Saturday, September 30, 2017

Tiếng lóc cóc gõ vào ký ức

Xe thổ mộ trên đường phố Sài Gòn xưa /// Ảnh: tư liệu
Vó ngựa lóc cóc kèm theo tiếng lục lạc vang trên đường đã trở thành thứ âm thanh đầy kỷ niệm của người Sài Gòn.
Chiếc xe nhỏ đong đầy tuổi thơ
Sáng sớm, người Sài Gòn xưa nằm trong nhà đã nghe tiếng xe và vó ngựa lóc cóc.
Xe thổ mộ chạy lên Gò Vấp chở hàng bông về Chợ Lớn. Từ lộ trình lên Gò Vấp, nhiều xe còn ghé Chợ Lớn tranh thủ đón thêm khách. Thông thường xe tập trung tại bến xe ngựa trên đường Mã Lộ (Q.1) hay ghé đậu bến xe ngựa ở chợ Bến Thành.
Thùng xe thổ mộ dài 1,18 m, cao 1 m, ngang khoảng 0,8 m bằng gỗ mít chở khoảng 6 người, ngồi co chân đối mặt “tập thể” trên tấm chiếu bạc lót trên sàn xe. Thùng xe được vít cứng trên một cái nhíp bốn lá hình ô van để tạo sự đàn hồi, giữ thăng bằng cho thùng khi rong ruổi trên đường. Phía đầu thùng xe hai bên là cặp tai đèn. Hai cái vè chở hàng (porte bagage) bằng gỗ bề ngang hơn tấc tay, uốn lượn như dợn sóng. 24 cây căm xe bằng gỗ giáng hương to tổ chảng. Phía ngoài vành bánh xe được bọc bởi vỏ xe hơi nên xe ngựa chạy cũng khá là êm.
Giày dép của khách thì máng ở hai cọc sắt phía sau xe ở góc thùng. Một người ngồi ngay chỗ bàn đạp dành cho khách lên xuống. Dù chật hẹp như vậy nhưng không ai cảm thấy ngột ngạt vì bên hông thùng xe để hở cho gió lùa vào. Mỗi khi trời mưa, khách có thể kéo tấm rèm xuống che mưa. Phía trên nước mưa chảy xuống hết hai bên vì nóc là một cái mái khum tròn như ngôi mộ đất.
Theo một giả thuyết, xe ngựa được gọi là xe thổ mộ vì giống ngôi mộ đất. Có người thì cho rằng xuất phát từ tiếng “thảo mã” đọc trại ra. Và cũng có ý kiến cho rằng thùng xe đóng ở Thủ Dầu Một (Bình Dương) đã được khẳng định trong câu vè: Khô như bánh tráng là chợ Phan Rang, Xe thổ mộ dọc ngang là chợ Thủ Dầu Một, Chẳng lo ngập lụt là chợ Bưng Cầu nên còn được gọi là xe “Thủ mã” rồi đọc trại là… thổ mộ!
Tiếng lóc cóc gõ vào ký ức
Một số tư liệu cho biết thời thập niên 1940 - 1950 là giai đoạn phát triển mạnh của xe thổ mộ. Tại chợ Thủ Dầu Một có đến 3 bến xe thổ mộ nhộn nhịp mà lúc tập trung đông nhất cũng trên 50 chiếc. Không chỉ vậy, Thủ Dầu Một còn có nhiều trại đóng xe thổ mộ có tiếng với thùng xe đẹp, trang nhã, bánh xe bền chắc. Xe sản xuất tại Thủ Dầu Một còn được gọi là xe “thùng Thủ” để phân biệt với các nơi sản xuất khác và cũng để khẳng định “đẳng cấp”. Nghe nói ông tổ nghề đóng xe là Văn Văn Luốc mà một lão mã phu còn giữ được chiếc xe của ông tổ đóng từ cách đây hơn 200 năm.
Người bình dân và xe thổ mộ
Đọc lại những bài viết về phương tiện vận chuyển ngày xưa, được biết xe thổ mộ xuất hiện từ khoảng thập niên 1940 tại Sài Gòn và các vùng phụ cận. Trước khi có xe thổ mộ thì người Pháp đã dùng xe song mã “Milo” và thêm hai loại xe kiếng - một dành cho người Tàu và một dành cho nữ tu Công giáo.
Xe kiếng có 4 bánh do một ngựa kéo, hình dạng như một cái hộp có hai cửa hai bên hông xe và bốn phía thân trên có kiếng để hành khách bên trong thấy khung cảnh bên ngoài. Về sau, loại xe này vừa nặng nề, vừa kềnh càng nên được thay thế bằng xe thổ mộ và hai loại xe khác.
Một loại gọi là “cắc ké kéo bàn thờ” có mui, hai bánh, một ngựa kéo và một loại là thứ xe không mui, mưa nắng hành khách phải che dù. Hai loại xe này chỉ được chạy ở tỉnh. Như vậy, có thể suy nghiệm rằng người dân Nam bộ đã dựa theo xe kiếng để chế ra một loại xe ngựa phù hợp với địa hình đi lại của dân Sài Gòn - Gia Định mà giá cả lại bình dân nên rất được người dân Nam bộ ưa chuộng.
Rồi theo quy luật tiến hóa, xe thổ mộ dần dần phải nhường chỗ cho xe lam và các loại phương tiện vận chuyển khác. Tôi không còn được nghe tiếng nhạc ngựa, vó câu lóc cóc mỗi buổi sáng, chợt nhớ bài học thuộc lòng ngày thơ ấu: Khi người mã phu đó/nhìn bánh xe lăn đều/ông nghĩ thầm trong bụng/nỗi nhọc nhằn sẽ qua/Sau một ngày rời rã/ông ôm con ngựa già/nói như là ru vậy/ngủ cho mùi nhe con/Ngựa đã già tuổi qua/ông lại già tuổi hơn/người lẫn vật vất vả/từng manh áo miếng ăn/Ôi ngày qua tháng lại/bánh xe cũng lăn đều/mà nỗi nhọc nhằn đó/chưa bao giờ lăn qua (Người mã phu - Huy Giang).
Tiếng lóc cóc vó ngựa già thổ mộ đã gõ vào ký ức thời thơ ấu quá đỗi ngọt ngào.
Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay

