Thursday, May 31, 2018

Bài viết hay(6635)

Vừa ăn, vừa xài quá xá thì núi cũng lở; huống hồ là ngân sách bao giờ cũng có hạn. Làm lãnh đạo đâu phải chỉ biêt nói phét? Quản lý nhà nước không phải là chỉ tay 5 ngón hay lý luận suông. Trong cái khó chỉ ló cái ngu? 43 năm qua làm kinh tế mày mò hoài mà chưa phá sản mới là phép lạ.

Ông Nhạ


Câu chuyện giáo sư Trương Nguyện Thành, cho thấy một nguyên tắc cực kỳ phản giáo dục của giáo dục Việt: Không cho phép một giáo sư làm hiệu trưởng, chỉ vì không đủ 5 năm kinh qua chức vụ quản lý cấp khoa/phòng. Trong khi, lại cho phép một “thằng” ngọng làm Bộ trưởng.
Nhân chuyện này, tôi muốn quay lại chuyện ông Phùng Xuân Nhạ.
Thú thật, nhiều khi suy ngẫm mãi chuyện ông ngọng này. Rằng tại sao một người như thế lại có thể ngồi ghế Bộ trưởng Giáo dục - Đào tạo?
Nói ra thì tục, kỳ cục quá, chứ nhìn cái miệng ông Nhạ thôi, lại khiến tôi liên tưởng đến một cái… rất bậy bạ. Hay tại cái tật nói ngọng mà nên? Nhìn ông đánh vần, méo trẹo cả mồm vẫn không ra nổi chữ “nồn”, mới thấy thương cho cái nền giáo dục nước nhà.
Ngay từ khi mới nhậm chức, nhìn những lẵng hoa kết hình rồng phụng, và bức “đại thành” dâng Bộ trưởng, tôi đã thấy gì đấy như thể báo hiệu cho những điều cực kỳ trâng tráo, kém văn hoá và phản giáo dục.
Chỉ nhìn cái thế ngồi của ông Nhạ trong một buổi toạ đàm khoa học, không thể tin nổi đó là một ông Bộ trưởng Giáo dục. Một hình ảnh phản cảm, vô văn hoá và phản giáo dục, không gì hơn.
Tôi không cho đó chỉ là hình thức, diện mạo, phong thái bên ngoài. Cũng như không ít người biện minh cho cái tật nói ngọng của ông là do “âm giọng vùng miền”. Tôi không nghĩ vậy, phải gọi đúng đấy là biểu hiện của một nền học vấn kém.
Thực học của ông đến đâu, đáng là điều phải mổ xẻ. Bởi đã đọc/nghe quá nhiều điều tiếng về những “bài báo khoa học” và bản luận án tiến sĩ của ông. Chưa kể đến việc khi mới là Phó giáo sư, ông lại chễm chệ ngồi ghế Chủ tịch hội đồng chức danh giáo sư nhà nước. Để rồi, tự ông ký quyết định phong giáo sư cho chính mình.
Giáo dục, khoan bàn đến “triết lý” hay “chủ thuyết”. Chỉ việc nói ngọng thôi, đến chữ “nồn” đánh vần không xong, đã là phản giáo dục lắm rồi.
Chất lượng giáo dục là chất lượng con người. Chất lượng con người là chất lượng chế độ. Lạ, không chỉ ở việc một “thằng” ngọng như ông Nhạ ngồi ghế Bộ trưởng Giáo dục. Lạ, và nhục, phải gọi đúng là nhục, khi không nghe thầy cô nào, giáo sư tiến sĩ nào lên tiếng. Hàng triệu giáo viên, với đội ngũ giáo sư tiến sĩ khả kính từ phổ thông đến các trường đại học, học viện… câm nín, ngoan ngoãn ngồi nghe một “thằng” ngọng — truongduynhat
P/S: Thấy nhiều bạn cho rằng: Việc nói ngọng của ông Nhạ chỉ là “khuyết tật” và không nên chê. Người khuyết tật vẫn có thể là vĩ nhân.
Đành phải thêm vài dòng:
Việc ngọng của ông Nhạ không phải là khuyết tật, phải gọi đúng đó là biểu hiện của một nền học vấn kém- sự “khuyết tật” về học vấn, tri thức. Khuyết tật thân thể vẫn có thể thành Bộ trưởng Giáo dục, nhưng khuyết tật về học vấn, tri thức thì không thể để họ làm Bộ trưởng Giáo dục được.
“Người khuyết tật có thể thành vĩ nhân”. Vâng. Vĩ nhân, chứ không phải Bộ trưởng Giáo dục. Một “thằng” ngọng, có thể thành bác học hoặc vĩ nhân, nhưng không thể làm Bộ trưởng Giáo dục. 

Sáng 30.5, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Phùng Xuân Nhạ thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày tờ trình dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học.

Bài viết hay(6634)

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người và ngoài trờiGiải oan cho đại tá!
Mấy tháng nay đồng bào chửi oan đồng chí Lê Văn Tam, Giám đốc Công an Đà Nẵng rồi.
Rất là vô căn cứ.
Đúng là biệt phủ của ông Tam nằm ở vị trí đắt nhất Đà Nẵng nhưng diện tích đất chỉ bằng 6 căn nhà thôi, tức 600m2 chứ hổng phải 1.000m2.
Còn nữa, giá đất ở đây chỉ khoảng 60-70 triệu đồng/m2 chứ hổng phải 100 triệu đồng/m2 nha.
Có nghĩa là đất anh Tam hiện tại chỉ tầm 40 tỷ thôi hà.
Còn nữa, giá cái nhà cũng chỉ khoảng 1 triệu đô chứ hổng phải 40 tỷ nha. Hết cái nhà anh Tam chỉ chừng 3.000.000 USD, chứ không hề trăm tỷ nha.
Mà làm cái nhà này, cả nhà anh ấy ngày nào cũng phải phơi nắng phơi gió coi thợ làm, cả năm trời chứ đâu phải ít. Mà làm xong ở mấy tháng đồng bào làm rần rần riết ảnh hổng dám ở luôn. Thử hỏi đồng bào làm vậy có ác không?
Mà phải công nhận khu này an ninh thật. Mấy anh bảo vệ không đồng ý cho đồng bào khố rách áo ôm đứng gần đâu. Thái độ mấy ảnh rất là thái độ. Thấy mình đẹp trai, ảnh hỏi "Làm gì? Ở đâu tới đây?"
Mình nói "Kiếm đồng chí Tam hỏi mua nhà cho vui".
Vậy là ảnh im luôn.
--Nhà báo Hữu Danh
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, thực vật, kính mắt, nhà, cây và ngoài trời

