Monday, November 30, 2020

California có thể ban hành lệnh ‘Ở Nhà’ tại những quận hạt ‘Bậc Tím’

 Thống Đốc Gavin Newsom tuyên bố sẽ phải ban hành lệnh “Ở Nhà” bắt buộc tại những quận hạt đang nằm ở Bậc Tím (Purple) nếu số bệnh nhân COVID-19 nhập viện gia tăng, theo đài CBS 13.

Trong cuộc họp báo thường nhật hôm Thứ Hai, 30 Tháng Mười Một, ông Newsom cho biết tính trên toàn tiểu bang, bệnh nhân COVID-19 nhập viện gia tăng 89% trong hai tuần vừa qua.

Thống Đốc Gavin Newsom: “Có thể ban hành lệnh ở nhà nếu tỷ lệ nhập viện tiếp tục gia tăng.” (Hình: Văn Phòng Thống Đốc Gavin Newsom)

Tính trong vòng bảy ngày vừa qua con số nhập viện mới là 14,657 trường hợp.Con số nhập viện cao nhất từ khi dịch khởi phát được California ghi nhận là 9,881 hồi Tháng Bảy.

“Nếu tình trạng này tiếp tục, tiểu bang phải cần hành động quyết liệt, kể cả việc ban hành lệnh ở nhà bắt buộc tại những khu vực đang có e ngại về việc có thể thiếu giường bệnh và phòng chăm sóc đặc biệt tại các bệnh viện,” Thống Đốc Newsom tuyên bố.

Các dự đoán của Bộ Y Tế California cho thấy nếu tình trạng lây lan tiếp tục gia tăng, vào giữa Tháng Mười Hai các bệnh viện sẽ không còn giường để chữa trị bệnh nhân COVID-19.

Sau đây là dự đoán của tiểu bang về thời điểm không còn giường trong các phòng chăm sóc đặc biệt.

Khu vực Bắc California: Đầu Tháng Mười Hai

San Joaquin Valley: Giữa Tháng Mười Hai

Khu vực Nam California: Giữa đến cuối Tháng Mười Hai

Vùng Sacramento: Cuối Tháng Mười Hai

Vùng Vịnh San Francisco: Đầu Tháng Giêng, 2021

Nếu tình trạng nhập viện vẫn theo đà như hiện nay, tiểu bang dự đoán tỷ lệ nhập viện tại các khu vực trên như sau.

Khu vực Bắc California: 134%

San Joaquin Valley: 120%

Khu vực Nam California: 107%

Vùng Sacramento: 103%

Vùng Vịnh San Francisco: 91%

Một vài quận hạt đã áp dụng những biện pháp phòng ngừa nghiêm ngặt.

Các y tá đang chăm sóc cho một bệnh nhân COVID-19 tại bệnh viện Providence Holy Cross Medical Center, Los Angeles. (Hình: AP Photo/Jae C. Hong, File)

Los Angeles County đã ban hành lệnh ở nhà cho 10 triệu cư dân tại đây, và tại Santa Clara County, đã cấm các sinh hoạt thể thao tại khối trung học, đại học, và chuyên nghiệp. Chưa hết, những cư dân ra khỏi khu vực xa hơn 150 dặm phải tự cách ly.

COVID-19 đã làm 267,000 người chết và hơn 13.4 triệu người nhiễm bệnh tại Hoa Kỳ.

Mỗi ngày có hơn 160,000 ca nhiễm mới và 1,400 người chết. (MPL) [kn]


Một ông ở North Carolina đòi lại $2.5 triệu đóng góp cho nhóm kiện bầu cử

 Một doanh gia ở tiểu bang North Carolina và cũng là một nhà tài trợ cho đảng Cộng Hòa, mới đây đã đưa đơn kiện trước tòa liên bang, nói rằng ông bị một nhóm ở Texas lừa đóng góp tiền để đi kiện, nói sẽ giúp Tổng Thống Donald Trump khám phá ra các vụ gian lận bầu cử.

Theo bản tin của hãng thông tấn UPI hôm Thứ Năm, 26 Tháng Mười Một, ông Frederic N. Eshelman, người sáng lập công ty đầu tư Eshelman Ventures LLC, nói ông đã đóng góp $2.5 triệu cho tổ chức bất vụ lợi ở Houston, có tên “True the Vote Inc.” để  hậu thuẫn các cuộc điều tra của nhóm  này về “các hành động bất hợp pháp và gian lận” trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2020.

Các nhóm ủng hộ và chống Tổng Thống Donald Trump đối đầu nhau ở Raleigh, North Carolina. (Hình: Logan Cyrus/AFP via Getty Images)

Đơn kiện của ông Eshelman được nộp hôm Thứ Tư tại tòa liên bang ở Houston, cáo buộc bà Catherine Engelbrecht, tổng giám đốc True the Vote Inc., nói với ông rằng các đơn kiện sẽ cần số tiền hơn $7 triệu để có được các chứng từ, cũng như để phát triển “các mô hình dữ kiện phức tạp và phân tích số liệu thống kê nhằm nhận ra các hình thức gian lận hay bỏ phiếu bất hợp pháp.”

Nhưng ông Eshelman nói chỉ được bà Engelbrecht và Luật Sư Jim Bopp, Jr. cho các câu “trả lời mù mờ, chung chung, và các lời hứa hẹn sẽ tiếp tục cho biết thêm mà không bao giờ thực hiện.”

Đơn kiện nêu ra rằng khi được yêu cầu phải cho biết rõ ràng các dữ kiện liên quan đến người tố cáo và các tố cáo đó có thực sự liên hệ tới gian lận bầu cử hay không, bà Engelbrecht chỉ có các câu trả lời như: “Chúng tôi đang xem xét” hay “Những điều này rõ ràng.”

Nhóm True the Vote đã đưa bốn đơn kiện tại Wisconsin, Michigan, Georgia và Pennsylvania, những nơi ông Joe Biden chiến thắng.Tuy nhiên, nhóm này rút lại các đơn kiện kia hôm 16 Tháng Mười Một, theo ông Eshelman.