Mẫu thiết kế của Sĩ Hoàng
Chương trình quy tụ dàn người mẫu chuyên nghiệp đến từ Hà Nội, TP.HCM, Huế… Trong đó, có nhiều người mẫu, hoa khôi, người đẹp nổi tiếng của Vietnam's Next Top Model, các cuộc thi hoa hậu và người đẹp trong nước và quốc tế, như Lan Khuê (top 11 Hoa hậu Thế giới), Ngọc Trân (Hoa khôi Người đẹp Du lịch Huế), Á hậu 1 cuộc thi Hoa hậu Đại dương Hà Thu, Hoa hậu tài năng VN Bích Trâm, Á hậu trang sức Thúy Ngân, Hoa hậu Việt Nam Thế giới 2015 Trúc Linh, Diễm Nhung (gương mặt đẹp nhất Siêu mẫu VN), Hoa hậu Áo dài cuộc thi Hoa hậu Phụ nữ VN Phương Trinh, Á hậu Biển xanh Kim Nguyên, siêu mẫu nam Vũ Đức Hải, Thanh Duy…Đêm hội đã trình diễn 9 bộ sưu tập áo dài của các nhà thiết kế (NTK) nổi tiếng trong nước, như Sĩ Hoàng, La Thanh Phương, Thư Ngân An, Liên Hương, Việt Hùng, Khánh Shyna, Đức Hùng... NTK Sĩ Hoàng mang đến một câu chuyện về hành trình phát triển áo dài từ thuở ban đầu với bộ sưu tập Áo dài Xưa và Nay. Bộ sưu tập của NTK Lê Thanh Phương mang vẻ đẹp cổ điển nhưng vẫn hiện đại của người Sài Gòn, sang trọng và thanh lịch trong bộ sưu tập Dáng xưa. NTK Thư Ngân An mang đến hơi thở và dấu ấn của một Hà Nội - Tràng An lịch lãm, trang nhã.
Người xem được chiêm ngưỡng phong cách Á Đông, kết hợp giữa hoa văn và hoa lá trên chất liệu nhung lụa cao cấp, cùng kỹ thuật thêu đính cuờm tinh tế tạo nên nét độc đáo, vẻ quyến rũ và kiêu sa của áo dài Việt Nam qua những mẫu thiết kế của NTK Liên Hương. Khánh Shyna thiết kế dựa cảm hứng hoa sen Đại Nội kinh thành Huế, từ màu sắc đến hoa văn đậm chất Huế… Các tiết mục trình diễn thời trang được dàn dựng hòa quyện với âm nhạc qua trình diễn của Quang Linh, Vân Khánh, Quang Hào… đã lôi cuốn, hấp dẫn và tránh được sự đơn điệu nhàm chán.
Qua 7 kỳ Festival Huế, Lễ hội áo dài như một dấu ấn đậm nét khó quên với du khách, là niềm tự hào của người dân xứ Huế. Tại Festival Huế 2016, lần đầu tiên chương trình Lễ hội áo dài được xã hội hóa hoàn toàn, không dùng tiền nhà nước. Chương trình được đầu tư hơn 3,5 tỉ đồng.
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 2
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 3
Mẫu thiết kế của Khánh Shyna
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 4
Mẫu thiết kế của Liên Hương
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 5
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 6
Mẫu thiết kế của Thư Ngân An
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 7
Các mẫu thiết kế áo dài đều có họa tiết đặc biệt
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 8
Top 11 Hoa hậu Thế giới Lan Khuê trình diễn tại lễ hội
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 9
Người đẹp Du lịch Huế Ngọc Trân
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 10
Quỳnh Mai - Asia’s Next Top Model
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 11
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 12
Ngoài ra còn có nhiều hoa khôi, người đẹp và siêu mẫu khác
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 13
Ca sĩ Vân Khánh hát trong tà áo dài duyên dáng
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 14
Quang Linh
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 15
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 16
Lễ hội áo dài là một trong những lễ hội chính của Festival Huế
Hành trình áo dài Việt từ xưa đến nay  - ảnh 17
Lễ hội thu hút đông đảo khán giả đến xem
Bùi Ngọc Long - Tuyết Khoa 
(thực hiện)