Chúng ta cần một sự tĩnh lặng

Tuổi trẻ của con người đi qua rất nhanh, và dường như không có gì đáng nhớ, cho dù thành công và thất bại vẫn cứ diễn ra triền miên, nhưng dường như chưa bao giờ thấy buồn vì điều này, và mọi chuyện trôi đi như nó vốn. Nhưng ở tuổi tứ tuần, ngũ tuần, bất kì một chuyện nhỏ nào cũng đủ làm ta mất ngủ, ăn mất ngon, một câu xúc phạm nhẹ nhàng cũng đủ làm người ta suy nghĩ và đau đầu cả tuần. Có phải vì chúng ta đã đủ chín chắn, đủ suy tư nên đâm ra mọi chuyện trở nên “trầm trọng”?. Không, tôi không nghĩ là vậy, bởi hiện tại, cũng có rất nhiều bạn trẻ không còn trẻ như thế hệ trước, họ có thể cay cú, bực bội vì những chuyện rất ư nhỏ nhặt, cứ như một ông cụ.
Vì sao lại có chuyện thay đổi từ tuổi tác đến thế hệ như vậy? Xin thưa, chúng ta chưa bao giờ nhìn vào tâm thức của con người như một hồ nước. Một hồ nước sạch, không cặn bã thì cho dù chúng ta có khuấy bao nhiêu lần, có tạo sóng cho nó thì nó vẫn cứ trong veo. Ngược lại, một hồ nước chứa nhiều cặn bã thì chỉ cần khuấy động vài cái đã trở nên ngầu đục, tanh hôi. Tâm thức con người cũng vậy, lúc tuổi thơ, rồi tuổi trẻ, chúng ta là một hồ nước trong, qua thời gian, tuổi càng cao, chúng ta tích càng nhiều cặn bã cuộc đời, cho đến một ngày nào đó, chỉ cần một cú tác động nhẹ thì mọi cặn bã nổi lên, mà khoa học gọi là stress hay đại loại là vậy.
Có lẽ vì vậy mà tuổi càng cao, con người càng trở nên nhạy cảm với bất kì chuyện gì và sự khó tính cứ đến hành hạ chúng ta! Thế nhưng tuổi trẻ bây giờ, chúng chưa trải qua thời gian, chưa tích cặn bã cuộc đời, sao chúng cũng “nhạy cảm” và dễ nổi nóng, dễ cuồng sả?
Vấn đề này không đơn giản là qua thời gian nữa mà nó thuộc về thời đại và thế hệ. Và đặc biệt hơn nữa là mọi hành vi có tính máu lạnh, côn đồ hay tàn nhẫn lại trở nên nở rộ từ khi các phong trào dân chủ tại Việt Nam hình thành và nở rộ! Tôi xin nhấn mạnh là tôi không có ý đánh đồng Dân Chủ và sự Bất An Xã Hội trong một cơ chế hoạt động xã hội nào đó có tính tương quan hay nhân quả! Mà vấn đề tôi một nói đến ở đây chính là tội lỗi của chúng ta, của những người hiểu biết.
Chúng ta từng và đang thừa nhận với nhau rằng người Cộng sản vẫn chưa thoát khỏi man rợ, họ có đủ các yếu tố xấu xa của một con người xấu xa và cơ thể chính trị Cộng sản là một cơ thể bệnh hoạn. Điều này hoàn toàn đúng cho lịch sử và đúng cho cả hiện tại. Nhưng chúng ta cũng thử nhìn lại các hoạt động dân chủ của chúng ta là gì?
Đó là nếu nhà cầm quyền tổ chức ra những đội dư luận viên, những nhóm/trung đội/trung đoàn AK47 để chọc khuấy, để chửi các nhà hoạt động dân chủ. Thì ngược lại, các nhà hoạt động dân chủ cũng không tiếc lời mắng nhiếc, chửi lại họ. Nếu nhìn từ bên ngoài, cuộc đấu tranh dân chủ tại Việt Nam có thể bị hiểu nhầm (mà cũng có thể là hiểu đúng) rằng đã sa lầy vào một cuộc chửi vả chính trị nhằm bảo vệ chính kiến bên nào đúng, bên nào sai.
Và những thể hệ trẻ trong thế giới có tương tác với mạng xã hội, nếu họ không đủ bản lĩnh, sau khi quá ngán ngẫm, thất vọng với môi trường giáo dục, họ phải chứng kiến thêm cuộc chửi vả, tranh luận giữa các nhà dân chủ và các nhóm phản dân chủ từ phía nhà nước… Thật là tai họa cho họ! Họ đang thụ động đón nhận mọi cặn bã cuộc sống, xã hội do chính thế hệ đi trước, do giáo dục và do cả những cuộc giằng co dân chủ - phi dân chủ để lại. Hậu quả của nó là càng ngày, các hoạt động dân chủ tại Việt Nam càng sa lầy vào chửi vả, tranh luận gay gắt và hung hăng.
Nhưng, điều mà chúng ta cần nỗ lực để đi đến một xã hội dân chủ hoàn toàn không nằm trong tất cả những gì chúng ta đã làm và đang cố gắng làm. Bởi chúng ta chọn nhầm phương tiện ngay từ đầu.
Giáo sư Carl Thayer, cho rằng dân chủ không đến được với giới trung lưu Việt Nam nên Việt Nam khó có dân chủ. Nhưng đó là quan sát từ xa, tôi cho rằng dân chủ chưa bao giờ đến với cả giới nghèo khổ, người lao động có thu nhập thấp mặc dù người Việt Nam khát dân chủ còn hơn cả người đi qua sa mạc khát nước. Nhưng họ không thể chịu cảnh vừa bị chính quyền bóp ngạt, lợi dụng mọi thứ, lại vừa bị “các nhà dân chủ” dùng họ như một quân bài!
Thử nghĩ, vụ dùng cờ vàng ba sọc để biểu tình kêu gọi bảo vệ môi trường tại Nghệ An, cuối cùng, người biểu tình được gì? Họ bị nhà cầm quyền cho công an đến bắt bớ, uy hiếp, khủng bố tinh thần, khủng bố sức khỏe vì tội “phản động”. Trong khi đó, cái gọi là “thành tích dân chủ” chỉ có ở một nhóm người nào đó. Và kết cục của câu chuyện này chính là những người từng biểu tình cảm thấy họ bị lợi dụng, bị bỏ rơi và họ nhận lãnh mọi hậu quả. Và với cung cách làm việc như vậy, các nhà hoạt động dân chủ mang lại thứ gì cho người dân?
Đây chỉ mới là một đơn cử, một ví dụ nhỏ để tôi muốn nói đến một vấn đề khác, đó là suy cho cùng, dân chủ cần những cái máy hút cặn bã, thanh lọc cặn bã xã hội hơn là những cái máy khuấy dộng mặt nước, tạo sóng. Bởi cơ thể xã hội Việt Nam trải qua chiều dài lịch sử gần một thế kỉ nhận chịu cặn bã Cộng sản xã hội chủ nghĩa, chỉ cần khuấy nhẹ một chút thì mọi thứ trở nên ngầu đục. Một khi các nhà hoạt động dân chủ chọn tâm thế đối đầu, sẵn sàng đấu khẩu với các nhóm AK47 hoặc dư luận viên Cộng sản thì mọi việc nghe có vẻ như đang khuấy động nhiều hơn là thanh lọc cặn bã.
Và điều này dẫn đến hệ quả là các thế hệ sau càng lún sâu hơn vào thù hận, lằn ranh bên ta – bên địch ngày càng giãn rộng. Hay nói cách khác, các thế hệ nối tiếp đang thụ động nhận lãnh cặn bã của các thế hệ đi trước. Và không có gì nguy khốn cho dân tộc Việt, không có gì làm suy yếu dân tộc Việt hơn là sự thù hận và những thế hệ kế tiếp với tâm thức chứa đầy cặn bã tiền nhân!
Hơn bao giờ hết, xã hội Việt Nam cần có dân chủ, cần có một mô hình dân chủ cùng với một hệ thống các chỉ tiêu, qui chế, tiêu chí, mục tiêu, mục đích đậm tính dân chủ - nhân văn, dân tộc – khai phóng. Dân chủ không thể là một sới đấu, càng không thể là một chiếc bánh, mà dân chủ là một dưỡng chất cần thiết, tích tụ trong máu huyết dân tộc theo thời gian để cơ thể tự trưởng thành một cách lành mạnh.
Thiết nghĩ, hơn bao giờ hết, dân tộc Việt Nam, hay nói khác đi là cơ thể chính trị, sinh phận Việt Nam cần một sự tĩnh lặng cần thiết để rồi từ đó, có những cỗ máy thực hiện đúng chức năng loại bỏ cặn bã của nó. Bởi chúng ta đã khuấy động quá nhiều và càng khuấy động, dường như bùn và nước càng lẫn lộn đến mức chúng ta có thể chết ngộp trong cái ao tâm thức dân tộc bất kì giờ nào! Đã đến lúc chúng ta tĩnh lặng. Bởi tĩnh lặng là một công việc khó nhất và tối thiết trong lúc này. Và tôi cũng xin nhấn mạnh, tĩnh lặng không có nghĩa là ngồi bó gối hoặc yếm thế, bởi đó là những khái niệm hoàn toàn xa lạ với tĩnh lặng!Thứ Ba, 05/29/2018 - 04:46 — VietTuSaiGon 
“Học giá”


Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Phùng Xuân Nhạ.



Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo Phùng Xuân Nhạ.

Bài viết hay(6633)

Image result for người Việt Nam có thật dài dòng,Người Việt Nam có tật dài dòng, quanh co theo kiểu lung khởi thay vì đi thẳng vào mục tiêu như Mỹ. Có gì thì nói phứt đi. Chập chờn hoài, em đi lấy chồng rồi khóc. Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt còn hơn le lói suốt canh thâu.... Nói mà còn không dám nói thẳng thì làm sao dám làm gì khác nữaImage result for người Việt Nam có thật dài dòng,

Nhìn lại “cuộc chiến vỉa hè”



Đầu năm 2018, Đoàn Ngọc Hải nộp đơn xin từ chức vì “không giữ lời hứa lấy lại được vỉa hè”. Trước đó, từ đầu năm 2017, một cuộc chiến lấy lại vỉa hè theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của nó đã được châm ngòi tại quận 1, thành phố Sài Gòn, sau đó lan rộng trên toàn quốc. Và sau một năm dài, đâu lại vào đó, sự việc có khuynh hướng đi vào bế tắc, Đoàn Ngọc Hải nộp đơn xin từ chức như là một sự giữ thể diện, kéo theo nhiều lời tung hô hoặc dè bĩu cũng như nhiều bài phân tích xã hội học về cuộc chiến này. Nhưng, dường như chưa có ai chạm vào được bản chất của nó: Một cuộc chiến giữa nhà giàu và nhà nghèo, giữa quan chức và dân đen. Một cuộc chiến bị đánh tráo khái niệm.
Vì sao nói đây là một cuộc chiến giữa nhà giàu và nhà nghèo, giữa quan chức và dân đen trong khi làm sạch vỉa hè là một câu chuyện bắt buộc phải có của các quốc gia tiến bộ và vỉa hè là một gương mặt khác của nền văn hóa quốc gia đó?
Vì lẽ, bản chất của cuộc chiến giành vỉa hè tại Việt Nam không có mọi yếu tố và không đặt ra được những tiêu chí của một hệ thống hành chính ổn định, tiến bộ dành cho an sinh xã hội. Thậm chí nó mang những dấu hiệu của hồng vệ binh, độc đoán (thậm chí độc ác), chuyên quyền và lợi ích nhóm.
Ở khía cạnh chính sách an sinh xã hội, câu chuyện lấy lại vỉa hè tại Việt Nam không những không có một chính sách hợp lý cho người nghèo buôn thúng bán mẹt, không có điều tra xã hội học, không có đề án, chiến lược được nghiên cứu kĩ lưỡng dành cho những người bám vỉa hè tồn tại mà chỉ đập và đập, dẹp và dẹp. Điều này không những gây ra sự bất mãn trong nhân dân mà còn lấy đi toàn bộ sinh kế của người nghèo. Và không riêng gì Đoàn Ngọc Hải mắc phải sai lầm này mà cả nước, hầu như nơi nào cũng đụng chạm đến đời sống của nhân dân khi đụng đến vỉa hè.
Không cần nói đâu xa, nhìn lại những “cuộc chiến” ổn định vỉa hè của các quốc gia trong khu vực như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan… Họ đã rất thành công và kinh nghiệm ổn định xã hội, ổn định vỉa hè, hỗ trợ cho kinh tế vỉa hè của họ hoàn toàn không bí mật, nó là một kho tàng mở, chỉ cần nghiên cứu, học hỏi không thôi cũng đã có thể áp dụng. Nhưng ở đây, dường như nhà cầm quyền quên mất phần ổn định dân sinh, họ chỉ nghĩ đến việc phải lấy lại cho được vỉa hè vì một động cơ khác, khi đời sống Việt Nam đã chính thức phân cực: Giàu – Nghèo; Quan chức – Thường Dân.
Thử quan sát hầu hết các vỉa hè từ Hà Nội vào Quảng Bình, Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Sài Gòn, Cần Thơ… Dường như nơi đâu cũng đang diễn ra một cuộc chiến giành vỉa hè giữa giới nhà giàu, quan chức và những người dân đầu tắt mặt tối, lây lất kiếm sống vỉa hè. Có một qui luật, thêm một chiếc xe hơi, thêm một hội chơi chim, thêm một hội cây cảnh, thêm một quán hạng sang, thêm một cái cổng nhà giàu, nhà quan mở ra trong thành phố… Thì chắc chắn thêm nhiều quang gánh, xe bán hàng rong, nhiều chiếc xe ba gác, nhiều quán cà phê, quán xôi, quán bún, quán phở… vỉa hè phải bị dẹp.
Đây là một cuộc chiến chứ không phải là một sách lược ổn định xã hội. Bởi một sách lược ổn định xã hội, ngay từ đầu, nhà quản lý bắt buộc phải có một chính sách dành cho đời sống những người bám vỉa hè để tồn tại. Khi có đầu ra cho họ, nghĩa là có mặt bằng để họ tiếp tục buôn bán mà không bị mất đi khoản lợi tức thường nhật, khoản lợi tức này không bị bóp nhỏ lại vì thiếu người mua như trước, vì khu vực mua bán mới không hợp lý… Thì sau đó nhà quản lý mới nghĩ đến chuyện lấy lại vỉa hè và ổn định mỹ quan đường phố.