Bộ Trưởng Tư Pháp tiểu bang Michigan Dana Nessel nói với tờ báo địa phương The Detroit Free Press rằng đơn kiện của tổ chức True the Vote chỉ “nhằm mục đích tung tin sai lạc về an ninh và chính trực của các cuộc bầu cử tại tiểu bang Michigan.”

Sau khi không trả lời đòi hỏi trả lại $2.5 triệu của ông Eshelman, nhóm True the Vote đề nghị đưa lại ông này số tiền $1 triệu nếu ông bằng lòng rút đơn kiện họ. Ông Eshelman nay đòi phải được trả lại đầy đủ số tiền đóng góp cũng như chi phí tranh tụng. (V.Giang) [qd]

Trump lần đầu trả lời phỏng vấn sau bầu cử

 Trả lời phỏng vấn Fox News, Tổng thống Trump chỉ trích quyết định của thẩm phán trong các vụ kiện thách thức kết quả bầu cử mà ông theo đuổi.

Sunday, November 29, 2020

30 năm chinh phục Đồng Tháp Mười

 

Ấy là nơi mà các chuyên gia nước ngoài từng lắc đầu khẳng định: Không thể khai phá. Chỉ sau ba thập kỷ, người Việt đã chứng minh điều ngược lại: biến vùng “đất chết” thành vùng sản xuất lúa gạo, nông sản chủ lực của ĐBSCL.

Trong ký ức của một người hiểu Đồng Tháp Mười đến chân tơ kẽ tóc như ông Hai Lương (xã Phương Thịnh, huyện Cao Lãnh, Đồng Tháp - từng làm phó ban sản xuất tỉnh Kiến Phong từ năm 1966), đây là một vùng đất vô cùng khắc nghiệt. Nói là vùng “đất chết” cũng không sai.

wlG2Wyoh.jpg
Giữa mênh mông đồng hoang người dân nghĩ ra cách lấy lúa trời làm lương thực- Ảnh tư liệu

Ba chìm, bảy nổi... đồng hoang

Ông Hai Lương nhớ lại: “Hồi xưa ở đây hoang sơ lắm, dân chỉ sống rải rác ven rìa rừng. Suốt sáu tháng nước nổi cả vùng ngập chìm trong biển nước mênh mông, nhiều nơi ngập sâu tới 3-4m. Còn mùa khô hết sức khắc nghiệt, nắng nóng nung người, đất dậy phèn đỏ quạch, nước ngọt không có mà uống”. Đã vậy đây là vùng tranh chấp ác liệt, giặc oanh kích tự do ngày đêm. Vô số đạn bom, chất hóa học hủy diệt ném xuống khiến Đồng Tháp Mười trở thành vùng đất chết.

Trong những năm tháng khốc liệt đó chỉ có dân nghèo vì kế mưu sinh hay có quan hệ với cách mạng mới dám vô Đồng Tháp Mười đánh bắt cá, rắn, rùa. Để có lương thực phục vụ chiến đấu, ban sản xuất của ông Hai Lương vận động và tổ chức cho bà con khai mở trồng lúa mùa trên những gò đất cao. Hằng năm khi mùa mưa đến thì dùng sức trâu, sức người cày ải phơi đất cho bớt phèn rồi mới gieo sạ.

Xuống giống xong ai nấy đều quay về nhà chứ không ở lại. Loại lúa này có đặc điểm nước dâng cao tới đâu thì đọt luôn ngoi lên khỏi mặt nước nên khi lũ về chẳng cần chăm sóc, đến khoảng tháng 11 lũ rút cạn cũng là lúc lúa chín tiến hành thu hoạch. “Tuy nhiên lúc đó đất còn nhiễm phèn nặng nên lúa thất lắm, năng suất chỉ 700kg/ha trở lại. Có năm lũ lớn bị sóng to, nước chụp mất trắng, có lúc chưa kịp gặt thì bị lửa cháy lan thiêu rụi. Dân đói mà mình cũng đói” - ông Hai Lương nhớ lại.

Những năm đầu sau ngày đất nước thống nhất người dân lần lượt trở về chốn cũ sinh sống. Đồng Tháp Mười lại phải đùm bọc thêm 80.000 kiều bào từ Campuchia trở về nước với hai bàn tay trắng. Trung ương phải chi viện thêm 8.000 tấn lương thực, đồng thời triển khai kế hoạch khai mở đất hoang để canh tác nhưng rồi dân vẫn đói. Trận lũ lịch sử năm 1978 đã nhận chìm 100.000ha lúa, sau đó liên tiếp gặp hạn hán, dịch hại tràn lan. Dân bám trụ ở Đồng Tháp Mười lại tiếp tục đói khổ!

Trước tình trạng dân thiếu ăn, đói khổ kéo dài, tỉnh Đồng Tháp đẩy mạnh công tác khai hoang và điều động hàng chục ngàn người đi xây dựng các vùng kinh tế mới; đồng thời thành lập bốn nông trường Gáo Đôi, Cô Đông, Động Cát, Láng Biển. Quyết tâm của tỉnh là xóa hoang hóa vào năm 1980 với chỉ tiêu đạt 1 triệu tấn lương thực.

Bà Nguyễn Thị Tím, vợ ông Hai Lương, kể rằng mấy vụ đầu khi cây lúa vừa mọc quá gang tay thì gặp mưa già đất dậy phèn chết sạch, phải lấy lúa dự trữ dành cho những tháng giáp hạt gieo sạ lại. Bà Tím bùi ngùi: “Có năm lúa trong nhà không còn một hột mà cây lúa vẫn không mọc nổi. Lắm khi lúa chín chưa kịp mừng thì chuột cắn nát, nhìn đám ruộng tan hoang ai nấy chỉ biết ôm mặt khóc ròng”. Đất phèn, thiếu nước ngọt, lũ lụt và dịch hại hằng năm đã khiến rất nhiều hộ đi mở đất đành phải buông tay bỏ đất, bỏ ruộng trở về trong đói khổ dù họ đã rất nỗ lực.

