Wednesday, January 31, 2018

Nguồn gốc của 12 con Giáp(3)

Xưa nay nhiều người vẫn lầm tưởng rằng 12 con giáp có xuất xứ từ Trung Hoa. Tuy nhiên, mới đây, trong một công trình nghiên cứu về ngôn ngữ Việt cổ - nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Nguyễn Cung Thông phát hiện ra nguồn gốc 12 con giáp có xuất xứ từ Việt Nam.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông và vợ ở Viện Việt học
Ngôn ngữ là “lá bùa” tổ tiên để lại
Theo văn hoá Phương Đông, lịch được xác lập theo chu kỳ thay đổi đều đặn của Mặt trăng. Do đó 12 con giáp ứng với 12 giờ trong ngày, 12 tháng trong năm, 12 năm trong một giáp – đó là những nền tảng quan trọng để tính lịch và là dấu hiệu để nhận đoán về số mệnh của từng người theo cung Hoàng Đạo.
Trong lịch sử, Việt Nam và Trung Hoa có một thời kỳ giao lưu văn hoá ít nhất 2000 năm. Những đợt giao lưu văn hoá cứ tiếp biến và chồng chất lên nhau khiến cho dấu hiệu nhận biết nét riêng của từng dân tộc rất khó khăn. Thêm vào đó, các tài liệu xưa không còn nhiều, nếu còn cũng chỉ trong kho thư tịch Hán cổ khiến cho việc nghiên cứu hết sức rắc rối và phức tạp. Chính điều này đã đốc thúc nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nguyễn Cung Thông cố công đi tìm cho bằng được những bí ẩn ngôn ngữ của tổ tiên mà theo ông đó là những “lá bùa” con cháu cần tìm lời giải.
Ông Thông cho biết, ông bắt đầu việc nghiên cứu tiếng Việt của mình vào những năm đầu thập niên 1970 tại nước Australia. Trong một lần nghiên cứu về nguồn gốc 12 con giáp để lần tìm cội nguồn tiếng Việt ông đã phát hiện ra một số từ Việt cổ mà người Việt đã dùng để chỉ về 12 con giáp có nguồn gốc lâu đời trước khi 12 con giáp xuất hiện ở Trung Hoa. Vào những ngày cuối năm con trâu, tại Viện Việt học ở thành phố Westminster (California, Mỹ) ông đã có một buổi thuyết trình những khám phá thú vị của mình với chủ đề “Vết tích của tiếng Việt cổ trong tiếng Hán”.
“Tìm hiểu về gốc của tên mười hai con giáp là một cơ hội để ta tìm về cội nguồn tiếng Việt. Tên 12 con giáp là Tý/Tử, Sửu, Dần, Mão/Mẹo, Thìn/Thần, Tỵ, Ngọ, Mùi/Vị, Thân/Khôi, Dậu, Tuất, Hợi. Thoạt nhìn thì thập nhị chi trên có vẻ bắt nguồn từ Trung Quốc vì là những từ Hán Việt, nhưng khi phân tách các tiếng Việt, và thấy có những khác lạ, tôi đem so sánh trong hệ thống ngôn ngữ vay mượn thì sự thật không phải vậy” – ông Thông nói.
Theo ông Thông thì tên 12 con giáp nếu đọc theo tiếng Bắc Kinh và bằng cách ghi theo bính âm (pinyin): zi, chou, yín, măo, chén, sì, wè, wèi, shèn, yòu, xù, hài... hoàn toàn không liên hệ đến cách gọi tên 12 con giáp trong tiếng Trung Quốc hiện nay. Ngay cả khi phục hồi âm Trung Quốc thời Thượng Cổ thì vẫn không tương đồng với các cách gọi tên thú vật thời trước. Như vậy nếu có một dân tộc nào đó dùng tên 12 con thú tương tự như tên 12 con giáp ngày nay thì dân tộc đó phải có liên hệ rất khăng khít với nguồn gốc tên 12 con giáp này.
Từ điều này, khởi đầu cho việc nghiên cứu ông đi tìm nguyên do vì sao trong 12 con giáp của Trung Quốc, con Mèo bị thay bởi Thỏ. “Người Trung Quốc dùng thỏ thay cho mèo (biểu tượng của chi Mão/Mẹo) vì trong văn hoá người Trung Quốc thỏ là một loài vật rất quan trọng và thường được ghi bằng chữ tượng hình là Thố, giọng Bắc Kinh, là từ viết bằng bộ nhân không có từ để chỉ mèo. Hầu như chỉ có dân Việt mới dùng mèo cho chi Mão: nguyên âm e hay iê là các dạng cổ hơn của a như kẻ/giả, vẽ/hoạ, xe/xa, khoe/khoa, hè/hạ, chè/trà, keo/giao, beo/báo... Vì thế mà mèo cũng là loài vật hiện diện trong đời sống dân Việt thường xuyên hơn” – ông Thông lý giải.
Thời tiền Hán, tiếng Việt không có nhiều thanh điệu như bây giờ, nên sự khác biệt về thanh điệu không có gì lạ. Trong khẩu ngữ người Việt có cách dùng “chờ một tý” hay “chờ một chút”, “đưa chút tiền”, “đưa tý tiền”... vào thời tiền Hán, các câu trên đọc như giọng Huế (ít thanh điệu hơn so với giọng Hà Nội) thì thấy chút hay chụt/chuột chính là các cách đọc của Tý sau này..
Vì sao Việt Nam không giữ được “thương hiệu”?
Thực tế, đã từng có nhiều công trình của nhiều tác giả cố gắng chứng minh văn hoá Trung Quốc có xuất phát từ văn hoá Việt Nam như tác giả Lê Mạnh Thát qua cuốn “Lịch sử âm nhạc Việt Nam - từ thời Hùng Vương đến thời kỳ Lý Nam Ðế” hay tác giả Nguyễn Thiếu Dũng với cuốn “Nguồn gốc Kinh Dịch”... Hầu hết các cuốn sách này đều cho thấy chiều vay mượn văn hoá là từ phương Nam vào thời thượng cổ, chứ không phải là từ Bắc xuống Nam (cũng như các nước chung quanh) vào các đời Hán, Ðường lúc văn hoá Trung Quốc cực thịnh. Tuy nhiên không tác giả nào đề cập đến nguồn gốc tên 12 con giáp, và rất ít dùng cấu trúc của chữ Hán, Hán cổ cùng các biến âm trong cách lý giải.
Theo ông Thông, ngoài hai chi Tý/Tử/chuột, Mão/ Mẹo/mèo là dễ nhận thấy nhất thì những chi còn lại khi so sánh trong tương quan ngữ âm, ngữ nghĩa cũng đều cho ra những kết quả khá bất ngờ.
Ví dụ với trường hợp của Thân là chi thứ 9 trong bản đồ Hoàng Đạo. Nếu xem cách viết chữ Thân bằng bộ điền với nét giữa dài hơn với cách viết chữ Khôn (một căn bản của Kinh Dịch có từ thời Thượng cổ) thì ta thấy bộ thổ hợp với chữ Thân hài thanh. Đây là liên hệ trực tiếp giữa Thân và Khôn, tuy nhiên tiếng Việt cổ có chữ khọn là con khỉ (người Huế hay người xứ Nghệ hiện nay một số chỗ vẫn còn những câu cửa miệng “tuồng mặt con khọn” để ám chỉ những người vô tích sự, chẳng làm chẳng nên trò trống gì). Thành ra, Thân chính là khỉ, tiếng Việt cổ dù biến âm th-kh rất hiếm gặp trong tiếng Việt ngày nay nhưng nó vẫn còn dấu tích của những từ cặp đôi như: thân- cận- gần, thận- cẩn (thận trọng, cẩn trọng).
Tương tự với trường hợp của con Rồng. Xưa nay nhiều người vẫn cho rằng rồng là một con vật tiêu biểu cho vương quyền của phương Bắc và sau đó nó được chọn làm một trong 12 con vật có mặt trong 12 con giáp của cung Hoàng Đạo. Nhưng ít ai biết được rằng rồng thực sự là con vật chủ của người Việt cổ và ngày xưa người Việt đã có những từ ngữ riêng để nói đến rồng hay thìn. Thìn/Thần dấu tích còn lại trong giọng Bắc Kinh hiện nay chỉ còn chén – âm này có thể tương ứng với các âm trần, trầm, thần của Hán Việt. Tuy nhiên, theo nhà nghiên cứu Nguyễn Cung Thông thì nếu phục hồi âm cổ của Thìn/Thần là tlan (Tiếng Việt cổ - âm r chuyển thành l) và trăn, lươn (âm ts - mất đi), rắn, trình (loài cá giống con lươn), rồng/long (nguyên âm o thay cho a như nôm/nam, vốn/bản...) và khuynh hướng đơn âm hoá để cho ra các dạng từ ghép như tlăn - thằn lằn, tlian - thuồng luồng... cho thấy vết tích của rồng trong các ngôn ngữ phương Nam.
Lý giải về nguyên nhân dẫn đến việc bị “lẫn lộn” về nguồn gốc 12 con giáp, ông Thông cho rằng “Với ảnh hưởng quan trọng của nền văn hoá Trung Quốc, từ đời Hán và sau đó là Đường, Tống... với sức ép của giai cấp thống trị từ phương Bắc tên 12 con vật tổ đã từ từ được thay thế bằng hình ảnh con người, mang nặng màu sắc văn hoá Trung Hoa hơn. Từ tính chất cụ thể của các loài vật láng giềng, 12 con giáp đã trở nên trừu tượng và còn ảnh hưởng đến vận mạng con người nữa (bói toán). Tuy nhiên, cái vỏ hào nhoáng của chữ Hán, Hán Việt không thể thay đổi được nền văn hoá bình dân (khẩu ngữ) trong đời sống người Việt”.
Sự phát hiện mới mẻ này đã chứng minh cho sự phát triển của người Việt xưa trong cách tính lịch và làm nên một nền văn minh lúa nước rực rỡ ở phía Nam Đông Nam Á.

