Monday, December 31, 2018

Về hưu là xong sao?

“Tôi nghỉ hưu 2 năm rồi. Giờ họ muốn xử sao thì xử”. Câu nói của ông Phạm Thế Dũng, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Gia Lai, sau khi Ủy ban Kiểm tra trung ương (UBKTTƯ) công bố sai phạm thời ông đương nhiệm, làm dậy sóng dư luận.

Câu nói trên được hiểu theo nhiều nghĩa. Có người nhìn nhận ông nói đúng, đã về hưu rồi, sẵn sàng chịu hết mọi hình thức xử lý một cách sòng phẳng, một tâm thế kiểu dám làm dám chịu. Có người lại cho rằng đấy là cách nói bất chấp, thậm chí có ý thách thức, tôi đã nghỉ hưu, mất hết rồi, có mất thêm nữa cũng chẳng làm sao. Hiểu theo nghĩa gì đi nữa, câu nói đều mang hàm ý về hưu là không còn sợ sệt điều gì nữa cả, là sẵn sàng chấp nhận mọi tác động lên đời sống của mình khi không còn chức quyền, danh vị.
UBKTTƯ đánh giá sai phạm của ông Phạm Thế Dũng là "nghiêm trọng, đến mức phải kỷ luật". Những sai phạm chủ yếu là quản lý kinh tế, để doanh nghiệp trục lợi số tiền cực lớn trong khi ngân sách thu chẳng bao nhiêu, thiếu gương mẫu trong đề nghị bổ nhiệm người thân. Trước đó, UBKTTƯ đã xử lý kỷ luật 5 cán bộ sai phạm tại Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ và ngày 20-9, Ban Bí thư kỷ luật cách hết các chức vụ trong Đảng của ông Nguyễn Phong Quang, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ. Trước đó ông Vũ Huy Hoàng, nguyên Bộ trưởng Bộ Công Thương, cũng đã bị Quốc hội xóa tư cách nguyên bộ trưởng và Ban Bí thư cách chức Bí thư Ban Cán sự Đảng Bộ Công Thương thời kỳ 2011-2016.
Có dư luận cho rằng, xử lý như vậy cũng là nghiêm khắc nếu xét theo nghĩa đời sống và nhận thức, nhưng không tương xứng về mặt vật chất của người bị kỷ luật. Bởi chính những người này đã về hưu nên bị cách chức trong quá khứ chỉ mang ý nghĩa danh dự với người có lòng tự trọng; song thực tế với những trường hợp tham ô, gây thất thoát tài sản của nhà nước và vun vén làm giàu bất chính thì không bị xử lý triệt để, họ vẫn giữ được khối tài sản khổng lồ…
Từ thực tế đó dẫn đến lối nghĩ có phần bất chấp của không ít người về hưu như vậy. "Hy sinh đời bố, củng cố đời con" vẫn là một cách sống. Nhưng suy cho cùng, nếu bị kỷ luật như đã nói ở trên, không quá hụt hẫng nếu là đương chức thì cũng mất mát, hao hụt tinh thần, cũng xấu hổ với người đời, bà con, làng xóm. Có dám đi đâu, nhìn mặt ai không? Danh dự con người lớn lắm, "cọp chết để da, người ta chết để tiếng". Bất chấp thủ đoạn để "vinh thân phì gia" là đã quên đi danh dự; không bị xử lý hình sự, không bị thu hồi tài sản tham nhũng thì quan tham sợ gì mà không làm điều sai trái, ô trọc?
Do đó, cần phải xử lý hình sự và luật cần bổ sung cơ chế thu hồi tài sản tham nhũng, bổ sung tội danh làm giàu bất hợp pháp, bất minh tài sản, để ngăn chặn sai phạm. Khi xử thì phải thật nặng mới hết dám làm liều và không còn lối nghĩ rằng hưu là hết, là xong, không có gì phải sợ. Trong khi xung quanh họ, nhiều người về hưu vẫn sống có ích cho xã hội, vui cùng cháu con, thanh thản với đời đến khi nhắm mắt xuôi tay. Hãy nhìn vào đó mà chọn cách sống sao cho tử tế, thế thôi.
HIỀN MINH

Bắc Kinh 100 năm trước qua ống kính một nhà xã hội học người Mỹ

Năm 1984, con gái của nhà xã hội học người Mỹ Sidney Gamble khi thu dọn căn gác lửng đã bất ngờ phát hiện hàng ngàn bức ảnh của cha mình để lại. Những bức ảnh được cất trong cái rương gỗ tinh xảo, trên nắp có ghi thông tin về thời gian và địa điểm chụp. Đa số hình ảnh được chụp trong thời gian Sidney Gamble đi điều tra xã hội học tại Trung Quốc, trong đó nhiều hình ảnh ghi lại sự kiện lịch sử và cuộc sống thường ngày tại Bắc Kinh.
Ông Sidney Gamble là cháu của Sidney David Gamble, người sáng lập công ty Proctor & Gamble (P&G). Từ nhỏ ông đã yêu thích chụp ảnh. Năm 1908, lần đầu tiên ông theo gia đình đến Trung Quốc. Năm 1917, sau khi tốt nghiệp ngành xã hội học và kinh tế học, ông được người bạn học John Stewart Burgess tại trường Princeton mời đi cùng đến Bắc Kinh. Ông và John Stewart Burgess đã cùng nhau sáng lập khoa xã hội học tại Đại học Yến Kinh và đảm nhận vai trò giáo sư. Từ đó, ông bắt đầu điều tra xã hội học tại Bắc Kinh hơn 10 năm và đã chụp lại nhiều hình ảnh về cuộc sống thường ngày tại đây. Trong 100 năm qua là thời gian xã hội Bắc Kinh Trung Quốc có những thay đổi rất lớn, vì thế những hình ảnh trong quá khứ ít nhiều gợi cảm giác thú vị cho người xem.
Nu sinh Trung Quoc
Nữ sinh Bắc Kinh cách đây 100 năm.
p1368002a161455754
Một cụ bà Bắc Kinh ngồi nghỉ ngơi, miệng ngậm thuốc và đeo mắt kính. Đây là kiểu ăn mặc thời trang tại Bắc Kinh năm 1917.
p1368003a642198594
Một phụ nữ trung niên bế con, đứa bé đội mũ hình đầu hổ.
p1368004a30036163
Dù nhà Thanh mới bị diệt, những người phụ nữ Mãn Thanh vẫn vui vẻ cùng nhau làm dáng.
p1368005a525426050
Lạc đà rất phổ biến trong thành Bắc Kinh.
p1368006a343567483
Một nhà tù kiểu mẫu tại Bắc Kinh.
p1368007a696766408
Dường như là một cửa hiệu buôn bán, nhưng nhìn thật kỳ lạ.
p1368008a720743315
Xe dành cho trẻ 100 năm trước tại Bắc Kinh.
p1368009a300317543
Lao công tại Bắc Kinh 100 năm trước.
p1368010a145872186
Hai vợ chồng tại Bắc Kinh.
p1368131a872433976
Trước cửa hiệu bán thịt heo treo bong bóng bàng quang heo làm dấu.
p1368132a581859935
Bán đồ ăn vặt.
p1368133a744570734
Trạm quan sát cứu hỏa.
p1368134a766503829
Viện Y học Bắc Kinh được thành lập từ Quỹ Rockefeller năm 1917, từng được xem là cung điện y học Trung Quốc.
p1368135a704092964
Xe ngựa cho thuê.
(Ảnh: Internet)
Nguyễn Đoàn