Ở đây, nhìn lại 365 ngày dẹp vỉa hè tại Việt Nam, cái mà người ta cảm nhận được là những đống ngổn ngang bị đập vỡ, người bán hàng rong chạy tan tác, vỉa hè càng trở thêm nham nhở vì những đống gạch vụn, việc di chuyển trên vỉa hè lại càng khó khăn, nguy hiểm hơn, đời sống người nghèo bám vỉa hè càng trở nên khốn đốn… Dường như xã hội ngày càng trở nên thê thảm hơn khi cái vỉa hè trở thành mối đe dọa với bất kì ai sống dựa vào vỉa hè!
Những người buôn thúng bán mẹt ở Sài Gòn, Hà Nội, tuy khác giọng nói, khác phong tục, tập quán, nhưng họ đều có chung nhận định mà tôi cho rằng họ đã suy nghĩ, đau đớn cho thân phận thấp cổ bé miệng của mình lắm khi nói ra điều này “Chúng tôi sống dựa vào vỉa hè đã nhiều năm, nhiều đời nữa kia. Con cái học hành, người già mua viên thuốc đều dựa vào chúng tôi. Giờ nhà nước dẹp chúng tôi không thương tiếc, chúng tôi phải bán lén lút, nếu nhỡ công an gặp thì thu hàng hóa, phạt trên trăm ngàn, coi như chúng tôi mất trắng một tuần chợ, có người bị tịch thu xe bán hàng thì mất trắng… Sao không phạt những ông quan, ông nhà giàu để lồng chim, chậu cảnh ra vỉa hè tắm nắng mà phạt chúng tôi?”.
Mọi chuyện có thể nói dối, có thể nhân danh, nhưng sự thật phơi bày thì khó mà qua mắt nhân dân, khu nhà hàng được ưu ái ở quận 1, Sài Gòn, vi phạm vỉa hè nhưng không ai dám đụng tới là của bố vợ Đoàn Ngọc Hải, điều này cũng do nhân dân phát hiện; Những cái lồng chim, chậu cảnh của nhà giàu, nhà quan chức mang ra để đầy vỉa hè Hà Nội sau khi nhà quản lý dẹp tất cả những gánh hàng rong, điều này cũng do nhân dân phát hiện.
Và một khi mọi sách lược hay quyết sách, quyết định không mang tính nhân dân, không vì nhân dân, thậm chí vì thỏa mãn những nhu cầu của nhóm lợi ích thì sẽ không bao giờ đạt được sự đồng thuận của nhân dân. Đoàn Ngọc Hải nộp đơn từ chức, nhìn từ bề mặt, có thể ai đó nghĩ rằng đó là hành động có khẩu khí, còn giữ chút liêm sĩ trong bối cảnh quan chức hư hỏng từ trên xuống dưới, không còn tính liêm sĩ và từ tế… Nhưng thực chất, nó thể hiện sự “được ăn cả ngã về không” của Đoàn Ngọc Hải cũng như nhiều quan chức khác tại Việt Nam hiện nay. Nếu ông ta không nộp đơn từ chức thì trước sau gì cũng bị nhân dân coi không ra gì, đồng giới, đồng liêu hất cẳng vì thế lực không còn.
Nên nhớ, Hải chỉ quậy mạnh khi Thăng còn làm bí thư thành ủy Sài Gòn, Và Hải nộp đơn sau khi Thăng bị bắt. Xâu chuỗi những cái mốc này lại cũng dễ dàng nhận ra thứ gì nằm đằng sau gương mặt lúc nào cũng sưng sỉa và giọng điệu đầy hách dịch khi Đoàn Ngọc Hải “vi hành”. Và điều này cũng cho thấy rằng cuộc chiến vỉa hè của nhà nước Cộng sản Việt Nam sẽ mãi mãi thất bại cho dù họ có dọn sạch vỉa hè không còn một cọng cỏ. Bởi từ sâu thẳm của cuộc chiến này không mang động cơ ổn định xã hội, đảm bảo dân sinh mà nó chỉ phục vụ lợi ích nhóm.
Sau một năm, nhìn lại cuộc chiến vỉa hè, một cuộc chiến rầm rộ từ Bắc chí Nam, điều mà người ta dễ nhận thấy nhất là những người buôn thúng bán mẹt bị xô dạt, đời sống vốn nghèo khổ càng thêm khốn khó, sinh kế bị chiếm mất. Thay vào đó là những cái lồng chim, những chậu cảnh, những con chó kiểng nhà quan có thêm chỗ để đi dạo, để rong chơi… Bên cạnh đó là những đống xà bần tức tưởi của nhiều gia đình, nhiều công trình vẫn còn vương vất.
Tôi muốn nhấn mạnh, dẹp vỉa hè là cần thiết. Nhưng nó phải có mục đích chính đáng là phục vụ dân sinh và đảm bảo an sinh xã hội. Nếu chỉ dẹp cho thoáng vỉa hè mà người nghèo bị xô dạt, nhà quan thì không dám dẹp và vỉa hè rộng thoáng chỉ để nhà quan, nhà giàu đi dạo, để xe, để cây cảnh, chim cảnh… Thì tốt nhất là nên dẹp ngay cái ý tưởng “dẹp vỉa hè” bệnh hoạn ấy đi!Thứ Hai, 01/22/2018 - 03:11 — VietTuSaiGon