Người Sài Gòn xưa đọc báo buổi chiều

Các sạp báo tại Sài Gòn thập niên 1950 - 1960  ẢNH: T.L
Hơn 40 năm nay, người Sài Gòn đọc báo vào buổi sáng. Do đó, trong quyển truyện Mùa hè năm Petrus tôi có tả cảnh trẻ em bán báo Sài Gòn thời trước 1975 đi bán báo dạo vào buổi sáng.Sau đó tôi biết mình đã viết thiếu chính xác khi đọc lại một số tư liệu cũ. Nếu bạn đọc nào trên tuổi 60, học bài tập đọc Tả cảnh sinh hoạt gia đình buổi tối nhà em thì thường nhớ câu: “Anh em tôi ngồi học bài, mẹ tôi ngồi may vá và ba tôi ngồi đọc báo”. Bỗng dưng tôi nhớ lại hình ảnh mỗi buổi chiều ba tôi đi làm từ công sở về thường mang theo tờ báo mới mua để tối, sau khi cơm nước xong, nằm đọc để biết tình hình thời sự.
Thú đọc báo buổi chiều
Trong quá trình tìm hiểu tôi có đọc được đoạn sau đây từ Báo Phổ thông số ra ngày 1.8.1961: “Tối nay cơm xong, thầy nằm ghế xích đu đọc báo...”. Và trong Báo Bách khoa số ra ngày 1.3.1962 trong tác phẩm Thư nhà, nhà văn Võ Phiến viết: “Mới ba bốn giờ chiều đã có tiếng rao báo sớm chạy trên các đại lộ, trung tâm đô thành. Rồi thì tiếng rao ấy lan dần mau chóng ra tới các khu phố. Vậy là cho đến 8, 9 giờ tối người bán báo len lỏi vào các xóm lao động ngoại ô la lớn bất ngờ, tiếng nghe ấy vẫn cứ hấp dẫn cho tới khuya, khi ta đang ngồi trước một tô mì, tô phở trong tiệm, người bán báo loáng thoáng rảo qua một vòng khắp các bàn ăn chìa ra xấp báo, ta vẫn thấy tò mò kích thích, tưởng còn có hy vọng tìm thấy trong ấy một tin tức gì mới khác thêm nữa...”.
Còn nhà thơ Thái Ngọc San đã viết trong Tạp chí Ý thức ra tháng 4.1971:
“Cái khung cảnh gây cho tôi nhiều hứng khởi nhất những ngày ở Sài Gòn, là vào những buổi chiều khi xuống bến xe lam nhằm vào lúc những tờ báo mới ra đời. Đấy là hình ảnh những anh công nhân kê vai vác từng kiện báo lớn, những người đàn bà, những chị thanh nữ thoăn thoắt xếp gấp vội vàng bên vỉa hè, những đứa bé lăng xăng chạy lui chạy tới gọi báo mới, báo mới. Chen lẫn trong rừng ngựa xe người ngợm mắc cửi, nếp sinh hoạt nầy mỗi chiều được nhóm lên một lần, hoạt náo như một khu chợ”.
Một mẩu quảng cáo cho tờ nhật báo sắp ra còn làm rõ hơn: “Bạn đọc chú ý. Muốn biết thời sự nóng hôi hổi hãy mua Báo Sóng Thần. Nhật báo Sóng Thần sẽ có mặt trên các sạp báo lúc 3 giờ chiều ngày...”.
Tôi tự đặt câu hỏi và cũng tự trả lời: trừ các tạp chí và tuần báo, tại sao các nhựt trình, hay nhựt (nhật) báo trước kia lại ra buổi chiều. Đơn giản vì người đọc biết ngay tất cả tin tức, sự kiện nóng xảy ra trong ngày. Thí dụ, sáng ngày 1 có tin giá xăng lên thì người dân đã biết ngay chứ không phải đợi đến sáng ngày 2 mới được biết. (Chỉ trừ những sự kiện như hỏa hoạn, đụng xe xảy ra đột xuất vào buổi chiều thì các báo đều bó tay). Thoạt đầu nhiều báo ra lúc 17 giờ, sau đó vì cạnh tranh có báo ra lúc 16 giờ rồi 15 giờ. Thậm chí có tờ nhựt trình mới ra đời thường cạnh tranh ra sớm hơn nữa, khoảng 12 đến 13 giờ đã có báo để lấy độc giả (vì số lượng in không nhiều).
Người Sài Gòn xưa đọc báo buổi chiều
Nhà báo làm việc từ 5 giờ sáng
Để có tờ báo ra buổi chiều thì giờ lên khuôn của các tờ báo lúc ấy thường vào buổi sáng. Đi ngược dòng thời gian, vào khoảng năm 1934, theo bài viết của Tế Xuyên thì tờ Ngọ Báo lên khuôn vào buổi trưa. “Một hôm vào buổi trưa, Ngọ Báo sắp lên khuôn thì có người cho tin sốt dẻo...”. Ông Châu Lang, chủ bút Báo Sài Gòn Mai trả lời Báo Văn Đàn (Sài Gòn): “Chúng tôi làm việc từ 5 giờ sáng và 9 giờ báo đã lên khuôn chờ cho máy chạy. Công việc tòa soạn xong khoảng 8 giờ, chúng tôi tản mát đi mỗi người một ngả rồi chừng 10 giờ mới trở lại làm việc tiếp, lo bài vở cho số báo sau”.
Để có được tờ báo ra buổi chiều và sau đó cố gắng ra báo trước hoặc sau 12 giờ trưa hằng ngày thì thời đó, các ký giả “chân chạy” (săn tin) và “chân nằm” (các biên tập viên) đều làm việc từ lúc sáng sớm. Các phóng viên chạy tin thì đeo bám tin thời sự ở nghị trường hay các cơ quan, ty cảnh sát rồi về viết bài trong buổi sáng. Còn các biên tập viên thì trong buổi sáng phải “dựng” cho xong các trang nằm như trang tiểu thuyết dài kỳ, kịch trường, điện ảnh… là những trang không đòi hỏi tính thời sự.
Nhà văn Bình Nguyên Lộc cho biết trong một hồi ký rằng mỗi ngày 5 giờ sáng đã đi đến tòa soạn. Bài học vào nghề đầu tiên của ký giả, theo hồi ký của nhà báo Lê Thiệp khi nhận việc tại một tòa soạn: “Chúng tôi làm việc sớm, 5 giờ sáng đã bắt đầu rồi. Vì thế tôi trước hết là phải dậy sớm đến tòa soạn cỡ chưa đến 5 giờ sáng”.
Nhìn lại, bây giờ ta có thói quen đọc báo buổi sáng ngày 2 để biết tin tức ngày 1 chỉ vì một thời gian trước đây chúng ta không có nhật báo mà chỉ có tuần báo. Lúc ấy, chỉ có một số nhật báo nhưng những tờ báo này cũng chẳng cần phải cạnh tranh vì mỗi báo có nhiệm vụ riêng, đối tượng của mình. Dần dần, theo thời gian các tờ tuần báo tiến lên nhật báo và báo phát vào buổi sáng vẫn tiếp tục duy trì và người đọc lại vào nếp quen đọc báo vào buổi sáng.
Bây giờ có thêm báo mạng nên tin tức sốt dẻo đã đáp ứng được nhu cầu đói thông tin của thời đại @.
Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Người Sài Gòn xưa ăn nước mắm tĩn