Những cuộc chinh phục thất bại

Đồng Tháp Mười là vùng đất trũng thấp nằm giữa hạ lưu sông Mekong, phía bắc giáp Campuchia, tây nam giáp sông Tiền, phía đông và đông bắc giáp sông Vàm Cỏ Đông. Diện tích tự nhiên 696.000ha, chiếm 17,72% diện tích tự nhiên của ĐBSCL. Đồng Tháp Mười được xác định bao gồm 15 huyện, một thị xã và bảy xã thuộc ba tỉnh Long An (299.000ha), Đồng Tháp (239.000ha), Tiền Giang (92.500ha).

Mãi đến năm 1990 vùng đất Đồng Tháp Mười khu vực giáp biên giới Long An - Campuchia mới có nhiều người vào khai phá. Mặc dù sự việc đã xảy ra 20 năm trước, nhưng bây giờ khi nhắc tới chuyện khai hoang ông Nguyễn Cự (79 tuổi, ở xã Đức Tân, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An) vẫn còn bị ám ảnh.

Ông kể: “Năm 1990 tôi cùng nhiều bà con ở xã Đức Tân xách túi đệm đựng gạo, vác cuốc lên huyện biên giới Tân Hưng (Long An) khai hoang, lập nghiệp. Cố gắng bám trụ suốt năm năm trời đất vẫn trơ ra không trồng cây gì được phải ra về tay trắng”.

Ông Cự nói vùng đất Tân Hưng, Vĩnh Hưng ngày ấy rất hoang sơ, cỏ mọc cao khỏi đầu người. Đất đai bị nhiễm phèn nặng chỉ có cỏ năn, cỏ lác và tràm gió sống nổi. Đồng Tháp Mười bạt ngàn nhưng không có đường đi, mùa khô nắng cháy da mà không có nước ngọt uống. Còn rắn hổ, muỗi, đỉa thì nhiều vô kể. Đào kênh dẫn nước ngọt, đốt cỏ, vỡ đất nhưng một năm, hai năm rồi ba năm đất đai vẫn xám xịt. Trồng lúa, lúa chết; bầu, mướp cũng không sống được. Thế rồi nhiều người lặng lẽ rời bỏ mảnh đất khắc nghiệt này trở về quê, trong đó có ông Cự.

Chỉ tay ra cánh đồng bạt ngàn sau nhà, bà Trương Thị Ba Thu ở xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng nói đây cũng là quê hương của bà. Khoảng năm 1976 vùng đất rộng lớn này chỉ có vài ba hộ gia đình sống bằng nghề chài lưới bắt cá chứ không trồng lúa được. Người nào chấp nhận ở đây thì phải sống chung với rắn, muỗi và đỉa. Ai nuôi heo, nuôi gà cũng đều phải giăng mùng ban đêm, nếu không sẽ bị rắn “xơi tái”.

Sáng ra mở mùng cho heo, gà bà Thu thường thấy hai ba con rắn hổ đất đen thui cuộn tròn trên nóc mùng. “Ban đêm tuyệt đối không ai dám ra khỏi nhà. Mùa nước nổi phải giăng mùng cho kỹ để rắn không thể bò vô ngủ chung. Vậy mà nhiều lúc vợ chồng tôi ngủ quên lăn ra cạnh giường đè lên mình con rắn hổ, nó giật mình ngóc đầu dậy phùng mang thở khì khì làm hai vợ chồng sợ xanh mặt. Còn đỉa dưới kênh nhiều vô kể. Đặt chân xuống kênh vài phút là có hàng chục con đỉa đeo hút máu” - bà Thu kể.

Rồi chiến tranh biên giới Tây Nam nổ ra, rất nhiều người dân ở các huyện biên giới Long An phải bỏ xứ đi lánh nạn. Trận lụt khủng khiếp năm 1978 cuốn trôi sạch sành sanh lúa thóc của người dân làm mọi người lâm vào cảnh đói khổ. Có lẽ vì thế mà khi tình hình biên giới yên ổn trở lại thì nhiều người không trở về nữa. Họ lo ngại không thể chinh phục được vùng đất bí ẩn này.

__________________

Một chuyên gia về đất phèn của Hà Lan cảnh báo: “Muốn xử lý 1 mẫu đất phèn phải tốn cả triệu USD”. Còn chuyên gia Liên Xô sau khi phân tích mẫu cỏ năn, cỏ lác đã lắc đầu: “Không thể trồng lúa được”. Điều gì diễn ra sau đó?

Vượt hơn 100km đường dằn xóc chúng tôi mới tới nhà ông Nguyễn Văn Thành ở ấp Kinh Cũ, xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng (Long An). Đây là một trong những xã xa nhất của tỉnh Long An, nằm ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia.

5mCU6dzK.jpg

Ông Nguyễn Văn Thành đang làm đất chuẩn bị xuống giống cho mùa vụ mới - Ảnh: Vân Trường

Kỳ 1:Ký ức thời hoang dãKỳ 2Hồi sinh vùng “đất chết”

Giữ đất

Ở tuốt vùng xa này nhưng nhà ông xài tivi màn hình tinh thể lỏng với dịch vụ truyền hình theo yêu cầu My TV của VNPT, chứ không phải sử dụng ăngten trời bình thường như những gia đình khác. Quanh nhà là bốn chiếc máy cày, ba máy gặt đập liên hợp, cả chục máy bơm nước và một lò sấy lúa công suất 10 tấn/ngày.

Hỏi có bao nhiêu đất, ông Thành cười hiền từ: “Có 60 ha thôi chú ơi. Ở đây có mấy người làm cả trăm hecta nữa kìa. Còn số người làm 20-30ha thì đếm không xuể đâu”.

Ông Thành leo lên chiếc máy cày nổ máy rồi nhấn ga chạy ra cánh đồng đầy nước sau nhà. Ông bảo đang làm đất gấp để chuẩn bị xuống giống vụ đông xuân cho kịp lịch thời vụ. Giờ ông làm ruộng bằng máy hết, chỉ trừ lúc gieo sạ mà thôi.

Trên chiếc máy cày, ông Thành hồi tưởng chuyện khai hoang vùng đất này hơn 30 năm trước. Quê ở huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp), nhưng năm 1976 ông Thành đã có mặt tại nơi này để lập nghiệp. Khi đó đất đai ở đây bạt ngàn nhưng chỉ toàn cỏ dại, rắn rùa, muỗi mòng. Vợ chồng ông kéo dây đo 100m bề ngang mặt kênh và bề sâu 1.000m ở khu đất gần nhà để đốt cỏ khai hoang.