NHỮNG KHÚC RUỘT VÀI DẶM

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, nước, ngoài trời và thiên nhiên
Sau khi CS bị tiêu diệt, sẽ xây một bia tưởng niệm gần 500 đồng bào bị CS lừa đảo cho vượt biên rồi sát hại để cướp sạch tại cảng Cát Lái năm xưa 1977.
Đừng tin những cái gọi là PHẪN NỘ và NHỤC QUỐC THỂ từ mõm vẹm trong những ngày này.
CSVN đánh chìm tàu Chi Mai để cướp của
LTS: Trong suốt 8 thập niên kể từ khi thành lập vào năm 1930, CSVN đã gieo rắc không biết bao nhiêu tội ác trên quê hương Việt Nam. Có thể nói, trên từng tấc đất, ngọn cỏ, lá cây, hòn đá... của quê hương Việt Nam, dưới mỗi mái gia đình, trong mỗi thân phận người Việt, đều có những dấu ấn ghi lại những tội ác kinh tâm động phách do người cộng sản gây ra.
Đặc biệt, sau khi ngang nhiên vi phạm Hiệp Định Genève, xâm lăng và chiếm đóng Miền Nam kể từ 30 tháng 4 năm 1975, CSVN đã thực hiện hàng loạt chiến dịch đàn áp, khủng bố, thủ tiêu, bắt bớ... dã man trên khắp lãnh thổ Miền Nam, để một mặt ăn cướp trắng trợn tài sản của người dân, mặt khác nghiền nát mọi sức đề kháng, chống đối của những người yêu nước, khiến hàng triệu người dân Miền Nam phải vượt biển, vượt biên tìm tự do. Hậu quả, trong thời gian hơn hai thập niên kể từ sau 1975, hàng trăm ngàn người Việt, trong đó phần lớn là phụ nữ, trẻ em, ông bà già,... đã bị thảm tử trên biển cả, trong rừng sâu, ngoài hoang đảo.... sau khi phải trải qua những bi kịch kinh tâm động phách, muôn vạn phần đau đớn
Không những thế, ngay cả với những người sống sót, những bi kịch kinh tâm động phách đó vẫn còn mãi mãi tiếp tục ám ảnh, giầy vò, tra tấn họ, cho dù họ có sống trong bất cứ hoàn cảnh nào, có đi đến bất cứ chân trời góc biển nào... Để có thể tái tạo một trong muôn vàn tội ác của cộng sản Việt Nam đối với người vượt biên tìm tự do, Sàigòn Times trân trọng giới thiệu cùng quý độc giả những đoạn hồi ký trích trong "Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông".
Hy vọng, qua những dòng chữ được viết bằng máu và nước mắt của chính những người trong cuộc, qúy độc giả, với tấm lòng xót xa và những giọt nước mắt đau đớn của những người tỵ nạn cộng sản cùng cảnh ngộ, sẽ hiểu được, tội ác của chánh phạm CSVN đằng sau muôn ngàn bi kịch rùng rợn của người vượt biển. Qua đó, chúng ta sẽ thức ngộ được, lần đầu tiên trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN, và có thể nói lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, tội ác của một chế độ đối với chính người dân của chế độ, như chế độ CSVN, quả thực đã vượt khỏi biên cương quốc gia, tung hoành trong mỗi gia đình, mỗi cuộc đời, để rồi tiếp tục tràn lan trên khắp bề mặt địa cầu...
***
May mắn cho tôi là khi vượt biên vô cùng thuận buồm xuôi gió, nhưng ngược lại, tôi là chứng nhân cuả một vụ cướp của giết người thật là rùng rợn do bọn cộng sản Việt Nam thực hiện vào năm 1977 tại căn cứ Hải quân Cát Lái cũ của QLVNCH.
Lúc bấy giờ tôi làm công nhân cho thuỷ đội Cảng Sàigòn, trên chiếc tàu kéo CSG 92 (Soài Rạp). Vào khoảng tháng 1 năm 1977 tàu chúng tôi chạy lên con sông Sàigòn tới phía sau nhà máy nhiệt điện Thủ Đức và kéo chiếc tàu tên là Chi Mai về Kinh Tân Thuận (kinh đôi) để cơ xưởng cảng Sàigòn gắn thêm một số máy phụ như máy charge gió (air compressor), máy bơm nước lườn, cũng như gắn thêm một số ống gió thông hơi từ boong tàu xuống tận 3 tầng dưới hầm máy.
Tôi thấy cách thiết kế vô cùng lạ mắt và không có một chút gì là an toàn cho việc vận hành, cũng như an toàn thoát hiểm tối thiểu cho một con tàu di chuyển trên sông nước. Tôi có hỏi chú sáu Bền người công nhân đầu não của xưởng này về việc lạ lùng này thì chú trả lời rằng : "Chú đâu biết gì đâu. Nghe nói rằng thành uỷ thuê xưởng sửa chữa làm một số việc và nhà nước đôi bên thanh toán cho nhau. Chú chỉ là lính lác nên đâu biết gì việc cuả họ".
Con tàu này có máy chính hiệu của Đức chế tạo, công suất 900 horsepower. Con tàu này dài khoảng chừng 22m rộng 5,5 mét, chiều sâu tính từ mớm nước khoảng 3,3 mét, nhưng nếu tính từ trên mặt boong (deck) khoảng 5 mét là cùng. Khi tàu này gần ra khỏi ụ sửa chữa nó được hàn thêm một số miếng sắt chữ V loại 6 mm làm một boong giả thêm nữa, cao hơn mặt boong khoảng 1.70 mét.
Bấy giờ những người Hoa kiều trong Chợ Lớn thường tấp nập vào tầu này xem xét cúng bái và họ thường mang trái cây hoặc thịt thà qua biếu cho chúng tôi ăn. Sau vài lần họ muốn thuê chú hai Lâm Văn Tới làm máy trưởng cho tàu này. Họ nói dối rằng đấy là tàu khách chạy từ sài Gòn đi Cần Thơ. Nhưng chú khước từ, vì tàu CSG 62 cuả chú cũng sửa chữa sắp xong để hoạt động kéo xà lan nước đi Vũng Tàu cung cấp cho các tàu chiến cũng như đánh cá đang neo tại vùng cảng ấy. Sau họ bảo thật là đi vượt biên chính thức và sẵn lòng chi 15 lượng vàng và cho hết 6 người trong gia đình chú đi luôn không phải trả một xu nào cả, nhưng chú vẫn khước từ.
Sau đó tôi thấy tên Út Lương tên thật là Lương Văn Út thuyền trưởng tàu khách An Giang chạy từ Tân Châu-Long Xuyên-Sài Gòn và ngược lại, nhận lời. Tên Úc này là Việt kiều Kampuchia hồi hương về VN năm 69 hay 70 gì đó. Năm đó là năm Quân Lực VNCH hành quân vô Kampuchia tấn công và san bằng cục R cuả VC và cứu vớt Việt kiều khỏi bị bọn Lon Nol và Khmer Đỏ cáp duồn thả trôi sông Cửu Long về Việt Nam.
Út Lương có nước da sậm nâu, gần giống như Miên. Không hiểu hắn xoay ở đâu ra bằng Tài Công hạng nhất của Bộ giao thông và Bưu điện cấp cho hắn. Bằng màu đỏ hẳn hòi, còn mới cứng, chứ thằng này nó dốt như Hồ Chí Minh, tiếng Tây thì quẹt quẹt, tiếng Miên thì good, tiếng Việt và tiếng Tàu thì cũng khá khá, nhưng về hải nghiệp nó là con zéro to tướng. Nội việc khử từ trường cho hải bàn khi tàu sửa chữa, hay trang bị thêm chi tiết nó cũng không biết, làm floating radar, hoặc tâm phương qua tín hiệu kiểm báo nó cũng mù tịt, thì nói chi đến tính toán sai biệt trục địa cầu hàng năm để cộng thêm vào hướng đi, hoặc trừ bớt cho đúng với hướng thật sự muốn đi. Nhưng hắn vẫn nhận trách nhiệm đưa tàu đến Cát Lái.