Lò sản xuất nước mắm tĩn ngày xưa  ẢNH: T.L
Dù nước mắm Phan Thiết cũng được đựng trong chai để bán cho khách hàng, nhưng người Sài Gòn xưa vẫn thường mua nước mắm đựng trong tĩn.Xóm tĩn sài gòn
Thật ra, ít khi má tôi mua nguyên tĩn nước mắm. Thời xưa nhà nghèo, không đủ tiền mua nguyên tĩn nên mỗi lần nhà hết nước mắm má thường sai tôi đi mua nước mắm lẻ tại quán bà người tàu mà tụi con nít hay gọi là Xẩm tiệm.
Khi biết tôi mua nước mắm bà liền mở nắp tĩn, dùng một cái gáo làm bằng tre múc nước mắm từ trong lòng tĩn. Cái gáo này (còn gọi là cóng) làm bằng ống tre vạt 1/3 làm cán, 2/3 còn lại được cưa ngang dùng đưa vào tĩn theo chiều thẳng đứng, có nhiều cỡ gáo và các tiệm tạp hóa dùng các cỡ gáo làm đơn vị tính khi bán. Giấm, rượu cũng đong bằng cái gáo tre này.
Nhưng thích nhất là mỗi khi có tiền, má kêu tôi cùng đi chợ để phụ bà xách tĩn nước mắm về vì tĩn cũng khá nặng. Bà thường mua nước mắm tĩn từ những chiếc ghe nhỏ cắm sào ở con rạch Hàng Bàng, phía sau chợ Bình Tây. Đây là những chiếc ghe chở mối nước mắm tĩn từ xóm Tĩn - nằm ở cuối đường Đề Thám đoạn từ Cô Giang đến Bến Chương Dương, gần sông Bến Nghé để ghe thương hồ thuận tiện lên xuống lấy hàng. Nước mắm đựng trong tĩn có thể chở đầy ghe, đầy toa xe lửa, đầy xe vận tải mà vẫn không lo sợ hư bể. Hơn nữa tĩn không cần phải có thùng gỗ để bảo vệ như chai.
Lúc ấy, đã có nước mắm đựng trong chai thủy tinh nhưng không được người tiêu dùng ưa chuộng. Má tôi thường tính toán là mua một tĩn nước mắm giá chỉ có 5 đồng, được 3 lít rưỡi. Sau khi dùng hết nước mắm, còn bán lại cái tĩn cũ với giá 1 đồng rưỡi, như thế một lít nước mắm người tiêu dùng chỉ tốn khoảng 1 đồng. Trong khi đó, nếu mua chai nước mắm 1 lít mà theo giá (năm 1961) của Hãng thủy tinh Việt Nam là 6 đồng mỗi chai, sau khi dùng hết nước mắm bán lại chai chỉ được 2 đồng thì người tiêu dùng phải trả 4 đồng cho 1 lít. Sở dĩ giá nước mắm chai cao như vậy vì kỹ nghệ làm thủy tinh lúc ấy vẫn chưa phát triển nên giá thành còn cao.
Đã có nhiều cuộc tranh luận chính thức hay không chính thức trong các nhà làm nước mắm về việc sử dụng tĩn hay chai. Ngày 14.4.1961 tại Phòng Thương mại Sài Gòn đã có một buổi họp chính thức để thảo luận về vấn đề nước mắm nên vô tĩn hay vô chai. Phái đề nghị nước mắm phải vô chai đưa những lý do: chai thủy tinh luôn sạch sẽ, dễ súc rửa, dễ sát trùng, vệ sinh được bảo đảm. Chai đẹp mắt hơn tĩn và còn giúp được ngành thủy tinh nước nhà phát triển.
Người Sài Gòn xưa ăn nước mắm tĩn 2
Ghe chở nước mắm tĩnẢNH: T.L
Trong khi đó phái chủ trương nước mắm phải vô tĩn thì lập luận: Tĩn rất hạp với hương vị nước mắm. Nếu là nước mắm ngon đựng trong tĩn càng để lâu thì càng ngon, lâu ngày nước mắm sẽ keo lại và xuống màu thành một thứ nước mắm đặc biệt tức là nước mắm lú. Nước mắm lú này có thể để lâu hàng mấy chục năm, có khi cả 100 năm sau trở thành một vị thuốc để người đau phổi cũng có thể dùng trị bệnh được, người mạnh dùng rất bổ và có khi còn trị chứng đau bụng các loại gia súc nữa (?). Nếu nước mắm không vô tĩn thì công nhân làm tĩn sẽ thất nghiệp. 2,4 triệu cái tĩn sẽ trở thành phế vật. Hơn nữa tĩn không cần phải có thùng gỗ để bảo vệ như chai. Còn về mặt kinh tế thì các nhà làm nước mắm không đủ vốn để mua chai thay tĩn và chai đựng nước mắm mắc hơn làm thiệt hại cho người tiêu dùng. Tĩn còn có hình thể rộng miệng hơn chai, dễ đổ nước mắm vào hơn, trong lúc kỹ nghệ nước mắm của ta chưa có những máy móc tối tân để vô chai như các hãng la-ve, nước ngọt...