Hà Tùng Long (GiadinhNet)
Khi so sánh các con vật biểu tượng cho 12 con giáp, điểm khác biệt rõ nét nhất là người Việt Nam ta dùng con mèo[1] cho chi Mão/Mẹo nhưng người Thái, Lào, Khme, Nhật, Hàn, Trung Quốc/TQ... đều dùng con thỏ. Đây là một cánh cửa hé mở khiến ta phải đặt lại vấn đề nguồn gốc tên gọi 12 con giáp, vì nếu chúng từ TQ thì khi nhập vào các nước hay dân tộc nào đó thì theo thói thường hệ thống ‘12 con giáp nguyên thuỷ’ vẫn được duy trì – như thỏ biểu tượng cho chi Mão chẳng hạn - và nếu có thay đổi thì không có là bao nhiêu như gà so với gà trống, dê so với cừu/trừu, heo/lợn so với heo rừng v.v... Giả sử chữ Mão 卯 có nguồn gốc tượng hình con mèo như chữ thố/thỏ 兔 chẳng hạn, thì không ai chất vấn nguồn gốc tên gọi 12 con giáp (động vật) và thập nhị chi làm gì. Khi truy nguyên giáp văn, kim văn và triện văn của chữ Mão thì thấy hình dạng của hình cửa mở hay hai mặt trăng đối nhau (?) - xem thêm chi tiết ở trang chinese etymology (2003, cập nhật 2008, 2010 – tác giả Richard Sears) - nguồn gốc chữ Mão chẳng dính líu gì đến một loài vật nào, như thỏ chẳng hạn. Chúng ta hãy nhìn lại vấn đề từ các góc độ khác nhau ngõ hầu có thể nhận ra được phần nào nguồn gốc chính xác và hợp lý hơn của Mão/Mẹo. Người viết sẽ tránh dùng thuật ngữ Ngôn Ngữ Học để bài viết dễ đọc hơn. Một điểm đáng ghi nhận ở đây là các thông tin trao đổi trên mạng/Internet và bloggers cũng đáng chú ý: như có khá nhiều trao đổi về chủ đề 12 con giáp và loài vật tượng trưng cho chi Mão là thỏ và mèo, bằng tiếng Anh, Việt, Pháp, Trung (Quốc)... Tuy rằng các dữ kiện trên mạng cũng cần phải được kiểm chứng một cách nghiêm túc, người viết sẽ ghi lại các nguồn để độc giả có cơ hội tra cứu thêm. Mạng lưới (toàn cầu) càng ngày càng phổ biến và trở thành một môi trường giáo dục quan trọng, cũng như giải quyết một số vấn đề mà trước đây tốn rất nhiều công sức. Cách đây gần 6 thập niên, học giả Phan Khôi từng nhận xét ‘... Người Việt Nam chúng ta về sau phải sang TQ ở lâu mà nghiên cứu, may ra tìm được các dấu vết tương quan của dân tộc ta với dân tộc TQ từ đời thượng cổ...’ - trang 34, ‘Việt Ngữ nghiên cứu’ (NXB Đà Nẵng, 1997). Tình hình bây giờ khác nhiều so với thời đại của cụ Phan Khôi.

1. Loài mèo được thuần hoá sớm hơn loài thỏ

Các xương mèo và người khai quật ở đảo Cyprus cho ta kết luận loài mèo đã sống chung với loài người và có khả năng được thuần hoá cách đây khoảng 9500 năm; So với loài thỏ thì thời kỳ thuần hoá (domestication) không rõ rệt, nhưng ước đoán cách đây khoảng 3000 năm mà thôi. Điều này cũng phù hợp với di chỉ tìm thấy ở Điền Viên Động[2] (Tianyuan cave 田园洞, gần Bắc Kinh) gồm có xương người, sơn dương, khỉ, nhím và mèo hoang (civet cat). Ngoài ra, bản tin từ Tân Hoa Xã (Xinhua News Agency, ngày 22 tháng Tám, 2006) trên mạng cho ta biết về các xương thú tìm thấy sau khi bị chôn sống cách đây khoảng 1700 năm. Các xương thú vật tìm thấy gồm có mèo, chó, heo, dê, trâu và trừu… Mèo còn rất thích hợp với xã hội nông nghiệp vì là loài động vật ăn thịt (carnivore): nhà nông thường phải chứa (tồn kho) các sản phẩm vì thời tiết thay đổi bất thường, sau đó các kho hàng hoá này hấp dẫn các loài chuột, sâu bọ và ngay cả chim chóc cũng đến tìm lương thực và quấy phá... Đến nỗi nhà nông chúng ta phải ra lời ta thán:
Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày dẵm lúa nhà ông hỡi cò
 (ca dao)
Mèo đã đến như vị cứu tinh để giải quyết vấn nạn trên; Khác hẳn với loài thỏ chỉ ăn rau cải (herbivore) và phá hoại mùa màng – như hiện nay, chính phủ Úc phải tìm các phương pháp hoá học (như dùng thuốc độc) hay sinh học (như cấy vi trùng bệnh) để kiểm soát dân số loài thỏ - thay vì săn bắn chúng một cách dã man. Loài thỏ thuần hoá không thể tồn tại khi nhiệt độ môi trường chung quanh lên trên 32°C, so với loài mèo có thể sống sót với môi trường ở nhiệt độ 52°C; Thân nhiệt (body temperature) của mèo thì từ 38°C đến 39°C (so với con người vào khoảng 37.5°C) tương thích với một xã hội nông nghiệp với khí hậu ôn hoà, còn thỏ lại là nguồn thực phẩm có lượng prôtêin cao cho xã hội du mục và săn bắn.

