đại. Không có tài liệu hay nhân chứng nào cho thấy ông có những hoạt động liên hệ đến một đảng phái hay phe nhóm nào.
Những tháng đầu năm 1945 tình hình Việt Nam có những biến chuyển lớn khi Nhật đảo chính Pháp, lật đổ chế độ thuộc địa ở Đông Dương ngày 9/3/1945 và tuyên bố trả độc lập cho ba nước Việt, Miên, Lào trên bán đảo này để gia nhập khối Đại Đông Á do Nhật đứng đầu.
Theo hồi ký “ Bảo Đại Con Rồng Việt Nam”, ngày 11/3/1945 Vua Bảo Đại và Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh đã cùng toàn thể thượng thư nội các Nam triều ký vào bản “Tuyên ngôn độc lập” do Phạm Quỳnh soạn thảo, hủy bỏ tất cả các hiệp ước Pháp-Việt trước đó. Một tuần sau, ngày 19/3, nội các Nam triều từ chức. Vua Bảo Đại giao cho Học giả Trần Trọng Kim lập chính phủ Việt Nam độc lập đầu tiên để hợp tác với Nhật sau khi tham khảo ý kiến nhiều người. Phạm Quỳnh không giữ chức vụ gì trong nội các mới và trở về ở tại tư thất Hoa Đường nằm trên bờ sông An Cựu, Huế. Chính tại ngôi biệt thự này, ông đã bị Việt Minh bắt và đưa đi thủ tiêu.
Trước đó, Đảng CSVN do Hồ Chí Minh đứng đầu núp dưới tên Mặt Trận Việt Minh đã lợi dụng khoảng trống quyền lực sau khi Nhật đầu hàng (14/ 8) và chính phủ Trần Trọng Kim tê liệt, cướp chính quyền tại Hà Nội ngày 19/8/1945, và đòi Vua Bảo Đại thoái vị. Tuy đã đầu hàng nhưng quân đội Nhật tại Việt Nam chưa bị giải giới, còn nguyên sức mạnh và có thể dẹp tan cuộc đảo chính của Việt Minh với lực lượng vũ trang thô sơ, nhưng Vua Bảo Đại đã không chấp nhận đề nghị của viên đại sứ Nhật tại Huế vì sợ gây nội chiến. Do đó, nội các Trần Trọng Kim tuyên bố giải tán sau khi họp phiên cuối cùng ngày 23/8/1945. Hai ngày sau, 25/8, Vua Bảo Đại ra chiếu thoái vị và ngày 30/8 trao quốc ấn và bảo kiếm cho phái đoàn đại diện Việt Minh do Trần Huy Liệu cầm đầu tại cửa Ngọ Môn, và tuyên bố: “Thà làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ.”
Câu nói hay đẹp ấy không biết ai mớm cho nhà vua thiếu trách nhiệm với đất nước đã hợp pháp hóa chính quyền Việt Minh do cộng sản cầm đầu chẳng khác nào “giao trứng cho ác”, trong lúc những người quốc gia yêu nước bị ruồng bố và tàn sát. Trong đó có Phạm Quỳnh, cựu Thượng thư Bộ Lại của triều đình Bảo Đại.
Dựa theo những nguồn tin xác thực, nhà viết sử Trần Gia Phụng thuật lại như sau trong bài “Trường hợp Phạm Quỳnh”: “Trong khi đó, lấy cớ tìm kiếm vũ khí còn tàng trữ tại nhà các vị có chức quyền trước đây, Việt Minh cho người lục soát biệt thự ‘Hoa Đường’ ngày 23-8-1945. Tuy không tìm được gì, họ vẫn ‘mời’ Phạm Quỳnh và người con rể là Nguyễn Tiến Lãng đi ‘họp’ với Ủy ban cách mạng Trung Bộ đóng ở tòa Khâm sứ Pháp cũ. Đây là thủ thuật bắt người của chính quyền cộng sản rất mới lạ lúc đó, và rất quen thuộc với người Việt Nam sau này. Có lẽ cần chú ý việc Phạm Quỳnh về trí sĩ mà không phòng thân, hoặc không lo tìm đường mà trốn tránh, ngay cả sau khi Việt Minh đảo chánh, chứng tỏ bản thân Phạm Quỳnh nghĩ rằng ông chẳng phải là tay sai của Pháp để phản dân hại nước, và ông cũng chẳng theo một đảng phái chính trị nào, nên chi có gì phải sợ đề phòng. Nếu quả thật ông là tay sai của Pháp thì ông đã cao bay xa chạy, và Việt Minh không dễ bắt được ông như vậy.
“Nguyễn Tiến Lãng bị giam riêng, không cùng chỗ với nhạc gia. Ông Lãng và gia đình không biết tin tức gì của Phạm Quỳnh, cho đến những ngày Việt Minh sửa soạn đưa ông Lãng ra tòa, nhóm họp tại Điện Thái Hòa vào khoảng đầu năm 1946, thì báo chí Việt Minh công bố rằng ông Phạm Quỳnh, cùng ông Ngô Đình Khôi và con trai trưởng đang làm thông ngôn cho Nhật là Ngô Đình Huân, đã bị xử tử hình, nhưng không cho biết ngày giờ các ông bị giết, cũng như đã chôn các ông ở đâu. Về sau, gia đình mới được biết Phạm Quỳnh đã bị giết ngày 6-9-1945 tại vùng cách Huế khoảng 20 cây số. Có lẽ cần ghi nhận thêm lúc bấy giờ, chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của phong trào Việt Minh ở Huế là Tố Hữu.”
Tiếp xúc với người viết tại nhà ông ngày 18/7/2007, ông Phạm Tuân xác nhận những điều trên đây và nhấn mạnh di cốt của thân phụ ông không còn đầy đủ, sọ bị nứt một đường dài, và chỉ nhận ra được do cặp kính cận gãy gọng.
Trong cuốn “Hồi ký người lính già”, Đại tá (CSVN) Đặng Văn Việt có nói đến việc ông Phạm Quỳnh đã bị bắt và giết như thế nào, nhưng cũng chỉ nói một nửa sự thật, phần sự thật được cho phép nói.
Nhưng “tòa” nào đã xử và kết tội ông Phạm Quỳnh? Những ai ngồi xử và diễn ra tại đâu? Ngày nào? Hay, ai đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh?
Ông Trần Gia Phụng lưu ý người đọc: “Phạm Quỳnh bị bắt ngày 23-8-1945, và bị giết ngày 6-9, nghĩa là ông không bi nhóm Việt Minh địa phương Huế giết liền khi họ nổi dậy. Ông bị giam giữ một thời gian rồi mới bị giết sau khi nhóm Trần Huy Liệu đến Huế dự lễ thoái vị của Vua Bảo Đại. Khi có sự hiện diện của đại diện trung ương, các cán bộ Việt Minh địa phương không dám tự tiện ra tay, mà chắc chắn phải có ý kiến của trung ương. Nhóm Trần Huy Liệu cũng không thể tự quyết định được việc này. Như vậy phải chăng chính nhóm Trần Huy Liệu đã đem lệnh từ Hà Nội vào Huế giết Phạm Quỳnh? Và lệnh đó từ đâu, nếu không phải là từ Hồ Chí Minh?”
Theo hồi ký của bà Phạm Thị Thức, người con gái của Phạm Quỳnh, viết năm 1992, sau khi Phạm Quỳnh bị giết, bà cùng người chị là Phạm Thị Giá đã ra Hà Nội gặp Hồ Chí Minh qua sự giúp đỡ của người cận vệ của ông ta là ông Vũ Đình Huỳnh. Bà Thức cho biết Hồ Chí Minh chối, không nhận đã ra lệnh giết Phạm Quỳnh và đổ tội cho cán bộ địa phương. Họ Hồ bảo: “Hồi ấy tôi chưa về... Và trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ và có thể có nhiều sai sót đáng tiếc.”
Sự thật ra sao?
Nếu ngày 6/9/1945 Hồ Chí Minh “chưa về” thì ai đọc “tuyên ngôn độc lập” tại Hà Nội ngày 2/9/1945? Ai ra lệnh cho bộ máy tuyên truyền của nhà nước cộng sản trong nhiều năm trời sau đó vu cáo Phạm Quỳnh là “Việt gian”, tay sai thực dân Pháp, và bôi xóa tên Phạm Quỳnh trong văn học sử Việt Nam?
Nếu Phạm Quỳnh chỉ là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc” thì Tố Hữu, kẻ nắm chức chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của Việt Minh ở Huế lúc giết Phạm Quỳnh không thể thăng tiến đều đều trên nấc thang đảng CSVN để sau này lên đến phó thủ tướng.
Vì vậy, câu trả lời của Hồ Chí Minh chỉ là một lời nói dối sống sượng. Nó còn cho thấy thái độ coi mạng người như cỏ rác của kẻ cầm đầu Đảng CSVN, xem việc giết người chỉ là “sai sót đáng tiếc”, rồi thôi, không điều tra, không trừng phạt kẻ có tội, không phục hồi danh dự và bồi thường cho nạn nhân. Không khác nào chuyện bắt của dân con gà, con vịt.
Thật ra, Phạm Quỳnh không phải là nạn nhân của “nhiều sai sót đáng tiếc... trong thời kỳ khởi nghĩa quá độ”. Ông đã là một trong hơn một triệu nạn nhân của chính sách tàn bạo được hoạch định từ cấp cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bản danh sách đen ấy, có lẽ Phạm Quỳnh đã được xếp hạng “ưu tiên” vì những lý do đặc biệt.
Mặc dù không có hành động nào chống lại Việt Minh lúc ấy, Phạm Quỳnh được coi là mối nguy cho chính quyền non yếu của Hồ Chí Minh trong giai đoạn sơ khai vì ông đang là người có uy tín rất lớn với mọi giới trong xã hội Việt Nam, lại có tài năng lãnh đạo và cai trị mà Hồ Chí Minh biết rõ điều ấy do thành tích của ông và qua sự giao tiếp cá nhân như đã nói ở phần trên. Và điều quan trọng hơn cả, cũng qua giao tiếp cá nhân, Hồ Chí Minh biết rõ Phạm Quỳnh không chấp nhận chủ nghĩa cộng sản và không thể khuyến dụ.
Khi bị giết, Phạm Quỳnh mới 53 tuổi - cái tuổi chín mùi của tài năng, sung mãn sinh lực và già dặn kinh nghiệm.
Đó là lý do vì sao Hồ Chí Minh không giết Vua Bảo Đại mà lại giết cựu Thượng thư Phạm Quỳnh. Trong cuộc “cách mạng tháng mười” năm 1917 tại Nga, bọn cộng sản Bôn-sê-vích, đàn anh và đồng chí của Hồ Chí Minh, không chỉ giết Sa Hoàng Nicolai II mà còn tàn sát cả gia tộc vua, giết luôn cả tôi tớ của hoàng gia. Dưới mắt Hồ Chí Minh, Bảo Đại là một kẻ vô hại, dù đang làm vua nhưng chỉ ngồi làm vì trên ngai vàng, không có tài năng gì và chỉ thích ăn chơi, nhu nhược, không thể lãnh đạo một lực lượng đối nghịch nào chống lại cộng sản. Nhưng, Phạm Quỳnh thì có thể bất cứ lúc nào trở thành một kẻ thù nguy hiểm. Hồ Chí Minh đã nhận xét không sai về Vua Bảo Đại. Sau khi thoái vị, trao quyền cho Hồ Chí Minh, công dân Vĩnh Thụy vui vẻ nhận chức “cố vấn tối cao” và đi Hong Kong nghỉ mát.
Với Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh còn có một lý do thầm kín khác để cần phải trừ khử. Hồ Chí Minh tự biết thua kém Phạm Quỳnh về mọi mặt, và ngược lại, Phạm Quỳnh cũng biết rõ quá khứ u ám của Hồ Chí Minh, kẻ tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hồ Chí Minh cùng lứa tuổi với Phạm Quỳnh, khi gặp nhau tại Pháp năm 1922 cả hai cùng khoảng 30. Khi ấy, Phạm Quỳnh đã là một học giả lẫy lừng, một nhà báo nổi tiếng, “hoạn lộ” thênh thang, sang Pháp cùng với Vua Khải Định dự Hội chợ Marseille, và được mời diễn thuyết tại Trường Thuộc địa Paris (École Coloniale) - chính cái trường mà năm 1911, Hồ Chí Minh dưới tên Nguyễn Tất Thành đã viết đơn cho tổng thống Pháp xin đặc ân theo học nhưng bị từ chối (trong đơn này, HCM khai là sinh năm 1892, cùng năm sinh với Phạm Quỳnh). Cho tới lúc gặp Phạm Quỳnh, Hồ Chí Minh không có nghề nghiệp ổn định, không có tên tuổi nhất định, lý lịch mù mờ, và đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp được vài năm, hoàn toàn vô danh trong xã hội Việt Nam.
Là một cán bộ cộng sản, Hồ Chí Minh không thể không biết tài năng và lập trường chính trị của Phạm Quỳnh, nhất là sau mấy lần gặp gỡ ở Paris. Vì vậy, khi cướp được chính quyền năm 1945, Hồ Chí Minh đã ra tay trừ khử Phạm Quỳnh.
Phạm Quỳnh cũng không phải “chỉ là nạn nhân của một chế độ buổi giao thời hỗn loạn” như có người nói. Ông đã là nạn nhân tất yếu của chính sách đẫm máu của người cộng sản được thi hành một cách có kế hoạch, có hệ thống.
Phạm Quỳnh và những nạn nhân khác đã chết vì đứng ở thế đối kháng với cộng sản, dù không, hay chưa có hành động gì tích cực. Họ cần được tôn vinh, chứ không cần được “giải oan” vì họ đã không bi xét xử và kết tội bởi một tòa án nhân danh công lý. Họ đã bị thủ tiêu một cách mờ ám và phi pháp trong bóng tối mà chính kẻ cầm đầu chế độ cũng không dám nhận trách nhiệm. Chế độ bất lương ấy càng không có tư cách để “giải oan” cho những nạn nhân của nó, mà chính chế độ ấy cần phải bị lên án và kết tội.
Trong lễ khánh thành Đài Tưởng Niệm hơn 100 triệu nạn nhân cộng sản trên thế giới tại Washington DC ngày 12/6 vừa qua, Tổng Giám Mục Pietro Sambi nói rằng: “Hàng triệu người đã bị cộng sản giết hại. Chúng ta không biết mặt họ, không biết tên tuổi họ, nhưng Thượng đế biết.” Có lẽ cần thêm: “Và Thượng đế biết những kẻ đã giết họ.”
Những nạn nhân ấy đòi hỏi Công Lý, chứ không xin được giải oan. Công lý không chỉ cần cho người sống, nhưng cũng cần cho những người đã bị giết chết như những con vật không phương thế tự vệ.
Không có Công lý, khi kẻ giết một người thì bị trừng phạt, có khi phải đền mạng, còn kẻ giết hàng triệu người lại được đúc tượng, xây lăng, ướp xác.