Giờ đây tôi không chắc nhớ rõ ngày tháng sự vụ xảy ra, tôi chỉ nhớ lúc ấy trời nắng gắt lắm khoảng tháng 4 hay 5 gì đấy, bấy giờ tôi kéo xà lan chở nước xuống kho dầu Shell ở Nhà Bè bơm cho tàu dầu Hasukha của Liên Xô, và sau đó kéo ủi yểm trở cho hoa tiêu đưa tàu vào cặp cảng kho Esso Nhà Bè. Việc xong xuôi, tôi cặp xà lan nước đã giao hàng xong, kéo về lại cảng Sàigòn. Nhưng khi tàu sắp quanh vào khúc đèn xanh đỏ của sông Sàigòn, thì tôi thấy người trôi nổi lặn hụp bơi ngửa, bơ xấp đủ kiểu hết. Họ có áo phao bằng styro foam hoặc bằng túi hơi như loại hàng không phát cho hành khách. Cũng có người ôm bẹ dừa nước thả ngửa trên sông.
Tôi co giảm vận tốc tàu lại và yêu cầu anh em thuỷ thủ ở tàu kéo cũng như xà-lan thả các thang dây trên tàu và xà-lan xuống tận mé nước đồng thời lấy các phao tròn cột dây vào quăng ra cho họ bám vào để kéo họ lên các thang dây của tàu và xà lan.
Lúc bấy giờ là nước ròng chảy ra biển, và ngay chỗ này là mối tiếp giáp giữa 3 con sông Nhà Bè, Sàigòn và Đồng Nai nên mực nước luôn chảy nghịch lẫn nhau tạo thành dòng nước xoáy. Tôi sợ nạn nhân có thể bị lót lườn tàu và xà-lan, vướng vào chân vịt, nếu họ luýnh quýnh và không hiểu biết. Vì vậy tôi chỉ để số vòng quay của chân vịt đủ mức cho tàu đứng yên một chỗ để đón cứu họ.
Lúc bấy giờ các ghe đóng đáy giàn xây (dòng xoay) tại ngã ba của ba con sông cũng túa ra cứu giúp họ. Khi đó, trên tàu và xà lan của chúng tôi đã cứu được 18 người. Bỗng phía bên sông Nhà Bè (Rạch Bảy) có nhiều tiếng súng nổ chát chúa và canô công an VC tuần tra trên sông từ hướng nhà máy dầu Navioil cũng như trên Cát Lái chạy đổ xuống, xuôi theo dòng chảy, chúng bắn vào nạn nhân bơi trên sông không một chút thương tiếc, và đuổi theo bắn tận nhà máy Silico gần đến vàm sông Phú Xuân, nơi có căn cứ của bộ đội biên phòng đóng giữ.
Riêng tàu của chúng tôi bị một tầu tuần tiễu có khoảng 6 công an nhảy lên bắt những nạn nhân này trói lại bằng dây ở những chiếc phao họ mang trên người, rồi đẩy họ té xuống tàu tuần cảnh, thấp hơn mặt boong xà lan ít nhất 2 mét. Khi không còn chỗ chứa các nạn nhân, chúng xô họ trở lại dòng sông lúc đó đang chảy xiết. Tôi la lên cản ngăn chúng, nhưng chúng bắt tôi vào trong phòng lái tàu và yêu cầu tôi chạy về cầu bến phá Cát Lái. Trên đoạn đường không đầy 2 cây số này tôi thấy vô số các túi sách may bằng nhựa simili và giỏ đệm trôi bồng bềnh trên mặt nước. Chúng ra lệnh cho tàu chạy chậm lại và dùng vợt chúng tôi thường dùng để vớt lon nhôm thực phẩm hoặc thức uống của tàu ngoại quốc thường vứt bỏ trôi nổi trên sông Sàigòn, để vớt những chiếc giỏ căng phồng này. Chúng tranh nhau mở ra lục lọi lấy vàng, đô la, đồng hồ... rồi chia chác nhau ngay tại chỗ.
Vì phải chạy chậm để tụi công an vớt những chiếc giỏ trên mặt sông nên 2 giờ sau, tàu chúng tôi mới cặp được bến phà Cát Lái trong khi đoạn đường không đến 2 cây số mà vận tốc bình thường của tầu tôi là 16 hải lý giờ (khoảng 25 cây số giờ).
Khi tàu vừa cập bến, tụi công an bắt chúng tôi lên bờ, lục soát trên tàu, xà lan và khám xét thân thể của chúng tôi. Đến khoảng 10 giờ tối thì tên đại tá công an trưởng phòng cứu hỏa đến hỏi chúng tôi có thấy điều gì hay không, có muốn khiếu nại gì không? Chúng tôi dư hiểu chúng muốn gì, nên ai cũng phải lắc đầu, "thưa không nghe, không thấy, không biết cũng như không khiếu nại điều gì". Chúng tôi chỉ xin chúng báo cáo về đội an ninh bảo vệ của bến cảng Sàigòn là tàu chúng tôi bị vướng lưới nên phải lặn gỡ, vì vậy về trễ. Chúng bằng lòng gọi phôn giúp cho việc ấy. Khi chúng tôi được thả trở lại tàu, trên bến phá, tụi công an đã cho lập vòng rào an ninh cấm tất cả nhân dân cùng những người không có trách nhiệm lui tới khu vực ấy. Vòng đai này được kéo bằng kẽm concertina, phía trong ở giữa bến phá chúng dùng nhưng manh cót quây tròn lại, che kín những xác người nằm ngổn ngang ít nhất là 150 người. Những xác người được xếp dài khaỏng 30 mét nằm kế bên nhau như cá trong hộp thành 3 hàng. Còn các túi hành lý được chất ngay lên xe truck cuả công an mà loại này trước năm 1975 dùng để tịch thu báo chí khi báo chí có nội dung xuyên tạc vu khống chính phủ VNCH, để làm lợi cho cộng sản.
Sau đó hai ngày, đội thủy của cảng Sàigòn được lệnh điều động tàu của chúng tôi kéo cần cẩu 100 tấn (có sức mạnh kéo nổi 100 tấn). Cần cẩu này nguyên là của quân vận Mỹ bàn giao lại cho chính phủ VNCH, và sau chuyển lại cho cảng Sàigòn xử dụng. Chúng tôi kéo cần cẩu nổi này ra đến Cát Lái khoảng 10 giờ sáng và người nhái công an (Bắc Kỳ) lặn xuống choàng dây cáp 16 mm qua tàu Chi Mai để cho cần cẩu trục lên.
Nhưng không biết loay hoay như thế nào đó họ làm mãi không xong, và phải xin toán người nhái của cảng Sàigòn đến giúp đỡ. Toán người nhái ốm đói này vốn là những công nhân trên 45 tuổi trước 1975 thuộc Ty Cảng Vụ cảng Sàigòn, có nhiệm vụ lặn kiểm tra các đế phao neo (con rùa) trên sông Sàigòn, cùng như kiểm tra chân đế cầu tàu trong cảng Sàigòn. Nhờ toán người nhái của Sàigòn trước 1975 , công việc trôi chảy, tôi nổ máy đẩy cần cẩu nổi ra xa, để neo căng cả 4 phiá và kéo tàu Chi Mai lên...
Khi dây cáp được kéo lên chưa được 3 mét, từ dưới mặt nước nổi vọt lên những xác người như nhưng trái ngư lôi vừa thoát khỏi bệ phóng. Máu từ mũi tai cuả họ trào ra trông thật thảm khốc. Chú hai Giỏi, cần cẩu trưởng, người to như cảnh sát motorcycle của Mỹ, cũng phải rụng rời tay chân không thể tiếp tục giữ cần LIFT và dừng tay lại ngay vị trí này. Bọn công an trên cầu phà bụm tay lại làm loa ra lệnh kéo tiếp nên anh Sanh phải nhảy lên phòng điều khiển thay thế chú hai Giỏi...
Dây được kéo lên từ từ thật chậm từng tấc cáp mỗi lần chuyển dịch, xác người tiếp tục vọt nổi lên. Tôi không nhớ rõ lắm vì cảm giác đã chết cứng tê dại, mắt mở nhưng hình như không còn biết gì cả. Vì đấy là xác người vô tội bị VC xua đuổi, hoặc lừa đảo, nên họ phải trốn ra nước ngoài. Họ là những người giàu có, có nhà cửa khang trang, cơ sở máy móc sản xuất, mà bọn cộng sản Bắc Kỳ xâm lược đang thèm thuồng muốn chiếm lấy làm cuả riêng, nên đã lừa họ mang của cải xuống tàu rồi tìm cách giết họ để chiếm đoạt của cải.