Hoang tưởng một chút: Sài Gòn sẽ hết kẹt xe

Thành phố Sài Gòn, nơi mệnh danh hòn ngọc viễn đông một thuở, có thể nói rằng hiện tại, điều dễ nhận thấy nhất nơi đây là nạn kẹt xe và ngập lụt, buổi sáng đi ra đường, cảm giác như mình đang đi trong một tổ mối và mỗi người là một con mối thợ, trôi lăn theo nhịp chảy của Sài Gòn. Nạn kẹt xe, điều này làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhiều gia đình và kinh tế của thành phố. Giải quyết nạn kẹt xe, dường như chính quyền Sài Gòn bất lực. Nhưng thiết nghĩ, với biện pháp dưới đây, có thể hi vọng Sài Gòn hết kẹt xe?
Cũng xin nói thêm, trước đây, thành phố Hà Nội giải quyết kẹt xe bằng cách nâng giờ làm việc từ 7h30 sáng lên 8h30 và giờ nghỉ trễ đi một giờ. Thậm chí áp dụng trên cả nước. Điều này gây phản ứng mạnh trong nhân dân và nhanh chóng thất bại. Bởi kiểu tư duy bao cấp vẫn còn quá nặng trong đầu của người nghĩ ra ý tưởng này, thậm chí đó là một kiểu chuyên chế, áp đặt phi khoa học.
Ở đây, tôi muốn nói đến kế hoạch “dân Sài Gòn cùng chung tay giải quyết nạn kẹt xe”. Kế hoạch này đơn giản nhưng phải đạt được sự đồng thuận từ phía nhân dân. Điều này không dễ mà cũng không khó, đơn giản là ngay từ đầu nó phải đảm bảo công bằng, không có tính áp đặt và nó dân chủ. Muốn dân Sài Gòn chung tay giải quyết kẹt xe, phải thực hiện kế hoạch “cùng chia giờ làm”.
Hiện tại, với dân số trên 15 triệu dân nếu tính luôn cả các lao động từ các tỉnh khác đến tá túc làm việc, Sài Gòn thực sự bức bách, ngột ngạt và bế tắc về nạn kẹt xe. Nhưng nếu chia giờ làm việc có tính luân phiên thì nạn kẹt xe sẽ giảm, thậm chí sẽ biến mất nếu như ngành giao thông Sài Gòn làm việc có khoa học hơn.
Ở khía cạnh chia giờ làm việc. Tất cả các cơ quan, công xưởng tại Sài Gòn phải tuân thủ một qui định chung, đó là chia mỗi tháng thành ba múi giờ làm việc khác nhau, gồm 10 ngày cho múi giờ 7h30 đi làm, 10 ngày cho múi giờ 8h30 đi làm và 10 ngày cho múi 9h30 đi làm. Giờ kết thúc ngày làm việc cũng nâng tỉ lệ với giờ đi làm. Và chia thành từng nhóm, nghĩa là người quản lý đô thị phải nghiên cứu, chia thành từng nhóm công việc, nhóm cơ quan, phân bổ múi giờ và bắt buộc nhóm công việc, cơ quan, công xưởng, bệnh viện, trường học… tuân thủ.
Một khi tất cả các cơ quan trong hệ thống kinh tế Sài Gòn tuân thủ luật chơi này, thì chí ít, trong một giờ đồng hồ, sẽ có gần 70% người lao động không cần tất tả chạy ngoài đường cho kịp giờ mà chỉ có những người của ca làm việc đó đi ra đường hoặc các bà đi chợ, xe bus, khách du lịch, người bỏ mối hàng… Mà tất cả những bà đi chợ, người bỏ mối hàng, ông xe ôm hay bà đi chợ không bao giờ là đối tượng làm kẹt xe ở Sài Gòn.
Sài Gòn chỉ kẹt xe vào giờ cao điểm, giờ công nhân, công chức, học sinh, sinh viên tan tầm. Trường hợp này, nếu chia lại múi giờ đến nơi và giờ trở về cho các nhóm công việc, cơ quan thì lượng người lưu thông sẽ giảm đi 70%, nạn kẹt xe sẽ giảm đáng kể. Còn cách làm như thế nào, chia làm sao cho hợp lý và không xảy ra chuyện bất công hay bất cập, cái này thuộc về trách nhiệm của người quản lý, họ bắt buộc phải làm được điều này, nếu không làm được thì nên từ chức, nghỉ hưu.
Bên cạnh đó, vấn đề chia thời lượng đèn giao thông tại Sài Gòn cũng là chuyện đáng bàn. Giả sử có hai ngã tư liền kề, cách nhau chưa đầy 500 mét, mà ở ngã tư này thì để đèn đỏ 45s, ngã tư kia thì đèn đỏ 25s, chắc chắn đoạn đường đó phải bị kẹt xe. Bởi bên chờ 45s thì ùn ứ xe, đến khi đi qua cho hết 45s xanh thì bên ngã tư kế tiếp đã hết giờ xanh, chuyển sang đỏ ở 20s sau rồi mới xanh trở lại. Ùn tức, tắt nghẽn sẽ xảy ra.
Nhưng thành phố Sài Gòn hiện tại có những cụm ngã tư chia thời lượng đèn xanh đèn đỏ rất khôi hài, ngành giao thông nên xem lại, chia cho có khoa học hơn. Quan sát thành phố Sài Gòn, có không dưới 10 cụm ngã tư đèn xanh đèn đỏ bị chia thời gian kiểu này. Và tất cả những cụm ngã tư chia thời gian như vậy đều là đầu mối của kẹt xe.
Nạn ngập lụt, cũng không phải khó xử lý, nhưng tôi sẽ nêu ở một bài viết khác. Vấn đề hiện tại, nhà quản lý Sài Gòn phải có một biện khoa học, nghiêm túc và triệt để nhằm giải quyết kẹt xe. Phải chia như thế nào để lúc 6h30 đến 7h30, chỉ có 33,3% người lao động, công chức ra đường đến cơ quan, sau đó một giờ đồng hồ, sẽ có tiếp 33,3% công chức, người lao động đến cơ quan làm việc, và sau đó một giờ đồng hồ nữa, lại có 33,3%  công chức, người lao động ra đường làm việc.
Giờ kết thúc công việc cũng theo tỉ lệ này. Và điều này hoàn toàn không khó để làm, có thể làm một cách nhịp nhàng, hợp lý và được lòng dân nếu như nhà quản lý đủ năng lực và tâm huyết để làm. Tôi khẳng định một lần nữa là việc giải quyết nạn kẹt xe tại thành phố Sài Gòn không khó một chút nào, chỉ thiếu những nhà quản lý thực sự có tâm huyết và năng lực để giải quyết chuyện này.
Và điều này cũng không làm ảnh hưởng đến nhịp sống của người dân, khi đi vào qui cũ, người dân lại cảm thấy thoải mái bởi không bị mắc kẹt giữa đám đông khói bụi và tiếng ồn. Tiếng ồn trong thành phố cũng giảm đáng kể. Các học sinh, sinh viên và trẻ em đến trường cũng sẽ thấy thuận lợi, rất thuận lợi nữa là khác. Vấn đề cốt lõi vẫn là một kế hoạch thực sự nghiêm túc và khoa học. Tôi khẳng định lại là kế hoạch này không phức tạp, không tốn kém.
Thậm chí khi đi vào nhịp ổn định, kinh tế, văn hóa, giáo dục và y tế của Sài Gòn cũng sẽ phát triển theo chiều hướng tốt hơn. Bởi tình trạng đi làm lúc 6h mà đến cơ quan lúc 10h do kẹt xe không còn xảy ra, hoặc người đi cấp cứu cũng không còn quá nguy hiểm tính mạng khi bị kẹt xe. Nhìn chung, chỉ cần chia múi giờ, chia khối cơ quan một cách khoa học, tâm huyết và đừng bao giờ nghỉ đến chuyện chấm mút, tham ô hay móc ngoặt trong kế hoạch này, Sài Gòn sẽ thành công trong việc giải quyết nạn kẹt xe.
Tôi đi dạo một vòng thành phố Sài Gòn, điều tôi nhìn thấy là thành phố này vẫn rất năng động, thân thiện, gần gũi và đầy sinh khí. Nhưng rõ ràng nó thiếu hẳn những nhà quản lý tâm huyết, biết suy nghĩ cho nhân dân và cho một thành phố tốt đẹp trong tương lai. Từ xây dựng đến giải quyết ngập lụt đều có vấn đề, thành phố này cần có một chiến lược tổng thể để giải quyết các bất cập và phát triển. Nếu giữ nguyên tình trạng hiện tại, sẽ chẳng bao lâu nữa Sài Gòn sẽ thành một thành phố chết vì nạn bội thực dân số, bội thực vấn nạn và chậm phát triển.— VietTuSaiGon

Chúng ta đang rơi vào bẫy li gián!