Tác giả: Sơn Tùng
http://phamquynh.files.wordpress.com/2009/06/pham-quynh_tre.jpgNHỮNG VẤN ĐỀ THEN CHỐT NHẬN ĐỊNH CHÍNH TRỊTRONG THỜI ĐIỂM PHẠM QUỲNH
Tôi đọc tác phẩm “Giải Oan Lập Một Đàn Tràng" mà lòng bồi hồi nhớ lại thời còn đi học bậc trung học với bao say sưa và cảm phục mỗi lần đọc và từ từ hiểu nghiã những bài nghị luận cuả Phạm Quỳnh. Bài văn ông so sánh người chính nhân phương Tây và người quân tử phương Đông thúc đẩy tôi cố nắm bắt những ý chính để mà học hỏi ngay từ lớp đệ Tứ khi bắt đầu tập suy nghĩ và định hướng cho sự phát triển cá tính mình. Tác giả các bài viết trong cuốn tuyển tập do "Ủy Ban Phục Hồi Danh Dự Phạm Quỳnh" đã cung cấp bao nhiêu tài liệu quí giá về người học giả thật sự này khiến tôi không thể không đóng góp cảm nghĩ riêng. Tôi nhớ câu "Đọc quốc sử có một điều rất đáng phấn khởi trong lòng…” đã khiến tôi ham mê đọc sử nước nhà một cách nhiệm ý trước cả mấy năm học trình bắt buộc.
Tôi thật không khi nào nghĩ Phạm Quỳnh vĩ đại của tôi lại có thể mất danh dự cách nào để nay phải phục hồi. Tôi liên tưởng vội vàng đến các vụ bạc đãi giết hại công thần dưới các triều đại nhà Lê, nhà Nguyễn rồi sau đó các vị minh quân kế vị phải hạ chỉ minh oan và phục vị cho những công thần đã bị kết tội một cách hồ đồ và đãi ngộ con cháu họ may chưa bị tuyệt diệt còn tìm kiếm ra được để lo phần hương hỏa. Vấn đề tôi đặt ra để tự suy nghĩ là ai đã làm mất danh dự cho Phạm Quỳnh, chứ danh dự ông không thể do ông có những hành vi bại hoại nào làm thương tổn. Hệ quả cuả vấn nạn này là ai có trách nhiệm phục hồi danh dự Phạm Quỳnh cũng như ai có tư cách để làm công tác quan trọng đó. Nói một cách đảo ngược, có thật Phạm Quỳnh đã bị mất danh dự hay không mà phải để đặt ra công tác đó? Câu chuyện người thiếu phụ Nam Xương hoặc người vợ nhà họ Trương bị ngờ oan là đi theo trai vì đứa con chỉ bóng mẹ trước đèn mà gọi là cha lúc người cha thật sự vắng nhà đến nỗi bà phải tự tử với nỗi oan thiên cổ nên mới cần giải oan bằng một đàn tràng. Phạm Quỳnh đâu có hành động nào hạ thấp phẩm giá đến nỗi ông phải xấu hổ về con người cuả ông, những ai đã hạ nhục ông, đã bôi nhọ danh dự của ông? Những ai đã giết chết ông lén lút? Nếu vậy họ có trách nhiệm gì và họ có xứng đáng đứng ra giải oan cho ông không. Nếu không, thì chính chúng ta, chúng ta, tập thể những người đang cầm bút viết lối chữ quốc ngữ này mới đúng là những người có bổn phận vinh danh xứng đáng công đức của Phạm Quỳnh với nền học thuật nước nhà, bằng những phương cách biện pháp nào thì nên cùng nhau thẩm định.
Những bài viết mà tôi trích dẫn đề cập vì những vấn đề tác giả đặt ra cần được đóng góp thảo luận và sự phong phú dữ liệu được cung cấp. Đó là bài của những cây viết có tầm vóc như Đặng Văn Nhâm, Trần Thanh Hiệp, Nguyễn Hữu Thống, Mạc Kinh, Trần Gia Phụng, cũng như nhiều bài viết của các tác giả trong tuyển tập với những đóng góp dữ liệu và những vấn nạn với các sắc thái đặc biệt nêu rõ con người toàn diện của học giả Phạm Quỳnh.
Người làm đảo lộn đời làm văn hóa của Phạm Quỳnh: Vua Bảo Đại.
Xã hội Việt Nam vừa sôi sục sau vụ khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1930 vẫn còn ngột ngạt. Các vụ bắt bớ, xử án và hành quyết nối tiếp và theo sau là những bản án tù đầy của bao nhiêu thành phần yêu nước ẩn náu ngay trong hàng ngũ binh lính và công chức Việt Nam phục vụ cho guồng máy cai trị của Pháp đã làm người Việt Nam tự hỏi ta còn có thể làm được những gì sau bao nhiêu thất bại. Cả nước lại như một mặt hồ phẳng lặng chờ đợi một đường lối đổi thay. Trong tình trạng ấy vua Bảo Đại du học “hồi loan” trực tiếp cai trị không còn qua trung gian các ông phụ chánh đại thần. Dân ta đã quá chán ngán Nam Triều sau khi vua Hàm Nghi thất bại và chính các đại thần Nam Triều kế đó lại là những kẻ cầm quân theo lệnh vua Đồng Khánh và Pháp để tiêu diệt dư đảng nghiã quân. Nguyễn Thân cầm quân tàn sát nghiã quân văn thân của Phan Đình Phùng. Hoàng Cao Khải đánh đông dẹp bắc lập công cho Pháp. Không ai là không nhớ Nghè Trần Cao Vân bị Nam triều xử chém ngang lưng vì tội xúi giục vua Duy Tân chống Pháp. Chính các ông đại thần Nam triều trong Cơ Mật Viện phế và cho đi lưu đầy các vua Thành Thái, Duy Tân. Nam triều hoàn toàn là công cụ cai trị cuả Pháp. Chính cái Nam triều ấy không chịu nổi những tấn công đòi hỏi nhân quyền của cụ Phan Chu Trinh và đã kết án trảm khiếm diện nhà cách mạng này. Nhờ cụ quen người Pháp mà được giảm án xuống hậu trảm và sau được ân xá do sự can thiệp của Pháp.
Việt Nam Quốc Dân Đảng nổi dậy đòi hỏi thiết lập chế độ Cộng Hoà và song song với việc đánh Tây còn chĩa mũi nhọn vào đám tham quan ô lại tay sai của Pháp nằm trong chế độ Nam triều, đó cũng là những dấu chỉ thất vọng của quốc dân đối với chế độ phong kiến đã gần như đi ngược lại khát vọng của quốc dân, phải làm bù nhìn để bám víu ngai vàng và hợp thức hóa cho sự cai trị của Pháp thuộc địa.
Vua Bảo Đại trở về cầm quốc chánh làm lòng người nổi lên một thoáng hy vọng vì vua có tây học, không cổ lỗ lạc hậu như hàng ngũ quan lại Nam triều. Mặc dù các cụ thượng thư vẫn ham đội mũ cánh chuồn cân đai bối tử kiểu ‘mũ mãng giáp bào Thượng Hải’, tân quân miễn cho các cụ phải vào triều phục lạy và hối thúc lập một uỷ ban cải cách. Trong khung cảnh ấy nhà báo và nhà học giả Phạm Quỳnh được vời vào Huế giữ chức ngự tiền văn phòng tổng lý với hàm thượng thư. Theo một thỏa ước đã ký với Pháp bổ nhiệm chức vụ thượng thư phải có Khâm Sứ Pháp thuận ý.
Trong cương vị Hoàng Đế của nền quân chủ chuyên chế, ông vua là lớn lắm, mang thiên mệnh cai trị thần dân, chỉ hiềm vì dân nay đã biết trên vua còn có ông Khâm Sứ Tây, mà trên ông Khâm Sứ lại có ông quan Toàn Quyền, trên ông Toàn Quyền có Bộ Trướng Thuộc Điạ Pháp. Trong cái hệ cấp ấy vua nhất định không phải là con trời. Vua Bảo Đại biết như vậy và Phạm Quỳnh cũng biết như vậy. Cái thuyết quân chủ lập hiến mà Phạm Quỳnh hằng viết và đề cập tới hợp ý vua Bảo Đại vì ông biết rõ không có nhân dân đại biểu ông chẳng thể áp lực gì lên mẫu quốc được. Nhưng khi đã thủ tiêu chủ quyền nước bị trị Pháp chẳng để cho Bảo Đại tự thay đổi đế chế do đó đến bản hiến pháp cuả chính phần đất An Nam ở Trung kỳ cũng không thực hiện nổi, lấy chi là tập hợp dân để ban phát rộng quyền lập hiến ước với nhà vua ở vùng đất bảo hộ ngoài Bắc. Trong thời làm vua (khác với địa vị Quốc Trưởng sau này trong ván bài quốc gia Việt Nam trong Liên Bang Đông Dương Liên Hiệp Pháp) Bảo Đại chọn được ba vị thủ tướng xuất sắc nổi danh. Thật ra khi Pháp chưa bị Nhật hạ bệ thì vua chỉ cử Thượng Thư bộ Lại mà người ta muốn cho oai gọi ngang là thủ tuớng, phần vì Pháp có lẽ không muốn thấy một chức vụ thủ tướng mà muốn nói chuyện thẳng với hoàng đế, và vì từ đời Gia Long không có lấy chức vụ tể tướng. Thậm chí như trên đã đề cập theo một thỏa ước ký năm 1925, thoả ước Monguillot , thì vua Việt Nam mất luôn cả quyền tự ý bổ nhiệm Thượng Thư của mình (GOLMĐT, tr. 333). Duy nhất chỉ có cụ Trần Trọng Kim là Thủ Tướng do Hoàng Đế bổ nhiệm giưã lúc hoàng đế chẳng có lấy một đạo quân ra hồn để bảo vệ và canh gác an ninh bản thân nưã. Chính vua Bảo Đại nghe lời tâu của Thượng Thư Nguyễn Hữu Bài dẹp luôn bộ Binh của Nam triều để khỏi lo bị Pháp sai đi đánh dẹp nghĩa quân Việt Nam cho mất lòng (GOLMĐT, tr. 335). Thảm thương hơn là lương tiền của nhà vua cũng do Pháp cấp cho: nuớc Nam không có lấy một ngân sách cho mình. Các ông Ngô Đình Diệm, Thái Văn Cẩn và kế đó từ năm 1942 khi Thái Văn Cẩn về hưu là Phạm Quỳnh đều phục vụ trong cương vị Lại Bộ Thượng Thư. Khởi đầu ông Ngô Đình Diệm kiêm luôn Tổng thư ký Uûy Ban Cải Cách nhưng chỉ trong 2 tháng thấy không thể được như ý liền từ chức. Phạm Quỳnh thì sau kiêm luôn chức Học Bộ và đến năm 1942 qua Lại Bộ nghiễm nhiên trở thành quan đầu triều kiêm ngự tiền văn phòng, kể như ông làm quan to suốt 13 năm phục vụ một vị Hoàng Đế một nước không độc lập của vua Bảo Đại. Cái tiếng “thân Pháp” và làm tay sai cho Pháp bị dị nghị từ đấy. Nhất là ngay sau khi Nhật hất cẳng Pháp để tránh bị đánh hôi hậu hoạn sau khi Mỹ liên tiếp cả thắng trên mặt trận Thái Bình Dương thì lập tức vua Bảo Đại cho lập chính phủ mới sau khi tuyên cáo độc lập khỏi nước Pháp. Trớ trêu thay là tình hình thế giới, chính lúc này lại là lúc Nhật sắp sụp đổ và Pháp sắp là đồng minh thắng trận khải hoàn. Hay là vua Bảo Đại nghĩ mình có thể trở lại thành một vì vua chuyên chế bình thường của triều đại nhà Nguyễn mà người xướng xuất thuyết quân chủ lập hiến không nên tồn tại nưã? Trong suy nghĩ đó vua lập Thủ Tướng như cương vị một vì vua có đầy đủ thẩm quyền trong một nước độc lập và Phạm Quỳnh phải bị đào thải. Ta thừa biết thế nào là thói đời khi thất thế trong xã hội Việt Nam với những đố kỵ. Phạm Quỳnh có tránh khỏi định lệ ấy chăng? Sáu bài viết không vị nào đặt vấn nạn này mà chỉ tán thán với tài ba nhận định chính trị của Phạm Quỳnh sao ông lại không thấy cái biến chuyển sắp tới mà đột ngột từ chức không chuẩn bị phòng thân gì cả. Thật vậy, không ai ở Đông Dương lúc ấy có thể tiên đoán Mỹ hoàn thành bom nguyên tử và rút ngắn ngày tàn cuả Nhật trên Thái Bình Dương một cách mau chóng và vô điều kiện như vậy. Trong cái hụt hẫng này hoàng triều của nhà Nguyễn sụp đổ với chiếu thoái vị cuả vua Bảo Đại mấy tháng sau đó khi tình thế quốc dân sôi sục khát khao đòi thực hiện nền độc lập.
Pham Quynh _1922 tai PhapAi đã làm mất danh dự Phạm Quỳnh? Vận động với ai?
Tác giả Trần Thanh Hiệp nêu rõ bốn nguồn xuất xứ về những lời chê bai về khả năng, tư cách và đường lối chính trị của Phạm Quỳnh. Đó là cụ Nghè Ngô Đức Kế, chủ báo Hữu Thanh trong thập niên 20; ông Thiếu Sơn Lê Sĩ Quí, một nhà phê bình văn học trong thập niên 40; Cộng Sản Việt Nam, thập niên 40 đã cho lén lút hạ sát Phạm Quỳnh; và ông Nguyễn Văn Trung, thập niên 60 và 70. Tác giả đã hữu lý cho rằng những nguồn gốc này không có đủ khách quan khi phê bình về tài bộ, tác phong, giá trị các đóng góp văn học và đóng góp tư tưởng chính trị cuả Phạm Quỳnh. Cảm nghĩ của các ông chủ báo Hữu Thanh và nhà phê bình văn học Thiếu Sơn thiết nghĩ chỉ là những lơiø phê phán mỉa mai bộc lộ sự nổi giận gay gắt và đầy cảm quan về sự đề cao văn chương truyện Kiều mà quên luân lý (Ngô Đức Kế), bỏ sinh hoạt văn hóa bước vào chốn tanh hôi kèn cựa đồng liêu (Thiếu Sơn) hơn là những lời cáo buộc nặng nề phản quốc (GOLMĐT, tr. 332-333). Phạm Quỳnh lúc đó không trả lời các bài đả kích của Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng đăng trên các báo trong thơiø gian 1924 này. Đặc biệt ông Trần Thanh Hiệp thẳng thắn lên án thái độ giết người dã man không xét xử của Cộng Sản Việt Nam chỉ vì bất đồng chính kiến. (GOLMĐT, tr. 54)
Chúng tôi quan niệm rằng ngay cả khi thanh toán Phạm Quỳnh chính là cái uy tín và danh dự cuả kẻ ra tay không còn có một giá trị gì trước công luận, quốc dân và lịch sử. Tất cả những người yêu nước trong hàng ngũ không cộng sản bị thủ tiêu không một ai vì vậy mà danh dự bị thui chột trong lịch sử. Ở đây chính Cộng Sản Việt Nam lộ rõ sự mất tư cách cuả toàn bộ lãnh đạo đầu xỏ. Người không có tư cách và chế độ khát máu phản dân chủ mà nhân loại đang đào thải không thể có thế giá nào phục hồi danh dự cho một danh nhân đất nước như Phạm Quỳnh. Trên quan niệm này tôi ngạc nhiên khi tác giả Đặng Văn Nhâm đòi phải đặt thẳng vấn đề với nhà “đương quyền VN, gồm các nhân vật lãnh đạo cao nhất nước: Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, và Phan Văn Khải…". Tôi càng ngạc nhiên hơn nữa khi tác giả Đặng Văn Nhâm thúc giục: “chúng tôi mong sao các nhà chức trách đương quyền ở Việt Nam cùng với Bộ Văn Hoá và Hội nhà văn Việt Nam nên cứu xét lại vụ án Phạm Quỳnh cùng với một vài vụ án oan khuất khác, trong đó có cả Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ Văn Ngà, Dương Văn Giáo, Bùi Quang Chiêu, Huỳnh Phú Sổ v.v. để sớm phục hồi danh dự cho các vị ấy". (GOLMĐT, tr. 24 – ‘Tại Sao Phải Phục Hồi Danh Dự Cho Phạm Quỳnh’). Không đem tinh thần cực đoan vào lãnh vực văn hóa, chúng tôi dẫu vậy cũng đề nghị đến lúc phải hỏi tội Cộng Sản Việt Nam khi mà chúng đang tháo thân chạy tội trước lịch sử. Nhẹ nhất là chúng phải tạ tội với lịch sử và quốc dân, tự thú nhận đã vi phạm nhiều tội ác chiến tranh. Dầu như lúc nào chúng tôi cũng đặt cương vị tự chủ nước nhà lên trên hết, chúng tôi nghĩ chính là chính phủ và Quốc Hội Pháp nên ra một tuyên cáo tạ lỗi với học giả Phạm Quỳnh, bạch hoá rằng ông thực là một chiến sĩ cực lực vận động độc lập cho nước Việt Nam bằng đường lối hữu nghị. Sau đó chính phủ Pháp hoặc Viện Hàn Lâm Pháp, mà ở đây Phạm Quỳnh đã từng diễn thuyết và nhận giải thưởng, hỗ trợ cho các hội nhà văn Việt Nam cùng bảo trợ tuyên dương Phạm Quỳnh trước Cơ Quan Giáo Dục Khoa Học Và Văn Hoá UNESCO của Liên Hiệp Quốc. Không ai có thể dị nghị rằng sau 50 năm khi những lời tiên tri chính trị cuả Phạm Quỳnh đã thật sự xảy ra cho số phận vai trò nước Pháp ở Đông Dương và không thể nào trong thời điểm này Pháp phải vinh danh cho một tay sai của của mình, nếu không nói là người ơn đã vẽ cho mình một con đường cao cả mà trót đã không nghe, bởi sự nông cạn của giới chức cai trị thuộc địa. Còn như Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh những đồng bọn sát nhân trong đảng Cộng Sản Việt Nam này không có chức năng và thế giá nào trong việc phục hồi danh dự cho học giả Phạm Quỳnh, họ cũng không phải là đối tượng để đáng chúng ta, những người yêu chuộng tự do cúi mình vận động ân huệ cho nạn nhân cuả chính tập thể tay nhuốm đầy máu đỏ.