Khi tàu nhô cột cờ lên khỏi mặt nước, một thảm cảnh mà suốt 16 năm sống xuôi ngược trên các dòng sông cuả VN, bờ duyên hải VN và Philippines tôi chưa bao giờ trông thấy cảnh tượng như thế. Qúy vị à! Một phụ nữ tay ôm chặt đứa bé gái khoảng một tuổi đã sình chương cuộn tròn như một quày dừa non. Chiếc áo Badesuite (pardessus) (*) bằng thứ vải nylon dầy chắc vướng vào các móc dùng để móc cờ hiệu của tàu hoặc tín hiệu. Trên mặt của nạn nhân bị tôm cá rỉa mất gần hết một bên mặt...
(*) Chiếc áo Badesuite tác giả viết trong bài có lẽ là "Pardessus", tiếng Pháp, và được Việt hóa theo cách phát âm là "Ba đờ xuy", có nghĩa là áo choàng.
Tàu Chi Mai tiếp tục được kéo lên, trên mặt boong không còn gì tồn đọng. Trong cabin lái, xác hai cô gái trẻ ôm nhau chết cứng. Tàu Chi Mai tiếp tục được đưa lên cao, nước tràn ra từ các lỗ Abblouse (lỗ có kính tròn để cho thuỷ thủ có thể quan sát bên ngoài hay mở ra để nhận lấy gió khi những ngày biển êm gió lặng). Nước chảy tràn ra cho thấy bên trong, xác người dằn xẹp xuống như cá được đóng vào hộp vậy....
Cuối cùng tàu Chi Mai được đặt trên boong cần cẩu 100 tấn, sau khi các kè được chêm chặt hai bên hông tàu Chi Mai. Chúng tôi thấy bên hông phía tay phải của tàu Chi Mai có một lỗ thủng to hình dạng tròn méo mó phần phía trước của lổ thủng bị tét ép vào phía trong thân tàu chứng tỏ khối thuốc nổ được đặt từ bên ngoài. Xác người bên trong chắc phải còn đủ cả vì lỗ thủng này, xác người không thể trôi ra được, vì tàu bị chìm nghiêng về phía này, bùn non và đất sét còn bám chặt cả một bên thân tàu.
Xác nguời được đưa ra khỏi tàu Chi Mai đưa lên bến phà Cát Lái lập tức các túi hành lý bị tụi công an VC tịch thu đem lên xe cây ngay lập tức, không có thân nhân hay bất cứ ai léo hánh ở khu vực này. Chỉ huy bốc dỡ các tử thi này là Đại tá VC Đinh Mười, truởng phòng cảnh sát phòng cháy chửa cháy thành phố Sàigòn ; và một tên đại tá khác của phòng cảnh sát trên sông. Lúc bấy giờ bí thư thành uỷ là Võ Văn Kiệt.
Tổng cộng xác chết được đem ra là 426 xác cả nam lẫn nữ. Tôi đã không dám ăn thịt cá tôm cua hơn nửa năm trời mặc dù lúc bấy giờ công nhân kỹ thuật thuộc tổng cục đường biển như tôi mỗi tháng chỉ mua được 2 kí thịt heo cho nhu yếu phẩm mà thôi.
Thằng Lương Văn Út tài công chiếc tàu Chi Mai còn sống nhăn răng tại Sài Gòn. Sau vụ nổ tàu Chi Mai, Cộng Sản không có cách gì che giấu được, vì hơn 170 hành khách nhà nghèo loại đóng 5 cây vàng cho một đầu người, phải chịu cảnh đứng ngồi như cá hộp. Họ hiểu đi tàu trong hoàn cảnh đó sẽ bị ướt lạnh khi trời mưa giông, vì cả hai thứ nước mưa và nước sóng biển.
Họ chắc chắn hiểu được thân phận, và những rủi ro có thể mang đến cho họ khi bị say sóng, hoặc sóng to chụp phủ lên tàu có thể cuốn họ xuống biển, nên họ chịu rất nhiều tổn phí để kiếm mua phao vì thời ấy của đó là hàng quốc cấm, không có chợ nào được bày bán cả. Ngay cả như tôi, thuyền trưởng tàu kéo cấp ba (có công suất trên 1200 mã lực) là loại chỉ đếm trên đầu ngón tay vào năm 1989, vẫn không có áo phao cho cá nhân của mình nửa đó. Chỉ cấp loại xốp bình cà rem (Styro foam) nhét vào áo khỉ (monkey vest) như áo bộ đội mang băng đạn AK vậy, nhưng vẫn phải ghi tên và chức vụ bằng nước sơn đỏ, và điều này phòng vật tư của Công Ty làm sẵn phát cho tàu, nếu bị mất phải làm báo cáo và kiểm điểm như mất súng vậy.
Chính các phao này đã giúp cho hầu hết những nguời trên boong này thóat ra khỏi tàu Chi Mai ngay lúc nó nghiêng chìm. Chỉ có những người thông thuộc với sông nước nên ỷ lại không mặc vào, có thể bị chết, hoặc thoát, hay tù sau vụ chìm này. Điều tôi nói đây có kiểm chứng, vì 4 ngày sau đó, những xác chết trôi nổi trên sông Nhà Bè, Phú Xuân, Soài Rạp, Lòng Tàu, cũng như trôi dạt vào những miệng đáy đóng trên sông để bắt tôm cá. Người dân đã báo cho chính quyền đem đi mai táng hoặc trả xác lại cho thân nhân.
Còn cảnh công an VC bắn vào người vượt biên hôm đó, chính mắt những người đóng đáy thấy, thủy thủ tàu CSG 92 và xà lan 64 thấy, công nhân nhà máy Vavioil và những cư dân trên bờ sông nhà bè phía đèn xanh đều thấy hết. Chưa hết đâu ! Những người đi "đăng ký", tập trung tại bến xe Văn Thánh ngoài ngã ba Hàng Xanh để cho xe bus đưa vào bên phà Cát Lái, nhưng còn hai xe bus chót chưa vào tới bến phà Cát Lái thì mìn đã nổ. Không biết rằng vì xe bus đến chậm hay thằng công an tay nghề quá zỏm, gài kim định giờ không chính xác ? Điều này từng xảy ra trong thời chiến qua các vụ đặc công VC đánh các cầu Bình Triệu, Bình Lợi, Tân Cảng... Đặc công VC ôm mìn lội ven sông để gài giật xập cầu, nhưng lội chưa tới nơi thì mìn phát nổ. Báo chí phổ biến tin tức, lính địa phương quân giữ cầu đều biết chuyện này!
Việc Cộng sản bắn chết người thường dân vô tội đâu có phải là điều hiếm hoi ở trong thời chiến cũng như thời bình. Hơn nữa VC đã dán bản cáo trạng khắp hai miền đất nước rằng "VƯỢT BIÊN LÀ PHẢN QUỐC". Vì vậy chúng sợ ai không dám bắn ? Hơn nữa VC bắn để cướp của, vì người bị chúng bắn là thành phần tư bản, bị VC ghép vào tội phản quốc bóc lột.
Còn 2 chiếc xe bus chở người vượt biên đến sau, khi thấy tàu Chi Mai bị phát nổ, bọn công an liền ra lệnh cho quay đầu lên hướng nhà tù Thủ Đức tạm trú qua đêm và sáng hôm sau chở thẳng lên Bù Đóp nhốt cho đến gần 4 tháng. Sau đó, chúng đưa xuống cù lao Rồng ở Mỹ Tho cho đi bán chính thức, với điều kiện thêm 3 cây một đầu người.
Ngoài ra, còn vụ cho chìm tàu khách Vũng Tàu tại ngã ba Thiềng Liềng năm 1979 để cướp tiền cướp của nữa. Vụ này VC bán bãi xong, trở giọng lật lọng bắt khách ra đi đa số là Bắc di cư năm 1954 và giáo dân ở giáo xứ Tân Định, Bà Chiểu, trong đó có con của nhạc sĩ Lê Văn Thiện, hòa âm cho ban nhạc Shootgun của ca sĩ Thanh Thuý.
--Thuyền Trưởng Tàu CSG-92