Sau cuộc họp này, Phòng Thương mại đưa đến kết luận hàng hai là xí nghiệp nào sản xuất nước mắm đóng chai thì cứ... đóng chai. Nhà nào làm nước mắm vô tĩn cứ tiếp tục đến khi nào người mua tẩy chay thì... dẹp.
Những lò sản xuất tĩn
Kỹ nghệ làm nước mắm của tỉnh Bình Thuận đã nắm giữ vai trò độc tôn ngót một thế kỷ nay, khiến cho nghề làm tĩn tại đây ngày càng gia tăng số lượng sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu thụ nước mắm ở khắp thị trường.
Vào khoảng những năm 1960, trên quốc lộ 1 về phía tây - nam thuộc xã Phú Lâm, Bình Thuận có 5 lò tĩn của tư nhân là: Minh Thành, Công Minh, Mỹ Lợi, Hiệp Nghĩa và Hiệp Thành.
Muốn xây cất một lò tĩn, tùy theo lớn nhỏ ít nhất người ta cũng phải tốn khoảng 300.000 đồng theo giá thị trường lúc ấy (1 USD đổi 73 đồng, một lượng vàng giá 5.300 đồng). Mỗi cơ sở phải cần đến khoảng 100 lao động cho các công đoạn lấy đất sét, đạp đất sét, nắn tĩn cho đến phơi, thử, lăn da và chùi tĩn. Số nhân công này được trả công hằng ngày.
Thường thường người ta chọn lựa địa điểm sẵn có đất sét để xây cất lò tĩn vì sẽ được thuận tiện trong việc lấy đất gần đó, khỏi phải tốn hao sở phí chuyên chở đất về lò. Do đó người ta có thể nói rằng các lò tĩn ở Phan Thiết rất thích hợp với địa thế vì ở đấy đã có sẵn đất sét ở ruộng lại gần con sông chảy qua chiếc cầu Ông Nhiểu (tục gọi là cầu Bốn Mươi) nằm trên quốc lộ 1 ở cách các lò tĩn này độ vài trăm thước có loại bùn non nhuyễn và đen để làm nước men thoa tĩn.
Tôi luôn nhớ má tôi hay mua nước mắm tĩn hiệu Ba Con Cua (loại ngon hơn một và Hai Con Cua). Bây giờ, khi ngồi viết lại bài này, tôi vẫn nhớ hình ảnh người đàn bà nghèo xách tĩn nước mắm về nhà, để cái tĩn vào cái thau lớn, lấy đầu sống dao khẽ nạy cái nắp tĩn để đổ nước mắm ra cái thau rồi dùng vải thưa lót trên miệng cái quặng lượt nước mắm vào từng chai lít cho hết cặn... Còn thằng nhỏ - là tôi - vừa ngửi mùi nước mắm thơm sau khi mẹ chắt nước mắm xong là xách cái tĩn dông tuốt ra đầu ngõ chờ chú chệt ve chai, bán kiếm một đồng rưỡi ăn cà lem cây.
Một vài cụ ông từng sống về nghề làm tĩn đã kể lại công đoạn làm tĩn như sau. Thợ nắn đất sét thành hình cái tĩn liền đem phơi khô trong vòng 48 tiếng đồng hồ rồi cho vô lò nung. Khi tĩn đã chín, người ta để nguội mới đem ra khỏi lò và giao cho một số nhân công trông coi từ việc chùi tĩn cho sạch bên trong, quét da tĩn ở bên ngoài (phết lớp xi măng pha nước) rồi giao cho người chí tĩn trong một thùng cây có nước lạnh (chí tĩn tức là thử hay thổ tĩn) để xem có nứt nẻ hay lủng bể thì người ta phải sửa chữa bằng cách trám lại với xi măng, vôi bột và dầu cá trộn lẫn. Chí tĩn xong, tĩn còn được quét 2 lần nước da trắng (một loại vôi trắng pha với xi măng). Sau khi dán nhãn, họ dùng dây chuối phơi khô cột chằng thành 2 cái quai như quai giỏ, rất khéo, cho người mua tiện lợi xách về và có dán nhãn phía trên nắp tĩn.
Nhà văn Lê Văn Nghĩa