Pham Quynh chu but Nam Phong

Những lý do nào khiến người CSVN phải ra tay thủ tiêu Phạm Quỳnh?
Ông Trần Gia Phụng nêu ra sự việc Cộng Sản Việt Nam ra tay giết Phạm Quỳnh hai lần. Giết mạng người và giết danh tiếng của ông với lời kết tội làm tay sai cho Pháp. Tác giả Trần Gia Phụng nêu năm lý do Hồ Chí Minh cần phải thanh toán Phạm Quỳnh để tuyệt trừ hậu họa. Năm lý do đó là: Phạm Quỳnh đã cho Cộng Sản là nạn dịch hoành hành gây bất ổn xã hội và đã chủ trương quân chủ lập hiến khác hẳn chế độ Cộng Sản; Phạm Quỳnh tiêu biểu giới trí thức làm văn hóa theo lập trường quốc gia bất bạo động phải giết Phạm Quỳnh để khủng bố áp đảo tinh thần; Phạm Quỳnh có uy tín bên ngoài nước dễ được chấp nhận hơn Hồ Chí Minh; Hồ Chí Minh muốn tạo khoảng trống chính trị để dễ bề độc diễn; Hồ muốn che đậy bộ mặt để đóng tuồng ái quốc mà chỉ Phạm Quỳnh là người biết duy nhất còn sống lúc đó và biết rõ Hồ xin theo với Tây không đắt cũng như rất rõ Hồ Chí Minh tức là Nguyễn Tất Thành lúc còn ở Paris năm 1922 trước khi sang Nga học nghề Cách Mạng đổ máu. (GOLMĐT, Trần Gia Phụng, tr. 317-318). Với năm lý do thầm kín ngặt nghèo ấy thì dù Phạm Quỳnh có mưu chạy cũng không thoát. Tuy nhiên tác giả lại đặt một vấn đề cần thanh thoả. Đó là "Có lẽ cần chú ý việc Phạm Quỳnh về trí sĩ mà không phòng thân, hoặc không lo tìm đường mà trốn tránh, ngay cả sau khi Việt Minh đảo chánh, chứng tỏ bản thân Phạm Quỳnh nghĩ rằng ông chẳng phải là tay sai của Pháp để phản dân hại nước, và ông cũng chẳng theo một đảng phái chính trị nào, nên có chi phải sợ đề phòng. Nếu qủa thật ông là tay sai cuả Pháp thì ông đã cao bay xa chạy, và Việt Minh không dễ bắt được ông như vậy.” (GOLMĐT, tr. 301). Tôi nghĩ rằng kinh nghiệm các nhà chống đối chính trị với Hồ Chí Minh đều bị thủ tiêu gọn, ngay cả những vị có hộ vệ và đệ tử đông đảo, với năm lý do cần phải giết Phạm Quỳnh, làm sao ông chạy khỏi lưới khi trong tay không một tấc sắt, không một hậu thuẫn hộ vệ nghe ngóng. Với một vợ 13 con, không phải dễ bôn tẩu như một tay độc thân Ngô Đình Diệm, Phạm Quỳnh lại quá dễ nhận diện và là người xứ Bắc giữa chốn thần kinh lạc lõng. Dù không trốn hay trốn không thoát, vấn đề này có những yếu tố khách quan và chủ quan cùng chính sách giết người không ai ngờ được cuả Cộng sản Việt Nam, đề phòng hay không đề phòng nổi đều không là những yếu tố quyết định trắng đen Phạm Quỳnh có phải là tay sai cho Pháp hay không.
Tác giả Đặng Văn Nhâm trích dẫn Daniel Grandclément ghi lời Bảo Đại rằng Hồ Chí Minh rất nể trọng vị cố vấn tối cao của mình, đã cấm các cộng sự viên của ông ấy dùng danh từ "đồng chí" với cựu hoàng và có đến hai mươi lần trong 3 tháng trời sống gần gũi Hồ Chí Minh đã say sưa gật gù trong xe của Bảo Đại (GOLMĐT, tr. 264), để rồi tác giả Đặng Văn Nhâm than vãn: "Với thân tình đó, tại sao vua Bảo Đại không nói được một lời nào để can thiệp cho những người cộng tác thân tín nhất. Nếu không giúp được những người ấy thoát được lao tù, thì ít ra cũng giúp họ thoát được cái chết quá đau đớn, bi thương, tạo thành một vết hằn trong lịch sử dân tộc?” (GOLMĐT, tr. 265). Phải viện dẫn 5 lý do mà Trần Gia Phụng nêu ra để giải thích vì sao Hồ Chí Minh cố tình giết cho được Phạm Quỳnh. Công dân Vĩnh Thụy sống sót kỳ đó để còn tái hồi trong vai trò Quốc Trưởng sau này riêng ngài cũng là tay khá lắm, nhờ khả năng ngậm miệng nín thở qua cầu mà Pháp đã giáo hoá cho. Trong thời Tam Quốc, Lưu Bị thoát móng vuốt Tào Tháo cũng là do kế rơi đũa sợ sấm, Lưu Biểu được họ Tư Mã cho toàn mạng cũng nhờ cái dại khờ tuyên bố chẳng thiết tha gì về Thục. Hồ Chí Minh không giết vua Bảo Đại mà cầm chân ngài trong chức vị "cố vấn" hữu danh vô thực có lợi cho tiền đồ của phe nhóm ông ta trong lúc còn manh nha trứng nước. Không bỏ chạy kịp sang Hồng Kông thì khi Pháp Việt chiến tranh bùng nổ, mạng vua cũng khó giữ cho mình. Tác giả Mạc Kinh nhận định thêm một yếu tố quan trọng rằng mối hận của Hồ Chí Minh về bản Tuyên Ngôn Việt Nam Độc Lập phỗng tay trên do Phạm Quỳnh soạn thảo để Hoàng Đế Bảo Đại tuyên cáo cùng quốc dân và thế giới ngày 11 tháng 3 năm 1945 đã phong kín số phận cuả nhà học giả nguyên thượng thư đầu triều mấy tháng sau khi ông từ chức (GOLMĐT, tr. 34).
Về thời gian câu hỏi tán thán vua Bảo Đại cuả tác giả Đặng Văn Nhâm đặt ra nêu trên không phù hợp: Vua Bảo Đại thoái vị ngày 25 tháng 8-45, làm lễ thoái vị tại cửa Ngọ Môn ngày 30-8 cho đại biểu Việt Minh từ Bắc vào thu ấn kiếm, vua mất ngôi còn co ro cho thân phận mình không biết nói cùng ai thì Việt Minh yêu cầu ngài ra Bắc làm cố vấn ngày 4 tháng 9, hai ngày sau thì họ đã liền hạ sát Phạm Quỳnh khi ngài đang trên đường ra Bắc theo kế “điệu hổ ly sơn” của Hồ. Lấy đâu mà đã có dịp gần Hồ Chí Minh lúc ấy để kiếm lời van xin cho thuộc hạ. Mặt khác Cộng Sản chủ trương giết những thành phần nào họ đã nắm vững với nhau, há Hồ Chí Minh lại phải hỏi đến cựu hoàng về tự sự này.
Ngày nay sau những kinh nghiệm đẫm máu của Tết Mậu Thân, sau việc lừa cả nước bảo nhau trình diện vào các trại cải tạo học tập sớm về sớm, cái trò gửi giấy mời đến trụ sở uỷ ban rồi giữ luôn đã quá xưa nhưng trong thời Việt Minh mới nổi dậy chẳng ai hay cái trò quỉ này của họ cả.
Đường lối chính trị dung hoà cuả Phạm Quỳnh có những lý do thích đáng với những người trong hàng ngũ quốc gia.
Ông Trần Thanh Hiệp qua bài "Tìm Hiểu Tư Tưởng Chính Trị của Phạm Quỳnh Qua Thông Điệp Nam Phong" nêu trên đã tóm lược bối cảnh lịch sử nước nhà khi Pháp đã lần lượt thành công đàn áp tan rã các phong trào võ lực chống đối nền cai trị thuộc địa và bắt đầu bào chữa thái đo xâm chiếm chủ nhân ông bằng chiêu bài khai hóa. Từ bối cảnh thơiø thế đó xuất hiện tư tưởng quố gia gồm năm điểm do Phạm Quỳnh đề xướng. Năm điểm đó là ‘niềm tin sâu xa vào sự hiện hữu của giống nòi dân tộc’, ‘lòng yêu nước’, ‘độc lập tinh thần làm nền tảng cho độc lập chính trị’, ‘quy chế chính trị độc lập’ và ‘viễn kiến về tương lai đất nước’ (GOLMĐT, Trần Thanh Hiệp, tr. 61-70). Trên mô thức thực hiện Phạm Quỳnh đề nghị áp dụng hoà ước Giáp Thân 1884, tức Hoà Ước Patenôtre, trả lại nhiều quyền hạn đã tước đoạt của triều đình Huế và kế đó là thực hiện chế độ quân chủ lập hiến. Tất cả đều là trong vận động ôn hoà với Pháp đế họ bằng lòng giúp cho thực hiện và thực hành được bản hiến pháp quân chủ lập hiến cho Việt Nam vẫn nằm trong phạm vi khối liên hiệp Pháp. Ông Trần Thanh Hiệp cẩn trọng đề nghị phải nên dè dặt nhận định về sự nghiệp chính trị của Phạm Quỳnh cũng như phải phân biệt sự nghiệp chính trị đối với đóng góp tư tưởng chính trị của học giả này.
Tác giả Nguyễn Hữu Thống không bó mình trong giới hạn đó, qua bài ‘’Tưởng Niệm Phạm Quỳnh Tư Tưởng Chính Trị Và Sách Lược Vận Động", ông trình bày súc tích bối cảnh chính trị Pháp Việt, các đường lối đấu tranh giành độc lập thành công sớm ở các nước Á Phi khác mà không qua phương sách bạo động và cho rằng ngay cả cụ Phan Bội Châu vào năm 1918 đã viết “Pháp Việt Đề Huề Chính Kiến Thư”. Ngay đến Trung Hoa Quốc Dân Đảng sau khi thành công trong cuộc cách mạng lật đổ nhà Thanh thì Thư Ký riêng của Tôn Văn và Đô Đốc Trần Kỳ Mỹ cũng khuyên Phan Bội Châu không nên theo đuổi chủ trương bạo động kịch liệt. Tàu từ chối không phiêu lưu yểm trợ cụ Phan trong đường lối này khi cụ ngỏ lơiø vận động.
Theo nhận định của tác giả Nguyễn Hữu Thống thì năm 1919 là một cơ hội ngàn vàng cho giải pháp đấu tranh ôn hoà vì các khuynh hướng cách mạng Việt Nam đủ đa diện nhiều sắc thái : các sĩ phu thuộc phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo, các sĩ phu thuộc phong trào Tây Du có Phan Chu Trinh tiêu biểu, các nhà lập hiến Bắc Nam, phe tân tả phái với Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan văn Hùm, chưa ai theo chủ trương bạo động vì Nguyễn Tất Thành còn chưa nên cơm cháo gì hai năm sau cuộc cách mạng Bolsevic ở Nga và có lẽ đang học cách viết đơn cho Bộ Trưởng Thuộc Địa xin nhập học các lớp trường thuộc địa trong qui chế nội trú có bổng cấp vì đương sự “tha thiết muốn trở nên hữu dụng cho nước Pháp” (GOLMĐT, tr. 112). Tác giả Nguyễn Hữu Thống cho rằng nếu cùng qui tụ tham gia hợp tác chắc chắn cơ hội thành công sẽ đạt được. Chúng tôi không nghĩ rằng Pháp đã sẵn sàng trao trả thuộc địa vào thời điểm này, mà chỉ là đòn hứa kéo dài thời gian cho qua đợt sóng gió thành lập Hội Quốc Liên thuở đó vơí sự thúc đẩy cuả Tổng Thống Wilson nước Mỹ. Khi Hội Quốc Liên thất bại thì Pháp lại để chìm xuồng lời hứa hẹn chính trị. Những năm sau đó cụ Phan Chu Trinh mất vì bệnh, cụ Phan Bội Châu bị bắt thiếu điều bị tử hình, Pháp vẫn bịt tai xua tay với những kêu gọi thay đổi. Sự bế tắc đó dẫn đến cuộc bạo động khởi nghiã của Việt Nam Quốc Dân Đảng, với các lãnh tụ Nguyễn Thái Học Nguyễn Khắc Nhu, Phó Đức Chính, Phạm Tuấn Tài vào năm 1930. Việt Nam Quốc Dân Đảng ngay từ khi thành lập thì đã chủ trương bạo độâng lật đổ nền cai trị Pháp dù lúc còn đi học Nguyễn Thái Học cũng chủ trương yêu cầu Pháp cải thiện nền cai trị ở Việt Nam. Điểm quan trọng khi đó là sự lãnh đạo phối hợp các mặt khác nhau của nhiều mô thức mà tiến lui cho đúng lúc chứ không phải bó giáo quay về đầu thú tất cả. Sự đấu tranh chính trị là khả năng vận dụng các đối lực xung khắc đích đáng cùng với khả năng chủ động đúng thời điểm. Vấn đề quan điểm ở đây cần phải được thảo luận kỹ hơn, thận trọng hơn đối với bốn (4) kết luận then chốt mà tác giả Nguyễn Hữu Thống đưa ra trong bài viết cuả ông. Đó là: "Nhìn lại lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, gạt bỏ mọi thành kiến, chúng ta ghi nhận công lao của những nhà đấu tranh ôn hoà bất bạo động như Phan Chu Trinh, PQ (Phạm Quỳnh), Bùi Quang Chiêu v.v... …Đây là con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, khôn ngoan và hữu hiệu nhất. Chúng ta chỉ tiếc là năm 1919 Phan Bội Châu đã không nhìn ra giải pháp này. Và năm 1945, PQ đã rút lui quá sớm trong khi các mục tiêu độc lập và thống nhứt chưa hoàn thành. Cũng vì vậy mà ngày nay dân tộc ta đã phải ôm hận triền miên" (GOLMĐT, tr. 107)
Tôi xin vắn tắt đóng góp ý kiến thô thiển với 4 nhận định trên và không đồng ý với tác giả Nguyễn Hữu Thống trên các căn bản sau:
1. Không thể nào xác quyết với những yếu tố khách quan cuả lịch sử rằng bất bạo động là con đường hữu hiệu nhất để giải phóng dân tộc.
Lịch sử đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta đã từng chứng minh cúi đầu ôn hoà năn nỉ là giải pháp kém hữu hiệu nhất. Nếu nói thời điểm 1919 là bước đi thuận lợi nhất có thể có được thì hãy xét những bối cảnh lịch sử của 1919. Aáy là thời điểm thế chiến thứ 1 kết liễu, toàn quyền Albert Sarraut đọc diễn văn tại văn miếu Hà Nội tỏ lòng tri ân Việt Nam đã gửi 100,000 binh sĩ sang chiến đấu bảo vệ nước Pháp cùng mua quốc trái để chi dùng chiến phí (Rồng Nam phun bạc đánh đuổi Đức tặc!) vậy Việt Nam xứng đáng tiến tới một chế độ lập hiến và tự trị. Albert Sarraut cũng cử người sang Tàu để thương nghị với cánh bạo động của cụ Phan (GOLMĐT, tr. 96). Lúc này đảng Cộng Sản Pháp cũng chưa thành hình nói chi là đảng Cộng Sản Đông Dương. Dẫu rằng Gandhi chủ trương bất bạo động mà mãi tới sau thế chiến thứ hai thì Ấn Độ mới được trả độc lập, có chăng lúc đó là sự ra đời đạo luật về “tổ chức chánh quyền Ấn Độ năm 1919”. Kinh nghiệm hiện tại về công cuộc tranh thủ độc lập tự trị cuả người Palestine ở Trung Đông cũng như một đảo dân là xứ Đông Timor độc lập khỏi Nam Dương một cách chớp nhoáng mặc dầu nhỏ bé cho ta thấy chiến hay hòa, bạo động hay bất bạo động đều tự nó không tách khỏi bối cảnh ảnh hưởng các áp lực thế giới phức tạp. Phạm Quỳnh thích truyện Kiều, ông thưà biết rõ mẹo "chiến hòa rắp sẵn hai bài" dầu là việc nhỏ như Thúc Sinh mặc cả để mua nàng Kiều từ mụ Tú Bà hà huống là sự tranh thủ độc lập. Tiếc thay "chim lồng không dễ cất mình bay cao" phải là thế đi của Phạm Quỳnh lúc đó nhưng không phải là thế đi của cụ Phan Bội Châu dù ở năm 1919 được. Những người muốn mặc cả phải biết vận dụng các động lực chính trị ấy hết sức linh họat mới tránh khỏi bị lỡ bộ.
2- Không đồng ý rằng cụ Phan đã làm lỡ cơ hội đường lối ôn hòa năm 1919
Cụ Phan không thể rút ngay được bài học Ấn Độ để từ bỏ dễ dàng lý tưởng cả đời mình, nhất là còn nhiều đồng chí chưa thể đồng tâm với cụ nếu thực sự cụ đổi theo con đường này. Có chăng là ông Nguyễn Bá Trác làm một bài thơ Hồ Trường rồi rưả tay gói kiếm "hà tất cùng sầu đối cỏ cây”. Ông Nguyễn Bá Trác cũng bị Việt Minh hạ sát năm 1945 tại Qui Nhơn (GOLMĐT, tr. 331). Nền thuộc địa Anh Quốc cũng khác vì tâm địa bọn thuộc địa Pháp có khác, không thể đinh ninh rằng Pháp cũng hành xử như Anh Quốc. Ta cứ xem như trường hợp Algerie, Pháp bám mãi như đỉa cho đến năm 1962 dù ở đấy không có phong trào Cộng Sản khuấy động và dù chính quốc bằng lòng ra đi nhưng Tây thuộc địa quyết không bỏ. Ai chẳng biết Pháp thuộc địa quỉ quyệt nói một đàng làm một nẻo. Những lời nói của Albert Sarraut không nên lấy gì làm chắc để trách cứ cụ Phan. Nếu như Pháp thật lòng muôn tiến tới sự hợp tác và buông tha cho người Việt thì chính sách bạo động của cụ Phan như cá bị tách ra khỏi nước còn kêu gọi được ai. Chính các lời hứa suông này mà Nguyễn Thái Học dù khi còn đi học cũng đã gan dạ đạo đạt đòi hỏi canh cải để cuối cùng phải quay sang bạo động và cũng bị tiêu diệt thẳng tay vào năm 1930. Dầu cho nước Pháp có dạy ta một nền văn minh văn hoá dựa trên giá trị tự do bình đẳng thế nào, thì 20,000 Tây thuộc địa cũng có những mưu mô thâm hiểm và gian ngoan của chúng. Đây là phe "thực dân hạ cấp" như chính ông Nguyễn Hữu Thống đã viện dẫn (GOLMĐT, tr. 101).
Chính đám hạ cấp này dai dẳng không chịu nhả mồi khiến chính sách ôn hòa suốt mười ba năm năn nỉ của Phạm Quỳnh trôi theo dòng nước mà còn đặt ra cả vấn đề minh oan cho ông đến ngày nay.
Ta cũng nên nhớ rằng dân tộc Ấn Độ đông đảo hơn ta và có nền văn minh triết lý trừu tượng siêu đẳng và thích hợp với đường lối bất bạo động. Nền văn hoá Khổng học với các gía trị sát thân thành nhân, sĩ khả sát bất khả nhục, và qúa trình bị đô hộ lâu dài của người Việt, sự nhẫn nại theo đuổi chính sách bất bạo động rất khó áp dụng và không có căn bản giá trị văn hóa đối với xã hội ta để được quần chúng hưởng ứng. Mặt khác dầu cho tình bạn riêng tư thân thiết như thế nào, quyền lợi tổ quốc của mỗi bên không chắc đã hy sinh vì tình bạn. Như bài học Phạm Quỳnh đó là tình thân với các bạn Pháp có thể khiến ông được tín nhiệm, không bị nghi kỵ rầy rà làm khó, nhưng không thể nghĩ rằng tình bạn ấy mua được nền độc lập cho tổ quốc khỏi bàn tay của xứ sở bạn mình đang là mẫu quốc! Cái việc trớ trêu mà Albert Sarraut nhắc đến người Việt giúp 100,000 lính đánh cho Pháp cùng tiền bạc ở kỳ đệ I thế chiến, nói ra là cả một niềm tủi nhục cho giới sĩ phu chứ hãnh diện gì. Mất nước để cho người ta khiển dụng trai tráng của mình, tài vật của mình giữ nước cho họ, ta phải nên tức tưởi mới đúng chứ không phải sự đúng đắn khôn ngoan tưởng tượng để làm mất giá trị bi tráng hào hùng của một trang sử và tiền nhân huyết lệ đã qua. Chúng ta cũng không có cơ hội sát cánh với đồng minh như trường hợp Miến Điện, Aán Độ, Phi Luật Tân ở đệ II thế chiến vì một cách giản dị ông Tây thuộc địa cà cộ đã bị ông Nhật phiệt còng tay chân từ năm 1940 (30-8) với hiệp uớc thân hữu Pháp Nhật và sau đó là sự đổ bộ 40,000 quân Nhật vào Nam kỳ theo hoà ước Pháp Nhật Thái Lan ngày 9 tháng 5-1941, mà ông Tây cà cộ thuộc địa phải lo phần cơm gạo dầu đèn do Hiệp ước phòng thủ chung quy định cùng chính phủ "Vichy", bù nhìn của Đức Quốc Xã. Chính Phủ Pháp lưu vong qua dạng Ủy Ban Quốc Gia dưới sự lãnh đạo của tướng De Gaulle lại tuyên chiến với Nhật. Tình trạng quá phức tạp cho người Việt Nam xoay chuyển. Cũng có khi nhờ đó dân ta không bị đem đi đỡ đạn Phát Xít Đức ở Aâu Châu. Và vì thế mà ông Tây còn cay cú vòng trở lại Việt Nam không bỏ sau khi Bảo Đại và Phạm Quỳnh tuyên bố độc lập lúc Nhật thẳng tay loại Pháp khỏi quyền hành ở toàn cõi Đông Dương.
3- Năm 1945 Phạm Quỳnh đã rút lui quá sớm khi các mục tiêu độc lập và thống nhất chưa hoàn thành.
Chúng tôi thiển nghĩ Phạm Quỳnh bị đẩy vào thế phải rút lui vì vua Bảo Đại giải tán nội các. Một ông hoàng đế có quyền cho phục viên các quan lại phục vụ mình. Khi tình thế chính trị và quyền lực đột ngột thay đổi, Vua Bảo Đại thấy người Pháp mẫu quốc đã bị giải trừ, không tuyên bố độc lập thì còn đợi lúc nào đây? Phương chi ông Phạm Quỳnh đã phục vụ 13 năm mà con đường vạch ra không đi đến đâu. Ngồi như thế qủa đã là lâu. Bởi vì một nhà chính trị phải có chủ đích và đường hướng và một phương án hành động trong giới hạn thời gian. Dù không là tay sai cho Pháp thì Phạm Quỳnh cũng là con bài thân Pháp như vua Bảo Đại. Lúc đó người bầy tôi phải hy sinh cho ông vua của mình, dù Bảo Đại không giải tán nội các, ông Quỳnh cũng không thể căn cứ vào quyền lực nào để tiếp tục ở lại trong ghế đầu triều nữa. Không còn Phạm Quỳnh nhưng vua Bảo Đại có thể gấp rút thực hiện chế độ quân chủ lập hiến của ông Quỳnh theo đuổi vì bây giờ ta độc lập thì còn gì phải đợi nước nào ban cho ta cái hiến pháp nưã. Theo chúng tôi thiển nghĩ sau khi tuyên bố độc lập, nếu vua Bảo Đại tuyên bố thực hiện nền lập hiến, mời người tài giỏi hô hào tham gia nghị viện, lâm thời đề cử đại biểu quốc dân nghị viện và khẩn triệu tập vào Huế hay tại Hà Nội rồi vua thân hành đi tới nghe ngóng ý dân để gây hào hứng toàn quốc dù lúc đó có thể nguy hiểm vì Mỹ bỏ bom oanh tạc. Vì vua không quyết đoán mà ông Trần Trọng Kim vị thủ tướng kế nhiệm cũng e dè thận trọng chỉ lo đi xin Nhật trao trả thành phố này, dinh thự kia mà quên động viên tinh thần nhiệt liệt toàn quốc nên trễ nải công việc mà làm hư đại cuộc sau này. Chúng tôi cho rằng ông Quỳnh rút lui là phải chứ không quá sớm vì cái đối tượng mà ông mặc cả mãi cho giải pháp của mình đề bạt đã bất thần bị gạt ra ngoài lề quyền lực, nhưng vì ông không là một nhà chính trị hoạt động nên được về là vui mừng muốn xoay qua về viết báo là nghề sở trường ưa thích. Nghề này càng làm lâu càng danh giá và càng thực hành lý tưởng của mình. Khuyết điểm của Phạm Quỳnh là không hiến kế cho vua Bảo Đại phải làm gì trước khi rũ áo ra đi. Chúng tôi như có cảm tưởng thời thế làm ông bị thất sủng nhưng đường lối đề bạt về một nền lập hiến quân chủ có khi người Nhật cũng tán đồng. Thật vậy ngay cả khi Việt Minh cướp chánh quyền, các sĩ quan Nhật còn xin lấy quân còn lại của họ dẹp nổi loạn nhưng lúc đó tình hình có vẻ trễ và vua cũng không có sự quyết đoán lớn lao của một người thông thạo qui luật đấu tranh chính trị. Vua có sẵn ngai vàng nhưng dường như cũng không tha thiết bảo vệ, mà cũng không kham nổi việc trị quốc. Khi giải tán nội các ngày 19 tháng 3-1945, phục viên Phạm Quỳnh mà không phát huy một kế sách chính trị gì nối tiếp, người ta có thể nghĩ hoàng triều muốn ù lì chuyên chế, do đó thiếu hẳn đi sức hậu thuẫn cuả quốc dân. Nên nhớ rằng đã có nhiều nhà cách mạng như Phan Chu Trinh đã đòi dẹp bỏ vương quyền ngay từ thời phụ hoàng Khải Định cuả ngài nữa. Trước kia nhà báo Nguyễn Văn Vĩnh cũng đã đòi huỷ bỏ chế độ Nam triều mà để nhờ Tây trực trị cho rồi, vì như thế đỡ một cổ bị thắt hai tròng. Tác giả Nguyễn Hữu Thống cho rằng bản tuyên cáo độc lập chưa phải là một hiệp ước (GOLMĐT, tr 105).. Đúng vậy nhưng hiệp ước quan trọng nhất là cái hiến ước với quốc dân mình để dân mừng rằng nay mình tranh đấu giành quyền cho mình chứ không phải cho vương quyền và Nam triều nhà Nguyễn nưã.
4- Dân tộc ta vì vậy đã phải ôm hận triền miên.
Ông Nguyễn Hữu Thống cho rằng vì Cụ Phan bỏ lỡ cơ hội hoà vơiù Pháp năm 1919 và Phạm Quỳnh rút lui quá sớm nên "cũng vì vậy mà dân tộc ta phải ôm hận triền miên ". Tôi mong chờ tác giả có dịp làm sáng tỏ luận cứ này hơn là gay gắt phản bác luận cứ đó ở đây. Dù vậy tôi cũng xin đóng góp rằng cụ Phan và Phạm Quỳnh, dù hai vị đều có khả năng và được quốc dân khá mến mộ (trường hợp Phạm Quỳnh) có khi còn tôn sùng là ngang bậc cha già dân tộc (trường hợp cụ Phan), nhưng trong thời điểm 1919 và 1945 Cụ Phan và Phạm Quỳnh không ở vị thế chủ động tác động thời cuộc. Trách nhiệm lịch sử vì thế không ụp lên đầu hai vị được. Chúng ta đã biết rất rõ là ngày nay dân tộc ta ôm hận triền miên vì Hồ Chí Minh cam tâm theo mô thức cộng sản bạo động, đã thẳng tay triệt hạ hết những nhân tài đối thủ trong thời gian ông ta cầm quyền kháng chiến và thời gian ông ta làm chuá tể trên đất Bắc. Còn về phía Pháp ngay cả sau này Pháp tái dùng chiêu bài Bảo Đại cũng vẫn hứa nhăng cuội không chịu thực hiện nghiêm chỉnh các thoả thuận đối vơí chính phủ Quốc Gia Việt Nam, cứ kéo dài nuôi lực cho Việt Minh lớn mạnh và làm thui chột khả năng phát huy chính nghiã độc lập của những thành phần quốc gia dân tộc. Cụ Trần Trọng Kim sau này cũng nêu rõ thắc mắc ngờ vực dựa trên kinh nghiệm quí báu trải qua: "Việc làm của người Pháp thật là ngoắt ngoéo khó hiểu. Họ đánh nhau với Việt Minh mà lại dung túng người của Việt Minh. Họ nói muốn điều đình với những người trong phái quốc gia, mà lại cản trở việc làm của phái quốc gia" (Một Cơn Gió Bụi, Trần Trọng Kim, tr.176). Đọc danh sách dài đặc những nhân tài kiệt xuất của Việt Nam chống Pháp mà lại có tên trong bảng những người bị Việt Minh thủ tiêu chúng ta không khỏi bồi hồi ngăn được lệ đổ trên pho quốc sử thời hiện đại. Những ông Tây thuộc địa khi Phạm Quỳnh còn làm báo đã có một thời kỳ muốn bán thuộc địa Việt Nam, nhưng sau này khi được Mỹ giúp cho tiền bạc ở Đông Dương thì lại muốn đóng vai nhà thầu chiến tranh. Đó mới là những nguyên nhân tai họa làm dân ta ôm hận triền miên vậy.