2. Tư duy nông nghiệp tổng hợp và cụ thể qua ngôn ngữ

Liên hệ Mão Mẹo và mèo rất dễ hiểu: các âm này đều thuộc thanh vực trầm[3] (trọc) và nguyên âm e (của Mẹo mèo) là dạng cổ hơn của nguyên âm a (của Mão) như hè hạ (Hán Việt), xe xa, keo giao, vẽ hoạ, mè (vừng) ma, chè trà, beo báo v.v... Tương quan tự nhiên còn thể hiện qua cách dùng lòng (bụng dạ) - bộ phận thấp nhất trong cơ thể con người - thay vì tim hay não bộ (óc): lòng tốt hay tốt bụng (hảo tâm HV), buộc lòng, mất lòng... Khi nhập vào tiếng Hán, lòng trở thành đảm 膽: theo GS Axel Schuessler[4] thì đảm 膽 có gốc phương Nam (Nam Á, Austroasiatic) và một dạng âm cổ phục nguyên là *tlam?. Schuessler ghi nhận âm cổ Bahna Bắc/ProtoNorthBahnar là *klàm (gan/liver), tiền Việt-Mường/Proto Viet-Muong *lɔ:m, Katuic *luam hay dạng khác hơn với phụ âm đầu t- như tiền Palaunic/proto Palaunic *kơntɔ:m (gan). Tra thêm các ngôn ngữ láng giềng ta thấy klơm (gan, tiếng Kơho), tho-lom (gan, tiếng Khme) so với LÒNG tiếng Việt gồm các bộ phận như ruột, gan... ‘Phật Thuyết Đại Báo Ân Trọng Kinh’ còn dùng ‘lòng gan đều nát’ (lòng chữ Nôm thường dùng lộng 弄, làõ theo Việt Bồ La 1651) phản ánh tương quan can đảm (Hán) và lòng gan/ruột gan (Việt). Ngoài ra cách dùng lõm súng (lòng súng, nòng súng), lõm chuối, lõm cây (lòng cây)... cho thấy liên hệ trực tiếp giữa dạng LÒNG - LÕM, thật ra khi phát âm LÒNG bây giờ - tiếng Việt luôn đóng môi lại (môi hoá, như LÒNG) chứ không để môi mở như các dạng LONG của tiếng Anh, Pháp … Tiếng Mường (Bi) còn dùng ‘lòm’ là gan: ‘ho ưa ăn lòm củi’ (tôi thích ăn gan heo). klơm là gan (tiếng Biat), k’lơm (gan, tiếng Boloven) v.v... Tóm lại, ta có cơ sở đề nghị cấu trúc dạng cổ phục nguyên *tlam? hay *klam? đã nhập vào tiếng Hán cho ra dạng đảm 膽. Trường hợp âm cổ phương Nam *tlam?/klam? (lòng, một lòng) trở thành đảm (can đảm, đảm lược...) khi nhập vào tiếng Hán không phải là hiếm, ta còn có những trường hợp như *krong (sông) khi nhập vào tiếng Hán trở thành *kong hay jiāng BK (giang HV), v.v... Nhìn rộng ra hơn, tên 12 con giáp Tý Sửu Dần... Mão... Tuất Hợi khi nhập vào tiếng Hán đã mất đi phần nào ý nghĩa nguyên thuỷ của tên gọi các loài động vật rất gần gũi với nhà nông. Không những thế, chúng còn được tô son điểm phấn (Hán hoá) và rất khó nhận ra các liên hệ cụ thể nguyên thuỷ: chúng trở thành những khái niệm trừu tượng (được ‘nâng cấp’) trong bói toán và cách ghi ngày tháng (kết hợp với Thập Can); Đây cũng là một lợi thế của nhóm thống trị có chữ viết sẵn (chữ Hán) và khả năng tổ chức. Lợi thế của một hệ thống chữ viết có sẵn như chữ ô vuông (chữ Hán) có thể là chỉ thêm một dấu phẩy nhỏ mà nghĩa lại đổi hẳn đi. Thí dụ như chữ quốc[5] chẳng hạn, một dạng chữ quốc 囯 cổ đại viết bằng bộ vi 囗 hợp với chữ vương 王 hàm ý lãnh thổ có giới hạn/biên giới và có vua đứng đầu, tuy nhiên khi thêm một dấu phẩy nhỏ vào bên phải chữ vương thì vương 王 lại trở thành ngọc 玉. Chữ quốc cổ đại 囯 với chữ vương - phản ánh chế độ vua chúa phong kiến - nay đã thay bằng chữ quốc với chữ ngọc 国 hàm ý lãnh thổ (bộ vi) chứa những tài sản quý báu (như dân chúng, ngọc ngà châu báu/đất đai...). Chữ quốc với chữ ngọc 国 cũng là loại chữ giản thể rất thông dụng hiện nay. Hiện tượng ‘thay đổi chữ viết’ một cách thâm thuý[6] trên có thể giải thích được chữ thố/thỏ 兔 đã dùng thay cho chữ miễn/*mãn/ vãn 免 - âm *mãn đã từng có nghĩa là mèo trong tiếng Việt[7]. Sự lẫn lộn[8] giữa mèo và thỏ còn thấy trong cách dùng dã miêu 野猫 để chỉ loài thỏ hoang (wild rabbit)[9] và mèo hoang trong văn hoá TQ và đáng được đào sâu hơn.

3. Lẫn lộn giữa các loài mèo và thỏ … trong văn hoá TQ

Thố tôn 兔猻 (thỏ tôn) là loài mèo hoang đang từ từ biến mất: loài thú này ở Trung Á, Tây Bá Lợi Á, Kashmir, Nepal, Thanh Hải, Nội Mông Cổ, Hà Bắc, Tứ Xuyên, Tây Tạng, Tân Cương... Thố tôn hay Xá Lị tôn 猞 猁 孫 : tiếng Anh còn dùng cụm từ Steppe cat và chúng hay sống trong các khu thảo nguyên sa mạc. Khi người Hán tràn xuống phía Nam và Tây, ta thấy hiện tượng lẫn lộn ‘trông/nhìn mèo ra thỏ’ (trông gà hoá cuốc) như cách gọi Thố tôn này: các lẫn lộn trên giải thích được phần nào tại sao chi thứ tư Mão Mẹo liên hệ đến mèo chứ không phải là thỏ từ nguyên thuỷ. Hình ảnh Thố tôn 兔狲 hay mèo hoang có ở đầu bài này lấy từ trên trang wikipedia hay trên trang Bách Khoa TQ.
Thố tôn còn được gọi là dương xá lị 洋猞猁, ô luân 烏倫, mã não 瑪瑙, mã não tặc 瑪瑙勒... Xá lị 猞猁 là loài mèo hoang (lynx).
Miêu là từ HV nghĩa là mèo, nhưng nghĩa Hán cổ đại của miêu là loài hổ ít lông chứ không phải là mèo; Dữ kiện này hỗ trợ cho khả năng Mão 卯 chỉ là một cách ký âm của một tiếng nước ngoài (tiếng Việt cổ) nhập vào tiếng Hán. Đây là định nghĩa của miêu:
【 爾雅 · 釋獸】 虎竊毛, 謂之虦貓
【Nhĩ Nhã·Thích Thú】hổ thiết mao,vị chi sạn miêu
Sạn/sàn 虦 theo Ngọc Thiên cũng là mèo. Sạn/sàn 虦 còn viết là 虥 (chữ hiếm - tần số dùng là 11 trên 237243358) chỉ loài mèo hoang có vằn.
Thố/thỏ 鵵 hay nghĩa cổ là một loài chim
Vãn hay *mãn 梚 (chữ hiếm) chỉ một loài cây theo cổ thư TQ; Nhưng giọng Hẹ lại đọc là t’u2 (như âm thổ) - so với hai âm mãn (mèo) và thố/thỏ.