Người La Mã cổ đại nghĩ ra hệ thống nhà vệ sinh công cộng


https://baomai.blogspot.com/

Đi vệ sinh là nhu cầu thiết yếu của con người. Thế nên ngay cả từ thời xa xưa, con người ta cũng đã biết phát minh, xây dựng những nhà vệ sinh "văn minh hiện đại" nhằm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu đó.

https://baomai.blogspot.com/

Người La Mã cổ đại được xem như là người tiên phong trong việc đưa công nghệ vệ sinh đến châu Âu từ hơn 2.000 năm trước.

Họ đã nghĩ ra hệ thống nhà vệ sinh công cộng, nhà tắm công cộng... nhằm giữ cho thành phố không ngập trong rác thải, mùi hôi thối.

https://baomai.blogspot.com/

Không quá cầu kỳ, dãy "bồn cầu vệ sinh" của người La Mã cổ đại không có nắp đậy, mà hầu hết là tảng đá hoặc gỗ được khoét lỗ nhỏ, nối dãy với nhau.

Với những người có địa vị cao, họ sẽ được một người giúp việc làm ấm chỗ ngồi đặc biệt đó trước khi đặt mông vào "vị trí" để giải quyết nỗi buồn khôn nguôi đấy !.

https://baomai.blogspot.com/

Ngay dưới bệ bồn cầu vệ sinh công cộng là hệ thống ống dẫn nước, chất thải của nhà vệ sinh.

Chất thải này sẽ được đặt chảy ra những con sông gần đó.

Tuy nhiên do hệ thống cống, dẫn nước này nối toàn thành phố nên việc lây nhiễm giun sán rất dễ xảy ra. Một nghiên cứu mới phát hiện gần đây đã tìm ra, thủ phạm khiến chúng ta bị nhiễm giun, sán... là người La Mã cổ đại.

https://baomai.blogspot.com/

Ngoài ra, nồng độ khí metan thoát ra từ những hố xí khiến chúng dễ bắt lửa hơn nhiều.

https://baomai.blogspot.com/

Nhưng bỏ mặc những mối hiểm nguy đó, người La Mã xưa kia rât quí nước tiểu. Họ tìm cách sử dụng chất thải này từ con người để giặt quần áo. Bởi họ tin rằng, dù mùi có khó chịu một chút, nhưng ammonia trong nước tiểu là chất tẩy rửa rất tốt mà bạn không thể bỏ lỡ được.

Nhưng giải quyết chất thải nặng xong, thì họ sẽ làm gì để làm sạch "chỗ ấy" nhỉ.

https://baomai.blogspot.com/ 
Chiếc que vệ sinh sau khi giải quyết... được dùng chung.