Một người không có thiện niệm thì càng mạnh càng bị thương vong nhiều

Cổ nhân có câu: “Quốc vô nghĩa, tuy đại tất vong. Nhân vô thiện chí, tuy dũng tất thương”. Ý tứ chính là, một quốc gia nếu không có chính nghĩa thì cho dù rất mạnh, rất lớn cũng chắc chắn bị diệt vong. Một người nếu không có chí hướng tốt đẹp thì cho dù dũng mãnh, gan dạ cũng sẽ bị thương vong, tổn hại.
thương vong
(Hình minh họa: Qua youtube)
Trong suốt chiều dài lịch sử từ thời cổ đại đến nay có rất nhiều trường hợp thực tế chứng minh câu nói này của cổ nhân là đúng. Có không ít võ tướng dũng mãnh trong chiến trận nhưng vì không có thiện niệm, thiện chí mà cuối cùng bị thất bại, thậm chí bị mất mạng. Ví như, Lã Bố trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa”, người được xưng là “khắp thiên hạ không có địch thủ” là một trong số ấy.
Tuy kiêu dũng vô song là thế nhưng nhiều sử gia đánh giá Lã Bố chỉ là hạng người tham lợi bỏ nghĩa và háo sắc nên dễ dàng bất trung và thay chủ. Chỉ vì một con ngựa Xích Thố Lã Bố phản Đinh Nguyên theo Đổng Trác. Chỉ vì một mỹ nhân Điêu Thuyền, Lã Bố tiếp tục sát hại Đổng Trác theo về với Vương Doãn.
Tới khi cơ nhỡ, lưu lạc, được Lưu Bị cho nương tựa, Lã Bố lại tiếp tục trở mặt. Nhân lúc Lưu Bị sơ hở, ông ta cũng tính kế chiếm giữ thành Từ Châu. Sau này, cũng chính vì thói quen này mà Lã Bố đã phải chịu một kết cục thương vong bi thảm.
thương vong
(Hình minh họa: Qua Twitter)
La Mã Cổ Đại từng là đế quốc cường đại nhất trong lịch sử. Theo ghi chép của nhà sử học La Mã là Publius Cornelius Tacitus, bạo chúa Nero đã dùng khủng bố làm chính sách cai trị.
Vị Hoàng đế này là điển hình về phóng túng, buông thả, bạo ngược, tàn bạo và biến thái. Để thưởng thức cảnh tượng đại hỏa hoạn, ông ta nhất định hạ lệnh đốt thành La Mã. Về sau, vị Hoàng đế này lại vu oan cho các tín đồ Cơ Đốc giáo và lấy cớ này để đàn áp, trừng phạt họ.
Đồng thời, Hoàng đế Nero cũng ra lệnh, phái người đi tứ phía bắt giáo đồ cơ đốc giáo. Về sau họ còn đưa những giáo đồ cơ đốc giáo đến đấu trường để mặc cho mãnh thú xé xác, ăn thịt.
Ngoài ra, có một số giáo đồ cơ đốc giáo bị vị Hoàng đế này trị tội trước dân chúng bằng cách đóng đinh họ trên thập tự giá.
Kinh khủng hơn, ông ta còn bắt một số giáo đồ cơ đốc giáo khác mặc quần áo nịt đúc bằng nhựa đường, hoặc bị cột vào “cọc thiêu sống” và đốt cháy. Nhưng rồi chỉ 4 năm sau, bản thân Nero đã phải nhờ người khác giết mình để tránh sống trong tủi nhục trong một cuộc lật đổ.
thương vong
(Hình minh họa: Qua infostormer.com)
Một trường hợp tương tự là Adolf Hitler (1889-1945), người đứng đầu của đảng quốc xã. Hitler ngay từ nhỏ là người có đam mê hội họa và có tài năng về hội họa. Tự tin với tài năng của mình, Hitler đã quyết định hiện thực hóa giấc mơ họa sĩ bằng cách đăng ký dự thi vào Học viện Mỹ thuật danh tiếng ở Vienna.
Sau hai ngày thi cử, mặc dù Hitler cảm thấy rất tự tin và lạc quan. Nhưng khi biết kết quả, tâm trạng của ông đã chuyển thành cực kỳ thất vọng. Hitler nằm trong danh sách 85 thi sính bị trượt trong số 113 người dự thi. Hitler từng kể lại tâm trạng thất bại này trong cuốn tự truyện Mein Kampf (Cuộc đấu tranh của tôi): “Nó như một tia chớp làm lóa mắt tôi”. 
Sau sự thất bại này, Hitler bắt đầu giao tranh trên chính trường ở Đức. Trong đầu ông có một lý niệm cuồng nhiệt rằng, dân tộc của mình mới là dân tộc ưu tú nhất trên thế giới. Hitler coi hết thảy các dân tộc khác đều là hạ đẳng hoặc là chủng tộc thấp hèn.
Dưới sự thúc đẩy mạnh mẽ của lý niệm này, Hitler lập chí phấn đấu vì sự quyền uy và cường đại của dân tộc mình. Cuối cùng, loại khát vọng, chí hướng đáng sợ này đã trở thành một trong những nguyên nhân tạo thành cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc chiến tranh khiến máu chảy thành sông, người Do Thái gần như rơi vào nguy cơ diệt tộc, lưu vong khắp thế giới…
thương vong
(Hình minh họa: Qua kknews)
Con người có thiện niệm là phù hợp với Thiên đạo nên mới có được sự may mắn, lập thiện chí mới có thể kết được thiện quả. Người không có thiện chí, đơn thuần chỉ vì lợi ích của bản thân mình mà tranh mà đấu thì càng “dũng cảm” càng bị tổn hại, thương vong. Chỉ người lập chí hướng tốt đẹp, chất phác thuần thiện mới có thể không tranh giành cùng người, không tranh giành với vạn vật, bước đi trên con đường đời chân chính, tiêu sái và thoát tục.
Người mà trong lòng lập chí thiện niệm chính là vì bản thân mà lựa chọn một tương lai tốt đẹp, cuối cùng “lợi người, lợi mình.” Trái lại, nếu một người lập chí ác niệm thì chẳng khác nào “gieo quả đắng”, cuối cùng chắc chắn là “hại người, hại mình”.
Không chỉ thế, nếu một người lập một chí hướng phấn đấu sai lầm hoặc “bước lầm lên con tàu cướp biển” thì càng cố gắng, cuối cùng sẽ càng bị thương vong nặng hơn.
Bên nhà Phật có câu, tiền tài là vật ngoài thân. Nhưng có biết bao người vì “vật ngoài thân” ấy mà cả đời phấn đấu. Quyền lực cũng giống như vậy, khiến bao người bị mê mờ mà cuối cùng gặp phải kết cục bi thảm, tai ương ngập đầu. Một người có thiện chí, gặp sai mà biết sửa, rời khỏi cái ác, đi theo cái thiện thì mới là trí tuệ, đã lựa chọn một kết quả tốt đẹp cho tương lai của bản thân mình.
An Hòa

“Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích”

Người phương Đông có câu: “Người ta sinh ra một thiện niệm, tuy chưa biến thành việc thiện, nhưng đã được thần may mắn bảo hộ rồi.” Người phương Tây tin rằng: “Những điều xuất phát từ trái tim sẽ chạm đến trái tim.” Thiện niệm thực sự là phương thuốc màu nhiệm làm chấn động lương tâm con người, có sức mạnh vĩ đại để xóa đi mọi hận thù. Vậy thì thiện niệm chẳng phải là phong thủy tốt nhất cho cuộc đời bạn hay sao?
Nói về phong thủy, người xưa có câu rằng: “Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích.” Phong thủy thực sự có thể khởi tác dụng đối với sức khỏe và may mắn cho con người. Tuy nhiên, phong thủy không thể là nguyên nhân chủ yếu mang đến thành công hay sức khỏe, bởi nó không vượt khỏi lý phổ quát hơn của vũ trụ và nhân sinh: thiện tâm thực sự mới mang lại phúc báo, cải thiện vận mệnh và hoàn cảnh của bạn.