4. Các cách giải thích khác nhau

Để hiểu tại sao người Việt lại dùng mèo cho chi Mão 卯, một cách giải thích thường gặp[10] trong tài liệu TQ là âm Mão khi nhập vào tiếng Việt đọc giống như mèo hay miêu HV nên người Việt dùng mèo làm biểu tượng thay vì thỏ. Điều này không hợp lý vì các lý do sau:
4.1 Mèo là แมว maew (tiếng Thái), maaw (Lào)... nhưng thỏ lại là loài vật biểu tượng cho chi Mão ở Thái, Lào!Điều lầm lẫn giữa Mão và mèo lại càng rất khó xẩy
ra khi đất Giao Chỉ có những liên hệ rất gần với các triều đại phương Bắc (Hán... Đường) so với các dân tộc khác ở phía tây Giao Chỉ.
4.2 Nếu mèo đọc gần như Mão và được dùng làm loài vật tượng trưng cho chi thứ tư này, rất khó giải thích tại sao nga (ngỗng trời... cò biển) gần gũi với dân ta (đánh cá, gần biển...), đọc gần giống âm cổ *ngwa của Ngọ 午, lại không là loài vật biểu tượng cho chi Ngọ? Còn âm cổ Mùi (Vị) 未 của chi thứ tám đọc gần với âm muỗi, tại sao người Việt lại dùng dê chứ không là muỗi... và còn nhiều các âm giống khác nữa v.v... Ngoài ra, tuy chữ Nôm còn quá ‘trẻ’ để phân tích liên hệ ngữ âm của tên gọi 12 con giáp, nhưng cũng có vài điểm đáng chú ý là mèo (cũng như meo) thường dùng chữ miêu 貓 HV như:
‘Lẻo lẻo doành xanh con mắt mèo’ (Bạch Vân Thi Tập, Nguyễn Bỉnh Khiêm 1491-1585)
Nhưng méo thì chữ Nôm dùng Mão 卯 (có khi cộng thêm dấu nháy):
‘Tròn tròn méo méo in đòi thuở’ (Hồng Đức Quốc âm Thi Tập, soạn bởi quần thần và Lê Thánh Tông 1442-1497).
Do đó, hai âm Mão và mèo đã có sự phân biệt ít nhất từ thời nhà Lê, và xác suất nhầm lẫn giữa Mão[11] (âm Hán trung cổ, nhập ngược vào VN khoảng từ thời Đường Tống) và mèo (âm thượng cổ) trong tiếng Việt rất nhỏ!
4.3 Khuynh hướng tổng quát và tự nhiên của chữ viết loài người tiến hoá từ cụ thể và đơn giản đến trừu tượng[12]. Thí dụ như tên gọi các loài vật được dùng với nghĩa mở rộng hơn, trừu tượng hơn như mặt chuột (so với mặt rồng), thân trâu ngựa, ăn như mèo ngửi, tính tình như rắn rít... Thành ra, suy luận từ âm Mão cho ra mèo thì không phù hợp với khuynh hướng tự nhiên; Đáng lẽ là từ mèo (loài vật, cụ thể) cho ra âm Mão (hệ thống ghi thời gian, trừu tượng, bói toán/số mệnh) mới hợp lý hơn. Hệ thống gọi tên các con vật cụ thể (đơn giản) và rất gần gũi với nhà nông khi nhập vào văn hoá Hán đã trở thành hệ thống ghi nhận thời gian, bói toán (trừu tượng, phức tạp); Hệ thống 12 con giáp này cùng khởi sắc khi văn hoá Hán phát triển cực mạnh (Tần, Hán... Đường, Tống...) và ảnh hưởng đến các khu vực chung quanh, đây lại là hiện tượng nhập ngược mà ít người ý thức được trong trường hợp Việt Nam.
4.4 Có những cách giải thích không có cơ sở khoa học, đầy cảm tính như sự thay đổi giữa mèo và thỏ là sự xuyên tạc sự thật[13], hoặc dựa vào những ‘huyền thoại’ không thể kiểm chứng khách quan được: người viết chỉ ghi nhận vắn tắt ở đây mà thôi.
Từ những góc độ nhìn khác nhau như trên, ta thấy khả năng nguồn gốc tên gọi 12 con giáp có thể đến từ tiếng Việt cổ. Thật ra thì người Việt chúng ta không cần phải lý giải tương quan rất tự nhiên giữa Mão Mẹo và mèo, cũng như Tý chút *chuốt chuột, Ngọ ngựa, Hợi *Gỏi cúi (heo), Sửu *tlu trâu... Người Việt không phải dùng các từ ghép so với văn hoá TQ như Mão Thố 卯兔, Tý Thử 子鼠, Sửu Ngưu 丑 牛 để giúp ta nhớ đến tương quan Mão mèo, Tý chuột, Sửu tlu/trâu... Chính các ngôn ngữ hay dân tộc nào dùng thỏ thay vì mèo cho chi Mão/ Mẹo mới cần phải giải thích sự khác biệt này: đây là sự vay mượn hay cố tình thay đổi? …. Không phải là hoàn toàn nghịch lý khi tổ tiên còn dặn dò con cháu rằng:
Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