Sau nhiều tháng miệt mài làm sạch cỏ, ông đem lúa giống rải xuống nhưng... lúa chết sạch, ông phải đào kênh dẫn nước vào để súc rửa phèn! Cực nhọc mấy năm thì lúa sống được nhưng không xanh tốt như bây giờ. Những vụ nào may mắn lắm thì kiếm được chừng 100 giạ/ha (2 tấn), nhưng chuyện mất mùa xảy ra thường xuyên hơn.

Năm 1978-1979 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Pol Pot đưa quân tràn sang huyện Tân Hưng giết chóc, đốt phá nhà cửa buộc người dân phải bỏ xứ lánh nạn. Ông Thành tham gia bộ đội bám trụ chiến đấu và cuối cùng cũng đẩy lùi quân Pol Pot về bên kia biên giới.

Do đất đai nhiễm phèn nặng và tình hình không yên ổn nên rất nhiều người ra đi nhưng ông vẫm bám trụ. Ông tâm sự: “Vợ chồng tôi đã bỏ công sức và cả tính mạng để khai hoang nên bằng mọi giá phải ở lại để chờ ngày hái quả ngọt”.

Năm 1980 ông đưa ruộng đất vô hợp tác xã và được chia lại chỉ 2,1 ha. Đó cũng là diện tích đất mà gia đình ông sở hữu khi hợp tác xã giải tán năm 1987. Sau nhiều năm cải tạo, ruộng lúa của ông cho năng suất 4-5 tấn, rồi 6-7 tấn/ha. Ngoài ra ông còn sắm máy bơm nước, cày bừa thuê để tích lũy mua thêm mỗi năm 1-2 ha đất.

Đến nay ông Thành có được 60 ha ở nhiều xã trong huyện Tân Hưng. Hỏi giá trị đất ông nhẩm tính: “Trung bình đất ở đây 250 triệu đồng/ha, nên chỉ riêng đất của tôi có giá 15 tỉ đồng. Ngoài ra máy móc sản xuất nông nghiệp cũng cỡ vài tỉ nữa”.

Bắt sỏi đá phải thành cơm

Ở gần đường biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng (Long An), ông Nguyễn Văn Phi ở ấp Cả Trốt là người khá nổi tiếng. Câu chuyện chinh phục cánh đồng hoang Đồng Tháp Mười để làm giàu của ông Phi rất đáng nể. Năm 1991 vợ chồng ông Phi dắt theo người con trai vào vùng Khánh Hưng để vỡ đất khai hoang.

Ông kể: “Lúc đó vùng này không có bóng người. Đất đai xám xịt vì nhiễm phèn. Cỏ cao quá đầu người, đụng chỗ nào cũng thấy rắn hổ to bằng cổ tay con nít, thấy mà phát ngán”. Vợ chồng ông kiên trì nhổ từng cây tràm, đám cỏ, vỡ từng tấc đất để trồng lúa.

Rắn hổ quá nhiều nên vợ ông cầm cây đập vào cỏ tạo tiếng động để rắn bò đi nơi khác, còn ông Phi phát cỏ, đào đất. “Vậy mà nhiều lúc quơ cái phảng qua một cái nhìn lại thấy rắn đứt hai ba khúc lẫn với cỏ” - ông Phi nhớ lại. Phải mất năm năm ròng rã hai vợ chồng ông mới khai phá xong được khoảng 60% trong số 11 ha đất Nhà nước giao.

Đất đai bằng phẳng rồi ông đem lúa giống rải xuống, chỗ thì lúa sống được, chỗ chết trụi. Năm nào may mắn lắm thì làm được 2 vụ/năm, năng suất 1-2 tấn/ha. Bỏ biết bao nhiêu công sức, vốn liếng nhưng lúa thu hoạch bán không bao nhiêu làm vợ chồng ông nản chí, nhiều lần có ý định trở về quê.

Những lúc như thế ông động viên vợ con bằng câu nói của ông cha ngày trước: “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Rồi họ lại ra đồng cặm cụi đào kênh dẫn nước ngọt xả phèn cho đất. Rồi những năm sau năng suất lúa tăng lên 4-5 tấn/ha, có khi lên tới 7-10 tấn/ha.

Có tiền, ông mua thêm đất của những người bỏ của chạy lấy người vì không chịu nổi vùng đất khắc nghiệt này. Đến năm 2010 ông Phi đã sở hữu 40ha đất ở xã Khánh Hưng, có máy gặt đập liên hợp, máy cày.

Tổng giá trị tài sản của gia đình ông bây giờ gần chục tỉ đồng. Hiện vợ chồng ông tất bật chăm sóc lúa đông xuân xuống giống được hơn một tháng. “Vụ này hi vọng sẽ lời ít nhất 10-15 triệu đồng/ha” - ông Phi lạc quan.

Không thể chỉ thuần nông

“Sau hơn 30 năm miệt mài vỡ đất, con người đã chinh phục thành công vùng đất nhiễm phèn Đồng Tháp Mười. Thế mạnh hiện nay của khu vực này là đất đai phì nhiêu, nước ngọt dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần hoạt động về nông nghiệp thì người dân sẽ rất khó làm giàu. Diện tích canh tác ở Đồng Tháp Mười không thể mở rộng thêm, năng suất lao động cũng có giới hạn.

Trong khi sản xuất nông nghiệp vốn lệ thuộc thiên nhiên, chịu nhiều yếu tố rủi ro và ngày càng khó khăn hơn, nhất là khi phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu. Cần phải công nghiệp hóa trên cơ sở nông nghiệp, đầu tư khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để làm cơ sở cho tiến trình công nghiệp hóa nông thôn.