Pham Quynh tai Van Phong Bo Lai

o sánh đặc điểm của vua Bảo Đại, Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim và Ngô Đình Diệm
Về bản chất một người chiến sĩ đấu tranh chính trị phải nói ông Ngô Đình Diệm sắc bén trội hơn cả. Vua Bảo Đại dĩ nhiên còn quá trẻ và không am tường chính trị nước nhà. Ngài tại vị chỉ vì thừa hưởng ngôi truyền, nhưng Pháp đã cảnh cáo cho ngài về số phận những ông vua chống đối. Phụ hoàng ông cùng do Tây chọn mà cho lên ngôi đã nhất mực phục tùng người Pháp cai trị. Khi tình thế sôi sục thì vua ẩn mình lo sợ như số phận Louis 14 hoặc số phận Nga Hoàng. Ngay cả giải pháp ôn hoà mà Phạm Quỳnh theo đuổi vua cũng nhột nhạt sợ Tây không chịu. Ngài tâm sự về cuộc vận động năm 1939 với Bộ Trưởng Thuộc Địa Pháp có Phạm Quỳnh tháp tùng “hộ giá” một quan niệm thụ động chấp nhận số phận: “mặc dù cuộc viếng thăm này không có tính chất chính thức, tôi cũng không thể nén mà không nói xa xôi cho ông ta biết vị trí chán nản mà nền chính trị Pháp đã dành cho tôi" (GOLMĐT, tr. 298). Vua không quyết đoán, suốt 13 năm trực tiếp trị vì điều khiển Nam triều đã muốn theo đuổi thực hiện nền quân chủ lập hiến, nhưng khi có tự do để thực hiện thì lại làm như thụt về ôm cứng lấy ngai vàng chuyên chính. Khi sóng gió đến thì run sợ lại muốn trút ngay đi để tránh vạ qua việc thoái vị dễ dàng. Khi Nhật đã bị ăn bom nguyên tử vua Bảo Đại thúc giục cụ Kim lập chính phủ lâm thời chớ không được từ chức thì lâm thời chính phủ không làm nổi nưã, đã bị Việt Minh cướp lấy chính quyền. Bảo Đại chỉ còn trong cương vị cố vấn, đại diện Mỹ muốn cho vay tiền chi dụng, ông hỏi ý Bộ Trưởng tài chánh thì ông Bộ Trưởng Phạm Văn Đồng gạt phắt đi, nói rằng: “Chính phủ Việt Nam không cần tiền người Mỹ” (M.C.G.B., TTK, tr.123). Điểm này cho thấy nếu biết vận động sớm vua Bảo Đại và chính phủ Trần Trọng Kim có thể nhận được sự giúp đỡ của Mỹ sớm hơn để làm đại sự. Chính vì tính thụ động chấp nhận số phận mà không liều thách đố thời cuộc và phát huy sáng kiến.
Phạm Quỳnh như chúng ta đã biết và qua sự trình bày cuả các tác giả trong Giải Oan Lập Một Đàn Tràng là một nhà văn hoá và nhà tư tưởng về chính trị, nhưng không phải là một người chuyên sinh hoạt chính trị. Ông có vạch ra một con đường nhưng không ấn định thời điểm hoàn thành. "Trong sinh hoạt chính trị Phạm Quỳnh không tạo ra những biến cố nổi bật ở dạng bùng nổ", đó là một nhận xét rất xác đáng của tác giả Trần Gia Phụng (GOLMĐT, tr. 314). Suốt thời gian cầm quyền cũng không tổ chức lấy một hậu thuẫn chính trị. Khi tình thế biến chuyển ông đã bị thời gian vượt qua và đào thải. Ông lại không thấy được cả cái thế hung hiểm cuả mình trước cơn lốc cuả lịch sử mà ông biết thế nào cũng kéo đến. Không thực hiện được chủ đích chính trị, ông cũng không phòng nổi thân mình để bị thảm sát mà không có một khả năng chống trả. Ông thường cho mình là người của giao thời và chỉ hợp được một thời gian, và rằng ít người ưa ông. Đứng ở giữa ông bị cả hai bên chán ghét. Một người sinh hoạt chính trị biết rõ mình là ngưỡi đáp đúng thời điểm thì thuờng chụp ngay lấy thời cơ mà hành xử. Phạm Quỳnh làm như người không thiết tha quyền lực theo nghiã quyền hành. Về điểm này ông giống bản chất vua Bảo Đại và khác xa mẫu người quyết liệt của Ngô Đình Diệm. Ông Diệm nhận lời tham gia nội các với điều kiện.
Chính ông Diệm cũng là người chủ trương Pháp cần quay về với căn bản hoà ước Giáp Thân 1884 tôn trọng quyền nội trị của Việt Nam. (GOLMĐT, tr. 336).
Sau khi biết rõ điều kiện cải cách không thỏa đáng ông liền từ chức để minh định lập trường. Ông muốn làm thủ tướng để thi thố kế hoạch của mình. Nhận chức hay từ chức đều có tính toán. Gia đình ông có khuynh hướng làm chính trị và đã đánh nhiều mặt bài liên kết quyền lực. Dựa vào thế lực phe thân Pháp và Thiên Chuá Giáo ( Nguyễn Hữu Bài), ông sống như một tu sĩ, một liêm quan. Anh của ông, ông Ngô Đình Khôi đã cho con là Ngô Đình Huân học tiếng Nhật làm thông ngôn cho đại sứ Nhật. Sau các thất bại liên tiếp và Nhật không tiến cử ông làm thủ tướng dù ông có sinh hoạt với những người thân phong trào Cường Để thân Nhật, ông trì chí liên lạc qua tôn giáo để bắt tay với Hoa Kỳ. Ông biết lúc nào phải vọt chạy, lúc nào hiểm nghèo thật khác với cái tác phong của Phạm Quỳnh. Vua Bảo Đại không ưa mấy với con người khó tính này nhưng thời thế đưa đẩy phải triệu dụng Ngô Đình Diệm. Lần thứ nhất quá ngắn ngủi và không hành sự được như ý, lần thứ hai với toàn quyền quân sự và dân sự cũng như đủ lâu để ông hất luôn Bảo Đại cho tiện bề cai trị đưa Việt Nam qua thể chế Cộng Hoà. Theo tác giả Đặng Văn Nhâm thì Phạm Quỳnh khôn khéo hơn Ngô Đình Diệm. Điểm này cần được phân định. Tác giả Đặng Văn Nhâm viện dẫn Daniel Grandclément qua tác phẩm “Bao Đai ou les derniers jours de l’empire d’Annam” rằng “điều làm cho ông Diệm nổi cơn thịnh nộ lên, và sinh lòng bất mãn, chỉ vì ông Eugène Chatel, vừa nhậm chức Khâm Sứ Trung Kỳ, đã cùng với Phạm Quỳnh, Tổng Lý Ngự Tiền Văn Phòng, muốn bãi bỏ quyền xử án của các hàng quan lại địa phương. Đó là một đòn ác nghiệt đã đánh bể “hũ gạo ngon của giới quan lại Nam triều” (GOLMĐT, tr. 257) nên ông Diệm yếu thế dọa từ chức mà bị cách chức luôn. Vấn đề này nếu có chứng liệu xác đáng thì đánh dấu một sai lầm của Phạm Quỳnh trên phương diện chính trị. Trên cương vị đầu triều, ông Ngô Đình Diệm, Thượng Thư Bộ Lại kiêm Tổng Thư Ký Uûy Ban Cải Cách do tân quân (thật ra vua Bảo Đại nối ngôi từ năm 1926 lúc mới lên 9 tuổi, nhưng lại qua Pháp tiếp học và không trực tiếp trị vì đến năm 1932) thiết lập đã có thái độ quyết liệt của một chính trị gia. Việc bãi bỏ nồi cơm hũ gạo này cho dù có đúng, nhưng là dấu chỉ Pháp tiếp tục vi phạm trầm trọng quyền nội trị của Nam triều theo hoà ước Patenôtre. Nếu như Phạm Quỳnh thực thi việc đòi Pháp áp dụng hoà ước này trong con đường vận động nền quân chủ lập hiến thì ông phải chống lại giải pháp vi phạm qúa trớn đề cập mà đồng ý vơiù Ngô Đình Diệm mới là phù hợp. Trớ trêu thay, mang tiếng là gìn giữ hệ thống Nam triều, họ Phạm đã làm mất lòng quan lại Nam triều. Ngô Đình Diệm xuất thân từ quan lại Nam triều, bảo vệ cho quyền lợi quan lại Nam triều nhưng sau này lại khoác được cho mình danh nghĩa "Bài Phong Phản Thực". Xem như thế, Ngô Đình Diệm quyền biến mưu lược và chấp nhận hung hiểm cuả một nhà chính trị hơn vượt Phạm Quỳnh, vốn nặng nghiệp là một nhà văn hóa. Vấn đề chính ở đây không phải là quan Nam triều xử án ăn hối lộ, bởi đã chắc gì giao cho một ngành khác do Pháp nắm giữ lại thanh liêm hơn đâu. Vấn đề là sự vi phạm thêm vào quyền tự trị của nước Nam mà chính tác giả Đặng Văn Nhâm đã nhận xét tinh tế: "Người da trắng ở VN chính là những vị chúa tể. Một cảnh sát viên quèn từ Pháp sang Việt Nam, làm việc, được lĩnh lương cao hơn cả lương một vị quan đầu tỉnh Nam triều, thí dụ như lương của ông Ngô Đình Khôi, một trong những người anh cuả ông Diệm.” (GOLMĐT, tr.258). Điểm này làm chúng ta liên tưởng thời đệ Nhị Cộng Hoà lương chết đói của quân cán chính Việt Nam có thấm gì với lương những người làm sở Mỹ, dù Mỹ chỉ trên danh nghiã là đồng minh cuả Việt Nam! Người ta cho rằng Ngô Đình Diệm không lượng sức trong cuộc tranh chấp và đã vi phạm nhiều thể lệ như bật mí cho báo chí rõ về các bản tường trình để áp lực Pháp và rằng ông đã sai lầm trầm trọng mà "quên mất rằng: Nếu không có Paris thì Việt Nam chẳng là gì cả. Triều đình nhà Nguyễn cũng dẹp. Hoàng thành cũng sẽ trống trơn” (GOLMĐT, tr. 258). Nếu xét ông Diệm là một quan lại tầm thường thì đây là một dại dột nghề nghiệp, nhưng nhìn về hành vi chính trị này, ta thấy ông quyết liệt và dũng cảm, biết và dám dùng áp lực, được thì lấy thành tích, thua thì lấy danh nghĩa. Đặt mình trong cái thế lưỡng thắng đó, Ngô Đình Diệm xứng đáng là đối thủ cuả Hồ Chí Minh sau này vậy. Sự hiềm khích giưã hai ông Quỳnh và Diệm có thể đã xảy ra và làm cho người ta tiếc rằng ông Ngô Đình Diệm sau này vào năm 1956 trên cương vị chủ tể của quốc gia, dù tìm thấy xác cuả anh ruột và cháu mình cùng vùi dập một hố với Phạm Quỳnh do Việt Minh thảm sát tại rừng Hắc Thú (GOLMĐT, tr. 337), mà không rộng lượng tổ chức rộng rãi lễ cầu siêu vinh danh và phục hồi danh dự cho Phạm Quỳnh để thu phục thêm hậu thuẫn quốc dân.
Thủ Tướng chính thức do Hoàng Đế Bảo Đại cử ra sau khi Nhật hất cẳng Pháp tại Việt Nam là nhà học giả uy tín và đạo đức Trần Trọng Kim. Nếu Phạm Quỳnh ý thức mình là người của giao thời nhưng lại nhìn theo khía cạnh tiêu cực mà không biết làm cho bùng nổ đề vận dụng thời cơ, thì cụ Trần Trọng Kim còn ngơ ngác hơn nưã. Cụ cứ thắc mắc sao các ông chính trị khác như Ngô Đình Diệm lại không được vua Bảo Đại triệu dụng lúc khó khăn này. Cụ Trần Trọng Kim viết trong hồi ký cuộc hội ngộ của cụ lần đầu tiên với ông Ngô Đình Diệm: “Cho đến ngày nay, tôi vẫn chưa hiểu rõ tại sao bọn ông Diệm là người của ông Cường Để ủy quyền cho tổ chúc việc lập chính phủ khi có đảo chánh ở Đông Dương, và lại có một số người Nhật Bản ủng hộ mà chính phủ Nhật lại bỏ rơi” (M.C.G.B., TTK , tr. 45) . Khi diện kiến vua Bảo Đại cụ Trần Trọng Kim còn nài nỉ vua triệu ông Ngô Đình Diệm mà lập chánh phủ. Vua Bảo Đại nói có điện có cho ông Diệm về mà sao không thấy mặt. Nhiều khi ông Ngô Đình Diệm đã nhận định sáng nước hơn mà lỉnh mặt để tránh thế theo Nhật lúc tàn cờ. Ra làm Thủ Tướng mà cụ Kim cẩn thận đôi ba lần thoái thác, rồi trong hoàn cảnh rối ren cụ làm hết sức mình như một người công chức gương mẫu lo trừng phạt cách chức tham nhũng trong khi thế nước đòi hỏi cấp bách một mưu lược chính trị, vì không là một nhà chính trị quyền biến cụ không đặt ngay trọng tâm vào vấn đề an ninh nội an phòng khi chính sự biến động. Tựu trung vì người Nhật đã lật đổ Pháp mà Nhật lại đang thất thế mà cụ không có nhận định chính trị quốc tế rõ rệt. Cả nước vẫn e dè sợ hãi quân đội "thiên hoàng" dò dẫm không biết tìm lối thoát thế nào. Như Phạm Quỳnh, cụ không gây hậu thuẫn chính trị dù em rể của cụ lúc ấy đã móc nối được sự hậu thuẫn cuả Đảng Trưởng Đại Việt. Ở trong thời đại sóng gió mà đứng mũi chịu sào cụ đã bỏ lỡ chớp nhoáng nhiều cơ hội. Phải chăng mẫu người quân tử Đông Phương không thể có khả năng làm chính trị theo nghiã hiện đại? Cái đức khiêm cung, cần kiệm liêm chính và cái quy củ nhân nghĩa lễ trí tín làm như có thể là cái đạo huấn luyện bầy tôi chứ không phải đạo làm chính trị lãnh đạo trị nước hay sao? So sánh giữa hai nhà học giả "nhảy" chính trị này, tác giả Nguyễn Hữu Thống cho rằng Phạm Quỳnh hơn hẳn Trần Trọng Kim vì Phạm Quỳnh" có khả năng và kinh nghiệm đấu tranh chính trị và ngoại giao với quyền biến, chủ trương mưu lược và thủ đọan trong một giai đoạn vô cùng gay go của lịch sử” (GOLMĐT, tr. 105). Điều này có phần xác đáng bởi ngay sau khi Nhật đầu hàng, nội các Trần Trọng Kim còn đang bối rôí, chiều ngày 15 tháng 8-1945 Phạm Quỳnh lại được vua Bảo Đại triệu vào mật nghị cùng với các ông Trần Văn Chương, phó tổng lý kiêm Bộ Trưởng Ngoại Giao và Nguyễn Duy Quang, nội các đại thần (GOLMĐT, tr. 340). Tiếc thay vua đã dùng Phạm Khắc Hoè một người hoat động liên hệ với Cộng Sản ngay trong chức tổng lý ngự tiền Văn Phòng. Có thể cuộc bàn luận này liên hệ tơiù khả năng người Pháp quay trở lại Việt Nam. Phạm Khắc Hoè đi báo phiên họp mật này với đảng viên Cộng Sản Tôn Quang Phiệt. Cũng như vua Bảo Đại, Thủ tướng Trần Trọng Kim, cả hai thầy trò lúc ấy bị nhóm khuynh tả cộng sản hù dọa lung lạc đến nỗi phải bị dồn vào thế thoái vị giải tán mà không chủ động gì được tình thế xã hội chính trị sau đó nữa. Đích thân cụ Kim khuyên vua Bảo Đại nên kịp mà thoái vị "Vì dân ta đã bị bọn Việt Minh tuyên truyền và đang hăng hái về việc cách mệnh như nước đang lên mạnh mình ngăn lại thì vỡ lở hết cả". (MCGB, TTK, tr. 92).
Phạm Quỳnh, Ông là ai?
Tôi gần như đã bàn ngang mà không giới thiệu Phạm Quỳnh. Thật ra cá nhân tôi không có thế giá làm chuyện giới thiệu mặt trời này. Các tác giả trong các bài viết gần như trình bày đầy đủ về nhân vật khả kính Phạm Quỳnh, một nhà văn hóa, một bậc học giả uyên bác, một gạch nối giưã Đông và Tây, giưã kim và cổ, người tiền phong khởi xướng vận động cho một nền quốc học thay vì chỉ có Hán học và Tây học ở xứ ta, một nhà tư tưởng chính trị thực tiễn, một người được giao trọng trách và kỳ vọng thực hiện được một chuyện lấp biển vá trời trong một hoàn cảnh nghiệt ngã éo le, nhìn truớc thời cuộc ba tầm nhưng bị thời cuộc xoay chuyển hụt chân một bước vì bản chất không phải là một nhà sinh họat và vận động chính trị có tham vọng quyền lực bản thân. Thuở thiếu thời theo đòi cách mạng nhưng bị bắt, mồ côi cha mẹ, ông được ông bà nuôi nấng, tự học, cần cù kiên nhẫn tiến lên trong công trình xây dựng kiến thức không những cho mình mà cho tập thể dân tộc của mình trong hoàn cảnh một nước nhược tiểu bị trị hạn hẹp. Một con người dung hòa thích lý luận thuyết phục chính mình và người chứ không qua ép buộc đàn áp. Một con người duy lý và không xung động, bình tĩnh và can đảm, một tay biện luận tài ba. Ông được uỷ thác trách nhiệm trong một thời buổi cực kỳ phức tạp hướng dẫn một hệ thống chính trị vô quyền nhưng khi thời điểm thật sự đã đến lúc thì mạng sống lập tức bị tước đọat bởi những phần tử liều lĩnh phiêu lưu cố quyết đọat lấy quyền lực mà không biết phải sử dụng quyền lực ấy trong trách nhiệm thế nào trước dân tộc và lịch sử, một nạn nhân tiên khởi của Cộng Sản Việt Nam. Một nhà báo tiền phong, một tay bỉnh bút chẳng tốt nghiệp từ một trường huấn luyện đại học chuyên nghiệp nào nhưng thừa khả năng và kiến thức bậc tôn sư. Đấy là những gì tôi mạo muội nghĩ về nhà Học giả Thượng Chi Phạm Quỳnh, Chủ bút Nam Phong tạp chí trong suốt 17 năm với 217 số báo nền tảng cho một phong trào quốc học và sử dụng chữ quốc ngữ trong xã hội Việt Nam. Trong suốt gần 13 năm "một bước lên quan", theo như tác giả Mạc Kinh, "bàn tay của nhà chính trị ấy trải qua nhiều thập niên vẫn trắng, vẫn trong, không có vết máu. Vẫn là bàn tay đơn thuần của một văn nhân đấu tranh cho chính trị! Suốt một đời quyền uy của ông, ông không hãm hại, không giết ai cả”. (GOLMĐT, tr. 50).
Như thế hà cớ gì danh dự của ông bị mất? Hà cớ gì cần ai phục hồi? Có chăng là bổn phận làm vinh danh một người chiến sĩ văn hóa mà chúng ta cần vận động tôn vinh đúng với công trạng của ông đã cống hiến trong lịch sử phát triển hình thành một nền quốc học của quốc gia Việt Nam trong tự do và nhân bản tiến bộ. Sau cùng, đối với danh xưng Ủy Ban Phục Hồi Danh Dự Phạm Quỳnh, tôi xin đề nghị thêm vào hai chữ "vận động” để phản ảnh được đúng đắn chức năng và nghiã vụ cuả dự án này. Như thế Ủy Ban không nên ngừng lại ở việc phát hành tuyển tập này, vì đây chỉ là bước khởi đầu phải có cho công cuộc vận động.
Đỗ Quý Sáng
Tham Khảo:
Giải Oan Lập Một Đàn Tràng, Tuyển tập, Ủy ban phục hồi danh dự Phạm Quỳnh, Tâm Nguyện, Maryland, USA,2001
Một Cơn Gió Bụi, Trần Trọng Kim, Vinh Sơn, Saigon 1969