5. Phụ chú và phê bình thêm

Để cho liên tục, người đọc có thể xem thêm các bài viết về chi Mão (hai bài trước số thứ tự là phần 4, 4A) chủ đề "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp" trên trang mạng khoahoc.net, dunglac.com... của cùng một tác giả (Nguyễn Cung Thông), hay lên google và đánh tên nguyencungthong thì sẽ có loạt bài liên hệ đã đăng ớ các địa chỉ/website khác nhau. Ngoài hiện tượng đổi chữ (dùng dấu phẩy chẳng hạn), lẫn lộn (mèo thành thỏ), chúng ta cũng nên để ý đến hiện tượng nhập ngược (Mão nhập ngược vào ngôn ngữ Việt với dạng cổ mèo đã hiện diện). Hiện tượng nhập ngược lại (back-loan) trong quá trình giao lưu văn hoá như Bụt-Phật, tên 12 con giáp (gốc Việt cổ) trong tiếng Việt không phải là hiếm - nhất là khi các dân tộc sống gần nhau qua một thời gian rất dài; Một thí dụ gần đây hơn và thường được nhắc đến đã xẩy ra vào thế kỷ 20 khi Nhật Bản du nhập văn minh Tây phương và dùng một số từ gốc Hán, sau đó các từ này nhập ngược lại tiếng Hán và sau đó nhập vào tiếng Việt:
Xí nghiệp (HV)企業 qi4 ye4 (Bắc Kinh)kigyō (Nhật)
Điện tử電子 dian4 zi3denshi
Nguyên tử原子 yuan2 zi3genshi
Thị trường市場 shi4 chang3shijō
Khoa học科學 ke1 xue2kagaku
Hàng Không Mẫu Hạm航空母艦 hang2 kong1 mu3 jian4kookuubokan
v.v...
1) nhưng theo học giả Lê Quý Đôn (1726-1784) trong ‘Vân Đài Loại Ngữ’, và Jean Bonet trong ‘Dictionnaire annamite-francais’ (1899) thì thỏ là con vật biểu tượng cho chi Mão: điều này cho thấy ảnh hưởng không nhỏ và có khi méo mó của chữ và văn hoá Hán, nhất là khi dùng tài liệu TQ. Văn hoá dân gian ta vẫn duy trì cách dùng con mèo (không phải thỏ) như trong tự điển Việt Bồ La (1651) – xem phần giải thích về giờ.
2) xem chi tiết về Điền Viên Động ở trang cultural-china hay trang hudong.
3) thí dụ như thanh điệu trong từ láy bốn chữ nũng nà (na) nũng nịu... đều cùng âm vực trầm (trọc).
4) xem thêm chi tiết trong cuốn "ABC Etymological Dictionary of Old Chinese" của GS Axel Schuessler, NXB University of Hawai’i Press (Honolulu, 2007) trang 91 mục 8.2.1.
5) danh từ nước (tiếng Việt) có khả năng là một dạng ngạc cứng hoá của vực 域 (vực > *nhược > nước tiếng Việt) so với dạng quốc (vực > *kwuc > quốc tiếng Hán Việt), nhưng ảnh hưởng của đạo Phật đã đưa nước (quốc gia có biên giới rõ ràng, xem lịch sử hình thành chữ quốc國 tiếng Hán bên dưới) đến với nước (chất lỏng, không phân định ranh giới rõ ràng, tuỳ thuộc hình thể/địa chất) trong vốn từ của toàn dân; Đây là sự thể hiện qua ngôn ngữ của giáo lý PG vô thường và mầu nhiệm. Các dữ kiện này cho thấy tư tưởng PG và văn hoá dân gian VN, qua tư duy nông nghiệp/tổng hợp và cụ thể, đã hoà lẫn với nhau từ thuở xa xưa để hình thành những nét văn hoá ngôn ngữ đặc thù của dân tộc, một đề tài lớn rộng đáng được nghiên cứu rất chi tiết để hiểu rõ hơn lịch sử và bản sắc văn hoá tộc Việt cho đến ngày nay.
Các cách khắc/viết chữ quốc (nước):
6) từ khi dùng bút lông để viết chữ Hán, dấu chấm (nguyên thủy) trở thành dấu phẩy cho hợp với thế viết. Dấu phẩy bên phải của chữ ngọc được thêm về sau này - giáp văn, kim văn, triện văn không có dấu phẩy - chữ vương王và ngọc玉bắt đầu giống nhau từ thời kim văn:
Chữ miễn/*mãn/vãn免và chữ thố兔 thời Xuân Thu có thể hoán chuyển cho nhau như trong đề từ khắc hoạ ở đền thờ Vũ Lương, bia khắc thời Hán... Ngoài ra, các cách khắc/viết của miễn/*mãn/vãn và thố/thỏ cũng có lúc giống nhau trong triện văn:
Xem 13 cách viết khác nhau của chữ thố/thỏ 兔 ta thấy có hai trường hợp không có dấu phẩy bên phải (tượng hình, chỉ đuôi thỏ) - trích từ trang moe.edu.tw.
Các dạng viết của thố/thỏ 兔:
Có những trường hợp chữ Hán không thay đổi nghĩa khi thêm (hay bớt) dấu phẩy ở trên hay dưới:
冤 (oan) có thể viết là 寃 冤
(uyên) có thể viết là :
土 (thổ) có thể viết là 圡 (chữ hiếm): xem thêm các dạng viết chữ thổ 土 trên trang moe.edu.tw.
思 (tư, tư duy) nguyên là chữ tâm 心 hợp với chữ tín 囟 (đỉnh, đỉnh đầu/thóp) - 【說文】从心囟聲 [Thuyết Văn] tùng tâm tín thanh; Nhưng về sau bỏ dấu phẩy trên chữ tín 囟 và đổi thành điền 田. Chữ này cho thấy tư duy phương Bắc (người Hán) dựa vào hoạt động của tim, óc (đầu) so với tư duy cụ thể (nhà nông) của phương Nam dựa vào lòng, dạ, bụng - vị trí thấp nhất so với tim và đầu/óc - như đã viết bên trên.
7) ‘con mãn tam thể’: chat à trois couleurs (mèo tam thể, mèo có ba màu) theo Gustave Hue trong cuốn ‘Dictionnaire vietnamien-chinois-francais’ (Imprimerie Trung Hoà, 1937). Thuyết Văn Giải Tự/TVGT còn ghi chữ 獌 man, mán, mạn (màn mán wàn - giọng Bắc Kinh/BK) là chữ hiếm với tần số dùng là 9 trên 171.894.734 như sau:
獌,[舞販切 ],狼屬。從犬曼聲。《爾雅》曰:“ 貙獌,似貍。”
mạn, [ vũ phiến thiết ], lang thuộc. Tòng khuyển mạn thanh. "Nhĩ Nhã" viết : "sâu mạn, tự li."
Để ý TVGT cũng ghi miêu là loài li 貓,貍屬 (miêu, li thuộc). Người Mèo 苗族 (Miêu tộc) còn được gọi là người Man, Mán 蠻 蛮
8) hiện tượng lẫn lộn giữa loài thỏ và mèo (khi nhìn từ xa khá giống nhau) còn thể hiện qua các phương ngữ ở TQ thời cổ đại, phản ánh giao lưu văn hoá ngôn ngữ của các dân tộc đã từng hiện diện ở khu vực Trường Giang và phía nam TQ. Thí dụ như chữ nậu 䨲 (Unicode 4A32), nóu BK neu2 wan5 giọng Hẹ... Chữ này rất hiếm từng chỉ thỏ con, nhưng lại có thể đọc là *man (so với mãn là con mèo tiếng Việt), trích tự điển Khang Hy:
《集韻》江東呼兔子爲䨲... 《廣韻》《集韻》無販切,音萬
"Tập Vận" Giang Đông hô thỏ tử vi nậu... Quảng Vận, Tập Vận : vô phiến thiết, âm vạn
Trích từ trang moe.edu.tw.
9) Dã miêu 野猫 có các nghĩa là (a) mèo hoang (dã) hay mèo đồng, (b) thỏ hoang, và nghĩa mở rộng (tỷ dụ/metaphor) là (c) người lỗ mãng...
10) xem thêm chi tiết các trao đổi, như Mão Niên (năm Mão)
卯年trở thành Miêu Niên (năm mèo) 貓年 cho nên mèo là biểu tượng cho chi Mão, trang chinahistoryforum hay wikipedia hay museumstuff, và ‘ …vì trạng người Việt gầy nhỏ, không cao nên dùng mèo thay vì thỏ…’ trang gxtour.cn hay đọc Mão thành mèo (cũng như con mèo) nên người Việt đổi (lầm) thỏ thành mèo, xem trang chinablog.cc hay ‘huyền thoại’ về mèo ngũ trễ nên không đến mục tiêu kịp; Một ‘huyền thoại’ khác lại nói rằng mèo bị loại ra trong 12 con giáp vì nó đã bắt con chuột thiêng của Maya (mẹ của đức Phật Tổ) v.v...
11) cách đọc Mão rất phù hợp với cách phiên thiết theo Đường Vận/Tập Vận: 莫飽切, 音昴 mạc bão thiết, âm mão. Cũng như đa số các âm Hán Việt khác tương thích với âm Hán trung cổ, phản ánh khả năng nhập vào tiếng Việt vào khoảng thời Đường Tống... Điều này cho thấy cách đọc HV Tý Sửu Dần... Tuất Hợi cũng nhập vào tiếng Việt khoảng đời Đường hay sau này. Âm thượng cổ của Mão là *meu - theo tự điển phổ thông trên mạng httpcn.