Trong phát triển công nghiệp, nên ưu tiên những ngành sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp theo hướng làm tăng giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp (như sản xuất giấy từ gỗ tràm, đay...)”.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang (nguyên giám đốc Ty Nông nghiệp, nguyên giám đốc Sở KH-CN&MT Đồng Tháp)

______________________

Ba mươi năm trước, Đồng Tháp Mười được chinh phục thành công bởi sự “biết lắng nghe nhau” của những nhà quản lý, nhà khoa học và người dân. Đất phèn đã được xả rửa bằng chính mồ hôi, nước mắt và máu của thế hệ đi trước, còn bây giờ thách thức nào đang chờ phía tương lai

Dưới con mắt một nhà khoa học cả đời gắn với cây lúa, theo GS.TS Võ Tòng Xuân, “quá trình khai phá Đồng Tháp Mười có một sự phối hợp, biết lắng nghe nhau của nhà quản lý và nông dân, nhà khoa học một cách tuyệt vời”.

Đó là nhà quản lý biết lắng nghe và vận dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật và kinh nghiệm thực tiễn từ nông dân về cách ém phèn ở Đồng Tháp Mười. Còn nông dân thì vừa thực hiện tốt chủ trương của Nhà nước, vừa biết áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất.

Vượt hơn 100km đường dằn xóc chúng tôi mới tới nhà ông Nguyễn Văn Thành ở ấp Kinh Cũ, xã Hưng Điền B, huyện Tân Hưng (Long An). Đây là một trong những xã xa nhất của tỉnh Long An, nằm ở khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia.

5mCU6dzK.jpg

Ông Nguyễn Văn Thành đang làm đất chuẩn bị xuống giống cho mùa vụ mới - Ảnh: Vân Trường

Kỳ 1:Ký ức thời hoang dãKỳ 2Hồi sinh vùng “đất chết”

Giữ đất

Ở tuốt vùng xa này nhưng nhà ông xài tivi màn hình tinh thể lỏng với dịch vụ truyền hình theo yêu cầu My TV của VNPT, chứ không phải sử dụng ăngten trời bình thường như những gia đình khác. Quanh nhà là bốn chiếc máy cày, ba máy gặt đập liên hợp, cả chục máy bơm nước và một lò sấy lúa công suất 10 tấn/ngày.

Hỏi có bao nhiêu đất, ông Thành cười hiền từ: “Có 60 ha thôi chú ơi. Ở đây có mấy người làm cả trăm hecta nữa kìa. Còn số người làm 20-30ha thì đếm không xuể đâu”.

Ông Thành leo lên chiếc máy cày nổ máy rồi nhấn ga chạy ra cánh đồng đầy nước sau nhà. Ông bảo đang làm đất gấp để chuẩn bị xuống giống vụ đông xuân cho kịp lịch thời vụ. Giờ ông làm ruộng bằng máy hết, chỉ trừ lúc gieo sạ mà thôi.

Trên chiếc máy cày, ông Thành hồi tưởng chuyện khai hoang vùng đất này hơn 30 năm trước. Quê ở huyện Hồng Ngự (Đồng Tháp), nhưng năm 1976 ông Thành đã có mặt tại nơi này để lập nghiệp. Khi đó đất đai ở đây bạt ngàn nhưng chỉ toàn cỏ dại, rắn rùa, muỗi mòng. Vợ chồng ông kéo dây đo 100m bề ngang mặt kênh và bề sâu 1.000m ở khu đất gần nhà để đốt cỏ khai hoang.

Sau nhiều tháng miệt mài làm sạch cỏ, ông đem lúa giống rải xuống nhưng... lúa chết sạch, ông phải đào kênh dẫn nước vào để súc rửa phèn! Cực nhọc mấy năm thì lúa sống được nhưng không xanh tốt như bây giờ. Những vụ nào may mắn lắm thì kiếm được chừng 100 giạ/ha (2 tấn), nhưng chuyện mất mùa xảy ra thường xuyên hơn.

Năm 1978-1979 xảy ra chiến tranh biên giới Tây Nam. Pol Pot đưa quân tràn sang huyện Tân Hưng giết chóc, đốt phá nhà cửa buộc người dân phải bỏ xứ lánh nạn. Ông Thành tham gia bộ đội bám trụ chiến đấu và cuối cùng cũng đẩy lùi quân Pol Pot về bên kia biên giới.

Do đất đai nhiễm phèn nặng và tình hình không yên ổn nên rất nhiều người ra đi nhưng ông vẫm bám trụ. Ông tâm sự: “Vợ chồng tôi đã bỏ công sức và cả tính mạng để khai hoang nên bằng mọi giá phải ở lại để chờ ngày hái quả ngọt”.

Năm 1980 ông đưa ruộng đất vô hợp tác xã và được chia lại chỉ 2,1 ha. Đó cũng là diện tích đất mà gia đình ông sở hữu khi hợp tác xã giải tán năm 1987. Sau nhiều năm cải tạo, ruộng lúa của ông cho năng suất 4-5 tấn, rồi 6-7 tấn/ha. Ngoài ra ông còn sắm máy bơm nước, cày bừa thuê để tích lũy mua thêm mỗi năm 1-2 ha đất.

Đến nay ông Thành có được 60 ha ở nhiều xã trong huyện Tân Hưng. Hỏi giá trị đất ông nhẩm tính: “Trung bình đất ở đây 250 triệu đồng/ha, nên chỉ riêng đất của tôi có giá 15 tỉ đồng. Ngoài ra máy móc sản xuất nông nghiệp cũng cỡ vài tỉ nữa”.

Bắt sỏi đá phải thành cơm

Ở gần đường biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc xã Khánh Hưng, huyện Vĩnh Hưng (Long An), ông Nguyễn Văn Phi ở ấp Cả Trốt là người khá nổi tiếng. Câu chuyện chinh phục cánh đồng hoang Đồng Tháp Mười để làm giàu của ông Phi rất đáng nể. Năm 1991 vợ chồng ông Phi dắt theo người con trai vào vùng Khánh Hưng để vỡ đất khai hoang.

Ông kể: “Lúc đó vùng này không có bóng người. Đất đai xám xịt vì nhiễm phèn. Cỏ cao quá đầu người, đụng chỗ nào cũng thấy rắn hổ to bằng cổ tay con nít, thấy mà phát ngán”. Vợ chồng ông kiên trì nhổ từng cây tràm, đám cỏ, vỡ từng tấc đất để trồng lúa.