Khi nói về, nghĩ về dân tộc, quốc gia, người ta nghĩ đến những người cùng chung ngôn ngữ, chung dòng máu, chung màu da, chung biên giới địa lý và chung cả những thăng trầm sử lịch. Người Việt có quá nhiều cái chung, và cái chung nào cũng nhuộm thắm màu máu và mặn chát nước mắt.
Cái chung của người Việt trải qua hàng ngàn năm nô lệ giặc Tàu, hàng trăm năm đô hộ giặc Tây, hàng chục năm nội chiến từng ngày và hàng triệu giờ li tán, điêu linh.
Cái chung của người Việt là chiếc bàn thờ của người mẹ mất chồng, mất con, trên bàn thờ không có khoảng cách ngăn chia những tấm hình, của “thằng Hai Cộng Sản” ngồi chung với tấm hình “thằng Ba Cộng Hòa”, ở giữa là ông chồng lính Khố Xanh, khói hương nghi ngút lòng mẹ. Mẹ không có ranh giới nào trong tình yêu thương dành cho chồng con của mẹ, tình yêu thương vẫn vẹn đầy như chính nước mắt mẹ đã rớt khi ôm xác chồng, tìm xác con.
Cái chung của người Việt là trong ngày Tết, ông Năm tập kết rủ thằng Tư cháu trai Việt Kiều cùng ra thắp nhang mộ gia tiên. Trước cỏ xanh vi vút và khói hương trầm kha, mọi ranh giới, biên kiến đều xóa tan theo mây khói, trả con người về với tình tự quê hương, đất nước, dòng họ, nỗi đau chiến tranh, nỗi lòng người đi kẻ ở.
Cái chung của người Việt Nam ở chỗ hàng triệu người Việt hải ngoại ứa nước mắt khi xem truyền hình, thấy bà con nơi quê hương phải gồng lưng đón từng trận mưa bão, nhà cửa tan hoang, màn trời chiếu đất. Từng đồng tích cóp, dành dụm được mang ra gửi về Việt Nam để giúp đỡ người dân vùng thiên tai. Mọi thứ vĩ tuyến Nam - Bắc đều được xóa tan trong phút chốc. Những Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị bị bão lụt, bà con Việt Kiều đã không tiếc bất kì điều gì để quyên góp, giúp đỡ, chia sẻ.
Cái chung của người Việt là nỗi đau, là mất mát, là căm phẫn trước cái ác, cái xấu, trước những ai đó đan tâm bán rẻ quốc gia, dân tộc cho ngoại bang. Và dù ở bất kì phương trời nào, đã là người Việt với nhau, người ta đều đau đớn khi biết tin biển đảo Việt Nam đã mất, người Việt đang điêu linh trước hiểm họa phương Bắc.
Đây là những cái chung mà kẻ xâm lăng luôn rất sợ, bởi cái chung này như một bức tường đồng, tường thép che chắn cho đất nước, ngăn cản bất kì kẻ ngoại bang nào muốn xâm lăng Việt Nam.
Và kẻ thù Việt Nam, khi rắp tâm biến Việt Nam thành một thứ tân thuộc địa của họ, việc đầu tiên là họ phải phá vỡ bức tường này bằng mọi giá. Li Gián! Đây là chiêu bài mà kẻ thù đang áp dụng triệt để trên đất nước Việt Nam.
Một Hội Nghị Thành Đô, khẳng định rằng đất nước đã bị bán đứng cho Trung Quốc mà người đưa tin cho đến bây giờ vẫn không rõ nguồn gốc, những người trong cuộc cũng không chứng minh được gì và những trang báo đã đưa tin về Hội Nghị Thành Đô thì lại chẳng có bất cứ một bằng chứng nào về tính xác thực của nó! Nó chỉ làm cho mọi chuyện trở nên rối rắm, xấu đi và lòng người hoang mang.
Cách hành xử đầy tính kích động, chia rẽ Nam - Bắc vẫn chưa hề thuyên giảm, thậm chí trong thời gian gần đây, khái niệm “dân Nam – dân Bắc” xuất hiện ngày càng dày đặc. Phân biệt người yêu nước và kẻ phản động cũng là một cách li gián, làm cho dân tộc Việt Nam trở thành những mảnh rời rạc, nhạt nhẽo, vô hồn.
Đặc biệt, có một chi tiết mà không hiểu sao các nhà quản lý, lãnh đạo Việt Nam vẫn không hề nhận ra (hay cố tình bỏ lơ?!), đó là các đội cờ đỏ và dư luận viên. Họ luôn là những kẻ châm ngòi nổ, khiêu khích và làm cho mọi thứ trở nên rối rắm với luận điệu “ngụy quân, ngụy quyền, kẻ thù của dân tộc, kẻ phản quốc…” ám chỉ vào giới hoạt động dân chủ, xã hội dân sự cũng như chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Bởi nếu như không có họ đào bới, la hét, làm cho to chuyện thì mọi thứ vẫn diễn ra bình thường, thậm chí êm đẹp hơn, không có tính mâu thuẫn. Nhưng những cú chọc khoáy của các dư luận viên cũng như lời lẽ hằn học của họ đã khiến cho mọi chuyện trở nên dữ dội và căng thẳng hơn. Vô hình trung, mọi chuyện trở thành đối lập, tạo ra một ranh giới quá lớn giữa người Việt trẻ với nhau.
Tất cả những gì có tính khích bác, tạo mâu thuẫn, hằn học và cay cú đều dẫn đến tình trạng đất nước càng lúc càng suy yếu bởi lòng người phân li. Tôi không tin rằng những người lãnh đạo Cộng sản đã nghĩ ra trò này, bởi ở cấp trung ương, họ không đủ thời giờ và dài tay để thành lập ra những đội cờ đỏ, dư luận viên suốt ngày đi gây sự với giới hoạt động dân chủ và tạo ra hình ảnh xấu xí, thô thiển cho đất nước như vậy!
Rõ ràng, đã có một bàn tay gián điệp nào đó nhúng vào, thành lập nên đội cờ đỏ, đội dư luận viên để phục vụ cho mục đích li gián của họ. Bởi giả sử đảng Cộng sản không chấp nhận giới hoạt động xã hội dân sự thì với hệ thống an ninh của họ cũng đủ sức để đàn áp, bắt bớ, nhốt tù… Hà cớ gì họ phải thành lập thêm một đội cờ đỏ hay dư luận viên để đưa ra công luận quốc tế hình ảnh những kẻ gây gỗ, chửi mắng, hồ đồ nhân danh đảng Cộng sản?!
Tất cả các hoạt động của hội cờ đỏ và dư luận viên đều đi đến mục đích làm cho đất nước, dân tộc trở nên phân li, căng thẳng và cừu thù. Bàn tay nào đã làm điều này?
Gần đây nhất, tại Bình Dương, xuất hiện một kẻ đòi cầm cọc tiền “ném vào mặt dân miền Nam!”. Tôi nghĩ, ngành an ninh Việt Nam phải làm cho tới nơi tới chốn chuyện này, tìm cho rõ nhân thân cũng như các hoạt động của kẻ đòi ném tiền. Bởi với hành động trên, theo luật hiện hành thì kẻ đó chỉ bị phạt hành chính, nộp tiền rồi ra về. Nhưng thực ra đó là hành động của kẻ gián điệp hoặc chí ít nó cũng là hệ quả của sự nhồi sọ do các gián điệp thực hiện.
Hành vi tưởng đơn giản, có tính quá khích này có thể châm ngòi nổ cho những hiềm khích, phân biệt không đáng có giữa Nam - Bắc, giữa Cộng Hòa - Cộng sản và nhiều mối nguy phân rẽ, li gián khác. Bởi sau sự xúc phạm của người đòi ném tiền vào mặt dân miền Nam sẽ là hàng loạt những nhận xét đầy cay cú về dân miền Bắc.
Điều này chẳng biết sẽ đi đến đâu nhưng rõ ràng nó làm cho dân tộc Việt Nam đã nhược tiểu càng thêm yếu đuối, mối nguy nội chiến trong tâm hồn người dân miền Nam - miền Bắc có vẻ như đang đến gần! Và kẻ thù rắp tâm xâm lược Việt Nam chỉ mong mỏi có ngần ấy, bởi đây là thời cơ tốt nhất cho họ!
Hơn bao giờ hết, đến lúc này, tất cả người Việt cần phải rũ bỏ khái niệm Nam - Bắc, rũ bỏ phân biệt Cộng Sản - Cộng Hòa, rũ bỏ luận điệu chia cách Việt Kiều - Việt Cộng. Và thêm nữa, phải giải tán ngay cái hội cờ đỏ, dư luận viên chỉ suốt ngày gây căng thẳng, khích bác, đẩy người khác vào chỗ thù địch, gây tốn kém nặng nề cho ngân sách nhà nước, tài sản quốc dân.
Bởi, đã đến lúc chúng ta bắt tay bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước. Mọi ý định li gián dân tộc đều làm cho đất nước thêm nghèo nàn, lạc hậu về cả vật chất và tinh thần. Chúng ta hãy nghĩ đến tương lai đất nước, hãy nghĩ đến con em chúng ta, hãy nghĩ đến nỗi đau của con cháu của chúng ta vì những hậu quả do lòng ích kỉ, tính tự mãn và tinh thần thù thắng của chúng ta để lại.
Chúng ta đừng bao giờ mạnh miệng nói mình yêu nước, yêu dân tộc khi chưa biết tha thứ, chưa biết yêu thương, chưa biết trắc ẩn và chưa thấy được hậu quả của lòng ích kỉ chúng ta để lại cho con cháu chúng ta lớn chừng nào, nguy hại chừng nào!
Vì chúng ta là người Việt Nam, đã trải qua biết bao đau thương sử lịch, nên chúng ta cần tựa lưng vào nhau, trao cho nhau hơi ấm đồng loại, trao cho nhau lòng cảm thông, trao cho nhau mối lân mẫn tình người và trao cho nhau sức mạnh kết nối tương lai, để làm gì ư? Để tặng tương lai tốt đẹp cho con cháu chúng ta như một thứ hồi môn đáng kính!— VietTuSaiGon