Biet thu Hoa Duong

Về Phạm Quỳnh: Người nặng lòng với nước
Cứ nghĩ đến trường hợp Phạm Quỳnh là ta lại không khỏi nhớ đến mấy dòng Lỗ Tấn viết trong phần kết thiên kiệt tác A.Q chính truyện: “Còn như về dư luận, thì cả làng Mùi đều nhất trí công nhận rằng: A.Q. không phải là người lương thiện, chứng cớ là y đã bị bắn. Vì rằng: nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ!”[1]
Hơn 60 năm qua, người ta đã viết về ông trong sách báo biết bao nhiêu với giọng điệu như thế: lấy cái chết của ông vì bị bắn làm điểm xuất phát để đánh giá cả cuộc đời và sự nghiệp của ông. Suốt từ năm 1945 đến 1975 ở miền Bắc nước ta và sau năm 1975 là trong cả nước, hầu như đều một giọng như thế…
Trong Đời viết văn của tôi, do nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, xuất bản năm 1971, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã chân tình, ưu ái viết về Phạm Quỳnh như sau:
“Tôi nhìn thấy cảnh bề ngoài cười nụ bề trong khóc thầm này thì sực nghĩ đến Phạm Quỳnh. Tôi cho rằng Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những người có chính kiến. Thấy ở nước ta, ba kỳ có ba chế độ chính trị khác nhau, Nguyễn Văn Vĩnh mới chủ trương thuyết trực trị. Người Pháp trực tiếp cai trị người Nam, như ở Nam Kỳ, không phải qua vua quan người Nam, thì dân được hưởng nhiều chế độ rộng rãi hơn. Phạm Quỳnh, trái lại, chủ trương thuyết lập hiến. Người Pháp nên thi hành đúng Hiệp ước 1884, chỉ đóng vai trò bảo hộ, còn công việc trong nước thì vua quan người Nam tự đảm nhiệm lấy. Bây giờ Phạm Quỳnh vào Huế làm quan, tôi cho không phải vì danh. Quốc dân biết Phạm Quỳnh hơn biết mấy Thượng thư Nam triều. Cũng không phải vì lợi. Làm báo Nam Phong Phạm Quỳnh cũng được phụ cấp 600 đồng một tháng, món này to hơn lương Thượng thư. Phạm Quỳnh ra làm quan, chỉ là để rồi lấy danh nghĩa Chính phủ Nam triều, đòi Pháp phải trở lại Hiệp ước 1884. Vậy một người yêu nước như Phạm Quỳnh, sở dĩ phải có mặt trên sân khấu chính trị chẳng qua chỉ là làm một việc miễn cưỡng, trái với ý muốn, để khuyến khích bạn đồng nghiệp làm việc cho tốt hơn, chứ thực lòng, là một người dân mất nước, ai không đau đớn, ai không khóc thầm. Thế là tôi nghĩ được ra truyện Kép Tư Bền, tả một anh kép hát nổi tiếng về bông lơn, đã phải vì giữ tín nhiệm với khán giả mà ra sân khấu nhà hát làm trò cười, ngay cái tối cha anh đương hấp hối.”
Nhưng, ngay sau đó, như một phản ứng của bản năng tự vệ, ông lại vội vã bác bỏ ngay điều mình vừa khẳng định, bằng cách viết:
“Có lạ gì trình độ chính trị của tôi thời này. Nếu tôi tinh khôn thì tôi đã hiểu hai thuyết trực trị và lập hiến chẳng qua chỉ là thủ đoạn của bọn cướp nước bảo hai tên tay sai bày ra để loè bịp, để ru ngủ người ta đương được chủ nghĩa cộng sản thức tỉnh.”
Đến năm 1998, trong Tác gia văn học Thăng Long – Hà Nội, nhà xuất bản Hội nhà văn xuất bản, Tô Hoài vẫn còn dè dặt viết:
“Đến Cách mạng Tháng Tám 1945, chính quyền nhân dân khép án tử hình.
“Cuộc đời Phạm Quỳnh có hai mặt: Con người chính trị và con người văn hoá. Về những đóng góp của ông đối với việc xây dựng nền văn học quốc ngữ là không thể phủ nhận.”
Xem ra, vẫn nặng hơi hướng “dư luận làng Mùi”. Chỉ có trong quyển Những nhân vật nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam do Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên, nhà xuất bản Văn Hoá-Thông Tin xuất bản năm 1993, là ghi giản dị: “Phạm Quỳnh mất năm 1945.”
Hơn 60 năm đã trôi qua. Nếu Phạm Quỳnh có tội ác nào với dân tộc, có nợ máu gì với nhân dân, chắc chắn đã có người phát hiện và tố cáo rồi. Nhất là những người suy nghĩ như “dân làng Mùi”, luôn cố tìm cách biện minh cho cái kết cục là đã bị tử hình của Phạm Quỳnh. Nhưng, tựu trung, tội của Phạm Quỳnh vẫn không ngoài hai tội “bán nước” và “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp”
Về tội “bán nước”, ngay lúc sinh thời, ông đã có lần đau đớn thốt lên: “người ta bảo tôi bán Nước. Khi tôi ra đời, nước đã mất rồi, còn đâu mà tôi bán.”
Còn tội “tay sai đắc lực cho thực dân Pháp” thì ta hãy xem chính thực dân Pháp nói gì về “tay sai đắc lực” của mình.
Đến hôm nay, thì ngay cả trong nước ta, nhiều người đã biết đến Bản phúc trình (tối mật) đề ngày 8/1/1945 của Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn gửi cho Toàn quyền Đông Pháp Jean Decoux và Tư lệnh Đại tướng Mordant. Nhất là sau khi giáo sư Nguyễn Phước Bửu Tập đã công bố bản dịch tiếng Việt trong Ngày Phạm Quỳnh tổ chức ở California, nước Mỹ tháng 5-1999. Bản dịch như sau:
“Thêm một lần nữa, Thượng thư Nội vụ (Phạm Quỳnh) lại cực lực phiền trách chúng ta về việc trưng dụng lúa gạo để cung cấp cho Nhật.
“Phạm Quỳnh lặp lại điệp khúc yêu cầu chúng ta hoàn trả Bắc Kỳ về cho Hoàng Triều như Pháp quốc đã hứa. Tôi đã lưu ý Hoàng đế Bảo Đại về thái độ bướng bỉnh vượt quá thẩm quyền ông ta đòi nới rộng quyền hạn của Viện Cơ Mật. Hiện tôi đang chờ đợi một phản ứng khác bùng nổ từ ông ta nếu như chúng ta không chịu nhận sự bổ nhiệm một Khâm sai Hoàng Triều trên cõi Bắc Kỳ. Chủ quyền bảo hộ của chúng ta lại một lần nữa bị xúc phạm. Phạm Quỳnh đòi hỏi chúng ta trong một thời hạn ngắn nhất, cụ thể nhất, phải hợp thức hoá việc phục hồi chủ quyền của Vương triều trên lãnh thổ Bắc Kỳ và Nam Kỳ. Phạm Quỳnh còn hăm he sẽ thúc đẩy các phong trào chống đối, nổi dậy nếu như chúng ta không đặt vấn đề thương thảo với Hoàng đế Bảo Đại trong những tháng trước mắt về một quy chế mới nhằm cải biến chế độ bảo hộ sang quốc gia liên hiệp như thể chế Commonwealth, mà trong đó những địa vị quan trọng phải nằm trong tay người bản xứ.
“Những yêu sách của Phạm Quỳnh cứ là thiết lập một nền tự trị toàn diện cho Bắc Kỳ và Trung Kỳ, đồng thời chấm dứt chế độ thuộc địa Nam Kỳ, tiến tới việc hình thành một quốc gia Việt Nam.
“Tôi xin lưu ý quý ngài về sự kiện này, bề ngoài Phạm Quỳnh tuy nhã nhặn, hoà hoãn, nhưng ông ta là một phần tử bất khả phân trong chủ trương giành độc lập cho Việt Nam và chúng ta đừng mong làm gì với lòng ái quốc chí thành, bất di bất dịch nơi ông ta, dù qua việc chúng ta đã dành cho ông một chức vị tối danh dự đã có.
“Cho đến hiện thời, ông ta là một đối thủ thận trọng, chừng mực nhưng kiên quyết trước vấn đề bảo hộ của Pháp quốc, do đó Phạm Quỳnh sẽ có thể trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta, nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á.
“Tôi xin chờ chỉ thị của quý ngài…” [2]
Tưởng chẳng còn gì phải bình luận thêm về tấm lòng son của Phạm Quỳnh, một con người nặng lòng với nước.
Qua nửa năm làm Thương thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9/3/1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu. Tháng 6-1945, trả lời phỏng vấn của nhà báo Nguyễn Vạn An, ông đã bộc bạch: “Tôi đã lỡ lầm mà ra làm quan, vì trước khi dấn thân vào hoạn lộ tôi vẫn tưởng tôi sẽ làm được rất nhiều việc mà trước kia tôi chỉ phụng sự được trong mực đen, giấy trắng”[3]. Và trong bài viết Lão Hoa Đường, Thiếu Hoa Đường cũng vào những ngày ấy, ông tự trách mình: “khờ dại đem mình ra lăn lộn giữa phong trào hỗn độn, trong thời buổi nhá nhem, không biết cái thân “nho quèn” đương nổi sao được thời thế, và ở giữa cái xã hội xu thời mị chúng này, ai còn thiết đến kẻ văn nhân nho sĩ, chỉ biết đem một thái độ ôn hoà nho nhã mà đối với cái cuồng phong bác tạp, hỗn hào”[4]. Ông lặng lẽ chuẩn bị trở lại với hoạt động văn học, dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa Đường tuỳ bút. Và tất nhiên là đọc, đọc rất nhiều sách báo…
Thấy tình hình trong nước có nhiều biến động mà ông anh rể vẫn bình tĩnh vùi đầu vào văn chương như thế, ông Lê Văn Tốn (còn có tên là Xuân), em vợ Phạm Quỳnh, có gợi ý là: “Trong lúc này, anh nên lánh đi xa một thời gian, sang Lào chẳng hạn, vì nhà vua Lào có vẻ mến mộ anh lắm, để tránh những nguy hiểm có thể xảy ra”. Thì Phạm Quỳnh cười và nói rằng: “Chính lúc này mới càng cần ở trong nước, để còn có cơ giúp nước.” Và ông không đi đâu hết, cứ ở lại, đọc, dịch và viết. Ông đã viết non 50 trang giấy trong một cuốn vở học trò, được khoảng chục bài. Bài cuối cùng còn dang dở là Cô Kiều với tôi, một đề tài ông ấp ủ đã lâu. Trong bài có đoạn: “Năm 1924, lần đầu làm lễ kỉ niệm cụ Tiên Điền, trước hai ngàn người họp ở sân Hội Khai Trí, tôi trịnh trọng tuyên bố một câu: Truyện Kiều còn, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn, có điều chi nữa mà ngờ… Câu ấy người mình có người không hiểu, có người hiểu lầm.” Cây bút máy Waterman còn chặn ngang trên trang giấy, gia đình vô tình tìm thấy trên bàn viết sau khi ông được chính quyền Cách mạng “mời đi họp”.
Thành ra nhà văn hoá lão thành Vương Hồng Sển ở tuổi chín mươi đã có lí khi nêu câu hỏi trong tham luận gửi hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học tổ chức vào cuối năm 1992 tại Hà Nội: “Tại sao Cách mạng lại giết Phạm Quỳnh? Cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không?” Và rõ ràng là không phải chỉ có một người băn khoăn như vậy. Đó là câu hỏi của nhiều thế hệ người Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có lời giải đáp thoả đáng.
Vậy ai đã xét xử, kết án, và thi hành án tử hình Phạm Quỳnh?
Chúng ta hãy bắt đầu từ khi ông được chính quyền cách mạng tỉnh Thừa Thiên Huế “mời đi họp” trưa 23/8/1945.
Một học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến (Huế) được chỉ định làm chủ tịch Thanh niên Tiền tuyến là Phan Hàm, nhận lệnh đi bắt Phạm Quỳnh từ cấp trên là Lê Tự Đồng, Việt Minh Thuận Hoá. Phan Hàm cùng vài đồng đội đến biệt thự Hoa Đường đưa giấy của Việt Minh “mời” Phạm Quỳnh “đi họp”[5]. Ông ra đi, mặc áo lương đen, đầu không đội khăn. Khi sắp lên xe hơi, con gái là Phạm Thị Hoàn lo ông lên cơn đau dạ dày định chạy lên lầu lấy thuốc magnésie bismurée để ông đem đi, thì ông dịu dàng nói: ”Thầy không cần, chiều thầy sẽ về”[6]. Hành động này, chắc chắn không thoát khỏi cặp mắt cảnh giác cao của Phan Hàm. Ông cùng lên xe hơi với con rể là Nguyễn Tiến Lãng.
Khi nghe tin Phạm Quỳnh bị bắt, các bà Phạm Thị Giá, Phạm Thị Thức là hai con gái lớn của ông, đến văn phòng Bộ Nội vụ tìm gặp người quen là ông Hoàng Hữu Nam, tức Phan Bôi[7], bấy giờ là Thứ trưởng và Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch, xin cho vào Huế đón mẹ và các em ra Hà Nội. Ông Nam khuyên không nên vào trong lúc này, vì nhân dân đang nổi dậy, vào có khi lại bị bắt giữ lôi thôi, không có lợi. Muốn đón cụ bà và gia đình ra thì để ông “tư” vào trong ấy. (Sau đó, gia đình đã được đưa ra Hà Nội an toàn [8].) Còn nếu muốn gửi thuốc men cho cụ ông thì cứ gói lại và đề ở ngoài là gửi cho “Thầy tôi”, tự ông sẽ cho chuyển đến tận tay. Hai chị em cũng được ông Nam giải thích rõ là: “Vì nay bọn Pháp đang tìm cụ để lợi dụng, nên chúng tôi giữ cụ lại nơi yên ổn thôi.” Hai chị em còn ngỏ ý xin được gặp cụ Hồ. Ông Nam nhận lời sẽ bố trí một hôm nào đó cho được gặp “ít phút thôi, trình bày ngắn gọn, kẻo Cụ ít thời giờ lắm.” Thái độ thân ái chân tình của ông Nam khiến hai bà cảm động và yên lòng, tin tưởng ở cách mạng.
Sau đó ít ngày, có giấy của Bộ Nội vụ báo Cụ Hồ nhận tiếp hai chị em vào 11 giờ ngày thứ sáu, tại Bắc Bộ Phủ. Hai bà được đưa đến chờ ở một phòng rộng, lòng hồi hộp, lo lắng và sợ hãi nữa. Một lát sau thì Cụ ra, mặc áo kaki, đi dép lốp, đi đứng nhanh nhẹn; có ông Vũ Đình Huỳnh theo sau. Hai chị em đứng lên chào Cụ, Cụ bắt tay và mời ngồi. Cụ hỏi thăm thì hai chị em trình bày việc cha bị bắt và trình lên Cụ một phong thư kể rõ sự việc. Cụ Hồ nói: “Trong lúc khởi nghĩa, cũng không sao tránh được sự nhầm lẫn. Rất tiếc khi ấy tôi còn đang ở trên Việt Bắc.” (Chiều 26/8/1945, Hồ Chủ tịch mới về đến Hà Nội, nhà số 48 phố Hàng Ngang [9].) Cụ còn hỏi thăm gia đình được bao nhiêu anh chị em. Rồi cầm phong thư đưa cho ông Vũ Đình Huỳnh và nói: “Tôi sẽ chuyển qua Bộ Nội vụ.” Lúc đó, có người báo có đoàn đến xin gặp Cụ. Hai chị em đứng lên chào Cụ thì Cụ lại bắt tay một lần nữa rồi mới đi… Chuyện xảy ra đã lâu, mà đến năm 1988, đã 75 tuổi, cụ Phạm Thị Giá còn nhớ rõ từng chi tiết như vậy. Lòng nhân ái của cán bộ cách mạng và chính Cụ Hồ đã khiến hai chị em ngày ấy cảm động, quý mến vô cùng. Sau này lại càng khiến hai bà không sao hiểu nổi những sự việc đau lòng xảy ra sau đó[10].
Bà Phạm Thị Thức, em bà Giá, là vợ cố giáo sư Đặng Vũ Hỷ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1. Trong một lần cùng đi máy bay sang Béc-lin (Cộng hòa dân chủ Đức), ông Tôn Quang Phiệt, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạng Thừa Thiên-Huế hồi Cách mạng Tháng 8, đã cố tìm gặp giáo sư Đặng Vũ Hỷ chỉ để nói một điều là: “Tôi đã nhiều lần muốn gặp anh để nói với anh về chuyện cụ nhà (Phạm Quỳnh). Hồi ấy, tôi ở Huế thật, nhưng hoàn toàn không biết gì hết, chỉ biết khi chuyện đã xảy ra rồi.” Ta không thể không tin lời của một trí thức cỡ lớn nói với một trí thức cỡ lớn như vậy.
Trong hồi kí của mình Nhớ lại một thời, do nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản tháng 8/2000, tại Hà Nội, nhà thơ Tố Hữu, Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa Thừa Thiên-Huế ngày ấy, đã nêu rõ: chính ông đã đề nghị tỉnh uỷ, ngay từ khi về đến Huế, là rút khẩu hiệu “Đánh đuổi giặc Nhật, tiễu trừ Việt gian” đã nêu trước đó trong cả nước. Và trong ngày khởi nghĩa tại Huế 23/8/1945, chính ông đã tuyên bố “bảo đảm tính mạng và tài sản cho toàn thể đồng bào” trước đông đảo nhân dân tập trung ở sân vận động Huế. Trong những năm 90 thế kỉ trước, ở chỗ riêng tư, ông còn thổ lộ là: “Mấy chục năm qua, tôi vẫn áy náy, day dứt về việc cụ Phạm Quỳnh.”
Thế là cả Chủ tịch Uỷ ban Khởi nghĩa và Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Cách mạnh Thừa Thiên-Huế đều không biết gì về việc “xử tử hình Phạm Quỳnh”, nói gì đến xét xử, kết án…
Nhân hội thảo về Phạm Quỳnh do Viện Văn Học dự định tổ chức tại Hà Nội cuối năm 1992, đã có gần 20 tham luận gửi tới tham gia với những tên tuổi như: Hoàng Đạo Thuý, Hoàng Tùng, Vũ Khiêu, Hoàng Tuệ, Vương Hồng Sển, Nguyễn Vinh Phúc, Nguyễn Đắc Xuân, Vương Trí Nhàn,v.v…Nhà văn Sơn Tùng chuyên nghiên cứu và viết về Hồ Chủ tịch đã đòi được dự để “công bố một tư liệu độc đáo: Hồ Chủ tịch phản đối việc xử tử Phạm Quỳnh”. Tư liệu ấy như sau:
“Sau khi ông Tôn Quang Phiệt từ Huế ra gặp Cụ Hồ và báo: “Phạm Quỳnh đã bị xử mất rồi.”, thì Cụ Hồ ngồi lặng người một lúc lâu rồi nói: “Giết một học giả như vậy thì nhân dân được gì? Cách mạng được lợi ích gì?…Tôi đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp… Đó không phải là người xấu!”[11]
Đúng là Nguyễn Ái Quốc “đã từng gặp cụ Phạm ở Pháp” không phải chỉ một lần. Năm 1922, Phạm Quỳnh đi Pháp dự hội Đấu xảo thuộc địa tổ chức tại Marseille, có mang theo một cuốn nhật kí tuỳ thân nhỏ bằng bốn ngón tay. Trong đó có ghi: “Juillet, 13, Jeudi: Ăn cơm An Nam với Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc ở nhà Trường (6 Rue des Gobelins)” Và “Juillet, 16, Dimanche: Ở nhà. Trường, Ái Quốc và Chuyền đến chơi.” Còn trên tạp chí Nam Phong khi đăng Pháp du hành trình nhật kí, ông cũng viết công khai: “Thứ năm, 13 tháng 7 năm 1922 : (…) Chiều hôm nay, ăn cơm với mấy ông đồng bang ở bên này. Mấy ông này là tay chí sĩ, vào hạng bị hiềm nghi, nên bọn mình đến chơi không khỏi có trinh tử dò thám. Lúc ăn cơm trong nhà, chắc lũ đó đứng ngoài như rươi! Nhưng, họ cứ việc họ, mình cứ việc mình, có hề chi! Đã lâu không được ăn cơm ta, ăn ngon quá. Ăn cơm ta, nói tiếng ta, bàn chuyện ta, thật là vui vẻ, thoả thích. Ăn no, uống say, cười cười nói nói… Mai là ngày hội kỉ niệm dân quốc…Anh em đi dạo chơi một lượt các phố đông cho biết cái cảnh ngày hội ở Paris thế nào.” Và “Chủ nhật, 16 tháng 7 năm 1922: Hôm nay, không đi đâu, ngồi hầm trong buồng viết mấy cái thư về nhà.
“Trưa, mấy ông chí sĩ cùng ăn cơm bữa trước lại chơi ở trọ, nói chuyện giờ lâu. Nghe nói các ông đi đâu cũng có bọn trinh tử theo sau, chắc bọn đó đã đứng ngoài cửa cả. Người đồng bang ở nơi khách địa, không thể không gặp nhau, gặp nhau không thể không nói chuyện nước nhà, lòng người ai chẳng thế, tưởng cũng chẳng là sự phi phạm gì”[12]. Không phải chỉ có hai lần gặp gỡ như vậy, mà còn có một lần gặp gỡ nữa, quan trọng hơn. Đó là lần họp mặt do các ông Lê Thanh Cảnh và Trần Đức tổ chức vào một buổi chiều, dùng cơm tại khách sạn Montparnasse, Paris, gồm 11 người; trong đó có: Phan Chu Trinh, Nguyễn Ái Quốc, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến. Sau này, Lê Thanh Cảnh đã thuật lại cuộc họp mặt của “Năm nhân vật phi thường ngồi chung lại một bàn” trong hồi kí Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc san số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học. Trong bài có dẫn lời phát biểu của Nguyễn Ái Quốc như sau: “Sở dĩ tôi chủ trương cách mệnh triệt để là vì xưa nay, muốn giành độc lập cho Tổ quốc và dân tộc thì không thể nào ngả tay xin ai được, mà phải dùng sức mạnh, như cụ Trần Cao Vân đã nói là phải dùng búa rìu.” Và lời của Pham Quỳnh: “Có lẽ ngay giữa tiệc này, tôi đã thấy có rất nhiều lập trường tranh đấu chống lại chủ thuyết mà tôi vẫn hoài bão: Quân chủ lập hiến. Nói đến nền quân chủ thì phần đông tỏ vẻ lo sợ chế độ chuyên chế. Nhưng xin đồng bào trương mắt nhìn hai nước Anh và Nhật. Với nền quân chủ, họ đã văn minh tột mức và dân chủ còn hơn các nền dân chủ cộng hoà khác nhiều lắm. Họ có thể đứng vào hàng đàn anh trên hoàn cầu. Đây tôi chủ trương là quân chủ lập hiến. Vua chẳng còn quyền hành gì trong tay mà chuyên chế được. Vua chỉ là người đứng lên “thừa hành” bản hiến pháp mà chính nhân dân toàn quốc được triệu tập dự thảo và quyết định. Như thế, chúng ta có được một chế độ trường cửu do ý dân tự tạo cho mình…Tôi có nhiều dịp đi đó đây, tiếp xúc rất đông đồng bào ba kì thì phần đông – mà xin quả quyết là đại đa số- đều nhiệt liệt tán thành chế độ quân chủ lập hiến. Người Nam cũng niềm nở hưởng ứng vì họ thấy đó là đường lối duy nhất để thống nhất lãnh thổ và dân tộc từ mũi Cà Mau đến ải Nam Quan.” Phan Chu Trinh, Nguyễn Văn Vĩnh và Cao Văn Sến cũng trình bày chủ trương của mình. Thành ra đây là một cuộc họp mặt bàn việc nước, thẳng thắn, sôi nổi, có khi gay gắt, nhưng ai cũng một lòng vì nước dù cho quan điểm có khác nhau, thậm chí chống đối nhau.
Có lẽ qua ít nhất là ba lần gặp mặt mà nay chúng ta còn biết đó (có lần đã chụp ảnh kỉ niệm) và mười mấy năm đọc tạp chí Nam Phong mà Hồ Chủ tịch đã có nhận xét “Đó không phải là người xấu” để phản đối cái án tử hình mà Phạm Quỳnh đã phải chịu.
Nhà thơ lão thành Huy Cận, nhân hai lần tình cờ gặp nhau trong cuộc họp văn học nghệ thuật, đã kéo Phạm Tuyên ra riêng một chỗ để rủ rỉ kể lại một chuyện xưa.
Lần thứ hai, năm 2001, được Phạm Tuyên biếu cuốn Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh mới được nhà xuất bản Văn Học phát hành, ông thức suốt đêm đọc một mạch hết cuốn sách. Sáng hôm sau, găp lại, ông nói: “Càng đọc kĩ những dòng chữ cụ viết mới càng thấy rõ hơn tấm lòng nhiệt thành yêu nước của cụ.” Rồi ông chân tình kể lại một lần nữa chuyện xưa: “Năm 1945, cuối tháng tám, tôi là Bộ trưởng Bộ Canh nông của chính phủ cách mạng lâm thời, được tham gia phái đoàn chính phủ vào nhận sự thoái vị của Bảo Đại, có nghe dân chúng xì xào nhiều về chuyện cụ Phạm bị xử tử hình. Khi về tới Hà Nội, được gặp Bác, tôi có kể lại chuyện đó, thì Bác thở dài, nắm tay tôi và nói: “Đã lỡ mất rồi” [13]. Trong bài Phạm Quỳnh - Chủ bút báo Nam Phong, giáo sư Văn Tạo cũng xác nhận là nhà thơ Huy Cận đã thuật lại với ông câu “Đã lỡ mất rồi” của Hồ Chủ tịch [14]
Sau này, nhân dịp lên chúc Hồ Chủ tịch vào ngày mồng 1 Tết Bính Tuất năm 1946, nhà thơ nữ Hằng Phương có được Người hỏi han về tình hình giới văn học nghệ thuật. Nhân nhắc tới Phạm Quỳnh, Người tỏ ý rất tiếc về những gì đã xảy ra và nói đại ý: Nếu còn sống, ông ấy sẽ nghiên cứu dịch thuật có ích cho văn hoá và văn học nước nhà [15].
Như vậy là đến cả Hồ Chủ tịch cũng phản đối việc tử hình Phạm Quỳnh. Vậy sự việc đã diễn ra như thế nào mà dẫn đến hậu quả thảm khốc như vậy?
Nhân chuyến từ Pháp về thăm Hà Nội, bà Phạm Thị Hoàn, con gái thứ năm của Phạm Quỳnh may mắn được tiếp xúc với cụ Nguyễn Văn Tấn, nguyên Thứ trưởng Bộ Lương thực, đã nghỉ hưu. Cụ Tấn quê ở xã Đức Trường, huyện Đức Thọ - Hà Tĩnh, vào Huế làm công chức từ đầu thập niên 40. Cụ tham gia cách mạng, hoạt động bí mật, tham gia lãnh đạo khởi nghĩa cướp chính quyền ở Huế. Ngay sau khi cách mạng Tháng 8-1945 thành công cụ được bổ nhiệm Giám đốc Tài chính Trung Bộ. Cụ là người biết khá rõ về những ngày cuối của Phạm Quỳnh. Theo bản lược ghi lời kể của cụ Tấn từ 9 giờ 15 đến 10 giờ ngày 7 tháng 12 năm 1997, tại nhà riêng số 30 đường Trần Quốc Toản, Hà Nội, thì sự việc bi thảm đã xảy ra như sau:
“Cái chết của ông là chuyện bất ngờ. Tôi đảm bảo với chị là ông cụ không bị một tí hành hạ, bạc đãi nào. Tôi thấy tận mắt, không có một hành động bạc đãi nào, hoàn toàn không có đánh đập. Ông thường mặc một cái áo lương đen.
“Lúc đầu giam ở Thừa Phủ,trong đó có Ngô Đình Khôi và con trai. Có cả Nguyễn Tiến Lãng nữa. Sau khi được tin là tình hình không ổn, nên rời ông ra Hiền Sĩ, nơi có phong trào cách mạng tốt. Định di chuyển cả Nguyễn Tiến Lãng, nhưng vì ô tô nhỏ, xe chật, nên chỉ chở hai cha con Ngô Đình Khôi và ông thôi. Để ông Lãng lại, định hôm sau chở đi. Lúc di chuyển, anh em quá mệt, nhưng nghe tin Pháp cho nhảy dù, phải đưa ông nhà và cha con Ngô Đình Khôi ra Hiền Sĩ để giao cho tỉnh. Đây là cơ sở cách mạng rất nghiêm, chỉ thị của trên là không được bạc đãi, hành hạ”
Sáu mươi năm sau buổi sáng ông bị giết hại, qua bài báo của nhà văn Thái Vũ, học sinh Phan Hàm ngày nào nay là thiếu tướng quân đội Nhân dân Việt Nam, vì sự công minh của lịch sử, đã kể lại tường tận, chi tiết, cụ thể diễn biến từ khi ông đến nhà bắt Phạm Quỳnh cho đến khi biết tin Phạm Quỳnh bị giết và khẳng định đó là “hành động manh động” của người dân “chỉ mới hưởng một ngày đầu chính quyền cách mạng”, không phải của học sinh trường Thanh niên Tiền tuyến, cũng chẳng theo lệnh của ai, dù là cấp thấp nhất của chính quyền cách mạng Thừa Thiên-Huế. Bài báo viết:
“Tối đó (23-8-1945 – PT ghi chú) anh Phan Hàm bảo với anh Nguyễn Thế Lâm là ngay đêm phải “giải” hai cụ ra khỏi thành phố, nghĩa là cả Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi (có Ngô Đình Huân). Anh Nguyễn Trung Lập đi theo xe. Anh Lập lúc đó không phải trong nhóm Việt Minh trường Thanh niên Tiền tuyến…Xe ra đến Hiền Sĩ, cách Huế chừng 20km, cũng không xa giáp ranh tỉnh Quảng Trị… “giam tạm” mấy người trong một gian nhà bỏ trống, nhờ mấy “dân quân tự vệ” cũng mới vào đoàn (Chúng tôi nhấn mạnh. PT) trông coi rồi…theo xe về Huế ngay… Hôm sau, mấy tên biệt kích Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ… bị dân quân chặn lại, bắt giam để báo về Huế, với đầy đủ vũ khí hiện đại, thức ăn nước uống, lại nhốt sát bên cạnh nhà giam Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi. Dân quân địa phương không biết gì đã đành, báo cáo về Huế, mấy vị lãnh đạo mới nắm chính quyền sốt dẻo lại không chú ý gì vì đang bận chúi mũi bao việc tày trời mới được đảm nhận.
“Việc “bỏ quên” đó thật tai hại, vì nơi giam các cụ và sáu tên biệt kích dù chỉ cách có… một hàng rào!
“Anh em Thanh niên Tiền tuyến đã “hốt” thực sự… Ba Thanh niên Tiền tuyến được Phan Hàm phái theo, trong đó có anh Lê Thiệu Huy… giỏi cả tiếng Pháp và tiếng Anh. Đến nơi, bí mật tiếp cận hàng rào… Lê Thiệu Huy gọi và ra hiệu nói chuyện… Tên Castella, thiếu tá chỉ huy…hỏi ngay “Phạm Quỳnh ở đâu?” Rõ ràng là chúng nhảy dù có chủ đích nhưng không biết là Phạm Quỳnh ở ngay nhà bên cạnh…
“Bọn Pháp sợ vì lúc ấy dân quanh đó và dân quân vài người đến, thấy đông, chúng xin hàng ngay. Tịch thu súng, mọi thứ tịch thu hết. Lúc anh em về lại Huế, báo cáo cấp trên là tuỳ lãnh đạo, ngoài ra không biết gì (Chúng tôi nhấn mạnh –PT)
“Vì vậy, sau đó anh em Thanh niên Tiền tuyến cách li bọn biệt kích Pháp, đưa xuống Sỵa, còn đám hai cụ thì giao cho dân quân địa phương xử lý, chứ không phải Việt Minh Trung bộ (tức chính quyền mới thành lập)” (Chúng tôi nhấn mạnh – PT) [16]
Cụ Tấn còn kể tiếp:
“Lúc đó, ta muốn hoà hoãn với Nhật nên cho lính Nhật đi mua bán trong phạm vi nhất định, và phải đóng yên một chỗ. Nhưng, một hôm, Nhật chở một thuyền có bảy tên, anh em tự vệ đánh để lấy súng, giết được sáu tên, một tên trốn được, chạy về Kim Luông. Đồn Nhật đưa một đại đội ra đánh. Anh em tự vệ chiến đấu đánh lại hơn 2 giờ. Tụi Nhật tiến vào được hơn 3km, xông vào, anh em sợ Nhật đánh tháo, nên thủ tiêu ba ông.
“Tôi ở Huế, cách 25 km, nên không thấy lúc giải quyết thế nào. Chỉ biết là sự việc xảy ra ở xã.”
Tháng 2 năm 1956, nhân gia đình Ngô Đình Diệm cho người đi tìm và cải táng cha con Ngô Đình Khôi, ông Phạm Tuân, con út và bà chị là Phạm Thị Hảo đi theo để nhận di hài cha, đã biết thêm nhiều điều, do gặp nhiều nhân chứng còn sống. Nơi giam giữ cuối cùng là xưởng ép dầu tràm của bác sĩ Viên Đệ ở Cổ Bi cách làng Văn Xá 5km về phía Tây. Làng này lại cách thành phố Huế 15km, về phía Bắc trên đường Huế đi Quảng Trị. Đó là một nơi xa xôi, khó đi lại. Để tìm kiếm hài cốt, chính quyền Sài Gòn phải huy động công binh phát quang, san ủi đất làm đường, bắc cầu…trên hơn 15 km cho xe hơi đi và điều động binh sĩ giữ an ninh quanh vùng. Người canh gác xưởng kể: một đêm đầu tháng tám ta, trăng lưỡi liềm, khoảng mười một giờ, có người xưng là cấp trên đến bảo đưa ba người bị giam ra, cho ăn cơm. Khó ăn, ba người xin ít nước mưa chan cho dễ nuốt. Sau đó, họ bị trói và đưa xuống đò. Người chèo đò kể: đi quanh đi quất trên sông Bồ, gần một giờ sáng thì táp vào bờ, đến gần hai bụi tre thì giết ba người. Người chèo đò không được lên bờ, chỉ nghe thấy tiếng thét lớn bằng giọng Bắc “Quân sát nhân!” sau đó là ba phát súng. (Ngô Đình Khôi và Ngô Đình Huân đều nói đặc giọng Huế). Rõ ràng, cho đến trước khi bị giết, Phạm Quỳnh vẫn không hề nghĩ là những người đã hi sinh xương máu đồng chí đồng bào để giành lại độc lập tự do cho Tổ quốc lại đi giết hại một người suốt đời nặng lòng với nước như ông. Chúng chỉ là những “quân sát nhân” mà thôi.
Một người nấp trong bụi cây gần đấy thấy Phạm Quỳnh bị đánh vào đầu bằng xẻng, cuốc rồi mới bị bắn ba phát. Ngô Đình Khôi không bị đánh chỉ bị bắn ba phát. Ngô Đình Huân hoảng sợ vùng chạy, bị bắt lại, rồi bị bắn ngay vào đầu [17]. “Cả ba bị xô xuống mương rồi vội vàng lấp đất”. Phạm Quỳnh ở dưới cùng, đầu hướng về phía núi, Khôi và Huân nằm đè lên, đầu hướng về phía sông. Khi cải táng, ông Phạm Tuân thấy sọ của thân phụ có một vết nứt ngang như vết cuốc, xẻng đánh mạnh vào, “ba bộ hài cốt nằm chồng chất lên nhau…Hài cốt của Thầy tôi rất dễ nhận vì dài và ngay cạnh tôi nhận ra được đôi mắt kính cận” [18].
Theo các nhân chứng chứng kiến vụ sát hại thì sự việc diễn ra vào đêm trăng non mồng một tháng tám năm Ất Dậu, tức ngày 6/9/1945, chỉ sau ngày nước ta tuyên bố độc lập có bốn ngày.
Di hài Phạm Quỳnh được gia đình cải táng ngày 9/2/1956. Hôm sau đưa về Huế, đặt trong khuôn viên chùa Vạn Phước, nơi sinh thời ông thường đến di dưỡng tinh thần những khi có điều phiền muộn. Mộ chí ghi bằng chữ Hán, thật giản dị: Nam Phong chủ bút Phạm Quỳnh Thượng Chi. Từ 1975 đến nay (2006) khu mộ vẫn được giữ gìn nguyên vẹn. Lại còn có người khắc trên đá hàng chữ Quốc ngữ Tiếng ta còn, nước ta còn, câu nói bất hủ ngày nào của Phạm Quỳnh.
Đến đây, tưởng đã có thể hiểu đựơc vì sao lại có sự trớ trêu: các cấp lãnh đạo cách mạng từ tỉnh Thừa Thiên-Huế đến cấp cao nhất nước hồi ấy đều không hay biết, hoặc phản đối mạnh mẽ, vậy mà vụ sát hại vẫn cứ xảy ra. Tuy vậy, dù là do tình hình cấp bách, nhưng như cụ Tấn đã nhắc đi nhắc lại nhiều lần là kỉ luật rất nghiêm, không có chủ trương trả thù, vậy mà tại sao lại đã xảy ra sự việc động trời này? Và ai là người đầu tiên đã vu cáo Phạm Quỳnh bị “chính quyền nhân dân khép án tử hình”?
Sự thật lịch sử đã chứng tỏ chính quyền nhân dân từ tỉnh Thừa Thiên-Huế là nơi xảy ra sự việc, đến Bộ Nội vụ và cả chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đều chưa hề bao giờ “khép án tử hình” Phạm Quỳnh. Vậy mà cái án bịa đặt trên giấy trắng mực đen ấy, hơn sáu mươi năm qua, đã đè nặng lên cuộc sống của con cháu Phạm Quỳnh, làm đau lòng mọi người Việt Nam có lương tri và còn bóp méo cả một giai đoạn trong lịch sử văn học nước nhà, chỉ vì tin vào “dư luận làng Mùi: Nếu là người lương thiện thì sao lại bị bắn kia chứ”.
Đất nước ta đang phấn đấu thực hiện một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thiết tưởng đã đến lúc cần có một cách nhìn khác, đánh giá lại đúng đắn mọi sự kiện, con người đã từng bị đối xử không công bằng, cũng chẳng dân chủ, càng không văn minh trong suốt những năm qua. Trong số đó, không thể không kể đến trường hợp Phạm Quỳnh mà đến nay mọi sự liên quan đến cái chết bí ẩn của ông đã được làm sáng tỏ. Ông là một người cho đến phút cuối đời mình vẫn nặng lòng với nước, mong mỏi được cống hiến cho nhân dân, đất nước tất cả những gì mình có. Chỉ có điều, ông yêu nước theo cách riêng của ông và chỉ làm được những việc mà ông có thể làm và tưởng rằng đó là cách tốt nhất để thực hiện lý tưởng phục vụ đất nước của mình.
Nhà thơ lớn Đan Mạch Erik Stilnus đã ba lần đến Việt Nam dự hội thảo; lần đầu nhân kỉ niệm sáu trăm năm Nguyễn Trãi. Ông đã gặp một số nhà văn và học giả Việt Nam, lại được đọc bản dịch bài tựa và bài giới thiệu Truyện Kiều của Phạm Quỳnh nên đã cảm thương sâu sắc số phận học giả Phạm Quỳnh. Về nước, ông bắt đầu sáng tác trường ca Phạm Quỳnh và câu chuyện tiếp tục dài 367 câu. Cuối bài thơ ghi Copenhagen 17/9/1979-TP.Hồ Chí Minh 11/10/1980. Tháng 7/1997, nhà thơ Phạm Tiến Duật sang thăm Đan Mạch được ông tặng một bản, cẩn thận cho dịch sang tiếng Anh để nhiều người đọc được. Sau đó, ông còn gửi tặng bà Phạm Thị Hoàn, con gái Phạm Quỳnh cả bản tiếng Đan Mạch lẫn bản tiếng Anh có thủ bút đề tặng của ông [19].
Chương I mở đầu bằng hai câu:
Chúng ta phải thừa nhận
Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh
Chương VII lại mở đầu bằng câu:
Chúng ta đã đối xử sai lầm với Phạm Quỳnh
Còn trong chương VI, có những câu:
Chúng ta không nên gọi ông là một tên phản bội