Rắn hổ quá nhiều nên vợ ông cầm cây đập vào cỏ tạo tiếng động để rắn bò đi nơi khác, còn ông Phi phát cỏ, đào đất. “Vậy mà nhiều lúc quơ cái phảng qua một cái nhìn lại thấy rắn đứt hai ba khúc lẫn với cỏ” - ông Phi nhớ lại. Phải mất năm năm ròng rã hai vợ chồng ông mới khai phá xong được khoảng 60% trong số 11 ha đất Nhà nước giao.

Đất đai bằng phẳng rồi ông đem lúa giống rải xuống, chỗ thì lúa sống được, chỗ chết trụi. Năm nào may mắn lắm thì làm được 2 vụ/năm, năng suất 1-2 tấn/ha. Bỏ biết bao nhiêu công sức, vốn liếng nhưng lúa thu hoạch bán không bao nhiêu làm vợ chồng ông nản chí, nhiều lần có ý định trở về quê.

Những lúc như thế ông động viên vợ con bằng câu nói của ông cha ngày trước: “Có công mài sắt có ngày nên kim”. Rồi họ lại ra đồng cặm cụi đào kênh dẫn nước ngọt xả phèn cho đất. Rồi những năm sau năng suất lúa tăng lên 4-5 tấn/ha, có khi lên tới 7-10 tấn/ha.

Có tiền, ông mua thêm đất của những người bỏ của chạy lấy người vì không chịu nổi vùng đất khắc nghiệt này. Đến năm 2010 ông Phi đã sở hữu 40ha đất ở xã Khánh Hưng, có máy gặt đập liên hợp, máy cày.

Tổng giá trị tài sản của gia đình ông bây giờ gần chục tỉ đồng. Hiện vợ chồng ông tất bật chăm sóc lúa đông xuân xuống giống được hơn một tháng. “Vụ này hi vọng sẽ lời ít nhất 10-15 triệu đồng/ha” - ông Phi lạc quan.

Không thể chỉ thuần nông

“Sau hơn 30 năm miệt mài vỡ đất, con người đã chinh phục thành công vùng đất nhiễm phèn Đồng Tháp Mười. Thế mạnh hiện nay của khu vực này là đất đai phì nhiêu, nước ngọt dồi dào, người dân có kinh nghiệm sản xuất.

Tuy nhiên, nếu chỉ đơn thuần hoạt động về nông nghiệp thì người dân sẽ rất khó làm giàu. Diện tích canh tác ở Đồng Tháp Mười không thể mở rộng thêm, năng suất lao động cũng có giới hạn.

Trong khi sản xuất nông nghiệp vốn lệ thuộc thiên nhiên, chịu nhiều yếu tố rủi ro và ngày càng khó khăn hơn, nhất là khi phải đối mặt với tình trạng biến đổi khí hậu. Cần phải công nghiệp hóa trên cơ sở nông nghiệp, đầu tư khoa học kỹ thuật vào nông nghiệp để làm cơ sở cho tiến trình công nghiệp hóa nông thôn.

Trong phát triển công nghiệp, nên ưu tiên những ngành sử dụng nguyên liệu từ nông nghiệp theo hướng làm tăng giá trị gia tăng sản phẩm nông nghiệp (như sản xuất giấy từ gỗ tràm, đay...)”.

Tiến sĩ Nguyễn Trung Cang (nguyên giám đốc Ty Nông nghiệp, nguyên giám đốc Sở KH-CN&MT Đồng Tháp)

______________________

Ba mươi năm trước, Đồng Tháp Mười được chinh phục thành công bởi sự “biết lắng nghe nhau” của những nhà quản lý, nhà khoa học và người dân. Đất phèn đã được xả rửa bằng chính mồ hôi, nước mắt và máu của thế hệ đi trước, còn bây giờ thách thức nào đang chờ phía tương lai

Kỳ 1: Ký ức thời hoang dã Kỳ 2: Hồi sinh vùng “đất chết” Kỳ 3: Chuyện người khai phá

NOOZ4Hpj.jpg

Quang cảnh một buổi diễn văn nghệ phục vụ công trường đào kênh khai hoang Đồng Tháp Mười của thanh niên Tiền Giang năm 1978 - Ảnh tư liệu

Ý chí chinh phục đồng hoang

Nói về thành công trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười, Chủ tịch UBND tỉnh Long An Dương Quốc Xuân cho rằng nếu không có quyết tâm của lãnh đạo từ tỉnh đến trung ương, không có tinh thần và ý chí vượt khó của con người thì không thể có Đồng Tháp Mười xanh tươi, màu mỡ như hôm nay.

Năm 1978, ông Dương Quốc Xuân là bí thư Đoàn huyện Bến Thủ (nay là hai huyện Bến Lức và Thủ Thừa, tỉnh Long An). Khi tỉnh ủy - UBND tỉnh quyết định khai hoang, chinh phục Đồng Tháp Mười, ông Xuân đã phát động phong trào “Xung kích tiến về Đồng Tháp Mười”. Hàng ngàn đoàn viên thanh niên từ biệt gia đình vác cuốc cùng ông Xuân thẳng tiến về các huyện Mộc Hóa, Tân Hưng, Vĩnh Hưng đào kênh, đắp đường.

Ông Xuân nhớ lại: “Phong trào thanh niên lúc đó sôi nổi lắm. Sau chiến thắng 30-4-1975, dân mình tuyệt đối tin Đảng. Chính vì vậy, khi Đảng quyết định khai phá Đồng Tháp Mười, ai ai cũng tình nguyện tham gia dù biết vào đó sẽ rất gian khổ và nguy hiểm”. Suốt năm năm ròng, ông Xuân và hơn 5.000 lượt đoàn viên thanh niên huyện Bến Thủ đã đào rất nhiều kênh, mở rất nhiều con đường mới ngang dọc trên vùng đất vốn không có dấu chân người.

Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang Nguyễn Công Bình cũng cho rằng quyết định đúng của Đảng là một phần trong cuộc chinh phục Đồng Tháp Mười. Yếu tố quan trọng nhất chính là ý chí của người Việt. Ông giải thích: “Tinh thần tình nguyện xông pha của thanh niên, phụ nữ ngày ấy đáng nể lắm. Họ không hề tính toán thiệt hơn, không than thở khi phải làm việc nặng nhọc trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, thiếu ăn, thiếu nước ngọt để uống. Nhờ vậy mà con kênh 500 ở Tân Phước dài gần 20km họ chỉ đào có ba tháng là xong”.

Phát huy tinh thần ấy, năm sau (1978) tỉnh tiếp tục vận động tuổi trẻ tham gia đào kênh Trương Văn Sanh rộng hơn, dài hơn. Hàng chục ngàn người lại lên đường vào “cánh đồng hoang” che lều bạt sống tạm bợ và làm việc ròng rã một năm trời để đào con kênh dẫn nước ngọt rửa phèn cho cả vùng.

Ông Nguyễn Đắc Hiền - nguyên phó bí thư tỉnh ủy, hiện là chủ tịch Hội Khoa học lịch sử tỉnh Đồng Tháp - cũng cho rằng công lao đó trước hết là của nông dân. Ông nói thêm: “Vì họ tin Đảng, chịu đựng muôn vàn khó khăn, gian khổ để biến chốn hoang hóa thành vùng đất trù phú. Không có lực lượng này cùng kinh nghiệm và sự cần cù, sáng tạo thì chủ trương, nghị quyết cũng nằm trên giấy thôi”.

Thách thức và cơ hội

Tại lễ tổng kết 30 năm khai phá Đồng Tháp Mười tổ chức ngày 1-12 vừa qua tại Đồng Tháp, GS.TS Võ Tòng Xuân băn khoăn: đời sống một bộ phận nông dân vẫn còn khó khăn. Vấn đề đặt ra tới đây là Đồng Tháp Mười sẽ đi lên bằng mô hình nào hay cứ dựa mãi vào cây lúa? Như vậy liệu người dân có thể giàu lên được không? Rồi ông kiến nghị: “Cơ cấu kinh tế hiện nay ở Đồng Tháp Mười trong nhiều năm tới vẫn là nông nghiệp. Do vậy cần công nghiệp hóa, đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp. Đồng thời cần tổ chức sản xuất theo liên kết bốn nhà cho chặt chẽ”.

"Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây"

Thách thức đối với Đồng Tháp Mười ngay bây giờ và trong tương lai là rất lớn. Ông Dương Quốc Xuân cho rằng đó cũng là cơ hội để con người tiếp tục chứng tỏ tài trí chế ngự thiên nhiên khắc nghiệt như từng làm hơn 30 năm qua.

Là một người từng đổ mồ hôi khai phá Đồng Tháp Mười, ông Xuân hiểu được giá trị to lớn của từng mét vuông đất màu mỡ bây giờ. Ông nói một cách hình tượng: “Đất phèn Đồng Tháp Mười được xả rửa bằng chính những giọt mồ hôi, nước mắt và có khi bằng máu của biết bao người dân. Vì thế những ai đang sống và làm ăn trên mảnh đất này đều phải xem đó là vinh dự và phải làm tốt hơn thế hệ cha anh trước đây”.

Theo ông Xuân, tỉnh Long An đã quy hoạch năm huyện Đồng Tháp Mười thành vùng trọng điểm sản xuất lương thực của tỉnh và cả nước. Hiện nay vùng Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hóa, Tân Thạnh, Thạnh Hóa và một phần huyện Thủ Thừa, Bến Lức đã sản xuất hơn 60% sản lượng lúa toàn tỉnh. Tới đây tỉnh Long An tập trung đầu tư đưa vùng này thành vùng chuyên canh nông nghiệp kỹ thuật cao để nâng giá trị, chất lượng nông sản, nâng cao thu nhập của nông dân. Năm năm tới nông thôn nơi này sẽ là “nông thôn mới” gắn với những đô thị ở các cụm dân cư đông đúc.

Tiền Giang, Đồng Tháp cũng đã và đang quy hoạch, kêu gọi đầu tư các ngành công nghiệp vào Đồng Tháp Mười như Long An đã làm. Đi một vòng Đồng Tháp Mười, chúng tôi thấy có nhà máy sản xuất giấy từ cây đay; nhà máy sản xuất ván dăm từ gỗ tràm; viên năng từ tinh dầu tràm, trấu (sản phẩm thải ra từ chế biến lúa gạo) ở Long An.

Tại Tiền Giang có Khu công nghiệp Long Giang và một khu công nghiệp, dịch vụ, đô thị đang hình thành ở huyện Tân Phước. Vùng nguyên liệu khóm bạt ngàn đã có nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu tiêu thụ. Trong tương lai không xa nhiều nơi trong vùng Đồng Tháp Mười sẽ có những khu dân cư, đô thị sinh thái mọc lên; những khu công nghiệp, nhà máy, xí nghiệp nằm xen trong những ruộng lúa, rừng trà, ruộng khóm bạt ngàn.

Khi đề nghị ông phác họa bức tranh toàn cảnh về Đồng Tháp Mười 10-20 năm tới, ông Xuân đáp không do dự: “Thu nhập bình quân đầu người của nông dân Đồng Tháp Mười đến năm 2015 sẽ đạt 50 triệu đồng/người/năm, cao hơn mức trung bình toàn tỉnh.

Đồng Tháp Mười sẽ có những đô thị sầm uất giữa những cánh đồng lúa bạt ngàn cò bay thẳng cánh; đường sá sẽ được trải nhựa; nhà máy, xí nghiệp dày đặc trong các vùng nguyên liệu lúa gạo, đay, tràm; du khách khắp thế giới sẽ đến nườm nượp để tham quan vùng đất phèn ngập nước độc đáo của thế giới; tìm hiểu về tinh thần và ý chí tuyệt vời của người Việt trong việc chinh phục Đồng Tháp Mười”.