1. Phong thủy vô ích trước thiện tâm

Xưa kia, có một vị thầy phong thủy, chuyên giúp người khác lựa chọn mảnh đất tốt để ở. Quan điểm của ông ta là căn nhà nằm trên một mảnh đất tốt có thể thay đổi vận mệnh gia chủ theo hướng tốt hơn. Một ngày nọ, ông ta đã đi bộ một chặng đường dài và cảm thấy rất khát, muốn nghỉ ngơi. Gặp lúc bên đường có một ngôi nhà nhỏ, ông bèn dừng lại nghỉ chân và xin một ít nước mát.
Thấy người khách lạ mệt đứt hơi, mồ hôi lăn dài trên mặt, bà chủ nhà bèn bảo: “Xin hãy đợi một lát, tôi sẽ mang cho ông chút nước.” Nói rồi bà chạy vào nhà trong. Vị thầy phong thủy chờ đợi mãi, nhưng đã một lúc lâu rồi mà người phụ nữ vẫn chưa đi ra. Ông băn khoăn không biết chuyện gì xảy ra.
Khi người phụ nữ quay lại, bà đi rất chậm, mang theo một bát nước lớn. Khi ông thầy phong thủy định giơ tay lên để đón lấy bát nước, thì người phụ nữ thụt lùi lại và nói: “Đợi một chút đã.” Nói rồi bà để bát sang một bên và chạy vào một lần nữa. Lần này bà quay lại với một nắm ngũ cốc. Bà bỏ ngũ cốc vào nước và đưa ông cái bát, nói: “Xin uống chậm thôi, chậm thôi.”
Vị thầy phong thủy bực mình nghĩ: “Thật là một người đàn bà xấu tính. Mình đang khát và chỉ muốn uống một bát nước thôi, vậy mà bà ta cứ lần chần mãi. Khi mang cho mình rồi thì bà ta lại còn bỏ ngũ cốc vào nước để làm mình khó uống.”
Uống nước nghỉ ngơi xong xuôi, ông thầy phong thủy bực bội đi ra ngoài, và chợt nhìn thấy một mảnh đất xấu. Mảnh đất này hẳn là sẽ đem xui xẻo đến cho người nào sống trên đó. Thế là ông ta chợt nảy ra một ý định. Ông thầy phong thủy vội vã quay vào nhà và bảo với người phụ nữ: “Tôi vừa thấy một mảnh đất rất tốt. Nó sẽ đem lại nhiều may mắn cho bà. Để thể hiện lòng biết ơn của tôi đối với bát nước bà vừa cho, tôi sẽ chỉ nó cho bà.” Rồi ông ta cùng người phụ nữ ra cửa, chỉ vào mảnh đất xấu nói: “Bà nên xây nhà ở trên đó. Nó sẽ đem lại may mắn cho bà.” Người phụ nữ trả lời một cách đầy biết ơn: “Chúng tôi muốn xây một ngôi nhà mới, cảm ơn vì đã chỉ cho tôi; chúng tôi sẽ xây nhà của mình trên đó.”
Mười năm sau, ông thầy phong thủy quay lại. Tuy nhiên, ông ta đã ngạc nhiên khi thấy người phụ nữ đang sống sung túc với một sân sau đầy các loại gia súc. Ông nhìn xung quanh một cách cẩn thận và đảm bảo chắc chắn rằng đó chính là mảnh đất xấu. Đáng lẽ nó phải đem lại vận rủi cho người chủ chứ? Tại sao mảnh đất lại đem đến may mắn cho người phụ nữ đó vậy?
Phong thủy tốt nhất cho cuộc đời bạn – Kỳ III: "Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích"
(Ảnh minh họa: Theo dudoanhoc.com)
Khi người phụ nữ nọ nhận ra vị thầy phong thủy ngày nào, bà rất vui mừng. Bà vội vã chạy đến trước mặt ông và nói trong hân hoan: “Cảm ơn ông đã chỉ cho tôi mảnh đất này! Từ khi chúng tôi xây nhà trên đó, vận may đã đến với chúng tôi.
Với một ánh mắt xấu hổ và tâm trí rối bời, vị thầy phong thủy nói: “Không phải. Tôi rất tiếc phải nói điều này… Thật ra tôi nghĩ rằng mảnh đất này sẽ đem xui xẻo đến cho bà. Khi tôi chỉ nó cho bà, điều tôi thật sự muốn làm là trừng phạt bà vì bà đã đối xử tệ với tôi.”
Người phụ nữ rất ngạc nhiên khi nghe ông ta nói. Bà hỏi: “Tôi đối xử tệ với ông như thế nào?.” Thầy phong thủy nói: “Bà lấy nước cho tôi rất lâu và lưỡng lự khi đưa nó cho tôi. Bà lại còn bỏ cả ngũ cốc vào nước.”
Người phụ nữ giải thích: “Ồ, tôi xin lỗi. Tôi không có ý đối xử tệ với ông đâu. Khi tôi thấy ông nóng và khát như vậy, tôi nhớ đến một câu nói: ‘Đừng để người đang khát khô họng uống nước lạnh vội vã’. Vì vậy tôi cho một nắm ngũ cốc vào để làm ông uống chậm lại.”
Khi nghe những lời này, vị thầy phong thủy lặng người nhận ra người phụ nữ này có một trái tim nhân hậu. Vì bà có tâm nghĩ tới người khác, nên bà luôn được Trời Phật phù hộ và bảo vệ. Rõ ràng là số phận của một con người với đạo đức cao như vậy sẽ không bao giờ bị ảnh hưởng bởi ý định xấu của vị thầy phong thủy hay sự xui xẻo của mảnh đất xấu.

2. Vậy thế nào là phong thủy chân chính?

Khi nói đến phong thủy đa số chúng ta luôn nghĩ đến những điều hay những định nghĩa mà những cuốn sách bán trên thị trường, các thầy phong thủy cũng căn cứ vào một số định nghĩa và những đúc kết của những người xưa, đọc một số cuốn sách nghiên cứu và căn cứ vào đó mà có thể xem phong thủy nhà, đất, hướng…
Nhưng quan niệm người xưa về thầy phong thủy hoàn toàn khác. Thầy phong thủy bắt buộc phải được chân truyền của một vị Sư phụ, phải đạt được năng lực câu thông với trời đất, ngoài ra còn phải có khả năng quan sát hình thế của trời đất. Trong kinh thơ Đại Nhã Lưu Công có nói về “Trắc cương“, “Giáng nguyên“, “Thệ thủy“, “Quan kinh” đều liên hệ phong thủy với văn hóa tuy luyện cổ xưa. Theo đó, một vị thầy phong thủy chân chính không chỉ là một người có năng lực, biết trọng đức, hành thiện thông thường, mà còn phải thực sự tuân theo theo một môn pháp tu luyện của Đạo gia, tu tâm, dưỡng tính, phản bổn quy chân, trở về với chân Đạo. Đó cũng là lý do tại sao người xưa còn gọi các vị thầy phong thủy chân chính là “Địa tiên.”
Từ xưa đến nay, cũng có rất nhiều người tự xưng là thầy phong thủy, nhưng thực chất chỉ là cóp nhặt một chút kiến thức bề ngoài, kết hợp với một số kỹ năng tiểu thuật, tuân theo một số sách vở, rồi treo biển phong thủy nhằm mục đích kiếm tiền. Hành vi mưu sinh đó khác biệt rất xa so với phong thủy chân chính. Những thuật sĩ này chủ yếu là xem cho dân thường về địa thế, đất đai, thời hạn. Mặc dù như vậy, họ cũng có tác dụng nhất định đối với việc truyền bá đạo lý tích đức hành thiện, để lại phúc cho con cháu, sống hòa hợp với đất trời, v.v.
Phong thủy tốt nhất cho cuộc đời bạn – Kỳ III: "Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích"
(Ảnh: tranhphongcanh.biz)
Tuy nhiên, cuộc sống hiện đại tôn sùng vật chất đã khiến phong thủy chỉ còn lại cái vỏ bề ngoài. Người biết đến phong thủy căn bản cũng chỉ dựa vào một vài cuốn sách, rồi lại tự mình tìm tòi, xây dựng nên một bộ lý thuyết của bản thân. Khi họ làm phong thủy thì bỏ qua tâm tính của gia chủ. Người cầu cạnh họ cũng không chú trọng tu thân tích đức. Giá trị chân chính của phong thủy đã hoàn toàn bị quên lãng. Nếu phong thủy gắn liền với Đạo gia, thì nó cũng không thể vượt thoát khỏi những nguyên lý phổ quát của văn hóa tu luyện – tu tâm, tích đức, hành thiện.
Thực ra, người đi xem phong thủy ngày nay cũng chỉ có một mục đích là cải biến số mệnh bản thân mình, không cầu danh lợi thì cũng cầu được bình an. Tuy nhiên, số mệnh đâu phải là điều mà người ta có thể cải biến bằng những phương thức bên ngoài. Không tu thân tích đức thì có thể có được phúc thọ hay không? Cứ mãi làm việc xấu thì có thể nhận lại hai chữ bình an hay không? Nếu làm như vậy thì khác gì là “cướp đoạt” phúc đức của trời đất? Thật sự làm được thì cũng chỉ là mang họa vào thân mà thôi, hậu quả trong tương lai còn khủng khiếp hơn rất nhiều sung sướng nhất thời ở hiện tại.
Chính vì thế, trong “Cách ngôn thập vô ích” của mình, Lâm Tắc Từ mới có câu: “Tâm còn chưa thiện, phong thủy vô ích.” Thiện niệm mới là phong thủy chân chính cho cuộc đời bạn.
Quang Minh tổng hợp