Đơn giản thôi, người La Mã cổ đại sẽ dùng một miếng bọt biển buộc trên đầu một cái que để "gột rửa”, sau khi giải quyết nỗi buồn lê thê này !.

https://baomai.blogspot.com/

https://baomai.blogspot.com/

Cụ thể, phía trước bệ xí là một hệ thống nước chảy, người xưa sẽ nhúng miếng bọt biển đó vào rãnh nước, hoặc thùng nước đầy để làm ẩm chúng, vệ sinh xong lại đặt vào vị trí để người kế tiếp... tái sử dụng!

https://baomai.blogspot.com/

Nghe thật mất vệ sinh, nhưng biết sao được khi phải tới tận thế kỷ thứ VI, người Tàu mới phát minh ra giấy vệ sinh để phục vụ nhu cầu của con người !.

https://baomai.blogspot.com/

Huyền Vũ và 'quả da' Sài Gòn


Tui tình cờ làm hàng xóm với bác Huyền Vũ và anh Quốc Bảo ở cư xá Thanh Bình II nên mỗi khi nghe bác tường thuật đá banh trên sân Cộng Hoà, tui khoái lắm.Đội tuyển VN, huy chương vàng SEA Games 1959 - Ảnh: Tư liệuĐội tuyển VN, huy chương vàng SEA Games 1959 - Ảnh: Tư liệu
Hơn 50 năm trước và cho đến nay, Huyền Vũ xứng danh là một 'huyền thoại' trực tiếp tường thuật đá banh chưa ai qua tại đất Sài Gòn.
“Coi” đá banh bằng… tai
Vào những năm 1960 - 1965, dân “túc cầu giáo” làm gì được xem đá banh qua truyền hình như hôm nay. Khi có những trận đá “chiến tướng”, họ phải ra sân Cộng Hòa (Thống Nhất) để chen chúc mua vé (có khi phải mua vé chợ đen) rồi tự hứa sẽ nhịn cà phê, thuốc lá, la de (bia) bù lại. Còn những người không đến xem trực tiếp tại sân vận động thì sao? Có cách giải quyết: Họ sẽ “coi” đá banh bằng... tai qua tường thuật trận đấu của bình luận viên Huyền Vũ (tên thật là Nguyễn Ngọc Nhung, ký giả (phóng viên) thể thao và là bình luận viên đá banh, sinh năm 1914, mất năm 2005).
Nhiều người vào xem đá banh trực tiếp trong sân còn mang theo radio để nghe tường thuật cho đã. Tôi nhớ lại vào một buổi chiều chủ nhật nọ, bắt chước một vài thằng bạn, tôi cùng đến nhà cậu Út Rồng “coi” đá banh bằng giọng của ông Huyền Vũ. Từ trong chiếc radio phát ra một giọng nói nhanh nhưng không vấp và rất rõ: “Hôm nay là trận tranh tài túc cầu vòng loại giải vô địch Thế vận hội 1964 giữa hai đội túc cầu Do Thái và đội túc cầu tuyển thủ VN. Về đội chủ nhà chúng ta có mặt cầu thủ Phạm Huỳnh Tam Lang, Dương Văn Thà, Phạm Văn Lắm, Phạm Văn Mỹ… Đặc biệt là thủ môn Phạm Văn Rạng, với đôi tay lưỡng thủ vạn năng… Kính thưa quý vị thính giả đang nghe radio - xin lỗi quý vị đang nghe radio trong sân vận động, vui lòng vặn nhỏ âm thanh vừa đủ nghe… thủ môn Phạm Văn Rạng đã đi vào huyền thoại bắt bóng của đội tuyển khi vào năm 1958, trong trận đội tuyển Thanh Niên thi đấu giao hữu với CLB vô địch Thụy Điển. Đội bạn, vì đã bị dẫn trước tỷ số nên cố san bằng khung thành của đội tuyển Thanh Niên. Có một đường banh mà không ai mê túc cầu có thể quên được đó là khi trung phong đội bạn là Djupden đánh đầu quả da vào từ góc trái. Cả cầu trường im phăng phắc. Còn trung phong đội bạn giơ cao cánh tay chuẩn bị mừng bàn thắng thì bất ngờ… Phạm Văn Rạng đã búng ngược người như một con tôm, dùng tay đẩy bóng qua xà ngang cứu một bàn thua trông thấy…”.
Lúc giọng nói của ông Vũ chậm lại, đều đều thì tụi tôi cảm nhận được cả hai đội đang vờn banh quanh quẩn giữa sân và bỗng dưng, khi giọng nói khẩn trương, cấp thiết: “Mũi tên vàng Thới Vinh bên cánh trái đang lao xuống… lao xuống… Quả da đã đi tới khung thành rồi. Ngôn đang lừa banh, qua rồi. Tam Lang đang đứng đợi bên trong, đưa banh. Tam Lang bỏ cho Đỗ Thới Vinh. Ngôn ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá”. Giọng Huyền Vũ bỗng dưng vang ra thật lớn: “S… ú… t”… và rồi như nhỏ lại và buồn tẻ: “Nhưng quả da đụng khung thành bật ra… Ta đã uổng một dịp thắng bằng vàng”.