New York Times :Bất mãn chưa từng thấy!

Nhật báo New York Times hôm thứ Tư ngày 24/4 vừa đăng một bài báo về lòng tin của người dân Việt Nam vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong tình hình khó khăn hiện nay.
Dưới tiêu đề ‘Những lúc khó khăn cũng là lúc bất đồng và trấn áp công khai nở rộ ở Việt Nam’, nhà báo Thomas Fuller của New York Times đã đưa ra quan sát này trong một lần đi tìm hiểu thực tế mới đây ở thành phố Hồ Chí Minh.
Nhân vật chủ đạo trong bài báo là giáo sư Nguyễn Phước Tương (tức Tương Lai), cựu cố vấn của hai đời thủ tướng Việt Nam.
Ngoài ra ký giả này cũng đã trao đổi với ông Trương Huy San (tức nhà báo Huy Đức), một cựu cố vấn khác của thủ tướng là Tiến sỹ kinh tế Lê Đăng Doanh, cũng như một số nhà quan sát khác để tìm hiểu về tình hình kinh tế chính trị của Việt Nam hiện nay.

‘Không tin Đảng nữa’

“Trên các kệ sách chất đầy các tuyển tập của Marx, Engels và Hồ Chí Minh, dấu ấn của một đời trung thành với Đảng Cộng sản, nhưng ông Nguyễn Phước Tương, 77 tuổi, nói ông không còn tin vào Đảng nữa,” bài báo bắt đầu từ tư gia của GS Tương Lai ở ngoại ô thành phố lớn nhất nước.
“Ông Tương, cũng giống như rất nhiều người khác ở Việt Nam hiện nay, đang lên tiếng phản đối chính quyền mạnh mẽ.”
“Chế độ của chúng tôi là độc tài toàn trị,” ông Tương được dẫn lời nói, “Tôi là người sống trong lòng chế độ – tôi biết tất cả những khiếm khuyết, những sai lầm sự suy thoái của nó.”


“Nếu chế độ này không được sửa đổi thì tự nó sẽ sụp đổ,” ông nói thêm.
Theo Fuller thì Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối mặt với sự giận dữ ngày càng tăng của người dân về sự trượt dốc của nền kinh tế và nội bộ Đảng đang bị chia rẽ giữa một bên là những người bảo thủ muốn vẫn duy trì những nguyên tắc soi đường của chủ nghĩa xã hội và sự độc quyền lãnh đạo và một bên là những người kêu gọi một xã hội đa nguyên và chấp nhận hoàn toàn chủ nghĩa tư bản.
Tuy nhiên quan trọng nhất là Đảng đang đối phó với một xã hội thông tin ngày càng rộng mở và khán giả ngày càng tỉnh táo trước các thông tin khi mà có nhiều tin tức và ý kiến khác nhau lan truyền trên mạng làm ảnh hưởng đến sự tuyên truyền của truyền thông Nhà nước.
Bài báo dẫn nhận định của ông Carlyle A. Thayer từ Học viện Quốc phòng Úc, một trong những học giả nước ngoài hàng đầu về Việt Nam, cho rằng giờ đây sự chỉ trích Đảng đã ‘bùng nổ trên toàn xã hội’.
Đây là khác biệt lớn nhất so với các thách thức mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng trải qua kể từ khi Đảng này thống nhất đất nước 38 năm trước đây như cuộc chiến với Trung Quốc và Campuchia, khủng hoảng tài chính và chia rẽ nội bộ.
Cũng theo quan sát của ông Thayer thì ‘bất đồng nở rộ nhưng đồng thời sự đàn áp cũng gia tăng’.