Đến tuổi trung niên có 3 loại rượu không uống, 3 chốn không đi và 3 loại ngủ không ngủ


Người đến tuổi trung niên, thuận theo năm tháng thì cơ thể cũng dần lão hoá. Lưng còng, mắt mỏi, tay run, đi đứng nhiều khi chẳng thuận lòng, huyết áp tăng cao người bủn rủn. Tuổi xuân thì cũng quá thời, trung niên là lúc đến thời phải lo.

Vậy nên, đến tuổi trung niên chúng ta phải chú ý không uống ba rượu, không đi ba chốn và không ngủ ba loại sau đây.
Đến tuổi trung niên không uống ba rượu:
1. Không uống say
Khi còn trẻ, mỗi khi chúng ta tụ tập bạn bè ăn uống thì đều giơ cao khẩu hiệu: “Không say không về”. Tuy nhiên khi năm tháng qua đi, chúng ta bước vào tuổi trung niên, sức khỏe và cơ thể cũng không còn như thời xuân cũ. Vậy nên chúng ta không thể nào ăn uống như trước đây được nữa, không thể ăn quá no, uống quá chén. Ngoài ra, bây giờ chúng ta cũng chẳng còn đơn thân độc mã nữa, là đàn ông chúng ta còn có gia đình, có vợ có con, là trụ cột trong nhà, bản thân cũng cần lấy gương làm mẫu cho con cháu noi theo.
2. Không uống rượu vô danh
Trước đây khi còn thanh niên trai tráng, mỗi khi vào bàn rượu thì bất kể người ngồi trong mâm dù lạ dù quen thường thường đều kính mỗi người một chén. Người khác có đến kính một chén thì bất kể đối phương có dụng ý gì hay không chúng ta cũng vẫn nâng chén cạn ly. Tuy nhiên, khi đã bước vào tuổi trung niên, chúng ta chẳng thể sống như xưa được nữa, không thể cứ mãi vô tư mà uống loại rượu vô danh này được, lúc này chúng ta uống rượu là cần phải có trước có sau, lễ nghĩa đủ đầy mới có thể nâng ly cạn chén.
3. Không uống rượu bất kính
Khi son trẻ, không tiền, không quyền thế, nên đôi khi vì công chuyện làm ăn, vì gây dựng mối quan hệ có những lúc không thể không uống những chén rượu không mong muốn, thậm chí còn phải nghe những lời không đáng nghe. Nhưng nay, năm tháng qua đi, thế thời cũng khác, chúng ta bất luận thế nào cũng không nên uống những loại rượu bất kính như này, càng không nên nghe những lời khó nghe như trước.
Người đến tuổi trung niên không ngủ ba loại:
1. Không ngủ muộn
Khi bước vào tuổi trung niên, chúng ta không còn như trước, không thể thức quá khuya đến một hai giờ sáng. Chúng ta nên đi ngủ trước lúc 11h là tốt nhất. Khi còn trẻ, sức khỏe chúng ta có thể phục hồi nhanh chóng, nhưng khi bước vào tuổi trung niên thì mọi chuyện đã khác, thức khuya rất dễ dẫn đến vấn đề tim mạch, huyết áp.
2. Không ngủ quá nhiều
Không chỉ không được ngủ muộn mà ngay cả thức dậy cũng không được quá trễ. Có nhiều người cho rằng: “Tối qua mình ngủ muộn, sáng mai ngủ thêm chút nữa”, kỳ thực đây là nhận thức sai lầm. Tối qua bạn ngủ muộn, sang ngày hôm sau bạn có ngủ thêm đi chăng nữa cũng chẳng thể bù lại được. Buổi sáng dù có mệt đến đâu cũng phải dậy trước 8h, sau đó rửa mặt đánh răng ăn điểm tâm sáng. Một người mà thường xuyên thức khuya sẽ dẫn đến nhiều tật xấu.
3. Không suy nghĩ nhiều trước khi đi ngủ
Khi còn trẻ có thể vì tình, tiền, địa vị mà phiền não trằn trọc tới khuya. Nhưng nay tuổi đã trung niên, chúng ta không đem phiền não đó mà đi ngủ được đâu, bởi nó sẽ khiến cho chúng ta ngủ không được sâu giấc, chập chờn. Chúng ta chỉ có thể gạt hết mọi thứ sang một bên để cho tâm tĩnh lại mới có thể nghỉ ngơi được tốt, sang ngày hôm sau mới có sức khỏe tốt nhất.
Người đến tuổi trung niên không đi ba nơi:
1. Không đến nơi cờ bạc
Khi đã đến tuổi này, đến những nơi cờ bạc dù có chơi hay không thì cũng khiến chúng ta mất đi hình tượng của mình. Còn nếu chơi, thắng thì không nổi mà thua thì bê tha, đằng sau chúng ta còn có mẹ già, vợ con cần chăm sóc. Một khi đã thua rồi thì không còn cơ hội để làm lại, thời gian, sức lực đều đã không còn cho phép nữa rồi, một khi đã mất là mất tất cả.
2. Không đến nơi phong hoa tuyết nguyệt
Khi đến tuổi trung niên, chúng ta đã có gia đình, con cái đủ đầy, cha mẹ cũng đến lúc tuổi già sức yếu. Lúc này không phải là lúc mong muốn con cái có được bao nhiêu tiền, mà là có được một gia đình ấm êm hòa thuận. Lúc này nếu như chúng ta lại để xảy ra vấn đề gì đó, ắt gia đình sẽ gặp cảnh cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, không khí gia đình cũng vì thế mà nóng lạnh bất thường. Và không chỉ cha mẹ chịu ảnh hưởng, mà con cái cũng bị tác động tâm lý không tốt, mang theo vết sẹo trong tâm hồn một đời về sau.
3. Không đến nơi thị phi
Khi còn trẻ, chúng ta thường có tâm hiếu kỳ, thích xem những chuyện người khác cũng là điều dễ hiểu. Nhưng nay là lúc chúng ta cần phải trầm tĩnh, ổn định, từ lời nói cho đến việc làm đều cần phải suy trước nghĩ sau. Đối đãi với cha mẹ, bạn bè, người thân, hàng xóm thì tuyệt đối không thể có những chuyện thị phi đó được, nếu không sẽ ảnh hưởng đến quan hệ đôi bên.
***
Con người khi đến tuổi trung niên, cần phải đối diện với rất nhiều áp lực và trách nhiệm. Có rất nhiều chuyện mà hồi còn trẻ chúng ta thích làm, nhưng đến tuổi trung niên đã không thể tiếp tục như vậy được nữa, nếu không cái được chẳng bõ cái mất.
Người đến tuổi trung niên sức khỏe cũng đã chẳng còn như trước, đối với chúng ta lúc này, sức khỏe luôn là số một, là việc được ưu tiên hàng đầu. Vậy nên cũng cần phải học cách nuôi dưỡng thói quen tốt, tu tâm dưỡng tính, bồi bổ sức khỏe, ấy là việc cần làm.