[ 上古音 ]:幽部明母, meu - so với dạng mèo tiếng Việt
[ 广 韵 ]:莫飽切, 上 31 巧, mǎo, 效開二上肴明
[ 平水韵 ]:上声十八巧
[ 国 语 ]:mǎo
[ 粤 语 ]:maau5
[ 闽南语 ]:bau2
Các dữ kiện về âm thượng cổ *meu (mèo) của tự điển TQ trên còn chứng minh rằng dạng mèo thượng cổ đã cho ra dạng Mão/mǎo trung cổ, và đã ‘hoá thạch’ hay trở nên bất tử trong tiếng Việt.
12) xem các bài viết trên wvhs.wlwv.k12.or.us hay wikipedia VN v.v…
13) xem các trao đổi trên mạng Yahoo.HỎI&ĐÁP v.v…
Có người (chiêm tinh gia TQ) lý luận là loài mèo quen thuộc đối với người Việt nên thỏ mới trở thành mèo - xem chi tiết trang astrologizeme.
Lại nữa, một đề nghị cho rằng ở miền bắc TQ hiếm mèo nên đổi mèo thành thỏ - xem chi tiết trang asiafinest. Tuy nhiên, một ý kiến khác ngược lại nói rằng ở Việt Nam hiếm thỏ nên đổi thỏ thành mèo!
Phần này bổ túc cho bài viết Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp: Dần, kính, *kễnh (phần 9) nên mang số thứ tự 9A, tương tự như loạt bài viết về Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp: Mão, Mẹo, mèo gồm có các phần 4 (phần chính), 4A và 4B ... để tránh các bài viết trở thành quá dài và càng khó đọc hơn nữa! Sau khi đã đi ngược dòng thời gian tìm các cách viết/khắc cổ của Dần trong văn hoá Trung Quốc (triện văn, kim văn và giáp cốt văn) để thấy rằng chúng hoàn toàn không liên hệ gì đến loài cọp hay hổ; và rồi xem qua những dấu vết ngữ âm thì có triển vọng hơn và đưa ta đến gần hơn các dạng của cọp là khan, khai và kễnh. Các dữ kiện ngôn ngữ sau đây được ghi nhận và tóm tắt lại cho thấy khả năng âm Dần Hán-Việt/HV yín Bắc Kinh/BK có nguồn gốc phương Nam hay tiếng Việt cổ là kễnh. Không nên lầm giữa chỉ số ghi thanh điệu (đứng sau âm chính) và số ghi thứ tự và phụ chú. Để bài viết gọn và dễ hiểu hơn, người viết tránh dùng các thuật ngữ về ngôn ngữ học và không trích dẫn các nguồn dễ tra cứu - thí dụ như tiếng Thái, Anh, Pháp ...v.v... trừ các nguồn tài liệu quan trọng và liên hệ trực tiếp đến bài viết.
Các hiện tượng đáng được nhắc lại ở đây là:
  • hiện tượng nhập ngược (back loan, cho mượn lại) không phải là hiếm khi các nền văn hoá chung đụng với nhau qua một thời gian dài như Hán và Việt chẳng hạn. Cách dùng Bụt hay Phật và trường hợp tên gọi 12 con giáp là những thí dụ cụ thể minh chứng cho hiện tượng nhập ngược này. Cho nên những từ trước đây thường được cho là Hán Việt/HV như Tý Sửu Dần Mão ... nên được xem là những từ Việt-Hán-Hán-Việt hay chúng có gốc Việt Cổ, nhập vào văn hoá Hán tộc rồi lại nhập ngược vào tiếng Việt. Tương tự như thế, các từ nguyên tử, điện tử, thị trường ... nên được gọi là từ Hán-Nhật-Hán-Việt.
  • hiện tượng đổi chữ hay nghĩa, và có lúc đi đến cực đoan là đào thải như Mão Mẹo mèo đã bị thay bằng thố (thỏ) của văn hoá du mục; Hay trường hợp của các từ hiệp/hạp (cọp), cúc (cóc) – Unicode 45C7, dự/vui (voi) 豫 ... đã từng hiện diện trong Thuyết Văn, Ngọc Thiên ... nhưng nay đã bị đào thải. Đây cũng là lợi thế của một nền văn hoá có sẵn chữ viết như Hán tộc - với truyền thống chịu khó ‘viết lách’ - và luôn luôn tìm cách thay đổi chữ viết vì nhiều lý do khác nhau.
1. Từ hiệp (hạp), giáp, *kap đến cọp
Trong vốn từ Hán Cổ ta thấy có một chữ rất hiếm (bị đào thải) là hiệp (Unicode 458E, nghĩa là con cọp/hổ) - giọng BK là xiá so với giọng Quảng Đông/QĐ haap6 - theo Khang Hy tự điển/KH:
《玉篇》音狎。虎也
"Ngọc Thiên" âm hiệp. Hổ dã.
Hứa Thận viết về âm hiệp 狎 trong Thuyết Văn Giải Tự/TVGT như sau:
犬可習也。從犬甲聲
Khuyển khả tập dã. Tòng khuyển giáp thanh
(không thấy chữ hiệp là cọp trong triện văn, kim hay giáp văn)
Dữ kiện quan trọng mà ta có thể lọc ra từ ghi nhận trên của TVGT là âm tương đương thời Đông Hán của hiệp (hạp) là giáp hay dạng cổ hơn là *kap
Cạp (cắn lẫn nhau) còn là hoạt động bình thường khi các con cọp họp lại với nhau: ý và âm này rất rõ nét trong chữ *kap (cọp)1 hay hạp/hiệp (Unicode 271A5) theo KH:
<唐韻> 胡甲切,音狎。虎習搏也。《玉篇》今作狎 "Đường vận" hồ giáp thiết, âm hiệp. Hổ tập bác dã. "Ngọc thiên" kim tác hiệp.
Các dạng hiệp HV hay haap6 QĐ hay gab5 Hẹ cũng như cách đọc giáp của thành phần hài thanh 甲 cho ta cơ sở để phục nguyên một dạng âm cổ hơn là *kap hay chính là CỌP tiếng Việt - so với tiếng Katu (kooq là cọp), tiếng Bahna (cop cop là con cọp). Các dạng chữ Nôm chỉ cọp dùng bộ khuyển hay bộ trãi hợp với thanh phù cập 及, cáp 合... đều hỗ trợ cho nhận xét trên2. Ngoài ra, Ngọc Thiên ra đời khoảng năm 543 SCN, cho thấy âm này đã có từ trước thời Đường Tống. Tóm lại dạng *kap hay CỌP tiếng Việt đã từng hiện diện trong vốn từ Hán, nhưng không phù hợp với hệ thống âm thanh phương Bắc nên bị đào thải (vô tình hay cố ý) và thay bằng các dạng hổ 虎 ’thích hợp’ hơn - cũng như chữ dự 豫 (vui) đã từng có nghĩa là voi (TVGT, tượng chi đại dã) nhưng nghĩa này đã bị đào thải chỉ còn vết tích trong âm đọc vui mà thôi. ... Nếu tên gọi chi thứ 3 Dần là Hổ, một chữ có gốc tượng hình (con cọp), thì không ai đặt vấn đề về nguồn gốc phi-Hán làm gì, tuy cũng có thể không đơn giản như thế3. Nhưng khi có thể tìm ra những tương quan ngữ âm giữa Dần và *khan hay kinh 獍, kễnh đều chỉ loài cọp thì vấn đề truy nguyên có lẽ dễ dàng hơn phần nào.
2. Từ hạm, hùm/hầm đến khái
Trong vốn từ Hán Cổ có một chữ rất hiếm chỉ con cọp trắng, cọp giận dữ , tiếng gầm4 của cọp, là hạm (Unicode 4594) hàn kăn BK - KH ghi là âm hạm 音頷; Mà hạm 頷 có một dạng cổ hơn là cằm vẫn còn dùng trong tiếng Việt. Tập Vận cũng ghi cách đọc của hạm là hộ cảm thiết (集韻 -戸感切) mà hộ có âm cổ hơn là cửa - đây là liên hệ lịch đại k/c-h từng được đi vào chi tiết trong bài viết Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp: Hợi, Gỏi, cúi (phần 5). Do đó ta có cơ sở phục nguyên một dạng âm cổ của hạm là *kam/kham/khan với khả năng rút gọn phụ âm cuối để cho ra dạng *khai (như các cặp biển bể, tiền tệ, chun chui, lụn lụi, toản tỏi, lãn lười, tụm tụ ...). Các dạng khan, khal đều thấy trong tên 12 con giáp của Thái, Lào và Khme:
Thái:ปีขาล bpeeM khaanR (năm Dần) hay ปีเสือ bpeeM seuuaR (năm con cọp)
Khme:khal
Lào:kane