Ông Huyền Vũ là “cha đẻ” của những cụm từ: “một dịp thắng bằng vàng”, “cứu một bàn thua trông thấy”, “cú ngả bàn đèn”… Và chữ đặc biệt dùng để nói về quả bóng của riêng ông là quả da.
Huyền Vũ và 'quả da' Sài Gòn 2
Ký giả Huyền Vũ - Ảnh: Tư liệu
“Từ điển sống” bóng đá
Do là một ký giả thể thao nên ông Huyền Vũ nhớ vanh vách những trận cầu đã qua. Vì vậy, trong khi chờ đợi thời gian trống trên sân, ông có dịp bình luận những sự kiện: “Chúng ta còn nhớ lại, tại Đông Nam Á vận hội năm 1959, đội tuyển túc cầu của ta đã đoạt huy chương vàng nhờ công của các tuyển thủ Đỗ Thới Vinh, Hải, Nguyễn Văn Tư, Nguyễn Văn Nhung và không thể thiếu thủ môn vàng Phạm Văn Rạng. Đội tuyển túc cầu xứ chùa Tháp phải chia tay với chức vô địch khi thua đội tuyển túc cầu VN với tỷ số 1-3. Chính tay thái tử Xiêm trao cho đội tuyển túc cầu VN chiếc cúp vàng vô địch... Nào bây giờ ta trở lại trận đấu. Quả da đang ở trong chân của Tenkitút. Tenkitút tạt ngang cánh trái cho Mohamet Jali. Jali dẫn banh xuống nhưng bất ngờ, từ phía sau Tam Lang đã bắn ra như một mũi tên… Ô… số 8 của đội Do Thái là Baroak đã kịp thời lao đến cản đường banh của Tam Lang”.
Không cần đến sân, dân mê túc cầu chỉ nghe qua lời ông Huyền Vũ để tưởng tượng ra cảnh người ta ngồi đông nghịt, nhìn cầu thủ chạy đi chạy lại giữa hai cái gôn rồi la hét, phấn khích theo từng đường đi lắt léo hay huê dạng - như lời của ông Huyền Vũ. Người ta đồn rằng trước khi tường thuật một trận đá banh ông Huyền Vũ phải học thuộc lòng từng tên cầu thủ và khi tường thuật ông để trước mặt, cạnh cái micro một bản tên các cầu thủ.
Họa sĩ Trịnh Cung, người rất mê Huyền Vũ, từng nói: “Tôi nghe ông từ khi còn bé, đến bây giờ vẫn không thể nào quên. Đúng là cho đến bây giờ vẫn chưa ai có thể “bén gót” được ông chứ đừng nói đến thay thế. Hồi đó còn là cậu học sinh trung học, không phải chỉ mình tôi mà cả một “thế hệ” những học sinh ở Nha Trang như tôi đều “mê” ông. Vào thời đó chưa có truyền hình, ông Huyền Vũ chỉ có tiếng nói qua làn sóng điện chứ không có hình, vậy mà nghe ông, thính giả cứ tưởng như đang được coi một trận đấu thực thụ đang diễn ra từng pha bóng trước mặt mình: “Tới trước khung thành rồi, Ngầu đang lừa banh, qua rồi, Há đứng đợi bên trong, đưa banh, Há bỏ cho Ngầu, Liêm ở phía sau sẵn sàng, cú sút như trái phá… nhưng quả da đụng khung thành bật ra. Tam Lang lại được banh từ giữa sân, đưa dài lên, cú sút của Tư chéo góc… Dzô! Dzô! Dzô, tuyệt tác. Sân cỏ nổ tung! Rồi Đực, rồi Rạng với đường banh huê mỹ vặn chéo người cứu một bàn thua trông thấy khiến khán giả choáng váng…”. Ông ấy làm tôi ở nhà cũng choáng váng theo”.
Nhiều chuyên gia bóng đá nhận định, ông Huyền Vũ đã cho khán giả “thấy” những gì cần, đang diễn ra. Ông Huyền Vũ nói năng lưu loát, tuôn trào như suối chảy trong khi bây giờ một vài người bình luận “ngắc ngứ, giật cục”, thường phải dừng lại để tìm chữ, tìm tên cầu thủ cho đúng, làm mất cái hứng thú của một trận đấu, không truyền được cho thính giả ngồi nhà cái “máu me” của các cầu thủ đang đi banh, lừa banh, bị thương hoặc chiến thắng và ngay cả khi thua trận… Dù không phải là một cầu thủ nhưng tên tuổi của ông chẳng kém gì một Ngôi sao Gia Định hay AJS (tên các đội bóng nổi tiếng thập niên 1930 - 1950 tại Sài Gòn). Các tín đồ “túc cầu giáo” có thể quên tên một cầu thủ khi họ xuống chân nhưng không thể nào quên tên Huyền Vũ.
Bây giờ, dù có xem đá banh qua màn ảnh truyền hình, nghe vài bình luận viên tường thuật mà đôi lúc mong họ đừng nói thì hay hơn, tôi ước muốn được nghe lại giọng nói của ông Huyền Vũ, để ông truyền cảm hứng của một thời “coi” đá banh qua trực tiếp truyền thanh với giọng nói không quên của một bình luận viên huyền thoại.
Nhà văn Lê Văn Nghĩa