3 đại phong thủy ảnh hưởng đến vận mệnh một người

Từ xưa đến nay, “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa” được xem là ba yếu tố chính quyết định mọi thành bại ở đời. Đặc biệt thời cổ, ba đại phong thủy này được xem là có ảnh hưởng lớn, thậm chí có thể làm thay đổi được vận mệnh của một người. 
phong thủy
(Hình minh họa: Qua tw.aboluowang.com)
Cổ nhân tin rằng mệnh của một người là đã được định sẵn nhưng vận mệnh của một người không phải từ lúc sinh ra là đã bất biến, không thể thay đổi được. Nó chịu sự tác động của các loại hoàn cảnh, hành vi cá nhân và các yếu tố phong thủy mà trong “vô tri vô giác” bị cải biến. Vậy, các yếu tố phong thủy thiên thời, địa lợi, nhân hòa ảnh hưởng đến vận mệnh của một người như thế nào?

1. Thiên thời

Thiên thời là những yếu tố thuộc về tiên thiên, điều này con người không có khả năng nắm giữ trong tay và không cách nào thay đổi được.
Từ thực tế, phong thủy từ xưa tới nay đều không tách rời khỏi mối quan hệ với hoàn cảnh tự nhiên, các quy luật của trời đất và sự cân bằng sinh thái. Con người sinh sống trong Thái dương hệ. Sự ảnh hưởng của Thái dương và chín đại hành tinh đối với địa cầu nhân loại là vô cùng to lớn, là điều mà sức người hoàn toàn không thể khống chế được.
Thiên thời cụ thể biểu hiện thứ nhất ở thời gian một người được sinh ra, đây là điều mà người Trung Hoa gọi là Bát tự (giờ ngày tháng năm sinh viết theo Thiên can và Địa chi). Người xưa cho rằng giờ, ngày, tháng, năm con người được sinh ra đều bị Thiên can Địa chi chi phối. Mỗi giờ, ngày, tháng, năm sinh ấy được thay bằng hai chữ, tổng cộng là tám. Dựa vào tám chữ ấy, người ta có thể suy đoán ra vận mệnh của một con người.
Thiên thời còn được thể hiện ở thời điểm làm việc. Trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” có ghi chép về việc Gia Cát Lượng mượn gió đông là một ví dụ. Trận Xích Bích là một trận đánh lớn cuối thời Đông Hán có tính chất quyết định đến cục diện chia ba thời Tam Quốc. Muốn lấy ít thắng nhiều thì hỏa công là phương kế tốt nhất. Nhưng giữa trời đông giá rét, gió đông nam là cực kỳ hiếm gặp. Ở vào thời khắc cần nhất, việc gió đông nam xuất hiện là một yếu tố then chốt quyết định sự thắng lợi. Có thể đoán được chuẩn xác thời khắc nào gió đông nam bắt đầu thổi thì đã là việc khó mà làm được. Việc ở vào thời khắc cần nhất mà đưa gió đông nam tới lại là một việc không tưởng. Vậy mà khi đội thuyền của Hoàng Cái nhắm về phía Tào doanh, quả thực gió đông nam đã thổi mạnh.

2. Địa lợi

Địa lợi là yếu tố thuộc về phong thủy hoàn cảnh. Hoàn cảnh sinh sống, làm việc có thể tác động làm thay đổi vận mệnh của một người.
Phong thủy phương hướng: Vị trí và phương hướng địa lý sẽ có sức ảnh hưởng đến vận mệnh của một người. Sự ảnh hưởng này thông thường là ở chỗ sức mạnh của ngũ hành, ví như phía đông mộc vượng, phía nam mộc hỏa…
Phong thủy nơi sinh sống và nơi làm việc: Nơi sinh sống và nơi làm việc của một người cũng có khả năng ảnh hưởng đến vận mệnh của người đó.
Môi trường sống có tác dụng đặc biệt đối với quá trình trưởng thành của mỗi con người. Môi trường sống khác nhau sẽ hình thành nên những thói quen khác nhau. Thời xưa, Mạnh Mẫu, mẹ của Mạnh Tử – nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn của Trung Hoa trong thời kỳ Xuân thu Chiến quốc, vì để tìm hoàn cảnh sống thích hợp cho con trai chuyên tâm học tập mà đã nhiều lần chuyển nơi ở.

3. Nhân hòa

Nhân hòa là dựa vào trí tuệ và sự cố gắng đúng đắn của bản thân mà cải biến vận mệnh. Điều trung tâm của “nhân hòa” là yếu tố con người.
Yếu tố thuộc về hoàn cảnh sinh sống: Hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hóa nơi một người sinh sống là có sức ảnh hưởng rất lớn đến vận mệnh của người ấy. Ví như các chính sách xã hội, các cuộc chiến tranh… sẽ có ảnh hưởng đến vận mệnh của người dân sinh sống trong đó. Sự khủng hoảng về kinh tế, tài chính cũng làm cải biến số mệnh của rất nhiều người.
Yếu tố thuộc về nhân duyên: Các mối quan hệ trong gia đình, dòng họ, vợ chồng, bạn bè, đồng sự… sẽ có sự ảnh hưởng nhất định làm thay đổi vận mệnh của một người.
Yếu tố thuộc về tâm lý: Tư tưởng, tín ngưỡng, tâm tính, hành vi của một người sẽ làm ảnh hưởng và cải biến vận mệnh của chính bản thân người ấy.
Yếu tố thuộc về tên gọi: Cổ nhân cho rằng, tên của một người, tên công ty, tên sản phẩm cũng sẽ sinh ra năng lượng ngũ hành làm ảnh hưởng đến vận mệnh của một người.
chu dịch
(Hình minh họa: Qua pinterest)
“Thiên thời” là yếu tố con người không tạo ra được và “Địa lợi” là yếu tố một người khó thay đổi, nhưng “nhân hòa” lại là điều một người nắm trong tay. Để làm thành được việc lớn, Mạnh Tử đề cao “nhân hòa” nhất trong ba yếu tố “Thiên thời, Địa lợi, Nhân hòa”.
Mạnh Tử giảng rằng: “Thiên thời bất như địa lợi, địa lợi bất như nhân hòa”, ý nói thuận cơ trời không bằng được địa lợi, được địa lợi lại không bằng được lòng người. Nhân hòa có thể làm nên nghiệp lớn, nhưng để có “nhân hòa” thì thật không phải là việc dễ dàng. “Nhân hòa” chính là lòng người, là sự đồng lòng ở bên trong, không có “nhân hòa” thì không có sức mạnh to lớn.
Những bậc Quân chủ thánh minh thời xưa luôn “đồng cam cộng khổ” cùng dân chúng, vui với niềm vui của dân chúng, cảm thông với nỗi khổ của họ, trong lòng có thiên hạ. Như vậy, họ mới được lòng người, được dân chúng ủng hộ. Trong gia đình cũng lại như vậy, người chồng muốn tạo dựng được sự nghiệp thì không thể thiếu sự đồng lòng của người vợ. Không phải ai cũng có được “thiên thời, địa lợi” thuận lợi và những người làm thành được việc lớn trong thiên hạ xưa nay thì thường không thể thiếu vắng yếu tố “nhân hòa”.
An Hòa