Tuy nhiên cọp tiếng Thái là seuuaR เสือ chứ không dùng dạng khan. Tiếng Khme bây giờ là kho-la. Tiếng Việt khái là con cọp so với tiếng Mường (Bi) khảl như cách dùng tlu khà chăng lo khải tẻnh (trâu già chẳng lo hổ đánh/bắt). Vấn đề trở nên rất thú vị khi tra cứu âm và nghĩa của khái HV. Chữ khái trong TVGT thì được dùng trong cụm từ khảng khái - các từ ghép như vậy có thể là các tiếng song tiết hay ký âm của một tiếng nước ngoài (như TVGT còn ghi nạo sưu 獿獀 là *a-so hay chó ...)
忼慨,壯士不得志也。從心旣聲
(Khảng khái, tráng sĩ bất đắc chí dã. Tòng tâm khái thanh).
Ta thấy một nghĩa gốc của khảng khái là phản ứng mạnh bạo hay không khuất phục (bản chất của tráng sĩ) khi không đạt được ý muốn - cũng như con cọp khi gầm gừ một cách dữ tợn chăng? Như tướng cọp hung hăng bất khuất? Với quá trình nhược ho 㘎á k > h , khảng khái có thể biến thành hăng hái ... Việt Nam Tự Điển (1954) còn ghi cách dùng "người ấy có tính khái; khảng khái, khí khái ". Nếu khái có phần tiêu cực trong cách dùng tiếng Hán (khái ; bại mạo 慨 :惫貌 theo KH) thì khái hàm ý tích cực hơn trong tiếng Việt. Paulus Của trong Đại Nam Quốc Âm Tự Vị (1895) cũng nhận xét thêm là khái3 chữ Nôm (cọp) dùng khái HV 慨. Ngoài ra, khăng khăng tiếng Việt cũng hàm nghĩa không khuất phục, không thay đổi (kiên cường như mãnh hổ): khăng chữ Nôm thường viết bằng chữ khang 康 HV rất gần với âm *khan/khal như trong cách dùng “giữ khăng khăng ai nỡ phụ” (Nguyễn Trãi).
Chữ hạm ở trên có phạm trù nghĩa từ tiếng cọp gầm đến loài cọp trắng, nhưng cũng có các chữ (tượng thanh) chỉ tiếng cọp gầm với dạng kăn, kàn, hàn BK như 闞 (khán, hám HV, Unicode 95DE), (360E),(3E9D), 鬫 (9B2B) ... Và các chữ này không còn dùng nữa: chúng trở thành chữ hiếm, tần số dùng rất thấp như chữ hạm/khảm 鬫 có mặt khoảng 14 lần trong 171.894.734 chữ đọc được. Các âm trên đều tương ứng với âm haam3 (giọng Quảng Đông) hay kam3 (Hẹ) so với các dạng gầm (gừ), hầm (hừ) tiếng Việt. Để ý bây giờ ở Trung Quốc, những chữ chỉ tiếng gầm của cọp là bào hao 咆哮 (páo xiāo BK), hiệu 唬 xiāo BK ... là kêu (hiệu) hay gào (hao) rất khác với các dạng *kan/*khan tượng thanh (nhái lại tiếng thú kêu) từ phương Nam.
Với nhiều từ hiện diện trong ngôn ngữ như cọp, hồm/hùm/hầm, kễnh/kĩnh, khái, ông ba mươi, hổ ... ta thấy loài này phải rất thân thiết với văn hoá dân tộc theo chiều dài lịch sử cũng như là bản đồ phân bố dưới đây cho thấy, tuy số còn sống trong môi trường thiên nhiên càng ngày càng ít đi!
Những nơi có hổ ngày xưa: màu vàng, ngày nay: màu xanh
3. Tương quan giữa Dần và Hổ
Thời xưa, Dần 寅 và dần 夤 dùng như nhau - lại theo TVGT, dần 夤 là:
恭也,敬惕也 cung dã, kính dịch dã.
Để ý dịch 惕 cũng là kính sợ: cho thấy nghĩa kính (cung kính) chính là cốt lõi của âm dần - nói cách khác, ta có cơ sở để thành lập dạng *kính tương đương với Dần. Từ thời Nhĩ Nhã, dần đã là kính : 《尔雅》寅,敬也 và cách dùng này còn thấy TVGT ghi nhận. Không những thế tên họ quý tộc thời Tần vẫn cho ta vài vết tích của liên hệ giữa Dần, hổ và kễnh (mà một dạng âm cổ phục nguyên là *k(i)anh). Thời tiền Hán, tên người có thể dùng tên thú vật như Mã, Ngưu, Dương5 ... Cha con và anh có tên khác nhau nhưng ý nghĩa giống nhau như Khánh Dần và Khánh Hổ chẳng hạn - đây là bằng chứng xưa nhất cho thấy tương quan giữa Dần và Hổ đã từng hiện diện trong Tả Truyện6; Tài liệu này kể lại các việc xẩy ra vào thời Xuân Thu nên còn gọi là Xuân Thu Tả Truyện - cho ta thấy liên hệ Dần Hổ ít nhất đã có mặt trong khoảng thời gian từ năm 722 TCN cho đến năm 468 TCN. Tuy nhiên một số học giả, như Dương Bá Tuấn 楊伯峻, lại cho rằng Tả Truyện được hợp soạn sau thời Xuân Thu hay vào khoảng thời Chiến Quốc, do đó thời điểm ra đời không thể trước năm 389 TCN được. Thêm vào đó, hổ đã từng là vật tổ/tô-tem của vài bộ tộc7 (như ở vùng Chiết Giang chẳng hạn) và do đó âm hổ cũng được dùng làm họ4 vào thời cổ đại. Chính vì thế mà ta có các biến âm của hổ như là Ngu 虞 hay Ngô 呉 trong các họ có lâu đời ... Trở lại với họ Khánh 慶 và các cách đọc xưa hơn ta thấy:
《唐韵》丘竟切《集韵》《韵会》《正韵》丘正切
“Đường Vận” khâu cánh thiết "Tập vận" "Vận hội" "Chánh vận" khâu chính/chánh.
Đồng thời, ta hãy xem lại chữ kính 獍 một loài cọp dữ ăn thịt mẹ đẻ - so với kễnh là con cọp trong tiếng Việt mà chữ Nôm vẫn dùng kính 獍 như trong cách dùng "kễnh tha con lợn thì coi trừng trừng" (Lý hạng ca dao). Âm kính thời Đường có các cách đọc là: 居庆切,音敬 cư khánh thiết, âm kính (cánh).
Do đó ta có thể thiết lập liên hệ
ngữ âm khánh và kính-kễnh: đây là một trong các lý do hình thành loạt bài viết về chuỗi tương quan Dần-kính-kễnh.
Có lẽ tương quan giữa phụ âm đầu d- (giọng Nam) của âm yín BK (dần HV) và phụ âm cuối lưỡi (vòm) k-/g-/ng- của kễnh thấy rõ nét khi xem vài chữ hiếm trong vốn từ Hán Cổ. Chữ dần (Unicode 4590) yín BK, viết bằng chữ hổ 虎 hợp với chữ cân 斤 hài thanh bên trái - theo KH ghi nhận:
<唐韵> 语斤切,音垠。《说文》虎声也
"Đường vận" ngữ cân thiết, âm ngân. "Thuyết văn" hổ thanh dã.
Chữ dần đã từng hiện diện trong TVGT thời Đông Hán, liên hệ trực tiếp đến loài cọp, nhưng cũng phải chịu chung số phận đào thải như chữ hiệp (*kap/CỌP) của phương Nam!
Chữ kan/ngan (Unicode 4597) đọc là yán yàn BK aam4 ngaam4 QĐ cũng cho thấy phụ âm d- đã từng liên hệ đến loài hổ mạnh (hùng hổ)và kết quả của quá trình ngạc cứng hoá (palatalisation)8 của phụ âm k- cho ra các dạng d- (y-) và nh- ; Trích KH về chữ:
<集韵> 鱼咸切,音嵒。《类篇》雄虎绝有力者。 "Tập vận" ngư hàm thiết, âm nham. "Loại thiên" hùng hổ tuyệt hữu lực giả.
Tóm lại ta có khá nhiều dữ kiện về ngữ âm (Hán Cổ, Việt Cổ) minh chứng tương quan Dần và kễnh (loài cọp dữ), do đó có thêm cơ sở để kết luận khả năng tên gọi 12 con giáp có nguồn gốc là tiếng Việt Cổ. Chỉ dựa vào ngôn ngữ Hán tộc, ta không thể nào tìm ra được tương quan giữa các chữ/âm Tý Sửu Dần ... với tên gọi các loài này một cách thuyết phục. Cũng như nhiều công trình khảo cứu của các học giả Trung Quốc chỉ dẫn đến một số kết luận mơ hồ là ’... có lẽ 12 con giáp nhập vào TQ từ một dân tộc thiểu số nào đó ở Hoa Hạ hay phương Bắc (Triệu Dực) …’ hay từ phương Tây/Babylon (Quách Mạt Nhược) ...!
4. Phụ chú và phê bình thêm
Để cho liên tục, người đọc nên tham khảo thêm bài viết "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp : Dần-kính-*kễnh (9)" - các bài liên hệ có thể tìm thấy trên mạng http://www.khoahoc.net/baivo/nguyen... hay http://www.dunglac.org/index.php?m=... …v.v...
1) xem thêm tương quan lịch đại k-gi trên diễn đàn Viện Việt Học, phần tiếng Việt, chủ đề căn-gian (9/8/2008): http://www.viethoc.org/phorum/read...., trong đó vài thí dụ đưa ra là:
gian 閒 hay 間- căn