Chúng ta cần kiên nhẫn giải thích…
rằng Phạm Quỳnh đã không thể hoàn toàn bỏ qua người dân trong những quyển sách ông viết
….Những đêm dài đọc sách,
không thể biến Phạm Quỳnh
thành một cận thần thân Pháp hơn,
mà có thể thành người giúp chúng ta
trong quá trình thời đại
Và thực ra thì ông ta có phần đúng
[20]
Tháng 9-2001 - 26-3-2006
___________________________________________
* Bài đã đăng trên Nguyệt san Công giáo và Dân tộc số 140 tháng 8-2006 dưới nhan đề Phạm Quỳnh, người nặng lòng với nước
* Còn đăng trên Tạp chí Xưa và Nay số 267, tháng 9-2006
TƯ LIỆU THAM KHẢO
Tố Hữu: Nhớ lại một thời nhà xuất bản Hội Nhà văn, 8/2000
(*)Băng ghi lời cụ Nguyễn Văn Bồng, tháng 7/1993
Nguyễn Công Hoan: Đời viết văn của tôi, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội, 1971
Tô Hoài: ….Tác gia văn học Thăng Long Hà Nội nhà xuất bản Hội Nhà văn, 1998
Tôn Nữ Quỳnh Trân chủ biên: Những nhân vậy nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, nhà xuất bản Văn hoá- Thông tin, 1993
Lê Thanh Cảnh: Rời mái tranh trường Quốc Học, bản thảo gửi đăng Đặc San số 5 của Hội Ái hữu Cựu học sinh Quốc Học
Tiểu sử Phạm Quỳnh, Tạp chí Thế Kỷ 21, số 122, 6-1999, Mỹ
Và lời kể của ông Phạm Tuân, con trai Phạm Quỳnh; bà Lê Thị Trung, ông Lê Đức Vượng, cháu gọi Phạm Quỳnh bằng bác và một số con cháu khác của Phạm Quỳnh.
___________________________________________
[1] Lỗ Tấn: Gào thét, nhà xuất bản Văn hoá Viện Văn học, Hà Nội, 1961, bản dịch của Trương Chính
[2] Nguyễn Phước Bửu Tập: Chiến sĩ ái quốc Phạm Quỳnh, tạp chí Văn Hoá, Mỹ
[3] Nguyễn Vạn An: Khi danh vọng về chiều: tôi đã gặp Phạm Quỳnh ở biệt thự Hoa Đường, báo Tin Điển, ngày 23/3/1952
[4] Phạm Quỳnh: Tuyển tập và di cảo, nhà xuất bản An Tiêm, Paris 1992
[5] Theo Thái Vũ, Về cái chết của ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong chủ nhật số 51, 18/12/2005
[6] Theo Phạm Thị Hoàn, bài Thầy Tôi , phát biểu tại lễ kỉ niệm 100 năm ngày sinh Phạm Quỳnh tại Paris, Pháp, báo Ái Hữu, số 115, tháng 6/1992, Paris
[7] Hoàng Trình: Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) ngươi chiến sĩ giúp việc đắc lực cho bác Hồ, báo Sài Gòn Giải Phóng, ngày 11/2/2001
[8] Những người trong gia đình Phạm Quỳnh từ Huế ra Hà Nội đến ở nhà số 5 phố Hàng Da hồi đó gồm có: vợ Phạm Quỳnh, con cả Phạm Giao và bà vợ hai cùng ba người con là Quý (5 tuổi), Kim (3 tuổi), Loan (2 tuổi), Phạm Bích, Phạm Khuê, Phạm Tuyên (15 tuổi), Phạm Thị Hoàn, Phạm Thị Giễm, Phạm Thị Lệ, Phạm Tuân (9 tuổi), Phạm Thị Viên (7 tuổi). Ngay sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, giao thông còn khó khăn, tình hình xã hội chưa ổn định mà đưa được một số người đông như thế (trong đó có năm trẻ em dưới mười tuổi) vượt nửa đất nước ra đến Hà Nội an toàn, mạnh khỏe, đồ đạc mang theo nguyên vẹn, chính là nhờ sự giúp đỡ của chính quyền cách mạng non trẻ, do chính ông Hoàng Hữu Nam (Phan Bôi) đã thực hiện lời hứa “tư” vào trong ấy giải quyết.
[9] Vũ Kỳ: Nhớ mùa thu năm ấy, báo Nhân Dân, ngày 2/9/2000
[10] Phạm Thị Giá: Thư gửi con trai, tháng 4/1988
[11] Bài bà Lê Thị Kinh tức Phan Thị Minh viết tại Paris ngày 20/1/1994
[12] Phạm Quỳnh: Hành trình nhật ký, nhà xuất bản Ý Việt, Paris, 1997
[13] Theo lời kể của nhạc sĩ Phạm Tuyên, con trai Phạm Quỳnh, với người viểt bài này tại Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2001
[14] Giáo sư Văn Tạo: Phạm Quỳnh - Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và Ứng dụng, số 2-2005
[15] Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng: Kẹo Tết của bác Hồ, tạp chí Thế Giới Mới, số Xuân Canh Thìn, 2000
[16] Thái Vũ: Về cái chết ông chủ bút tạp chí Nam Phong, Tiền Phong Chủ Nhật, số 51, 18/12/2005
[17] Việc Phạm Quỳnh bị xử đầu tiên và chỉ có Phạm Quỳnh bị đánh trước khi bắn cho thấy đây là một vụ trả thù, không phải là “xử lý do tình hình cấp bách” như với hai cha con Ngô Đình Khôi.
Trong bài Phạm Quỳnh-Chủ bút báo Nam Phong, báo Khoa học và ứng dụng, số 2, 2005, Giáo sư Văn Tạo, nguyên Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam có ghi chú như sau: “Có người cho rằng, trong số người đi áp tải đó có thân nhân gia đình Thượng thư Nguyễn Hữu Bài - người có mối hiềm từ lâu với Phạm Quỳnh, nên đã lợi dụng việc này mà giải quyết ân oán”.
“Chính con cháu cụ Nguyễn Hữu Bài đã tìm được cơ hội khử Phạm Quỳnh để trả thù cho cha, ông về vụ Năm cụ khi không rớt cái ình / Đất bằng sấm dậy giữa Thần Kinh / Bài không đeo nữa, xin dâng lại….” Đó là lời khẳng định của cụ Nguyễn Văn Bồng, một người thân thiết như con cháu trong nhà Thượng thư Nguyễn Hữu Bài và là một nhân vật nổi tiếng của Đà Lạt, từng là cố vấn văn hoá Hội Chấn Hưng Quốc Gia Việt Nam dưới chế độ Sài Gòn, nói với con trai Phạm Quỳnh tháng 7/1993, tại ấp Hà Đông, Đà Lạt, Lâm Đồng. (*)
[18] Theo Phạm Tuân: Sống lại với kí ức thuở ngày xưa (báo Ngày Nay, số 385, ngày 30/6/2005, tiểu bang Minesota và tạp chí Việt Học Tạp Chí Phổ Thông số 2, tháng 6/2005, Nam California, Mỹ)
[19] Xuân Ba: Những uẩn khúc trong cuộc đời ông chủ bút báo Nam Phong, Tiền Phong Chủ nhật số 46, 13/11/2005
[20] Erik Stilnus: Phạm Quỳnh và câu chuỵên tiếp tục. Viết về Việt Nam (trường ca). Bản dịch của Nghệ sĩ ưu tú Trịnh Thị Ngọ