‘Bi quan sâu sắc’


Thành phố ở Việt Nam
Image captionKinh tế Việt Nam đang bộc lộ hết tất cả những khiếm khuyết mà thời gian dài không được khắc phục

“Có thêm nhiều người muốn bày tỏ chính kiến phê phán chính phủ của mình hơn trước và những gì họ chỉ trích cũng nghiêm trọng hơn,” ông Trương Huy San (tức nhà báo, blogger Huy Đức – tác giả Bên Thắng Cuộc), nói với New York Times.
Vấn đề đăṭ ra ở đây, theo nhà báo Fuller, là ‘khó mà hiểu được sự bi quan sâu sắc’ của người dân trên đất nước này nếu nhìn vào bề mặt của sự tăng trưởng kinh tế.
Theo bài báo này thì nhiều người cho rằng Việt Nam đang mất phương hướng mặc dù đất nước này có dân số trẻ và làm việc chăm chỉ.
“Trong vòng 21 năm sống ở đất nước này tôi chưa bao giờ thấy sự bất mãn với chế độ của trí thức và doanh nhân lên đến mức độ như hiện nay,” ông Peter R. Ryder, giám đốc điều hành của Quỹ đầu tư Indochina Capital, được dẫn lời nói.
Tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổ chức hồi đầu tháng Tư năm nay, các diễn giả đã ‘tranh nhau nói trước micro’, kinh tế gia Lê Đăng Doanh thuật lại với New York Times.
Ông cho biết nhiều người đã chỉ trích mặc dầu nền kinh tế cần phải được tái cơ cấu sâu rộng nhưng ‘gần như chẳng ai làm gì cả’.
“Đó là sự khủng hoảng lòng tin,” ông Doanh được dẫn lời nói, “Năm nào người ta cũng nghe hứa hẹn là thời gian tới mọi việc sẽ được cải thiện nhưng họ không thấy gì cả,” ông nói.


Bài báo đã nêu đích danh Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là trung tâm của cơn bão chính trị hiện nay.
“Sự tự tin thái quá và các chương trình đầy tham vọng của ông Dũng lúc đầu giúp ông có người ủng hộ bởi vì ông đã đoạn tuyệt với khuôn mẫu một cán bộ Đảng xơ cứng,” bài báo viết.
Tuy nhiên, sau đó ông làm nhiều người bất mãn với việc giải tán ban cố vấn vốn là động lực phía sau chương trình cải cách kinh tế mà ông Tương Lai là một thành viên.
Bên cạnh đó, chính sách kinh tế mang dấu ấn cá nhân ông Dũng là thúc đẩy thành lập các tập đoàn kinh tế nhà nước theo kiểu các chaebol của Hàn Quốc, đã đem lại hiệu quả ngược.
Điều hành các tập đoàn này những người thân cận với Đảng Cộng sản, những người đã biến các tập đoàn thành nhiều công ty khác nhau mà họ không đủ khả năng điều hành cũng như đầu cơ trên thị trường chứng khoán và bất động sản.
Hai tập đoàn trong số này đã gần như sụp đổ và đang đứng bên bờ vực phá sản.

‘Căng thẳng trong Đảng’


Đường phố Hà Nội
Image captionBáo Mỹ viết Đảng Cộng sản ngày càng mất đi sự ủng hộ trong lòng người dân Việt Nam

Ông Nguyễn Phước Tương nói với New York Times rằng những khó khăn của nền kinh tế đã khiến cho căng thẳng trong nội bộ Đảng Cộng sản dâng cao.
Hồi tháng Hai, ông đã tham gia soạn thảo một thư kiến nghị gửi đến lãnh đạo Đảng Nguyễn Phú Trọng để kêu gọi thay đổi Hiến pháp theo hướng đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân. Ông nói đến nay ông chưa nhận được phản hồi gì cả.
Giờ đây ông đang cảm thấy áp lực thời gian, ông cho biết. Căn bệnh ung thư của ông, mặc dù đang thuyên giảm, giống như là sự giải phóng tư tưởng thôi thúc ông phải nói lên điều mà ông cho là sự thật, ông nói.
“Nói cho cùng, Marx là một nhà tư tưởng vĩ đại,” ông nói, “Nhưng nếu như thế giới này chưa từng có Marx thì có lẽ sẽ tốt đẹp hơn.”
Bản điện tử của bài báo này trên trang chủ của New York Times đã nhận được một số ý kiến phản hồi của độc giả.
Một người ký tên là R. Vasquez đến từ tiểu bang New Mexico của Hoa Kỳ bình luận:
“Đảng (Cộng sản Việt Nam) đã cạn nhiệt huyết và ý tưởng. Những người thật sự còn trung thành với lý tưởng cộng sản giờ cũng đã 70, 80 tuổi... Các thế hệ tiếp nối sẽ thấy ngày càng khó mà hài hòa giữa những lý luận của các nhà tư tưởng ở châu Âu vào thế kỷ 19 với nhu cầu và khát vọng của nước Việt Nam trong thế kỷ 21.”
Còn Party State đến từ thành phố Vancouver của Canada thì viết:
“Đảng Cộng sản Việt Nam đã suy đồi cả về tinh thần lẫn đạo đức. Sự mục nát sẽ dẫn đến chỗ Đảng sụp đổ. Vấn đề ở đây là điều gì sẽ xảy ra sau đó? Liệu Việt Nam có trở thành một chế độ độc tài quân sự hay sẽ có một nhân vật như Hun Sen lên nắm quyền? Tương lai, tôi sợ rằng, sẽ còn tồi tệ hơn nhiều so với hiện tại.”

‘Giá đừng phản chiến’



Charles ở Slough, Vương quốc Anh, tự vấn phong trào phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Độc giả này viết:
“Những người chúng ta đã từng tham gia vào phong trào phản chiến trong những năm 60 và 70 nên cúi đầu xấu hổ trước người dân Việt Nam. Với việc ủng hộ phe cộng sản và gây sức ép lên Quốc hội cắt đứt mọi viện trợ cho miền Nam Việt Nam thì chúng ta đã góp phần đảm bảo cho chiến thắng của ông Hồ Chí Minh và Đảng của ông ta.
Lại nữa, hãy thử nghĩ xem nếu không có cuộc cách mạng này thì ngày nay Việt Nam đã tốt hơn như thế nào? Ba mươi năm chiến tranh, số người chết không kể xiết, thiệt hại và đau thương vô cùng lớn – tất cả chỉ để đem đến kết cục là một chế độ kinh tế Marxist không khả thi do một Đảng cộng sản suy đồi và tàn bạo lãnh đạo.
Hãy nghĩ xem giờ này Việt Nam sẽ như thế nào nếu họ trải qua 60 năm thị trường tự do giống như Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan và Singapore. Chắc chắn là không hoàn hảo nhưng sẽ tốt hơn nhiều và lại không có chết chóc hay tàn phá.”
Tuy nhiên ý kiến này đã bị một công dân mạng khác có tên là Khang Duong từ Việt Nam phản bác:
“Ông chỉ đọc từ một phía và ông không hiểu gì về Việt Nam cả. Tôi không nghĩ rằng Việt Nam sẽ tốt hơn nếu không làm cách mạng. Đất nước của ông bị nước khác tàn phá, người dân của ông mất hết quyền lực và bị đối xử như súc vật? Miền Nam điêu tàn dưới tay của một kẻ độc tài. Ngô Đình Diệm không phải do người dân Việt Nam mà là người Pháp, người Mỹ đưa lên. Nếu Hồ Chí Minh không làm cách mạng thì cũng sẽ có một cuộc cách mạng khác mà thôi.”