giam 監- khám
giảm 減- kém
giái - giới 介- cõi
giải 解- cải, cởi, cổi , gỡ ...
giải 蟹- cua
giới 疥- ghẻ (bệnh)
giới 戒- cai (cai nghiện)
giái - giới 芥- cải (rau)
giái (giới) 薤- kiệu (rau)
giác, giốc 角- gạc (sừng nai), góc
giác 覺- cóc, cốc (biết, hiểu)
giả 赭- ké (màu đỏ) vết tích còn trong cách dùng đỏ ké
giả 者- kẻ (người ấy)
...v.v...
Cho nên giáp 甲 có thể phục nguyên dạng cổ hơn là *kap hay các biến âm đương đại là kép, kẹp, khép, hẹp, cặp, cắp, gắp ...v.v…
2) cạp là động từ diễn tả hoạt động ngoạm vào hay cắn vào vật gì: âm cạp bắt đầu từ phụ âm cuối lưỡi (vòm) tắc vô thanh k- hợp với nguyên âm sau với độ mở cao -a- và sau cùng là phụ âm môi tắc vô thanh -p. Đọc chậm âm này ta thấy rõ nét quá trình ngoạm hay cắn và ngậm vào mồm, cũng như cách đọc chữ ngậm và phạm trù nghĩa liên hệ. Cạp tiếng Việt là âm tượng hình cũng như các âm tý/tí (chút - *chuột), li chi, nhí ... so với vi ti/ty HV… Các ngôn ngữ láng giềng đều có dạng cạp tương ứng như tiếng Lào, Thái là khạp; Tiếng Zhuang, Khme, Bahnar, Aslian, Chrau, Brou, Khasi là kap ...v.v... Không phải ngẫu nhiên mà tiếng Việt dùng âm cọp (hay *kap) để chỉ loài vua sơn lâm này với khả năng ’cạp’ cho chết - một kỹ thuật bắt mồi của loài thú này.
3) để ý tương quan giữa các âm HV và Việt như:
kháiho cũng như chữ khái 欬
khánh khái謦欬(cười nói) hô hố
khái(giặt, rửa) so với hối 頮, 靧
khai(mở) há, hé, hở (mở miệng) hô (hở răng) hớ (hênh)
khải, khai(mở mang) - hở
khải(mở) - hở
khải, khởihá sao
...v.v...
khái 慨 - hổ 虎 : tương quan này cần được nghiên cứu kỹ thêm để cho thấy giao lưu văn hoá của phương Nam và Hán tộc vào thời thượng cổ (giọng Quảng Đông cũng có khuynh hướng nhược hoá kh- thành ra h- như tiếng Việt). Trong vốn từ Hán, hổ 虎 có thể là loại chữ vừa tượng thanh (âm hô 虍) vừa tượng hình. Âm hổ là con cọp 虎, con rắn lớn (27327 <字汇补> 似大蛇 tự đại xà), hay (45C2) hổ là loại nhện ăn ruồi!
4) gầm hay gầm gừ ... chỉ tiếng của động vật (kể cả con người) so với rầm thường chỉ các đối tượng là tĩnh vật: gầm và rầm đều chỉ tiếng kêu lớn. Trong cách gọi tên các loài vật hay cây cối ... thường dựa vào các đặc tính mà con người có thể cảm nhận được qua ngũ quan như tiếng chim hót, gà gáy, ngựa hí, con quạ, con cóc, con cọp (cạp), bọ cạp, con cú ... qua thính giác; Nếu không nhận được tín hiệu nào qua thính giác (vì tần số không nằm trong khả năng nghe của con người) thì dùng thị giác như cá mực, cá mập, cá vàng ... Hay loại không phát ra âm thanh như trái/quả nâu, trái bầu, trái hồng ...v.v... Trở lại với loài cọp, với tiếng gầm gừ có tần số thấp (thường từ các loài có khối lượng cơ thể cao) và nhất là bản chất hung hăng của loài cọp nên động từ gầm được dùng để chỉ loài này - tuy nhiên có thể một biến âm là hầm (g > h) đã cho ra dạng hùm tiếng Việt - tự điển Việt Bồ La ghi là hồm (1651) so với chữ Nôm thường viết là hùm (bộ khuyển hợp với chữ hàm 含 hài thanh); So sánh phạm trù nghĩa của chuỗi rầm - ầm - rùm - ùm/um. Có tác giả lại cho rằng hùm từ hàm (ngậm, cằm) mà ra dựa vào khả năng cạp vì hàm của loài cọp rất mạnh.
Kết quả trên tương ứng phần nào với động từ gầm (loài cọp) là growl trong tiếng Anh - grolling là dạng tiếng Anh Trung Cổ; grogner (Pháp) cũng dựa vào các phụ âm g và r. So với tên gọi con cọp trong tiếng Anh/ Đức/Đan Mạch/Thuỵ Điển là tiger - tiếng Anh Cổ là tigras, so với tiếng Pháp/ Bồ Đào Nha/Ý/ Tây Ban Nha là tigre, La Tinh và Hy Lạp đều là tigris. Các phương ngữ Ấn Độ cũng có âm g- hay gr- như Hindi là व्याघ्र (vyāghra), Malayalam വ്യാഘ്രം (vyaaghram) ... Cũng như ở Phi Châu ta còn thấy tiếng Xhosa cọp là ingwe, tiếng Zulu cọp là ingwe, Tiếng Khme có dạng ខាធំ (khlā-thum) với biến âm gr- > khl- ...v.v... Học giả Michel Ferlus, trong bài "Le cycle des douze animaux: histoire d’un contact ancien entre Vietnam et Cambodge" (2004), đã ghi nhận các dạng khái (cọp) là kơha:l3 (tiếng Rục), kăha:l3 (Thavung), kha:l3 (Poong, Cuối, Mường) ... và đề nghị một dạng tiền Việt-Mường PVM *k-ha:l? rất gần với dạng khan (Thái) so với các âm cánh 竟 và kính 獍 và kễnh. Không phải ngẫu nhiên mà các tên gọi loài cọp và tiếng gầm của chúng thường có các phụ âm g/k, r, gr/khl ... Nhà nghiên cứu về chim (Ornithologist) Eugene Morton (1977) đề nghị là có sự tương quan về ý nghĩa với tần số và mức độ âm thanh loài vật phát ra: các âm thanh trầm (tần số thấp - như tiếng gầm của cọp) diễn đạt tình trạng hung hăng hiếu chiến (gầm gừ, hầm hừ) so với các âm cao diễn đạt trạng thái thân thiện hay sợ hãi. Kết quả này cũng phù hợp với cách giải thích tên gọi hùm (< hầm/gầm) của loài cọp. Xem thêm chi tiết về nghiên cứu ngôn ngữ loài vật trên mạng http://findarticles.com/p/articles/... …v.v… Các khảo cứu về ngôn ngữ loài vật và các cách gọi tên chúng (nguồn gốc ngôn ngữ) rất lý thú nhưng không nằm trong phạm vi loạt bài viết về tên gọi 12 con giáp này. Tuy nhiên một số nhận xét rất sơ lược về khả năng có thể tên gọi xuất phát từ tiếng kêu của loài thú có thể tìm thấy trong các bài viết "Nguồn gốc Việt (Nam) của tên 12 con giáp" về Mão, Mẹo, mèo (phần 4), Mùi/Vị, *mvei, dê (phần 15), Dậu, rơ(ga), gà (phần 14).
5) xem thêm "Những điều lý thú xung quanh vấn đề họ tên" - tác giả Lý Tống Địch (2001) bản dịch của NXB Văn Hoá Thông Tin (Hà Nội 2003).
6) theo Thập Tam Kinh - Tả Truyện - Tương công nhị thập tam niên 十三經-左傳-襄公二十三年 ... Toại sát Khánh hổ, Khánh dần 遂殺慶虎、慶寅 ...
7) như Di tộc, Bạch tộc, Thổ Gia tộc, Na-xi tộc, La-hu tộc, Li-su tộc ... ở vùng Vân Nam - theo tác giả Thường Tuấn trong "Văn hoá về 12 con giáp của Trung Quốc" (bản dịch ra tiếng Việt, 2003).
8) quá trình ngạc cứng hoá còn có thể sản xuất một số dạng (k > d, z, ch) thường gặp trong các phương ngữ như :
dẫnchăn
dẫnchẵn
dấnchấn
dănggiăng, chăng (giọng Nam)
zăngtrăng (giọng Bắc, Hà Đông)
...v.v...

Do đó có thể chằn hay giằn (dằn) là một vết tích của Dần và liên hệ đến loài ác thú (hổ), ma quỷ như trong các cách dùng “bà chằn, chằn tinh, dữ như chằn tinh gấu ngựa ...” theo Paulus Của (Đại Nam Quốc Âm Tự Vị, 1895) ... Một dạng chữ Nôm chỉ chằn là dùng bộ khuyển hợp với chữ chân 眞 hài thanh. Cũng theo ông thì dằn chữ Nôm viết bằng bộ thủ hợp với chữ Dần 寅: có thể đây là một mối dây hỗ trợ cho liên hê Dần-kễnh (cọp) qua khẩu ngữ dữ dằn (dữ như cọp) chăng? Chỉ có tiếng Việt mới còn giữ các tương quan dễ nhận ra như vậy.
Nguyễn Cung Thông

No comments:

Post a Comment