Người Pháp đào kênh phục vụ cả quân sự và kinh tế

 Lục tỉnh Nam Kỳ đầu thế kỷ 19 là vùng đồng bằng phần lớn ngập nước. Nhiều vùng ở Tây Nam Bộ ngập mặn, nhiễm phèn, đất rộng mà không canh tác được. Vua chúa nhà Nguyễn và nhất là người Pháp đã dùng sức lao động của người dân Việt Nam để làm nên một hệ thống kênh dẫn nước khổng lồ, đan kín đồng bằng Nam Bộ. Chính hệ thống kênh đào này đã thau chua, rửa mặn, hồi sinh cho cả một vùng đồng bằng rộng lớn, phát triển nông nghiệp. Ngoài chuyện phục vụ người Pháp khai thác thuộc địa một cách triệt để, hệ thống kênh đào cũng đã làm nên một vùng đồng bằng sông Cửu Long mênh mông sông nước và tràn trề sức sống đến tận ngày nay. Tạp chí Khám phá trân trọng giới thiệu loạt bài nghiên cứu của tác giả Trần Hữu Thắng, Giảng viên Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh về hệ thống kênh đào thời Pháp thuộc ở vùng Đồng Tháp Mười.

Với đặc thù về điều kiện tự nhiên: vùng trũng, nước úng, chua - phèn, vào mùa lũ lụt cả đồng bằng bị ngập, thực vật chủ yếu là lau sậy và rừng Tràm. Vì thế, để khai hoang, các bậc tiền nhân người Việt phải tìm ra phương thức hữu hiệu nhất để chinh phục vùng đất hứa. Thời các chúa Nguyễn và vua Nguyễn, đã đào kênh Bà Bèo, kênh Lợi Tế, kênh Bo Bo, nhằm phục vụ an ninh - quốc phòng.

Sau này, những kênh đào buổi đầu khai phá đó, đã trở thành tuyến thủy lộ quan trọng. Từ đây, Đồng Tháp Mười đã được khai hoang nhưng vùng đất này vẫn còn hoang sơ, ít người biết đến. 

Bản đồ hệ thống song ngòi, kênh rạch Nam Bộ

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, tư bản Pháp đầu tư vốn phát triển hạ tầng để phục vụ cho hoạt động khai thác. Trong đó, luôn có một khoảng ngân sách vốn đầu tư cho công việc đào, vét kênh rạch ở Nam Kỳ mà chủ yếu là vùng Tây Nam Bộ.

Với hệ thống kênh đào được thi công trong khoảng 80 năm, người Pháp đã tạo nên sự chuyển biến kinh tế, xã hội cho vùng Đồng Tháp Mười. Chỉ riêng trong nông nghiệp, công việc “dẫn thuỷ nhập điền”, “thau chua, rửa phèn, tháo úng” ngày càng có hiệu quả hơn trước, đất đai tươi xốp, màu mỡ dần. Công cuộc khai hoang được đẩy mạnh, dẫn đến diện tích đất canh tác không ngừng được mở rộng, năng suất và sản lượng lúa cũng tăng và hình thành lên một vựa nông sản mới cung cấp cho Sài Gòn - Chợ Lớn.

Hệ thống kênh đào vùng Đồng Tháp Mười thời thuộc Pháp nhiều hơn về số lượng, chú trọng hơn về giao thông thương mại. Giao thông nội thủy bắt đầu nối liền với các vùng lân cận, làm cho địa thế cô lập của “vùng trũng” dần dần được xoá bỏ, tạo điều kiện cho vùng Đồng Tháp Mười tiếp nhận thêm nguồn nhân lực, vật lực và văn minh từ những đô thị lớn như Cần Thơ, Mỹ Tho, Tân An, Sài Gòn - Chợ Lớn.Cấu tạo địa hình: Đồng Tháp Mười được phân ra 3 vùng: vùng cao bên bờ sông Tiền, có độ cao từ 1,5m - 2,0m (từ Hồng Ngự xuống Tiền Giang); vùng trung tâm, có độ cao từ 0,4m - 0,75m (huyện Tân Hưng, Vĩnh Hưng, Mộc Hoá, thị xã Kiến Tường, Tân Thạnh, Thạnh Hoá, gò Tháp Mười thuộc các huyện tỉnh Đồng Tháp và tỉnh Tiền Giang); vùng giữa sông Vàm Cỏ Đông và sông Vàm Cỏ Tây, độ cao từ 0,3m - 0,4m, riêng dãy phù sa cổ phía Bắc cao từ 2,0m - 4,0m thuộc các huyện Đức Huệ và Thủ Thừa. Do cấu tạo địa hình như vậy, nên Đồng Tháp Mười mang tính chất một “đồng lụt kín”.

Thổ nhưỡng: hầu hết đất đai bị nhiễm phèn. Đây là điều bất lợi rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp - trồng trọt, cũng là một trong những trở lực tự nhiên chủ yếu đã kìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng Tháp Mười trong nhiều thế kỉ. Sông ngòi - kênh rạch, Đồng Tháp Mười có sông Tiền bao boc̣ phía Tây và phía Nam. Có sông Vàm Cỏ Đông bao bọc phía Đông và sông Vàm Cỏ Tây nằm giữa bồn trũng Đồng Tháp Mười. Phia Bắc là các rạch Sơ Hạ - Cái Cò - Long Khốt nối tiếp nhau kéo dài từ sông Tiền đến sông Vàm Cỏ Đông.

Ngoài ra, còn có một hệ thống kênh rạch thiên nhiên chằng chịt nối liền với các sông lớn.

Chế độ thủy văn: dòng chảy vùng Đồng Tháp Mười phụ thuộc vào sông Tiền và hệ thống sông Vàm Cỏ. Chế độ dòng chảy trong vùng này rất phức tạp và chia thành hai mùa rõ rệt, là mùa kiệt và mùa lũ.

Bản đồ địa hình vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

Những đặc điểm tự nhiên trên đã quy định tính đặc trưng vùng Đồng Tháp Mười mà nổi bật lên là các yếu tố: nước - mưa - lũ lụt - chua phèn.

Từ đây, đặt ra cho con người phải tìm ra những biện pháp nhằm khai hoang, cư trú và sản xuất có hiệu quả nhất.

Trần Hữu Thắng (Khám Phá)

Làng nổi trên sông ở Châu Đốc - An Giang