http://danluan.org/node/907
CHUNG QUANH CÁI CHẾT CỦA PHẠM QUỲNH
Nguyễn Văn Hoàn(PGS-Viện Văn học)
[Từ năm 1960 tôi bắt đầu nghiên cứu vấn đề Nguyễn Du và Truyện Kiều, đề tài cụ thể đầu tiên là các cuộc tranh luận về Truyện Kiều từ khi tác phẩm ra đời cho đến nay, do đó tôi cũng chú ý tìm hiểu trường hợp Phạm Quỳnh.]
Sau khi gia đình Ngô Đình Diệm tìm được ngôi mộ chôn chung Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân và Phạm Quỳnh ở khu rừng Hắc Thú, gần Hiền Sĩ, thuộc tỉnh Quảng Trị (1956) thì báo chí Sài Gòn trước 1975, báo chí tiếng Việt ở hải ngoại thỉnh thoảng khơi lại cái chết của Phạm Quỳnh với những dụng ý khác nhau, chẳng hạn tháng 5 năm 1999 bốn tờ báo Thế kỷ 21, Người Việt, Ngày nay, Xây dựng phối hợp tổ chức Ngày Phạm Quỳnh ở California. Người tường thuật cho biết: “Giới truyền thông xoáy mạnh vào ký ức của gia đình trong thời điểm học giả Phạm Quỳnh bị Việt Minh bắt đi và sau đó thủ tiêu vào năm 1945, đã gợi lại mối xúc cảm thương tâm của những người con, nhiều câu trả lời đã nghẹn ngào cùng với tiếng khóc cố nén lại”.Gần đây báo chí trong nước ta cũng có một số bài khơi lại vấn đề này, có một vài bài đi theo một hướng mới: hoặc cố phát hiện “những uẩn khúc” trong cuộc đời Phạm Quỳnh, hoặc ra sức chiêu tuyết cho Phạm Quỳnh là “người nặng lòng với nước”.
Trong bài này chúng tôi xin góp một ít tư liệu liên quan đến cái chết của Phạm Quỳnh để mong làm rõ nguyên do, hoàn cảnh diễn ra sự việc đó, nhằm tạo cơ sở cho việc nhận định nhân cách chính trị và hoạt động học thuật của ông.

TẠI SAO NĂM 1945 PHẠM QUỲNH LẠI BỊ BẮT?
Trên tạp chí Xưa và Nay (số 267, tháng 9-2006), Phạm Tôn viết: “Qua nửa năm làm Thượng thư kiêm Ngự tiền văn phòng, chín năm làm Thượng thư Bộ Học và gần ba năm làm Thượng thư Bộ Lại, sau đảo chính Nhật 9-3-1945, Phạm Quỳnh thanh thản từ nhiệm, về sống ẩn dật tại biệt thự Hoa Đường bên bờ con sông nhỏ An Cựu… Ông lặng lẽ chuyển bị trở lại với hoạt động Văn học (Do chúng tôi nhất mạnh – N.V.H), dịch và chú giải 51 bài thơ Đỗ Phủ, bắt đầu viết tập Kiến văn cảm tưởng: Hoa đường tùy bút"Phạm Trọng Nhân, trong lời tựa cuốn Phạm Quỳnh – Tuyển tập và Di cảo in ở Paris năm 1992, cũng đã viết: “Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Cuốn sử sang trang. Việt Nam tuyên bố độc lập. Phạm Quỳnh xin về hưu trí, sống đời ẩn dật nơi biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam hiền hậu hài hòa. Ông ôm ấp hoài bão trở lại với sinh hoạt văn chương đã bị gián đoạn tạm thời vì số mạng (Do chúng tôi nhất mạnh – N.V.H). Ông khởi viết một số bài, gom dưới đề Kiến văn cảm tưởng, trong đó mặc nhiên và tế nhị ký thác cả một tâm sự phong phú và đa dạng của một nhà văn phong nhã hào hoa, lạc lõng nơi bể hoạn sinh bất phùng thời"Thanh Lãng trong bài Trường hợp Phạm Quỳnh, viết để phản bác lại những luận điểm của Nguyễn Văn Trung phê phán Phạm Quỳnh trong cuộc diễn thuyết Văn học và chính trị – Một quan điểm mới về cuộc tranh luận Phạm Quỳnh – Ngô Đức Kế qua Truyện Kiều tại trường Quốc gia Âm nhạc, Sài Gòn ngày 7-10-1962, đã viết: “Làm sao hiểu được tâm sự của Phạm Quỳnh. Thực là khó khăn! Tuy nhiên, thái độ có vẻ chán chính trị, được bộc lộ qua thái độ sống rút lui, ẩn dật trên bờ sông An Cựu hình như biện minh phần nào cho Phạm Quỳnh.
Phạm Quỳnh lúc ấy không tham gia chính phủ Trần Trọng Kim, không chạy theo thực dân Pháp, không theo một phe phái cách mạng nào mà cũng chẳng gia nhập Mặt trận Việt Minh".Nhà báo Xuân Ba trong bài Những uẩn khúc trong cuộc đời ông Chủ bút Nam Phong, đăng liền ba số trên Tiền Phong chủ nhật (10-2005) cũng nhấn mạnh theo Phạm Trọng Nhân: Sau ngày 9-3-1945 Phạm Quỳnh “xin về hưu trí, sống ẩn dật ở biệt thự Hoa Đường bên bờ sông đào Phủ Cam hiền hòa. Ông ôm hoài bão trở lại với văn chương!”.
Tóm lại, theo Phạm Tôn, Phạm Trọng Nhân, Thanh Lãng, Xuân Ba thì từ sau đảo chính Nhật 9-3-1945 Phạm Quỳnh đã dứt khoát rời bỏ chính trường, an nhiên ngâm bài Quy khứ lai từ, trở lại vui thú bút nghiên!.
Ngay bản thân Phạm Quỳnh cũng tuyên bố như thế. Sau ngày đảo chính Nhật, có một nhà báo lặn lội từ Hà Nội vào Huế, bằng đủ loại phương tiện giao thông: xe lửa, xe hơi, đi thuyền, xe kéo và cả đi bộ, để đến biệt thự Hoa Đường ở An Cựu, phỏng vấn Phạm Quỳnh.
Hỏi: Chúng tôi muốn biết rồi đây cụ có hoạt động về chính trị nữa không, hay trở về với văn học giới?
Đáp: Suốt một đời tôi đã phụng sự cho văn học thì ngày nay không vì lẽ gì tôi lại không muốn trở lại cái đời cầm bút đã bị một thời gian bỏ dở.
Hơn thế nữa, trong cuốn truyện có tính chất hồi ký nhan đề Những con đường phản kháng, con rể Phạm Quỳnh là Nguyễn Tiến Lãng đã báo cho vợ (bà Phạm Thị Ngoạn): “Sáng ngày 23 tháng 8 năm 1945 cờ mới (tức cờ đỏ sao vàng – N.V.H chú) đã được treo trước cửa nhà.
Khi thức dậy cha nói với người bồi phòng: Nếu trẻ con phải cầm cờ đi mít tinh, anh đi mua cho chúng. Sau bữa ăn, tất cả thanh niên con cháu bồi bếp đều đi mít tinh, chỉ có cha và anh ở nhà với đàn bà con gái”

Như vậy là vào sáng ngày 23-8-1945, ngày nhân dân thành phố Huế mít tinh, khởi nghĩa cướp chính quyền, gia đình Phạm Quỳnh cũng đã tỏ thái độ quy phục cách mạng, tại sao đến 14 giờ chiều hôm ấy Phạm Quỳnh lại bị bắt?”
Trong bài báo mà chúng tôi đã trích dẫn ở đầu bài này, Phạm Tôn, để chứng minh Phạm Quỳnh là “người nặng lòng với nước” đã dùng lại tư liệu và lập luận của Nguyễn Phúc Bửu Tâp trong Ngày Phạm Quỳnh ở California, Mỹ. Theo Nguyễn Phúc Bửu Tập thì Phạm Quỳnh, về văn hóa, có một địa vị siêu đẳng trong nền văn học nước ta, về chính trị, thật xứng đáng được xếp ngang hàng với các bậc tiền bối như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh để gọi là Chí sĩ Phạm Quỳnh, Chiến sĩ Ái Quốc Phạm Quỳnh. Cả hai người – Nguyễn Phúc Bửu Tập và Phạm Tôn – để chứng minh “tấm lòng son” của Phạm Quỳnh đều dẫn ra bản báo cáo mật của Haelewyn, Khâm sứ Trung Kỳ, gửi cho Toàn quyền Đông Dương Decoux, tố cáo Phạm Quỳnh đã trách cứ Pháp trưng dụng lúa gạo để cung ứng cho Nhật và vẫn kiên trì đòi Pháp trả quyền cai trị Bắc Kỳ cho Nam Triều nhưng cả hai đều bỏ qua ý kiến này trong bản mật báo “Phạm Quỳnh có thể sẽ trở thành kẻ đối địch bất khả quy của chúng ta nếu như một khi ông ta bị lôi cuốn bởi lời hứa hẹn của Nhật Bản cho một chủ thuyết Đại Đông Á”.
Lời cảnh báo này chứng tỏ bộ máy mật thám Trung Kỳ của Pháp rất thính, đã tiên đoán ra khả năng thay đổi thái độ chính trị của Phạm Quỳnh, một khi Nhật thắng thế và bây giờ – sau đảo chính Nhật 9-3-1945 – khả năng đó đang trở thành hiện thực.
Trong cuốn Phạm Quỳnh – Tuyển tập và Di cảo do gia đình Phạm Quỳnh xuất bản ở Paris năm 1992 nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Phạm Quỳnh (1892-1992) (Phạm Thị Hoàn, người con thứ tám của Phạm Quỳnh giữ bản quyền, người cháu là Phạm Trọng Nhân đề tựa), mở đầu phần Di cảo (tức Hoa đường tùy bút) đã viết: “Chúng tôi cho in lại trọn vẹn phần Di cảo này coi như một tư sử liệu tốt cho những ai muốn nghiên cứu về Phạm Quỳnh sau này”.
Nói như thế nhưng không làm đúng như thế!
Cuối năm 1982 trong một chuyến tôi sang Paris công tác, tại phòng làm việc của ông, giáo sư Pierre – Bernard Lafont, Chủ nhiệm Trung tâm Lịch sử và Văn minh bán đảo Đông Dương của trường Cao học thực hành thuộc Đại học Sorbonne, đã giới thiệu thôi với bà Phạm Thị Ngoạn. Không hiểu có được thông tin từ nguồn nào mà ông đã nói:Đây là giáo sư Hoàn, mới từ Hà Nội sang, trước đây có thời gian cùng làm việc với chồng bà ở Khu IV, Việt Nam.
P.B Lafont là giáo sư hướng dẫn bà Phạm Thị Ngoạn làm luận án Tìm hiểu Tạp chí Nam Phong (1917-1934). Trong luận án này bà Ngoạn đã giới thiệu lại đầy đủ danh mục các bài trong Di cảo: Bài thứ nhất, nhan đề Thế thái nhân tình; bài thứ 11, bài cuối cùng, nhan đề Cô Kiều với tôi; bài thứ 6, nhan đề Chuyện một đêm một ngày (9-10 tháng 3 năm 1945). Đây là bài cố ý bị bỏ quên, không được in lại trong cuốn Phạm Quỳnh – Tuyển tập và Di cảo, nhưng năm 1973 ở Sài Gòn Giáo sư Nguyễn Văn Trung đã được bà Phạm Thị Hảo, người con thứ năm của Phạm Quỳnh, cho mượn và chụp lại một bản. Theo Nguyễn Văn Trung trong bài này “Phạm Quỳnh kể lại vụ đảo chính Nhật 9-3 ở Huế và người ta thấy Phạm Quỳnh là nhân vật chính mà Nhật tìm đến để liên lạc, đề nghị thương thảo để thuyết phục nhà vua cộng tác với Nhật”. Về việc này còn có một nhân chứng khác. Trong hồi ký Từ Triều đình Huế đến Chiến khu Việt Bắc, Phạm Khắc Hòe, nguyên Chánh văn phòng của Bảo Đại cho biết: Sáng ngày 10-3-1945 ông đi vào Đại Nội làm việc như thường lệ, đến cửa Thượng Tứ thì bị lính Nhật chặn lại và dẫn đến trước mặt một viên quan Nhật. Viên quan này thấy ông đeo bài ngà Ngự tiền văn phòng Tổng lý thì chào một cách kính cẩn và nói bằng tiếng Pháp: “Quân đội Thiên hoàng chỉ truất quyền của thực dân Pháp thôi, chứ không đụng chạm gì đến Nam Triều, còn lệnh thiết quân luật thì đến 6 giờ sáng mai mới hết”, sau đó viên quan Nhật thân dẫn ông Hòe về đến tận nhà!
Sáng hôm sau, 7 giờ, ông Hòe vào điện Kiến Trung, nơi Bảo Đại ở và làm việc. Một lính thị vệ chạy lại: “Dạ bẩm, Hoàng đế chưa tánh (chưa dậy) còn các cụ Cơ mật đã vào chầu Đức Từ (mẹ Bảo Đại)”. Ông Hòe vào cung Diên Thọ, thấy sáu vị thượng thư đang đàm luận sôi nổi với bà Từ Cung về thú đánh mạt chược! Thấy ông Hòe, bà ấy nói mát:Hôm nay ông Tổng lý mới vào à!
Ông Hòe thanh minh:Tâu, từ tờ mờ sáng hôm qua chúng tôi đi đến cửa Thượng Tứ thì bị lính Nhật chặn lại và cho biết đến sáng nay mới hết giờ thiết quân luật!
Bà Từ Cung bắt bẻ:Quân luật là đối với người thường, chứ đâu đối với các ông. Chứng cớ là hôm qua ông Lại vẫn vào chầu được!
Ông Hòe hỏi nhỏ một anh thị vệ:Hôm qua cụ Lại vào chầu lúc mấy giờ?
Dạ bẩm, cụ Lại vào lúc hơn 10 giờ, đi cùng một ông Nhật chắc là quan to lắm!
Sau đó Hội đồng Cơ mật họp. Bảo Đại bảo: “Thầy Lại bắt đầu đi!”
Phạm Quỳnh nói:Nhờ quân đội Thiên Hoàng nước ta đã được độc lập. Hôm qua quan Đại sứ Nhật ở Đông Dương là Yokohama đã vào chầu Hoàng đế, tâu bày nhã ý của Chính phủ Nhật sẵn sàng công nhận nền độc lập của nước ta. Hôm nay Hội đồng Cơ mật họp, thông qua bản “Tuyên bố độc lập”; để cho gọn việc, chúng tôi đã trộm phép dự thảo bản đó. Nói xong Phạm Quỳnh trịnh trọng đọc bản tuyên bố bằng tiếng Việt và bản dịch chữ Hán.

Phạm Quỳnh bị bắt chiều ngày 23-8-1945 thì sáng 29-8 một nhóm sáu sĩ quan Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, tự xưng là “Phái bộ Đồng minh”. Trong lúc Phan Tử Lăng, Chỉ huy trưởng còn đi thỉnh thị cấp trên thì nhóm Thanh niên tiền tuyến tức tối về thái độ láo xược của bọn Pháp, đã bất ngờ tấn công bắt gọn. Theo tài liệu thu được thì nhóm này có nhiệm vụ liên lạc với các quan lại bản xứ để lập lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương.
Gần một tuần sau các báo ở Hà Nội đã đưa tin này để tố cáo âm mưu xâm lược của Pháp. Lê Thiệu Huy, con cụ Lê Thước, một đôi viên Thanh niên tiền tuyến, hàng ngày học tiếng Anh qua đài BBC, cho biết: đài BBC cũng đưa tin này. Mười ngày sau một đơn vị lính Pháp khác lại tìm cách đổ bộ vào cửa biển Thuận An, để thực hiện nhiệm vụ giống như nhóm nhảy dù xuống Hiền Sĩ.
Tóm lại, việc quân Nhật và Phạm Quỳnh âm mưu liên lạc, cấu kết với nhau là nguyên do đầu tiên đưa đến việc Phạm Quỳnh bị bắt giữ. Sau đó việc quân Pháp tìm cách trở lại Huế, thực hiện âm mưu tái chiếm Đông Dương của Chính phủ De Gaulle lại khẳng định sự đúng đắn và cần thiết của việc bắt giữ đó.
DIỄN BIẾN SỰ VIỆC Ở HIỀN SĨ
Đầu năm 1962, Viện Văn học trình lên cấp trên dự kiến kế hoạch kỷ niệm 200 năm sinh Nguyễn Du vào năm 1965. Cuối năm đó Văn phòng ông Tố Hữu chuyển đến Viện một bản tiểu luận, 91 trang đánh máy, nhan đề Trách nhiệm và giá trị Nguyễn Du về Truyện Kiều. [So sánh Truyện Kiều của Nguyễn Du với Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), bản tiểu luận cho rằng công của Nguyễn Du chỉ là ở tài phỏng dịch:
Rằng hay thì thật là hay,
Cành kia chẳng phải cỗi này mà ra!
Tác giả là ông Tôn Quang Phiệt. Kèm theo còn có một bức thư viết tay gửi ông Tố Hữu, yêu cầu được công bố bản tiểu luận. Dưới góc trái bức thư có lời ghi: “Ý anh Lành: Do Viện quyết định”.]
Ban lãnh đạo Viện Văn học đã cử tôi đi gặp ông Tôn Quang Phiệt. Tôi biết ông Tôn Quang Phiệt trước Cách mạng là Hiệu trưởng Trường Thuận Hóa – Huế, hoạt động Việt Minh ở Huế, sau Cách mạng làm Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời tỉnh Thừa Thiên; trong tiểu luận có đoạn ông phê phán ý kiến đề cao Truyện Kiều của “tên bồi bút thực dân Phạm Quỳnh” nên tôi đã hỏi ông về vụ Phạm Quỳnh bị bắt ở Huế năm 1945.
Ông cho biết: Ngày 14 tháng 8 năm 1945 Nhật tuyên bố đầu hàng nhưng lúc đó Huế còn gần năm ngàn lính Nhật chưa bị tước vũ khí. Có tin báo: chúng đang liên lạc với Phạm Quỳnh… Nhằm mục đích ngăn chặn, trưa ngày 23-8-1945, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Trung bộ Trần Hữu Dực ra lệnh bắt khẩn cấp Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi…đem về giam ở nhà lao Thừa Phủ. Một tên hiến binh Nhật đến đập cửa nhà lao đòi vào thăm “bạn”, ta từ chối, chúng lại tìm cách đột nhập nhà lao bằng cổng sau nhưng lại bị ngăn chặn. Chính phủ Trung ương chỉ thị đưa ngay nhóm bị bắt ra Hà Nội. Vì xe chật nên Nguyễn Tiến Lãng bị bỏ lại. Biết tin, hiến binh Nhật cho xe đuổi theo. Đến Hiền Sĩ chúng đuổi gần kịp. Tổ áp giải bất ngờ cho xe rẽ vào rừng. Bọn Nhật mất mục tiêu, rất tức tối, chúng bắn chết hai người ăn xin đang nấu cơm ở chợ rồi quay về Huế.
Gần đây, cuốn Trường Thanh niên tiền tuyến Huế – 1945 đã cung cấp hồi ức của nhiều nhân chứng về các sự kiện xảy ra ở Huế, trước và sau Tổng khởi nghĩa, nhưng để hiểu cụ thể hơn, tôi đã tìm gặp ông Đặng Văn Việt, Trưởng Ban liên lạc cựu học sinh trường Thanh niên tiền tuyến Huế -1945. [Đây là lần đầu tiên tôi gặp ông nhưng có cảm tưởng như gặp lại một người quen cũ. Ông xuất thân từ một gia đình nổi tiếng của huyện Diễn Châu, cạnh huyện tôi, thuộc tỉnh Nghệ An. Ông nội ông, đậu Hoàng giáp, từng làm Tế tửu Quốc tử giám. Thân sinh của ông là Phó bảng Đặng Văn Hướng, ngay trước Cách mạng là Tổng đốc tỉnh Nghệ An, sau Cách mạng được Hồ Chủ tịch mời làm Bộ trưởng không bộ (1946-1952), phụ trách ba tỉnh Thanh – Nghệ - Tĩnh. Những năm 1950-1951, trong các lớp học chính trị “rèn cán chỉnh cơ” ở Quân khu IV tôi đã được nghe tên ông, một Trung đoàn trưởng kiệt xuất của Chiến dịch biên giới, chiến binh Pháp gọi ông là con hùm xám đường số 4. Còn bây giờ, ngồi bệt xuống sàn nhà của một căn hộ nhỏ, khiêm tốn, trong khu lao động Quỳnh Mai (Hà Nội), trước mặt tôi là cựu chiến binh đã gần 90 tuổi, nhưng thân hình vạm vỡ, nói chuyện linh hoạt, hóm hỉnh.]
Ông giới thiệu với tôi về trường Thanh niên tiền tuyến. Chính phủ Trần Trọng Kim thân Nhật không có bộ Quốc phòng mà chỉ có bộ Thanh niên. Bấy giờ Đại học Đông Dương ở Hà Nội đóng cửa, nhiều sinh viên miền Trung rủ nhau về Huế. Đặng Văn Việt, quê ở Nghệ An nhưng là cựu học sinh trường Khải Định nên cũng vui bầu vui bạn về Huế. Luật sư Phan Anh, Bộ trưởng bộ Thanh niên và Giáo sư Tạ Quang Bửu, lãnh đạo tổ chức Hướng đạo sinh, Đặc ủy viên của Bộ Thanh niên, liền tổ chức Trường Thanh niên tiền tuyến, gồm 43 học viên. Ban đầu trong số này đã có 5 người gia nhập Việt Minh, dần dần tất cả đều “Việt Minh hóa” và trở thành một lực lượng tự vệ vũ trang của Ủy ban Khởi nghĩa ở Huế. Đặng Văn Việt nói: “Thanh niên tiền tuyến như một con dao pha được huy động ở mọi nơi cần thiết”. Ngày 23-8-1945, Đặng Văn Việt và Cao Pha được phái đi bắt cha con Ngô Đình Khôi – Ngô Đình Huân, Phan Hàm và Võ Quang Hồ đi bắt Phạm Quỳnh và Nguyễn Tiến Lãng.
Trong hồi ức Những ngày giành chính quyền ở Huế, Phan Hàm, về sau là Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, mất năm 2004, đã kể lại việc đi bắt Phạm Quỳnh như sau: “Chúng tôi đi một chiếc Jeep, vào ngay giữa sân, gặp Nguyễn Tiến Lãng bước ra. Ông Lãng đoán biết, bỏ chạy. Tôi bắn theo một phát, súng không nổ, thật hú vía cho cả người bắn và người bị bắn. Chúng tôi đưa những người bị bắt về lao Thừa Phủ.
Bà Phạm Thị Hoàn, người chứng kiến, cũng đã kể lại vụ việc này. Gần đây tôi đã hai lần đến gặp ông Hoàng Ngọc Diêu tại nhà riêng của ông ở Hà Nội. [Lần đầu đến cùng ông Đặng Minh Phương.] Năm nay ông Diêu 83 tuổi. Năm 1986 ông được phong hàm Trung tướng, làm Tổng cục trưởng Hàng không dân dụng Việt Nam, về hưu năm 1990. Năm 1945, khi xe của nhóm Phạm Quỳnh bị kẹt lại ở Hiền Sĩ thì ông đang công tác tại đây, làm Ủy viên Chấp hành Việt Minh kiêm Bí thư Thanh niên cứu quốc huyện Phong Điền. Lúc đầu nhóm Phạm Quỳnh bị giam ở Lò Tràm đang bỏ hoang (tức một xưởng ép lá tràm lấy dầu). Khi có toán sĩ quan Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ thì tỉnh chỉ thị “di chuyển ngay nhóm bị bắt”. Sau đó ông Diêu được điều về Huế làm Đội trưởng một đội cảm tử, nên không biết những việc cuối cùng xẩy ra ở Hiền Sĩ với nhóm bị bắt trong bối cảnh tình hình giữa ta và Pháp ngày càng căng thẳng, nhưng ông có được xem phiên toà xử Nguyễn Tiến Lãng ở Đại Nội, Huế. Ông còn nhớ Nguyễn Tiến Lãng đã tự bào chữa, đại ý nói: nước mất tôi cũng đi tìm thuốc nhưng lại gặp phải liều thuốc độc!
[Về sau hai gia đình Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi có đơn khiếu nại. Ủy ban Cách mạng lâm thời đã trả lời: Những việc trước đây là thuộc thẩm quyền của Ủy ban Khởi nghĩa, sau đó có cho công bố một văn bản trên báo Quyết Thắng của Việt Minh Trung bộ, do Lê Chưởng làm Chủ nhiệm.
Tôi đã đưa bản thông báo của Ủy ban Khởi nghĩa tỉnh Nguyễn Tri Phương (tức Thừa Thiên) gửi Tòa án quân sự Thuận Hóa (tức Huế), đã đăng trên báo Quyết Thắng tháng 12-1945 mà Nhật Hoa Khanh sưu tầm được cho ông Diêu đọc[15]. Ở tuổi 83, không cần đeo kính, ông vẫn đọc được rất nhanh rồi gật đầu bảo tôi: Đúng văn bản này! Thông báo đó đánh giá tổng quát tội trạng của Phạm Quỳnh như sau: “Phạm Quỳnh, một tay cộng sự của Pháp ở Đông Dương, đã bao phen làm cho quốc dân phải điêu đứng. Phạm Quỳnh đã giúp sức cho quân cướp nước làm mê muội dân chúng Việt Nam. Với cái nghề mại quốc cầu vinh, Phạm Quỳnh đã từ một tên viết báo nhảy lên một địa vị cao nhất trong hàng quan lại Nam triều. Phạm Quỳnh lại còn dựa vào thế lực Pháp và địa vị của mình bóc lột, vơ vét tài sản của quốc dân. Mặc dầu chính quyền của giặc Pháp đã bị truất sau ngày đảo chính 9-3-1945, nhiều triệu chứng chứng (chữ này không có trong bản đặng báo Quyết Thắng, do GS N.V.H thêm – Phạm Tôn chú) tỏ rằng Phạm Quỳnh chỉ chờ cơ hội rước bọn thực dân Pháp đến làm cho diệt nước chúng ta”.
Bản thông báo cho biết: “Cả ba tên Việt gian đại bợm (chỉ Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Huân-N.V.H chú) đã bị bắt ngay trong giờ cướp chính quyền (2 giờ ngày 23-8-1945) ở Thuận Hóa và đã bị Ủy ban Khởi nghĩa kết án tử hình và đã thi hành ngay trong thời kỳ thiết quân luật”.]
Xin nói thêm về Nguyễn Tiến Lãng, bị kết án 8 năm tù, sau được giảm án và được Thiếu tướng Nguyễn Sơn, Khu trưởng Khu IV bảo lãnh, đưa về làm công việc sửa bản in thử cho tờ báo địch vận bằng tiếng Pháp của Liên khu tại một xưởng in, đặt trong chiến khu Như Xuân (Thanh Hóa), về sau được điều về dạy tiếng Pháp, rồi làm Trưởng ban Giáo dục của trường Thiếu sinh quân Liên khu IV.
Cùng thời gian này, từ 1949-1951, tội học Trung học chuyên khoa rồi ở lại làm cán bộ trường Thiếu sinh quân. Trong không khí đoàn kết, cởi mở của trường hồi đó Nguyễn Tiến Lãng không hề bị phân biệt đối xử. Về phần ông, tận tâm với học sinh, cố gắng chịu đựng gian khổ, luôn giữ quan hệ tốt với nhân dân nới đóng quân. Học sinh Thiếu sinh quân có nhiều cảm tình với “Thầy Lãng”.
Trong thời gian này tôi hay trò chuyện, trao đổi ý kiến với ông, từ vụ ông bị bắt ở Huế đến Tạp chí Nam Phong và Phạm Quỳnh. Có vài ý kiến ông nói hồi đó, tôi không hiểu rõ lắm nhưng cũng không tiện hỏi thêm, chẳng hạn, theo ông, Phạm Quỳnh là một người rất kín đáo và khó hiểu, ông thú nhận là không thể hiểu nổi Phạm Quỳnh; thứ hai trong chuyến xe đi Hà Nội, sở dĩ ông bị bỏ lại vì ông là người ít quan trọng nhất!.
Hồi đó tôi đã nghĩ: So với Phạm Quỳnh và Ngô Đình Khôi thì đúng là Nguyễn Tiến Lãng ít quan trọng hơn, nhưng so với Ngô Đình Huân thì tại sao một người đã kế tục Phạm Quỳnh làm Chủ bút Nam Phong, đã làm quan Thừa Thiên Phủ doãn như Nguyễn Tiến Lãng lại ít quan trọng hơn?
Về sau đọc các sách báo, chẳng hạn cuốn Con Rồng Việt Nam của Bảo Đại, tôi mới biết đích xác Ngô Đình Huân hồi đó là bí thư của Đại sứ Nhật bản Yokohama tại Đông Dương.
Trong thời gian ở trường Thiếu sinh quân, Nguyễn Tiến Lãng đã được về phép, thăm quê (Vân Đình, Hà Đông) hai lần. Lần thứ nhất vào hè 1950, ông đi đến nơi về đến chốn và còn mua làm quà tặng cho học sinh một bản nhạc trữ tình lành mạnh mà đến nay một số Thiếu sinh quân đã lên tuổi 70 vẫn còn nhớ và hát lại được. Lần thứ hai về phép vào hè 1951, ông đã “dinh tê” vào Hà Nội, rồi sang Pháp và mất ở Paris năm 1976.
Xin có vài lời kết thúc: tháng 7 năm 2008 tỉnh Hà Tĩnh tổ chức kỷ niệm lần 130 ngày sinh nhà Chí sĩ yêu nước Ngô Đức Kế. Tôi có bản tham luận Nhà Chí Sĩ Ngô Đức Kế, từ tù nhân Côn Đảo đến một nhà báo. Đề cập đến Ngô Đức Kế, Chủ bút Tạp chí Hữu Thanh, tôi không thể không nói đến Phạm Quỳnh, Chủ bút Tạp chí Nam Phong, trong “vụ đụng độ” về Truyện Kiều năm 1924, từ đó tôi không thể không khẳng định “ngòi bút Đổng Hồ” của Ngô Đức Kế là ở phía chính nghĩa dân tộc, còn ngòi bút của Phạm Quỳnh là ở phía ngược lại. Một bạn đồng nghiệp, giáo sư Khoa văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội, sau khi đọc bản tham luận của tôi, đã hỏi:
- Nếu như năm 1945, chiếc xe chở Phạm Quỳnh ra Hà Nội được trót lọt, rồi ông sẽ cộng tác với Chính phủ Cụ Hồ như cựu đồng liêu Bùi Bằng Đoàn của ông thì đến nay chúng ta nói về ông có khác không?
Thảo luận lịch sử trên cơ sở chữ nếu thì thật là thiếu căn cứ, đối với lịch sử thì tốt hơn là hãy tìm hiểu xem tại sao một sự kiện đã xảy ra như thế! Cách mạng đã chìa tay ra với Bảo Đại, Nguyễn Tường Tam, Ngô Đình Diệm… nhưng rút cục họ có đi với Cách mạng đâu! Dù sao câu hỏi trên vẫn làm tôi nhớ lại câu chuyện sau đây: Một hôm Hồ Chủ tịch đã hỏi một nhà báo: “- Này, sao cứ mỗi lần kỷ niệm Cách mạng tháng Tám thì báo, đài lại đưa “Cụ Phan” ra mà réo?”. Nhà báo của chúng ta hơi ngớ ra, vì trong trí nhờ thường trực của ông thì chỉ có hai “Cụ Phan”, đó là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh. Nhưng Hồ Chủ tịch đã nói tiếp: “- Cụ Phan nay đã ở trong Chính phủ, trong Mặt trận Tổ quốc, có đóng góp rất quý. Các chú phải bảo nhau viết lách sao cho có lý, có tình!”
Thì ra Hồ Chủ tịch nói về Phó Thủ tướng Phan Kế Toại.

Tôi có đọc được ở đâu đó một câu cách ngôn – hinh như của La Mã – đại ý khuyên rằng: đối với người đã khuất thì tốt nhất là đừng đụng chạm đến, nếu bất đắc dĩ phải nói đến thì tốt nhất chỉ nên ca ngợi. Tinh thần câu cách ngôn này cũng gần gũi với câu tục ngữ quen thuộc của nhân dân ta: “Nghĩa tử là nghĩa tận”. Tôi tiếp nhận hàm nghĩa của hai lời khuyên này – theo nghĩa rộng – là khi nói về người đã chết thì phải hết sức thận trọng, phải hết sức khách quan và trung thực, không được vì một động cơ cá nhân nào mà cố ý nói sai sự thật, dù theo hướng tô hồng hay bôi đen; hơn nữa, cần nhớ rằng: trong lĩnh vực lịch sử và khoa học xã hội nó chung, dù có thiện chí, cũng rất khó nắm bắt được chân lý chính xác trăm phần trăm. Trên tinh thần đó tôi thành thật mong nhận được sự giám định và bổ sung tư liệu của đông đảo bạn đọc.
PHẠM QUỲNH, THẬT RA LÀ NGƯỜI THẾ NÀO?
Hơn nửa cuối thế kỷ XX và vài năm đầu thế kỷ XXI, câu trả lời công khai thường ngắn gọn đến tàn nhẫn: Phạm Quỳnh là kẻ bán nước, là tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp.
Nhưng ngay từ những năm 1940, Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cái công xây dựng Quốc Ngữ buổi đầu của Phạm Quỳnh không phải là nhỏ và hết lời ca ngợi tài năng cùng cống hiến của ông cho văn hóa nước nhà. Đầu những năm 1970, Nguyễn Công Hoan công khai tiết lộ trong cuốn Đời viết văn của tôi là ông đã viết kiệt tác Kép Tư Bền do thương Phạm Quỳnh, chỉ vì yêu nước mà phải mang nhiều tiếng xấu. Nhà văn hóa Nam Bộ Vương Hồng Sển thì gọi ông là Người đáng làm Thầy, còn hỏi vì sao Cách Mạng lại đi giết cụ Phạm Quỳnh, cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không. Gần đây, đầu thế kỷ mới, nhà văn Sơn Tùng chuyên viết về Hồ Chủ tịch đã cho công bố tư liệu về Mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và Phạm Quỳnh, và gọi ông là bậc danh nhân văn hóa. Còn nhà văn Nguyên Ngọc thì đánh giá ông là một trong mấy người khổng lồ ở nước ta đầu thế kỷ XX.
Phạm Quỳnh sinh năm 1893 tại Hà Nội, trong một gia đình bốn đời đều là nhà nho nghèo. Chín tháng mất mẹ, chín tuổi mất cha, được bà nội cưu mang rau cháo nuôi cháu qua ngày. Lớn lên một chút thì bà lo tìm toàn những chỗ học không mất tiền để Phạm Quỳnh theo học. Từ trường tiểu học Pháp Việt phố Hàng Đào ở gần nhà (số 1 phố Hàng Trống) đến trường Thông Ngôn ở bờ sông Hồng hơi xa, chỉ toàn cuốc bộ đi học. Năm 1908, trường Thông Ngôn nhập với trường Thành Chung Nam Định thành trường Bưởi (tức trường Chu Văn An sau này) thì vừa lúc Phạm Quỳnh đỗ thủ khoa khóa đầu tiên trường Bưởi.
Năm ấy, Pháp đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục, Phạm Quỳnh cùng bạn bè yêu nước lại hiếu học tham gia biểu tình phản đối. Bị bắt giam một ngày một đêm, sau được thả, vì còn trong tuổi vị thành niên: Mới mười lăm. Rồi do đỗ cao, Phạm Quỳnh được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ, một cơ quan nghiên cứu khoa học về Đông Dương của Pháp. Năm 1913, mới 20 tuổi, Phạm Quỳnh đã nổi danh là nhà báo sâu sắc, độc đáo, uyên thâm qua những bài ông gửi đăng trên Đông Dương tạp chí. Ông đặc biệt ham mê chữ quốc ngữ, say sưa tìm về cội nguồn dân tộc, miệt mài đọc các tài liệu cổ sẵn có trong kho cơ quan này. Nên năm 1917, 24 tuổi, ông chớp ngay lấy thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc văn trong Nam Phong tạp chí. Có phương tiện trong tay, ông thỏa sức thi thố tài năng, chiêu mộ nhân tài cùng chung chí hướng yêu nước, thương dân, mong cho dân sớm có cái chữ, mở mang đầu óc, hòng không thua kém người. Thời gian làm báo này, năm 1922, ông đi Pháp dự Đấu Xảo Thuộc Địa, ít nhất cũng ba lần gặp và bàn việc nước với Nguyễn Ái Quốc, Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Vĩnh v.v… Nguyễn Ái Quốc còn chủ động cho làm cơm Bắc mời Phạm Quỳnh đến nhà cùng trò chuyện, tối đến lại rủ nhau đi xem thành phố Paris trước ngày hội lớn quốc khánh 14 tháng 7. Năm 1925, được tin Phan Bội Châu sắp bị đưa ra xử ở Hội Đồng Đề Hình Hà Nội, ông đã viết bài trên báo tiếng Pháp nhằm người đọc là người Pháp cầm quyền ở chính quốc và ở Đông Dương, yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ. Sau đó, Phan Bội Châu đã được miễn mọi tội, chỉ bị quản thúc ở Huế. Thời gian này, Phạm Quỳnh tối tối thường đến thăm và giúp đỡ về vật chất cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.
Ngày 8/1/1945, Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn đã gửi “phúc trình tối mật” cho toàn quyền Decoux và đại tướng Mordant tố cáo Phạm Quỳnh đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng nổi dậy nếu Pháp không trả quyền cho Việt Nam cai quản Bắc và Trung bộ.
Sau Nhật đảo chính Pháp 29/3/1945, Phạm Quỳnh từ quan về ở ẩn tại nhà riêng, bắt đầu trở lại với văn học mà ông hằng yêu mến: dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ và viết dở dang tập Hoa Đường tùy bút-Kiến văn cảm tưởng I.
Trưa 23/8/1945 có mấy sinh viên trường Thanh Niên Tiền Tuyến Huế đến “mời ông lên Ủy ban Cách mạng làm việc”. Ông nhanh nhẹn ra đi. Rồi đêm 6/9/1945 thì ông bị thủ tiêu, khoảng 1 giờ khuya, tại khu rừng Hắc Thú vắng vẻ gần Hiền Sĩ Thừa Thiên Huế.
Sau này, nhà thơ Huy Cận trong phái đoàn chính phủ vào dự lễ Bảo Đại thoái vị và trao lại ấn kiếm, có nghe dân Huế xì xào nhiều về chuyện này. Về tới Hà Nội, ông đã thuật lại với Bác Hồ thì: “Bác thở dài, nắm tay tôi và nói “Đã lỡ mất rồi!””

No comments:

Post a Comment